1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

208 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ tình hình thực tiễn của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng gi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ PHÚC AN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ PHÚC AN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Trang 3

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường xã hội chủ nghĩa… ……… 51

1.2.1 Chủ nghĩa xã hội - xu thế phát triển của nhân loại………… 51 1.2.2 Chủ nghĩa xã hội – con đường cứu nước và mục tiêu phát triển dân tộc của Hồ Chí Minh ……… 62

Trang 4

Tiểu kết chương 2……… 134

Chương 3: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ……… 136

3.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thời kỳ trước đổi mới ……… 136

3.1.1 Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III – 1960………136

3.1.2 Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV và sự điều chỉnh của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V……… 140

3.2 Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) … 149

3.2.1 Về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội……… 149

3.2.2 Về bước đi xây dựng chủ nghĩa xã hội……… 158

3.2.3 Về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ……… 162

3.3 Khái quát những chuyển biến trong nhận thức của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh ………… 167

3.3.1 Trong lĩnh vực kinh tế ………168

3.3.2 Trong lĩnh vực chính trị, xã hội ……… 177

Tiểu kết chương 3……… 184

KẾT LUẬN……… 186

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 190

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 191

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất Việt Nam Khát vọng mà suốt cuộc đời Người luôn hướng tới là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân

ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[111, tr 187] Khát vọng của Người cũng chính là khát vọng của tất cả mọi người dân yêu nước, là mục tiêu của cách mạng, của dân tộc Việt Nam Với Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[111, tr 64] Dân chúng chỉ cảm nhận được giá trị thực sự của độc lập, tự do khi họ được ăn no, mặc ấm, được học hành để phát triển, có hiểu biết để thực hành quyền dân chủ, quyền và nghĩa vụ của người công dân Chỉ có gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, từ đánh thắng đế quốc thực dân, phong kiến mà tiến tới xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, ra sức phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, đấu tranh chống quan liêu, lãng phí, tham ô, đánh thắng cả giặc ngoại xâm lẫn giặc nội xâm thì mới có được sự phát triển thực sự hài hòa giữa cá nhân với xã hội Do đó, theo Hồ Chí Minh, sau khi đấu tranh giải phóng dân tộc phải đưa đất nước đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa1, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, trong đó mọi người đều được ấm no, hạnh phúc, tự do, bình đẳng Vì “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản

 Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi, bí danh, bút danh khác nhau Trong Luận án chúng tôi sử dụng thống nhất tên Người qua các thời kỳ là Hồ Chí Minh

1 Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng xã hội nhằm chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ

nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa (Tất cả các khái niệm chú thích trong Luận án được trích từ cuốn Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa

Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, 2, 3, 4, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt

Nam, Hà Nội.)

Trang 6

mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”[108, tr 496]

Trên cơ sở vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ tình hình thực tiễn của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc2, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân3, đi dần lên chủ nghĩa xã hội Con đường này là một kiểu quá độ gián tiếp rút ngắn, tức là quá độ từ một nước thuộc địa, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Từ đó, Người đưa ra một hệ thống các luận điểm về chủ nghĩa xã hội, về cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước có nền kinh tế lạc hậu và lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước theo con đường mà Người đã lựa chọn Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mô hình xã hội chủ nghĩa Xôviết nên trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ trước đổi mới (trước tháng 12/1986), nhiều quan điểm mà Hồ Chí Minh đưa ra trước những năm 60 không được thực hiện, không được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển trong thực tiễn Đó cũng là một trong những nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở thời kỳ này Đánh giá đúng tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh mà đặc biệt là tư tưởng của Người về chủ

2 Cách mạng giải phóng dân tộc là cuộc cách mạng nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập

dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết và thành lập nhà nước dân tộc

3 Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là loại hình đấu tranh dân tộc và giai cấp ở các nước phụ thuộc,

thuộc địa và nửa thuộc địa Nhiệm vụ của cuộc cách mạng đó là đánh đổ chế độ thống trị của thực dân giành lại quyền độc lập cho dân tộc, xóa bỏ mọi tàn tích của chế độ phong kiến (và tiền phong kiến) đem lại ruộng đất cho nông dân, thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân, xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ, mở đường cho xã hội phát triển… Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm thực hiện triệt để các nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, dựa vào các lực lượng cách mạng của mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy liên minh công nhân, nông dân và tiểu tư sản làm động lực, xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến dần từng bước theo con đường xã hội chủ nghĩa… Do hoàn cảnh lịch sử, đất nước, giai cấp, xã hội của các nước khác nhau nên cuộc cách mạng nhằm chống đế quốc và phong kiến có những đặc điểm riêng biệt, song trong tiến trình phát triển, các nước thường tập trung lực lượng cách mạng để giải quyết nhiệm vụ dân tộc, một nhiệm vụ quyết định phần lớn tính độc đáo của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa

Trang 7

nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã có sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới4đất nước như: các quan điểm về xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ5 (cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, về thực hiện chế độ khoán sản phẩm); về thực hiện dân chủ trong quản lý xã hội; về vai trò của đội ngũ trí thức trong cách mạng…

Để đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục đi lên, nhiều kỳ Đại hội Đảng đã tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những năm qua, chỉ ra sự lạc hậu, đặc biệt là trong nhận thức và vận dụng lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra và từng bước bổ sung, phát triển đường lối đổi mới toàn diện đất nước Trong điều kiện khó khăn của sự tìm tòi, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện ngày càng rõ quan niệm của mình về chủ nghĩa xã hội và cho rằng, cần được tiếp tục bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn đất nước và của thời đại ngày nay Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) chỉ ra rằng:

Dẫu sao, xây dựng chủ nghĩa xã hội còn là sự nghiệp rất mới mẻ, đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu, khám phá, tìm tòi Chúng ta phải không ngừng thông qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận mà từng bước hình dung ngày càng sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm rõ những mô hình cụ thể trong từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Phải vận dụng sáng tạo

4 Khái niệm đổi mới phản ánh xu hướng vận động, phát triển khách quan của sự vật, hiện tượng và hàm chứa cả nguyện vọng chủ quan của chủ thể tư duy, chủ thể hoạt động Tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể, đổi mới có thể được hiểu và có nội hàm khác nhau, nhưng nghĩa chung nhất được hiểu, đó là sự thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển

5 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải tạo cách mạng tư bản chủ nghĩa thành xã hội chủ nghĩa,

bắt đầu từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền và kết thúc khi xây dựng xong các cơ sở của chủ nghĩa xã hội

Trang 8

và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh,

… sáng tạo nhiều hình thức quá độ, những nấc thang trung gian đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội một cách vững chắc [17, tr 56]

Đại hội nêu rõ: “Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì càng xuất hiện nhiều vấn đề mới liên quan đến nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động

và sáng tạo, bớt được sai lầm và những bước đi quanh co, phức tạp”[17, tr

56] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục nhấn mạnh: “Đảng và nhân

dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[22, tr

83] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm

no, hạnh phúc”[29, tr 186]

