Danh mục bảng thống kê, biểu đồ trong chính văn Bảng 2.1: So sánh tỉ lệ gốm men trắng văn in với các dòng gốm khác Bảng 2.2: Thống kê hiện vật gốm men trắng văn in theo loại hình Bảng
Trang 1Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Người hướng dẫn khoa học:
TS Phạm Quốc Quân
Hà nội - 2006
Trang 2Mục lục
Danh mục bảng thống kê, biểu đồ và ảnh trong chính văn 4 Danh mục các hình ảnh minh hoạ trong chính văn 5
Chương 1: Lịch sử phát hiện và nghiên cứu 10 1.1 Tình hình phát hiện chung về gốm men trắng văn in ở Việt Nam 10 1.2 Quá trình phát hiện gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh 12 Chương 2: Sưu tập gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh 16
Chương 3: Đồ gốm men trắng văn in việt nam trong trào lưu gốm
Trang 3Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
BEFEO Bulletin de l' Ecole Franỗaise d' Extrême - Orient BQLDTLSLK Ban Quản lý khu di tích Lịch sử Lam Kinh
VHNT Văn hoá Nghệ thuật
VH-TT Văn hoá - Thông tin
Trang 4Danh mục bảng thống kê, biểu đồ trong chính văn
Bảng 2.1: So sánh tỉ lệ gốm men trắng văn in với các dòng gốm khác
Bảng 2.2: Thống kê hiện vật gốm men trắng văn in theo loại hình
Bảng 2.3: Thống kê hiện vật gốm men trắng văn in theo mô-típ trang trí
Bảng 2.4: Thống kê Hán tự viết bằng men lam trên gốm men trắng văn in ở di tích
Lam Kinh – Thanh Hoá
Bảng 2.5: Thống kê hiện vật gốm men trắng văn in theo độ dày xương gốm
Bảng 4.1: Thống kê tỉ lệ phân bố gốm men trắng văn in tại các di tích
Biểu đồ 4.1: Tỉ lệ gốm men trắng văn in tại các di tích
Trang 5Danh mục hình ảnh minh hoạ trong chính văn
Hình 2.1: Rồng trên trán bia Vĩnh Lăng
Hình 3.1: Đĩa sứ men trắng văn in rồng mây đời Kim (1115-1234)
Hình 3.2: Bình men trắng vẽ lam của triều vua Vĩnh Lạc (1403-1424) của nhà
Minh có chữ Nội Phủ
Hình 3.3: Ký tự mang tính chất quan ở đáy bát sứ trắng tìm thấy trong hầm mộ ở
chùa Zhingzhi, Dingzhou
Hình 3.4: Bình men trắng khắc chìm hình cánh sen có chữ Quan thời Ngũ Triều
(907-960)
Hình 3.5: Bát sứ trắng quan lò Bunwon của Hàn Quốc
Hình 4.1: Gốm men trắng văn in ở Chu Đậu
Hình 4.2: Gốm men trắng văn in ở Hoàng Thành Thăng Long
Hình 4.3: Gốm men trắng văn in vẽ màu trên tàu đắm Cù Lao Chàm
Hình 4.4: Gốm men trắng văn in Việt Nam tìm thấy ở thành Sakai
Trang 6sử, chỉ còn thấy thấp thoáng những công trình nhỏ lẻ, rải rác đây đó trong hỗn độn dân sinh Đâu rồi một Hà Nội mơ màng, lãng mạn được một người phương Tây ví với thành Vience, đâu rồi một Thăng Long hoành tráng được nhắc đến trong lịch
sử, đâu rồi những nét hào hoa và tráng lệ của nghệ thuật cung đình xưa ? Tất cả đều ngủ yên trong lòng đất Cho đến những năm gần đây, những nghiên cứu khảo
cổ học mới dần dần hé mở được phần nào một Thăng Long bí ẩn, phần nào một nền nghệ thuật, lịch sử của nước Đại Việt
Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu mọi khía cạnh của lịch sử đều trở nên cần thiết Trong vô vàn những giá trị vật thể tìm thấy gần đây về chứng tích của các vương triều, một trong những phát hiện nổi bật là nghệ thuật gốm cung đình thời Lê, một loại gốm men trắng văn in, trong suốt, mỏng mảnh Loại gốm này đã được phát hiện lẻ tẻ ở một vài địa điểm đã từng là các trung tâm gốm sứ thời cổ, song chúng được tìm thấy tập trung tại các địa điểm là thủ phủ của các vương triều
là Thăng long và Lam Kinh với chất lượng rất cao May mắn là tôi có dịp tiếp xúc với loại hình gốm này tại di tích Hậu Lâu năm 1998 qua việc tham gia chỉnh lý loại gốm này để phục vụ cho tiểu luận về gốm sứ của mình trong thời gian học Đại học
và tham gia vào đoàn công tác của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại di tích Lam Kinh vào mùa khai quật năm 1999-2000 Vì vậy, để tìm hiểu về đặc trưng, quá trình phát
Trang 7triển, niên đại cũng như vai trò của loại hình gốm này trong thời kỳ mà nó tồn tại,
tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu về Gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh
- Thanh Hoá làm luận văn tốt nghiệp khoá học cao học của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Hệ thống hóa tư liệu và các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về gốm văn
in ở khu trung tâm Lam Kinh Trên cơ sở đó nhằm tìm hiểu đặc trưng di vật ở khu
di tích này để phác dựng quá trình tồn tại của loại hình gốm văn in trong lịch sử
Trên cơ sở thống kê, phân loại và so sánh loại hình gốm này ở Lam Kinh với các di vật cùng loại được phát hiện cùng thời ở Hoàng Thành Thăng Long, con tàu
cổ Cù Lao Chàm, ở các địa điểm của trung tâm gốm sứ cổ Hải Dương và một vài tiêu bản ở Nhật Bản, bước đầu xác định giá trị nghệ thuật, lịch sử và vai trò của dòng gốm này trong thời đại của nó Những kết quả nghiên cứu về sưu tập gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh góp thêm cứ liệu khoa học cho việc hoàn thiện bức tranh về nghệ thuật gốm sứ Đại Việt và góp phần làm sáng tỏ phần nào những thể chế và nét văn hoá cung đình xưa
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là toàn bộ các di vật gốm men trắng văn in có mặt trong khu trung tâm Lam Kinh do sưu tầm và khai quật từ năm
1996 đến 2004
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận án tập trung khảo cứu di vật gốm
men trắng văn in phân bố ở khu trung tâm Lam Kinh bao gồm tại 22 địa điểm: Chính Điện, 9 toà Thái Miếu, Tả Vu, Hữu Vu, Tây Thất, Đông Trù, Nghi Môn và hệ thống tường thành, các di tích khác như sân Rồng, hồ Bán Nguyệt, Giếng Ngọc, đồng thời mở rộng so sánh với các di tích thời Lê ở Thăng Long
- Đông Đô - Đông Kinh (Hà Nội) và nơi khác
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: chủ yếu là thời Lê sơ (thế kỷ 15 - 16)
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Luận văn sử dụng phương pháp khảo cổ học truyền thống trong việc thu thập, xử lý thông tin qua điều tra, khảo sát và khai quật; thống kê, phân loại, đo vẽ, chụp ảnh, miêu tả
