1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh vào hoạt động ngoại giao văn hoá trong giai đoạn hiện nay

94 518 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 768,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGVH Hồ Chí Minh, là sản phẩm của sự kết hợp có chọn lọc giữa chủ nghĩa yêu nước, VH dân tộc và truyền thống NGVN , với tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc phương Đông và phương

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

NGUYỄN THI ̣ THÚY

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH VÀO HOA ̣T ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh ho ̣c

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THI ̣ THÚY

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH NGOẠI GIAO

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đặng Xuân Kháng Các số liệu, tài liệu nêu ra và trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn không tr ùng với các

công trình khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Ngoại giao chính trị NGCT

Ngoại giao nhà nước NGNN

Bô ̣ Văn hóa, Thể thao và Du li ̣ch BVHTTDL

Cô ̣ng đồng người Viê ̣t Nam ở nước ngoài CĐNVNONN

Tư tưởng ngoa ̣i giao TTNG

Ngoại giao Việt Nam NGVN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ……… 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ……… 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài ………….……… 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ……… 7

6 Đóng góp của luận văn ………… ……… 7

7 Kết cấu của luận văn ……… ……… 8

Chương 1: NGOẠI GIAO VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH 9 1.1 Một số khái niệm ……… 9

1.1.1 Văn hoá ……… 9

1.1.2 Ngoại giao … ……… 12

1.1.3 Ngoại giao văn hóa ……… 13

1.2 Nội hàm ngoại giao văn hóa ……… 15

1.2.1 Mục tiêu ngoại giao văn hóa ……… 15

1.2.2 Nhiệm vụ của ngoại giao văn hóa ……… 16

1.2.3 Nội dung của ngoại giao văn hóa ……… 16

1.2.4 Thông điệp ngoại giao văn hóa ……… 18

1.3 Ngoại giao văn hóa Hồ Chí Minh – Phong ca ́ ch ngoa ̣i giao đă ̣c

sắc

19

1.3.1 Hòa bình, hữu nghi ̣ với các dân tô ̣c 19 1.3.2 Tư tưở ng, phong cách ngoa ̣i giao Hồ Chí Minh thấm đượm tính

nhân văn, truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại

23

1.3.3 Phong cách ngoa ̣i giao Hồ Chí Minh - cách ứng xử mềm dẻo,

linh hoạt

30

1.3.4 Vấn đề đào tạo cán bộ ngoại giao theo tư tưở ng Hồ Chí Minh 34

Trang 6

Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH NGOẠI

GIAO HỒ CHÍ MINH VÀO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN

HÓA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

42

2.2.1 Một số thành tựu ……… 39 2.2.2 Những hạn chế ……… 47

2.2 Sư ̣ vâ ̣n du ̣ng của Đảng ta về tư tưởng , phong cách ngoa ̣i giao

Hồ Chí Minh vào hoa ̣t đô ̣ng Ngoa ̣i giao văn hóa

2.2.3 Tư tưởng hòa bình, hữu nghị của Hồ Chí Minh trong thời đại

toàn cầu hóa ………

60

2.2.4 Xử lý khôn khéo linh hoa ̣t với tình hình quốc tế trong giai đoa ̣n

hiê ̣n nay ………

61

2.2.5 Phát triển ngoại giao văn hóa trên cơ sở tăng cường đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ ngoại giao văn hóa (Tùy viên văn hóa) ………

63

2.2.6 Thúc đẩy, quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua cộng đồng

người Việt Nam ở nước ngoài ………

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc - nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại, Người đã đưa dân tộc ta đến một thời đại vẻ vang nhất Trải qua những chặng đường đấu tranh gian nan, đầy thử thách, tên gọi Việt Nam - Hồ Chí Minh đã thành biểu tượng của lương tri nhân loại Sự nghiệp Hồ Chí Minh là sự nghiệp của một nhà văn hóa lỗi lạc, người anh hùng giải phóng dân tộc kiệt xuất và một nhà cách mạng mang tầm vóc quốc tế Chặng đường lịch sử của dân tộc ta hơn một thế kỷ qua luôn mang đậm dấu ấn của Người Thân thế,

sự nghiệp, tư tưởng, tác phong của Người mãi là tấm gương sáng để chúng ta hôm nay và mai sau học tập và noi theo

Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người ta liên tưởng đến một nhà cách mạng chuyên nghiệp với hệ thống tư tưởng đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau Và một điều đặc biệt dễ nhận thấy, trong các lĩnh vực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia, đều để lại dấu ấn hết sức sâu sắc, thậm chí có lúc còn vượt xa hơn cả những người được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực đó, nhất là trong trong lĩnh vực ngoại giao Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà NG kiệt xuất của Việt Nam trong thế kỷ XX, Người đã sáng lập nền NGVN hiện đại NGVH Hồ Chí Minh, là sản phẩm của sự kết hợp có chọn lọc giữa chủ nghĩa yêu nước, VH dân tộc và truyền thống NGVN , với tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc phương Đông và phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới đã thực sự trở thành Người dẫn đường cho hoạt động đối ngoại của Việt Nam nói chung từ trước đến nay và mãi mãi về sau, không những thế, nó mang lại bản sắc riêng cho nền NGVN

Trong xu thế hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng và thời đại toàn cầu hóa hiện nay, cùng với NGCT và NGKT, NGVH được xác định là một

trong ba trụ cột của NG hiện đại NGVH được ví như “quyền lực mềm” vừa có

khả năng lan tỏa bền bỉ, vừa có tác dụng thẩm thấu lâu dài Đại hội XI của

Trang 8

Đảng đã chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà

nước và ngoại giao nhân dân, giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế

và ngoại giao văn hóa” [8, tr.56]

Thực tiễn cho thấy, NGVH đã trở thành nhịp cầu nối liền giữa các quốc gia và có vai trò to lớn trong việc hòa giải dân tộc, đẩy lùi các cuộc xung đột, chiến tranh sắc tộc và tôn giáo; đồng thời thúc đẩy các nước tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau, cùng hợp tác và phát triển

Nhận thức sâu sắc về điều đó, vào những năm gần đây, NG Việt Nam ngày càng chủ động hơn trong việc triển khai thực hiện các hoạt động NGVH Những thành tựu của công cuộc đổi mới, môi trường chính trị ổn định, đất nước hòa bình, con người thân thiện, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, nhiều di sản văn hóa dân tộc, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc… là những hình ảnh mà chúng ta thường xuyên thông tin, tuyên truyền, quảng bá nên đã thu hút được

sự quan tâm của nhiều nước trong khu vực và thế giới

Muốn Việt Nam ngày càng trở thành “điểm nhấn” trong các quan hệ, diễn đàn quốc tế và trở thành niềm tin, đối tác tin cậy của bạn bè các nước trên thế giới, chúng ta phải ra sức tận dụng và tranh thủ thời cơ để tăng cường, thúc đẩy các hoạt động ngoại giao văn hóa Chúng ta phải khơi dậy tâm hồn, tình cảm, làm cho mỗi người dân Việt Nam luôn mang trong mình khát vọng mãnh liệt tình yêu Tổ quốc và lòng tự hào sâu sắc về lịch sử hào hùng của dân tộc, từ đó tích cực tham gia tuyên truyền, giới thiệu với bạn bè quốc tế về “hình ảnh Việt Nam” Hình ảnh đó chính là những giá trị VH đã được kết tụ hàng ngàn năm; là truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước kiên cường, bất khuất; là con người yêu lao động, giàu lòng nhân ái và hiếu khách; là phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, thơ mộng; là nền chính trị ổn định và môi trường hòa bình; là đất nước sinh ra Nguyễn Trãi và Nguyễn Du - hai Danh nhân VH thế giới và Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà VH kiệt xuất của Việt Nam Khi khoảng cách về sức mạnh chính trị và kinh tế trên thế giới ngày càng thu hẹp bởi toàn cầu hóa và hội nhập lan rộng, NGVH trở thành xu hướng NG

Trang 9

được ưa chuộng đối với các quốc gia NGVH là chìa khoá mở cánh cửa quan hệ, là nhân tố đảm bảo các mục tiêu đối ngoại quốc gia hiệu quả nhất

Do đó, hiểu biết và thực hiện có hiệu quả NGVH hiện đang là một yêu cầu cấp thiết của Việt Nam nói chung và ngành NG Việt Nam nói riêng Muốn vậy, cần phải có nhiều hơn nữa những nghiên cứu cụ thể, kĩ lưỡng về vấn đề NGVH, về những mặt mạnh yếu của nền NGVH còn đang khá non trẻ của Việt Nam

Trên cơ sở những suy nghĩ trên, người viết chọn đề tài “Vận dụng tư

tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh vào hoạt động ngoại giao văn hóa trong giai đoạn hiện nay” làm nội dung cho luận văn thạc sỹ của mình, với hy

vọng có thể góp phần vào việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về NGVH nói riêng, góp phần vào việc củng cố và phát triển hơn nữa NGVH – một trong “ba chân kiềng” của NG nước nhà

2 Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới

NGVH là một khái niệm tương đối mới đối với nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, từ lâu nay mỗi quốc gia đều đã thực thi những hoạt động mang tính chất NGVH dưới nhiều hình thức, nhiều nội dung phong phú trong chính sách đối ngoại của mình NGVH cũng đã là chủ đề nghiên cứu của nhiều học giả, đến từ các quốc gia khác nhau như những bài viết liên quan đến NGVH do Trung tâm văn hóa và Nghệ thuật1, Viện ngoại giao văn hóa2

hay cuốn

“NGVH” của Lý Trí (Trung Quốc)… Tuy vây, đến nay có thể nói, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu được coi là có tính chất kiên định, học thuyết cho vấn đề NGVH trên thế giới