Thực tiễn qua hơn 25 năm đổi mới, nhất là trong thời gian 10 năm trở lại đây, khi đất nước đã ra khỏi khủng hoảng, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng thể chế kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đã nhận thức ngày càng rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên những đường nét cơ bản Kinh nghiệm và những bài học được tích lũy cũng cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện

lý luận đổi mới để phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhờ

đó, nội lực của đất nước và dân tộc đã được huy động vào các mục tiêu của phát triển, cùng với các nguồn ngoại lực ngày càng được tận dụng, khai thác

Trang 9

có hiệu quả làm cho nội lực mạnh lên, đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam đi tới thắng lợi

Thực tiễn trên đòi hỏi, cần suy xét một cách khoa học và sâu sắc di sản lý luận của Hồ Chí Minh Đối chiếu lý luận đó với thực tiễn Tổng kết thực tiễn Việt Nam và thế giới để tiếp tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học Phải kiên quyết phê phán các luận điệu thù địch Bởi vì, trong số những vấn đề mà kẻ thù tư tưởng ráo riết tấn công, xuyên tạc, phủ định không chỉ ở những vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà bao gồm cả những vấn đề hết sức cơ bản, lớn và liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Do đó, nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh, đặc biệt là nghiên cứu tư tưởng của Người về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một nhiệm vụ khoa học và lâu dài Mặt khác, những thành tựu về lý luận và thực tiễn mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã đạt được về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tuy rất quan trọng, song chỉ là bước đầu, còn không ít vấn đề cần được nghiên cứu và giải đáp Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX nhấn

mạnh: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, tiếp tục làm sáng

tỏ hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[19, tr 134]

Trong điều kiện và hoàn cảnh đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một nhiệm vụ to lớn, là

yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp bách Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con

đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” không chỉ góp phần làm sáng rõ

con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Hồ Chí Minh trong điều kiện Việt Nam vốn là một nước thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu, có nền kinh tế kém phát triển mà còn khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của những tư tưởng đó trong tình hình hiện nay

Trang 10

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu được những quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không chỉ khảo sát các công trình khoa học, các sách viết về tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội mà còn phải hiểu được những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Bởi lẽ, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thực tiễn Việt Nam Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn phải hiểu được quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển

tư tưởng đó như thế nào trong sự nghiệp xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để từ đó hiểu được giá trị và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn Việt Nam Vì vậy,

có thể nhìn nhận lịch sử vấn đề đã được nghiên cứu theo các nhóm tư liệu sau:

2.1.1 Nhóm tư liệu của các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến những vấn đề lý luận chung về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

- Các tác giả nước ngoài viết về chủ nghĩa xã hội như: B.N Pônômariốp

(1981), Chủ nghĩa xã hội hiện thực và ý nghĩa quốc tế của nó, Nxb Sự thật,

Hà Nội; Tođo Gípcôp (1986), Chất lượng vấn đề then chốt để xây dựng chủ

nghĩa xã hội phát triển, Nxb Sự thật, Hà Nội; Kazuo Shii (1994), Chủ nghĩa

xã hội khoa học là gì?, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trương Lôi Khắc, Tự

Lập Bình (1997), Lịch sử, hiện trạng và tương lai của chủ nghĩa xã hội, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Các tác giả trong nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Trịnh

Quốc Tuấn, Phạm Ngọc Quang (1991), Chủ nghĩa xã hội là gì? Tìm hiểu

Trang 11

quan điểm của các nhà kinh điển, Nxb Sự thật, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo

(1993), Chủ nghĩa xã hội hiện thực: Khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát

triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS PTS Nguyễn Trọng Chuẩn, PTS

Phạm Văn Đức, PTS Hồ Sĩ Quý (Đồng chủ biên) (1997), Những quan điểm

cơ bản của Mác - Ăngghen- Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lê Hữu Tầng (2003), Chủ nghĩa xã hội từ lý luận

đến thực tiễn – Những bài học kinh nghiệm chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội

Các công trình trên đã đề cập đến những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội, và thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm về khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội

ở một nước tiểu nông không qua chế độ tư bản chủ nghĩa Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam Nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực Tính tất yếu của công cuộc cải cách và đổi mới để đi lên Những xu hướng phát triển của chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay Một số bài học, kinh nghiệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

2.1.2 Nhóm tư liệu có liên quan đến vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Đây là nhóm tư liệu có nội dung phong phú cả ở phương diện lý luận và thực tiễn, được các nhà khoa học nghiên cứu khá công phu ở Việt Nam Rất nhiều công trình đã có được cái nhìn tổng quát về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về những vấn đề lý luận và thực tiễn của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở Việt Nam Đồng thời, có một

số công trình cũng có những cách tiếp cận, lý giải khác nhau về những vấn đề chung của thời kỳ quá độ và về khái niệm “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản

Trang 12

chủ nghĩa”, nêu lên một số định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu tiếp tục

bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam như: Trần Nhâm (1983), Mấy vấn đề lý luận về thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Trung tâm Bồi

dưỡng lý luận Mác – Lênin (1991), Một số vấn đề lý luận về thời kỳ quá độ ở

Việt Nam, Nxb Tư tưởng - Văn hóa; Nguyễn Duy Quý (Chủ biên) (1998), Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS, TS Dương Phú Hiệp

(Chủ biên) (2001), Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; PGS, TS Nguyễn Quốc Phẩm,

PGS, TS Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên) (2012), Những nhận thức mới về

chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội

Bên cạnh đó, một số công trình đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tính tất yếu lịch sử của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội như: Đào Duy Tùng (1994), Quá

trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội; Trần Hậu (Chủ biên) (1997), Quá trình hình thành và phát

triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Khánh (1999), Đổi mới – bước phát triển

tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

PGS, TS Tô Huy Rứa, GS, TS Hoàng Chí Bảo, PGS, TS Trần Khắc Việt,

PGS, TS Lê Ngọc Tòng (Đồng chủ biên) (2011), Quá trình đổi mới tư duy lý

luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Những công trình trên đã tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng của đổi mới tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam Thuyết minh,

Trang 13

luận chứng, trình bày những kết quả đạt được trong đổi mới về nhận thức, quan điểm, về tư duy lý luận, trong tổ chức, chỉ đạo thực tiễn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển và hoàn thiện lý luận trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, cũng gợi mở nhiều vấn đề lý luận cần tiếp tục đầu tư, nghiên cứu

2.1.3 Nhóm tư liệu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Thực tế việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được triển khai khá sớm, từ sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, song việc nghiên cứu quan điểm

lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh trên góc độ tư tưởng, học thuyết cách mạng thì hầu như chưa được xác định Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

II (1951), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định vai trò, ý nghĩa, giá trị to lớn của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) của Đảng khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” thì việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh mới được đặt ra, được nhiều nhà khoa học tham gia và đạt được nhiều thành tựu bước đầu rất khả quan Có thể nói, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới được chú trọng như một trong những lĩnh vực chủ yếu của nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội – nhân văn ở Việt Nam