Sử dụng phương pháp nghiên cứu đối sánh, đa ngành, liên ngành như các phương pháp tiếp cận của sử học, nghệ thuật học, kiến trúc, dân tộc học và văn hóa dân gian
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng theo nhận thức mình có trong việc tìm hiểu các di tích văn hóa lịch sử trong quá khứ
4 Những đóng góp của luận văn
Luận văn tập hợp, phân loại, khảo tả và công bố tư liệu về sưu tập gốm men trắng văn in ở khu trung tâm Lam Kinh từ năm 1996 đến nay Đây là khối tư liệu quan trọng giúp cho việc nhận thức về gốm văn in ở khu trung tâm Lam Kinh Thông qua những nghiên cứu này, khái quát được chức năng và quá trình tồn tại của sưu tập gốm văn in tại khu di tích trung tâm Lam Kinh trong lịch sử
Dựa vào các loại hình di vật khai quật, từ đó phác dựng đôi nét về sự tồn tại của loại hình di vật với quá trình hình thành, hưng thịnh, biến đổi và suy tàn
Kết quả nghiên cứu sẽ bổ khuyết vào mảng trống trong bức tranh toàn cảnh
về nghệ thuật gốm sứ cổ Việt Nam
5 Bố cục của luận văn
Luận văn dầy 67 trang, ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo dầy
12 trang, luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Lịch sử phát hiện và nghiên cứu
Chương 2: Sưu tập gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh
Chương 3: Đồ gốm men trắng văn in Việt Nam trong trào lưu gốm quan
Chương 4: Gốm men trắng văn in Việt Nam:
Trang 9nguồn gốc và chức năng Ngoài ra trong luận văn còn có các mục: Phụ lục minh họa (gồm hệ thống bảng biểu, bản đồ, sơ đồ, bản vẽ, và ảnh) Những trang đầu luận án có Lời cam đoan, Mục lục, Bảng các chữ viết tắt, Danh mục các bảng thống kê trong luận văn
Trang 10Chương 1
Lịch sử phát hiện và nghiên cứu
1.1 tình hình phát hiện chung về gốm men trắng văn in ở việt nam
Năm 1989, trong đợt khai quật di tích xóm Cậy (Long Xuyên, Cẩm Bình,
Hải Dương), Viện Khảo cổ học đã phát hiện được ba tiêu bản bát gốm mỏng 0,2
cm, lòng bát in nổi hình hoa văn sóng nước và hai đường chỉ nổi Tiêu bản
89.CĐ.HI.128 giữa lòng in nổi chữ Quan官 [14]
Năm 2002, tại khu vực Xóm Bến ở Chu Đậu, Viện Khảo cổ học cũng phát
hiện những sản phẩm góm men in văn sóng nước, giữa lòng in nổi chữ Quan官
Chất lượng và phong cách trang trí giống với gốm văn in được phát hiện ở di chỉ
gốm Ngói năm 1999 Theo quan điểm của Bùi Minh Trí thì đây là sản phẩm của lò
quan [43]
Cũng năm 2002, trong tầng văn hoá I có niên đại thế kỷ XV của hố thám sát
ở di tích Hợp Lễ (Long Xuyên, Cẩm Bình, Hải Dương), Viện Khảo cổ học cũng tìm thấy loại hình gốm này Đặc biệt, ở đây còn tìm thấy một mảnh khuôn in bằng đất sét trắng [14]
Trong khoảng thời gian này, những cuộc khai quật trong lòng thủ đô Hà Nội
đã làm xuất lộ một số lượng lớn loại hình gốm này trong những di tích của Hoàng Thành Thăng Long
Năm 1998, khai quật di chỉ khảo cổ học Hậu Lâu đã phát hiện một sưu tập
gốm men trắng văn in gần 600 mảnh gốm ở độ sâu 2,80 - 3,40m Tuy nhiên, đặc điểm tầng văn hoá tại di tích này thường xuyên bị chia cắt và xáo trộn Các nhà khảo cổ học tham gia khai quật đã xếp niên đại cho loại hình gốm này vào cuối thế
kỷ XIV đầu thế kỷ XV [38] Tuy nhiên, sau đó, niên đại của loại hình gốm này được xác định lại là vào thời Lê sơ (thế kỷ XV) [41]
Trang 11Năm 1999, trong cuộc khai quật khảo cổ học ở di tích Bắc Môn (cổng phía
Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn), Viện Khảo cổ học cũng phát hiện thấy một số lượng ít gốm men trắng văn in có niên đại thế kỷ XV - XVI nằm trong tầng văn hoá từ thế kỷ XV cho đến thế kỷ XVIII Tuy nhiên, địa tầng ở đây cũng bị cắt phá chồng chéo [40]
Năm 2000, một sưu tập gốm men trắng văn in gồm 26 tiêu bản được tìm
thấy trên con tàu cổ Cù Lao Chàm có niên đại thế kỷ XV Các nhà khảo cổ học cho rằng sưu tập gốm này có nguồn gốc từ trung tâm gốm sứ Chu Đậu (Hải Dương) [5], [14], [34]
Những phát hiện về loại hình gốm men trắng văn in đặc biệt nở rộ trong quá trình khai quật di tích Hoàng Thành Thăng Long tại 18 - Hoàng Diệu Một sưu tập lớn gốm men trắng văn in được xếp vào niên đại Lê sơ với các loại hình chủ yếu là bát, đĩa cỡ nhỏ có xương gốm mỏng như vỏ trứng mà khi cầm soi lên ánh sáng có thể nhìn thấy hoa văn trang trí bên trong Các nhà khảo cổ học cho rằng loại hình gốm này “chỉ được dùng trong Hoàng cung và những nơi có liên quan đến sinh hoạt của Vua và Hoàng gia” [46]
Cùng thời gian này, từ năm 1996 đến năm 2004, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
cũng đã phát hiện một sưu tập gốm men trắng văn in với số lượng lớn tại khu trung tâm di tích Lam Kinh - thánh địa của nhà Lê Phát hiện này mở rộng tầm nhận thức
về loại hình, vai trò của gốm men trắng văn in trong thời gian tồn tại cũng như vị trí của nó trong dòng chảy gốm Việt Nam Đặc biệt, loại hình gốm này được phát hiện trong địa tầng kiến trúc ổn định và rõ ràng - điều này không có ở di tích Hoàng Thành Thăng Long - khiến cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về loại hình gốm này ở đây hứa hẹn không ít những điều thú vị
Trang 121.2 Quá trình phát hiện gốm men trắng văn in ở di tích lam kinh
1.2.1 Giới thiệu về di tích Lam Kinh
Khu trung tâm Lam Kinh hiện nay nằm ở toạ độ 19055’565” vĩ Bắc,
105024’403” kinh Đông Theo bản đồ qui hoạch (năm 2002), khu di tích Lam Kinh thuộc địa phận xã Xuân Lam (Thọ Xuân) và Kiên Thọ (Ngọc Lặc) tỉnh Thanh Hoá
Từ thành phố Thanh Hoá đi về phía tây bắc khoảng 60 km ta sẽ gặp di tích Lam Kinh nằm bên tả ngạn sông Chu, cách đập Bái Thượng 5 km về phía nam [Bản đồ
1]
Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn, quê hương của anh hùng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và là cội nguồn khởi dựng nhà Lê Chính vì vậy Lam Sơn - Lam Kinh là vùng đất được sự quan tâm đặc biệt của các vua triều
