Trên cơ sở tiếp thu các giá trị tư tưởng, văn hóa của nhân loại đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về nhà nước và pháp luật, ở Hồ Chí Minh đã sớm hình thành một hệ thống qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ THÚY HÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁP QUYỀN
VỚI VIỆC NÂNG CAO Ý THỨC TÔN TRỌNG PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60 31 27
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Ngọc Liêu
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của TS Trần Ngọc Liêu Các số liệu, tài liệu trong luận văn là
trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc
Trang 41.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁP QUYỀN 9
1.1 Khái niệm pháp quyền 9
1.2 Các yếu tố chi phối và quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền 14
1.2.1.Các yếu tố chi phối tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền 14
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền 22
1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền 28
1 3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội 28
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Nhà nước trong việc ban hành và thực thi pháp luật 38
1.3.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật của người dân 46
Trang 5Chương 2 NÂNG CAO Ý THỨC TÔN TRỌNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT
NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 53
2.1 Ý thức chấp hành pháp luật ở nước ta hiện nay 54
2.1.1 Những kết quả đã đạt được: 54
2.1.2 Những hạn chế 60
2.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong chấp hành pháp luật ở nước ta hiện nay 68
2.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở nước ta hiện nay 74
2.2.1 Giải pháp đối với Đảng và Nhà nước, tổ chức xã hội 74
2.2.2 Giải pháp đối với cán bộ, người dân thực hiện pháp luật 82
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn trung thành với sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định: “ Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” Tư tưởng Hồ Chí Minh là mô ̣t hê ̣ thống quan điểm lý luâ ̣n chính tri ̣ toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam , là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá tri ̣ tốt đe ̣p của dân tô ̣c , tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loa ̣i Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuô ̣c đấu tranh cách ma ̣ng của nhân dân ta giành thắng lợi , là tài sản tinh thần
to lớn của Đảng và dân tô ̣c Với tầm quan tro ̣ng đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và về pháp quyền nói riêng để vận dụng vào thực tiễn Viê ̣t Nam hiê ̣n nay là vấn đề cần thiết
Bài học kinh nghiệm quan trọng hàng đầu được Đảng rút ra qua thành công và vấp váp của sự nghiệp đổi mới là phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khoa học pháp lý Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp quyền, cung cấp nhiều luận cứ khoa học phục vụ công cuộc xây dựng hoàn thiện Nhà nước và pháp luật Việt Nam Mặt khác thực tiễn của công cuộc đổi mới trong hơn 20 năm qua, cùng với việc đẩy mạnh công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa đã khẳng định yêu cầu đề cao tính tối thượng của pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay là đòi hỏi khách quan của đời sống xã hội , của lãnh đạo và quản lý Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã xác đi ̣nh : “ Tăng cường pháp chế xã hô ̣i chủ nghĩa , xây dựng
Trang 7nhà nước pháp quyền Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật , đồng thời coi trọng giáo dục , nâng cao đa ̣o đức” Như vâ ̣y, về vai trò của pháp luâ ̣t trong viê ̣c thiết lâ ̣p và ổn đi ̣nh chính tri ̣ xã hô ̣i , quản lý nhà nước trong giai đoạn hiê ̣n nay đã được Đảng ta nhâ ̣n thức hết sức sâu sắc Mỗi kiểu Nh à nước đi đôi với mô ̣t kiểu pháp quyền tương ứng với nó , vì pháp luật là sản phẩm và là
mô ̣t công cu ̣ quan tro ̣ng của Nhà nước để thực hiê ̣n chuyên chính giai cấp ; Hay nói cách khác pháp luâ ̣t làm cơ sở cho tổ chức cũng n hư hoa ̣t đô ̣ng của bản thân Nhà nước
Trên cơ sở tiếp thu các giá trị tư tưởng, văn hóa của nhân loại đặc biệt
là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về nhà nước và pháp luật, ở Hồ Chí Minh đã sớm hình thành một hệ thống quan điểm về pháp quyền; về tính tối cao của pháp luật, cũng như về vai trò của pháp luật trong tổ chức quản lý xã hội, về vai trò của người cán bộ trong việc đưa pháp luật đi vào cuộc sống…Người nhấn mạnh, thực chất của pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền, là nền pháp luật của ai? Cho ai? Vì ai? Pháp luật đúng đắn sẽ tạo nên
sự ổn định của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước vận hành đúng quỹ đạo
và người dân dễ thực hành quyền dân chủ của mình Tư tưởng của Hồ Chí Minh về pháp quyền là những điểm tựa pháp lý và nhân văn trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Với mong muốn góp phần nghiên cứu vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách nói trên chúng tôi đã chọn đề tài: “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền với việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay pháp quyền, nhà nước pháp quyền, pháp chế là những vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm, được thể hiện ở nhiều công trình, đề tài Có thể phân loại các công trình này thành hai nhóm chính như sau:
Trang 8Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về pháp quyền, nhà nước pháp quyền, ý thức tôn trọng pháp luật, pháp chế Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như:
Nguyễn Xuân Tế với công trình Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Nô ̣i dung tư tưởng
Hồ Chí Minh về pháp luâ ̣t được tác giả trình bà y trong mô ̣t phần riêng bao gồm các nô ̣i dung: Tư tưởng đề cao vai trò của pháp luâ ̣t, sự kết hợp pháp luâ ̣t
và đạo đức trong quản lý xã hội , vấn đề tiếp tu ̣c vâ ̣n du ̣ng tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luâ ̣t trong sự nghiê ̣p đổi mới ở Việt Nam
Lê Văn Hòe với công trình Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
hiến tri ̣, đức trị, Nghiên cứu Lý luâ ̣n , Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh năm 1999 Tác giả nhấn mạnh các nội dung : Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật hình thành đồng thời với quá trình Người tìm con đường cứu nước , cứu dân; tư tưởng hiến tri ̣, pháp trị của Bác Hồ mãi mãi là kim chỉ nam cho sự nghiê ̣p xây dựng nhà nước pháp quyền Viê ̣t Nam , cho công cuô ̣c xây dựng nhà nước và pháp luật thời kỳ đổi mới hiện nay…
Vũ Đình Hoè với công trình Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb
Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005 Bằng tất cả kiến thức, tài liệu, kinh nghiệm và nhiệt huyết của một công dân, một người làm luật, một người yêu nước, ông đã dẫn dắt người đọc qua những chặng đường tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng nhân nghĩa trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh Vũ Đình Hoè cũng đã phân tích được nền tảng nhân nghĩa truyền thống của dân tộc trong quá trình hình thành tư tưởng pháp quyền của Hồ Chí Minh Với tư cách là một người trong cuộc, ông dựng lại được quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, thực thi tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa của Hồ Chí Minh từ 1911 đến năm
1960
Trang 9Công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp
quyền kiểu mới ở Việt Nam của Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong, Nxb
Lao động, Hà Nội, 2003, trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam và trích các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về sự nghiệp xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền kiểu mới ở nước ta
Ngoài ra còn rất nhiều công trình khoa học, các bài báo, tạp chí nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, ví dụ như: Công trình khoa học công nghệ
nghiên cứu cấp nhà nước KXO2 Nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về
nhà nước của dân, do dân, vì dân của tập thể tác giả, chủ nhiệm là PTS
Nguyễn Đình Lộc; Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Hội đồng Trung
ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh; Chuyên đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu
mới của dân, do dân, vì dân của viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư
pháp; Phùng Văn Tửu với công trình Xây dựng, hoàn thiện nhà nước, pháp
luật của dân do dân vì dân ở Việt Nam; Trần Văn Giàu với công trình Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh; Các tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh của Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương; Một số chuyên đề về tư
tưởng Hồ Chí Minh của trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính
trị do TS Đinh Xuân Lý chủ biên
Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về ý thức tôn trọng pháp luật, về việc thực thi pháp luật ở Việt Nam trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như:
Ngô Huy Cương với công trình Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở
Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2006, đã đề cập đến những vấn đề
còn tồn tại của pháp luật ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm cải cách pháp luật ở Việt Nam trong quá trình xây dựng
Trang 10nhà nước pháp quyền, nhằm làm cho pháp luật được thực hiện và tôn trọng trong đời sống xã hội
Trần Ngọc Liêu với công trình Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về nhà nước với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia 2013, đã khái quát và làm rõ giá trị lý luận, quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước, nghiên cứu các quan niệm tiêu biểu về nhà nước pháp quyền trên thế giới và ở Việt Nam, đề xuất một số phương hướng nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn với công trình Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, đã phân tích học thuyết pháp
quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân vì dân Thông qua những phân tích và những quan điểm được đưa ra, các tác giả đã chỉ rõ đặc trưng, điều kiện xây dựng; phương hướng
và các giải pháp chủ yếu nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của người dân nước ta, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Tiến sĩ Lê Minh Quân với công trình Xây dựng Nhà nước pháp
quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 đã khái quát lịch sử tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với sự phát triển của xã hội và khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội ở nước ta hiện nay, đồng thời, tác giả còn đưa ra một số giải pháp, phương hướng cơ bản trong việc đưa pháp luật vào thực thi trong đời sống xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 11Dự án Luật phổ biến, giáo dục pháp luật trình quốc hội, tháng 10 năm 2011 Công trình đã báo cáo kết quả 10 năm thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta (1998 - 2008), đã đánh giá và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật của người dân, cũng như khả năng thực thi pháp luật trong đời sống hiện ở nước ta hiện nay
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo, bài viết liên
quan đến vấn đề thực thi pháp luật ở nước ta, ví dụ như: Đào Trí Úc với công trình Tăng cường pháp chế ,xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam,
quản lý xã hội bằng pháp luật Ts Đỗ Ngọc Hải với công trình Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động lập pháp, lập qui hiện nay ở Việt Nam Lê Đức Tiết với công trình Văn hoá pháp lý Việt Nam Nguyễn Minh
Đoan với công trình Hiệu quả của pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn Lê Minh Thông với công trình Tăng cường cơ sở pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Có thể thấy các công trình nghiên cứu đã nêu đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền, về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân do dân và vì dân, đánh giá ý thức tôn trọng pháp luật, cũng như thực trạng thực thi pháp luật của người dân ở nước ta hiện nay Những kết quả nghiên cứu của các nhóm đề tài nói trên có giá trị gợi mở và tham khảo rất hữu ích đối với chúng tôi khi triển khai đề tài luận văn của mình Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về pháp quyền và việc vận dụng tư tưởng đó với việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1.Mục tiêu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền và vận dụng những giá trị nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí
Trang 12Minh về vị trí, vai trò của pháp luật để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục tiêu nói trên, luận văn có những nhiệm vụ sau
- Một là, làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền
- Hai là, đánh giá việc thực thi pháp luật ở nước ta hiện nay, làm rõ sự cần thiết nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở nước ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
- Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền có nhiều nội dung, luận văn quan tâm tới những nội dung trọng tâm: tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền, về địa vị, vị trí, vai trò, quyền lực của pháp luật đối với nhà nước và xã hội Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền đối với việc nâng cao
ý thức tôn trọng pháp luật ở nước ta hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề lớn, phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền, về địa vị, vị trí, vai trò, quyền lực của pháp luật đối với nhà nước và xã hội Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền đối với việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở nước ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 135.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, pháp luật, vai trò của pháp luật trong tổ chức quản lý xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin và phương pháp nghiên cứu của các khoa học xã hội có liên quan, bao gồm các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa, kết hợp lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, phân tích tài liệu v.v
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu luận văn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền với việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, góp phần nâng cao nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh, về công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo và học tập cho sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm: Mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Chương 1: Tư tưỏng Hồ Chí Minh về pháp quyền
Chương 2: Nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ
Chí Minh
Trang 14Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁP QUYỀN 1.1 Khái niệm pháp quyền
Pháp quyền là một trong những vấn đề, nội dung được hình thành
và phát triển dọc theo chiều dài lịch sử của văn minh nhân loại Cho đến nay có rất nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này, tuỳ thuộc vào văn hoá chính trị, phương pháp tiếp cận và lập trường chính trị của các tác giả
Trên thế giới, ở mỗi quốc gia cách tiếp cận về vấn đề pháp quyền đều
có sự điều chỉnh, thích ứng nhất định cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước mình
Cách tiếp cận của người Anh: Albert Venn Dicey - một nhà luật gia nổi tiếng người Anh là người đầu tiên sử dụng khái niệm pháp quyền một cách rộng rãi Khi nghiên cứu về pháp quyền, A.V.Dicey đã nhấn mạnh đến một số khía cạnh: Thứ nhất, đó là sự ngự trị tuyệt đối của pháp luật như là sự hạn chế ảnh hưởng của việc sử dụng quyền lực một cách tuỳ tiện, loại bỏ hẳn tính độc đoán, các đặc quyền, và sự tuỳ nghi của các nhà cầm quyền; Ý nghĩa thứ hai của pháp quyền theo Dicey là sự bình đẳng trước pháp luật, không ai được phép vượt trên pháp luật, mỗi người ở bất cứ thứ bậc nào đều phải tuân thủ pháp luật thông thường của quốc gia Tất cả mọi người không phụ thuộc vào đẳng cấp và các điều kiện khác đều là đối tượng điều chỉnh của pháp luật Ý nghĩa thứ ba của pháp quyền là các nguyên tắc trong hiến pháp không phải là nguồn gốc mà là kết quả của những quyền cá nhân
Cách tiếp cận này của A.V.Dicey đã quan tâm đến tính thượng tôn của pháp luật, coi pháp quyền như là một phương thức để tìm kiếm sự tổ chức hợp lý của hệ thống quyền lực nhà nước Trong giai đoạn hiện nay, quan niệm pháp quyền của người Anh tiếp tục chịu ảnh hưởng của nhà kinh tế học nổi tiếng F.A.Hayek (1899-1992) Theo ông, pháp quyền là điểm khác biệt rõ rệt