Với lực phát động của đổi mới tư duy, những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội đã dần từng bước được hình thành ở Việt Nam Dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống đã góp phần giải phóng tinh thần, ý thức, thực hiện tự do tư tưởng cho mọi người Bầu không khí xã hội đó đã khích lệ và cổ vũ mạnh mẽ giới tri thức đi vào nghiên cứu khoa học với những tìm tòi sáng tạo mới Năm

1992, Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước “Nghiên cứu tư tưởng

Trang 14

Hồ Chí Minh” mã số KX 02 được triển khai, đã huy động khá đông đảo các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khoa học khác nhau tham gia nghiên cứu một cách trực tiếp, cơ bản và có hệ thống về tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó có đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, mã số KX 02.01 do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chủ nhiệm cùng một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu có tên tuổi thuộc nhiều ngành khoa học tham gia nghiên cứu như: Đặng Xuân Kỳ, Trần Thành, Nguyễn Văn Trung Đây là một thành tựu của đổi mới nhìn từ góc độ công tác tư tưởng, lý luận và hoạt động khoa học

Ở các chương trình, đề tài khác, tuy cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu

có khác nhau nhưng đều ít nhiều có đề cập và nghiên cứu trên phương diện này hay phương diện khác về tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đáng chú ý là chương trình KHXH 01 đã có một đề tài chuyên nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa (KHXH 01.03) Một đề tài khác nằm trong chương trình này nghiên cứu về “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” (KHXH 01.04) đã giành sự quan tâm thích đáng để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề nêu trên Ngoài các chương trình, đề tài khoa học kể trên còn có rất nhiều các sách, các công trình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về di sản Hồ Chí Minh, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh

như: Võ Nguyên Giáp (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách

mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS Song Thành (2005), Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội; Phạm Văn

Đồng (2009), Hồ Chí Minh – Tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb Chính

Trang 15

trị quốc gia, Hà Nội; GS Trần Văn Giàu (2010), Hồ Chí Minh – Vĩ đại một

con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS Song Thành (2010), Hồ Chí Minh – Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS, TS Hoàng Chí Bảo

(2011), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội; GS Trần Nhâm (2011), Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng thiên tài, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội; Vũ Khiêu (2012), Hồ Chí Minh – Ngôi sao sáng

mãi trên bầu trời Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Các

công trình trên đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Những cống hiến sáng tạo về tư tưởng – lý luận của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với thời đại hiện nay Đồng thời, các công trình trên đã đi sâu vào một số nội dung lớn trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh như tư tưởng về giải phóng dân tộc, về xây dựng nhà nước, xây dựng Đảng, tư tưởng triết học, tư tưởng kinh tế, chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng văn hóa, đạo đức và con người, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh Trong những nội dung đó có tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam: từ độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội; quan niệm của Hồ Chí Minh

về bản chất, mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội; về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đồng thời, các nhà nghiên cứu cũng đã bàn về nội dung, biện pháp đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, làm thế nào để tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành kim chỉ nam cho hành động, thật sự chiếm vị chí chủ đạo trong đời sống chính trị, tinh thần của xã hội

- Các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan trực tiếp đến luận án

như: Vũ Viết Mỹ (2002), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội; Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh (Chủ biên) (2003), Tư tưởng Hồ Chí

Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Lao

Trang 16

động, Hà Nội; PGS, TS Nguyễn Bá Linh (2009), Mối quan hệ biện chứng

giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội; TS Lại Quốc Khánh (2009), Biện chứng của tư

tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội; GS, TS Mạch Quang Thắng (Chủ biên) (2010), Vận dụng và phát

triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb

Lao động, Hà Nội; PGS, TS Vũ Đình Hòe, PGS, TS Bùi Đình Phong (Đồng

chủ biên) (2010), Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Các công trình trên đã phân

tích quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Hai vòng khâu biện chứng trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đi lên chủ nghĩa xã hội Tính tất yếu khách quan, đặc trưng, bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội, quan niệm về những đặc điểm, phương thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nội dung, bước đi, biện pháp và các điều kiện bảo đảm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Từ đó, khẳng định những kiến nghị vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện hiện nay Có thể nói, các công trình trên đã góp phần làm sáng

tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa

xã hội Đồng thời, cung cấp nhiều gợi ý quan trọng và những tư liệu cần thiết

để tiếp tục đi sâu nghiên cứu mảng đề tài này

Ngoài ra, Luận án còn sử dụng một nguồn tư liệu khá phong phú của các

học giả nước ngoài viết về Hồ Chí Minh như: Bernard Fall (1967), Hô Chi

Minh – de la révolution (1920-1966), Plon, Paris; Hô Chi Minh, Notre camarade (1970), Introdution historique de Charles Fournioau Editions sociales,

Trang 17

Paris; Furuta Motoo (1997), Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; W.J, Duiker (2000): Ho Chi Minh a life, Hyperion, New York, America; Pierre Brocheux (2003), Hô Chi Minh – Du révolutionnaire

à l’icône, Biographie Payot, Paris; Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép (2005), Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Công an nhân dân; Lady Borton (2009), Ho Chi Minh, story told on the Trail, Thế giới Publishers, Hà Nội, Việt Nam; Lady Borton (2010), Ho Chi Minh, a Journey, Thế giới Publishers, Hà Nội, Việt Nam Dưới con mắt

của người nước ngoài, các công trình trên đã nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh, cách đánh giá, nhìn nhận về công lao đóng góp của Hồ Chí Minh đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và nhân loại trong phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Do đó, nó đã cung cấp những luận cứ khoa học cho tác giả luận án trong việc tìm hiểu quá trình Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng ở nước ngoài; những quan điểm về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam kể từ sau Người qua đời

2.2 Tổng quan các vấn đề đã được nghiên cứu

Thông qua phần lịch sử nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài luận án với các nhóm tư liệu, tài liệu đã được khái quát ở trên, cho thấy nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và luận giải ở các khía cạnh, nội dung, cách tiếp cận khác nhau Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà khoa học, các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả luận án mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh, về con

đường mà Người đã lựa chọn Đó là cố gắng tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về

con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tác giả luận án luận giải việc Hồ Chí Minh tìm chân lý cứu

nước và xác định con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản thông qua việc kế thừa, vận dụng và phát triển biện chứng nguồn tư

Trang 18

tưởng, văn hóa truyền thống của dân tộc và thế giới Đó là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại

Vấn đề trên đã được nhiều học giả nghiên cứu, tuy nhiên trong phạm vi luận án, tác giả lý giải Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa xã hội không phải từ việc nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người như C.Mác, Ph.Ănghen, từ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội mà là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ khát vọng giải phóng dân tộc, từ nền tảng văn hóa Việt Nam, từ phương diện đạo đức, từ tính nhân văn trong chủ nghĩa xã hội và từ chính hoạt động lý luận, thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh

Với lòng yêu nước cháy bỏng và khát vọng giải phóng dân tộc mãnh liệt,

Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang là vốn hiểu biết khá cơ bản về văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Đông, phương Tây Trên hành trình

