1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn bản hương ước cổ truyền Huyện Văn Lâm - Tỉnh Hưng Yên

164 1,5K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ MINH QUÝ NGHIÊN CỨU VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC CỔ TRUYỀN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ MINH QUÝ

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC CỔ TRUYỀN

HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM

Mã Số : 60 22 40

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH KHẮC THUÂN

Hà Nội - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

3 NGUỒN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6 MỤC ĐÍCH VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 4

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VĂN LÂM VÀ HƯƠNG ƯỚC CỔ TRUYỀN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN 6

1.1 Hệ thống làng xã huyện Văn Lâm - nơi lưu giữ hương ước cổ truyền 6

1.1.1 Huyện Văn Lâm ngày nay 6

1.1.2 Hệ thống làng xã huyện Văn Lâm 10

1.2 Đôi nét về hương ước và hương ước huyện Văn Lâm 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm 16

Chương 2: VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC CỔ TRUYỀN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN 22

2.1 Văn bản hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên 22

2.1.1 Văn bản 22

2.1.2 Kết cấu 29

2.2 Phân loại hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm 34

Chương 3: NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC CỔ TRUYỀN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN 38

3.1 Nội dung 38

3.1.1 Những quy ước về việc bảo vệ an ninh làng xã 38

3.1.2 Những quy ước nhằm bảo đảm đời sống tâm linh của cộng đồng 39 3.1.3 Những quy ước về việc bảo đảm các nghĩa vụ với nhà nước 42

Trang 3

3.1.4 Những quy định về thưởng phạt 42

3.1.5 Những quy ước về khuyến nông 45

3.1.6 Những quy ước về việc khuyến học 46

3.1.7 Những quy định về việc cưới xin 47

3.1.8 Những quy định về việc ma chay 48

3.1.9 Những quy định về việc lên lão, mừng thọ 50

3.1.10 Những quy ước về việc giữ gìn thuần phong mĩ tục 51

3.2 Giá trị sử liệu văn bản hương ước cổ truyền 55

3.2.1 Về dấu ấn Nho giáo nơi làng xã 55

3.2.2 Về tổ chức và sinh hoạt làng xã 58

3.3 Những mặt tích cực và hạn chế của hương ước cổ truyền 62

KIẾN NGHỊ 65

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Tài liệu Hán Nôm 74

PHỤ LỤC 75

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Mỗi làng xã người Việt ở đồng bằng Bắc bộ đều có phong tục tập quán riêng, được hình thành hương ước Trải qua các thời kỳ lịch sử, làng xã đều có Hương ước cổ truyền, Hương ước cải lương và Quy ước làng văn hoá Hương ước cổ truyền là hương ước cổ trước thời kì Cải lương hương chính, Hương ước cải lương ra đời trong thời kỳ Cải lương hương chính vào đầu thế

kỉ XX, còn Quy ước xây dựng làng văn hoá hay còn gọi là Tái tạo hương ước được xuất hiện từ khi nông thôn Việt Nam bước vào công cuộc hiện đại hoá nông thôn

Cũng như các làng quê người Việt khác, làng xã huyện Văn Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên hiện còn lưu giữ một di sản hương ước đồ sộ, trong đó có một lượng lớn tài liệu hương ước cổ truyền, hương ước cải lương và quy ước xây dựng làng văn hoá, phản ánh các mặt sinh hoạt văn hoá xã hội, tín ngưỡng của cộng đồng người Việt

Tư liệu hương ước này là kho tàng tư liệu quý giá về làng xã cổ truyền huyện Văn Lâm nói riêng, hương ước Hưng Yên nói chung, từng được nhiều nhà nghiên cứu trong tỉnh và cả nước quan tâm

2 Bản thân cá nhân tôi, vừa làm công tác giảng dạy và vừa làm công tác nghiên cứu văn hóa địa phương, tôi thực sự hào hứng đi sâu nghiên cứu

về tư liệu Hán Nôm làng xã cổ truyền huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên Làm tốt đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần bảo tồn kho di sản Hán Nôm quý giá, cũng như góp phần phát huy và xây dựng quy ước văn hóa hiện nay ở địa phương

Vì lí do trên tôi chọn đề tài luận văn này

Trang 5

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Vấn đề nghiên cứu tục lệ làng xã cổ truyền Việt Nam đã có một số học giả trong và ngoài nước quan tâm Đó là một số ấn phẩm khoa học đã được

xuất bản, mà tiêu biểu là Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng

Bắc Bộ của Trần Từ (Nxb KHXH, Hà Nội, 1984), Hương ước và quản lí làng xã của Bùi Xuân Đính (Nxb KHXH, Hà Nội, 1998); Hương ước làng xã Bắc bộ Việt Nam với luật làng Kan to Nhật Bản (thế kỷ XVII-XIX) của Vũ

Duy Mền & Hoàng Minh Lợi, Viện Sử học, H 2001 Đáng kể hơn cả là

Chuyên đề hương ước của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lí (1996), Một số giá trị văn hoá truyền thống với đời sống văn hoá ở cơ sở nông thôn hiện nay

của Bộ Văn hoá thông tin (1997), Xây dựng quy ước làng văn hoá ở Hà Bắc

(Sở Văn hoá thông tin Hà Bắc, xuất bản 1993) Các công trình trên đã chỉ ra những nét cơ bản về di sản văn hoá làng xã người Việt qua nguồn hương ước,

có tác dụng định hướng cho việc kế thừa các giá trị của hương ước cổ đối với việc soạn thảo hương ước mới, xây dựng làng văn hoá và quản lí xã hội ở nông thôn ngày nay

Đối với các văn bản tục lệ hay hương ước hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng đã được giới thiệu qua một số nghiên cứu gần đây Trong đó, một số đã được chọn dịch trong các sách Hương ước ở địa

phương, như Hương ước cổ Hà Tây, Hương ước tỉnh Thanh Hóa, Tục lệ Lạng

Sơn Đặc biệt là công trình nghiên cứu gần đây của PGS TS Đinh Khắc

Thuân trong sách Tục lệ cổ truyền làng xã người Việt, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, 2006, đã khảo cứu, giới thiệu và tuyển dịch khoảng 100 văn bản hương ước cổ truyền, trong đó giới thiệu một số văn bản hương ước huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên Hương ước Hưng Yên và hương ước huyện Văn Lâm cũng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm, khai thác tư liệu như một

số công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa làng xã, địa chí Hưng Yên

Trang 6

Đây là nguồn tài liệu có giá trị nghiên cứu nhiều mặt, liên quan đến phong tục tập quán, tổ chức và hoạt động làng xã huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Qua đó, góp phần tìm hiểu văn hoá và lịch sử làng xã trong các triều đại phong kiến, cũng như có cơ sở khoa học giúp việc quản lí xã hội nông thôn trong điều kiện hiện nay

Công trình này của chúng tôi cố gắng sưu tập đầy đủ thông tin về văn bản hương ước cổ truyền ở các làng xã huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

3 NGUỒN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên có niên đại chủ yếu từ thế kỉ XVII thời Lê đến thời Nguyễn Phần lớn đã được sưu tập tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu từ AF.a3/62 đến AF.a3/86, nghĩa là có trên 20 đầu sách bao gồm hương ước của các xã trong tổng Đại Từ, Thái Lạc, Lạc Đạo, Như Quỳnh, Nghĩa Trai, Đồng Xá, Lương Tài, Nghĩa Trai huyện Văn Lâm Mỗi tổng có vài xã, mỗi xã có một vài thôn có hương ước Hương ước có thể là của riêng từng thôn, hoặc của chung xã, thậm chí của riêng hội

Tư văn, hay của giáp Hương ẩm

Luận văn chủ yếu dựa vào nguồn tài liệu này, kết hợp với điều tra thực địa làng xã huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để xây dựng bộ sưu tập đầy đủ tư liệu hương ước của huyện