Trang 15nhất giữa một đất nước tự do và một đất nước đặt dưới sự cai trị của chính phủ độc đoán Ông khẳng định mọi luật lệ đều đặt ra những hạn chế nhất định đối với quyền tự do của cá nhân, pháp quyền không chỉ là cơ chế bảo vệ mà còn là cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện quyền tự do
Cách tiếp cận của người Mỹ, John Rawls (1921 - 2002) một đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa tự do của Mỹ, nhấn mạnh pháp quyền có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với quyền tự do, các nguyên tắc của pháp quyền sẽ tạo dựng một nguyên tắc chắc chắn cho quyền tự do và là một phương tiện hiệu quả hơn cho việc tố chức các hoạt động hợp tác của xã hội John Rawls cho rằng pháp quyền đòi hỏi hệ thống pháp luật và thiết chế phải có một số đặc điểm sau: Những hành vi mà pháp luật đòi hỏi hay cấm đoán phải phù hợp với khả năng của các cá nhân; Pháp quyền đòi hỏi những vụ việc tương tự cần được xét xử một cách tương tự như nhau; Không có vi phạm nếu pháp luật chưa được ban hành; Pháp quyền đòi hỏi phải có công lý tự nhiên, nhằm đảm bảo
sự liêm chính trong quá trình xét xử
Sự phát triển của học thuyết pháp quyền đã làm cho các yếu tố cơ bản của pháp quyền ngày càng được mở rộng, giáo sư Richard H.Fallon đại học Havard trên cơ sở phân tích tổng hợp các học thuyết pháp quyền hiện đại đã khẳng định pháp quyền được công nhận khi có đủ các yếu tố: Khả năng của các chuẩn mực, quy định pháp lý trong việc hướng dẫn người dân thực hiện công việc của họ Mọi người có thể hiểu pháp luật và tuân thủ chúng; Tính hiệu lực của pháp luật; Tính ổn định; Tính tối cao của pháp luật…
Cách tiếp cận của người Trung Quốc: Truyền thống pháp trị đã có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Trung Quốc từ thời Xuân thu chiến quốc như một phương pháp tổ chức và quản lý xã hội, đối lập với phương pháp nhân trị Nội dung cơ bản và quan điểm cai trị của học thuyết là: Chỉ thừa nhận pháp luật và dùng nghiêm hình phạt, không thừa nhận đức trị, muốn cai trị đất nước ắt phải dùng pháp luật
Trang 16Có thể thấy, khái niệm pháp quyền được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, các nội dung, nguyên tắc cơ bản của pháp quyền đã không ngừng được giải thích, bổ sung và hoàn thiện theo từng giai đoạn và từng thời kỳ lịch
cơ sở các quyền được pháp luật quy định rach ròi theo luật của tự nhiên, sao cho các chủ thể sử dụng quyền của mình một cách tự do để có khả năng nâng cao hạnh phúc của mình, nhưng không được xâm phạm sang quyền của các chủ thể khác [42, tr.11]
Trong một nghiên cứu khác, Ths Bùi Ngọc Sơn cho rằng tinh thần pháp quyền có thể áp dụng cả với công quyền và xã hội công dân Pháp quyền của công quyền nói lên rằng công quyền là đối tượng chịu sự kiểm soát của pháp luật Pháp quyền của xã hội công dân nói lên rằng công dân là chủ thể sử dụng quyền lực của pháp luật để bảo vệ dân chủ, các quyền và tự do của mình [43, tr.94]
Các tranh luận về nội hàm của khái niệm pháp quyền đã phản ánh sự đa dạng, đa chiều trong nhận thức về khái niệm này tại Việt Nam Trên cơ sở kế thừa các thành quả của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chúng ta có thể thống nhất hiểu khái niệm pháp quyền với nội dung cơ
bản, đó là: Pháp quyền là quyền lực của pháp luật trong xã hội, tức là sức
mạnh của pháp luật, là sự bắt buộc thực hiện của pháp luật với toàn xã hội,
và cũng từ quyền lực của pháp luật mà quyền của con người, quyền của công
Trang 17dân được đảm bảo thực hiện tốt hơn Pháp quyền là tính chất, đặc điểm của mối quan hệ giữa nhà nước - pháp luật - xã hội Nhà nước là chủ thể sản sinh ra pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thực thi và có quyền lực trong xã hội, chỉ khi pháp luật có quyền lực trong xã hội thì xã hội
đó mới có tính pháp quyền
Pháp quyền là pháp luật về quyền Ở đây, vấn đề trước nhất và trung tâm là quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, cũng không thể thiếu quyền của nhà nước nói chung, quyền của các cơ quan lập pháp, hành pháp
và tư pháp nói riêng, song khi thực hiện những quyền này cũng cần phải vì quyền của con người, quyền của công dân, quyền của nhân dân
Như vậy, thuật ngữ pháp quyền có hai khía cạnh quan trọng đó là, quyền lực của pháp luật và pháp luật về quyền Hai khía cạnh này không thể thiếu và bổ sung cho nhau Mọi nhà nước đều sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu nhất để quản lý xã hội Về mặt lý thuyết người ta đều coi pháp luật như một đại lượng công bằng, như một phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội mạnh mẽ nhất, đóng vai trò như khuôn mẫu đo lường trong đời sống xã hội Song có pháp luật nhưng chưa chắc xã hội đó đã có pháp quyền Xã hội có quyền chỉ khi pháp luật có quyền lực trong xã hội, pháp luật phải được hiện thực hoá, có sức mạnh trong đời sống xã hội Muốn như vậy nền pháp luật đó phải là nền pháp luật tiến bộ, pháp luật phản ánh được quyền của con người và bảo vệ các quyền, lợi ích của con người, của nhân dân đây chính là điều kiện để pháp luật có quyền lực trong xã hội, đạt được hiệu lực pháp lý cao, được nhân dân tự nguyện thừa nhận và thực thi
Để có thể hiểu rõ hơn nội dung của khái niệm pháp quyền, chúng ta cần
có sự phân biệt khái niệm pháp quyền với khái niệm nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền và pháp quyền là những hiện tượng xã hội gắn bó mật thiết với nhau Khái niệm nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ xã hội được tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành
Trang 18pháp luật và được đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước và các thiết chế chính trị xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân [52, tr.152] Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và quản lý bản thân mình cũng bằng pháp luật, tuân thủ theo pháp luật, tôn trọng tính tối thượng của pháp luật, bộ máy nhà nước tự đặt mình dưới pháp luật
Pháp quyền là khái niệm để chỉ quyền lực của pháp luật, sức mạnh, tính hiệu lực của pháp luật trong nhà nước, xã hội đó Pháp quyền phản ánh tính chất, đặc điểm của mối quan hệ giữa nhà nước - pháp luật - và xã hội Trong nhà nước đó, xã hội đó pháp luật được đề cao, các cơ quan, tố chức và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật, pháp luật là công cụ chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý xã hội Nhà nước sẽ đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, phát huy sức mạnh, quyền lực của mình trên thực tế Muốn như vậy thì hệ thống pháp luật phải được hoàn chỉnh cả về nội dung, lẫn hình thức, ghi nhận và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, quyền của nhân dân
Pháp quyền cũng có sự phân biệt với pháp luật Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được nhà nước đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Pháp luật là ý chí của giai cấp nắm giữ sức mạnh kinh tế được đề lên thành luật Khi giai cấp này đồng thời là đại biểu cho toàn thể xã hội, nghĩa là sức mạnh của nó được toàn thể xã hội thừa nhận thì ý chí của nó dưới hình thức luật là pháp quyền, còn khi nó chỉ đại diện cho bản thân nó, như một bộ phận trong quan hệ đối lập với các bộ phận khác trong xã hội (nghĩa là sức mạnh của nó không được thừa nhận bởi toàn thể xã hội) thì ý chí của nó dưới hình thức luật chính là pháp luật [52, tr.163] Hay nói cách khác, nhà nước đó có pháp luật nhưng chưa có pháp quyền
Ở đây, khái niệm “pháp quyền” mà chúng ta nói đến có sự phân biệt với khái niệm “pháp trị” Pháp quyền là quyền lực của pháp luật, là pháp
Trang 19luật về quyền, còn pháp trị là cai trị bằng pháp luật, trấn áp bằng pháp luật Pháp trị có từ thời phong kiến, là học thuyết của truờng phái Pháp gia, được Hàn Phi Tử phát triển hoàn chỉnh, coi pháp luật là công cụ của nhà nước, là phương tiện để Vua cai trị dân, nhà cầm quyền sống trên pháp luật.Trái lại dưới chế độ pháp quyền không ai có thể đứng trên pháp luật, kể cả nhà nước
Pháp quyền cũng có sự phân biệt với nhân trị Đặc điểm chung nhất của nhân trị là quản trị tuỳ tiện, nhà cầm quyền thích gì, thì đó là pháp luật cần phải được dân chúng tuân thủ Trái lại trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật có tác dụng hạn chế sự tuỳ tiện của chính quyền