ấy, Người đã tích cực hoạt động lý luận và thực tiễn Tìm hiểu các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, hòa mình vào cuộc sống của nhân dân lao động thế giới, tham gia các hoạt động chính trị, xã hội Điều đó đã giúp Người tiếp cận được chủ nghĩa Mác – Lênin và xác định đúng đắn con đường cứu nước giải phóng dân tộc Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga đã giúp Người có được sự lựa chọn đúng đắn và dứt khoát là: cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Con đường đó là hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam – một nước thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế nhỏ

lẻ, manh mún Con đường đó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, giải đáp được sự bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước trước đó

Trong quá trình nghiên cứu về con đường cứu nước của Hồ Chí Minh, tác giả nhận thấy, không phải chỉ đến với chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh mới

có những hiểu biết về chủ nghĩa xã hội Mà ngay trong quá trình hoạt động

Trang 19

thực tiễn, Hồ Chí Minh đã có những cảm nhận ban đầu về tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước khi tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin Cuối năm 1919, Người cùng một số đảng viên Đảng Xã hội Pháp đi quyên góp tiền trong các phố Paris để giúp cách mạng Nga vượt qua nạn đói, hậu quả của việc Chính phủ Pháp và chính phủ các nước đồng minh bao vây nước Nga Xôviết Cùng với việc quyên tiền, Hồ Chí Minh tham gia phân phát các truyền đơn của Đảng Xã hội Pháp kêu gọi lao động Pháp lên án sự can thiệp vũ trang của Chính phủ Pháp vào nước Nga, hoan nghênh Cách mạng Tháng Mười Nga Những báo cáo được Hồ Chí Minh trình bày vào đầu năm 1920 (tháng 7/1920

Hồ Chí Minh mới được tiếp xúc với Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương

của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa) đã cho thấy Người đã có những

hiểu biết nhất định về chủ nghĩa xã hội Chẳng hạn, ngày 11/2/1920 Hồ Chí

Minh trình bày tại Hội nghị những người thanh niên cộng sản quận 2 đề tài

“chủ nghĩa Bônsêvích ở châu Á”, đề tài “vấn đề ruộng đất ở Trung Quốc và Việt Nam”, đến ngày 27/3/1920, Hồ Chí Minh nói chuyện với thanh niên Quận 13, Paris về chủ nghĩa xã hội Đây cũng chính là một trong nhưng vấn

đề, theo tác giả luận án là cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm rõ

Thứ hai, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một con đường khó khăn,

lâu dài và phải trải qua nhiều giai đoạn cách mạng khác nhau

Khi nói đến con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, có rất nhiều công trình, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khái niệm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mãi đến những năm 50 của thế kỷ XX mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến, nhất là

kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951) của Đảng Lao động Việt Nam Trong khi đó, có nhiều tài liệu cho thấy trong tư duy Hồ Chí Minh có ba giai đoạn cách mạng: giai đoạn thứ nhất là dân tộc cách mạng hay tư sản dân

Trang 20

quyền cách mạng; giai đoạn thứ hai là cách mạng ruộng đất hay thổ địa cách mạng; giai đoạn thứ ba là cách mạng xã hội chủ nghĩa hay xã hội cộng sản Đây là vấn đề cần được trình bày và luận giải một cách cụ thể và chính xác hơn

để thấy được các chặng đường, các giai đoạn phát triển chiến lược của cách mạng Việt Nam

Thứ ba, trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ

Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; đặc biệt là vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, phải làm cách mạng giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân và đi lên chủ nghĩa xã hội

Kế thừa các công trình đã kể trên, tác giả luận án đã hệ thống lại theo cách hiểu, cách lý giải và nhìn nhận vấn đề của mình những quan niệm của

Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, về đặc điểm của thời kỳ quá độ ở Việt Nam, về bước đi của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về nội dung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và những biện pháp, cách thức để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Thứ tư, khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Đứng vững trên quan điểm thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát cho mọi suy nghĩ và hành động nên Hồ Chí Minh đã có sự vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội, về loại hình, phương thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam

Trước đây, do ảnh hưởng của khuynh hướng “tả” và mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội Xôviết nên có những lúc, có những thời kỳ tư tưởng Hồ Chí

Trang 21

Minh chưa được vận dụng trong thực tiễn Điều đó cũng ít nhiều ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Sau khi Đảng đề xướng đường lối Đổi mới, những nội dung mà Hồ Chí Minh đưa ra về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, về ưu tiên phát triển kinh tế nông nghiệp, về thực hiện khoán sản phẩm, về dân chủ, về xây dựng nhà nước pháp quyền, về vai trò của trí thức trong cách mạng được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển đã đem lại nhiều thành tựu quan trọng Chính điều đó đã khẳng định giá trị và sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội Việt Nam

Phải chăng, việc hình thành và xác lập tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng đã trải qua những thử thách hết sức khắc nghiệt Nó không phải là một hành trình phẳng lặng, thậm chí bị phê phán bằng những từ ngữ nặng nề và cũng chưa nhận được sự đồng thuận trong nội

bộ Đảng Điều này theo tác giả cũng là một vấn đề cần được nghiên cứu và làm rõ

Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh, những vấn đề trên đã thôi thúc tác giả cần phải đi sâu phân tích, tìm hiểu và làm rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

để thấy được giá trị, tầm ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc sống hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận chứng một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và khẳng định giá trị khoa học của tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay

Trang 22

3.2 Nhiệm vụ

- Trình bày rõ thêm quá trình Hồ Chí Minh tìm con đường cứu nước và giải phóng dân tộc thông qua việc kế thừa, vận dụng và phát triển biện chứng nguồn tư tưởng, văn hóa truyền thống của dân tộc và nhân loại Từ đó, Người xác định con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Việt Nam là con đường cách mạng vô sản

- Nghiên cứu một cách căn bản, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như: quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội; bước đi xây dựng chủ nghĩa xã hội; nội dung xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phương châm và biện pháp tiến hành để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để thấy được giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống những quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề rộng lớn Đề tài không đi sâu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung mà tập trung nghiên cứu tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Về cách tiếp cận, Luận án nghiên cứu vấn đề từ cách tiếp cận chuyên ngành Hồ Chí Minh học chứ không phải từ cách tiếp cận sử học, triết học hay

từ một chuyên ngành nào khác Có nghĩa là, không chỉ nghiên cứu tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh mà còn nghiên cứu quá trình hoạt động và chỉ

Trang 23

đạo thực tiễn cách mạng của Người trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

- Về không gian, đề tài gắn liền với những yếu tố, điều kiện lịch sử có tác động đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Sự vận dụng và phát triển sáng tạo

tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay

- Về nội hàm khái niệm “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”

+ Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản sau thắng

lợi của cuộc cách mạng vô sản, là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

+ Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sự hoạch định về bước đi, biện

pháp và cách làm nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chính là giai đoạn phát triển cao hơn, là định hướng của sự phát triển xã hội ở Việt Nam

Trong Luận án, tác giả không có tham vọng trình bày toàn bộ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đặc trưng, bản chất của chủ nghĩa xã hội, mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội mà tác giả cố gắng khuôn vào những nội dung

