1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng xã hội học tập trên cơ sở tiếp thu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

97 731 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, hơn lúc nào hết, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy hướng dẫn khoa học, người

đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành luận văn này Xin gửi lời tri ân nhất của em đối với những điều mà Thầy đã dành cho em Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chính trị học–Trường Đại Học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các anh chị và các bạn cùng khóa đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Son

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 3

A MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn: 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Kết cấu của luận văn 11

B NỘI DUNG 12

CHƯƠNG I: GIÁ TRỊ ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC 12

1.1 Một số vấn đề nghiên cứu lý luận về xã hội học tập 12

1.1.1 Khái niệm về xã hội học tập 12

1.1.2 Những giá trị tiền đề để xây dựng xã hội học tập 15

1.1.3 Tiêu chí đánh giá xã hội học tập 28

1.2 Những luận điểm có giá trị định hướng trong xây dựng xã hội học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh 30

1.2.1 Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 30

1.2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 35

1.2.3 Những luận điểm có giá trị định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh về xã hội học tập 38

1.3 Chăm lo xây dựng nền giáo dục quốc dân 43

1.3.1 Bình dân học vụ 43

1.3.2 Bổ túc văn hóa 47

Trang 5

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

GIÁO DỤC ĐỂ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 50

2.1 Chủ trương xây dựng xã hội học tập 50

2.1.1 Các chủ trương của Đảng 50

2.1.2 Sự tổ chức triển khai của nhà nước 51

2.1.3 Sự vào cuộc của mặt trận nhân dân Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội, các tổ chức chính trị xã hội –nghề nghiệp 54

2.2 Thực trạng xây dựng xã hội học tập ở nước ta 59

2.2.1 Các kết quả bước đầu 59

2.2.2 Những khó khăn và hạn chế 63

2.2.3 Những kinh nghiệm bước đầu 66

2.3 Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh 70

2.3.1 Tiếp tục nâng cao nhận thức trong Đảng và trong toàn xã hội 70

1.3.2 Từng bước hiện đại hệ thống giáo dục quốc dân 73

2.3.3 Tạo điều kiện để nhân dân học tập suốt đời 75

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC……… 83

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

XHHT Xã hội học tập KTXH Kinh tế xã hội

Trang 7

ai cũng ho ̣c suốt đời Vì vậy trong khoảng vài chục năm trở lại đây, xây dựng và phát triển xã hô ̣i ho ̣c tâ ̣p đã trở thành xu thế lớn ở nhiều quốc gia trên thế giới Đối với các nước phát triển , việc phổ cập giáo dục bậc trung học coi như đã hoàn thành, vì vậy trong xã hô ̣i ho ̣c tâ ̣p , việc cung cấp những tri thức mới cho người dân có học vấn trung học và sau trung học là cơ bản

Đối với các quốc gia đang phát triển thì việc học tập của người dân được thực hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau: từ thanh toán nạn mù chữ, bổ túc văn hóa tiểu học và trung học, đào tạo nghề, cung cấp học vấn đại học , sau đại học đến việc thường xuyên bồi dưỡng và đào tạo lại nhằm không ngừng nâng cao trình độ cho cán bộ , công chức , viên chức , nâng cao tay nghề cho công nhân, người lao động , v.v… Để thực hiê ̣n các yêu cầu đó , các nước đang phát triển phải đổi mới nền giáo du ̣c nhằm ta ̣o cơ hô ̣i và điều kiê ̣n cho mo ̣i người dân đều được ho ̣c và ho ̣c suốt đời, một mặt coi trọng nâng cao dân trí, mặt khác phải

ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Trang 8

Như vâ ̣y tất cả các nước trên thế giới , cả những nước phát triển và những nước đang phát triển đều có chung mô ̣t yêu cầu là không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo bước tiến không ngừng của tri thức nhân loại và của khoa học công nghệ Từ đó giáo du ̣c và đào ta ̣o , khoa học và công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định tương lai của mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia, trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều nước, là động lực của sự phát triển,

từ đó đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển Phù hợp với xu thế

đó, Đảng ta đã sớm khẳng định : ngay trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đã phải xây dựng xã hô ̣i ho ̣c tâ ̣p

Mười năm trước đây, khi mới bước vào thế kỷ 21, Đại hội toàn quốc lần thứ

IX của Đảng (2001) đã quyết định phải tạo điều kiện cho mọi người dân đều được học theo hệ thống chính quy hoặc không chính quy, xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập Đại hội toàn quốc lần thứ X tiến thêm một bước khẳng định: “chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở

- mô hình xã hội học tập” Vừa qua Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời [39] Xã hội học tập và học tập suốt đời là hai yếu tố tác động lẫn nhau trong mối quan hệ nhân quả Phải làm cho người dân nhận thức được sự cần thiết và tính chất quan trọng phải học tập suốt đời, có ý thức tự giác học tập và học tập thường xuyên mới xây dựng được xã hội học tập; có xây dựng được xã hội học tập thì người dân mới có cơ hội và điều kiện học tập suốt đời

Học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học Đây cũng là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng trong bối cảnh thế giới đang có những đổi thay to lớn và nhanh chóng trước sự phát

Trang 9

triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin

Với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, hơn lúc nào hết, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam, về đào tạo nguồn nhân lực, về sự nghiệp trồng người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, ham muốn tột bật của Người là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.Giáo dục là một khoa học Đó là khoa học về thiết kế xây dựng con người phục vụ chế độ xã hội, khoa học về cách thức, phương pháp giáo dục con người với chất lượng tốt nhất và hiệu quả nhất; khoa học về xây dựng một nền giáo dục với quy mô, cơ cấu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và phải giải quyết được nhu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra Vì thế, tư tưởng

Hồ Chí Minh về giáo dục là một khoa học không chỉ được đề cập ở phạm vi hẹp

là giáo dục tri thức, học vấn giới hạn trong nhà trường, giữa thầy và trò, mà nội dung tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh là hết sức rộng lớn, bao quát trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục có ý nghĩa sâu rộng

cả về mục đích, nội dung, phương pháp, trong đó những quan điểm ban đầu về xây dựng xã hội mà ai cũng được học tập, có ý nghĩa to lớn

Chính vì những lý do trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: Xây dựng xã hội học tập trên cơ sở tiếp thu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

1.2 Giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

về giáo dục để xây dựng xã hội học tập

Về lý luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở, tiền đề để hoàn thiện quan điểm chủ trương về xây dựng mô hình xã hội học tập giai đoạn hiện nay

Về thực tiễn: Tư tưởng Hồ Chí Minh là động lực phương pháp triển khai các

đề án của chính phủ về xã hội học tập

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về xã hội học tập nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội học tập nói riêng trên thực tế đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Căn

cứ vào nội dung có thể chia thành các nhóm sau:

* Nhóm thứ nhất: gồm đề tài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu Có thể nêu lên những công trình tiêu biểu như:

 Hồ Chí Minh bàn về công tác giáo dục – NXB Sự Thật – Hà nội 1972

 Học tập quan điểm giáo dục của đồng chí Hồ Chí Minh – Hoàng Ngọc Di- NXB Giáo dục -1962

 Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa –Phạm Văn Đồng – NXB Sự Thật, Hà Nội 1979

 Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục –Vũ Văn Giàu, Nguyễn Anh Quốc- NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội 2005

 Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ cử nhân chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2005

 Sự hình thành cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh- Trần Văn Giàu, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 1997

 Nghiên cứu giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Nguyễn Văn Sáu, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005

 Trí tuệ và bản lĩnh Hồ Chí Minh Tác giả Bùi Đình Phong , NXB Chính trị Quốc gia , Hà nội 2005

 Về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh, Tác giả Đinh Xuân Lâm – TS Bùi Đinh Phong, NXB Lao Động

* Nhóm thứ hai: gồm các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến

xã hội học tập Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như:

Trang 11

 Tiến tới một xã hội học tập ở Việt Nam Tác giả : Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Hữu Châu, Đào Thái Lai Nguồn: H.: Đại học Quốc gia Hà Nội, năm

2005

 Cấu trúc mô hình xã hội học tập ở Việt Nam – Phạm Tất Dong – NXB Dân trí , Hà Nội 2012

 Đặc trưng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam: Sự nhận diện từ một vấn

đề tổ chức sư phạm và kinh tế -xã hội Một số vấn đề về xây dựng mô hình xã hội học tập ở Viêt Nam, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội 2008

 Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam- Đặng Quốc Bảo, Hà Nội 2007

 Khái niệm, mục đích và điều kiện hình thành một xã hội học tập ở Việt Nam Một số vấn đề về xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam- Nguyễn Minh Đường, NXB Giao Thông Vận tải, Hà Nội 2008