Trên cơ sở hiểu về khái niệm pháp quyền, đề tài đi sâu vào nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền, đó là một hệ thống các quan điểm lý luận của Người về vị trí, vai trò của pháp luật đối với nhà nước và trong đời sống xã hội Pháp luật Hồ Chí Minh nói tới là “pháp luật dân chủ”, pháp luật
về quyền con người gắn với độc lập chủ quyền dân tộc Từ đó đánh giá ý thức tôn trọng pháp luật ở nước ta hiện nay, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng
đó, và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật ở Việt Nam trong quá trình xây dựng nhà nuớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.2 Các yếu tố chi phối và quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền
1.2.1.Các yếu tố chi phối tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền
Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền được hình thành trong quá trình Người liên tục tìm tòi, phân tích, so sánh, thiết kế, thử nghiệm trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn giữa: truyền thống dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin và những tinh hoa của các nền văn minh cổ, kim, đông, tây Quá trình
đó chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm:
Một là truyền thống dân tộc: Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh Việt Nam đã tạo dựng nên truyền thống lịch sử phong phú Các yếu tố của truyền
Trang 20thống dân tộc có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền là:
Chủ nghĩa yêu nước: Quá trình chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất
nước, chống mọi sự đồng hoá của ngoại bang, bảo tồn nền văn hoá dân tộc đã hun đúc cho dân tộc ta truyền thống yêu nước, tinh thần nhân ái, đoàn kết, kiên cường bất khuất, tự lực tự cường, thông minh sáng tạo Trong đó tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, tinh thần tự lực, tự cường, được các thế hệ người Việt thể hiện trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất, mà đã phát triển thành một chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính, thành dòng tư tưởng chảy xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, trở thành đạo lý sống và là một nhân tố
cơ bản đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của người Việt Nam Hồ Chí Minh đã sớm tiếp thu tinh thần đó và trở thành một định hướng cơ bản trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Hay nói cách khác người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã được hun đúc bởi chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước ấy Người đã vượt qua bao khó khăn gian khổ để hoàn thành sứ mệnh được giao phó Chính từ thực tiễn, Người đã rút ra chân lý: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [ 30, tr.171]
Truyền thống yêu nước ấy đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Trong khoảng 10 năm sau đó ( từ 1911 đến
1920 ), Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục đặt chân đến gần 30 nước trên thế giới, làm nhiều nghề để sống và hoạt động: làm phụ bếp, đốt lò, quét tuyết, phóng ảnh, viết báo,…và rồi Nguyễn Ái Quốc trở thành người
Trang 21cộng sản Việt Nam đầu tiên, một chiến sĩ Quốc tế Bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lê nin và các giá trị tiến bộ của nhân loại Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền, chủ nghĩa yêu nước
là động lực thôi thúc Người ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc; là cơ sở tư tưởng để Người tiếp thu lý luận Mác - Lê nin về nhà nước và pháp quyền
Như vậy, chính chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc và sự bế tắc về tư tưởng, lý luận hay hệ tư tưởng của các phong trào cứu nước giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã thôi thúc Người ra đi tìm kiếm một
mô hình xã hội mới cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại và có thể phúc đáp được lợi ích của cả dân tộc Sự tìm kiếm ấy là bước khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển tư tưởng pháp quyền, tư tưởng về một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong tương lai Người viết:
“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê nin, tin theo Quốc tế thứ ba” [27, tr.128]
Tư tưởng quản lý xã hội bằng pháp luật đã được hình thành từ rất
sớm trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Hồ Chí Minh nghiên cứu sâu sắc lịch sử Việt Nam, tư tưởng xây dựng Nhà nước Việt Nam được phản ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí Lịch sử dân tộc ta cũng đã có những biểu hiện của tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật, đặc biệt là giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XIV
- XVIII Thời Lý - Trần (thế kỷ XII-XIV), các đời Vua đã coi trọng tới việc dụng pháp luật để trị nước Thời Lê - Sơ đã để lại cho chúng ta nhiều công trình, văn bản luật đã được pháp điển hoá đó là: Quốc triều hình luật Bộ luật này được ban hành vào thời Lê Thánh Tông (năm 1483- niên hiệu Hồng Đức) nên còn được gọi là bộ luật Hồng Đức Chính truyền thống này đã ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền, đó là sự vận dụng một cách sáng
Trang 22tạo và phát triển tư tưởng của cha ông ta về nhà nước và pháp luật vào điều kiện cụ thể của dân tộc
Như vậy có thể thấy rằng truyền thống dân tộc có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền, góp phần hình thành nên pháp quyền nhân nghĩa ở Hồ Chí Minh, một thứ nhân nghĩa có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc Tư tưởng pháp quyền của Người không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong các văn bản pháp luật mà còn thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho ấm
no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam
Hai là, tinh hoa văn hóa nhân loại: Ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Tất
Thành đã ham học hỏi, thích tìm hiểu nghiên cứu Trên bước đường cứu nước, Người đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng những tinh hoa triết học, văn hóa Đông - Tây - Kim cổ, như những dòng suối trong lành hợp thành dòng hải lưu vĩ đại Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng và tiếp thu các tư tưởng chính trị - pháp lý tiến bộ
Tư tưởng chính trị - pháp lý tiến bộ phương Đông, nhất là các học thuyết sau: Học thuyết đức trị của Khổng Tử: Khổng Tử - ông tổ của Nho
giáo (551-479 trước CN) là nhà tư tưởng lớn nhất của Trung Quốc cổ đại, ông
đã xây dựng học thuyết Nho giáo với nội dung đức trị, đề cao “nhân” và “lễ”, lấy nhân ái mà trị quốc và khuyên dạy người ta làm những điều hợp với lễ nghĩa, cư xử đúng đạo lý trong “tam cương, ngũ luân” Từ nhỏ, Hồ Chí Minh
đã được học tập, tiếp thu triết lý và đạo đức Khổng - Mạnh Khác với các nhà nho yêu nước, Hồ Chí Minh tiếp thu học thuyết đức trị của Khổng Tử trên lập trường mác xít Người khẳng định: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, [19, tr.43] Học thuyết đức trị của Khổng Tử đóng vai trò là cơ sở lý luận của quan điểm kết hợp pháp luật và đạo đức trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền
Trang 23Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn: Lúc thiếu thời Nguyễn Tất
Thành đã từng được nghe những từ “dân sinh”, “dân quyền”, “dân quốc ”,
do các nhà nho nói đến trong khi đàm luận với thân phụ Người - cụ Nguyễn Sinh Sắc Nhưng có lẽ phải sau khi về tới Quảng Châu - trung tâm cách mạng
tư sản ở Trung Quốc lúc bấy giờ, Người mới có điều kiện tiếp xúc với chủ nghĩa Tam dân mới Tôn Trung Sơn là nhà cách mạng dân chủ tư sản, lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) Tinh thần cách mạng của thuyết Tam Dân thể hiện ở ba mục tiêu: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Nghiên cứu thuyết Tam Dân, Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa Tôn
Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta [9,
tr 43] Các nhà nghiên cứu cho rằng các tiêu chí của thuyết Tam Dân “đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” [3, tr 26] Phát biểu tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người nhấn mạnh: Chính phủ cố gắng làm theo đúng
ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc” [21, tr 440] Như vậy có thể