Tại Việt Nam

Khái niệm VH từ lâu đã xuất hiện trong những nghiên cứu của các học giả Việt Nam VH đã là một yếu tố không thể thiếu của NG trong bất kì thời kì

nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chính sách văn hóa

2

Một tổ chức phi chính phủ đặt trụ sở tại Berlin, chuyên nghiên cứu và quảng bá các vấn đề trong lĩnh vực Ngoại giao văn hóa

Trang 10

nào của đất nước, đặc biệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động ngoại giao người chưa từng nói đến khái niệm “NGVH” nhưng trong cách ứng xử của Người đối với bạn bè quốc tế chúng ta thấy rõ hoạt động “NGVH” của Người luôn được đặt ở một vị trí quan trọng Khái niệm cụ thể về NGVH thì chỉ mới bắt đầu được nhắc đến từ khi Việt Nam bắt đầu thời kỳ đổi mới

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2007: “Văn hóa đối ngoại trong

tình hình mới: Thách thức và giải pháp” của vụ VH đối ngoại UNESCO – Bộ

ngoại giao

Hội thảo quốc gia “Ngoại giao văn hóa vì một bản sắc Việt Nam trên

trường quốc tế” (15-16/10/2008)

Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2008: “Hoạt động ngoại giao văn hóa

trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 21” của Vụ VH đối ngoại và UNESCO – Bộ

Ngoại giao do ông Phạm Sanh Châu làm chủ nhiệm đề tài

Ngày 23/3, Bộ Ngoại giao đã tổ chức cuộc tọa đàm “Ngoại giao văn

hóa: Kinh nghiệm và thực tiễn Việt Nam” tại Vĩnh Phúc

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau về tư tưởng, phong cách NG Hồ Chí Minh, cũng như Hồ Chí Minh về VH nói riêng

Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX-02, Nghiên cứu

tư tưởng Hồ Chí Minh do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm và Viện Mác

- Lênin - Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì Chương trình này gồm 13 đề tài cấp nhà nước, công trình cung cấp cho chúng ta một bức tranh tổng thể về quan điểm, lý luận chính trị toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin

vào điều kiện cụ thể của nước ta Trong đó có đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về

văn hóa, văn nghệ - mấy vần đề phương pháp luận; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh trên bình diện văn hóa nghệ thuật” cung cấp tổng quan cách nhìn về văn hóa trong tư tưởng Hồ

Chí Minh

Trang 11

PGS TS Đỗ Huy: Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản chính

trị quốc gia, Hà Nội 1997 đã phân tích khá đầy đủ về phương pháp nghiên cứu

tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh và tư tưởng của Hồ Chí Minh về bản chất văn hóa; những định hướng của Người về một nền VH mới Đặc biệt, tác giả còn nghiên cứu về tư tưởng của Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực khác như VH đạo đức, VH chính trị, VH pháp luật và VH nghệ thuật và sự vận dụng của Đảng ta

để xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà BSVH dân tộc

Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh (GS Đinh

Xuân Lâm – PGS TS Bùi Đình Phong Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2007) đã trình bày một cách hệ thống về tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là hiểu thêm tư tưởng của Người về VH và triết lý phát triển xã hội và di sản Hồ Chí Minh để lại về giá trị của VH

Tiến sĩ Đinh Xuân Lý (Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận

dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội

2005) cũng đã khái quát bối cảnh ra đời, quá trình phát triển, nguồn gốc, nội dung cơ bản tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người trong thời kỳ đổi mới

Các luận văn thạc sỹ: “Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh với việc giáo dục

học viên Trường Chính trị tỉnh Hà Nam”, Học viện chính trị quộc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội 2009; Nguyễn Thu Hà “Vai trò của Ngoại giao văn hóa trong

thời kỳ đổi mới” – Học viện ngoại giao 2010; Nguyễn Lê Phương “Vai trò của báo mạng đối với ngoại giao văn hóa: Trường hợp Việt Nam” – Học viện

ngoại giao 2012… đã đề cập ở những góc độ khác nhau về tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, cũng như ngoại giao văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Kể từ đó đến nay, trong các tài liệu liên quan tới Hồ Chí Minh về NG hay về VH ít nhiều đã nhắc đến các hoạt động NGVH của Hồ Chí Minh những vẫn ở mức độ nghiên cứu chung chung về VH và NG Chưa có nhiều tài liệu đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về NGVH nói riêng NGVH cũng được

Trang 12

đề cập ít nhiều trên các bài phỏng vấn… của một số nhà lãnh đạo ngành NG ông Nguyễn Dy Niên, ông Nguyễn Sanh Châu…

Tuy nhiên, các tài liệu Hội thảo, sách và đề tài nói trên mới chỉ giới thiệu một cách tổng quan về NGVH, hay đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực NG, VH của

Hồ Chí Minh chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về NGVH Chính vì vậy, người viết mong muốn đi sâu phân tích nghiên cứu về

tư tưởng, phong cách NG Hồ Chí Minh và vận dụng vào hoạt động NGVH trong giai đoạn hiện nay, góp phần bổ sung thêm tài liệu nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh và NGVH

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài cần tập trung làm rõ một số nội dung chủ yếu sau:

- Một số khái niệm cơ bản về VH, NG, NGVH, sau đó đi sâu vào tìm hiểu nội hàm của NGVH

- Góp phần làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưở ng, phong cách NG

Hồ Chí Minh

- Phân tích những thành tựu và hạn chế trong hoạt động NGVH Việt Nam trong thời gian qua Từ đó đưa ra một số biểu hiện chính sách NGVH Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

- Trên cơ sở những nghiên cứu trên, luận văn đưa ra một số nhận xét, đánh giá về tình hình NGVH Việt Nam, nêu lên những triển vọng cho công tác NGVH trong thời gian tới; đồng thời khuyến nghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh NGVH Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng, phong cách

ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tư tưởng, phong cách NG Hồ Chí Minh

và sự vận dụng của Đảng ta vào hoạt động NGVH trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận: Dựa trên những quan điểm, nguyên lý cơ bản

của chủ nghĩa Mác – lênin về cách mạng, đấu tranh cách mạng, liên minh thỏa hiệp Đồng thời dựa vào những quan điểm của Hồ Chí Minh về VH, về NG; những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những quan điểm của các nhà khoa học trong nước và ngoài nước về NGVH

Phương pháp nghiên cứu: Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –

Lênin, đặc biệt là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm rõ vấn đề

Tuân thủ các nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội – nhân văn, chú trọng các phương pháp lịch sử và logic, phân tích – tổng hợp, phương pháp hệ thống, so sánh, tổng kết thực tiễn… để làm rõ những nội dung chủ yếu của đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần tổng hợp, hiện thực và luận giải nội dung cơ bản, những giá trị đặc sắc trong quan điểm của Hồ Chí Minh về NG, VH và sự vận dụng của Đảng ta trong lĩnh vực NGVH trong giai đoạn hiện nay Từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần vận dụng tư tưởng của Người vào việc xây dựng đường lối NGVH của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kì đổi mới, hội nhập khu vực và quốc tế

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhà khoa học đi trước luận văn làm rõ hơn quan điểm của Hồ Chí Minh về NGVH và đặc biệt Đảng ta vận dụng vào hoạt động NGVH trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và tuyên truyền về tư tưởng

Hồ Chí Minh và làm tư liệu cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về NVH nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 2 chương, 6 tiết

Trang 15

Chương1: TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

khác nhau về VH Năm 2000, trong công trình nghiên cứu “Một cách tiếp cận

văn hoá”, phó giáo sư Phan Ngọc cho biết: “Một nhà dân tộc học Mỹ đã dẫn

ngót 400 định nghĩa về VH khác nhau” [32, tr.22]

Trong Tiếng Việt, VH là một danh từ có nội dung hàm ngữ khá phong phú và phức tạp Người ta có thể hiểu VH như là một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu VH như là lối sống, thái độ ứng xử, lại có thể hiểu VH như là trình độ VH, học vấn mà mỗi công nhân viên chức ghi trong lý lịch của mình

Ở Phương Tây, thuật ngữ VH xuất hiện sớm trong đời sống ngôn ngữ Nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt cho rằng: VH là một từ có từ căn gốc

La tinh: Colere, sau đó trở thành Culture nghĩa là cày cấy, gieo trồng Từ nét nghĩa này về sau dẫn đến nghĩa rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần, trí tuệ Ngay từ thế kỷ thứ I trước công nguyên, Cicesron - nhà hùng biện thời

La Mã từng có câu nổi tiếng: Triết học là VH ( sự vun trồng) tinh thần (Filosfia animiest)

Năm 1970, cách hiểu phổ biến là coi VH bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động

Năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách VH vì sự phát

triển đã thông qua tuyên bố ngày 6 tháng 8, còn gọi là Tuyên bố Mêhicô về

chính sách VH, Hội nghị đã thống nhất định nghĩa về VH như sau:

Trang 16

“Trong ý nghĩa rộng nhất, VH hôm nay có thể coi là những tổng thể nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một

xã hội hay của một nhóm người trong xã hội VH bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng VH đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính VH làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý

Chính nhờ VH mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn

Chính nhờ VH mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình, là một phương án chưa hoàn thành được đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [40, tr.23-24]

Như vậy, theo quan niệm của UNESCO, VH không phải là một lĩnh vực riêng biệt mà là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra VH là chìa khoá của sự phát triển, là một tổng thể rộng lớn thể hiện trên nhiều hoạt động, trong đó vấn đề con người được đặt lên hàng đầu