 Các lý thuyết và mô hình giáo dục hướng vào người học ở phương Tây Tác giả: Đặng Thành Hưng Nhà Xuất bản: H.: Viện Khoa học Giáo dục, năm

1995

 Tổ chức kế hoạch hóa công tác dạy nghề và đào tạo công nhân Tác giả:

Lê Khắc Đóa, Hà Dũng, Vũ Kim Tuyền Nhà Xuất bản Giáo dục, năm 1985

 Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI – Sách tham khảo Tác giả: Phạm Minh Hạc Nhà Xuất bản: H., Chính trị Quốc gia, năm 2002

 Xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp khu vực Châu Á & Thái Bình Dương Tác giả: Lê Vũ Khánh Nhà Xuất bản: H.: Viện Nghiên cứu Đại học & GDCN, năm 1990

 Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam Tác giả: Trần Văn Tùng Nhà Xuất bản: H.: Thế giới, năm 2001

 Khoa học - Giáo dục đi tìm diện mạo mới Nhà Xuất bản Trẻ

 Các công trình nghiên cứu tại nước ngoài về xã hội học tập, bao gồm một

số công trình như sau:

Trang 12

 Re-schooling Society – Educational Change and Development Series : Vấn đề học tập lại ở xã hội – Những thay đổi và phát triển trong vấn đề giáo dục Tác giả: Davi Hartley Nguồn: Paperback, năm 1997

 Society and education : Vấn đề xã hội và giáo dục Tác giả: Robert J Havighurst, Berice L Neugarten Nguồn: Allyn and Bacon Inc – Boston, năm

W Wiseman Nhà Xuất bản: Hardcover, năm 2005

*Các văn bản pháp luật, bài báo, công trình nghiên cứu về xã hội học tập, bao gồm các công trình sau:

 Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg của Văn phòng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010"

 Công văn số 5806/VPCP-VX ngày 11 tháng 10 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ về việc tổ chức Hội nghị sơ kết, đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, dạy nghề và thể dục thể thao

 Xây dựng xã hội học tập để thoát nguy cơ tụt hậu Tác giả: Hạ Anh, năm

2004 Nguồn: http://www.vnn.vn

 Ðể xã hội học tập thành hiện thực sinh động và hiệu quả Tác giả: Kim Dung, theo Nhân dân – TTTT&CTGGD, năm 2007 Nguồn:

http://fpe.hnue.edu.vn

Trang 13

 Xây dựng xã hội học tập ở nước ta Tác giả: Nguyễn Mạnh Cầm – Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, năm 2007 Nguồn: http://www.nhandan.com

 Gắn xây dựng xã hội học tập với phát triển kinh tế xã hội Tác giả: TTXVN, năm 2006 Nguồn: http://www.cpv.org.vn

BTK-Những tài liệu trên của các tác giả là nguồn tư liệu quý giúp tôi tham khảo, làm định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên hiện nay việc nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng xã hội học tập hiện nay cần được nghiên cứu thêm nữa

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn:

Làm rõ định hướng về những nội dung chính xây dựng xã hội học tập ở nước

ta trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu những nội dung, giá trị cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, làm rõ những vấn đề liên quan đến đường lối xây dựng xã hội học tập hiện nay

+ Làm rõ những đặc điểm, nội dung chủ yếu xây dựng xã hội học tập ở nước

ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng để xây dựng xã hội học tập

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Xã hội học tập là phạm vi rất lớn và có nhiều công trình nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả chỉ tập trung nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội học tập

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng xã hội học tập

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lê nin và những phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, lịch sử, logic,

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục làm quan điểm xây dựng xã hội học tập

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, góp phần nhận thức hơn quan điểm để xây dựng xã hội học tập Đây cũng là tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương, 6 tiết, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 15

B NỘI DUNG CHƯƠNG I: GIÁ TRỊ ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ

MINH VỀ GIÁO DỤC 1.1 Một số vấn đề nghiên cứu lý luận về xã hội học tập

1.1.1 Khái niệm về xã hội học tập

Xây dựng xã hội học tập đang là một xu thế lớn trên thế giới Tại nhiều quốc gia, trong chủ trương đổi mới hoặc cải cách giáo dục đều nói đến mục đích xây dựng xã hội học tập Cuối thế kỉ XX, ý tưởng về xây dựng nền giáo dục đáp ứng

sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại và yêu cầu xây dựng con người của nền kinh tế mới sẽ thay thế nền kinh tế công nghiệp, đã được Ủy

ban quốc tế về giáo dục của thế kỷ XXI do Jacquec Delos làm chủ tịch nêu

trong báo cáo “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn” gửi lên Unesco

Tư tưởng xuyên suốt của vấn đề này là vấn đề học tập suốt đời Phải có một nền giáo dục đáp ứng được những thay đổi và thách thức của thế giới đang ngày càng biến đổi Và để đạt được điều này mỗi con người phải tự học để thích nghi với những tình huống mới mẻ nổi lên trong đời sống cá nhân hay đời sống nghề nghiệp của bản thân

Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỉ XXI cho rằng, học tập suốt đời là một trong những chìa khóa để mở cửa đi vào thế kỉ XXI, coi học tập suốt đời là sức sống của xã hội tương lai Đây là điều không dễ dàng vượt qua định kiến phân biệt truyền thống giữa giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục

Người đầu tiên đưa ra khái niệm “Xã hội học tập” là Edgar Faure trong tác

phẩm “Học để làm người: Thế giới giáo dục ngày nay và ngày mai” năm 1972 Theo ông, “làm người” tức là trở thành những nhân cách với những phẩm chất

cơ bản, năng lực tự chủ, sự xét đoán thông minh và trách nhiệm cao của cá nhân trong việc cùng người khác, cùng cộng đồng phấn đấu để có một xã hội học tập

Trang 16

Trong đó không một tài năng nào của con người bị loại bỏ vì đó là một kho báu tiềm ẩn

Sau công bố của Edgar Faure và nhất là sau báo cáo “Học tập: một kho báu

tiềm ẩn” nhân loại chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ

Hàng loạt các phát kiến được đưa ra biến đổi mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực Và rõ ràng, nền giáo dục cổ điển bộc lộ nhiều bất cập trước

sự phát triển đó của thế giới hiện đại Dù muốn hay không, yêu cầu xây dựng một nền giáo dục hiện đại đáp ứng được các yêu cầu sau :

+ Nền giáo dục phải có các thiết chế giáo dục với đủ các hình thức giáo dục cho bất kỳ lứa tuổi, bất cứ trình độ học vấn nào trong bất cứ không gian và thời gian nào

+ Thực hiện giáo dục theo tinh thần: giáo dục của dân, do dân, vì dân, ai cũng được học hành, không ai bị loại thải ra khỏi giáo dục

+ Con người có nghĩa vụ học tập suốt đời

Một xã hội được hệ thống như vậy là xã hội học tập Vậy xã hội học tập là gì? Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về xã hội học tập, tác giả xin đưa ra một số quan điểm như sau:

Căn cứ vào quan niệm được trình bày trong các tài liệu của UNESCO và OECD vận dụng vào hoàn cảnh nước ta, có thể nêu nội dung của khái niệm này

như sau: “Xã hội học tập” là mô hình hiện đại của nền giáo dục trong đó giáo dục và xã hội có sự thống nhất, thực hiện chế độ giáo dục cho mọi người và học suốt đời - chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI; bao gồm sự học tập liên tục mà sự phân biệt chỉ có tính tương đối của hai loại đối tượng tức thế hệ đang lớn lên (giáo dục thế hệ trẻ) thực hiện “đào tạo ban đầu” theo hình thức học “chính quy” trong nhà trường truyền thống và giáo dục người lớn thực hiện “học tập thường xuyên” hay “giáo dục người lớn” theo hình thức “không chính quy” và

“phi chính quy” tiến hành ngoài nhà trường truyền thống; theo bốn trụ cột của

Trang 17

giáo dục thế kỷ XXI là “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học

để làm người”; nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của cá nhân và xã hội với các mục tiêu nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, để mỗi người

tự khẳng định mình tham gia thị trường lao động và có cơ hội việc làm nâng cao chất lượng cuộc sống đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và tham gia đời sống xã hội trong nước và hội nhập quốc tế

Tại Việt Nam trên cơ sở phát triển của xã hội nói chung và của giáo dục nói riêng, nhiều học giả cũng đưa ra một số khái niệm về xã hội học tập như sau:

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc, Viện Nghiên cứu Con người cho rằng: “Xã

hội học tập là một xã hội mọi người lấy việc học tập là một công việc thường xuyên, suốt đời, học trong nhà trường và học ngoài nhà trường, chính quy và không chính quy như một phần không thể thiếu được của đời mình , lấy việc học là phương pháp tiếp cận (cách nhìn, cách xử lý) của cuộc sống, nhằm phát triển con người bền vững- động lực cho toàn bộ sự tiến bộ của xã hội” [10, tr 160]

Theo GS.TSKH Nguyễn Minh Đường, Viện Chiến lược và Chương trình

giáo dục: “Xã hội học tập là một xã hội mà mọi lứa tuổi đều học, mọi loại hình lao động đều học, học một cách tự nguyện, một cách thường xuyên, học suốt đời, học bằng nhiều hình thức để có thể lao động và sống trong một xã hội đang không ngừng biến đổi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dưới tác động của khoa học công nghệ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: làm tiền đề cho việc bước sang một xã hội kinh tế tri thức.” [10, tr.162]

Như vậy, xuất phát từ khái niệm trên thì phạm vi xã hội học tập chia thành 3 khâu như sau:

Khâu I: Giáo dục trong nhà trường chính quy truyền thống cung cấp trình độ học vấn và tiền nghề nghiệp ban đầu chủ yếu cho thế hệ trẻ theo hình thức học tập chính quy và cho một bộ phận người lớn đang tham gia sản xuất, công tác (học không tập trung, tại chức, từ xa, tự học) theo kiểu bán chính quy

Trang 18

Khâu II: Giáo dục thường xuyên, học tập không chính quy (giáo dục mở, giáo dục từ xa, tự học…) để nâng cao và bổ túc một cách liên tục trình độ học vấn và nghề nghiệp tiếp nhận được từ nhà trường cho thanh niên không có điều kiện học tiếp con đường chính quy mà chưa có việc làm và chủ yếu cho bộ phận người lớn đang lao động nghề nghiệp

Khâu III: Sự học tập thiết dụng và học tập tùy hoàn cảnh (Learning environments) theo phương thức giáo dục không chính quy và chủ yếu giáo dục phi chính quy rất đa dạng của người lớn đang tham gia thế giới việc làm và đời sống xã hội (và người cao tuổi) cũng như những đối tượng dân cư khác có nhu cầu học tập cá nhân hoặc theo yêu cầu xã hội (học tập cộng đồng, gia đình, cá nhân)

Đối với nước ta hai khâu I và II về cơ bản đã được quy định trong Luật GD (1998) nhưng nay vận dụng tiếp cận xã hội học tập thì phải có nhiều đổi mới mạnh mẽ, còn khâu III là mới mẻ Bởi vậy công việc xây dựng xã hội học tập phạm vi toàn quốc phải nhằm mục tiêu chung là tạo điều kiện thuận lợi nhất (có thể được phù hợp khả năng KT-XH) đáp ứng quyền được học tập cho mọi người có nhu cầu học

Xây dựng xã hội học tập là cơ hội thực hiện hoài bão của Hồ Chủ tịch và cũng là khao khát ngàn đời của nhân dân Việt Nam “học để nên người” “ai cũng được học hành” Bởi vậy chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa lịch sử và triết lý giáo dục của những tư tưởng và những lời huấn thị của Hồ Chủ tịch để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng nền giáo dục nước ta hiện nay

1.1.2 Những giá trị tiền đề để xây dựng xã hội học tập

a Sự nhận thức và chủ trương của Đảng, nhà nước

Việt Nam là một đất nước ngàn năm văn hiến Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học lâu đời Người Việt Nam lấy sự học làm điều căn bản để thực hiện đạo lý làm người Từ ngày có Đảng, nhất là từ sau khi Cách mạng

Trang 19

tháng 8 thành công, tư tưởng Hồ chí Minh về sự học, xem học tập là nhu cầu của cuộc sống đã được thể hiện một cách nhất quán trong đường lối chủ trương

của Đảng và Nhà nước Từ những ngày đầu mới giành được độc lập, khi vận

mệnh nước nhà đang như ngàn cân treo sợi tóc, Đảng và Bác Hồ đã chủ trương cùng một lúc chống giặc đói, giặc dốt và chống giặc ngoại xâm, xem chống giặc dốt cũng là quan trọng, cũng cấp bách như chống giặc đói để dân được ấm no và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập nước nhà Tư tưởng Hồ Chí Minh

về học tập đã bắt gặp xu thế của thời đại, khi trên thế giới giáo dục và đào tạo đã trở thành yếu tố quyết định tương lai của một dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia, trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển rộng khắp, cách mạng khoa học công nghệ đạt được bước tiến kỳ diệu, cách mạng thông tin bùng nổ mạnh mẽ, trí thức của nhân loại tăng trưởng không ngừng Trên cơ sở đó Đảng ta khẳng định giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (ngày 28/06 –

01/07/1996) nhấn mạnh về xã hội hóa sự nghiệp giáo dục đào tạo đặc biệt nhấn mạnh nguồn vốn đầu tư cho giáo dục: Cụ thể hóa và thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa sự nghiệp giáo dục đào tạo, trước hết là về đầu tư phát triển và đảm bảo kinh phí hoạt động Hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục từ Đại hội VIII của Đảng Trong năm 1996 Đảng và Nhà nước ta quyết định thành lập Hội khuyến học Việt Nam

Nghị quyết của chính phủ só 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997, tiếp tục

đưa ra phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa Trong phần xã hội hóa lĩnh vực giáo dục đào tạo Nghị quyết nhấn mạnh: “Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức; vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội

Trang 20

học tập” Bên cạnh đó Nghị quyết cũng đưa ra chủ trương và biện pháp để thực hiện xã hội hóa giáo dục và đào tạo

Tiếp tục cuộc chiến với “diệt giặc dốt” của chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời đại mới, “giặt dốt” ở thời đại ngày nay đó là “xóa mù số”, tạo những điều kiện cần và đủ để con người có thể tồn tại trong xã hội, chạy theo kịp sự phát triển

như vũ bão của khoa học công nghệ Trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành TW Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, chủ

trương xây dựng xã hội học tập để “diệt giặc dốt” đã được nghiêm túc triển khai thực hiện: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục… đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy”

Đồng thời, để phát triển phong phú hơn các hình thức đào tạo, đáp ứng nhu

cầu học tập của toàn thể nhân dân, kết luận của Hội nghị TW 6 và Hội nghị 7 (Khóa IX) tháng 7/2002 cũng nhấn mạnh đến phát triển các hình thức giáo dục

không chính quy và các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập Phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc

vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Bên cạnh đó, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 được Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt (12/2001) đã chỉ rõ quan điểm: giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân; xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên suốt đời; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; đẩy mạnh

xã hội hóa, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia

phát triển giáo dục Đồng thời, kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục cho mọi người giai đoạn 2003 – 2015, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày

Trang 21

02/07/2003, đã tập trung giải quyết các mục tiêu cơ bản thuộc các lĩnh vực: giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, giáo dục không chính quy

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 37/2004/QH11 – Khóa XI, kỳ họp thứ sáu về giáo dục về: xã hội hóa

giáo dục và xây dựng xã hội học tập Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án

“xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 – 2010” Việc xây dựng và phê duyệt

đề án của Chính phủ đã thể hiện tính đột phá trong xây dựng xã hội học tập, đề

án đã đưa ra định hướng và kế hoạch hiện thực hóa cụ thể để thực hiện mục tiêu trên Đề án đã đưa ra định hướng phát triển: “Xây dựng cả nước trở thành một

xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập”

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến xây dựng nền giáo dục nước nhà Coi giáo dục là một trong những quyết sách hàng đầu để xây dựng và phát triển đất nước

Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên có những chính sách

và giải pháp để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển Xây dựng Xã hội học tập là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta

b Sự nhận thức và tham gia của nhân dân

Xã hội học tập là một xã hô ̣i , trong đó, mọi người dân đều có nhu cầu và nghĩa vụ ho ̣c tập , đều được tạo cơ hội và điều kiện học tập Nhà nước đảm bảo

Trang 22

cho ai cũng được học hành, học thường xuyên, học suốt đời, trong đó ý thức tự học, học một cách tự giác là yếu tố quyết định nhất

Trong xã hội học tập, mỗi người dân đều có nghĩa vụ tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Quá trình xây dựng xã hội học tập cần được thực hiện theo tinh thần xã hội hóa như chỉ thị 11-CT/TW ngày 13/4/2007 của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, của tất cả các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, các đoàn thể quần chúng trong toàn xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội học tập, các tỉnh thành đã nhanh chóng ban hành chương trình để thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Đồng thời, Ủy ban nhân dân các tỉnh cũng ban hành nhiều chính sách quan trọng để thúc đẩy việc xây dựng các cơ sở giáo dục cho mọi người và thu hút các đối tượng thanh, thiếu niên và người dân trong cộng đồng đi học Trong