Lê Năm 1430, sau khi giành lại nền độc lập, đất nước có những phát triển mới, Lê Thái Tổ đã cho đổi vùng đất Lam Sơn là Lam Kinh hay Tây Kinh (để phân biệt với Đông Kinh - Hà Nội) [25, tr 61 - 74]; [17, tr 86] Đây là mốc quan trọng đánh dấu
sự phát triển của khu trung tâm Lam Kinh sau đó Từ đây, Lam Kinh trở thành một vùng đất "căn bản" của nước Đại Việt thời Lê [9]; [27]
Năm 1433, sau khi vua Lê Thái Tổ mất đưa về an táng ở Lam Kinh, các điện
miếu cũng bắt đầu được xây dựng [25, tr.76 - 78] Lam Kinh đã trở thành nơi an
táng các vua và Hoàng Hậu thời Lê sơ Qua ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư
được biết hàng năm các vua thời Lê sơ đều về Lam Kinh bái yết Sơn lăng [25]
Đại Việt sử ký toàn thư nói rõ Lam Kinh được xây dựng vào năm 1433, năm
sau 1434 vua sai Hữu bộc xạ Lê Như Lãng đến Lam Kinh dựng miếu Cung Từ Thái Mẫu
Vào các năm 1448 và 1450, Lam Kinh lại tiếp tục được xây dựng và trùng
tu Năm 1448, vua Lê Nhân Tông xuống chiếu cho Thái uý Lê Khả và cục Bách Tác làm lại điện miếu ở Lam Kinh Chưa đầy một năm, công việc xây dựng hoàn
Trang 13thành và được triều đình bảo vệ Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, vua
Lê Nhân Tông đã đặt tên cho 3 toà nhà của Chính Điện là Quang Đức, Sùng Hiếu
và Diễn (Diên) Khánh [25]
Ghi chép về khu điện Lam Kinh của Phan Huy Chú cho biết Lam Kinh khá
to lớn, nằm trên địa thế đẹp "Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông
ra sông, bốn bên non xanh nước biếc, rừng rậm um tùm Vĩnh Lăng của Lê Thái
Tổ, Thiệu Lăng của Lê Thái Tông và lăng các vua nhà Lê đều ở đây cả Lăng nào cũng có bia Sau điện, lấy Tây hồ làm não, giống như hồ Kim Ngưu Hồ rất rộng lớn, nước các ngả đều chảy cả vào đó Có con sông phát nguyên từ hồ ấy, chạy vòng trước mặt, lòng sông có những viên đá nhỏ, tròn và nhẵn trông rất thích mắt nhưng không ai dám lấy trộm Lại có lạch nước nhỏ, chảy từ bên tay phải qua trước điện, ôm vòng lại như cánh cung Trên lạch có cầu giống như Bạch Kiều ở giảng đình điện Vạn Thọ Đông Kinh, đi qua cầu mới tới điện Nền điện rất cao, hai bên mở rộng, dưới chân điện có làn nước phẳng, giống như trước điện nhà vua coi chầu Ngoài cửa Nghi Môn có hai con chó ngao bằng đá, tục truyền là rất thiêng
Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ Công, mẫu mực theo đúng kiểu các miếu ở
kinh sư Theo từng bậc mà lên, rồi từ đó trông xuống thì thấy núi khe hai bên Tả, Hữu, cái nọ, cái kia vòng quanh thật là một chỗ để xây dựng cơ nghiệp" [9, tr 40]
Những ghi chép trên cho thấy rõ tầm quan trọng của khu di tích Lam Kinh với vai trò là một kinh đô thứ hai, là quê cha đất tổ, là thánh địa thiêng liêng của nhà Lê
1.2.2 Quá trình phát hiện gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh
Từ trước năm 1954, chưa có một nghiên cứu tổng thế nào về di tích Lam
Kinh ngoài những khảo sát của những học giả người Pháp Những nghiên cứu của các học giả: Cadière vào năm 1905 [55], Parmentier và Goloubew vào năm 1923 [54], Gaspardone vào năm 1931 - 1935 [56] và Bezacier năm 1942 [54] chủ yếu
tập trung vào khảo sát hiện trạng kiến trúc và nghệ thuật của khu di tích
Trang 14Từ 1954 - 1995: Có 4 đợt khảo sát và khai quật khảo cổ học của Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Viện Mỹ thuật và trường Đại học Mỹ thuật
Hà Nội
Tuy vậy, các cuộc khảo sát và khai quật từ những năm chỉ tập trung chú ý đến kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc ở khu di tích này mà không bàn tới bất cứ một loại hình di vật nào khác
Năm 1995, trước tình trạng xuống cấp của di tích, nhận thức được tầm quan
trọng, ý nghĩa lịch sử, văn hoá của Lam Kinh, Chính phủ đã phê duyệt dự án Quy hoạch tổng thể, trùng tu tôn tạo và phục hồi khu di tích Lam Kinh, trong đó khu di tích trung tâm được đặt hàng đầu [50]
Từ năm 1996 đến năm 2004: Để phục vụ cho việc trùng tu tôn tạo di tích Lam
Kinh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Ban Quản lý Di tích Lịch sử Lam Kinh (Thanh Hoá) tiến hành 7 đợt nghiên cứu khảo cổ học tại trung tâm di tích Lam Kinh trên quy mô lớn Trong quá trình thám sát, khai quật này, lần đầu tiên gốm men trắng văn in xuất hiện với tư cách là một loại hình di vật độc đáo của di tích
Năm 1996, lần đầu tiên phát hiện ra loại gốm men trắng văn in tại di tích
này, chủ yếu ở di tích Giếng Ngọc với số lượng rất ít ỏi: 1 tiêu bản nguyên dạng và
15 mảnh Trang trí chủ yếu là vân mây, sóng nước và chữ Quan 官 trong lòng
[Bảng 4, năm 1996]
Năm 1997, phát hiện được số lượng tương đối chủ yếu ở di tích Tả Vu, độ
mỏng của xương gốm khoảng 0,3 cm gồm 18 tiêu bản phục nguyên dạng và 593
mảnh, mô-típ trang trí chủ yếu là mây nước, hoa lá và chữ Quan 官 trong lòng bát
[Bảng 4, năm 1997]
Năm 1999 - 2000 khi bắt đầu tiến hành ở các khu vực chính của di tích gồm
Chính Điện và Thái Miếu, đoàn nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã
Trang 15phát hiện ra một số lượng lớn gốm men trắng văn in với chất lượng tuyệt hảo (có tiêu bản chỉ mỏng 0,05cm), đạt tới mức thấu quang với những hoạ tiết đặc thù của
cung đình như rồng mây và chữ Quan 官 trong lòng bát Số lượng tiêu bản tìm
thấy lên tới 32 tiêu bản phục nguyên dạng và 1827 mảnh gốm [Bảng 4, năm 2000]
Năm 2001, khi tiến hành khai quật khu vực thành phía đông và phía tây,
đoàn nghiên cứu cũng tìm được 5 tiêu bản phục nguyên dạng và 587 mảnh [Bảng
4, năm 2001]
Năm 2002 - 2003, phát hiện được 3 tiêu bản phục nguyên dạng và 352 mảnh
tại khu vực Đông Trù và Tây Thất [Bảng 9, năm 2002 - 2003]
Năm 2004, 5 tiêu bản nguyên dạng và 256 mảnh gốm cùng loại phát hiện được ở
khu vực Tả Vu và Hữu Vu [Bảng 4, năm 2004]
Như vậy, trong 9 năm với 7 lần khai quật khu di tích này, Bảo tàng Lịch sử
đã phát hiện được một bộ sưu tập gốm men trắng văn in với số lượng đáng kể gồm
65 tiêu bản nguyên dạng và 3630 mảnh tập trung chủ yếu ở khu vực Thái Miếu là loại gốm cao cấp nhất và rải rác ở 13 khu vực khác của di tích Để đi sâu vào phân tích và nghiên cứu loại hình, nghệ thuật trang trí của bộ sưu tập này cũng như lịch