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Có nghĩa là trình bày những nhân tố có ảnh hưởng đến việc Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cách mạng vô sản, những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, từ đó đưa ra những quan điểm của Hồ Chí Minh về bước đi, biện pháp và cách làm để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng không ngừng, về học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, về

Trang 24

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam và những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể, xuất phát từ thực tiễn khách quan, chú trọng các quan điểm trong thời kỳ đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới xung quanh Tư tưởng trong khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trong một nền tảng triết học (thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực Vì vậy, cùng với việc sử dụng phương pháp phổ biến, áp dụng cho tất cả các ngành khoa học là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh còn

sử dụng các phương pháp cụ thể khác để thấy rõ được quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người và hệ thống các quan niệm của Người về cách mạng Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là một vấn đề lý luận chung chung mà nó gắn với thực tiễn chỉ đạo cách mạng cách mạng của Hồ Chí Minh Vì thế, trong nghiên cứu phải

quán triệt quan điểm thực tiễn, nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, thực tiễn chính là mục tiêu,

là động lực của nhận thức Thực tiễn cũng chính là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX mà Hồ Chí Minh

ra đi tìm đường cứu nước Từ thực tiễn tồn tại và phát triển của xã hội Việt Nam mà Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm ra bản chất,

Trang 25

quy luật đặc thù của Việt Nam, đề ra đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo cho cách mạng Việt Nam Chính thực tiễn Việt Nam cũng đã khẳng định đường lối mà Hồ Chí Minh đưa ra là phù hợp và hoàn toàn đúng đắn

Phương pháp hệ thống, tức là đặt tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ tư

tưởng Mác - Lênin, đặt cách mạng Việt Nam nằm trong dòng chảy của cách mạng thế giới, thấy được mối liên hệ giữa các mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp lôgíc và lịch sử:

Trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam, phương pháp lịch sử giúp chúng ta có thể nghiên cứu được quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, để thấy được giá trị của tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay

Phương pháp lôgíc có tác dụng chỉ ra được những quan niệm của Hồ Chí Minh về đặc trưng, bản chất, bước đi của chủ nghĩa xã hội, những biện pháp

cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Không phải chỉ đưa ra những câu nói, bài viết của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này hay giai đoạn kia mà

từ những câu nói ở những thời điểm khác nhau, có thể không theo một trình

tự thời gian nhất định, để thấy được những quan niệm của Người về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Phương pháp lôgíc cũng giúp chúng ta hình dung những nhân tố khách quan và chủ quan, những ảnh hưởng qua lại của dân tộc, truyền thống, thời đại, văn hoá và lịch sử tạo nên giá trị, bản lĩnh, bản sắc, phong cách Hồ Chí Minh

Phương pháp so sánh cho phép vạch rõ mối liên hệ chung – riêng, phổ

biến và đặc thù giữa Hồ Chí Minh với các vĩ nhân, danh nhân văn hoá khác, nhận rõ những đóng góp và cống hiến riêng có của Hồ Chí Minh đối với lịch

sử Chẳng hạn: phương pháp so sánh giúp chúng ta có thể thấy được con

Trang 26

đường cứu nước của Hồ Chí Minh là một con đường mới, khác với các con đường cứu nước trước đó; phương pháp so sánh còn giúp chúng ta thấy được

Hồ Chí Minh đã vận dụng, kế thừa những gì từ chủ nghĩa Mác – Lênin và đã

bổ sung, phát triển những gì để làm phong phú học thuyết cách mạng này về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về đấu tranh giai cấp… Từ đó, làm rõ tính tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sự vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến với nền nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển; phương pháp so sánh còn có vai trò quan trọng trong việc so sánh quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là trong thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986) về bước đi, biện pháp, về nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đến năm

1986, Đảng đã tiến hành đổi mới đất nước, xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều nội dung đã được Đảng vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng

Hồ Chí Minh trong tình hình mới

6 Ý nghĩa và những đóng góp về mặt khoa học của Luận án

6.1 Ý nghĩa của Luận án

- Luận án góp phần khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng

Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay

- Là một nghiên cứu lý thuyết, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh

6.2 Đóng góp về mặt khoa học của Luận án

- Luận án góp phần:

+ Làm rõ quá trình Hồ Chí Minh xác định con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản

Trang 27

+ Hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từ quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội đến loại hình, bước đi, biện pháp và những nội dung cơ bản của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Căn cứ vào quan điểm của Hồ Chí Minh, thực tiễn đã diễn ra ở Việt Nam

và thế giới, luận án góp phần khẳng định giá trị khoa học và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài lời cam đoan, mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương

Trang 28

Chương 1 CỨU NƯỚC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN

1.1 Hồ Chí Minh xác định con đường cứu nước và giải phóng dân tộc

1.1.1 Giá trị văn hóa truyền thống với việc hình thành tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh

Việt Nam là một quốc gia dân tộc được hình thành từ rất sớm trong lịch

sử Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các tộc người sống trên đất nước Việt Nam, đồng thời là kết quả của sự tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa trên thế giới Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam góp phần làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, có ý chí độc lập tự chủ, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thủy chung Đó là bản sắc vô cùng quý báu và bền vững của dân tộc

Chính tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước là động lực vĩ đại giúp nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc trước kẻ

thù xâm lược Tổng kết về phong trào yêu nước Việt Nam, trong bài Nên học

sử ta, Hồ Chí Minh khái quát:

Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước

Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa

châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan Bình dân như

ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập

Trang 29

Người già như ông Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh đông

dẹp bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay

cứu nước, cứu nòi Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên

Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang san

Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta được tự

do, độc lập, lừng lẫy ở Á Đông [110, tr 255]

Người kết luận: “nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng”[108, tr 98] Nguồn giá trị văn hóa

tư tưởng truyền thống, ý chí độc lập và khát vọng tự do là nền tảng văn hóa tinh thần, là động lực vĩ đại của sự trường tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam Nói đến đặc trưng của văn hóa Việt Nam là nói đến một nền văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, như Nguyễn Trãi nói: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc Nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”[162, tr 440] Đó là một nền văn hoá trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với gia đình, làng, Tổ quốc, coi đó là những chuẩn mực của nhân cách con người Theo cách nhìn truyền thống của văn hoá Việt Nam, giá trị con người được thể hiện ở lòng nhân nghĩa, đạo đức của bậc “ưu quốc, ái dân”, biết chăm lo vun đắp cho vận mệnh chung của đất nước, của cộng đồng dân tộc Hồ Chí Minh thường đề cao truyền thống nhân ái, Người nhắc nhở:

“Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ

nghĩa Mác - Lênin được”[122, tr 668] Trong Di chúc, Người căn dặn, “Phải

có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”[122, tr 622]

Trang 30

Văn hoá Việt Nam là văn hoá khoan dung, hoà mục để hoà đồng, được hình thành và phát triển trên cơ tầng văn hoá bản địa - văn hoá Đông Nam Á Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, mỗi tộc người vốn có những nét văn hóa riêng tạo nên những vùng địa - tộc người, địa - văn hóa rất phong phú đa dạng Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Tính thống nhất của văn hóa Việt Nam được củng cố ở ý thức chung về quốc gia dân tộc, về con Rồng cháu Tiên Quá trình hình thành, thống nhất quốc gia dân tộc chính là quá trình cố kết cộng đồng, tạo thành quan hệ ba tầng chặt chẽ: nhà - làng - nước Đây chính là sợi dây liên kết các tộc người, các giai tầng trong xã hội Việt Nam và tạo nên một sức mạnh vô địch, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc được giữ vững Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của đoàn kết, Hồ Chí Minh viết:

Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước Nhờ lực lượng ấy mà với gậy tầm vông và súng hoả mai lúc đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch… Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta sẽ đuổi sạch thực dân Pháp ra khỏi đất nước ta, và lấy lại thống nhất và độc lập thật sự [114, tr 164-165]

Văn hóa Việt Nam còn được thể hiện rõ nét qua lời của những người

Pháp ở Việt Nam, trong bài Nước An Nam dưới con mắt người Pháp, Hồ Chí

Minh viết:

Trang 31

Chúng ta thấy ở đây cả một nền văn minh, mọi thứ đều xây dựng từ lâu Nghệ thuật, khoa học, kể cả khoa học quản lý Nhà nước, đều đã phát triển mạnh mẽ Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hoà hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã được điều hoà và ngày càng hoàn hảo thêm Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng khá bán khai [108, tr 450-451]

Tiếp đó là nói về những thuần phong mỹ tục trong bản tính con người Việt Nam:

Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải; ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh; đó là những đức tính răn dạy trong sách thánh hiền, lưu lại trong cổ phong và ghi thành luật pháp; hiện nay đó cũng là những đặc điểm về bản tính của người An Nam hình thành từ bao thế hệ, những thế hệ luôn luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính; người An Nam bình thường

mà người ta gặp bất cứ ở đâu cũng đều như vậy cả…[108, tr 451]

Trong hoàn cảnh mất nước, đó là những đánh giá rất cao, có sức mạnh cổ vũ cho chủ nghĩa yêu nước và lòng tự hào dân tộc

Với động lực của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ngay từ giữa thế kỷ XIX trở đi, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đứng lên đấu tranh chống lại cuộc chiến tranh xâm lược và thống trị của thực dân Pháp Điển hình là: Phong trào Cần Vương (1885-1896) do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, mở đầu bằng cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885) Việc không thành Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân

Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu

Trang 32

biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895) Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm

1913 Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và khuynh hướng thiết lập nhà nước phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra Phong trào Cần Vương tan rã, các sĩ phu, các nhà yêu nước lúc bấy giờ đều tập trung suy nghĩ

về nguyên nhân mất nước, con đường cứu nước để giải phóng dân tộc

Đầu thế kỷ XX, khi giai cấp tư sản Việt Nam chưa ra đời, nhưng hệ tư tưởng tư sản đã ảnh hưởng đến Việt Nam Các trí thức phong kiến tiếp thu

hệ tư tưởng này làm vũ khí chống Pháp, dấy lên phong trào yêu nước sôi nổi với hai xu hướng bạo động và cải cách

Đại diện tiêu biểu cho xu hướng bạo động là Phan Bội Châu Thấm nhuần những quan niệm mới về trung quân ái quốc, Phan Bội Châu đã tìm hiểu những trào lưu tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài Ông trở thành người đóng vai trò chủ yếu trong việc làm chuyển hoá tư tưởng Việt Nam từ

phạm trù phong kiến lên phạm trù dân chủ tư sản Khi bàn về Hệ ý thức tư

sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử, Giáo sư Trần Văn Giàu

đã khẳng định, Phan Bội Châu “là một nhà chính trị và là nhà chính trị xuất sắc nhất, tiêu biểu nhất nước ta hồi đầu thế kỷ XX, trong giai đoạn từ chiến tranh thế giới thứ nhất trở về trước”[56, tr 136]

Với lòng yêu nước sâu sắc, Phan Bội Châu chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp và thành lập một chính phủ quân chủ lập hiến Ông chủ trương dùng phương pháp bạo động đánh đuổi thực dân Pháp để khôi phục độc lập dân tộc và dựa vào Nhật để đánh đuổi Pháp Năm 1908, trước yêu cầu của thực dân Pháp, chính phủ Nhật đã trục xuất những người Việt Nam yêu nước ra khỏi đất Nhật

Trang 33

Bản Phong trào Đông Du tan rã Năm 1911, cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc thành công, lật đổ nền quân chủ Mãn Thanh lập ra Nhà nước Trung Hoa dân quốc, Phan Bội Châu đã chuyển lập trường từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ Ông tuyên bố giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang Phục hội, nhằm mục đích đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hoà dân quốc Việt Nam Để đạt được những mục tiêu trên Phan Bội Châu đã chủ trương đấu tranh bằng phương pháp bạo động vũ trang giành chính quyền Chủ trương trên của Phan Bội Châu bước đầu đạt được một số kết quả như: cuộc bạo động của đội Quyến, đội Phấn, ấm Võ ở vùng Nghệ Tĩnh, ném bom vào khách sạn của Pháp ở Hà Nội, ám sát Tuần phủ ở Thái Bình, cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên Tuy nhiên, chủ trương bạo động giành chính quyền của Phan Bội Châu không diễn ra theo ý muốn, cuối cùng dẫn đến kết cục thất

bại trước sự đàn áp của thực dân Pháp Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ

Chí Minh viết: “Ám sát là làm liều, và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết? Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được”[109, tr 299]

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Phan Bội Châu

đã chú ý đến cách mạng Nga một cách có cảm tình và định gửi người sang bên Nga học Lòng yêu nước chân thành làm cho ông sẵn sàng tiếp cận với chủ nghĩa xã hội, tiếp cận với những người cộng sản là những người chủ trương và đấu tranh giải phóng thuộc địa Phan Bội Châu thuận theo và có cảm tình sâu sắc trào lưu cách mạng thế giới, cách mạng xã hội chủ nghĩa Giữa năm 1924, Ông viết “Truyện Phạm Hồng Thái”, sách “chủ nghĩa xã hội” để giãi bày tư tưởng của mình: “May thay giữa lúc khói độc mây mù, thình lình có một trận gió xuân thổi tới Chính giữa lúc trời khuya đất ngủ, thình lình có một tia thái dương mọc ra Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy

Trang 34

là chủ nghĩa xã hội” Và ông nhận định: “Xã hội chủ nghĩa là xe tăng của nhà triết học để xông vào thành lũy của chủ nghĩa quốc gia, mà cũng là toán quân vô địch của nhà nhân từ để phá tan đồ đảng của chủ nghĩa tư bản”[7, tr 132] Nếu như trước đó, Ông chỉ lưu tâm tới “10 hạng người”

mà trong đó đa số là những người thuộc lớp trên thì tới giữa năm 1924, Ông bắt đầu nhận ra sức mạnh và vai trò của các giai cấp lao động bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Ông nhận định: “Sự cùng quẫn của nông dân, công nhân nước ta đã quá lắm rồi Ngòi lửa đạn bắn vào cường quyền đã âm ỉ trong lòng, rồi cũng có lúc nó nổ ra”[6, tr 579]