đó có những chính sách rất thiết thực như: việc “Hỗ trợ kinh phí cho các Trung tâm học tập cộng đồng theo mức 15 triệu đồng/năm (Quảng Ninh); Đề án hỗ trợ học sinh tại các trường có nội trú dân nuôi trong tỉnh; ban hành chế độ phụ cấp cho cán bộ quản lý và kinh phí hỗ trợ các Trung tâm HTCĐ Đặc biệt, chương trình xây dựng XHHT tại các tỉnh đã thu hút được sự quan tâm, vào cuộc của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và của cả cộng đồng Các cấp uỷ và chính quyền địa phương từ cấp tỉnh tới cấp huyện, cấp xã đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và cử cán bộ lãnh đạo trực tiếp tham gia Ban chỉ đạo hoặc đảm nhiệm vai trò chủ chốt quản lý các trung tâm học tập cộng đồng Các ban ngành, cấp Hội, đoàn thể đã triển khai nhiều chương trình giáo dục như: xoá mù chữ cho phụ nữ và trẻ em gái; dạy nghề cho lao động nông thôn; xây dựng mô hình

“Gia đình hiếu học”, “Dòng họ khuyến học”, “Khu phố, bản làng văn hoá” Chính nhờ sự vào cuộc tích cực này mà xã hội học tập đã nhanh chóng hình thành với những thành tựu quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân và

Trang 23

trong nhận thức, trong đời sống của nhân dân trong tỉnh Sau 5 năm triển khai xây dựng XHHT, hệ thống giáo dục chính quy của tỉnh được phát triển hoàn thiện với nhiều loại hình trường lớp từ mầm non đến đại học

c Sự tham gia của các tổ chức xã hội

Hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục từ đại hội VIII của Đảng Trong năm 1996 Đảng và Nhà nước ta quyết định thành lập Hội khuyến học Việt Nam

Hội khuyến học Việt Nam được thành lập xuất phát từ ý tưởng của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về việc cần thiết phải có một tổ chức quần chúng xã hội bên cạnh ngành giáo dục và đào tạo, để hỗ trợ chấn hung sự nghiệp giáo dục đào tạo trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Từ khi thành lập đến nay, Hội khuyến học Việt Nam đã có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục Một trong những nhiệm vụ chính của Hội khuyến học là: Phát triển phong trào khuyến học theo phương châm giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, xây dựng phong trào toàn dân học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời Vai trò của Hội khuyến học Việt Nam cũng là sự tiếp nối phong trào Bình dân học vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã giành thắng lợi vẻ vang ở chiến trường không tiếng súng “diệt giặc dốt” Hội thực sự là lực lượng chủ công trong phong trào xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bản xã, phường và thị trấn Đồng hành với Hội là Ngành giáo dục trong tiến trình này Ngành giáo dục chịu trách nhiệm trước Nhà nước về thành lập ra trung tâm học tập và quản lý nhà nước về hoạt động chuyên môn của chúng Hội vận động các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân tạo

ra những điều kiện để các trung tâm nhanh chóng được hình thành và kịp thời đi vào hoạt động Hội đóng góp chính vào việc vận động nhân dân tham gia học tập và tham gia giảng dạy tại các trung tâm

Trang 24

d Nguồn lực, cơ sở vật chất phục vụ xã hội học tập

Để xây dựng xã hội học tập, để ai cũng được học hành và học suốt đời theo tâm nguyện của Bác Hồ, thì tiêu chí đầu tiên là xã hội hóa giáo dục Bước vào những năm cuối thế kỷ XX, nước ta đứng trước những cơ hội và những thách thức to lớn chưa từng có Một trong những thách thức mà Đảng ta chỉ ra đó là nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới Để khắc phục nguy cơ đó, một giải pháp quan trọng là phát triển giáo dục, qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta Để xây dựng hệ thống giáo dục mới thực

sự của dân, do dân và vì dân phù hợp với nhu cầu học tập suốt đời trong một xã hội học tập, khái niệm xã hội hóa giáo dục và đào tạo được đưa vào sử dụng

Xã hội hóa giáo dục trước hết phải được hiểu đây là một sự nghiệp rộng lớn, đầy trách nhiệm và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các

tổ chức kinh tế, xã hội và toàn dân chăm lo cho phát triển giáo dục và đào tạo không những chỉ đối với thế hệ trẻ mà đối với tất cả mọi công dân Việt Nam không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, giàu, nghèo, dân tộc, cương vị, vị trí xã hội và

dù ở đâu (thành thị, nông thông, vùng núi, hải đảo, các vùng khó khăn xã xôi hẻo lánh…) ai ai muốn học, muốn học gì, muốn học bằng cách nào, học như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, năng lực của mình, cũng được tạo điều kiện tốt nhất cho việc học Xã hội hóa giáo dục là một việc làm tốt đẹp, tạo điều kiện cho cả xã hội cùng tham gia vào công trình trồng người

Nghị quyết của chính phủ số 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 đã khẳng định nội dung xã hội hóa giáo dục bao gồm: “Tạo phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức; vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập” [39,tr.26]

Trang 25

Xã hội hóa giáo dục là cần thực hiện tốt công bằng trong giáo dục Phải tạo điều kiện cho mọi người dù là thuộc dân tộc nào, hoàn cảnh kinh tế ra sao, sống

ở đâu cũng có điều kiện tiếp cận giáo dục Mọi người có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận giáo dục Đặc biệt phải tạo điều kiện cho trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc có nhiều khó khăn có cơ hội bình đẳng trong giáo dục như trẻ em

ở các vùng khác Để có bình đẳng trong giáo dục, rất cần có chính sách tốt hơn giúp cho trẻ khuyết tật được học tập tùy theo điều kiện, nguyện vọng và hoàn cảnh của chúng Đối với trẻ có năng khiếu, tài năng cần được phát hiện sớm và đầu tư thích đáng nhằm phát huy khả năng của từng em Đây là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước trong tương lai

Xã hội hóa giáo dục nhằm xây dựng một xã hội mà trong đó mọi người dân đều được hưởng sự công bằng, bình đẳng, công khai, dân chủ thực sự trong học tập thông qua xã hội hóa giáo dục để xây dựng một xã hội học tập suốt đời Xây dựng xã hội học tập suốt đời phải là một trong những chiến lược then chốt của giáo dục nước ta, trên con đường đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo do Đảng khởi xướng từ cuối thế kỷ trước, và nó sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong thế kỷ XXI Ngày hôm nay, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, các điều kiện khác của xã hội là những điều kiện hết sức thuận lợi để có thể thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục đào tạo nhằm góp phần đưa sự nghiệp giáo dục đào tạo nước ta chủ động hội nhập với khu vực và quốc tế

Bước vào thế kỷ XXI, ở nước ta việc xã hội hóa giáo dục – đào tạo để đảm bảo cho việc học tập suốt đời được hiểu là đảm bảo nhu cầu hoàn thiện của từng thành viên trong cộng đồng với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự bình đẳng về giáo dục đào tạo Có thể coi đây là một quan niệm về triết lý giáo dục xây dựng con người mới thông qua xã hội hóa giáo dục trong một xã hội học tập suốt đời

để từng thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình,

Trang 26

của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả xã hội nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường làm cho nước ta sớm trở thành một nước dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa

Xã hội hóa giáo dục đào tạo, và học tập suốt đời là một chiến lược quan trọng để đạt được sự dân chủ và bình đẳng của mọi người trong xã hội Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng đã chỉ rõ: Tạo điều kiện để ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự trợ giúp khuyến học của Nhà nước, sự ủng hộ của các tổ chức, đoàn thể và toàn dân trong cả nước rõ ràng trong những năm gần đây quy mô giáo dục đào tạo nước ta đã tăng lên vượt bậc Số lượng người dân Việt Nam được tiếp nhận giáo dục thích hợp về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội, văn hóa… với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài ngày càng tăng đáng kể

Tuy nhiên, ngay những năm đầu của thế kỷ XXI ở nước ta đã cần có một nguồn lao động có khả năng nắm bắt những công nghệ tiên tiến, những biến đổi phức tạp của quá trình phát triển kinh tế trong nước, khu vực và toàn cầu Mặt khác, đây cũng là những năm thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở và làm thế nào để huy động được tất cả trẻ em thiệt thòi, trẻ em giá và phụ nữ đều được