sử hình thành, niên đại và chức năng cũng như bối cảnh tồn tại của nó, tôi sẽ xin trình bày cụ thể ở các chương sau
Trang 16sơ mới chỉ được phát hiện ở khu vực Chính Điện, Thái Miếu 2 và Thái Miếu 5 Do điều kiện khách quan tại địa phương cũng như trung ương, đoàn cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam mới chỉ có thể đào thăm dò lớp Lê sơ này một chút ở Chính Điện, Thái Miếu 5 và khai quật mở rộng ở Thái Miếu 2 Do vậy, tổng quan di tích và nhất là hiện vật còn rất nhiều hạn chế nên những con số thống kê tuy chưa nói lên được chính xác về diễn biến của dòng gốm này nhưng cũng cho chúng ta thấy được phần nào tổng quan diễn biến, đặc trưng cũng như vai trò của dòng gốm này tại di tích Lam Kinh
Mảnh gốm khác
Hiện vật gốm văn
in
Mảnh gốm văn in
Hiện vật gốm
sứ
Mảnh gốm
sứ
Hiện vật gốm
sứ
Mảnh gốm
Trang 17với mức độ sử dụng của các dòng gốm quan dụng Việt Nam khác là 70,57%,
Trung Quốc là 10,23% và Nhật Bản là 0,28 % [Bảng 2.1] thì đây không phải là một con số khiêm tốn Trên toàn bộ 23 địa điểm khai quật, thám sát và sưu tầm thì mật độ gốm văn in tập trung nhất phát hiện được ở khu vực Thái Miếu là 41,06%, nhà Tả - Hữu Vu (nơi chuẩn bị hành lễ) là 23,36% Đặt biệt gốm văn in ở khu vực Thái Miếu có độ mỏng và tinh xảo hơn hẳn ở các khu vực khác Điều này khẳng định chức năng thờ cúng đậm nét của loại hình hiện vật này Để tìm hiểu cụ thể, chi tiết hơn về ý nghĩa, diễn biến phát triển của dòng gốm này như một mắt xích
về lịch sử, về văn hoá, nghệ thuật Việt Nam tại di tích Lam Kinh, chúng tôi dùng phương pháp phân loại phổ biến trong nghiên cứu khảo cổ học - phương pháp
loại hình học để tìm ra những đặc trưng về loại hình, mô-típ trang trí, chất liệu
và yếu tố kỹ thuật của dòng gốm này Phương pháp này, về cơ bản, dựa vào hình dáng, kỹ thuật và những đặc trưng kỹ thuật qua quan sát chứ không dựa vào chức năng của hiện vật
2.1 Loại hình
Nhìn chung các loại hình như bát, đĩa, chén ở Lam Kinh đều được chế tạo tinh xảo, hình dạng của khá đồng nhất: miệng vát, gờ miệng cạo men hoặc không, thân thuôn, đáy lõm có phủ men, phủ men không hết hoặc để mộc Bảng 2.2 cho
thấy đồ gốm văn in tìm thấy ở di tích Lam Kinh chỉ có đồ quan dụng, tập trung hầu
Trang 18hết ở các kiến trúc khu trung tâm với ba loại hình sau đây: Bát, đĩa và chén [Bản vẽ 1]
Bảng 2.2: thống kê hiện vật gốm men trắng văn in theo loại hình
T
T 2.1.1.1.1 2.1.1.1.2 2.1.1.2 2.1.1.3 2.1.2.1 2.1.2.2 2.1.3 Tổng Bát tô to Bát tô nhỏ Bát nhỡ Bát nhỏ Đĩa nhỡ Đĩa nhỏ Chén
97.LK.HVI I.30
97.LK.HV II.34 97.LK.HII.c2
00.LK.T MI.27
97.LK.HV II.35 97.LK.HII.c4
97.LK.HV II.36
97.LK.HV II.37
Trang 19bố về kích cỡ cho thấy dường như có một quy định chặt chẽ về kích thước đối với địa điểm và tính năng sử dụng của các loại hình bát đĩa này Để làm sáng tỏ điều này, tôi xin đi sâu vào phân tích chi tiết từng loại hình
2.1.1 Bát
Loại hình bát ở di tích Lam Kinh thuần nhất về mặt kiểu dáng, song có thể thấy về cơ bản có ba cỡ khác nhau:
2.1.1.1 Bát tô
Trang 20Trong loại hình bát tô này chúng tôi thấy có hai loại kích cỡ khác hẳn nhau Để tiện theo dõi chúng tôi chia thành 2 kiểu: Bát tô to và bát tô nhỏ
2.1.1.1.1 Bát tô to
Sưu tập bát này gồm 10 tiêu bản tìm thấy được ở khu vực Tả Vu năm
1996-1997, chiếm 15,38% tổng số các loại hình (bảng 2.1) Kích thước của loại bát này khá đồng nhất: đường kính miệng giao động từ 17,6 cm đến 19 cm; đường kính đáy từ 6 cm đến 7,1 cm; chiều cao từ 6,7 cm đến 8,3 cm; độ dày xương gốm khoảng 0,3 cm
Chất liệu của bộ sưu tập này đã có thể gọi là cao cấp, song so với bộ sưu tập tìm thấy ở khu vực Chính Điện và Thái Miếu thì không bằng Xương gốm của bộ sưu tập bát này màu xám mịn, độ nung cao, dầy hơn so với gốm cùng loại ở khu vực Chính Điện và Thái Miếu (khoảng 0,3 cm) Và đặc biệt, loại gốm này có hiện tượng nổ men (tiêu bản ký hiệu LK.97.HVII.21), điều này không thấy ở loại gốm mỏng hơn [Bản ảnh 5: 1, 2]
Loại bát này ngoài 6 chiếc in nổi hình chữ Quan, còn lại không có hình chữ
Quan trong lòng bát Trang trí trong lòng bát theo ba mô-típ như sau: Hoạ tiết hoa cúc cách điệu một tầng, hai tầng, họa tiết văn mây sóng nước
Có thể thấy rằng loại bát tô to này được sản xuất bằng chất liệu xấu, kích thước to hơn hẳn các kích thước tìm thấy ở khu vực thờ cúng, lại tập trung ở khu vực Tả Vu Tả Vu là công trình kiến trúc nằm bên tả Chính Điện Trong Đại Nội kinh thành Huế, nhà Tả - Hữu Vu có các chức năng chính là nơi phục vụ cho vua (pha chè), nơi các quan đến yết kiến vua (chuẩn bị hành lễ, lễ phục, phẩm phục) của các quan văn (Tả) quan võ (Hữu) Đối với Tả Vu, Hữu Vu ở Lam Kinh, cũng đảm nhiệm chức năng tương tự, trong đó có thêm chức năng phục vụ việc hành
lễ, tế cáo các Thái Miếu, lăng mộ [15] Do vậy, tôi cho rằng loại bát này có lẽ dùng để cho các vua, quan triều đình sinh hoạt ăn uống, không phải để thờ
Trang 21Loại bát này giống với loại bát men trắng bình dân tìm thấy ở Hậu Lâu năm
1998 [38]
2.1.1.1.2 Bát tô nhỏ
Sưu tập bát này gồm 18 tiêu bản, chiếm tỉ lệ áp đảo 27,69% (Bảng 2.1), tập trung chủ yếu ở khu vực Thái Miếu (14 tiêu bản), 2 tiêu bản sưu tầm ở khu vực Chính Điện năm 2000 và 2 tiêu bản tìm thấy ở khu vực Tả Vu năm 2004 Kích thước của loại bát này nhìn chung dao động như sau: đường kính miệng từ 15 cm đến 16 cm; đường kính đáy từ 6,3 cm đến 7,5 cm; chiều cao từ 7,2 cm đến 8cm Xương gốm rất mỏng, chỉ khoảng 0,1 cm, có khi chưa đến 0,1 cm, đạt tiêu chuẩn thấu quang, chất liệu sét mịn, nhẹ Men trắng ngà hoặc ngả vàng
Hoạ tiết trang trí trên sưu tập gốm này chỉ có một mô típ đồng nhất: tất cả đều in nổi hình 2 con rồng nối đuôi nhau quyện lẫn vào mây Chúng tôi gọi hoạ tiết
trang trí này là mô-típ rồng mây Hoạ tiết rồng ở đây khá đồng nhất: thân rồng