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu chính là các văn bản hương ước cổ truyền của các làng xã thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, theo đơn vị hành chính đầu thế kỷ XX, được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Vì số lượng tư liệu nhiều, nên chúng tôi tập trung lập thư mục tóm tắt tất cả văn bản hương ước cổ truyền của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, trên cơ sở đó, phân loại và đi sâu phân tích văn bản và giá trị nội dung một số văn bản có niên đại

Trang 7

sớm mang tính đặc thù tiêu biểu cho mỗi loại hình văn bản hương ước, mỗi địa phương

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản học Hán Nôm, nhằm xác định niên đại văn bản, bao gồm niên đại xuất hiện hương ước và niên đại sao chép ương ước Bên cạnh đó là phương pháp thống kê, phân tích rất có ý nghĩa quan trong trong quá trình xử lý tư liệu

Ngoài ra, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành vì hương ước là loại tư liệu Hán Nôm mang tính chất đa ngành.Nhằm khai thác

tư liệu liên quan đến phong tục truyền thống làng xã, truyền thống văn hóa nơi làng xã chúng tôi đã vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau như sử học, văn hóa dân gian, dân tộc học…

6 MỤC ĐÍCH VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Trước hết luận văn đưa ra một sưu tập tương đối đầy đủ về hương ước

cổ truyền làng xã huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Đồng thời lập các bảng thống kê chi tiết, cụ thể, cho phép đánh giá đầy đủ về số lượng văn bản hương ước ở các làng xã trong huyện Văn Lâm Qua đó, luận văn xác định những văn bản có niên đại sớm, cũng như những văn bản có giá trị nội dung tiêu biểu cho các loại hình hương ước tiêu biểu, làng xã cổ truyền tiêu biểu Luận văn bước đầu phân tích giá trị hương ước trong bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa nơi làng xã ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về huyện Văn Lâm và hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Chương 2: Văn bản hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Trang 8

Chương 3: Nội dung và giá trị văn bản hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VĂN LÂM VÀ HƯƠNG ƯỚC CỔ TRUYỀN

HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN1.1 Hệ thống làng xã huyện Văn Lâm - nơi lưu giữ hương ước cổ truyền

1.1.1 Huyện Văn Lâm ngày nay

Tỉnh Hưng Yên nằm ở trung tâm của đồng bằng sông Hồng, được thành lập vào năm 1831 gồm 2 phủ (Khoái Châu và Tiên Hưng) Phủ Khoái Châu có 5 huyện: Đông An (Khoái Châu), Kim Động, Thiên Thi (Ân Thi), Phù Dung (Phù Cừ), Tiên Lữ; Phủ Tiên Hưng có 3 huyện: Thần Khê, Diên

Hà, Hưng Nhân Đến cuối thế kỉ, 3 huyện của phủ Tiên Hưng cắt về tỉnh Thái Bình và nhập thêm 3 huyện của tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh là Yên Mĩ, Mĩ Hào, Văn Lâm Đến năm 1947, nhập thêm huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh Sau nhiều lần chia tách, sáp nhập địa giới trong lịch sử, tỉnh Hưng Yên ngày nay có 09 đơn vị hành chính cấp huyện và 01 thành phố trực thuộc tỉnh gồm: thành phố Hưng Yên, huyện Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, Ân Thi, Khoái Châu, Văn Giang, Yên Mĩ, Văn Lâm, Mĩ Hào

Trong đó, Văn Lâm là huyện nằm ở phía bắc tỉnh Hưng Yên, phía bắc

và đông bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía tây giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp các huyện Văn Giang, Yên Mỹ và Mỹ Hào, phía đông giáp tỉnh Hải Dương Cũng như các địa phương thuộc đồng bằng sông Hồng khác, huyện Văn Lâm

có địa hình bằng phẳng, điều kiện khí hậu thủy văn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, có điều kiện thâm canh gối vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi…

Ngoài ra, huyện có Quốc lộ 5A và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy

từ đông sang tây, hai trục giao thông này là điều kiện thuận lợi để Văn Lâm

có thể giao lưu trực tiếp với hai trung tâm kinh tế, văn hóa lớn, quan trọng của

Trang 10

các tỉnh phía Bắc là Hà Nội và Hải Phòng Hiện nay, Văn Lâm là trung tâm công nghiệp, thương mại quan trọng của tỉnh Hưng Yên Bên cạnh đó, nhiều khu đô thị mới đang được xây dựng tại đây góp phần tạo nên diện mạo mới cho khu vực năng động này

Văn Lâm là vùng đất giàu tính văn hiến - văn hóa - anh hùng, chịu ảnh hưởng của văn hóa Kinh Bắc, có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tầm cỡ vùng, quốc gia như: chùa Nôm, cầu đá, chùa Thái Lạc, đền Nguyên phi Ỷ Lan, Từ Vũ họ Trương hấp dẫn du khách Hàng năm, lễ hội cổ truyền diễn ra tại các di tích trên thu hút hàng ngàn lượt người trong và ngoài tỉnh tham gia

Lạc Đạo là một trong xã của tỉnh Hưng Yên nổi tiếng trong cả nước về truyền thống hiếu học Xã có một trạng nguyên, 2 hoàng giáp và 8 tiến sĩ

Huyện Văn Lâm có lịch sử phát triển lâu đời gắn liền với các làng nghề truyền thống nổi tiếng như làng nghề đúc đồng tại làng Nôm đã đi vào ca dao

xưa: Đồng nát thì về cầu Nôm/ Con gái nỏ mồm về ở với cha Thời Lê trung

hưng, người dân nơi đây về Thăng Long lập phường đúc tiền cho triều đình, tạo nên phố Lò Đúc ngày nay

Lạc Đạo và Nghĩa Trai nổi tiếng trong cả nước không chỉ với danh đất học, đất làm thầy mà còn nổi tiếng bởi các nghề truyền thống Lạc Đạo gạo

trắng, nước trong cất nên rượu nồng men say: Đất Lạc Đạo lưu linh say ngất/

Rượu Nam bang đệ nhất là đây Để chưng cất được mẻ rượu theo cổ truyền

đạt tiêu chuẩn, người dân Lạc Đạo phải cẩn trọng từ khâu chọn lựa gạo nếp,

đồ xôi, đến khâu ủ men, nấu rượu Cách nấu rượu của người dân nơi đây theo

phương pháp “ba tòa” truyền thống Nhưng có lẽ vì có bí truyền “Men Lạc

Đạo, gạo đồng Bừng”nên từ bậc tao nhân mặc khách đến người dân thường

khi uống rượu Lạc Đạo đều “tửu lạc vong bần tại đạo” (uống rượu vui quên nghéo yên ở đạo)

Trang 11

Theo truyền thuyết, nghề thuốc ở Nghĩa Trai, xã Tân Quang có từ thời vua Lí Thần Tông (1128-1138), đến thời Trần đã phát triển thành trung tâm

trồng và chế biến thuốc: Dù ai buôn đâu bán đâu/ Thuốc Nam thuốc Bắc thì

về Nghĩa Trai Người dân địa phương đã giữ gìn và phát triển nghề cho đến

ngày hôm nay

Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên hiện có 11 đơn vị hành chính cấp xã gồm thị trấn Như Quỳnh và 10 xã: Lạc Đạo, Chỉ Đạo, Đại Đồng, Việt Hưng, Lương Tài, Minh Hải, Lạc Hồng, Đình Dù, Trưng Trắc, Tân Quang Các cơ quan công quyền của huyện chủ yếu nằm tại thị trấn Như Quỳnh