Nhằm đưa ra một định nghĩa mới về VH, tại lễ phát động Thập kỉ phát

triển văn hóa 21/11/1998, Tổng Giám đốc UNESCO, Mayor nói: “VH phản

ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng bao thể kỉ VH đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà nó dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [46,tr.5] Có thể xem đây là một định nghĩa tổng hợp được các yếu tố cấu thành nội hàm khái niệm VH theo cách hiểu ngày nay

Quan điểm này phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về

VH, Người đã phát biểu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng

Trang 17

ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức VH VH là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15,tr.431]

Nếu trước đây VH chỉ được xem như một yếu tố phụ thuộc một cách tiêu cực vào kinh tế chính trị thì ngày nay với một quan niệm mới, VH đã trở thành động lực và mục tiêu của phát triển kinh tế, chính trị, xã hội nói chung VH đã có mặt khắp ở mọi nơi, thâm nhập mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và thực sự

VH đã trở thành một nhu cầu cấp thiết gắn liền với cuộc sống mỗi người, mỗi dân tộc và cả loài người.Trong quan niệm của Hồ Chí Minh toát lên một cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hóa, về phạm vi rộng lớn của văn hóa, về mặt biểu hiện của VH trong lối sống và toàn bộ sinh hoạt của con người Quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ lớn lao trong sự nghiệp VH của dân tộc ta ngày nay Nó phải được coi như ánh sáng soi đường cho chúng ta khi tìm hiểu một cách toàn diện về vấn đề của NGVH

Nhận thức rõ tầm quan trọng của VH đối với sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp phát triển của xã hội, trong suốt chặng đường dài của sự nghiệp giải phóng dân tộc từ 1930 đến nay, hầu như trong các văn bản, nghị quyết của Đảng ta đều đề cập đến VH và những biện pháp cụ thể nhằm tiến hành cách mạng trên lĩnh vực VH Đại hội VII (1991) của Đảng đã nêu lên sáu đặc trưng về xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng, trong đó nhấn mạnh đến tính chất của nền VH “tiên tiến, đậm đà bản sắc VH dân tộc” Tính chất của nền VH tiếp tục được làm rõ hơn trong các nghị quyết Hội nghị tiếp theo

Từ các quan điểm về VH ở trên, chúng ta có thể hiểu VH như sau: VH bao toàn bộ hoạt động sáng tạo của con người sản sinh ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần (không có VH nằm ngoài con người) Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau Nói đến VH là phải nói đến dân tộc, một dân tộc tồn tại nhờ có VH ,

Trang 18

mất VH tức là mất dân tộc Và VH mang tính nhân loại, vì VH là sáng tạo của con người mà nhu cầu cơ bản của con người là giống nhau, chính vì thế mà chúng ta có thể xem phim Mỹ, đọc thơ Puskin, đi du lịch… Vì vậy đây là cơ sở

để giao lưu giữa các dân tộc Làm cho phong phú đa dạng nền văn hóa của các dân tộc, tạo điều kiện cho VH dân tộc phát huy ra bên ngoài

1.1.2 Ngoại giao

Các tác giả từ điển NG của Liên Xô trước đây đã đưa ra khái niệm đầy

đủ, toàn diện và khoa học: “NG là công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, là tổng thể những biện pháp phi quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu nhiệm vụ; là hoạt động chính thức của người đứng đầu Nhà nước, chính phủ, Bộ trưởng BNG, các cơ quan đại diện NG ở nước ngoài, các đoàn đại biểu tại các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính sách đối ngoại của quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích quốc gia, pháp nhân và công dân mình ở nước ngoài Đồng thời, ngoại giao là nghệ thuật đàm phán nhằm ngăn chặn, hoặc dàn xếp những xung đột quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và những giải pháp có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng củng cố hợp tác quốc tế” [38,tr.327]

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wkipedia: NG là một nghệ thuật tiến hành trong việc đàm phán, dàn xếp, thương lượng giữa những người đại diện cho một nhóm hay một quốc gia

Theo từ điển tiếng Việt do Nguyễn Văn Đàm biên soạn (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2000), “NG có nghĩa là công việc giao thiệp giữa các quốc gia nước ngoài và giải quyết các vấn đề quốc tế” Theo Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ phát hành thì “ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và để góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế chung” [41,tr.19-20]

Như vậy, NG có thể được hiểu ở nghĩa hẹp là quan hệ giao tiếp, trao đổi giữa một quốc gia với quốc gia khác hay quan hệ giao tiếp, trao đổi giữa nhân

Trang 19

dân một quốc gia với nhân dân của quốc gia khác Ở nghĩa rộng thì NG là sự giao tiếp của một chủ thể với một chủ thể khác Quan hệ NG của một quốc gia có thể được thể hiện ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh như NGCT , NGKT, NGVH …

1.1.3 Ngoại giao văn hóa

Giáo sư Harvey B Feigenbaul thuộc Đại hoc G Washington cho rằng, đối với các quốc gia, họ thường sử dụng NGVH nhằm cải thiện quan hệ quốc tế và đạt được những thỏa thuận trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, di trú và an ninh VH có thể là chất keo gắn kết các xã hội dân sự… Hiếu biết VH của các nước và các dân tộc khác là nhân tố thiết yếu đối với việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế và thương mại một cách hiệu quả trên các thị trường ngày càng toàn cầu hóa” [56]

Milton Kamins thuộc trường đại học Johns Hopkins Hoa Kỳ cho rằng:

“NGVH là sự giao lưu về tư tưởng, thông tin, nghệ thuật và các hình thức VH khác, được tiến hành nhằm thúc đẩy sự hiểu biết hai bên giữa các quốc gia và dân tộc” [3,tr.209]

Theo Báo cáo của ủy ban tư vấn về NGVH thuộc BNG Mỹ tháng 9/2005,

“NGVH là then chốt của NGNN; bởi vì chính thông qua các hoạt động VH mà

tư tưởng của một dân tộc được thể hiện tốt nhất Và NGVH có thể giúp tăng cường an ninh quốc gia của chúng ta một cách khéo léo, rộng rãi và bền vững Thực tế lịch sử có thể cho thấy rằng, sự phong phú về VH của Mỹ đã đóng vai trò không kém gì hoạt động quân sự trong việc tạo dựng vai trò lãnh đạo thế giới của chúng ta, kể cả trong cuộc chiến tranh khủng bố…NGVH– vốn đã được cắt nghĩa như là “sự giao lưu những tư tưởng, trao đổi thông tin, nghệ thuật và các phương diện khác của nền văn hóa giữa các nước và các dân tộc nhằm nâng cao

sự hiểu biết lẫn nhau” – là then chốt của ngoại giao nhà nước; bởi vì tư tưởng của một dân tộc được thể hiện tốt nhất trong các hoạt độngVH” [57]

Tạp chí “NGVH” định nghĩa: “NGVH là một lĩnh vực NG liên quan đến

việc thiết lập, phát triển và duy trì các mối quan hệ với các quốc qia khác thông qua văn hóa, nghệ thuật và giáo dục Nó cũng là một quá trình hoạt động đối

Trang 20

ngoại chủ động, trong đó các thiết chế, hệ giá trị và bản sắc VH độc đáo của một dân tộc được quảng bá ở cấp độ song phương và đa phương” [48]

Có nhiều quan điểm về NGVH của Việt Nam Có ý kiến cho rằng: cùng với NGCT và NGKT, NGVH tạo thành ba trụ cột của hoạt động NG toàn diện hiện đại Đó là việc thực hiện chính sách đối ngoại để đạt mục tiêu chính trị bằng công cụ VH Trong đó, các giá trị VH sẽ là chỗ dựa tinh thần bền vững cho hoạt độngNG, làm áp lực đối với các đối tác để thực hiện có kết quả cao các chính sách chính trị, kinh tế và VH quốc gia Nói một cách khái quát, NGVH là hoạt động NG vì VH và bằng VH và là sản phẩm chung của chính sách VH và chính sách NG NGVH nhằm nâng cao hình ảnh quốc gia ngày càng rõ và đẹp nâng cao vị thế quốc gia, mở rộng giao lưu văn hóa quốc gia với thế giới và tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho hội nhập quốc tế” [2,tr.24]

Một số ý kiến khác lại cho rằng, “NGVH là một hoạt động của VH đối ngoại, đựơc nhà nước tổ chức, ủng hộ hoặc bảo trợ Hoạt động này được triển khai trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu chính trị, đối ngoại, được xác định bằng các hình thức VH như: nghệ thuật, lịch

sử, tư tưởng truyền thống, phim, ẩm thực, ấn phẩm văn học… Đối tượng của NGVH là chính phủ và nhân dân các quốc gia khác Mục tiêu của NGVH là góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, phục vụ và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế, hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế và phục vụ CĐNVNONN” [27]

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thái Việt, NGVH Việt Nam có thể được hiểu khái quát “là một hoạt động NG đặc thù, sử dụng công cụ VH để đạt được các mục tiêu của NG và sử dụng NG để tôn vinh vẻ đẹp của VH Các hoạt động NGVH được thực hiện thông qua việc áp dụng các hình thức VH, nghệ thuật bao gồm: nghệ thuật, lịch sử, tư tưởng, truyền thống VH, thông tin, ẩm thực, các ấn phẩm văn học…” [42,tr.77]