nhỏ, mềm mại, có vẩy nổi lên rất chi tiết, lưng hơi võng hình yên ngựa, đuôi có tua, đầu có guột Tuy vậy, rồng trên bộ sưu tập bát này không phải lúc nào cũng có năm móng mà có những tiêu bản chỉ có ba hoặc bốn móng Mô-típ có thể là hai con rồng vờn ngọc nối đuôi nhau cuốn vòng trong lòng bát, có thể chỉ có hai rồng
nối đuôi nhau vòng quanh lòng bát Trong số bát này có 9 tiêu bản có chữ Quan
trong lòng, đặc biệt, tiêu bản LK.00.TMII.L2.16 có một chữ viết men lam viết dưới đáy bát [Bản ảnh 2:1] [Bản vẽ 13]; hai tiêu bản ký hiệu LK.00.CĐ.ST.4,5 không có
chữ Quan và có dấu con kê ba mấu trong lòng, sưu tầm được ở khu vực Chính
Điện
Trong sưu tập này chỉ có một tiêu bản ký hiệu LK.00.TMI.13 có xương gốm dày trung bình khoảng 0,3 cm, chất liệu không cao cấp bằng 17 tiêu bản kia, không
có chữ Quan trong lòng bát, bề mặt có hiện tượng hỏng men
Như vậy, qua khu vực tập trung phân bố của loại hình bát này chủ yếu ở Thái Miếu, qua chất liệu gốm mỏng, đạt chất lượng rất cao, cùng với hoạ tiết trang
Trang 22trí hoàn toàn theo mô-típ rồng mây, chúng tôi cho rằng loại hình bát này được quy định sử dụng vào mục đích thờ cúng với những tiêu chuẩn riêng về hình dạng, kích thước và mô-típ trang trí khá chặt chẽ
2.1.1.2 Bát nhỡ
Bộ sưu tập bát nhỡ gồm 9 tiêu bản, phân bố chủ yếu ở khu vực Thái Miếu (3 tiêu bản) và rải rác ở hố Giếng Ngọc, Tả Vu và Tây Thất Kích thước của loại bát này xê dịch trong khoảng đường kính miệng từ 13,5 cm đến 13,8 cm; đường kính đáy từ 5,7 cm đến 6,4 cm; cao từ 6,5 đến 7 cm Nhìn chung, loại hình bát này đều
có xương gốm mỏng, mịn, trang trí tinh xảo Chỉ có một tiêu bản có xương gốm dầy hơn được trình bày cụ thể dưới đây Trong loại hình bát này có những mô-típ
trang trí như sau: rồng mây có 4 tiêu bản (2 ở Thái Miếu, 1 ở Tả Vu, 1 ở giếng
Ngọc): trong số đó có 2 tiêu bản có chữ Quan trong lòng bát; vân mây sóng nước
có 2 tiêu bản, trong đó tiêu bản ký hiệu LK.02.TT.9 có in hình bông mai ở lòng
bát; Riêng tiêu bản LK.00.TMT.ST sưu tầm được ở khu vực Thái Miếu có xương
gốm dày trung bình, trong lòng có dấu con kê ba mấu, có viết chữ Tiên bằng men
lam đè lên chữ Quan in nổi Phong cách trang trí này sẽ được chúng tôi trình bày
trong một mục riêng như một nét độc đáo trong dòng gốm văn in ở đây
kiểu sau đây: Hoa cúc một tầng: tiêu bản ký hiệu LK.97.HVII.30 tìm thấy ở Tả
Vu, xương gốm dầy trung bình; Văn mây sóng nước lòng in nổi chữ Quan: tiêu bản ký hiệu LK.97.HVII.37 tìm thấy ở Tả Vu, xương gốm dày trung bình; rồng mây có hai tiêu bản tìm thấy ở Thái Miếu VIII và ở Hữu Vu lớp kiến trúc Lê
Trung Hưng
Trang 232.1.2 Đĩa
2.1.2.1 Đĩa nhỡ
Nhóm đĩa này gồm 4 tiêu bản tập trung ở khu vực Tả Vu Kiểu dáng đều là đĩa nông lòng, chân đế cao trung bình, đáy lõm phủ men Kích thước của nhóm hiện vật này dao động trong khoảng đường kính miệng từ 17 cm đến 17,5 cm; đường kính đáy từ 5,6 cm đến 6,4 cm; chiều cao từ 3,8 cm đến 4,6 cm Xương gốm thuộc loại dầy hơn (khoảng 0,3 cm), trắng xám Đồ án trang trí có hai kiểu: Văn in
nổi hình rồng mây và chữ Quan: có ba tiêu bản ký hiệu LK.97.HVII.34,35,37
Trong đó, tiêu bản số 37 có dính xỉ lò ở chân đế; Văn mây sóng nước có một tiêu
bản
2.1.2.2 Đĩa nhỏ
Sưu tập đĩa nhỏ này gồm 16 tiêu bản, phân bố chủ yếu ở khu vực Thái Miếu (9 tiêu bản) Đây là một trong hai loại hình phổ biến nhất trong sưu tập gốm men trắng văn in ở Lam Kinh, chiếm 24,62% tổng số loại hình Nhìn chung đều là đĩa sâu lòng (chỉ có 2 tiêu bản ở hồ Bán Nguyệt là đĩa nông lòng, trong lòng có vết con
kê ba mấu), miệng loe, thành vát, chân đế cao trung bình Kích thước của loại đĩa này dao động trong khoảng đường kính miệng từ 11,5 cm đến 14 cm; đường kính đáy từ 5,6 cm đến 6,7 cm; cao từ 2,5 cm đến 5,5 cm Họa tiết trang trí trên loại
hình gốm này có thể phân ra các mô-típ như sau: Mô-típ rồng mây: có 8 tiêu bản
Trong đó 5 tiêu bản in nổi chữ Quan trong lòng, 2 trong 5 tiêu bản này lại có chữ
Lam vẽ bằng men lam viết đè lên chữ Quan có số ký hiệu là 04.LK.TV.L1.8 và
LH.04.TMI.19 Riêng tiêu bản 04.LK.TV.L1.8 có vết con kê hình vành khăn ở đế cho thấy rõ một trong những kỹ thuật nung là chồng hai đế bát vào với nhau trong
bao nung; Mô-típ văn mây sóng nước: có 3 tiêu bản, trong đó có 1 tiêu bản có
hình bông mai in nổi ở giữa Một trong ba tiêu bản có dấu con kê ba mấu trong lòng
Trang 242.1.3 Chén
Loại hình hiện vật này chỉ có 2 tiêu bản tìm thấy được ở Thái Miếu I, chiếm
tỉ lệ thấp nhất trong số các loại hình gốm men trắng văn in ở Lam Kinh: 3,08% (Bảng 2.1) Cả hai đều có xương gốm rất mỏng, mịn, men trắng bóng Tiêu bản
mang ký hiệu LK.00.TMI.27, chiều cao là 2,5 cm, có hoạ tiết trang trí hình hoa mẫu đơn kết hợp hình hoa mai trong lòng rất tinh tế và sắc nét [Bản ảnh 10]
Mô-típ này tìm thấy nhiều ở Hoàng Thành Thăng Long, ở Hải Dương, tàu cổ Cù Lao Chàm và Nhật Bản Tiêu bản ký hiệu LK.00.TMI, có chiều cao là 2,5; đường
kính miệng là 5cm, đường kính đáy là 3cm; cao 2,5 cm, trang trí mô-típ rồng mây [Bản vẽ 8:1]
2.1.4 Mảnh vỡ
2.1.4.1 Mảnh miệng và mảnh thân
Tổng số mảnh miệng gốm văn in khai quật và sưu tầm được là 1067 và mảnh thân là 1713 mảnh, loại hình chủ yếu là bát và đĩa Dấu vết kỹ thuật có thể quan sát được trên toàn bộ mảnh miệng của dòng gốm này là có hai loại gờ miệng: cạo men hoặc không cạo men
2.1.4.2 Mảnh đế
Tổng số mảnh đế khai quật và tìm thấy được là 287 mảnh, toàn bộ là chân đế cao trung bình từ 0,9 cm đến 1,5 cm, chân đế thẳng, đáy lõm, phủ men, phủ men không hết hoặc không phủ men
Như vậy, sưu tập gốm men trắng văn in ở Lam Kinh gồm có 3 loại hình bát, đĩa, chén tập trung vào 7 kích cỡ khác nhau khá thống nhất về kiểu dáng và độ chênh kích thước giữa các tiêu bản Từ những quy định về kích cỡ, mục đích sử dụng khá rõ ràng: bát tô to chỉ thấy ở Tả Vu, loại bát tô nhỏ và đĩa nhỏ tìm thấy chủ yếu ở Thái Miếu Phải chăng những quy định về kích thước đi kèm với chức năng sử dụng cụ thể đã bắt đầu có những quy tắc chặt chẽ và được kiểm soát?