Thị trấn Như Quỳnh diện tích hành chính là 7,07 km2 gồm 6 thôn phố: Hành Lạc, Ngô Xuyên, Như Quỳnh, Ngọc Quỳnh, Minh Khai, phố Như Quỳnh

Xã Lạc Đạo diện tích hành chính là 8,58 km2 gồm 12 thôn: thôn Giữa, Cầu, Trình, Ngọc, Cự, Mụ, Hoằng, Đoan Khê, Hùng Trì, Tân Nhuế, Đồng Xá, Hướng Đạo

Xã Chỉ Đạo diện tích hành chính là 5,97 km2 gồm 4 thôn: Trình Xá, Cát Lư, Nghĩa Lộ, Đông Mai

Xã Đại Đồng diện tích hành chính là 8,03 km2 gồm 9 thôn: Đại Đồng, Đồng Xá, Đại Bi, Đại Từ, Xuân Phao, Văn Ổ, Lộng Thượng, Bùng Đông, Đình Tổ

Xã Việt Hưng diện tích hành chính là 7,55 km2 gồm 8 thôn: Đồng Chung, Mễ Đậu, Thục Cầu, Phả Lê, Sầm Khúc, Thanh Miếu, Cự Đình, thôn Ga

Xã Tân Quang diện tích hành chính là 6,02 km2 gồm 8 thôn: Nghĩa Trai, Thọ Khang, Bình Lương, Ngọc Đà, Cự Dũng, Ngọc Loan, Tăng Bảo, Chí Trung

Trang 12

Xã Đình Dù diện tích hành chính là 4,48 km2 gồm 5 thôn ấp: Thị Trung, Đình Dù, Ngải Dương, Xuân Lôi, ấp Đồng Xá

Xã Minh Hải diện tích hành chính là 7,73 km2 gồm 6 thôn: Thanh Khê, Hoàng Nha, Thanh Đặng, thôn Chùa, thôn Ao, thôn Khách

Xã Lương Tài diện tích hành chính là 8,89 km2 gồm 14 thôn: Xuân Đào, Khuyến Thiện, Tuấn Lương, Phú Nhuận, Mậu Lương, Nghi Cốc, Lương Tài, Đông Trại, thôn Bến, Tân ấp, Tảo A-B, Tảo C, Dinh Khuốc

Xã Trưng Trắc diện tích hành chính là 4,90 km2 gồm 6 thôn: An Lạc, Tuần Dị, Nhạc Lộc, Trai Túc, Ngọc Lịch, Mộc Ti

Xã Lạc Hồng diện tích hành chính là 5,20 km2 gồm 7 thôn: Bình Minh, Nhạc Miếu, Hồng Thái, Phạm Kham, Minh Hải, Quang Trung, Hồng Cầu

Bản đồ hành chính huyện Văn Lâm ngày nay

Trang 13

1.1.2 Hệ thống làng xã huyện Văn Lâm

Huyện Văn Lâm được thành lập từ năm 1890, gồm đất đai của các huyện Văn Giang (tổng Đại Từ, Thái Lạc), huyện Gia Lâm (tổng Lạc Đạo, Nghĩa Trai, Như Kinh), huyện Siêu Loại (tổng Đồng Xá), huyện Lang Tài (tổng Lang Tài), tỉnh Bắc Ninh

Theo số liệu lưu trữ qua tập sách Địa danh và tài liệu lưu trữ về tên

làng xã Bắc Kỳ (Viễn Đông bác cổ Pháp tại Hà Nội, Hà Nội 1999, trang

440-441), huyện Văn Lâm có 7 tổng là:

Nghĩa Trai gồm 7 xã: Tam Dị (Tuấn Dị), Nhạc Lộc, Trai Túc, Nghĩa Trai, Đình Luân (Đình Loan), Cự Sưu (Cự Dũ), Chí Trung

Thái Lạc gồm 11 xã: Thái Lạc, Nhạc Miếu, Ôn Xá, Thị Trung, Đình

Dù, Ngải Dương, Thanh Khê, Hoàng Nha, Thanh Đặng, Hương Lãng, An Lạc

Như Quỳnh gồm 5 xã: Hành Lạc, Ngô Xuyên, Như Quỳnh, An Xuyên, Ngọ Cầu

Lạc Đạo gồm 5 xã: Lạc Đạo, Đoan Khê, Hùng Trì, Ngu Nhuế, Hướng Đạo

Đại Từ gồm 6 xã: Đại Từ, Lộng Đình, Trình Xá, Cát Lư, Nghĩa Lộ, Đông Mai

Lương Tài gồm 9 xã: Cận Duyệt, Mậu Duyệt, Nhuận Trạch, Đồng Xuyên, Xuân Đào, Khuyến Thiện, Tuấn Lương, Mậu Lương, Lương Tài

Đồng Xá gồm 5 xã: Mĩ Xá, Thục Cầu, Sầm Khúc, Đồng Xá, Đại Đồng Theo tài liệu kê khai Thần tích sắc phong của các địa phương trong huyện Văn Lâm năm 1938 (hiện lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội,

Hà Nội), huyện Văn Lâm khi đó có 8 tổng, gồm tổng Đại Lâm, Đại Từ, Đồng

Xá, Lạc Đạo, Lương Tài, Nghĩa Trai, Như Quỳnh và Thái Lạc

Trang 14

Năm 1977, Hội đồng Chính phủ hợp nhất huyện Văn Lâm và Mĩ Hào thành một huyện lấy tên là Văn Mĩ Năm 1979, Hội đồng chính phủ hợp nhất huyện Văn Yên và Văn Mĩ (trừ 14 xã cắt sang huyện Khoái Châu) thành một huyện lấy tên là Mĩ Văn Năm 1999, huyện Mĩ Văn được chia thành 3 huyện: Văn Lâm, Yên Mĩ và Mĩ Hào

Sau nhiều lần sáp nhập, chia tách, về cơ bản, địa giới huyện Văn Lâm ngày nay tương đương huyện Văn Lâm trước khi nhập thành huyện Mĩ Văn

Có nghĩa là tương đương huyện Văn Lâm vào những năm đầu trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945

So sánh các địa danh hành chính thuộc các xã phường ngày nay, địa danh địa giới xã hầu như không thay đổi Chính vì vậy văn bản hương ước ở các làng xã trong huyện Văn Lâm lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm được sưu tập vào những năm đầu thế kỷ trước, bao gồm cơ bản hương ước làng xã huyện Văn Lâm xưa và nay

So với các địa phương khác trong tỉnh, huyện Văn Lâm ngày nay có nguồn lực khá tiềm năng trong việc phát triển kinh tế địa phương Sự phát triển kinh tế nhanh, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông thôn, góp phần biến đổi nhanh chóng cảnh quan nông thôn đồng thời tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến lối sống, tập tục của người dân nơi đây đặc biệt là đối với giới trẻ Nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị mai một, nhiều giá trị văn hóa mới không phù hợp với thuần phong mĩ tục xuất hiện Những hệ lụy do chúng gây ra tác động xấu đến môi trường văn hóa xã hội của địa phương Vì vậy vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị tục lệ cổ truyền như thế nào cho phù hợp với xu hướng xây dựng nông thôn mới ngày nay ở huyện Văn Lâm cũng như các địa phương khác, được đặt ra hết sức cấp bách Muốn giải đáp được điều đó trước hết cần hiểu rõ đặc điểm và nội dung tục lệ cổ truyền ở Văn Lâm