Tống hợp từ tất cả các định nghĩa và khái niệm đã nêu trên theo tôi cho rằng NGVH là một lĩnh vực hay một hình thức NG thông qua công cụ VH để thiết lập duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại nhằm đạt được những mục tiêu

Trang 21

về chính trị, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao vị thế hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế và mở rộng ảnh hưởng quan hệ quốc tế

1.2 NỘI HÀM NGOẠI GIAO VĂN HÓA

NGVH có vai trò hết sức quan trọng vì nó vừa là nền tảng tình thần, vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam, bổ trợ hữu hiệu cho các trụ cột NGCT, NGKT tạo thành một chỉnh thể chính sách đối ngoại Sự trân trọng các giá trị VH trong công tác NG trở thành nhịp cầu nối để vượt qua những khác biệt, đưa dân tộc xích lại gần nhau và cùng chung tay giải quyết những vấn đề toàn cầu –NGVH có khả năng giải quyết những thách thức lớn của thời đại chúng ta theo hướng bền vững, đó là những thách thức về sự bất bình đẳng, bất công bằng, nghèo đói và xung đột

1.2.1 Mục tiêu của Ngoại giao văn hóa

Khi khoảng cách về sức mạnh chính trị và kinh tế trên thế giới ngày càng thu hẹp bởi toàn cầu hóa và hội nhập lan rộng, NGVH trở thành xu hướng ngoại giao đuợc ưa chuộng đối với các quốc gia NGVH là chìa khóa mở cánh cửa quan hệ, là nhân tố đảm bảo các mục tiêu đối ngoại quốc gia hiệu quả nhất

Mục tiêu chung NGVH: Thứ nhất, đó là góp phần đảm bảo an ninh quốc gia; Thứ hai, NGVH phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; Thứ ba, đó là mục tiêu nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế

Mục tiêu cụ thể của NGVH được đề cập đến: Làm cho thế giới hiểu biết nước ta, dân tộc ta nói chung và nền VHVN nói riêng nhiều hơn, sâu hơn; tạo hình ảnh tốt hơn về đất nước, con người Việt Nam mà theo “mốt thời thượng” hiện nay là tạo dựng “thương hiệu quốc gia”; làm nền tảng tinh thần cho việc triển khai nền NG mở rộng, tranh thủ sự hợp tác rộng rãi hơn trên các lĩnh vực khác nhất là lĩnh vực kinh tế; thông qua giao lưu VH tiếp thu những gía trị cao đẹp của VH thế giới để làm giàu thêm nền VH dân tộc mình

Đây là bốn mục tiêu cụ thể của NGVH gắn kết chặt chẽ với nhau, những mục tiêu ấy vừa đáp ứng nhu cầu đối nội và đối ngoại, phù hợp với xu hướng

Trang 22

chung của thế giới hiện nay là coi trọng hoạt động NGVH Vì vậy những mục tiêu trên cần phải được quan tâm để đưa đất nước phát triển

1.2.2 Nhiệm vụ của Ngoại giao văn hóa

Vì nhiệm vụ cơ bản của NG là bảo vệ độc lập của quốc gia, chủ quyền dân tộc nên về mặt VH, NG phải bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Với vai trò là một trụ cột của NGVN, NGVH đã trở thành nguồn “ sức mạnh mềm” quan trọng, từng bước khẳng định vị trí xứng đáng trong công tác

đối ngoại thời kỳ mới với năm nhiệm vụ chủ chốt: mở đường cho quan hệ giữa

ta và một số quốc gia; là chất xúc tác thúc đẩy NGCT và NGKT; là công cụ

quảng bá giới thiệu hình ảnh, đất nước, con người và VH Việt Nam ra thế giới

để tăng cường biết về Việt Nam đối với bạn bè quốc tế; là kênh vận động hiệu quả cho các di sản của đất nước; là cửa ngõ tiếp thu tinh hoa VH của nhân loại

Hoạt động này cũng góp phần xây dựng công nghiệp VH cũng như đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm mang thương hiệu Việt và hỗ trợ các Bộ, Ngành và địa phương trong việc quảng bá hình ảnh đất nước NGVH còn có nhiệm vụ khơi dậy và củng cố lòng yêu nước của người Việt Nam trong và ngoài nước

1.2.3 Nội dung của Ngoại giao văn hóa

Các cường quốc triển khai NGVH với mục tiêu hàng đầu là mở rộng ảnh hưởng và thể hiện vị thế cường quốc của mình trên thế giới Ví dụ, Mỹ mở rộng những giá trị về dân chủ và nhân quyền ra bên ngoài nhằm tạo sự thống trị và ảnh hưởng rộng khắp thế giới, “một nội dung căn bản mà VH truyền thống Mỹ tuyên dương là: nước Mỹ là quốc gia dân chủ lý tưởng nhất, tự do nhất – là hình mẫu để nhân loại theo đuổi Những kinh nghiệm thành công của Mỹ trong việc xây dựng lên một nhà nước dân chủ, tự do, đa tôn giáo và sắc tộc, đa chủng tộc và cội nguồn… đều đáng đê các quốc gia trên thế giới học hỏi…” [42,tr.173] Trung Quốc xác định VH là một cấu phần của sức mạnh quốc gia

để vươn ra bên ngoài, thiết lập hàng trăm viện Khổng giáo giảng dạy ngôn ngữ và VH Trung Hoa tại khắp các Châu lục, tổ chức “Năm VH" tại một số nước Trung Quốc đã có những thay đổi chiến lược NG một cách linh hoạt và khéo

Trang 23

léo, vừa duy trì quan điểm xây dựng một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định

để tạo thuận lợi cho công cuộc cải tổ và phát triển quốc nội, vừa tích cực tham gia vào các thể chế đa phương có lợi cho sự phát triển đất nước và gia tăng tầm ảnh hưởng của mình trên vũ đài chính trị quốc tế

Các nước nhỏ lấy mục tiêu phát triển làm trọng tâm trong việc triển khai NGVH Các nước này có xu hướng gắn việc quảng bá VH với phát triển du lịch, nổi bật là Singgapo thường tiếp thu VH, văn minh bên ngoài để làm giàu BSVH bản địa

Ở Việt Nam, NGVH đã được kết tinh trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Chất VH trong TTNG cốt lõi của cha ông ta thể hiện chủ yếu ở tinh thần hòa hiếu, trong đó nổi bật là TTNG thêm bạn bớt thù, đặc biệt là nền NG hiện đại Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện TTNG Hồ Chí Minh có nguồn gốc nhân văn cao cả, thấm đẫm truyền thống lịch sử và VH của Việt Nam cũng như tinh hoa của VH nhân loại Nhân cách VH Hồ Chí Minh biểu hiện trong cách ứng xử đối ngoại dung dị và nhẹ nhàng, uyên bác và khiêm nhường, VH ứng xử và giao tiếp mang đậm chất nhân văn Hồ Chí Minh

NGVH là một lĩnh vực hay hình thức NG thông qua công cụ VH để thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại nhằm đạt được mục tiêu lợi ích cơ bản của quốc gia là phát triển, an ninh và mở rộng ảnh hưởng quốc tế Vì vậy, NGVH có nội dung chủ yếu sau: Xây dựng sự hiểu biết và sự chấp nhận lẫn nhau giữa nước ta với các nước, các dân tộc, các khu vực lãnh thổ, qua đó tăng cường hòa bình hữu nghị và hợp tác cùng phát triển; Quảng bá hình ảnh và thương hiệu của đất nuớc, con người và bản sắc dân tộc Việt Nam, làm cho thế giới hiểu đúng về Việt Nam, có thiện cảm và ủng hộ Việt Nam; Là nền tảng tinh thần cho việc triển khai thắng lợi nền NGVN về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, xã hội nhằm phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam; Khơi dậy, củng cố lòng yêu nước của người Việt Nam trong và ngoài nước; Thông qua giao lưu VH tiếp thu tinh hoa VH của các dân tộc khác trên thế giới để làm

Trang 24

phong phú hơn, hiện đại hơn, tiến bộ hơn nền VH của Việt Nam, đồng thời giữ gìn và phát huy mạnh mẽ BSVH truyền thống tốt đẹp của Việt Nam

Những nội dung ấy được thể hiện thông qua tuyên truyền đối ngoại; giao lưu trao đổi VH, nghệ thuật; tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về VH, nghệ thuật; các hoạt động VH đối ngoại trong nước và CĐNVNONN; vận động UNESCO công nhận mới các di sản VH vật thể và phi vật thể của Việt Nam là

di sản VH của nhân loại, các khu dự trữ sinh quyển và công viên địa chất thế giới, đưa các hồ sơ, tư liệu quý của Việt Nam vào chương trình Ký ức thế giới của UNESCO… qua đó giới thiệu danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, bản sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam đối với bạn bè quốc tế và góp phần phát triển du lịch của các địa phương có di sản nói riêng và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nói chung

1.2.4 Thông điệp ngoại giao văn hóa

Sự đa dạng VH là một tài sản không gì thay thế để giảm nghèo và để đạt được thành công trong phát triển bền vững và duy trì hòa bình NGVH là một trong những công cụ chính để củng cố sự hiểu biết VH lẫn nhau Hình ảnh đất nước được bạn bè quốc tế biết đến không hẳn chỉ phụ thuộc vào các hoạt động quảng bá Một trong những điều quan trọng nhất của NGVH đó là truyền tải được thông điệp của một quốc gia muốn thế giới biết đến Một thông điệp hàm chứa những nét đặc trưng VH quốc gia và được quảng bá tốt sẽ tác động mạnh

mẽ hơn đến bạn bè quốc tế, khiến hình ảnh đất nước trở nên rõ ràng và thu hút hơn.Trên thế giới, việc sử dụng một thông điệp VH sâu sắc súc tích để giới thiệu hình ảnh quốc gia là khá phổ biến Ví dụ, Thái Lan cũng xây dựng thông điê ̣p VH quốc gia với hình ảnh mô ̣t đất nước với “Nền dân chủ trỗi dâ ̣y , nền kinh tế năng đô ̣ng, người Thái mến khách , xã hội mở và nền VH đă ̣c trưng” [2,tr.11]