Trang 252.2 Các mô-típ trang trí trên gốm men trắng văn in
Mô-típ trang trí trên dòng gốm đặc sắc này được một số nhà nghiên cứu gọi
là ám văn [46] Loại gốm này được chế tạo bằng kết hợp với bàn xoay, tạo hình trên khuôn in khắc chìm có dạng hình nón cụt, tạo thành họa tiết in nổi lên thành trong của hiện vật nên chúng tôi thống nhất gọi chung là gốm văn in Trang trí trên loại hình gốm này được thiết kế cầu kỳ, tinh xảo, có bố cục chặt chẽ, khá thống nhất dường như muốn khẳng định phong cách của một triều đại Đặc biệt một số lượng lớn các tiêu bản (35 tiêu bản bát đĩa, chiếm 45,31% trong số các tiêu bản
gốm văn in phục nguyên) có in nổi hình chữ Quan trong lòng Một chi tiết trang trí
hoàn toàn đồng nhất trong dòng gốm này là luôn có hai đường chỉ song song in nổi
ở phần tiếp giáp giữa miệng và thân, khoanh vùng trang trí trong lòng hiện vật Bởi tính chặt chẽ và thống nhất đó nên mô-típ trang trí trên dòng gốm này không phong phú, về cơ bản, hiện vật được trang trí theo bốn mô-típ sau đây: Rồng mây, văn mây - sóng nước, hoa mẫu đơn và hoa cúc Tuy nhiên, khi đi sâu nghiên cứu về từng mô-típ mới thấy hết được sự phong phú đa dạng trong trang trí [Bảng 2.3]
Bảng 2.3: thống kê hiện vật gốm men trắng văn in theo mô-típ trang trí
TT 2.2.1.1 2.2.1.2 2.2.1.3 2.2.1.4 2.2.2.1 2.2.2.2 2.2.2.3 Tổng
Rồng mây
Rồng mây và chữ Quan
Rồng mây, Quan, lam
Rồng mây và chữ lam Vân mây, sóng n-ước Mây – nước và hoa mai
mây-nước
và chữ Quan
1 04.HV.L1.135 04.LK.TV.L1.7 04.LK.TV.L1.8
01.LK.TĐ.HV.
3 02.LK.TT.10 02.LK.TT.9
97.LK.HVII 18
97.LK.HVII 22
3 00.LK.TMI.13 04.LK.TV.L1.10 00.LK.TMI.19 00.LK.TMIX.5
97.LK.HVII 23
4 00.LK.TMI.15 00.LK.TMI.11 00.LK.TMI.20 00.LK.ST.TMT.6
97.LK.HVII 26
5 00.LK.TMI.18 00.LK.TMI.12
00.LK.TMII.L
97.LK.HVII 39
Trang 26Hoa dây khắc chìm và chữ in nổi
hoa mẫu đơn và hoa mai
1 00.LK.ST.TMT 01.LK.TT.HI 97.LK.HVII.30 97.LK.HVII.24 97.LK.HVII.19 97.LK.HVII.21
Đây là mô-típ chiếm vai trò chủ đạo, chiếm 64,62 % tổng số hiện vật gốm
văn in tìm được ở đây, tập trung chủ yếu ở khu vực Thái Miếu Mô-típ này có bố
cục theo kiểu đối xứng trục trong thành trong của bát, đĩa, được giới hạn từ lòng
bát đến dưới hai đường chỉ nổi bằng hoạ tiết hai con rồng nối đuôi nhau xuôi theo
chiều kim đồng hồ Rồng ở đây thanh tú, mềm mại, lưng hơi võng hình yên ngựa,
đầu có sừng, có bờm và những guột lửa, mũi to, có loại mồm nhả ngọc, có loại
không; vẩy gợn sắc nét và tinh tế; có bốn chân, một số tiêu bản chỉ thấy có 3 chân
(1 chân sau, có lẽ thể hiện 1 chân khuất trong mây), đa số là chân có 5 móng, một
số tiêu bản chân có 3, 4 móng hoặc một số chân trước có 5 móng, chân sau có 4
móng, giống với rồng ở bát gốm men trắng đục kiểu 2, loại 2 tìm thấy được ở Hậu
Lâu năm 1998 [41] Nhìn chung, mô-típ rồng ở đây hoàn toàn giống với mô-típ
rồng tìm thấy được trên những hiện vật gốm văn in ở hoàng thành Thăng Long và
sưu tập trên con tầu cổ Cù Lao Chàm Trong mô-típ trang trí này, có những kiểu
phối kết hợp với những họa tiết khác nhau, có thể chia làm bốn kiểu kết hợp như
sau:
Trang 272.2.1.1 Kiểu rồng mây
Đây là kiểu trang trí có số lượng nhiều nhất, gồm 19 tiêu bản bát, đĩa, chiếm 29,23% trong toàn bộ các mô-típ trang trí Nhìn theo bảng Bảng 2.3 ta có thể thấy mô-típ này có mặt ở hầu hết các loại hình bát đĩa ở Lam Kinh (6/7 loại hình, chỉ có bát tô to là không có mô-típ này), được phát hiện nhiều nhất trên loại hình bát tô nhỏ (8 tiêu bản) và mô-típ này tập trung chủ yếu ở khu vực Thái Miếu (11/18 hiện vật trang trí in nổi rồng mây tìm thấy ở khu vực Thái Miếu) [Bản vẽ
4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 16]
2.2.1.2 Kiểu rồng mây kết hợp với chữ Quan官 in nổi trong lòng
Kiểu trang trí này chiếm số lượng lớn thứ hai sau mô-típ trang trí rồng, gồm
14 tiêu bản chiếm 22,54% trong số 13 kiểu trang trí khác nhau Kiểu trang trí này chỉ tìm thấy ở khu vực Thái Miếu và Tả - Hữu Vu (là nơi sửa soạn hành lễ) Đặc biệt 8/14 hiện vật tìm thấy ở Thái Miếu và tất cả đều được trang trí trên chất liệu gốm rất mỏng và tinh tế Điều này có thể giả thiết rằng, loại hình hiện vật này đặc biệt được trân trọng và sử dụng trong các nghi thức tế lễ ở đây [Bản vẽ 19, 20]
2.2.1.3 Kiểu rồng mây, chữ Quan 官 in nổi trong lòng bát kết hợp với
chữ Hán viết men lam
Bảng 2.4:Thống kê Hán tự viết bằng men lam trên gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh
Tất cả có 7 loại Hán tự khác nhau tìm thấy trên gốm men
trắng văn in ở di tích Lam Kinh - Thanh Hoá
1 篮: Lam - nghĩa là màu lam, màu xanh Giống chữ
Lam trong từ Lam Sơn, Lam Kinh
2 敬: Kính - hàm nghĩa cung kính
3 僊: Tiên - hàm ý người tiên, tiên thánh
Trang 284 慈?: Từ - nghĩa là nhân từ
5 餅?: Bính - nghĩa là bánh trái
6 伍?: Ngũ - nghĩa là 5 (số năm) Chữ ngũ ở đây được viết
theo kiểu kép
7 先?: Tiên - nghĩa là trước, tiên (tiền) nhân
Theo phiên âm và dịch nghĩa của Đặng Hồng Sơn, Bộ môn
Khảo cổ học, Trường Đại học KHXH & NV - Hà Nội
Chữ Hán viết bằng men lam là một kiểu trang trí thú vị trên gốm men trắng văn in ở di tích Lam Kinh Trong 7 Hán tự được viết bằng men lam khác nhau được phát hiện trên gốm men trắng văn in ở đây [Bảng 2.4] thì có đến 5 Hán tự
xuất hiện trong kiểu trang trí rồng mây kết hợp với chữ Quan in nổi trong lòng bát
Tổng số có 8 tiêu bản trang trí kiểu này, chiếm 12,31% tổng số hiện vật gốm, nhiều thứ 3 trong số 13 kiểu trang trí Đa số Hán tự được viết bằng men lam dưới men,
đè lên chữ Quan in nổi, chỉ có một tiêu bản đĩa có chữ viết men lam ở bên ngoài
thân đĩa :
Lam 篮: có ba tiêu bản gồm 2 đĩa nhỏ, ký hiệu 00.LK.TMI.19 và
00.LK.TMI.2 và 1 bát tô nhỏ ký hiệu 00.LK.TMIX.3 đều tìm thấy ở khu vực