đi học Đồng thời, nền giáo dục nước ta hiện nay hơn lúc nào hết, cần có sự chuyển dịch cơ bản từ số lượng sang chất lượng mà vẫn giữ được quy mô ngày càng phát triển Do vậy, không có cách gì khác là phải đẩy mạng xã hội hóa giáo dục đào tạo, chỉ có xã hội hóa giáo dục đào tạo mới có thể đưa nền giáo dục nước ta vượt qua những thách thức kể trên

Thực hiện xã hội hóa giáo dục mới có thể là điều kiện quan trọng để xây dựng xã hội học tập, từ đó đáp ứng yêu cầu tất yếu của xã hội, và thực hiện ước

Trang 27

nguyện của Bác Hồ “ai cũng được học hành” [16,tr.161] và học hành đến nơi đến chốn

Con người là nguồn lực quan trọng nhất trong xây dựng xã hội học tập

Trong nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập, mỗi con người trong xã hội có nhiệm vụ khác nhau, và có tầm quan trọng khác nhau Tuy nhiên, trong đó ba bộ phận cơ bản và quan trọng nhất đó là người học, người dạy, và người quản lý giáo dục

Đối với người học phải biết tự học Đây là điều kiện tiên quyết trong xây dựng xã hội học tập, nhờ tự học người học có thể học thường xuyên, học suốt đời Lịch sử đã cho thấy nhiều danh nhân, học giả nổi tiếng nhờ tự học như nhà khoa học Edinson, ông vua máy tính hãng Microsoft của Mỹ Bill Gate… là những tấm gương sáng về sự tự học Còn ở Việt Nam đó là chủ tịch Hồ Chí Minh người đã có công gây dựng nền móng cho nền giáo dục tiến bộ nước ta, Người đã chỉ rõ đối với người học: “Phải lấy tự học làm cốt Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [19,tr 273], người còn khẳng định thêm: Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải biết tự động học tập

Để thực hiện được theo lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh về việc học tập, thực hiện chủ trương xây dựng xã hội học tập của Đảng và Nhà nước, để mỗi người có thể tự học và học suốt dời, người học cần được dạy và thực hiện được một số những kỹ năng cơ bản sau:

Nhóm kỹ năng nhận thức học tập: giúp cho người học nhận thức tốt nội dung học vấn trong các mon học hoặc khi cần học bất cứ cái gì Hiện nay học tập không phải là thụ động nghe và ghi lại những gì giáo viên truyền đạt mà người học phải tự mình tìm kiếm thông tin, tư liệu liên quan đến nội dung cần học để đào sâu suy nghĩ và vận dụng, về điều này Bác Hồ đã nhắc nhở người học: không nên học gạo, không nên học vẹt… Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành Học và hành phải kết hợp với nhau

Trang 28

Những kỹ năng nhận thức học tập cơ bản gồm có: Kỹ năng tìm kiếm và khai thác các nguồn học tập như: kỹ năng làm việc với sách báo, kỹ năng nghe, kỹ năng tra cứu thông tin trên mạng, tra cứu thư viện…; kỹ năng xử lý, tổ chức, đánh giá thông tin như: tóm tắt nội dung học tập, nêu câu hỏi, giả thuyết, phán đoán và lập luận, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề…; kỹ năng áp dụng, phát triển kết quả nhận thức và học tập dưới những hình thức khác nhau, kỹ năng chuyển hóa tri thức thành năng lực thực hiện trong công việc, trong cuộc sống

Nhóm kỹ năng giao tiếp học tập như: Kỹ năng trình bày bằng văn bản, phát biểu ý kiến sao cho khoa học, logic làm cho người đọc, người nghe dễ hiểu…; kỹ năng ứng xử, thể hiện hành vi khi làm việc với người khác; kỹ năng giao tiếp nhờ

sử dụng phương tiện viễn thông và công nghệ thông tin hiện đại vào mục đích học tập như: tham gia diễn đàn trên mạng, khai thác thông tin học tập trên mạng… Nhóm kỹ năng quản lý học tập như: Kỹ năng tổ chức môi trường học tập cá nhân; kỹ năng hoạch định hoạt động học tập; kỹ năng kiểm tra và đánh giá quá trình và kết quả học tập…

Ba nhóm kỹ năng trên là một trong những tiêu chí quan trọng cho người học trong nền giáo dục mới Bên cạnh sự tiến bộ của người học, thì không thể không

kể đến vai trò của người giảng dạy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nếu không

có thầy giáo thì không có giáo dục” [22,tr.184] Người còn khẳng định thêm những người thầy giáo tốt là những người vẻ vang nhất, là những anh hùng vô danh Với ý nghĩa đó, Người muốn nhấn mạnh vi trí và tầm quan trọng của người thầy, cô giáo là những người đóng vai trò phát huy sức mạnh nguồn lực con người Bên cạnh đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung Ương khóa VIII về định hướng phát triển giáo dục đào tạo đã nêu rõ: Giáo viên

là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Với vị trí và tầm quan trọng của người giảng dạy như trên, trong điều kiện xã hội mới, việc nâng cao chất lượng giáo dục là điều kiện sống còn Người giáo viên không chỉ là tấm gương về đạo

Trang 29

đức, lối sống mà còn là tấm gương về sự tự học và học suốt đời Ngoài tiêu chí

về chuyên môn vững, người dạy còn phải nắm được một số những kỹ năng để

có thể đáp ứng yêu cầu trong nền giáo dục mới

Nhóm kỹ năng thiết kế giảng dạy: Những kỹ năng này là phân tích nội dung học tập, thiết kế mục tiêu bài học và môn học, bài kiểm tra, bài tập và công cụ đánh giá, trình bày kế hoạch bài học, thiết kế hay hoạch định các hoạt động và tương tác trên lớp, thiết kế những tài liệu tham khảo, và bổ sung cho sách giáo khoa, thiết kế những phương tiện học tập như đồ chơi, thiết bị thí nghiệm, mô hình và tài liệu trực quan, bảng biểu, sơ đồ…

Nhóm kỹ năng tiến hành giảng dạy: khi thực hiện giảng dạy, giáo viên phải

có những kỹ năng như: kỹ năng quản lý lớp và quản lý học tập của học sinh; kỹ năng giao tiếp cá nhân học sinh với lớp; kỹ năng đánh giá và lực chọn phương pháp dạy học; kỹ năng khai thác và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, chẳng hạn máy tính, mạng internet; kỹ năng thiết kế tài liệu học điện tử; kỹ năng tổ chức các môi trường học tập khác nhau và đa dạng

Nhóm kỹ năng nghiên cứu nắm vững người học: Nghiên cứu học sinh và quá trình học tập nhằm h iểu rõ các em học thế nào, kết quả ra sao để điều chỉnh dạy học Muốn dạy học sinh biết học (có kỹ năng và phương pháp học tập) giáo viên tối thiểu phải nắm vững bản thân hệ thống học tập nào thì mới có thể dạy những

kỹ năng đó cho học sinh của mình Đồng thời, tùy vào từng đối tượng lứa tuổi

mà hình thành cho người học những kỹ năng khác nhau, Bác Hồ đã đưa ra lời khuyên cho người giáo viên: Muốn cho việc dạy học không rời xa quần chúng, điều kiện cơ bản đối với người tahafy giáo là phải sát đối tượng, phải đóng giầy theo chân chứ không thể khoét chân cho vừa giầy

Để xây dựng xã hội học tập, ngoài những tiêu chí đòi hỏi đối với người dạy

và người học thì vai trò của người quản lý giáo dục cũng vô cùng quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở những người làm công tác quản lý giáo dục

Trang 30

phải nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, là nhiệm vụ của Đảng, toàn dân Do đó, các cấp ủy, chính quyền, các ngành, các đoàn thể quần chúng và toàn xã hội phải thật sự quan tâm đến công tác giáo dục, giúp đỡ nhà trường về mọi mặt, phát huy cao độ dân chủ trong nhà trường để tạo nên sự đoàn kết nhất trí giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa gia đình – nhà trường – xã hội cùng cộng đồng trách nhiệm để phát triển giáo dục

Người đã chỉ thị: Phải đi sâu vào việc điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm Chủ trương phải thiết thực, cụ thể, đúng đắn; kết hợp chặt chẽ chủ trương, chính sách của Trung Ương với tình hình thực tế và kinh nghiệm quý báu và phong phú của quần chúng, của cán bộ và của địa phương Phải coi “giáo dục thiếu nhi là một khoa học Mặc dù bận trăm công nghìn việc Người vẫn giành thì giờ để chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào

“dạy tốt, học tốt”, phong trào “kế hoạch nhỏ” nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục

Từ những lời dạy của Bác ngoài việc học tập là làm theo lời dạy và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý giáo dục trong xã hội học tập phải là những người có tâm huyết, được đào tạo về quản lý, có khả năng

áp dụng khoa học công nghệ tỏng quản lý công việc, có kinh nghiệm trong công tác giáo dục, phẩm chất, đạo đức tốt Người quản lý giáo dục cần tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước Phát huy vai trò tham mưu tích cực và hiệu quả cho cấp ủy đảng và chính quyền các cấp trong phát triển giáo dục phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương trong việc xây dựng xã hội học tập

Yếu tố về hoàn thiện cơ sở vật chất là tiêu chí cần thiết để xây dựng xã hội học tập

Trang 31

Ngoài yếu tố con người là yếu tố quyết định nhất đối với việc phát triển giáo dục, thì việc đầu tư về cơ sở vật chất cũng là một yếu tố rất quan tọng góp phần thực hiện thành công việc xây dựng xã hội học tập

Để triển khai một xã hội học tập, cần thiết phải đảm bảo một số tiêu chí sau: Các trường học công lập cũng như các trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm học tập cộng đồng, các Trung tâm dạy nghề… phải được đầu tư một cách đầy đủ về cơ sở vật chất để các cơ sở này có thể tổ chức các khóa học một cách có chất lượng, như hệ thống máy tính, phòng học đủ ánh sáng, âm thanh, máy chiếu, phòng thí nghiệm, thư viện đủ tiêu chuẩn… Ngoài ra, cần từng bước

mở rộng và tiến tới phổ cập internet tới tận mọi vùng của đất nước, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa nhàm tạo điều kiện cho mọi người có thể

tự học với những chương trình học ở trên mạng, giáo dục từ xa…

Trong xã hội học tập cần phát triển các tài liệu học tập đa dạng cho từng loại đối tượng, cho nhiều cấp trình độ phong phú và đa dạng, từ các tài liệu in nhỏ phát tay đến các đĩa CD, các tài liệu E-learning để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người đều có thể học những cái họ cần trong điều kiện họ có thể

1.1.3 Tiêu chí đánh giá xã hội học tập

Bộ tiêu chí được xây dựng trên nguyên tắc: dựa vào mục tiêu xây dựng XHHT và mục tiêu xóa mù chữ giai đoạn 2012-2020; phù hợp thực tiễn để các

bộ, ngành, địa phương có thể đạt được; có tính khái quát chung toàn quốc nhưng cũng tính đến đặc thù các vùng, miền, địa phương; …

Bộ tiêu chí gồm: Bộ tiêu chí công nhận xã/phường/thị trấn đạt danh hiệu

“Cộng đồng học tập” và Bộ Tiêu chí công nhận cơ quan, trường học, doanh nghiệp, tổ chức … đạt danh hiệu “Đơn vị học tập”

Bộ tiêu chí là công cụ đánh giá quá trình xây dựng xã hội học tập tại các địa phương trên cả nước

Trang 32

a Tiêu chí đạt danh hiệu cộng đồng học tập

Bộ tiêu chí công nhận xã/phường/thị trấn đạt danh hiệu “Cộng đồng học tập” bao gồm 3 lĩnh vực, 9 nhóm tiêu chí và 25 tiêu chí cần được đánh giá: (chi tiết tại bảng 1, phần phụ lục)

Lĩnh vực I: Các điều kiện đảm bảo xây dựng XHHT bền vững có 3 nhóm tiêu chí gồm 6 tiêu chí

Lĩnh vực II: Các kết quả đạt được về xây dựng XHHT có 3 nhóm tiêu chí bao gồm 12 tiêu chí

Lĩnh vực III: Tác động hiệu quả của HTSĐ và xây dựng XHHT có nhóm tiêu chí gồm 7 tiêu chí

Mỗi tiêu chí nếu đạt đầy đủ các nội dung theo hướng dẫn sẽ được 4 điểm Không đạt nội dung nào thì không được điểm và điểm số cao nhất của toàn bộ các tiêu chí sẽ là 100 điểm Nếu đạt 80 điểm (70 điểm đối với vùng khó khăn) thì sẽ được công nhận “Đơn vị học tập”

b Bộ tiêu chí đơn đạt đơn vị học tập

Bộ tiêu chí công nhận Cơ quan, tổ chức, trường học, doanh nghiệp … đạt danh hiệu “Đơn vị học tập” bao gồm 3 lĩnh vực, 10 tiêu chí cần được đánh giá,

đó là: (chi tiết tại bảng 2, phần phụ lục)

 Lĩnh vực I: Các điều kiện đảm bảo xây dựng đơn vị học tập gồm 3 tiêu chí

 Lĩnh vực II: Kết quả bồi dưỡng thường xuyên, học tập suốt đời của cán

bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị, gồm 5 tiêu chí

 Lĩnh vực 3: Tác động, hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên, học tập suốt đời của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị, gồm 2 tiêu chí

Mỗi tiêu chí nếu đạt đầy đủ các nội dung sẽ được 10 điểm và điểm số cao nhất của toàn bộ các tiêu chí sẽ là 100 điểm Nếu đạt 80 điểm (70 điểm đối với đơn vị khó khăn) thì sẽ được công nhận “Đơn vị học tập”

Trang 33

Như vậy các tiêu chí đánh giá xã hội học tập này hướng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục Bộ tiêu chí là căn cứ để triển khai các dự án về xây dựng xã hội học tập

1.2 Những luận điểm có giá trị định hướng trong xây dựng xã hội học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2.1 Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

a Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc

Biểu hiện trước hết của truyền thống hiếu học là tinh thần ham học hỏi, thích hiểu biết một cách tự nguyện và bền vững Người hiếu học là người có nhu cầu học tập suốt đời Bởi sự học như chiếc thang không nấc chót và cũng như người

đi trên con thuyền ngược dòng, chỉ có tiến lên phia trước mà không được phép dừng lại vì đứng lại đồng nghĩa với tụt hậu Lênin cũng dạy rằng: Học! Học nữa! Học mãi! Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức hôm nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, kiến thức bùng nổ và tăng lên theo cấp số nhân thì việc rèn luyện kỹ năng học một cách chuyên nghiệp càng là một điều

bắt buộc.Với ý thức: “Học nhi bất yếm, Hối nhân bất quyện” (Học không biết

chán, dạy người không biết mỏi), ông bà ta xưa dù nghèo mấy cũng cố cho con

đi học kiếm dăm ba chữ để làm người Lịch sử dân tộc đã từng biết đến rất nhiều tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài, đức cao đạo trọng như: Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Lê Thánh Tông, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, .và rất nhiều ông đồ Nghệ - những người đã làm nên cốt cách Hồng Lam Cùng không ít dòng họ hiếu học trên khắp mọi miền đất nước

Biểu hiện thứ hai của truyền thống hiếu học là thái độ luôn coi trọng sự học, coi trọng người có học Ở nước ta, tư tưởng coi đọc sách là thanh cao là quan niệm rất phổ biến đối với các nhà Nho Dĩ nhiên nếu thái quá sẽ trở nên tiêu

Trang 34

cực Việc đề cao giá trị của trí tuệ, thái độ trân trọng việc học hành cũng là điều được dân gian hết sức quan tâm:

- Kho vàng không bằng một nang chữ (nang là túi đựng)

- Người không học như ngọc không mài

Từ đó hình thành đạo lý tôn sư trong đao “kính thầy mới được làm thầy”.Thậm chí trong tam cương, người xưa còn đặt người cha tinh thần trước người cha đẻ của mình (Quân - Sư - Phụ) Nhưng nếu Nho giáo coi hiếu học và cầu thị là 2 phẩm chất quan trọng của một người trí thức, coi việc học chủ yếu là học chữ Thánh hiền thì giống với quan niệm của dân gian(học ăn học nói học gói học mở),người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng, sự học là nguồn cội của tất thẩy những thành công dù đó là nghề gì, dù người ấy là ai

Và truyền thống ấy được giữ gìn phát huy để nâng cao trình độ học vấn của dân tộc Dân tộc ta có biết bao nhiêu gương sáng về chuyện học hành , có biết bao nhiêu tấm gương học tập vươn lên từ nghèo khó

Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học Học để thành tài, học để giúp nước Và trong cái sự học ấy, Đức đã trở thành cái gốc trong văn hóa ứng xử người Việt Nam Và tất cả những giá trị đó đã được Hồ Chí Minh tiếp thu nâng lên tầng cao mới Đó là tinh thần tự học mọi lúc mọi nơi

c.Kế thừa truyền thống giáo dục của phương Đông đặc biệt là Nho giáo, phương Tây đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lê nin về giáo dục