Trang 15

1.2 Đôi nét về hương ước và hương ước huyện Văn Lâm

1.2.1 Khái niệm

Hương ước là một loại hình văn bản đã từ rất lâu được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Để đi sâu tìm hiểu

về hương ước trong làng xã, trước hết chúng ta tìm hiểu về thuật ngữ hương ước

Hương ước, về nghĩa chữ Hán hương là làng, còn ước là quy ước, tức

là chỉ quy ước ở hương Thuật ngữ này xuất hiện ở Trung Quốc và ở các nước trong khu vực sử dụng chữ Hán và ảnh hưởng văn hóa Hán như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản Tuy nhiên, quy mô, phạm vi của hương ở mỗi nước một khác Nhìn chung hương ở Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên trước đây thường lớn hơn hương ở Việt Nam Từ điển “Tân Từ Hải” giải thích: Hương (鄉) là khu vực phía ngoài thành phố (Thời Chu một hương bao gồm 12.000 nhà), còn ước (約) là điều kiện ấn định, đặt ra [23] Vì thế số lượng hương ước ở Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên bao gồm một vùng dân cư rộng lớn hơn nhiều so với ở Việt Nam

Khái niệm về hương ước, ở Việt Nam được một số nhà nghiên cứu đã

đề cập đến Theo GS Phan Đại Doãn, hương ước là luật lệ làng, bắt buộc các thành viên phải tuân thủ Hương ước gắn bó các thành viên trong trong một cộng đồng tương đối chặt chẽ và tự nguyện, lệ thuộc lẫn nhau, phục tùng làng

xã [2, tr.87]

GS Ninh Viết Giao cho rằng: “Hương ước là văn bản pháp lý của mỗi

làng, trong đó bao gồm các điều ước về dân sự, hình sự, các điều ước về giữ gìn đạo lý, về phong tục tập quán v.v… có liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đời sống nhân dân trong làng Hương ước dùng để điều hoà quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, hoặc giữa tập thể này với tập thể khác Do đó cần phải xây dựng những quy ước chung Đồng thời

Trang 16

hương ước còn là tấm gương phản chiếu bộ mặt xã hội cũng như đời sống văn hoá của mỗi làng.” [7, tr.521]

Trên thực tế, hương ước có nhiều tên gọi khác nhau Theo PGS.TS Vũ

Duy Mền trong cuốn Hương ước làng xã bắc bộ Việt Nam với luật làng Kanto

Nhật Bản, khái niệm hương ước có khoảng 50 tên gọi khác nhau, như: hương

tục, hương lệ, hương biên, hương khoán, lệ tục, phe khoán, phiên khoán, sự

lệ, tục lệ, ước lập, văn ước, khoán ước, khoán lệ, khoán bạ v.v… Các văn bản Hán Nôm liên quan đến hương ước hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ yếu được gọi là tục lệ Vì thế khi sưu tập và giới thiệu các văn bản này, PGS.TS Đinh Khắc Thuân gọi là tục lệ, “Tục lệ làng xã cổ truyền Việt Nam” [22]

Những văn bản hương ước, tục lệ hay khoán lệ này có thể được gọi chung là hương ước làng xã truyền thống, hay tục lệ cổ truyền

Hương ước được truyền khẩu từ rất sớm trước khi được văn bản hóa trên các chất liệu như đá, đồng, gỗ, giấy…Cho đến nay, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa vẫn chưa xác định được chính xác thời điểm ra đời của hương ước

Hương ước ra đời sớm nhất hiện tìm thấy là bản sao “Hương ước làng Tri Lễ” thuộc huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Theo nhà nghiên cứu Trần Thanh Tâm, hương ước này được thể hiện trên loại giấy bản khổ rộng 43 x 36

đã vàng ố và mục nát bốn góc Tờ thứ nhất và mặt trước của tờ thứ hai ghi niên hiệu, chức vụ viên tiểu ti (chức quan xã thời Lê sơ), chữ kí (thủ bút) và con dấu của viên quan đó

Nội dung của văn bản yêu cầu về việc sắm sửa áo mũ để đón xa loan của Bình Định hoàng đế đi tuần qua Các quan viên, chức sắc đã lập ra tờ giao ước quy định về việc cắt đặt các viên quan tế, cách ăn mặc của dân, nói năng phải theo phép nước Người nào dung tục, mọi rợ, sơ xuất phải chịu trọng tội

Trang 17

Về hình thức, nội dung của các văn bản hương ước xuất hiện sớm đều sơ lược, chưa đầy đủ, phong phú như các bản sau này

Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1496), triều đình đã ra sắc lệnh thể chế hóa hương ước Điều này khẳng định các làng xã người Việt lập hương ước từ

thế kỉ XV Thời Lê Trung hưng, cuốn Lê triều giáo hóa điều luật ra đời gồm

47 điều nhằm khuyên bảo dân chúng sống trung hiếu, tiết nghĩa, giữ luân lí đạo đức và các truyền thống tốt đẹp của dân tộc Sang thời Nguyễn, vua Minh Mệnh đã ban hành các điều luật nhằm răn đe tệ về ăn uống, cưới xin, ma

chay, thờ thần, thờ Phật …thông qua sách Chấn chỉnh hương phong

Như vậy, trải qua các thời kì từ Lê sơ đến triều Nguyễn, nhà nước phong kiến luôn có các điều luật nhằm quản lí và chấn chỉnh các hoạt động làng xã Hương ước đã tồn tại song song với pháp luật của nhà nước, từng giữ vai trò là công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng và để quản

lí làng xã Hương ước được người xưa tạo ra để đưa pháp luật của nhà nước phong kiến về làng xã, nơi mà người dân trình độ văn hóa thấp, cả đời chưa ra khỏi lũy tre làng Hương ước của làng xã góp phần cùng với luật pháp của nhà nước để quản lí xã hội Đồng thời, nhà nước cũng dùng các chính sách để chỉnh đốn phong tục mà chủ yếu là các hủ tục, không để hương ước thoát li khỏi luật pháp, làng xã nằm ngoài sự bảo hộ của nhà nước

Hương ước cải lương

Từ đầu thế kỉ XX, nhất là từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914-1918), chính quyền Đông Dương cải tổ bộ máy hành chính làng xã (Réorganisation d"Administration communale) được mở đầu từ Nam Kỳ vào năm 1904 Đến tháng 8 năm 1921 cải lương hương chính mới bắt đầu ở Bắc

Kỳ với trọng tâm là thay thế Hội đồng kỳ mục (Hội đồng của các chức dịch là lão làng) bằng Hội đồng tộc biểu (Hội đồng với các đại diện là tộc họ) Hội đồng tộc biểu này được gọi là Hội đồng hương chính Nghị định số 1949 kí

Trang 18

ngày 12 tháng 8 năm 1921 do Thống sứ Bắc kì quy định thành lập ở mỗi làng một Hội đồng tộc biểu với số lượng thành viên tuỳ thuộc số dòng họ và nhân khẩu trong làng; các tộc biểu phải từ 25 tuổi trở lên, biết chữ quốc ngữ và có tài sản Nhiệm vụ của Hội đồng tộc biểu là quản lý, điều hành công việc làng

xã, thực thi các chỉ thị và nghĩa vụ với Nhà nước

Bên cạnh việc thiết lập Hội đồng tộc biểu, chính quyền thuộc địa cho văn bản hoá việc cải cách làng xã này qua các điều khoản của Hương ước cải lương

Về hình thức, văn bản hương ước cải lương giống như văn bản hương ước truyền thống Nội dung hương ước cải lương cũng giống như nội dung của hương ước truyền thống đều bao gồm các quy ước liên quan đến bộ máy hành chính và các tổ chức xã hội trong làng xã, quy ước về các hoạt động văn hóa xã hội, quy ước về việc thờ thần và tế lễ hàng năm, quy ước liên quan đến sản xuất nông nghiệp và hoạt động của một số phường hội thủ công, quy ước

về thưởng phạt, quá trình điều chỉnh và bổ sung hương ước…Song, bố cục nội dung của hương ước truyền thống được trình bày theo các điều mục lớn, trong các điều mục lớn đó lại bao gồm nhiều ý nhỏ, còn bố cục nội dung của hương ước cải lương bao gồm hai phần lớn: một là Chính trị - Tổ chức hội đồng tộc biểu; hai là Tục lệ