thấy, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã có ảnh hưởng đến tư tưởng của Hồ Chí Minh về pháp quyền, Người quan niệm về nền pháp luật tiến bộ
để quản lý xã hội đó phải là một nền pháp luật vì quyền dân tộc, quyền dân sinh, vì quyền con người
Các tư tưởng chính trị - pháp lý tư sản, Hồ Chủ Minh tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của các học thuyết này Chủ tịch Hồ Chí Minh không
xa lạ với những tác phẩm kinh điển về Nhà nước pháp quyền như “ Khế ước
xã hội” của Rousseau, “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu Bác Hồ cũng
đã trực tiếp tiếp xúc với những nhà nước áp dụng các nguyên lý của pháp quyền ở phương Tây lúc đó như Anh, Pháp, Mỹ Đây chính là nguồn để Bác
Hồ chắt lọc thành những tư tưởng độc đáo của mình về pháp quyền phù hợp với điều kiện của Việt Nam Là thành quả lý luận của cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản đang thắng thế với giai cấp phong kiến chuyên chế đã lỗi thời và
Trang 24lạc hậu, các tư tưởng chính trị - pháp lý tư sản là một nấc thang tiến bộ vượt bậc của tư tưởng nhân loại Với nhiệm vụ giải phóng con người khỏi tình trạng vô quyền do chế độ phong kiến áp đặt, xây dựng một chế độ xã hội mới theo nguyên tắc xác lập sự bình đẳng về pháp quyền, các tư tưởng chính trị - pháp lý tư sản đã xác lập một hệ thống quan điểm lý luận với giá trị tiến bộ và
sức lan tỏa rất mạnh mẽ
Các lý thuyết về tổ chức nhà nước và thực tiễn tổ chức nhà nước ở các quốc gia hiện đại có ảnh hưởng nhất định đến quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm kiếm một mô hình tổ chức nhà nước phù hợp cho Việt Nam Hồ Chí Minh
đã tiếp thu, phát triển và hiện thực hóa những giá trị tiến bộ của các tư tưởng pháp lý tư sản, điều mà tác giả của các tư tưởng đó chưa làm được Mặt khác,
từ thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã phê phán nghiêm khắc chế độ pháp luật thực dân, thuộc địa phản động, qua đó củng cố ý tưởng về một chế độ xã
hội mới dân chủ, tiến bộ, thống nhất trong bản chất và trong thực tiễn
Những điều trên cho thấy, trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và kế thừa có chọn lọc những di sản quý báu của văn hóa nhân loại, đồng thời nâng nó lên một tầm cao mới trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Thứ ba: Lý luận Mác - Lênin, đây là yếu tố quyết định chi phối nội dung và bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền
Thành công của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 và mô hình nhà nước, pháp luật Xô Viết chứng minh tính khoa học, cách mạng của lý luận Mác, Lê - Nin về nhà nước, là yếu tố có tính chất quyết định, chi phối mạnh mẽ và sâu sắc đến tư tưởng và hành động của các nhà hoạt động chính trị - xã hội đương thời, trong đó có Hồ Chí Minh Sau này Người viết : “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lê nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
Trang 25và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ [27, tr.128]
Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Mác xít, Hồ Chí Minh tổng kết các tư tưởng, học thuyết giải phóng xã hội Người khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê nin” [19, tr.268] Đó là cái cần nhất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của dân tộc ta và nhân dân ta
Từ sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc, sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam theo những nguyên tắc của lý luận Mác - Lê nin, được thể hiện đậm nét trong Tuyên ngôn độc lập, trong bản Hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta - Hiến pháp năm 1946 Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ tư: Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
Yếu tố quan trọng chi phối quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về pháp quyền Từ thực tiễn thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đi tới ý tưởng về một đường lối cứu nước phù hợp thực tiễn Việt Nam Vì vậy, Người từ chối lời mời sang Nhật Bản của Phan Bội Châu, bôn ba khắp các nước phương Tây và các thuộc địa, để - như Người nói: Xem những bí ẩn đằng sau những chữ ấy (Tự do, Bình đẳng, Bác ái) Người rút ra kết luận: Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng tư sản
Những năm tháng sống và làm việc ở nước Nga Xô viết giúp Người nhận thức con đường cách mạng đúng đắn cho các dân tộc thuộc địa và áp bức:
Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, ấm no trên quả đất… Xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là
Trang 26những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau
và yêu thương nhau [18, tr.461]
Thực tiễn phong phú của thời đại và cuộc đời hoạt động cách mạng của
Hồ Chí Minh có ý nghĩa quyết định quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền Từ đó, Người đã thấy được việc điều hành xã hội bằng pháp luật là một phương thức rất dân chủ, tiến bộ và là một
biểu hiện cao nhất của một xã hội hiện đại
Thứ năm: Thiên tài và bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh Tư tưởng là sản
phẩm của con người, là mặt hoạt động tinh thần, ý thức của con người, do con người sáng tạo ra trên cơ sở những nhân tố khách quan và chủ quan nhất định
Do đó tư tưởng còn phụ thuộc vào các yếu tố của trí tuệ, phẩm chất tinh thần của con người đã sản sinh ra nó, như tư chất, tính cách, bản lĩnh, tình cảm, tư
duy…
Có thể nói ở Hồ Chí Minh hội tụ phẩm chất chính trị và phẩm chất cá nhân tiêu biểu, đặc sắc nhất của con người Hồ Chí Minh có những phẩm chất đặc biệt: tư chất thông minh, sắc sảo, nhạy bén với cái mới, ham học hỏi; tư duy độc lập sáng tạo; trí tuệ uyên bác, kiến thức sâu rộng; sử dụng thông thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài, do đó có điều kiện tiếp xúc và lĩnh hội tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới
Với tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã vượt trước các nhà yêu nước Việt Nam trong việc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Theo các nhà khoa học Việt Nam:
Ý tưởng không đi sang Nhật mà lại hướng sang các nước Tây Âu của
Nguyễn Tất Thành lúc đó là một chuyển biến tư tưởng hợp thời đại Lịch sử đặt ra yêu cầu mới và Nguyễn Tất Thành là người hiện thực hóa nó bằng tư chất trí tuệ và mẫn cảm chính trị đặc biệt của mình [30, tr 39]
Bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh làm nên “chất thép” của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền Người luôn luôn kiên định, nhất quán lập trường,
Trang 27quan điểm của mình ngay cả những lúc cuộc sống và sinh mệnh chính trị bị
đe dọa, thử thách bởi sự cô lập của Quốc tế cộng sản những năm 1930 - 1938, trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch năm 1942 - 1943, trước hiểm họa thù trong, giặc ngoài muốn diệt Cộng, cầm Hồ” những năm 1945 - 1946…
Với bản lĩnh đó, Người trực tiếp thiết kế mô hình và chỉ đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, đúng như V.I.Lê nin nhận định: bản lĩnh chính trị của những người cộng sản chân chính giữ vai trò quyết định sự thành công của chính quyền cách mạng, rằng “Chỉ giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước ngoặt khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có
thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột [45, tr.256]
Bằng thiên tài và bản lĩnh chính trị của mình, Hồ Chí Minh đã kế thừa
và phát triển tinh hoa tư tưởng chính trị - pháp lý của dân tộc, nhân loại lên một tầm cao mới, thể hiện tập trung trong nội dung tư tưởng pháp quyền của
Giai đoạn từ thời thiếu niên đến trước ngày Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước cho dân tộc
Trong giai đoạn này Hồ Chí Minh từ lòng yêu nước đã quyết định đi sang phương Tây tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Lòng yêu nước nồng nàn của Hồ Chí Minh đã được hình thành từ rất sớm, từ truyền thống và
sự dạy dỗ của gia đình và nhà trường, qua các phong trào yêu nước mà Người được nghe kể lại, được chứng kiến hoặc trực tiếp tham gia, như phong trào