Để quảng bá nét VH độc đáo, đất nước và con người Việt Nam, tôn vinh các anh hùng dân tộc, danh nhân VH của đất nước làm cho thế giới hiểu đúng và có thiện cảm với Việt Nam, ủng hộ công cuộc đổi mới và sự nghiệp phát

Trang 25

triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, qua đó nâng cao vị thế và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế Trong những năm đầu thế kỷ 21, với khẩu hiệu “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới” và hiện nay “Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn” hay “Văn hóa độc đáo và Lịch sử huyền thoại” đã góp phần chuyển tải một thông điệp, cuốn hút đối với du khách nước ngoài

Bên cạnh thông điệp, việc chọn ra được một vài sản phẩm trở thành thương hiệu Việt Nam cũng là một yếu tố quan trọng của NGVH Các chuyên gia và nhà hoạch định chính sách hiện đang phân vân giữa một số thương hiệu

VH đậm tinh thần Việt Nam như nem, phở, áo dài, cà phê…

GIAO ĐẶC SẮC

1.3.1 Hòa bình, hư ̃u nghi ̣ với các dân tô ̣c

Xuất phát từ truyền thống ngoại giao hòa bình hữu nghị của ông cha ta, và từ những bài học kinh nghiệm đấu tranh ngoại giao trong lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã chắt lọc và hình thành tư tưởng ngoại giao hòa bình, hữu nghị trong điều kiện mới Tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh đã góp phần tích cực vào việc tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi tranh thủ sự ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới đối với việc công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống xâm lược

Hồ Chí Minh đã thành công trong việc phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp, làm gia tăng sức chiến đấu của dân tộc Việt Nam trên tất cả các phương diện: gìn giữ chính quyền cách mạng, huy động mọi lực lượng vào cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi; thúc đẩy công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, bảo vệ hậu phương miền Bắc; đặc biệt, ngoại giao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với

sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Sự chỉ đạo xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại và những hoạt động ngoại giao trực tiếp của Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những nhân tố quyết đi ̣nh thắng lợi của các ma ̣ng Viê ̣t Nam

Trang 26

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh mang đậm dấu ấn truyền thống ngoại giao của dân tộc, đó là tư tưởng ngoại giao hòa bình, hữu nghị Toàn bộ tiến

trình cách mạng cũng như nền ngoại giao Việt Nam từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời mang đậm dấu ấn tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh

- tư tưởng hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển giữa các dân tộc

Người chủ trương xây dựng quan hệ ngoại giao hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển giữa các dân tộc

Ngay sau khi giành được độc lập, bản Thông cáo đầu tiên về chính sách đối

ngoại của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3-10-1945 đã đề ra mục tiêu góp phần giữ gìn hòa bình thế giới Thông cáo viết: “Việt Nam Dân

chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài''[19,tr.50, 218] Sau khi ký tạm ước ngày 14-9-1946 với Chính phủ Pháp, trả lời

báo Paris - Sài Gòn Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: ''Đồng bào tôi và tôi

thành thực muốn hòa bình Chúng tôi không muốn chiến tranh” [16,tr.473]

Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn luôn sử dụng

chính sách ngoại giao ''nhu viễn'', mềm dẻo, nhún nhường Với tư tưởng: Đất

nước vẹn toàn là thượng sách; Cốt sao cho dân được an ninh, Hồ Chí Minh đã

nhân nhượng, mềm dẻo mong sao đất nước được độc lập, dân ta được hưởng

hòa bình, Người đã ký với Pháp Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước

14-9-1946 Đây là những văn bản thể hiện sự nhân nhượng, thiện chí và mong muốn

hòa bình một cách rõ ràng nhất trong chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh và của dân tộc ta

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, đưa ra nhiêu sáng kiến hòa bình, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao làm cho dư luận thế giới thấy được thực chất của tình hình Việt Nam, bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc và luận điệu hòa bình giả dối của chúng

Trang 27

Từ khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã tuyên bố Việt Nam sẵn sàng ''làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai'' [17,tr.220] Đồng thời, trên cương vị Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư, công hàm đến chính phủ một số nước Á - Phi, cho các tổ chức Liên đoàn Ảrập, Hội nghị

liên Phi v.v Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc,(12-1946) Hồ Chí Minh nêu rõ:

''Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực'' [16,tr.470]

Từ cuối năm 1946 đến tháng 3-1947, sau khi Pháp phát động chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam và toàn dân đã đi vào kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tinh thần ''còn nước còn tát'' đã 8 lần gửi thư và điện cho Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, kêu gọi đình chiến lập lại hòa bình , mở lại thương lượng với những đề nghị hợp tình hợp lý

Trong thư gửi cho người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ của gần 70 nước trên thế giới trình bày tình hình chiến tranh Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “trải qua hơn hai mươi năm chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình để xây dựng đời sống của mình'' [22,tr.32] Hồ Chí Minh không đề cập hòa bình và chiến tranh một cách trừu tượng Trong thư gửi Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình, Người nêu rõ: phong trào hòa bình phải gắn liền với phong trào độc lập dân tộc'' [19,tr.50, 218]

Người luôn lấy hòa bình hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn thù, phân biệt dân tộc với bọn phản động, hiếu chiến trong chính phủ của đối phương, luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, tập hợp rộng rãi nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới chống lại các thế lực gây chiến tranh xâm lược Đó là nét đặc trưng của ''ngoại giao tâm công'' Hồ Chí Minh Thực hiện đường lối ''ngoại giao

tâm công'' với tinh thần “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; lấy chí nhân

thay cường bạo”, ta đã tranh thủ được một ''Mặt trận rộng rãi nhân dân thế giới

Trang 28

ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược ", điều chưa từng có trong bất

cứ cuộc chiến tranh giải phóng nào

Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích của tất cả các dân tộc, do đó phải đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, ''giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí''

[18,tr.228]

Đối với Người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn,

Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta là kẻ thù Phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân ''Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế

đúng đắn'' [18,tr.455] Và, “Ta phải làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và

nhiều bạn đồng minh hơn hết” Đối với Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh phân biệt

nhân dân với các Chính phủ cầm quyền, thúc đẩy phong trào phản chiến của nhân dân các nước này, cô lập lực lượng hiếu chiến Trả lời nhà báo Ôxtrâylia

W.Bớcsét, tháng 8-1963 và tháng 4-1964, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước

đây, chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp và nhân dân Pháp yêu chuộng

hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có

truyền thống tự do, với bọn can thiệp Mỹ và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn”

[21,tr.253], “chúng tôi phân biệt nhân dân Mỹ với đế quốc Mỹ Chúng tôi muốn có những quan hệ hữu nghị và anh em với nhân dân Mỹ mà chúng tôi rất kính trọng vì nhân dân Mỹ là một dân tộc tài năng, đã có nhiều cống hiến cho khoa học và nhất là gần đây đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược miền

Nam Việt Nam” [21,tr.253]

Thể hiện truyền thống yêu hòa bình của dân tộc: ''Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo'', Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chủ động gửi thư cho các Tổng thống Mỹ, nhắc nhở họ hãy tỉnh ngộ, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, để hòa bình được lập lại trên bán đảo Đông Dương Điều đáng tiếc là những đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không được các đời Tổng thống Mỹ G.Kennơđi và người kế nhiệm Tổng thống L.Giônxơn xem xét nghiêm túc Ngay sau khi lên thay G.Kerulơđi, Tổng thống

Trang 29

L.Giônxon đã tuyên bố: ''Mỹ tiếp tục viện trợ, tiếp tục duy trì nhân viên quân sự tại miền Nam Việt Nam'' [25,tr.182]

Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo truyền thống ngoại giao hòa bình hữu nghị của dân tộc trong điều kiện hoàn cảnh mới Người chỉ đạo xây dựng đường lối ngoại giao theo tinh thần giương cao ngọn

cờ độc lập và hòa bình, tập hợp các lực lượng tiến bộ thành một mặt trận quốc

tế ủng hộ Việt Nam Đó là những chủ trương đường lối đúng đắn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, góp phần phá vỡ âm mưu của Mỹ muốn biến chiến tranh xâm lược Việt Nam thành cuộc xung đột giữa hai hệ tư tưởng Qua đó vạch trần thủ đoạn tàn bạo và những luận điệu xuyên tạc của đế quốc Mỹ Có thể khẳng định rằng, tư tưởng ngoại giao hòa bình luôn thường trực trong con người Hồ Chí Minh Ngay cả khi phải tiến hành cuộc đấu tranh một mạt mọt còn với bọn đế quốc thực dân để giành độc lập dân tộc, Người cũng luôn luôn tìm kiếm mọi cơ hội đối thoại, đàm phán nếu có thể để né tránh một cuộc chiến bạo lực, phi nghĩa

1.3.2 Tư tươ ̉ ng , phong cách ngoa ̣i giao Hồ Chí Minh thấm đượm tính nhân văn, truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại

Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh trước hết là con đường học hỏi trên một hành trình khắp thế giới Sự lựa chọn đầu tiên không theo con đường truyền thống của các văn thân thời Cần vương là qua Trung Quốc; cũng không theo con đường tưởng chừng rất nhiều triển vọng là theo phong trào Đông Du của các nhà duy tân ái quốc đầu thế kỷ qua Nhật Bản Con đường được lựa chọn là sang chính nước Pháp, quốc gia cai trị nước ta Lý giải cho sự lựa chọn

ấy bắt đầu từ câu hỏi về nguyên lý mà cuộc Cách mạng Tư sản Pháp đã nêu

“Tự do-Bình đẳng-Bác ái” thực chất là cái gì và vì sao có cái khoảng cách giữa lý tưởng cao đẹp ấy và thực tiễn đen tối mà thực dân Pháp đã và đang đối xử với nhân dân Việt Nam Cũng từ rất sớm Bác chọn Hoa Kỳ là điểm đến để khảo sát một nền chính trị năng động thành quả của một cuộc cách mạng giải phóng Rồi trên chặng đường dài qua rất nhiều quốc gia trong đó có những trung tâm

Trang 30

cách mạng của thế giới như Liên Xô, Trung Quốc… những tri thức và sự từng trải ấy được tích lũy và trở thành bản lĩnh của một nhà cách mạng, một nhà ngoại giao đầy tính nhân văn trong hành xử của mình

TTNG Hồ Chí Minh có nguồn gốc nhân văn cao cả, có cội nguồn từ truyền thống lịch sử và VHVN cũng như tinh hoa văn hóa nhân loại Trong quá trình đấu tranh cách mạng, cũng như trong quan hệ quốc tế “tư tưởng nhân văn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, và chính cuộc đời của Người là một tấm gương, một biểu hiện cụ thể, tiêu biểu nhất của chủ nghĩa nhân đạo cao cả” [31,tr.163] TTNG Hồ Chí Minh được thể hiện ở phương pháp ngoại giao “tâm công”, tính nhân văn sâu sắc và hiện thực, đề cao đạo lý trong quan hệ quốc tế, trọng tín, lễ nghĩa, hiểu biết sâu sắc về dân tộc mình và đất nước bạn Kết hợp truyền thống với hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và sáng tạo đưa “NG tâm công” của cha ông lên một tầm cao mới Cơ sở của tâm công là bản tính hướng thiện của mỗi con người và sự chia

sẻ các giá trị nhân văn chung của nhân loại tiến bộ trên thế giới “Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ” [16,tr.350] Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh hướng trước hết vào những con người bị đau khổ đọa đày trên khắp hành tinh Tình thương yêu của Người không có giới hạn về chủng tộc và biên giới quốc gia: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh tuyệt nhiên không phải là lòng trắc ẩn Nó không dừng ở mức xót thương con người một cách thụ động kiểu tôn giáo, cũng không phải là tỏ mối thông cảm từ trên và từ ngoài, không phải bằng cách dụ thuyết mà nó kiên quyết và không ngừng đấu tranh để xóa bỏ khổ đau cho con người, làm cho con người đau khổ và các dân tộc bị áp bức tự mình cởi áp ngựa trâu thoát gông xiềng nô lệ” [31,tr.165]

Với vốn hiểu biết sâu rộng về VH, tâm lý, ngôn ngữ và phong tục tập quán của nhiều dân tộc ở cả phương Đông và phương Tây, Hồ Chí Minh đã tìm được những cách xử thế hợp lòng người, hợp từng hoàn cảnh, hợp từng đối tượng cụ thể trong quan hệ đa dạng với nhiều đối tượng

Trang 31

Đối với bạn bè và đồng chí người luôn xây đắp tình cảm “vừa là đồng chí vừa là anh em” và tinh thần quốc tế trong sáng

Từ nhỏ, được đắm mình trong truyền thống nhân ái, khoan dung của quê hương và gia đình; lớn lên được chứng kiến tội ác man rợ của bọn thực dân, nỗi lầm than, cơ cực của đồng bào, ở Hồ Chí Minh đã sớm hình thành khát vọng ra

đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Đối với Người – một người dân

mất nước, bị nô lệ thì giá trị tinh thần lớn nhất là “Không có gì quý hơn độc lập

tự do” Nhiều năm từng làm nghề lao động cực nhọc, từng nếm cảnh lao tù đày

đọa, Người có mối đồng cảm thương xót sâu sắc đối với số phận của tất cả các dân tộc bị áp bức Vì vậy, ngay khi bước vào cuộc đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh đã thực hiện được sự kết hợp giữa đấu tranh giải phóng dân tộc mình

với đấu tranh “giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị,

thực hiện yêu thương và bác ái” Trong lời kêu gọi trên báo Le Paria số 1,

Người đã viết: “Mục đích của báo…là giải phóng loài người” [14,tr.465] Ở

Hồ Chí Minh, độc lập cho dân tộc mình đồng thời là độc lập cho tất cả các dân tộc; giải phóng dân tộc để giải phóng xã hội và giải phóng loài người Con đường Hồ Chí Minh đi từ độc lập dân tộc đến Chủ nghĩa xã hội – đến “thế giới đại đồng” theo tư duy hiện đại – cũng là logic của con đường lương tri dân tộc đến lương tri thời đại để đạt tới sự hài hòa giữa cá nhân, dân tộc và nhân loại

Hồ Chí Minh gắn bó với dân tộc mình, đồng thời cũng dành những tình cảm thắm thiết với mọi dân tộc trên thế giới, luôn luôn ủng họ những cuộc đấu tranh yêu nước và cách mạng bất cứ ở đâu, quan tâm chí tình tới bạn bè quốc tế, săn sóc ân cần mọi số phận con người bằng những việc làm cảm động và thiết

thực Người là hiện thân của tinh thần “Quan san muôn dặm một nhà, bốn

phương vô sản đều là anh em” và của lý tưởng: “Người với người là bạn” Bao

trùm tư tưởng, phong cách là “cái tâm”, lòng nhân ái, thương người, yêu nước, thương dân, cái tâm mênh mông ôm cả nhân loại, trước hết là các dân tộc, các tầng lớp bị áp bức Cái tâm ấy là ngoại giao mưu tìm hòa bình, chấm dứt đổ máu, hòa bình cho Việt Nam, hòa bình cho nước gây chiến với ta Đánh Pháp,

Trang 32

Người không bỏ lỡ cơ hội nào để hòa giải với Pháp Người Pháp thừa nhận! Với nhân dân Mỹ, Người nói: “Tôi rất đau lòng khi thanh niên Việt Nam bị giết hại, và tôi cũng rất buồn phiền khi lính Mỹ bị giết” Người nhắc nhở ngành ngoại giao: phải làm cho đúng chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước tăng cường ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, tăng cường với các nước bị áp bức, nhân dân thế giới vì mục đích hòa bình

Trong dịp đón đoàn cấp cao Lào thăm Việt Nam tháng 3/1963, Chủ tịch

Hồ Chí Minh nêu bật điểm tương đồng về địa – chính trị làm nền tảng cho việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị lâu dài giữa hai nước: “Hai dân tộc Việt Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc anh em chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh

em Trải qua nhiều năm đấu tranh gian khổ và anh dũng, nhân dân hai nước chúng ta đã giành được độc lập, đã làm chủ đất nước của mình Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng một cuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh em Việt – Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được” [34,tr.221]

Ấn Độ là một nước lớn có vai trò quan trọng ở châu Á Sau khi giành được độc lập, Ấn Độ thực hiện chính sách trung lập tích cực Tại Hội nghị Geneva 1954 về Đông Dương, Ấn Độ được cử làm Chủ tịch Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Geneva – đó là lá phiếu quan trọng trong các quyết định của Ủy ban về việc các bên liên quan thi hành Hiệp định Trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao đất nước, nền VH và tinh thần đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ Người nói: “Khi đến đất nước Ấn Độ vĩ đại, chúng tôi cảm động và sung sướng được đến quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất của thế giới.VH, triết học và nghệ thuật của nước Ấn Độ đã phát triển rực rỡ và có những cống hiến to lớn cho loài người Nền tảng và truyền thống của triết học

Ấn Độ là lý tưởng hòa bình bác ái… Để giành lại độc lập, tự do của mình, nhân dân Ấn Độ đã anh dũng và bền bỉ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân”

Trang 33

[34,tr.221] Đồng thời, Người luôn đề cao vai trò của Ấn Độ trong Ủy ban quốc

tế và bày tỏ nhân dân Việt Nam luôn luôn biết ơn đồng tình và ủng hộ của Chính phủ và nhân dân Ấn Độ anh em Nhân dân Việt Nam ngay khi mới bắt đầu và Thủ tưởng Nêru đã nhiều lần lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam

Những lời lẽ chân thành của Người đã chinh phục được tình cảm của nhân dân Ấn Độ và Thủ tướng Nêru Trong buổi Tổng thống Ấn Độ chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng đã bày tỏ lòng mến mộ đối với Người: “Tôi không có nhiệm vụ trong cuộc chiêu đãi này, nhưng tôi cũng cố gắng đến tham gia vì là chiêu đãi Hồ Chủ tịch… Hồ Chủ tịch là một nhân vật đặc biệt, tính rất giản đơn nhưng lòng rất rộng rãi Hôm qua khi từ sân bay về, Hồ Chủ tịch nói với tôi rằng ngài có đem từ Hà Nội sang một vòng hoa và một cây đại để đặt và trồng nơi tưởng niệm Thánh Găngđi Ngài còn nói thêm rằng cũng có đưa vòng hoa và cây đào để kỷ niệm cụ thân sinh tôi Hồ Chủ tịch gặp ông cụ thân sinh tôi ở Thủ đô Bỉ năm 1927 trong cuộc Hội nghị quốc tế chống chủ nghĩa thực dân Một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và cách đây đã lâu năm mà Hồ Chủ tịch còn nhớ đến cụ thân sinh tôi Đó tuy là một việc bình thường nhưng chứng tỏ một cách rõ rệt phẩm chất vĩ đại của Hồ Chủ tịch” [34,tr.223]