Thái Miếu Chữ Lam ở đây nghĩa là màu lam, màu xanh Giống chữ Lam trong từ Lam Sơn, Lam Kinh Có lẽ hàm ý sử dụng ở Lam Kinh, Lam Sơn
[Bản ảnh 3: 3]
Kính 敬: có 2 tiêu bản bát nhỡ, ký hiệu 01.LK.TĐ.HII.2 và đĩa nhỏ ký hiệu
02.LK.TT.11 tìm thấy ở khu vực thành phía đông và Tây Thất điện Chữ Kính
ở đây hàm nghĩa cung kính Có lẽ hàm ý vật dụng này dùng cho những việc trang nghiêm như thờ cúng [Bản ảnh 1: 1]
Trang 29Tiên 僊: có một tiêu bản đĩa nhỏ, ký hiệu 00.LK.TMV.L1.5 tìm thấy ở Thái
Miếu V Riêng tiêu bản này chữ Tiên này lại được viết ở thành bát, bên ngoài thân bát Chữ Tiên ở đây hàm ý người tiên, tiên thánh ý nghĩa gắn với việc
thờ cúng [Bản ảnh 3: 1,2]
Từ 慈?: có một tiêu bản đĩa nhỏ ký hiệu 04.LK.TV.L1.8 tìm thấy ở khu vực
Tả Vu Chữ Từ ở đây nghĩa là nhân từ Phải chăng hàm ý phù hộ? [Bản ảnh
11; 1]
Bính 餅?: tiêu bản bát tô nhỏ mang ký hiệu 00.LK.TMII.L2.16, tìm thấy ở toà
thái miếu II Chữ Bính này được viết bằng men lam dưới đáy bát sau khi nung
nên vẫn còn tươi mầu men nguyên gốc Chữ này nghĩa là bánh trái [Bản ảnh 2: 1]
Tiêu bản bát tô nhỏ ký hiệu 04.LK.TV.L1.10 Men trắng ngả vàng, miệng loe, thân thuôn, chân đế cao trung bình, đáy lõm, phủ men không hết, có chữ Hán
(không rõ là chữ gì) viết lam đè lên chữ Quan in nổi trong lòng bát Trong
lòng trang trí nổi hình rồng và đường chỉ [Bản ảnh 2: 2]
2.2.1.4 Kiểu rồng mây kết hợp với chữ Hán viết bằng men lam
Kiểu trang trí này có 2 tiêu bản với 2 ký tự dưới đây (Bảng 2.3):
Lam 篮: có một tiêu bản bát tô nhỏ ký hiệu 01.LK.TĐ.HV.3 tìm thấy ở khu
vực hố đào thành phía đông
Ngũ 伍?: có một tiêu bản chân đế, ký hiệu 01.LK.HIV.TT (tiêu bản này
không liệt kê vào các hiện vật được phục nguyên) tìm thấy ở hố đào thành
phía tây Ngũ ở đây nghĩa là 5 (số năm) Chữ ngũ ở đây được viết theo kiểu
kép Chưa rõ liệu ký tự này có liên quan đến một bộ phận cung đình nào đó không? (Ví dụ: một bộ phận quân đội thời Lê là Ngũ đạo quân) [Bản ảnh 1: 2]
2.2.2 Mô-típ văn mây sóng nước
Trang 30Nhiều thứ hai sau mô-típ rồng mây là mô-típ văn mây sóng nước, có 15 tiêu bản được phục nguyên dạng, chiếm 23,08% tổng số 4 mô-típ trang trí, chỉ ít hơn mô-típ rồng mây, phân bố rải rác ở các địa điểm, nhiều nhất là ở địa điểm Tả Vu (7/15 tiêu bản), chỉ có 4/15 tiêu bản là tìm thấy rải rác ở khu vực Thái Miếu Đặc biệt là chất liệu gốm có mô-típ trang trí này ở khu vực Tả Vu dầy hơn (khoảng 0,3cm), men xám xỉn hơn Tuy thế, mô-típ trang trí trên được biểu tượng hoá khá hoàn chỉnh: sóng nước được cách điệu thành hình vẩy cá toả ra từ lòng bát đến ranh giới hai đường chỉ chìm, mỗi vẩy được in nổi bằng 2 nét chỉ đậm và một nét chỉ mờ bên trong để tạo thành chiều sâu cho bức tranh; đường cách điệu mây trời nhô lên từ sóng nước trông như đuôi cá hay một dải mây mềm có đuôi vuốt theo ngược chiều kim đồng hồ được bố cục thành 3 vòng mây so le nhau, mỗi vòng có bốn dải mây, dải to nhất nằm ở giữa, dải mây ở dưới, phần tiếp giáp với lòng bát nhỏ hơn và dải mây trên cùng, tiếp giáp với hai đường chỉ nổi nhỏ nhất Bố cục đối xứng và so le làm cho hình ảnh có chiều sâu, có quy luật nhưng lại có điểm nhấn, chặt chẽ nhưng mềm mại, và chính vì thế mà vẻ đẹp của nó thật cuốn hút chứ không nhàm chán Mô-típ này được kết hợp với những tiểu tiết trang trí khác có thể chia thành 4 kiểu trang trí dưới đây:
2.2.2.1 Kiểu văn mây sóng nước
Kiểu trang trí này chiếm số lượng phổ biến nhất trong mô-típ vân mây sóng nước nói chung, có 7 tiêu bản, chiếm 11,11% tổng số các tiêu bản được phục nguyên, trang trí chủ yếu trên loại hình đĩa nhỏ, chỉ có một đĩa nhỡ và bát tô to thấy có trang trí kiểu này Kiểu trang trí trên tìm thấy rải rác tại bốn khu vực khác nhau: Thái Miếu, Tả Vu, Hồ Bán Nguyệt, Tây Thất [Bản vẽ 2]
2.2.2.2 Văn mây sóng nước kết hợp hình hoa mai sáu cánh in nổi trong lòng
Kiểu trang trí này chỉ có 2 tiêu bản, chiếm 3,17% trong 13 kiểu trang trí, tìm thấy trên loại hình bát nhỏ và đĩa nhỏ Hoa mai ở đây có 6 cánh, được in nổi ở
Trang 31chính giữa lòng bát Hai tiêu bản này tìm thấy ở khu vực Thái Miếu và Tây Thất điện
2.2.2.3.Văn mây sóng nước kết hợp chữ Quan官 in nổi trong lòng
Kiểu trang trí này có 5 tiêu bản, chiếm 7,94% tổng số kiểu trang trí, được tìm thấy chủ yếu trên loại hình bát tô to, xương gốm dầy hơn, tập trung hoàn toàn ở khu vực Tả Vu [Bản vẽ 14]
2.2.2.4 Văn mây sóng nước, chữ Quan 官 in nổi trong lòng kết hợp với
chữ viết bằng men lam
Có một tiêu bản tìm thấy ở khu vực Thái Miếu, mang ký hiệu 00.LK.TMT.ST Men trắng ngà, rạn, miệng loe, thân thuôn, chân đế cao trung
bình, đáy lõm, mộc, có chữ Tiên 先? Trong lòng trang trí hoa văn sóng nước và 2 đường chỉ nổi, có dấu con kê 3 mấu Xương gốm dày trung bình Chữ Tiên ở đây
có nghĩa là trước, tiên (tiền) nhân [Bảng 2.4], [Bảng 4: năm 2000.ST, 6]
2.2.3 Mô-típ hoa cúc hai tầng
Ngoài các mô-típ trang trí phức tạp trên đây, ở Lam Kinh còn tìm thấy một mô-típ trang trí giống như kiểu hoa cúc in chìm cánh, đường phân cách giữa những cánh hoa nổi lên, tạo thành hình bông hoa hai tầng cánh, toả ra thành từ lòng bát đến giới hạn hai đường chỉ nổi, cách miệng bát 1/4 Tìm thấy bốn tiêu bản thuộc loại hình bát tô to, xương gốm dầy và xỉn hơn, đều tập trung ở khu vực Tả Vu Mô-típ này cũng được kết hợp với những tiểu tiết trang trí khác tạo thành 2 kiểu trang trí dưới đây
2.2.3.1 Kiểu hoa cúc hai tầng
Kiểu trang trí này chiếm đa số trong mô-típ hoa cúc hai tầng (3/4 hiện vật), trong đó có 1 tiêu bản LK.97.HVII.25 đáy không phủ men
2.2.3.2 Kiểu trang trí hoa cúc hai tầng kết hợp với chữ Quan 官
Trang 32Kiểu trang trí này giống như kiểu 1, về chất liệu và kiểu dáng hoàn toàn