Trang 28biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 Bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh là khi Người được tiếp xúc với tư tưởng của các nhà cải cách Việt Nam, với nền văn minh phương Tây Theo nhà sử học Đỗ Quang Hưng, khi học ở Huế Hồ Chí Minh đã đọc Tân Thư,… đọc sách của Nguyễn Trường Tộ với những điều trần cải cách mong cứu vãn đất nước, [14, tr.30] Đặc biệt, tư tưởng về “tự do, bình đẳng, bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp đã khiến Hồ Chí Minh hướng suy nghĩ và hành động của Người theo một hướng đi mới, hoàn toàn xa lạ với những tư tưởng của các nhà cách mạng Việt Nam đương thời, như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… Sau này Hồ Chí Minh kể lại:
Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái,… và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy… Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài [18, tr 477] Với sự kiện ra đi tìm đường cứu nước ngày 05-6-1911, Hồ Chí Minh đồng thời đã manh nha tư tưởng mới về pháp quyền, đi tìm con đường cứu nước đúng đắn cũng đồng thời là việc tìm kiếm mô hình nhà nước và pháp quyền mới cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước
Giai đoạn từ 05/6/1911 đến năm 1930:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền dược phát triển đánh dấu bằng những mốc son trong quá trình hoạt động của Người Với khát vọng cháy bỏng cứu nước, cứu dân từ năm 1911đến năm 1923, Hồ Chí Minh đã đi khắp các nước Anh, Pháp, Mỹ và các xứ thuộc địa thực hiện một cuộc khảo sát lớn chủ nghĩa thực dân, đế quốc Hồ Chí Minh kể: đi đến đâu cũng thấy sự áp bức, bóc lột, thấy một thiểu số xã hội áp bức dã man những người cùng khốn,
cả ở chính quốc và cả ở các xứ thuộc địa Trên cơ sở thực tiễn đó, và bằng việc nghiên cứu sâu sắc những tư tưởng chính trị - pháp lý tư sản Hồ Chí Minh đã tiến hành hai cuộc phê phán mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc chế độ
Trang 29cai trị thuộc địa và chế độ nhà nước, pháp luật tư sản
Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp - sự lên án một Nhà nước phi
pháp quyền của thực dân pháp ở Việt Nam Trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã bóc trần cái gọi là “khai hoá văn minh” của chế độ cai trị thực dân Pháp, vạch trần tính chất phản động, dã man bất chấp pháp luật của chế độ thuộc địa Người khẳng định ở đâu chủ nghĩa thực dân cũng đều biến người dân thuộc địa thành nô lệ, không có quyền sống, quyền được pháp luật bảo
hộ Công lý được đề cao trong các cương lĩnh của các cuộc cách mạng tư sản chỉ là giả hiệu, lừa dân Bản chất tuỳ tiện, chuyên chế của cách thức cai trị thực dân cũng bị vạch trần trước nhãn quan chính trị sắc bén của Người: Ở các tỉnh, người bản xứ bị trói tay trói chân, phải gánh chịu thói tuỳ hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp và thói tham tán của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn của chúng, bọn quan lại, sản phẩm của chế độ mới Ấy là công lý bị bán đứt cho kẻ nào mua đắt nhất, trả hời nhất [18, trg.8]
Với sự phủ nhận chính quyền của thực dân pháp ở Việt Nam, có thể thấy rằng Nguyễn Ái Quốc không chấp nhận một chính quyền phi pháp trên đất nước ta Lúc này, trong tư tưởng của Người, Việt Nam phải được độc lập
và có chủ quyền, mô hình tổ chức nhà nước Việt Nam trong tương lai phải là một mô hình chính diện đối lập với mô hình phản diện của chính quyền thuộc địa, một chính quyền theo các nguyên tắc của pháp quyền
Trước sự cai trị độc đoán, tuỳ tiện của chính quyền thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sự cần thiết của các đạo luật trong một xã hội dân chủ Trong Bản yêu ách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Versailles vào đầu năm 1919 do Người khởi thảo gồm tám điểm, trong đó điểm thứ hai là: Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người dân bản xứ cũng đựơc quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu Châu Và điểm thứ bảy là: thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật [18, tr 435-436] Những yêu sách nói trên đã phản ánh tư tưởng của Hồ
Trang 30Chí Minh về sự cần thiết của pháp quyền và Hiến pháp Người đã sớm nhận
ra mối tương quan giữa hiến pháp và pháp quyền Có hiến pháp mới có pháp quyền, do đó yêu cầu về hiến pháp cũng có nghĩa là yêu cầu về pháp quyền
Yêu cầu của Hồ Chí Minh về việc cai trị bằng các đạo luật cũng chính
là yêu cầu về pháp quyền Trong một chế độ pháp quyền, người dân phải được sinh hoạt dưới những đạo luật do những dân biểu của mình biểu quyết Những đạo luật sẽ không cho phép công quyền tuỳ tiện can thiệp vào tự do của công dân và sẽ cho phép công dân sử dụng các đạo luật đó
để bảo vệ mình
Mặt khác, trong cuộc đấu tranh kiên quyết chống chế độ nhà nước, pháp luật tư sản và chế độ thuộc địa tàn bạo, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê nin Hoàn toàn tin theo chủ nghĩa Mác - Lê nin, Người tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp, bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba Đó là những sự kiện đánh dấu sự thay đổi về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền Hồ Chí Minh viết: Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lê nin, tin theo Quốc tế thứ ba” [27, tr.127] Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê nin và Cách mạng tháng Mười Nga là hệ tư tưởng và con đường của cách mạng Việt Nam
Trải qua mười năm nghiên cứu, học tập, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin (1920-1929), đầu năm 1930, Hồ Chí Minh đã đưa ra những phác thảo đầu tiên về mô hình nhà nước và pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, Hồ Chí sinh khẳng định:
Con đường cách mạng Việt Nam là “Làm tư sản dân quyền cách mạng
và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản: [26, tr.1]
Về nhà nước: “Thành lập Chính phủ công nông binh” [26.tr10]
Về pháp luật: “Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân” [26.tr.10]
Trang 31Với những phác thảo bước đầu nêu trên, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền đã có sự định hình những nét cơ bản nhất, đúng như nhận định của Đảng ta: “Với Cương lĩnh đó, những nét lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành”[38, tr 1- 2]
Giai đoạn từ 1931 đến 1945:
Đây là giai đoạn Hồ Chí Minh kiên định tư tưởng pháp quyền của Người trước những khó khăn, thử thách ; Giai đoạn hiện thực hóa và làm phong phú tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền bằng việc thành lập những hình thức tiền thân của nhà nước kiểu mới ở Việt Nam Những phác thảo của
Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề nhà nước và pháp quyền đã bị Quốc tế cộng sản phê phán gay gắt và chỉ đạo những người cộng sản Việt Nam tiến hành phê phán Hồ Chí Minh Đứng trước những khó khăn, thử thách đó, Hồ Chí Minh vẫn kiên định tư tưởng của Người
Từ năm 1941 cách mạng Việt Nam bước vào cao trào kháng Nhật, cứu quốc Thời cơ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đến gần Trong bối cảnh đó,
Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương thành lập những hình thức tiền thân của nhà nước để sau khi giành được chính quyền sẽ trở thành chính thức Tháng 5-1941, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, Hồ Chí Minh
và Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Hình thức tiền thân của pháp quyền kiểu mới mà Hồ Chí Minh phác họa được thể hiện trong Chương trình Việt Minh Các tác giả cuốn Danh nhân Hồ Chí Minh khẳng định: “Chương trình Việt Minh có thể coi là cơ sở xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta” [13, tr.191]
Trang 32Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1969:
Giai đoạn này, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền được bổ sung và phát triển trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và từ sự chỉ đạo trực tiếp
sự nghiệp xây dựng nền pháp quyền ở Việt Nam Đây là giai đoạn cách mạng
Việt Nam trải qua ba thời kỳ với tính chất và nhiệm vụ khác nhau - thời kỳ l945-1946, là thời kỳ chống thù trong, giặc ngoài; thời kỳ 1946-1954, là thời
kỳ kháng chiến chống Pháp, và thời kỳ 1954-1975, là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra trang lịch sử mới của đất nước
và dân tộc Việt Nam Ngày 2/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập
do chính Người soạn thảo, khẳng định và tuyên bố quyền độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ của nhân dân, thành lập xây dựng chế độ Nhà nước và pháp luật dân chủ ở Việt Nam Chính bản Tuyên ngôn độc lập là cơ sở của Hiến Pháp đầu tiên ở Việt Nam, đặt nền móng cho nền lập hiến Việt Nam