Xuất thân trong một gia đình nhà nho, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâm sắc của nền giáo dục từ người cha- cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc Cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng trong kỳ thi Hội năm 1901 nhưng cụ không làm quan cai trị một vùng mà từ quan đi làm thuốc chữa bệnh cho người nghèo và dạy chữ Nho Lớn lên Hồ Chí Minh được cha cho học trường Quốc học Huế và khi trưởng thành thì dạy chữ Hán tại Dục Thanh ở Phan Thiết Cả 2 ngôi trường này đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng giáo dục của Nho giáo

Trang 35

Trong tất cả các tư tưởng của trường phái Nho giáo thì Khổng Tử (551-479)

là người ảnh hưởng nhiều nhất đến tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng Tu Thân của Khổng Tử cho rằng con người cần phải được dạy dỗ và tu thân để trở thành người tốt hơn Quan niệm tính người một phần do thiên phú và một phần do ảnh hưởng của xã hội tạo nên là gốc rễ của quan niệm coi trọng vai trò của giáo dục Tiếp nối mạch tư tưởng trên của Khổng Tử, Hồ Chí Minh cho rằng con người khi sinh ra đều có tính người nhưng tính người ấy với tư cách là bản chất của xã hội không phải do trời phú mà phần lớn do giáo dục tạo nên:

”Ngủ thì ai cũng như lương thiện Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền Hiền , dữ đâu phải là tính sẵn, Phần nhiều do do giáo dục mà nên” [16,tr.383]

Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc dạy và việc học cũng là một phần kế thừa tư tưởng của Khổng Tử Khổng Tử quan niệm: Với người học, trong học tập thì phải học không biết chán, người học phải tạo hứng thú cho mình Đồng thời người học phải học cả người dưới mình, phải học tất cả các tầng lớp người trong xã hội, ai cũng có điều hay điều dở, vậy ta hãy học điều hay của họ Với người dạy ông quan niệm: dạy không biết mệt, để đạt được điều đó người dạy phải thật sự tâm huyết với nghề

Về quan niệm giữa học đạo đức và học văn hóa, Khổng Tử chỉ rõ: học trò phải có hiếu với cha mẹ, ra phải kính nể các anh, nói năng phải thận trọng thành thực, yêu thương mọi người và gần gũi người có lòng nhân Sau khi thực hành đủ các điều trên thì dành sức để học văn hóa Kế thừa điều trên Hồ Chí Minh cho rằng yếu 2 yếu tối tài và đức rất quan trọng

Về phương pháp học Khổng Tử coi trọng việc tự học, tự tìm tòi suy nghĩ

và đào sâu của người học Và Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tinh thần tự

họ, tự rèn luyện

Trang 36

Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng giáo dục của Khổng

Từ thì quan điểm của Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Quản Trọng cũng có ảnh hưởng nhất định đối với Hồ Chí Minh Khi nói về phương pháp giảng dạy của Mặc Tử chú trọng việc kết hợp của học và hành, ông cho là hành cần thiết hơn học Ông nói “Kẻ sỹ tuy có học, mà hành là gốc vậy” [40,tr.26]

Còn quan điểm của Mạnh Tử thì nhấn mạnh đến 5 cách dạy người , chủ

trọng đến cái tài cái đức và phương pháp tự trao dồi: “Có cách tự mưa xuống mà

hoa đi, có cách làm cho thành cái đạo đức, có cách làm cho đạt được cái tài, có cách trả lời cho câu hỏi, có cách học riêng mà tự trao dồi” [40,tr.26]

Ngoài ra quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí minh về giáo dục còn có nhiều ảnh hưởng của văn hóa phương Tây

Ngay từ khi còn học ở trường tiểu học Pháp – Việt và trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành đã từng biết đến khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp cùng với những thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây

Trong gần 10 năm bôn ba (1911 – 1920), khảo sát, tìm hiểu ở những nước tư bản phát triển có tính sáng tạo lớn như Mỹ, Anh, Pháp và các thuộc địa của chúng, Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, những tư tưởng tiến bộ về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của con người Người khâm phục ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng vĩ đại của Oa-Sinh-Tơn, Giép-Phơ-Sơn, Lin-Côn Nhưng đồng thời Nguyễn Ái Quốc cũng phát hiện những nghịch lý, những bất bình đẳng, sự nghèo đói của nhân dân lao động đằng sau những lời hoa mĩ của giai cấp tư sản Chính vì vậy ngay từ năm 1919, nhân danh những người Việt Nam yêu nước Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Véc Xây bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do cho dân tộc Việt Nam Trong đó có một điều đòi

quyền tự do học tập và mở mang trường học (Điều 6)

Trang 37

Trong những năm hoạt động ở Pari - thủ đô nước Pháp nơi Nguyễn Ái Quốc sống và hoạt động dài ngày nhất đã để lại nhiều ấn tượng và bài học sâu sắc trong quá trình tìm đường cứu nước Người càng thấm thía vai trò quan trọng và

sự cần thiết của giáo dục, giáo dục trên mọi lĩnh vực, được giáo dục chính là mỗi người dân tự trang bị vũ khí để cứu lấy chính mình

Và phải khẳng định rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng quan trọng nhất,

cơ bản nhất trong việc hình thành tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh Bởi vì:

Nếu chỉ đứng vững trên tinh thần của chủ nghĩa yêu nước thì chưa đủ để hình thành nên nội dung của nền giáo dục tiên tiến, vì bao giờ cũng vậy, nền giáo dục trở thành tiên tiến khi nó kết hợp được với những trào lưu, những xu hướng giáo dục tiên tiến của thời đại Truyền thống giáo dục tốt đẹp của Việt Nam dù có in đậm đến đâu trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng chỉ là một bộ phận mang tính bản sắc dân tộc trong hệ thống quan điểm về giáo dục của Người Chủ nghĩa Mác – Lênin đã đem đến cho nhân loại một thời đại mới hơn hẳn các thời đại đã có trước đây

Điều 3, Luật giáo dục nước ta khẳng định: “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” [41; tr.8] Tư tưởng

“phát triển con người toàn diện” của Mác và Ăngghen tronmg “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” (1848) đã trở thành tư tưởng chỉ đạo trong sự nghiệp giáo dục hiện nay

“Tuyên ngôn Đảng cộng sản” là một tác phẩm bất hủ trong di sản văn hóa nhân loại, giữ một vị trí trang trọng trong tủ sách “tinh hoa nhân loại” của nhiều quốc gia trên thế giới, đó là cương lĩnh của những người cộng sản phân tính lịch

sử của loài người theo quan điểm duy vật biện chứng, vạch rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân – đại diện cho toàn bộ phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong nhằm mục tiêu giải phóng nhân loại dân tộc và

Trang 38

con người khỏi mọi áp bức bóc lột tiến đến xây dựng xã hội thành “một liên hợp, trong đó phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mỗi người” [42; tr.628]

Những tư tưởng về giáo dục trên đây của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo vào Việt Nam Tư tưởng ấy như kim chỉ nam, phương pháp luận cho Hồ Chí Minh hoạch định chiến lược phát triển giáo dục của nước nhà Nếu không có một phương pháp luận đúng đắn thì cũng không thể xây dựng được một nền giáo dục vững mạnh, nếu không xã định được mục tiêu và biện pháp khả thi thì không tạo ra được động lực mạnh mẽ, không tìm ra được những điều kiện vật chất và tinh thần đầy

đủ thì nền giáo dục không thể phát triển được

Chủ nghĩa Mác – Lênin mà Hồ Chí Minh tiếp thu không phải theo kiểu “tầm chương trích cú”, mà là ở cái thần, cái lập trường, cái phương pháp biện chứng, bản chất cách mạng khoa học, thế giới quan và nhân sinh quan tiến bộ - khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin được Hồ Chí Minh thực hiện nhất quán ngay từ buổi đầu của nền giáo dục Việt Nam

1.2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

a Giáo dục toàn dân – nâng cao dân trí

Dân tộc Việt Nam có truyền thống coi trọng nhân dân Kế tục truyền thống

từ các vua quan hiền tài xưa “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt

trước lo trừ bạo”, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý

bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết nhân dân Chính vì vậy, giáo dục phải thật sự nhằm vào phụng sự nhân dân” [22, tr.276] Người đề ra tiêu chí : Giáo dục phải trước hết nâng cao trình độ nhân

dân, làm cho mọi người ai cũng biết chữ Người đề ra nhiệm vụ phải thanh toán nạn mù chữ ngay tại cuộc họp thứ nhất của hội đồng chính phủ ngày 3/9/1945