Về việc tái lập hương ước

Việc tái lập hương ước được khởi đầu từ năm 1993, sau Nghị quyết

Trung ương V của Ban chấp hành Trung ương khoá VII Khuyến khích xây

dựng và thực hiện các hương ước, các quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn xã Tiếp đó nhiều đại phương tổ chức biên soạn hương ước mới mà phần

lớn đều gọi là Quy ước làng văn hoá

Nội dung các quy ước xây dựng làng văn hoá ở huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, cũng như ở các địa phương khác đều dựa theo quy định chung So

Trang 19

với hương ước cải lương, Quy ước làng văn hoá ngắn gọn, rõ ràng hơn, gồm các chương Quy định chung, Xây dựng gia đình văn hoá, Thực hiện nếp sống văn minh, Chấp hành pháp luật, Trưởng thôn và hội nghị làng, Xây dựng cơ

sở hạ tầng, Khuyến học khuyến nông, Khen thưởng kỷ luật và chương Tổ chức thực hiện

Hương ước cổ truyền hay Hương ước cải lương hoặc Quy ước làng văn hoá ở Văn Lâm tỉnh Hưng Yên là vô cùng phong phú, có vai trò nhất định trong việc xây dựng và phát huy truyền thống văn hoá nơi làng xã, góp phần quản lý và phát triển làng xã trong tiến trình lịch sử Trong luận văn này, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu hương ước cổ truyền ở Văn Lâm

1.2.2 Hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm

Chúng tôi giới thiệu ở đây, hương ước cổ truyền hay tục lệ làng xã cổ truyền huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên được sưu tập và lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội

Tên gọi văn bản hương ước ở Văn Lâm xuất hiện với các tên gọi khác nhau như hương ước 鄉 約, khoán lệ 券 例, khoán ước 券約, tục lệ 俗 例, trong đó, tục lệ và khoán lệ được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất, chẳng hạn: Hưng Yên tỉnh Văn Lâm huyện các xã hương ước phong thổ tục lệ 興 安

Lâm huyện các xã khoán lệ興 安 省 文 林 縣 各 社 券 例, Hưng Yên tỉnh Văn Lâm các xã khoán ước興 安 省 文 林 縣 各 社 券 約, Hưng Yên tỉnh Văn Lâm huyện các xã tục lệ興 安 省 文 林 縣 各 社 俗 例,

Số lượng văn bản tục lệ cổ truyền huyện Văn Lâm trong kho tư liệu Hương ước Viện Nghiên cứu Hán Nôm, được tập hợp theo đơn vị làng, xã,

Trang 20

tổng trong huyện vào những năm đầu thế kỷ XX, bao gồm các địa phương sau đây [12, tr 842-868]:

1 Tục lệ 6 xã tổng Đại Từ 大 慈 huyện Văn Lâm 興 安 省 文 林

2 Tục lệ 5 xã tổng Lạc Đạo huyện Văn Lâm 興 安 省 文 林 縣 各

3 Tục lệ 3 thôn của xã Hương Lãng, tổng Thái Lạc, huyện Văn Lâm

4 Tục lệ 3 thôn xã Hương Lãng, tổng Thái Lạc, huyện Văn Lâm 興 安

5 Tục lệ 2 thôn xã Ngải Dương, tổng Thái Lạc, huyện Văn Lâm 興 安

6 Tục lệ 1 giáp 3 thôn 3 xã thuộc tổng Thái Lạc, huyện Văn Lâm興

7 Tục lệ 1 thôn 3 xã thuộc tổng Thái Lạc, huyện Văn Lâm興 安 省

Trang 21

8 Tục lệ 2 xã Thanh Khê và Yên Lạc thuộc tổng Thái Lạc huyện Văn

trang

9 Tục lệ xã Thái Lạc, thuộc tổng Thái Lạc, huyện Văn Lâm興 安 省

10 Tục lệ 2 thôn của xã Đại Đồng, thuộc tổng Đồng Xá, huyện Văn

11 Tục lệ các giáp trong thôn Uy Nghi, xã Đồng Xá thuộc tổng Đồng

Xá, huyện Văn Lâm興 安 省 文 林 縣 各 社 鄉 約 俗 例, AFa3/64, 1 bản viết, 132 trang

12 Tục lệ 2 thôn của xã Mỹ Xá thuộc tổng Đồng Xá, huyện Văn Lâm

13 Tục lệ 2 thôn của xã Sầm Khúc thuộc tổng Đồng Xá, huyện Văn

trang

14 Tục lệ 2 thôn của xã Thục Cầu, thuộc tổng Đồng Xá, huyện Văn

trang

15 Tục lệ xã Hành Lạc thuộc tổng Như Quỳnh huyện Văn Lâm興 安

Trang 22

16 Tục lệ 3 xã thuộc tổng Lương Tài, huyện Văn Lâm興 安 省 文

17 Tục lệ 4 thôn của xã Cận Duyệt thuộc tổng Lương Tài, huyện Văn

trang

18 Tục lệ xã Khuyến Thiện thuộc tổng Lương Tài, huyện Văn Lâm興

19 Tục lệ xã Lương Tài thuộc tổng Lương Tài, huyện Văn Lâm興 安

20 Tục lệ 2 thôn của xã Mậu Lương, thuộc tổng Lương Tài huyện Văn

trang

21 Tục lệ xã Nhuận Trạch thuộc tổng Lương Tài huyện Văn Lâm興

22 Tục lệ 2 thôn của xã Tuấn Lương thuộc tổng Lương Tài huyện Văn

trang

Trang 23

23 Tục lệ 6 thôn thuộc 3 xã tổng Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm興 安

24 Tục lệ 4 xã thuộc tổng Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm興 安 省 文

25 Tục lệ xã Nghĩa Trai thuộc tổng Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm興 安

Như vậy, huyện Văn Lâm có hương ước của các xã thuộc 7 tổng sau: tổng Đại Từ có 6 xã, tổng Lạo Đạo có 5 xã, tổng Thái Lạc có 11 thôn 12 xã, tổng Đồng Xá có 7 thôn 4 xã, tổng Như Quỳnh 1 xã, tổng Lương Tài 4 thôn 9

xã, tổng Nghĩa Trai 7 xã Tất cả gồm 22 thôn 44 xã thuộc 7 tổng của huyện Văn Lâm có hương ước Mỗi hương ước cổ truyền có từ trên 10 điều đến 60 điều, như thôn Cự Đình, xã Lộng Đình có 11 điều lập năm Cảnh Hưng thứ 27 (1766), cổ khoán xã Hương Lãm có tới 68 điều soạn từ năm Tự Đức thứ 14 (1861) đến niên hiệu Đồng Khánh thứ 3 (1888)…

Tiểu kết chương 1 Hương ước ra đời là kết quả của quá trình phát triển nội tại của các làng

xã Việt Nam trong lịch sử Nó là văn bản pháp lí của mỗi địa phương nhằm mục đích điều hòa các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư đồng thời là công

cụ để triều đình phong kiến can thiệp vào cuộc sống của người dân sau lũy tre làng Về cơ bản, hương ước không trái với pháp luật của nhà nước phong kiến

mà nó bổ sung và cụ thể hóa những quy định, những điều khoản mà luật pháp của nhà nước chưa chi tiết tới từng làng xã Hơn nữa, hương ước do các vị

Trang 24

chức sắc hoặc đại diện làng xã lập ra dựa trên nhu cầu thực tiễn của nhân dân địa phương nên hương ước có ý nghĩa thiết thực đối với từng người dân Người dân sống trong cộng đồng làng xã thực hiện những điều quy định trong hương ước một cách tự giác nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bản thân Chính vì vậy, hương ước có sức sống mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc sống của mỗi con người không kể tầng lớp, nghề nghiệp hay giới tính