Đối với kẻ xâm lược Hồ Chí Minh luôn nêu cao chính nghĩa tìm điểm tương đồng Khơi dậy mặt tốt để đánh thức lương tri của họ trên cơ sở đó

thuyết phục họ từ bỏ hành vi xâm lược Để thức tỉnh lương tri loài người tiến

bộ, tăng cường sức mạnh của đoàn kết và chính nghĩa, Hồ Chí Minh luôn lấy hòa bình, hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn thù Người không bao giờ đánh đồng cả một dân tộc hay một nước với những kẻ cầm quyền gây chiến tranh xâm lược của nước đó để trung lập hóa và cô lập kẻ thù chính Thăm Pháp ngay sau lễ đón tiếp ngày 22-6-1946, Người tuyên bố với báo chí:

“Mong sau này, hai dân tộc Pháp và Việt cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện” [16,tr.342] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tám lần gửi thư, điện cho Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp kêu gọi đình chiến, lập lại hòa bình Hồ

Trang 34

Chí Minh viết: “Chúng tôi muốn hòa bình để máu người Pháp và Việt Nam ngừng chảy Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau” [17,tr.19] Với nước Mỹ, từ rất sớm, Hồ Chí Minh mong muốn và thực tế đã phấn đấu cho sự hợp tác giữa Việt Nam với Hoa Kỳ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để có thể chấm dứt chiến tranh, khôi phục hòa bình “Việt Nam sẵn sàng

“trải thảm đỏ” nối “nhịp cầu vàng” cho quân Mỹ rút khỏi Việt Nam” [14,tr.360] Việt Nam “muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không thù oán với một ai” [17,tr.220]

Dựa trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn, Bác đã tìm những điểm tương đồng

để thức tỉnh và khích lệ sự ủng hộ quốc tế, phân biệt rõ bạn với thù, phân biệt dân tộc với bọn phản động trong chính phủ của đối phương để cô lập kẻ thù gây chiến nhằm tập hợp lực lượng rộng rãi trên thế giới Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Người chú ý phân biệt bọn thực dân Pháp, xâm lược

Mỹ với nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ Vạch rõ chiến tranh xâm lược được tiến hành chỉ vì quyền lợi của một thiểu số, còn nhân dân Pháp, Mỹ thì phải hy sinh xương máu của con em mình, tài sản của đất nước mình Người đã kêu gọi sự đoàn kết, liên minh giữa nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ với nhân dân ta cùng nhau chống chiến tranh xâm lược

Tháng 10/ 1945 Hồ Chí Minh gửi thư cho những người Pháp ở Đông Dương nêu rõ: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó được độc lập, các bạn yêu đồng bào của các bạn muốn họ được tự do Lòng yêu nước thương lòi này làm vẻ vang cách mạng vì nó là lý tưởng cao quý nhất của loài người…

Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm nước Pháp cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân xâm lược Pháp Chúng tôi không sợ chết vì chúng tôi muốn sống tự do không muốn ai đè đầu bóp cổ” [16,tr.65]

Năm 1947 trong thư gửi tướng Lecler Người viết: “Ngài là một đại quân nhân, và một nhà đại ái quốc… Một nhà ái quốc trong những nhà ái quốc nước khác Một người yêu quê hương mình, trong quê hương của kẻ khác… Giả thử

Trang 35

ngài đánh được chúng tôi đi nữa – đấy là một điều viển vông, vì nếu ngài mạnh về vật chất thì chúng tôi đây, mạnh về tinh thần, với một ý chí chiến đấu kiên quyết cho tự do của chúng tôi - thì những thắng lợi tạm thời kia chẳng những không tăng thêm mà còn làm tổn thương đến uy danh quân nhân và tư cách ái quốc của ngài” [17,tr.5]

Đối với đối phương Người dùng những lý lẽ để thức tỉnh lương tâm Đấu

tranh ngoại giao là một hình thức đặc biệt của đấu tranh chính trị Muốn thuyết phục kẻ thù về pháp lý hay đạo lý, phải có lý lẽ Lý lẽ lớn nhất của các dân tộc

đang đấu tranh cho độc lập tự do là những quyền tự nhiên, cơ bản của con

người (quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phuc…) và quyền cơ bản của các dân tộc (chủ quyền độc lập, thống nhất, quyền tự do lựa chọn mô hình

phát triển riêng của mình, không có sự can thiệp áp đặt bên ngoài) Đó vốn là lý

lẽ không ai có thể chối cãi được và cũng là nguyên tắc pháp lý đã được nhiều quốc gia, dân tộc công nhận Nhưng, không phải cứ nắm được chân lý, chính nghĩa thì mọi việc đều trở nên dễ dàng Để giành được lẽ phải về mình phải giỏi lập luận, khéo biện luận, để đấu tranh thuyết phục đối phương Lý lẽ của Hồ Chí Minh thường lập luận trên cơ sở tính đồng nhất của nguyên lý Ở Hồ Chí Minh thuyết phục bằng lý lẽ luôn kết hợp với cảm hóa bằng trái tim người đối thoại bằng tấm lòng nhân hậu, bằng cách ứng xử nhạy cảm, tinh tế, khiêm nhường Trả lởi bà Sootsxi trong Hội liên hiệp Phụ nữ Pháp, Người viết: “Người Pháp đã đau khổ vì bị chiếm đóng trong bốn năm Trong bốn năm ấy, các bà đã tiến hành “cuộc kháng chiến và đánh du kích” Người Việt Nam chúng tôi đã đau khổ vì bị chiếm đóng trong hơn 80 năm; chúng tôi cũng đã kháng chiến và đánh

du kích Vì sao những người kháng chiến Pháp được coi như những anh hùng?

Vì sao những người du kích Việt Nam lại bị xem như những tên ăn cướp và những kẻ giết người” [16,tr.302] Hồ Chí Minh đã đánh chìm chủ nghĩa thực dân Pháp mà vẫn giữ được tình hữu nghị với nhân dân Pháp

Ở Hồ Chí Minh, thuyết phục bằng lý lẽ luôn kết hợp với cảm hóa bằng trái tim người đối thoại bằng tấm lòng nhân hậu, bằng cách ứng xử nhạy cảm, tinh tế

Trang 36

và rất mực khiêm nhường Qua vẻ mặt thanh khiết, nụ cười rạng rỡ,… của Người, người đối thoại cảm thấy toát lên ở Người một khát vọng dân chủ, một ham muốn làm sáng danh chân lý, chính bằng sức mạnh không phải quyền uy

Cũng với tấm lòng đó Người luôn độ lượng với tù binh, trong thư gửi tù binh Pháp Người viết: “Các bạn thân mến… Nhân dân Việt Nam xem các bạn như những người bạn và tìm mọi cách để cuộc sống các bạn được tốt hơn” [34,tr.231]

Đó chính là những hoạt động NGVH của Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần làm rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam và luận điệu hòa bình giả hiệu của

đối phương Hội nghị quốc tế “Đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc

Mỹ xâm lược, bảo vệ hòa bình” đã được tổ chức ở Hà Nội tháng 11-1946, với

sự tham gia của 64 đoàn đại biêu thay mặt cho 52 nước và 12 tổ chức quốc tế Trong hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: Hội nghị là “kết tinh của mặt trận nhân dân toàn thế giới đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân nhất là đế quốc Mỹ Phong trào nhân dân ở các nước đã tác động đáng kể tới dư luận và giới cầm quyền các nước trên thế giới

Thiếu tá Pi–e Ô-nây, chỉ huy con tàu Đuy-mông Đuyếc-vin đưa Hồ Chí Minh từ Pháp về Việt Nam, bị chinh phục bởi “người hành khách siêu quần” ấy

đã từ chối phục vụ chỉ huy hải quân Pháp ở Hải Phòng mà người ta định trao cho ông, vì ông nghĩ: “Chiến tranh là bât lợi, đoạn tuyệt với ông Hồ Chí Minh là sai lầm Ông không muốn dính vào điều mà lương tâm ông cảm thấy như là

ấy tiêu biểu cho VHVN Thiên tài của Hồ Chủ tịch trong mọi trường hợp ứng

xử trước quân Tưởng, quân Nhật, quân Pháp sau cách mạng tháng 8 năm

Trang 37

1945… đều là mẫu mực của NGVH.Trong phong cách giao tiếp ứng xử của Hồ Chí Minh có những điểm nổi bật

Một là: Ứng xử mềm dẻo nhưng kiên nghị trong các tình huống khó khăn, nguy hiểm

Trong đối thoại với đối phương để đi đến những thỏa hiệp, nhân nhượng mà các bên có thể chấp nhận được, Hồ Chí Minh luôn luôn mềm dẻo, ôn hòa trong việc tìm ra cái chung, cái đồng nhất, bảo lưu cái khác biệt, Người nói với người Pháp “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do,

Bình đẳng, Bác ái, Độc lập” “Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều

tán dương một nguyên tắc đạo đức: Kỷ sở bất dục, Vật thi ư nhân” Các bạn

yêu nước Pháp của các bạn và muốn cho nó độc lập… Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn cho nó độc lập chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng của chúng tôi” [20,tr.246] Jean Sainteny, một người từng đối diện với Hồ Chí Minh, đã thừa nhận: “Nếu ông Hồ đạt được mục đích của mình mà không phải nổ một phát súng nào thì chắc chắn ông ta đã là một người hạnh phúc nhất đời rồi” [37,tr.101]