không khác với kiểu 1 nhưng lại có chữ Quan in nổi trong lòng Chỉ có một tiêu
bản bát tô to, phục nguyên được dáng, ký hiệu LK.97.HVII.19, mang phong cách trang trí này [Bản ảnh 5: 6] Kiểu trang trí này cũng tìm thấy phổ biến ở di tích Hậu Lâu [41: H14]
2.2.4 Mô-típ hoa cúc dây một tầng cách điệu
ở đây, những nhà khảo cổ học còn tìm thấy 2 tiêu bản bát trang trí hoa cúc cách điệu Mô-típ này được thể hiện bằng một dải trang trí phía trên lòng bát, được chia thành 8 ô, mỗi ô có hình một bông cúc cách điệu gồm 7 cánh Một trong hai
tiêu bản này có chữ Quan trong lòng bát, nên chúng tôi chia mô-típ này thành 2
kiểu:
2.2.4.1 Kiểu hoa cúc một tầng cách điệu
Kiểu trang trí này được tìm thấy trên tiêu bản bát tô nhỏ, tại địa điểm hố I, thành phía tây, năm 2001, có ký hiệu 01.LK.HI.TPT, xương gốm khá dầy, men xám xỉn [Bản vẽ 18]
2.2.4.2 Kiểu hoa cúc một tầng cách điệu kết hợp với hoa mai 6 cánh
Kiểu trang trí này tìm thấy trên tiêu bản bát nhỏ ở khu vực Tả Vu năm 1997,
ký hiệu 97.LK.HVII.30 Về cơ bản trang trí giống kiểu 1, nhưng kết hợp với hình hoa mai 6 cánh trong lòng bát Xương gốm mỏng hơn tiêu bản bát kiểu 1, nhưng vẫn dầy hơn loại gốm vỏ trứng
2.2.5 Mô-típ hoa mẫu đơn kết hợp với hoa mai in nổi
Mô-típ này tìm thấy duy nhất 1 tiêu bản ở Thái Miếu I Đó là chén mang ký hiệu 00.LK.TMI.27, tiêu bản này bị vỡ mất 2/3 Hoa mẫu đơn ở đây có 8 cánh, kết hợp với hoa lá tạo thành một mô-típ mẫu đơn, được bố cục thành 5 mô-típ hoa mẫu đơn (phần còn lại chỉ có 2 mô-típ) chạy xung quanh thân chén, ở phần tiếp giáp với
Trang 33lòng chén Hoa mai có 6 cánh nằm chính giữa lòng chén tạo thành một bố cục chặt chẽ, hài hoà và tinh tế [Bản ảnh 10] Tuy nhiên, kiểu trang trí này tìm thấy ở di chỉ
lò gốm Cậy, khá nhiều ở con tàu cổ Cù Lao Chàm và Hoàng Thành Thăng Long [14; 19; 47]
2.2.6 Mô-típ hoa văn khắc chìm kết hợp với chữ quan 官 in nổi
Đây là một tiêu bản duy nhất, ký hiệu 97.LK.HVII.21 tìm thấy ở Tả Vu
mang phong cách này Kỹ thuật tạo hoa văn khắc vạch với chữ Quan in nổi trong
lòng, lần đầu tiên bắt gặp trong dòng gốm này Thực ra đây là kỹ thuật rất đơn giản, gần như không được sử dụng nhiều cho kỹ thuật gốm men Tuy nhiên, chúng
tôi vẫn xếp vào dòng gốm men trắng văn in vì có chữ Quan in nổi trong lòng Hoạ
tiết được vẽ trong bát này giống như hoạ tiết hoa dây khắc chìm dưới men của gốm thời Trần Chất liệu men gốm xám hơn, nhiều tạp chất hơn và xương gốm dầy hơn (0,3 - 0,4cm) Đây có lẽ là trường hợp ngoại lệ của dòng gốm này, và có lẽ do đó,
nó được dùng vào mục đích ít quan trọng hơn ở nhà Tả Vu [Bản ảnh 5: 1, 2]
Qua những phân loại về trang trí trên đây, chúng ta thấy nổi lên vấn đề
chữ Quan được thể hiện trên gốm Qua 13 kiểu trang trí trong 65 tiêu bản phục nguyên, tần suất chữ Quan in nổi xuất hiện trong lòng hiện vật không phải là ít,
chiếm 46,15% tổng số hiện vật gốm văn in Hiện tượng này tìm thấy nhiều ở di tích Hoàng Thành Thăng Long, một tiêu bản 89.CĐ.HI.128 ở di tích sản xuất gốm Cậy (Long Xuyên, Cẩm Bình, Hải Dương) [6], ở khu vực Xóm Bến, Ngói, Hải
Dương [43] Đặc biệt chữ Quan ở Lam Kinh được thể hiện khá đa dạng Chiếc
chân đế gốm men trắng ngả xanh, có nhiều sắc lam, ký hiệu 04.LK.TV.L1 có một
chữ Quan khắc chìm dưới men trong lòng bát [Bản ảnh 12] Tuy chữ Quan được in
nổi, vẽ lam hay khắc chìm trong lòng bát và tìm thấy trên gốm văn in là chủ yếu, song chúng tôi cũng thấy hiện tượng này trên gốm men trắng vẽ lam Chiếc bát gốm men trắng vẽ lam ký hiệu 01.LK.TĐ.HV.2 miệng loe, thân thuôn, chân đế cao Đường kính miệng 14,5cm, đường kính đáy 7cm, cao 9cm Trang trí hình
Trang 34rồng, hoa sen, hoa chanh trong lòng hiện vật có chữ Quan viết lam Đáy bát tô mầu nâu đỏ và khắc chìm chữ Quan ở chính giữa [Bản ảnh 17:1] Như vậy, Có thể nói chữ Quan được coi như một dấu hiệu riêng, đặc trưng cho những sản phẩm
được cung đình triều Lê đặt hàng và sử dụng
Một tiêu bản bát men trắng vẽ lam khác, niên đại thế kỷ XVII có ký hiệu 01.LK.TĐ.HII.5 miệng loe, thân thuôn, chân đế cao trung bình, khum, đáy lõm, mộc Đường kính miệng 14cm, đường kính đáy 6,5cm, cao 5,5cm Trang trí đơn
giản với các đường chỉ lam và hoa lá Trong lòng viết chữ Quan bằng men lam, nét
to, thô, nhoè, rất xa lạ với các chữ Quan đã gặp [Bản ảnh 17: 2] Thế kỷ XVII là
thời kỳ suy tàn của triều đại Lê, triều đình bị các chúa Trịnh, Nguyễn o ép, vì thế, hẳn là ngân sách triều đình cũng eo hẹp nên hiện tượng gốm về sau này chất lượng
kém hơn cũng không phải là không có lý do Song hiện tượng chữ Quan vẫn tồn tại
trên loại hình gốm thì có thể coi đó là một truyền thống, một dấu ấn cung đình vào buổi chiều tà của triều Lê Trung Hưng
ở đây, chữ Quan không chỉ được in nổi trong lòng bát mà còn kết hợp với
Hán tự men lam, viết đè lên (mô-típ I.3, mô-típ III.4) Các chữ Hán ở đây như gợi
cho ta liên tưởng đến địa danh (Lam - Lam Kinh), đến việc thờ cúng (Tiên - người tiên, Tiên - tổ tiên, Từ - từ bi, Bính - bánh trái ) Như vậy, có thể nói, gốm có chữ
Quan là một loại hình gốm được dùng chung trong cung đình, nhưng được dùng
vào mục đích cụ thể gì thì còn có những ký hiệu khác đi kèm Điều này thể hiện tính chuyên biệt cao trong phân công chức năng sử dụng của dòng gốm này tại di tích Lam Kinh và di tích Hoàng Thành Thăng Long
Loại gốm văn in này còn thấy xuất hiện trong sưu tập gốm văn in trên tàu cổ
Cù Lao Chàm Tuy nhiên, trong sưu tập này lại không có bất cứ một tiêu bản nào
có chữ Quan, mà chỉ thấy có hình bông mai 6 cánh Đặc biệt trên sưu tập gốm trên
tàu cổ Cù Lao Chàm lại có kiểu văn in kết hợp với vẽ mầu đa sắc [14] Hiện tượng này chưa tìm thấy ở bất cứ di tích nào khác Vì vậy có thể nói rằng dòng gốm đặc