Văn Lâm là một huyện thuộc tỉnh Hưng Yên nằm ngay sát cửa ngõ kinh

đô Thăng Long trước đây và thủ đô Hà Nội ngày nay, bao gồm các làng xã cổ truyền có lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa như các làng xã cổ truyền đồng bằng Bắc bộ khác, có kho tàng tục lệ phong phú Trong khoảng gần một trăm văn bản tục lệ hay hương ước cổ truyền của tỉnh Hưng Yên được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, huyện Văn Lâm có 25 bản, chủ yếu là các bản chép tay chữ Hán, chữ Nôm được sao đầy đủ, chi tiết vào đầu thế kỉ XX Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, về quan hệ huyết thống (họ hàng, chi phái),

về ngành nghề lao động sản xuất, quan hệ tín ngưỡng tôn giáo…mà mỗi làng

xã lại có những điểm chung và điểm riêng trong hương ước Những yếu tố này đã tạo nên nét đặc trưng trong phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của địa phương Thông qua hương ước, những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa của làng xã được biểu hiện một cách sinh động, cụ thể, chi tiết Đây

là nguồn tài liệu quý giá về làng xã cổ truyền huyện Văn Lâm nói riêng, tỉnh Hưng Yên nói chung

Trang 25

Chương 2 VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC CỔ TRUYỀN HUYỆN VĂN LÂM,

TỈNH HƯNG YÊN

2.1 Văn bản hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

2.1.1 Văn bản

Hầu hết niên đại sớm nhất của các văn bản tục lệ hay hương ước làng

cổ truyền người Việt ở đồng bằng và trung du Bắc, Trung bộ nước ta xuất hiện từ thế kỷ XVII, trong đó điển hình là hương ước làng Dương Liễu (Hà Nội), làng Mộ Trạch (Hải Dương) soạn thảo vào năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) soạn vào thế kỷ XVII Tục lệ làng Quỳnh Đôi

chép trong sách Quỳnh Đôi hương biên, kí hiệu A.3154 do Hồ Phi Hội biên

tập, sách chép về hương lệ của làng, song chỉ có một vài điều khoản, còn lại chép các công việc khác của làng

Cũng trong các bản tục lệ đó, ở một số làng chép lại được một số khoán

ước được soạn dưới thời Lê Hồng Đức, như Đại Phùng tổng khoán ước, kí

hiệu A.2875 soạn vào năm Chính Hoà thứ 5 (1684), nhắc lại một số điều ước

từ năm Hồng Đức thứ 6 (1475) Văn bản bia Trăn Tân từ lệ ở đền Trăn Tân,

huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, khắc năm Hồng Đức thứ 18 (1487) ghi lại việc các xã trong hai huyện Thiện Tài và Gia Định, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc định điều lệ tế Thần Đây là hai trong số văn bản tục lệ hiếm hoi xuất hiện dưới niên hiệu Hồng Đức thế kỷ XV Thế kỷ XVI, tuy không tìm thấy văn bản tục lệ nào, song tục lệ khắc trên bia thì lại khá phổ biến, trong đó tiêu

biểu là văn bia Phúc Lâm Hoằng Thệ tự đình thị bi ở chùa Phúc Lâm, xã Vĩnh

Thệ, huyện Tiên Phong (nay là huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội), dựng năm Hưng Trị thứ 2 (1589) ghi điều ước rằng chùa Phúc Lâm của hương Chân Na, định lệ chia làm 12 khu phân chia sắm lễ vật và rước lễ

Trang 26

Đến thế kỷ XVII thì tục lệ khắc trên bia khá phổ biến, cùng với hàng loạt văn bản tục lệ được xuất hiện Đây là giai đoạn tái biên soạn hương ước làng xã người Việt Thực tế, tục lệ ở làng xã xuất hiện khá sớm, song việc văn bản hoá thành văn bản để thi hành và lưu truyền thường lại diễn ra muộn hơn nhiều, thậm chí rất muộn, như khá nhiều hương ước ở các địa phương thuộc tỉnh Phú Thọ đều ghi rằng các điều lệ của làng chỉ truyền khẩu mà không có sách vở nào, mãi đến những năm đầu thế kỷ XX mới sao chép lại [22, tr.20]

Thực tế, các văn bản tục lệ chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ XV trở đi ở làng

xã đồng bằng Bắc bộ, khi mà xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở và làng xã được tổ chức ngày càng chặt chẽ Nhà nước phong kiến ban hành chính sách quân điền, quy chế hoá việc chia cấp phần ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước nằm trong các làng xã, nhằm can thiệp sâu vào từng đơn vị

tụ cư đó Tuy vậy làng nào cũng có lệ chia cấp riêng Bởi thế nhà nước có pháp luật thì làng xã có lệ làng

Văn bản tục lệ hiện có ở kho sách Hán Nôm, trong đó văn bản tục lệ huyện Văn Lâm, chủ yếu là phông sách kí hiệu AF, gồm các văn bản chép tay

từ các địa phương gửi đến trong dịp sưu tầm và xây dựng kho tư liệu Hán Nôm của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp tại Hà Nội vào những năm đầu thế kỷ

XX Tuy phần lớn sách tục lệ không phải là bản gốc mà chủ yếu là bản sao, song các điều khoản có niên đại sớm đều được chép lại đầy đủ, thậm chí nhiều bản hương ước có khá nhiều niên đại khác nhau, bởi hương ước đó luôn được bổ sung và điều chỉnh vào các thời điểm khác nhau về sau

Số lượng văn bản hương ước cổ truyền Văn Lâm hiện có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thống kê như sau:

Trang 27

Văn bản hương ước cổ truyền làng xã huyện Văn Lâm

TT Đơn vị văn bản/Xã Thôn-giáp Kí hiệu Niên đại Số điều

Cự Đình

Cự Đà Lộng Thượng

AF.a3/81 AF.a3/82

Trang 30

Về niên đại, các tục lệ ra đời sớm nhất được ghi trong văn bản hương ước huyện Văn Lâm chủ yếu từ những năm cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỉ XVIII Thời Lê, hương ước được lập sớm nhất là hương ước thôn Thọ Khang

Trang 31

được soạn thảo vào năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740); hương ước xã Thị Trung soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754), hương ước xã Đình Dù soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 22 (1761)…

Thời Tây Sơn, tục lệ thôn Lê Xá, xã Như Quỳnh được lập vào năm Cảnh Thịnh thứ 6 (1798); hương ước thôn Bình Lương, xã Bình Loan được

bổ sung vào năm Quang Trung thứ 2 (1789), tục lệ xã Thanh Khê, tổng Thái Lạc được bổ sung và năm Quang Trung thứ 5 (1792)…

Phần lớn hương ước các làng xã thuộc huyện Văn Lâm được lập vào thời Nguyễn Bản hương ước thời Nguyễn sớm nhất của thôn Xuân Lôi, xã Ngải Dương soạn năm Gia Long thứ 5 (1806), tiếp theo là hương ước thôn Mạo Thọ, xã Ôn Xá soạn năm Gia Long thứ 12 (1813); xã Sầm Khúc, tổng Đồng Xá soạn năm Minh Mạng thứ 5 (1824)…

Ngoài ra, hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm còn một số bản không

rõ niên đại biên soạn như Hưng Yên tỉnh,Văn Lâm huyện các xã hương ước

phong thổ tục lệ, kí hiệu AF.a3/62, bao gồm tục lệ 6 xã thuộc tổng Đại Từ

Trong đó, các điều lệ của 4 xã Đông Mai, Trình Xá, Đại Từ, Lộng Đình không ghi niên đại Hai xã còn lại Nghĩa Lộ và Cát Lư có ghi niên đại cụ thể