Trong đấu tranh NG, chỉ có thực lực cách mạng mới quyết định được thắng lợi Xét về tương quan lực lượng, có lúc ta ở thế yếu hơn, thậm chí rơi vào tình huống phức tạp đầy thử thách hiểm nguy, nhưng nhờ có sách lược khôn khéo, phong cách ứng xử mềm dẻo, tinh tế của Hồ Chí Minh nên ta vẫn phát huy được chính nghĩa dân tộc, làm cho đối phương kính nể, nhằm đưa cách mạng Việt Nam vượt qua bước khó khăn Người luôn căn dặn: “Người ta cương thì mình phải nhu, phải khôn khéo lấy nhu thắng cương thì mới là biết mình biết người” [44] Chính ở đây đã bộc lộ những hoạt động TTNG của Chủ tịch Hồ Chí Minh

NGVN ở buổi đầu dựng nền Cộng hòa dân chủ đã phải đối phó với bao

âm mưu thâm độc của kẻ thù, các thế lực xâm lược và phản động tuy âm mưu và thủ đoạn khác nhau nhưng đều có mục tiêu là tiêu diệt Đảng, lật đổ chính quyền nhân dân, lập nên chính quyền tay sai phản động Lợi dung uy tín của quan thầy

Trang 38

bọn tay chân Việt quốc, Việt cách ở Hà Nội và các địa phương ra sức phá hoại chính quyền Trước tình hình trở nên rất căng thẳng bất cứ một va chạm nào cũng có thể dẫn đến khả năng xung đột Người nhiều lần khuyên nhủ cán bộ và đồng bào: phải hết sức bình tĩnh tránh khiêu khích và kiên nhẫn Người dạy:

“Kiên nhẫn không phải là hèn nhát, mà là một phương pháp đấu tranh Để cứu nước, lúc này có phải làm như Câu Tiễn cũng làm” [39,tr.201] Trong cuộc họp Hội đồng Chính Phủ bàn về việc dàn xếp các vụ xung đột giữa quân đội ta với bọn Việt Nam quốc dân Đảng, Người nêu ra phương hướng giải quyết: “dàn xếp sao cho đại sự thì biến thành tiểu sự, và tiểu sự thành vô sự” [43]

Thứ hai, Hồ Chí Minh có cách ứng xử rất tự nhiên, bình dị, rất cởi mở, chân tình, vừa chủ động, linh hoạt, lại vừa ân cần tế nhị đối với nhân dân, bạn

bè, đồng chí, anh em, dù đó là những nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ Đảng hay chỉ là những người nông dân, công dân bình thường Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh làm cho bất cứ ai gặp Người đều thấy thoải mái, tự nhiên, xua tan đi mọi sự e ngại hay sợ sệt

Là một nguyên thủ NG, một chính khách nổi danh trên thế giới, nhưng trong các cuộc tiếp xúc, không bao giờ Hồ Chí Minh tỏ ra mình đặc biệt hơn người mà luôn muốn ẩn mình đi, dành sự quan tâm chu đáo cho mọi người xung quanh Trong vườn Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, Bác trồng cây ăn trái và rất nhiều hoa hồng và luôn tặng hoa hồng hoặc trái cây cho khách quốc tế tới thăm Người Còn khi tiếp khách, Người không quên tặng hoa cho phụ nữ

Vào thời điểm, tháng 10-1954, trong khi đạo binh Pháp đang rút quân khỏi Hà Nội và miền Bắc Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ thì ông Sainteny lại trở vào Hà Nội với tư cách là Tổng đại diện của Chính phủ Pháp Ông rất hồi hộp khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp kiến Không biết cái gì đã diễn ra sau một cuộc chiến tranh 9 năm và kết thúc bằng sự đại bại của nước Pháp ở Điện Biên Phủ Người chiến thắng sẽ tiếp kẻ bại trận ra sao Thì ra bất ngờ ông

đã thấy vị Chủ tịch nước Việt Nam chiến thắng ra tận cửa với vòng tay giang rộng và một lời chào thân thiện: “Chúng ta ôm hôn nhau chứ!” và vị Chủ tịch

Trang 39

của chúng ta nói rằng thế nào người Pháp cũng trở lại đây không phải với những đô đốc hay binh lính mà là những kỹ sư, nhà kinh doanh hay các giáo sư

để cùng nhau hợp tác trên tinh thần hữu nghị và cùng có lợi

Trong các cuộc tiếp xúc đối ngoại, Hồ Chí Minh luôn luôn giữ trọn tình cảm trung hậu, thủy chung, như nhất Cuối năm 1961, đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc do Nguyên soái Diệp Kiếm Anh dẫn đầu sang thăm hữu nghị nước

ta Trong kế hoạch đón tiếp có một nội dung: sau khi đến Hà Nội, Đoàn sẽ tới chào Chủ tịch Hồ Chí Minh Xem kế hoạch, Bác Hồ không tán thành: “Hồi

1938, từ Diên An về phương Nam, Bác đã đi trong đơn vị do đồng chí Diệp Kiếm Anh làm đội trưởng, Bác là Bí thư chi bộ Nay đồng chí ấy đến Việt Nam, Bác lại chờ đồng chí ấy đến chào chính thức, là không thân tình” [39,tr.41] Người quyết định: Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ ra đón đoàn tại sân bay, Bác sẽ đón tại Nhà khách chính phủ và dự bữa cơm thân mật với đoàn, nhưng không công bố với báo chí, vì như vậy, không tiện về mặt lễ tân Thật là một cách ứng xử tinh tế, ngoài Bác chưa có ai nghĩ được cách ứng xử có lý, có tình như vậy

Tiếp một đoàn khách trong mùa đông, thấy có một vị khách ho, Người đã tặng khăn quàng của mình cho khách, dặn giữ ấm cổ để khỏi viêm họng Phong cách ứng xử ấy đã làm cho nhà nghiên cứu người Mỹ Đavít Hanbớcxtam đi đến

nhận định: “Toàn thể con người của Ông tỏa lên một phong thái bình dị và tế

nhị bẩm sinh Văn minh châu Âu tác động bằng lưỡi lê và rượu cồn giấu dưới

áo thụng đen của cha cố Công giáo Còn ông tiêu biểu cho một nềnVH, không phải một nền VH Châu Âu, mà có lẽ tiêu biểu cho nền VH tương lai” [28,tr.187] Ở đây, chúng ta lại thấy có sự trùng hợp với đánh giá mà nhà thơ Xôviết Ôxíp Manđenxtam đã nêu ra từ năm 1923

Nhà NG Pháp đã nhận xét rằng những ứng xử đó ngay từ những ngày đầu tiên nước Việt Nam giành được độc lập và nhiều lần vị Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập đã nêu ra thông điệp sẵn sàng làm bạn với tất cả các dân tộc Đó là tính nhất quán trong con người Hồ Chí Minh tạo nên sức thuyết phục và

Trang 40

tin cậy trên trường NG, một nhân tố quan trọng bắt nguồn từ một niềm tin và sự hiểu biết sâu sắc Đó cũng chính là một biểu hiện của hàm lượng VH trong NG mà chúng ta cần học hỏi Điều đó có nghĩa là các nhà NG phải thực sự là những người am hiểu VH và hành xử như những nhà VH

1.3.4 Vấn đề đào tạo cán bộ ngoại giao theo tư tươ ̉ ng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi thành lập chính quyền cách mạng đã quan tâm bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ NG mới với thành phần công nông và trí thức cách mạng, xuất phát từ nhiệm vụ cấp bách về đối ngoại Bác Hồ sau này nhận xét: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ta rất mới, cái gì cũng mới,

NG lại càng mới… Lúc đó mình tính làm thế nào, nhưng muốn làm gì cũng cần

vì lợi ích dân tộc mà làm Trong tình thế ấy, cũng cứ phải làm; cũng như không biêt bơi cũng cứ xuống nước rồi cũng phải biết bơi Hồi đó phải làm việc với những kẻ thực dân cáo già” [13]

NG của Việt Nam có nghi lễ, lễ tân khác với các nước khác, rất dân dã, bình dị Còn một số nước khá cứng nhắc, nghiêm chỉnh quá “Dân dã” của mình là ở đâu ra Chính từ phong cách NG giản dị mà uyên thâm của Bác Ứng

xử NG theo cách Bác dạy là ứng xử NG con người

Người thân mật nhắc nhở “ngành NG của ta còn non trẻ, đối với ta cái gì cũng mới, cái gì cũng phải học Những điều ta làm được còn quá ít” và “trình

độ văn hóa và tri thức của ta còn kém lắm” Người khuyến khích động viên các cán bộ ngoại giao quyết tâm theo con đường dài học tập và tu dưỡng bản thân

để hoàn thành tốt nhiệm vụ đất nước giao phó Để nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, người đặc biệt nhấn mạnh việc “cán bộ, nhân viên NG và bất cứ người Việt Nam nào ra nước ngoài từ thấp đến cao cũng đại diện cho dân tộc, cho đất nước, là hình ảnh của đất nước Việt Nam ở nước ngoài” [30,tr.213] Bởi vậy người cán bộ NG, trước tiên cần rèn luyện tư tưởng, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng phải nắm vững tình hình mọi mặt của nước sở tại nơi mình công tác “Phải hiểu cả hai bên mới có thể làm tròn nhiệm vụ”

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w