Trang 39

Tiếp đến 4/10/1945 Người kêu gọi toàn dân chống nạn thất học và ký sắc lệnh thành lập nha Binh dân học vụ để trông nom việc học của dân chúng Chính nhờ những biện pháp như vậy mà từ chỗ hơn 95% dân số mù chữ, dân tộc ta đã vươn lên thành dân tộc có văn hóa, khoa học

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục toàn dân, nâng cao dân trí là một trong những biểu hiện nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh Ngày xưa Khổng Tử cho rằng

” đàn bà, phụ nữ không cần phải học hành, chỗ của họ là trong xó bếp hay trong phòng the” Quan niệm đó ăn sâu vào trong đời sống xã hội dưới thời phong kiến

Hồ Chí Minh là người cải tạo quan điểm đó, Người không chỉ giải phóng phụ nữ mà còn khẳng định họ là một nửa của xã hội, đáng kính trọng, có vai trò to lớn trong xã hội, không chỉ nữ giới mà toàn dân đều được khuyến khích đi học

b Giáo dục nhằm đào tạo con người mới, giáo dục gắn liền với bảo vệ Tổ quốc và nhân dân

Hồ Chí Minh nêu rõ: Học để làm việc, làm người, làm cán bộ , học để phụng

sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, tổ quốc và nhân loại Người thường xuyên căn dặn “Phải xây dựng tư tưởng dạy và học để phụng sự Tổ Quốc, Phụng sự nhân dân”, “dạy và học theo nhu cầu của nhân dân” [19,tr.684]

Nói về nhiệm vụ của nhà trường, Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ chung của nhà trường trong chế độ mới đồng thời nêu những nhiệm vụ cụ thể cho nhà trường trong từng cấp học, bậc học, từng loại trường đào tạo Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân , nhằm mục đích đào tạo những công dân và những cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà

Có thể nói cái cốt lõi, tư tưởng bao trùm nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh

về giáo dục là tình yêu thương con người, niềm tin sâu sắc vào bản chất tốt đẹp , vào bản tính lương thiện của con người, vì mọi người và cho mọi người

c Nguyên lý giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh là giáo dục toàn diện

 Giáo dục chính trị - tư tưởng, đạo đức

Trang 40

Giáo dục nước ta quán triệt tư tưởng của Người “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”, chúng ta lấy đó làm mục tiêu, nội dung

và phương pháp giáo dục Người còn nhắc nhở : “Giáo dục nhằm đào tạo ra những con người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta”

Hồ Chí Minh luôn căn dặn chúng ta phải giáo dục đạo đức cách mạng , giác ngộ lý tưởng XHCN cho thế hệ trẻ hôm nay Ngoài lòng trung thành với Tổ Quốc và nhân dân thì còn phải đặc biệt chú ý giáo dục ý chí quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Mục tiêu của đất nước ta giai đoạn hiện nay không chỉ là độc lập , tự do mà còn là hạnh phúc của cả dân tộc và mỗi con người Người từng nói “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự

do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [56,tr.56] Do đó hạnh phúc tự do là mục tiêu ta phải phấn đấu Để cho thế hệ trẻ có động lực, có ý thức vươn lên cần phải giúp họ hiểu được giá trị của truyền thống Đó là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập tự do quyết tâm phấn đấu vì mục tiêu : Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Muốn vậy cần phải khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, ý chí vươn lên

Theo Người nội dung giáo dục phải chứa đựng tinh thần dân tộc, tính khoa học và tính nhân dân, phải làm cho Người hiếu học hiểu được những truyền thống quý báu của dân tộc như tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết, tương thân, tương ái, anh hùng trong chống giặc ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất Để đạt được mục tiêu đó Hồ Chí Minh chú ý giáo dục toàn diện Trong việc giáo dục Người chỉ rõ “Việc giáo dục gồm có: thể dục, đức dục, trí dục, mỹ dục” [20,tr.75] Đây là những nội dung giáo dục hết sức cơ bản gắn bó chặt chẽ với nền tảng sự phát triển con người Việt Nam mới

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục toàn diện, Người luôn chú ý phát triển cả đức lẫn tài Trong đó đức là nển tảng cho sự phát triển nhân cách của con người mới.Vì vậy, giáo dục cùng với việc truyển bá tri thức khoa học,

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] (1972), Hồ Chí Minh bàn về công tác giáo dục, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1972), Hồ Chí Minh bàn về công tác giáo dục
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1972
[2] Đặng Quốc Bảo (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2008
[3] Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2005), Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ cử nhân chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2005
[4] Trần Văn Giàu (1997), Sự hình thành cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1997), Sự hình thành cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 1997
[5] Phạm Minh Hạc (1990)Tư tưởng giáo dục của chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1990)Tư tưởng giáo dục của chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
[6] Song Thành (2005), Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2005), Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc
Tác giả: Song Thành
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2005
[7] Nguyễn Văn Sáu (2005), Nghiên cứu giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2005), Nghiên cứu giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Sáu
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2005
[8] Bùi Đình Phong (2005) Trí tuệ và bản lĩnh Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ và bản lĩnh Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[9] Đinh Xuân Lâm - Bùi Đinh Phong, Về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Lao Động
[10] Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Hữu Châu, Đào Thái Lai (2005)Tiến tới một xã hội học tập ở Việt Nam Nguồn: H.: Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một xã hội học tập ở Việt Nam
[11] Đặng Thành Hƣng (1995), Các lý thuyết và mô hình giáo dục hướng vào người học ở phương Tây, Nhà Xuất bản: Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết và mô hình giáo dục hướng vào người học ở phương Tây
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Nhà XB: Nhà Xuất bản: Viện Khoa học Giáo dục
Năm: 1995
[12] Lê Khắc Đóa, Hà Dũng, Vũ Kim Tuyền (1985), Tổ chức kế hoạch hóa công tác dạy nghề và đào tạo công nhân, Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức kế hoạch hóa công tác dạy nghề và đào tạo công nhân
Tác giả: Lê Khắc Đóa, Hà Dũng, Vũ Kim Tuyền
Nhà XB: Nhà Xuất bản Giáo dục
Năm: 1985
[13] Phạm Minh Hạc (2002) Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI Nhà Xuất bản: H., Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Nhà XB: Nhà Xuất bản: H.
[14] Lê Vũ Khánh (1990), Xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp khu vực Châu Á & Thái Bình Dương, Nhà Xuất bản: Viện Nghiên cứu Đại học & GDCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp khu vực Châu Á "& Thái Bình Dương
Tác giả: Lê Vũ Khánh
Nhà XB: Nhà Xuất bản: Viện Nghiên cứu Đại học & GDCN
Năm: 1990
[28] Khoa học - Giáo dục đi tìm diện mạo mới, Nhà Xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học - Giáo dục đi tìm diện mạo mới
Nhà XB: Nhà Xuất bản Trẻ
[29] Phạm Nhƣ Ất (2003), Một số vấn đề lý luận về xây dựng xã hội học tập, Tạp chí phát triển giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận về xây dựng xã hội học tập
Tác giả: Phạm Nhƣ Ất
Năm: 2003
[30] Nguyễn Khánh Bật (2001,)Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo , Tạp chí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2001,)Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo
[31] Nguyễn Minh Đường (2004), Xây dựng xã hội học tập yêu cầu tất yếu của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Tạp chí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2004), Xây dựng xã hội học tập yêu cầu tất yếu của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 2004
[34] Để xây dựng một xã hội học tập. Năm 2005. Nguồn: http://www.chungta.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để xây dựng một xã hội học tập
[35] Trần Ngọc Vương (2006), Kiến tạo một xã hội học tập ở Việt Nam – Những hạn chế từ lịch sử; Tạp chí Tia Sáng, Nguồn:http://www.chungta.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến tạo một xã hội học tập ở Việt Nam" – "Những hạn chế từ lịch sử
Tác giả: Trần Ngọc Vương
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 : Tiêu chí đánh giá Cộng đồng học tập ( Nguồn: Hội Khuyến học Việt Nam) và sức - Xây dựng xã hội học tập trên cơ sở tiếp thu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá Cộng đồng học tập ( Nguồn: Hội Khuyến học Việt Nam) và sức (Trang 92)
Bảng 1.2 : Tiêu chí đánh giá Đơn vị học tập ( Nguồn: Hội Khuyến học Việt Nam) Lĩnh vực III - Xây dựng xã hội học tập trên cơ sở tiếp thu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá Đơn vị học tập ( Nguồn: Hội Khuyến học Việt Nam) Lĩnh vực III (Trang 97)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w