Bên cạnh đó có khá nhiều văn bản hương ước chép lại các lần soạn thảo và điều chỉnh, bổ sung Chẳng hạn tục lệ xã Thanh Khê tổng Thái Lạc có các điều được lập vào năm Cảnh Hưng thứ 39 (1778), sau đó được bổ sung vào các năm thuộc thời Tây Sơn, năm Quang Trung thứ 5 (1792), Cảnh Thịnh thứ 2 (1794)

Hương ước thôn Bình Lương, xã Đình Loan soạn năm Long Đức thứ 3 (1734), bổ sung 3 điều năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737), 5 điều lập năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738), lập 4 điều năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750), 11 điều năm Quang Trung thứ 2 (1789)…

Trang 32

Hương ước xã Thị Trung, tổng Thái Lạc lập 31 điều ước năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754), 8 điều lập năm Quang Trung thứ 4 (1791), 3 điều năm Gia Long thứ 16 (1817), 24 điều sửa đổi lập năm Tự Đức thứ 30 (1915)…

Niên đại của văn bản hương ước thường được trình bày ở cuối đoạn văn bản của mỗi lần biên soạn, bổ sung điều ước Trong số văn bản hương ước huyện Văn Lâm tại kho sách Hán Nôm hiện nay có rất nhiều bản hương ước cũng như các văn bản ở thể loại khác, đại đa số các văn bản này đều có ghi niên đại, nhưng do công tác sao chép văn bản không đúng quy trình nên một số hương ước bị chép thiếu phần niên đại này Khi gặp văn bản kiểu này, bắt buộc người ta phải tổ chức công việc giám định văn bản

Hơn nữa, để thực hiện thao tác xác định niên đại của văn bản tốt hơn người ta còn phải căn cứ vào nội dung (các điều quy ước) của bản hương ước

Văn bản hương ước huyện Văn Lâm được sao chép lại vào đầu thế kỷ

XX, nên không có chữ húy thời Lê mà chỉ gặp một số chữ húy thời Nguyễn tiêu biểu, như chữ Thời 時 viết húy thành Thìn 辰 Tuy nhiên, văn bản được sao chép rõ ràng, không có hiện tượng tẩy xóa, nhầm lẫn

- 3: Nội dung hương ước (các điều quy ước, hoặc bổ sung hương ước)

- 4: Ngày, tháng, năm triều vua lập hương ước

- 5: Họ và tên, chức danh, chữ ký, điểm chỉ của những người tham gia lập hương ước (ấn triện, lời phê của huyện quan, phủ quan nếu có)

Kết cấu nội dung hương ước này về cơ bản khá thống nhất đối với văn bản tục lệ chung của làng xã Văn Lâm

Trang 33

Đối với thành phần tham gia lập hương ước, chúng ta có thể nhận biết ngay ở những trang đầu của văn bản hương ước Chẳng hạn hương ước thôn

Cự Đình, xã Lộng Đình, tổng Đại Từ huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên soạn

năm Cảnh Hưng 27 (1766), ký hiệu AF a3/62, có đoạn mở đầu như sau:

"Tục lệ thôn Cự Đình, xã Lộng Đình tổng Đại Từ huyện Văn Lâm Cựu quan Thị nội kinh hữu và Quản thiêm các đội khánh tả, Điện tiền

đô hiệu điểm Ty hữu hiệu điểm Phái Đình hầu Đặng Duy Thiều, Hộ bộ Thư tả Thiêm sự viện thiêm sự Trác Đình bá Đặng Duy Trác, Trung uý Nhuận Trung

bá Đặng Duy Nhuận, cựu Huyện thừa Đặng Duy Hồng, Khâm thiên giám vệ

sĩ, Huyện thừa Đặng Duy Trâm, Hộ bộ ty vụ Dĩnh Đạt nam Đặng Duy Dĩnh, Lượng Đức nam Nguyễn Duy Lượng, Khâm thiên giám vệ sĩ tri sự Nguyễn Hữu Giai, Binh bộ thư tả tri sự Phạm Huy Thiệu, Phó sở sứ Đặng Đỗ Đồng,

Hộ bộ thư tả Đặng Đỗ Nhuệ, Dương Văn Củ, Xã trưởng Nguyễn Hữu Kỳ, Sinh đồ Đăng Duy Hãn, Nhiêu phu Nguyễn Hữu Trình, thôn trưởng Đỗ Đình Lam, Nguyễn Hữu Tuyên, Nguyễn Trọng Thưởng cùng toàn thể quan viên hương lão thôn Cự Đình, xã Lộng Đình, huyện Văn Giang, phủ Thuận An bàn việc: vào các năm Canh Thân, Quý Hợi gặp phải nạn giặc phá hoại khiến dân

cư lưu tán, lệ thờ cúng nơi đình miếu cũng như tục yến ẩm nơi hương thôn bỏ khuyết, mất mát Đến năm Canh Ngọ may mắn được trở về quê hương tạo dựng lại cơ nghiệp Năm Giáp Thân dự định đặt lại các điều lệ do sau loạn lạc, việc thực hiện các lệ tục rất tuỳ tiện Năm Giáp Thìn, bản thôn đã điều chỉnh lại các tục lệ, song vẫn còn chưa đầy đủ Nay nhân buổi thái bình, trên dưới thuận hoà, kế thừa chí nguyện đời trước, tham khảo bản quy ước cũ rồi tập hợp lại, định ra các lễ nghi tế thần và định lệ cho hậu thần lần lượt trong các tiết hàng năm Cụ thể các điều trình bày dưới đây"

Hoặc Khoán lệ thôn Phục Lễ, xã Mậu Lương, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, lập năm Vĩnh Khánh 3 (1731), ghi "Quan viên sắc mục thôn Phục

Trang 34

Lễ, xã Mậu Lương, tổng Lương Tài, huyện Lương Tài, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc gồm phó chánh đội trưởng Khương Thọ hầu Trịnh Đắc Khương, đội trưởng Bân Thọ bá Trần Đắc Dụng, phó chánh đội trưởng Khuông Thọ hầu Nguyễn Đắc Lộc, thị nội thư tả binh phiên Huân Danh nam Trịnh Đắc Vượng, quan viên lão Nguyễn Đắc Lộc, Nguyễn Tiến Vinh, quan viên tử Lê

An Ninh, lão đại Lê Đình Tiến, đến Lê Công Tiến cùng xã trưởng Nguyễn Văn Triều, thôn trưởng Nguyễn Đình Biện, Vũ Kim Chi, Nguyễn Đăng Long,

Lê Đức Nghiệp, Lê Tiến Lộc, Đỗ Văn Thế, vương Phú Hữu, Vũ Kim tướng,

Đỗ Đắc Lộc, Vũ Kim Khôi và Chu Văn Khang, Chu Đắc Hảo, Lê Hữu Lộc,

Lê Phú Huân, Nguyễn Đăng Đệ, Nguyễn Công Minh, Vương Văn Tiến, Chu Văn Thái, Lê Hữu Đức, Chu Văn Nhuận, Lê An Phú, đến Trần Văn Niên Thôn Nghi Cốc từ lão đại Nguyễn Văn Tài đến Nguyễn Văn Viên Xã thôn trưởng Khúc Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Kiêm, Nguyễn Phú Hải, Đỗ Tào Bân, Nguyễn Văn Trạch, Khúc Danh Nho, Đỗ Phú Nhuận, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Lão ánh, đến Mâu Văn Trị, Nguyễn Văn Lao cùng toàn xã trên dưới

ký kết lập từ vũ, phụng thờ vị tiên hiền người trong xã chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, thị nội giám ty lễ giám thiêm Thái giám, gia tặng chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ thự sự Xuyên Quận công Trịnh tướng công huý Đắc Thọ và tiên hiển khảo tỉ Đồng thời lập điều lệ, ban ruộng thờ và tiền ân huệ, gồm các điều sau đây"