Để rồi Ông khẳng định: “ Việc huấn luyện cách mạng xã hội không thể thành công nếu không dựa vào số đông người thuộc giai cấp dưới Số đông của giai cấp dưới chính là công nhân và nông dân”[6, tr 579] Như vậy, Phan Bội Châu cũng đã được tiếp nhận ánh sáng của cuộc Cách mạng Tháng Mười do V.I.Lênin lãnh đạo, nhưng Ông mới chỉ bước đến “ngưỡng cửa” của Cách mạng Tháng Mười, của chủ nghĩa xã hội

Đại diện cho xu hướng cải lương, cải cách chính là Phan Châu Trinh

Trong một số bài báo, bài diễn thuyết như Thất điều thư (1922), Đạo

đức và luân lý Đông Tây Phan Châu Trinh đã phê phán gay gắt sự lạc

hậu, tính trì trệ, yếu hèn của nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam Ông bộc bạch ý tưởng muốn dựa vào Nhà nước Cộng hòa Pháp để chống lại chế

độ quân chủ phong kiến chuyên chế, để từng bước chấn hưng dân tộc Phan Châu Trinh cho rằng trình độ của nhân dân Việt Nam lúc đó còn rất thấp,

vì vậy muốn làm cách mạng thì trước hết phải khai dân trí (khai trí cho dân) và nâng cao quyền tự do dân chủ Nhưng quyền hành lại nằm trong tay các vua quan, vì vậy phải đánh đổ vua quan thì mới khai được dân trí

Do đó, phải tiến hành đấu tranh bằng con đường cải lương, đòi quyền tự do dân sinh, dân chủ, tạm thời dựa vào Pháp để đánh đổ giai cấp địa chủ

Trang 35

phong kiến Đây là một cách nhận thức không đúng cả về phương hướng và phương pháp đấu tranh, vì đặc trưng cơ bản của xã hội Việt Nam lúc này

là xã hội thuộc địa Thực dân Pháp và một bộ phận địa chủ, phong kiến tay sai câu kết với nhau để bóc lột nhân dân Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bọn phản động tay sai Sự ngộ nhận về bản chất kẻ thù là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phương pháp đấu tranh không đúng của ông Đau xót trước cảnh dân tộc mất độc lập, nhân dân nô lệ, nhiệt thành với công cuộc chấn hưng dân tộc, nhưng Phan Châu Trinh không thấy được nguồn gốc của việc mất nước, của sự lạc hậu là do chủ nghĩa thực dân Pháp gây ra Nhờ tính cương trực và lòng yêu nước chân thành, tư tưởng và hoạt động của Phan Châu Trinh đã góp phần cổ vũ tinh thần dân tộc, yêu nước của nhân dân Cũng chính nhờ đó mà trong quá trình vận động, tuyên truyền, Phan Châu Trinh đã nhận thấy – mặc dù ở mức độ nhất định – sự bất lực của mình Tháng 2 -1922, Ông viết thư gửi Hồ Chí Minh với lời tâm tình: “Anh Nguyễn, tôi tường tận với anh đã rõ nguồn cơn Bây giờ thân tôi tựa chim lồng cá chậu Vả lại cây già thì gió thổi dễ lay, người già thì trí lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả giận, may ra có tỉnh giấc hồn mê Còn anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông Tôi cầu chúc anh thành công và hy vọng thấy mặt nhau ở quê hương xứ sở”[164]

Rõ ràng một thực tế lịch sử là Phan Châu Trinh không chỉ thừa nhận sự khác nhau giữa ông và Hồ Chí Minh trong việc xác định biện pháp và con đường cứu nước, giải phóng dân tộc mà với nhiệt thành của mình, ông đã bày tỏ niềm tin vào con đường, tư tưởng mà Hồ Chí Minh đang theo đuổi, rằng tư tưởng ấy, con đường ấy nhất định sẽ mau chóng bén rễ, ăn sâu vào các tầng lớp nhân dân lao động

Trang 36

Trong những năm 20 của thế kỷ XX, một số nhân sĩ trí thức yêu nước đã

có những hoạt động vì công cuộc giải phóng dân tộc, trong đó đáng chú ý là những hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng Đặc điểm nổi bật trong những hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng là vận động công khai nhằm chấn hưng dân tộc Ông ra báo, mở trường học và vận động nghị trường Tháng 8/1928, với tư cách là Viện trưởng dân biểu Trung kỳ, ông gửi yêu cầu cho Chính phủ Pháp đòi cho người bản xứ được tự do mở trường học, đòi giảm sưu thuế và hủy bỏ một số hình luật hà khắc

Về con đường giải phóng dân tộc, ông cho rằng con đường cách mạng công khai, hợp pháp là con đường có nhiều khả năng dẫn đến thành công Ông cổ vũ cho chế độ đại nghị tư sản, phê phán tư tưởng thờ ơ với vận mệnh dân tộc Ông viết: “Dân ta núp dưới chính thể chuyên chế đã mấy mươi đời, cho việc nước là việc của vua quan không can hệ gì đến mình; bó buộc đã lâu thành ra cái tính chất thứ hai không biết nước là gì Đến thời đại năm châu chung chợ, sáu giống một nhà như bây giờ thì dân tộc nào mà không biết đến nước thì không thể có tồn tại trên trái đất đua tranh giữ dội này được”[56, tr 458] Ông còn nói: “Đại nghị chính thể là chính cái nguồn gốc cường thịnh các văn minh Âu Mỹ hiện thời”[56, tr 459] Tuy nhiên, sau đó ông đã nhận ra rằng nghị trường tư sản và con đường cách mạng hợp pháp công khai mà ông theo đuổi chỉ là ảo tưởng

Như vậy, con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản cũng bị thất bại và không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra lúc bấy giờ Nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nước Việt Nam giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã thể hiện sự khủng hoảng về đường lối cách mạng, về lực lượng lãnh đạo có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của lịch sử, đặc biệt trong đó phải nói đến sự bế tắc về phương pháp đấu tranh của các sỹ phu, văn thân yêu nước đương thời Từ những nhận thức không đúng về con

Trang 37

đường cứu nước là nguyên nhân tất yếu dẫn đến phương pháp đấu tranh không phù hợp và thiếu tính khoa học Phong trào yêu nước ở Việt Nam mới chỉ có các yếu tố cần như: lòng yêu nước, chí căm thù giặc cướp nước và khát vọng giải phóng dân tộc giành độc lập dân tộc Trong khi đó, họ chưa có những lý luận, tư tưởng tiên tiến soi đường đáp ứng với đòi hỏi của dân tộc Chính từ những bài học thực tiễn của các phong trào yêu nước Việt Nam là cơ sở quan trọng để hình thành một tư duy cách mạng mới ở Hồ Chí Minh, đó là phải tìm một con đường cứu nước mới khác với con đường cứu nước của các vị cách mạng tiền bối Chính vì vậy, Người đã quyết định đi ra nước ngoài để tìm con đường cứu nước, giành độc lập cho dân tộc, mang lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân Người nói: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[154, tr 14]

Chính truyền thống tốt đẹp của văn hóa và con người Việt Nam là một trong những cơ sở dẫn dắt Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa xã hội Người nói:

“Lúc đầu, chính là chủ yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”[119, tr 563] Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội mang bản chất nhân văn, văn hóa cao đẹp, là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt văn hóa và giải phóng con người Giá trị truyền thống, tư tưởng, văn hoá Việt Nam mà cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước là một trong những yếu tố cơ bản nhất dẫn đến hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về con đường giải phóng dân tộc và phát triển đất nước vì độc lập, tự do

1.1.2 Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển biện chứng nguồn tư tưởng, văn hoá của thế giới

Hồ Chí Minh đã kế thừa và nâng lên tầm cao mới của thời đại nguồn giá trị văn hóa, tư tưởng truyền thống của dân tộc bằng cách kết hợp, tiếp biến, tổng hòa và phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa, tư tưởng phương Đông,

Trang 38

phương Tây, đặc biệt là học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin Người viết:

Học thuyết Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta

Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội” Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết

Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy [52, tr 51]

Điều đó cho thấy, Hồ Chí Minh đã biết kế thừa có phê phán, chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu cho tư tưởng của mình

Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước Vốn tri thức

đầu tiên mà Người có được là vốn tri thức Nho giáo thông qua sự dạy dỗ của

người cha, các thầy giáo làng và qua con đường tự học, tự nghiên cứu đã cho phép Người phát huy những ưu điểm của nó và tránh được những nhược điểm của học thuyết này để phục vụ sự nghiệp cách mạng Rất nhiều giáo huấn của Nho giáo được Người chỉnh lại cho phù hợp với giáo huấn cách mạng Khi kế thừa và vận dụng tư tưởng “chính danh” của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã loại bỏ tính chất duy tâm thiên mệnh, khôi phục lại quan hệ bình đẳng hai chiều tự nhiên trong quan hệ giữa người với người Chính danh ở Nho giáo là “trung với vua, hiếu với cha mẹ” Người đã phát triển tư tưởng này Người cho rằng, không phải chỉ có trung với vua mà còn phải trung với nước, với Tổ quốc, không phải chỉ có hiếu với cha mẹ mà còn phải hiếu với nhân dân Học thuyết

Trang 39

chính danh trong Nho giáo đã bỏ quên vai trò của phụ nữ thì Hồ Chí Minh đã

khôi phục lại quyền và vai trò của phụ nữ trong xã hội với tư tưởng “nói phụ nữ

là nói phân nửa xã hội”[119, tr 300] Rất nhiều những tiêu chuẩn đạo đức của

Nho giáo như cần, kiệm, liêm, chính, lễ, nghĩa, trí, tín cũng được Hồ Chí Minh vận dụng vào lĩnh vực giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên Trong quan niệm về vai trò của nhân dân, Mạnh Tử nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Nhưng theo Hồ Chí Minh thì “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân… Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”[117, tr 453] Theo Người, “Mạnh Tử là một lý luận gia cách mạng của thế hệ ông bởi vì ông là tác giả đầu tiên của câu nói: “Dân là tất thảy, vua không là gì cả”[109, tr 455]

Theo Hồ Chí Minh, đạo Khổng không phải là một tôn giáo, mà là một môn đạo đức học và phép xử thế, xét về cơ bản thì đạo Khổng cũng thuyết giáo về sự hòa mục trong xã hội Trong một lần tâm sự với nhà báo Liên Xô Ô.Mandelstam ngày 23-12-1923, Người nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho Annam… Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Và trên cơ sở đó người ta đưa ra

khái niệm về “thế giới đại đồng””[108, tr 461] Trong bài Phong trào cộng

sản quốc tế, Hồ Chí Minh viết:

Khổng tử vĩ đại (551 trước CN) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều; bình đẳng sẽ xoá bỏ nghèo nàn, v.v Sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của người già… Việc thủ tiêu bất

Trang 40

bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người [108, tr 47]

Thuyết “đại đồng” của Khổng Tử đã được Hồ Chí Minh gắn với cuộc đấu

tranh vì sự công bằng và bình đẳng trong xã hội Trong tác phẩm Đường kách

mệnh, khi giới thiệu về Cách mạng Tháng Mười Nga, Người viết: “Đảng

Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”[109, tr 303-304] Việc Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm “thế giới đại đồng” để trình bày những tư tưởng cách mạng cho thấy trong một chừng mực nào đó, Người đã tìm ra sự tương đồng giữa tư tưởng của Nho giáo với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội

Và nó được Người coi là “những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”[108, tr 47] Những “lý do lịch sử” ở đây theo Hồ Chí Minh chính là những giá trị truyền thống về tư tưởng, văn hoá ở các nước phương Đông; điều kiện kinh tế, xã hội

ở các nước châu Á như sự tồn tại của chế độ công điền (chế độ sở hữu chung

có tính cộng đồng) và tồn tại chế độ công xã nông thôn, khác với phương Tây, tính tư hữu thể hiện rất đậm nét; và đặc điểm của xã hội phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng là vấn đề phân hoá giai cấp chưa triệt để6…

Phật giáo là một tôn giáo thế giới, sớm được du nhập vào Việt Nam và để

lại nhiều dấu ấn trong văn hoá Việt Nam, cũng như trong tư tưởng Hồ Chí Minh Phật tổ có câu: “Con người ta khi mới sinh ra không có ai mang sẵn dấu

nô lệ ở trên trán” hay “mọi người đều có dòng máu đỏ” Hồ Chí Minh trong bài

Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới có câu: “Than ôi, trước

6 Trước khi chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào, ở phương Đông chủ yếu chỉ có đẳng cấp Sang đầu thế kỷ XX vấn đề phân hoá giai cấp đã diễn ra nhưng mâu thuẫn, xung đột giai cấp trong nội bộ dân tộc vẫn nằm ở dưới và chịu sự chi phối của sự mâu thuẫn giữa dân tộc với đế quốc

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
2. Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Học viện Chính trị quân sự (2007), 160 năm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 160 năm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Tác giả: Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Học viện Chính trị quân sự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
3. Hoàng Chí Bảo (1993), Chủ nghĩa xã hội hiện thực: Khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội hiện thực: Khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
4. GS, TS. Hoàng Chí Bảo (2011), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: GS, TS. Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2011
5. Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép (2005), Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng chí Hồ Chí Minh
Tác giả: Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
6. Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, tập 3, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1990
7. Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, tập 4, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1990
8. GS PTS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PTS. Phạm Văn Đức, PTS. Hồ Sĩ Quý (Đồng chủ biên) (1997), Những quan điểm cơ bản của Mác – Ăngghen- Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản của Mác – Ăngghen- Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ
Tác giả: GS PTS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PTS. Phạm Văn Đức, PTS. Hồ Sĩ Quý (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Cương lĩnh và Chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh và Chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay
Tác giả: Cương lĩnh và Chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
10. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
11. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
12. Lê Duẩn (1986), Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1986
13. Lê Duẩn (1987), Tuyển tập, tập 1 (1950 – 1975), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
14. Thành Duy (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. Đại việt sử ký toàn thư (1993), Nxb Khoa học Xã hội, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w