Tư tưởng pháp quyền của Hồ Chí Minh được phát triển thêm một bước trong Sắc lệnh số 72 ngày 18-6-1949, quyết định xây dựng các bộ luật mới cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nội dung của Sắc lệnh số 72 cho thấy
Hồ Chí Minh đã chủ trương nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng các đạo luật, hạn chế sử dụng (ban hành) các văn bản dưới luật Đạo luật đầu tiên được ban hành theo tinh thần Sắc lệnh số 72 là luật thuế trực thu gồm có 9 chương, 125 điều, được áp dụng từ tháng 1-1950
Quyền tự do dân chủ của nhân dân được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Năm l957, Người ký ban hành các đạo luật về chế độ báo chí; về quyền tự do hội họp, quyền lập hội; quyền tự
do thân thể, quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân Các đạo luật này là sự cụ thể, chi tiết hóa các quyền cơ bản của công dân quy định trong Hiến pháp 1946 Trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I, Người nêu lên những nguyên tắc cơ bản
Trang 33của hoạt động xây dựng pháp luật Người nhấn mạnh Hiến pháp 1959 là Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu xây dựng nhà nước của nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp 1959 cùng các đạo luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân,
Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Toàn bộ bộ máy nhà nước nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và Luật Ngoài ra Quốc hội còn ban hành Luật công đoàn, Luật Hôn nhân và Gia
đình, Luật Nghĩa vụ quân sự…
Hình thành từ đòi hỏi của lịch sử, khi dân tộc Việt Nam còn đang trong đêm trường nô lệ; phát triển gắn với thực tiễn hoạt động chính trị - xã hội phong phú trên trường quốc tế, đầy biến cố và phức tạp; được bổ sung và hoàn thiện gắn với thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền vừa là sự lựa chọn đúng đắn và sáng suốt phù hợp thực tiễn Việt Nam, vừa phản ánh xu thế phát triển phù hợp của những tư tưởng tiến bộ của nhân loại
1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền
1 3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, đó là công cụ quyền lực của quản lý nhà nước, là phương tiện thể hiện đường lối chính sách của Nhà nước, thể chế hoá và bảo vệ quyền làm chủ của giai cấp
Để thực hiện được vai trò đó của pháp luật cần phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế, phát huy được sức mạnh, quyền lực của pháp luật trong đời sống xã hội, mỗi người dân hiểu và tự giác, tự nguyện thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp
Trang 34Từ những ngày đầu của cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước của
mình, Hồ Chí Minh đã nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng của pháp
luật trong điều hành và quản lý xã hội của Nhà nước Người chỉ rõ luật pháp
là yêu cầu cần thiết và cực kỳ quan trọng cho mỗi quốc gia Không có luật, thiếu luật xã hội dễ hỗn loạn, khó xử khi có vấn đề nảy sinh từ thực tế Khi luật được ban hành, Nhà nước phải tố chức triển khai phổ biến cho toàn dân học tập để mọi người hiểu biết và thực hiện Người khẳng định pháp luật có được vai trò quan trọng đó bởi vì pháp luật là đại lượng phân biệt đúng, sai, lợi, hại, là chuẩn mực của hành vi để nhân dân biết và thực hành những việc làm, những điều nên tránh Hồ Chí Minh cho rằng, hiệu lực của pháp luật chỉ
có được khi mọi người đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạm pháp luật được thực thi trong quan hệ xã hội và mọi hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý Người đặc biệt quan tâm đến tính nghiêm minh của việc thưởng phạt: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [21, tr.163]
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, muốn pháp luật nghiêm minh và phát huy hiệu lực thì cần có các điều kiện sau: Pháp luật phải đúng và phải đủ Pháp luật đúng là pháp luật phản ánh trung thành bản chất các quan hệ xã hội khách quan, tiếp cận đến chân lý, mà chân lý là tất cả những gì phù hợp với lợi ích của nhân dân Còn pháp luật đủ là phải có tính đồng bộ, bao quát được các mặt, các loại quan hệ và các lĩnh vực của đời sống xã hội Pháp luật phải đến được với người dân Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm chỉ đạo để đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế, tạo cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành Người cán bộ trực tiếp thi hành pháp luật phải thật sự công tâm và nghiêm minh Hồ Chí Minh chỉ rõ, cán bộ làm công tác tư pháp - những người đại diện cho cán cân công lý có vai trò rất quan trọng trọng việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật
Trang 35Hồ Chí Minh cũng chính là tấm gương sáng, mẫu mực trong việc thực thi pháp luật Đối với những ai cố tình lợi dụng chức vụ và quyền hạn để vi phạm pháp luật hoặc xử lý không đúng và không nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và của Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nghiêm minh của pháp luật là hết sức rõ ràng
và dứt khoát: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ
ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”
Trước khi có Hiến pháp, Người quan niệm một xã hội không thể sống một ngày không có pháp luật, cho nên Người đã ký Sắc lệnh giữ lại mọi luật
lệ của chế độ cũ, chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do Đồng thời, Người ký một loạt sắc lệnh cấp bách: Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân, Sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, Sắc lệnh tổ chức Tòa án độc lập với Hành chính…Đó là nền tảng trước mắt và lâu dài cho một Nhà nước pháp quyền
Theo các nhà kinh điển mác xít, nhà nước và pháp luật là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giữ cho cuộc đấu tranh đó không đi đến chỗ diệt vong Nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị bao giờ cũng tìm cách áp đặt ý chí của giai cấp mình buộc các giai cấp bị trị phải thừa nhận, phục tùng; phương tiện hữu hiệu nhất để thực hiện mục đích đó là pháp luật Trong các kiểu pháp luật bóc lột, nội dung của pháp luật luôn thể hiện bản chất của thiểu số giai cấp thống trị Hồ Chí Minh khẳng định: Luật pháp cũ là
ý chí của thực dân Pháp, không phải là ý chí chung của toàn thể nhân dân ta [47, tr.185] Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã
hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể
nhân dân [47, tr.185]
Trang 36Người nêu dẫn chứng: Pháp luật phong kiến thiết lập và duy trị trật tự
xã hội đẳng cấp bằng cách đặt ra và bảo vệ các đặc quyền phong kiến là tôn vua, kính thầy, hiếu với cha Vua được coi là con trời, thiêng liêng và tôn kính nhất, cho nên những hình phạt nặng nhất của pháp luật phong kiến luôn được
áp dụng đối với các tội xâm phạm đến vua và hoàng tộc:
Trong luật Gia Long cũ của nước ta, có một điều quy định rằng kẻ nào chạy qua đường khi vua đi qua là phạm tội.Tội ấy là tội phạm tất (phạm vào đầu gối của vua) và người phạm tội phải bị chém Phạm vào người vú nuôi của vua thì không bị chém nhưng cũng bị tù Các sĩ tử đi thi mà phạm huý, nghĩa là không biết kiêng tên họ hàng nhà vua là bị trượt, không được đỗ ông cống, ông nghè [47,tr 186]
Đối với pháp luật tư sản, Người chỉ rõ trật tự xã hội do pháp luật tư sản thiết lập chỉ là tự do, bình đẳng hình thức, trên thực tế pháp luật tư sản chỉ bảo
vệ quyền lợi của giai cấp tư sản, bởi vì: Trong xã hội tư sản, người công nhân
và nhân dân lao động bị bóc lột nặng nề, đời sống không được bảo đảm, thất nghiệp, đói, rách, bệnh tật Như vậy thì họ làm gì có tự do, họ có thể nào bình đẳng với bọn tư bản được Họ chỉ có thể tự do bán sức lao động cho bọn tư bản tự do bóc lột họ [47, tr.186]
Từ đó Hồ Chí Minh khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ,
phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế Nhà nước ta cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người
Năm 1919, trong “Bản yêu sách của dân An Nam” gửi đến Hội nghị Versailles, hội nghị các nước đồng minh thắng trận trong thế chiến I đẫm máu
để ăn chia thuộc địa, bắt các nước thua trận bồi thường, ngoài sáu điểm đòi
Trang 37các quyền tự do dân chủ… yêu sách thứ 7 được Người đề ra là pháp quyền, với các nội dung đòi cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, dành cho người bản
xứ cũng được hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như mọi người Châu
Âu, và đặc biệt đòi thay chế độ cai trị bằng các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật Trước sự kiện này các thế lực thực dân phản ứng điên cuồng Có thể thấy, Bản yêu sách đã thể hiện rõ ý thức đề cao, khẳng định vị trí cũng như tầm quan trọng của pháp luật và đặc biệt của các đạo luật trong đời sống của một dân tộc, một xã hội Hơn nữa, khi đề cập đến việc thay các sắc lệnh bằng các đạo luật, yêu sách thứ bảy này như không trực tiếp nói đến các sắc lệnh, các đạo luật mà thể hiện một cách nhìn nhận vấn đề một cách cơ bản, đi vào thực chất hơn: đó là cần thiết phải thay phương thức ra các sắc lệnh bằng phương thức làm ra các đạo luật Ở đây có thể thấy, Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề thay đổi thể chế nhà nước bằng con đường dân chủ hoá một cách cơ bản thể chế nhà nước Như vậy, Bản yêu sách đã thể hiện một định hướng chính trị sâu sắc, mạnh mẽ theo tinh thần dân chủ, pháp quyền
Ba năm sau, năm 1922, Nguyễn Ái Quốc lại cho truyền bá rộng rãi trong kiều bào và qua họ chuyển về nước bản “Việt Nam yêu cầu ca”, chuyển thể nội dung Bản yêu sách thành những vần ca dao dễ đọc, dễ nhớ và yêu sách thứ 7 đã chuyển thành hai câu thơ lục bát: “ Bảy xin Hiến pháp ban hành Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” Diễn đạt dưới hình thức một câu ca dao tám chữ, vấn đề đặt ra có vẻ thật nôm na, giản dị, nhưng đi vào nội dung thực chất có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã tìm được cách thức bình dân, gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân, đã thể hiện một cách thật đặc sắc cái cốt lõi, tinh tuý tư tưởng về pháp quyền của Người, đó là tinh thần thượng tôn pháp luật mà trước hết là thượng tôn Hiến pháp Cho đến nay, qua các tư liệu lịch sử có được, có thể nói, đây là lần đầu tiên trong văn học sử Việt Nam xuất hiện khái niệm “ pháp quyền” ở đây lại được nâng lên thành “thần linh” - một khái niệm linh thiêng, làm nổi bật ý nghĩa tính chất “ pháp quyền”, nổi bật ý nghĩa, vai trò của pháp luật, của Hiến pháp trong đời sống xã hội
Trang 38Có ý kiến cho rằng, “thần linh pháp quyền” ở đây chính là “pháp luật của tạo hoá”, còn được gọi là pháp luật tự nhiên Pháp quyền gần với pháp luật của tạo hoá là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái gọi là “thần linh pháp quyền” Pháp luật có quyền lực ràng buộc nhà nước và xã hội vì nó hấp thụ sức mạnh từ luật tự nhiên Chí khi nào pháp luật của con người gần với luật tự nhiên thì mới là một thứ pháp luật cần thiết cho pháp quyền và mới có công năng kiểm soát xã hội Luật tự nhiên là mô thức tự nhiên của xã hội loài người Điều đáng nói ở đây, là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu nhà nước phải theo chế độ pháp quyền Người yêu cầu “pháp quyền” đối với
“trăm điều” - tức là mọi quan hệ xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống, đều chịu
sự chi phối của pháp luật Pháp luật phải ngấm vào mọi mặt của đời sống xã hội Pháp luật cũng chính là cơ sở bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân Thực chất, Người yêu cầu về một nền pháp quyền đối với toàn xã hội, “ trăm điều” trong đời sống xã hội đều phải có
“pháp quyền” Tinh thần pháp quyền có thể được ứng dụng đối với cả đời
sống công quyền lẫn trong xã hội công dân Pháp quyền trong xã hội công
dân có thể hiểu là công dân là chủ thể sử dụng quyền lực của pháp luật để bảo
vệ các quyền và tự do của mình Đối với pháp quyền của công quyền thì công quyền là đối tượng kiểm soát của pháp luật
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền trước hết được thể hiện ở quan điểm Người nhấn mạnh đến vai trò thống trị của pháp luật trong
xã hội và nguồn gốc quyền lực này của pháp luật chính là luật tự nhiên Luật
tự nhiên ở đây chính là đạo lý, chính nghĩa, các quyền và lợi ích chính đáng của con người được Hồ Chí Minh đánh giá là cao quý và thiêng liêng nên Người gọi là “thần linh”
Có thể thấy, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng về một nền chính trị, một chế độ nhà nước mà trong đó, tinh thần pháp quyền thấm sâu vào tất cả mọi mặt của đời sống xã hội Một nhà nước pháp quyền như vậy
Trang 39phải được tổ chức và vận hành dựa trên một hiến pháp dân chủ, được xây dựng và thông qua bởi quốc hội là những “nghị viên” đại diện cho nhân dân
Trong quan điểm của Người về vị trí, vai trò của pháp luật trong quản
lý xã hội, Người cũng chỉ rõ: Pháp luật kiểm soát công quyền trước tiên, trực tiếp, và chủ yếu là hiến pháp Hiến pháp là một văn bản tổ chức chính quyền Hiến pháp ấn định những khuôn khổ cho hành vi của công quyền Chính vì vậy, hiến pháp được quan niệm như một sợi dây xích đối với quyền lực nhà nước để chống sự lạm dụng quyền lực Hiến pháp cũng là công cụ quan trọng nhất để xác lập và phân định các quyền Vì vậy hiến pháp được coi là linh hồn của pháp quyền
Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã lập tức yêu cầu xây dựng Hiến pháp và chính Người đã chủ trì soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc theo đúng tinh thần của một hiến pháp dân chủ Trong bối cảnh vận mệnh của Tổ quốc, của nền độc lập dân tộc vừa mới giành được đang ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, một trong những nhiệm vụ cấp bách được đề ra tại phiên họp đầu tiên của chính phủ là xây dựng cho được một bản Hiến pháp Qua quá trình dự thảo và chỉnh lý, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 9/11/1946 với sự nhất trí của 240/242 đại biểu dự họp Hiến pháp 1946 là bản văn thấm đẫm tư tưởng pháp quyền của Người Hiến pháp 1946 đã thực sự do một quốc hội lập hiến thông qua, quốc hội được bầu ngày 6/1/1946 chính là một Quốc hội lập hiến Điều này thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lập hiến thuộc về nhân dân và lập hiến bằng con đường Quốc hội lập hiến.Tư tưởng trên của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong Lời nói đầu của Hiến pháp 1946: “ Chủ thể của quyền lập hiến ở đây là quốc dân Quốc hội là chủ thể được quốc dân bầu ra để đại diện quốc dân thực hiện quyền lập hiến”.Trong Hiến pháp 1946, ta thấy có sự phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp Hiến pháp năm 1946 cũng thể hiện
Trang 40tinh thần hiến pháp dân chủ ở chỗ, việc sửa đổi hiến pháp cũng phải được quyết định bởi nhân dân
Hiến pháp 1946 đã ghi nhận và bảo đảm các quyền của ngưòi dân, bảo
vệ quyền con người, quyền của người dân, xác định quyền làm chủ xã hội của ngưòi dân Trong hiến pháp có nhiều chương, nhiều điều thể hiện rõ tinh thần
đó Điều 10 của Hiến pháp quy định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: “ Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”…
Không chỉ coi trọng việc xây dựng Hiến pháp dân chủ làm nền tảng pháp lý cho chế độ chính trị, cho Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh còn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng hệ thống các văn bản luật làm công cụ tổ chức, quản lý và điều hành xã hội, hình thành lên một hệ thống pháp luật về
tổ chức và hoạt động của nhà nước hết sức chặt chẽ Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Hồ Chí Minh phê phán tình trạng sử dụng quyền lực nhà nước một cách tùy tiện của các “quan cai trị” gây bao nỗi thống khổ cho người dân Với quan điểm “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”, Hồ Chí Minh khẳng định: Bất kỳ ý kiến nào về các vấn đề quốc sách và quốc thể của Việt Nam sau khi độc lập, đều phải do sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam
sau khi độc lập quyết định, đều phải giải quyết thông qua việc bỏ phiếu rộng
rãi của công dân” [16, tr.197] Sau này, khi cách mạng Tháng Tám thành
công, cùng với việc khẳng định “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, khẳng định nguyên tắc mọi quyền bình trong nước đều thuộc về nhân dân, Hiến pháp năm 1946 đã quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hết sức chặt chẽ:
- Quyền lực của nghị viện do nhân dân trao cho một cách có tổ chức, dân chủ thông qua đầu phiếu phổ thông;
- Nghị viện quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia nhưng nhân dân có quyền phúc quyết về các vấn đề đó