Như vậy, người tham gia soạn thảo hương ước là các thành viên chức sắc trong làng, cùng sự tham gia của các vị quan chức đương triều người làng Hương ước làng xã do một hoặc một nhóm người chấp bút trên cơ sở bàn luận thống nhất của các chức sắc, đại biểu toàn dân trong làng Tác giả của hương ước ít khi là một cá nhân, thường là tập thể tác giả tham gia soạn thảo Họ đều

là người theo Nho học, nên ít nhiều mang tư tưởng Nho giáo vào các điều lệ hương ước làng xã

Trang 35

Sau thành phần tham gia soạn thảo hương ước là lý do được xác định

cụ thể, như tục lệ mới của làng Hành Lạc viết: “Kỳ mục, lý dịch xã Hành Lạc, tổng Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, phủ Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên cùng mọi người trong xã lập điều lệ hương ước Dân xã từ trước đã có khoán lệ lưu truyền, thực là chưa hợp thời vụ Nay thừa thượng lệnh sai sao tục lệ của dân

Vì thế hội họp, lập thêm các lệ cho hợp với thời thế, tập hợp thành sổ, thuận tình liên danh kí kết, để tuyền mãi về sau, ngõ hầu cho đẹp phong hoá Các điều lệ kê như sau Kê:” (Trong đó chia làm hai mục Phong tục và Chính trị)

Phần kê các điều mục chính là nội dung hương ước Có hương ước chia từng mục lớn, như phần Phong tục và phần Chính trị; nhưng phần lớn là kê các điều mục cụ thể như lệ cúng lễ ở đình, chùa, lệ nộp cheo khi có cưới hỏi,

lệ tang ma, canh phòng, bắt phạt hành vi sai trái, trộm cắp, cờ bạc Chẳng hạn tục lệ làng Hành Lạc có các điều mục như sau:

“Điều 1 Tiệc xuân: Ngày mồng 10 tháng hai hàng năm lễ Nhập tịch dùng một con lợn, hai đĩa xôi, hai bình hoa, rượu, mười hai quả cau Tế xong, toàn dân đều hưởng lộc Đến các ngày mười một, mười hai, mười ba, mười bốn, mười lăm, mười sáu, mỗi ngày lễ dùng oản mười phẩm, chuối tiêu hai nải, rượu hai vò, cau mười hai quả Tế xong, trừ riêng phần biếu, còn lại toàn dân cùng hưởng lộc, đến ngày mười tám thì tạ Lễ vật của ngày tạ chiếu đều y như cũ

Điều 2 Ngày mười tám, Tiệc thu: Lễ Nhập tịch ngày mười lăm tháng tám dùng lợn một con, xôi hai đĩa, hoa rượu hai bình, cau mười hai quả Dâng xong, toàn dân đều thụ lộc Đến ngày mười sáu, lễ dùng oản mười phẩm, chuối tiêu hai nải, rượu hai vò, cau mười hai quả Tế xong, trừ riêng phần biếu, còn lại bao nhiêu toàn dân đều hưởng lộc Đến ngày mười bảy thì tạ Lễ dùng chiếu theo y như lệ ngày mười lăm

Điều 3 Hàng năm ngày Tuất tháng giêng tế Minh thệ; mồng hai tháng hai tế Xuân; mồng hai tháng năm tế ươm lúa; mồng hai tháng sáu tế Hạ điền;

Trang 36

mồng hai tháng bảy tế Thượng điền; mồng hai tháng chín tế thường tiên; mồng hai tháng mười tế Thường tân; mồng hai tháng mười một tế Kỳ phúc; mồng hai tháng mười hai tế hướng Chín tiết trong năm nói trên chia cho các giáp luân lưu làm lễ Mỗi tiết lễ tuỳ điều kiện mà dùng hoặc một con gà hoặc một con lợn, một mâm xôi, một bình hoa rượu, mười hai quả cau Tế xong, trả lại cho giáp biện lễ đem về Nhà đương cai chia nhau thụ lộc”

Phần cuối của văn bản hương ước đều ghi ngày tháng năm san định, cùng với con dấu, chữ ký của các chức sắc trong làng Khoán ước xã Nhuận Trạch ghi như sau:

"Lập khoán ước ngày mồng 2 tháng 12 năm Chính Hòa 10 (1689) Hương lão Phạm Văn Điền ký, Xã trưởng Nguyễn Văn Bàng ký, Thôn trưởng Nguyễn Văn Kiên ký, Nguyễn Văn Phê ký, Luyện Hữu Ngu ký, Nguyễn Văn Bắc ký, Nguyễn Văn Tiểu ký, Nguyễn Văn Cử ký, Luyện Văn Vọng ký, Nguyễn Văn Huống ký, Luyện Văn Hành ký, Nguyễn Văn Tần ký, Nguyễn Văn Chư ký, Luyện Văn Hoạt ký Trên dưới toàn thôn cùng ký"

Thành phần người tham gia san định ở đầu văn bản hương ước, cùng người ký nhận ở cuối văn bản, làm cho văn bản hương ước trở lên chặt chẽ,

có tính pháp quy Cũng chính ở phần này đã hàm chứa nhiều thông tin có giá trị để nghiên cứu chế độ quan chức nhà nước phong kiến, bộ máy chức dịch

và cả một hệ thống tầng bậc, ngôi thứ của các tổ chức xã hội ở làng xã

Có thể nói, kết cấu nội dung (bố cục) văn bản là yếu tố cơ bản khi xác định văn bản Song, để khẳng định giá trị lịch sử của một văn bản hương ước ngoài xem xét đến bố cục văn bản cần phải tìm hiểu thêm về tác giả và niên đại của văn bản hương ước Phần lớn văn bản hương ước huyện Văn Lâm được biên soạn một lần, ngoài ra còn có một số lượng hương ước được bổ sung nhiều lần, mỗi lần bổ sung thêm các điều khoản mới thì đều ghi thêm niên đại Mỗi lần sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong hương ước càng cụ

Trang 37

thể, chi tiết và phù hợp hơn với điều kiện của người dân lúc bấy giờ Hành

Lạc xã tân lệ biên rõ: “Dân xã từ trước đã có khoán lệ lưu truyền, thực là chưa

hợp thời vụ Nay thừa lệnh sai sao tục lệ của dân Vì thế hội họp, lập thêm các

lệ cho hợp thời thế, tập hợp thành sổ, thuận tình liên danh kí kết, để truyền mãi về sau, ngõ hầu cho đẹp phong hóa…”

Không chỉ hương ước được bổ sung các điều khoản cho phù hợp với thực tiễn, một số làng xã đã có hương ước nhưng bị mất nên phải lập mới Văn Lâm cũng như các vùng quê khác của Hưng Yên, được thừa hưởng phù

sa màu mỡ từ các con sông đồng thời phải chịu tác động của nạn vỡ đê lũ lụt Theo sử sách, từ năm 1806 đến năm 1900, tỉnh Hưng Yên đã bị 26 lần vỡ đê Trung bình cứ 3 – 4 năm một lần đê vỡ Sự kiện này làm xáo trộn dân cư, nhiều người, nhiều địa phương phải rời bỏ quê hương đi kiếm ăn ở nơi khác

Sử cũng ghi lại, trong những lần nhà nước phong kiến thống kê dân số, một số làng xã không còn người để khai báo Trong hoàn cảnh đó, nhiều làng xã thất truyền hương ước dù hương ước có vai trò rất quan trọng đối với người dân địa phương Hương ước của xã Nhuận Trạch, tổng Lương Tài có lẽ ởtrong trường hợp như vậy: “Khoán lệ cũ của xã Nhuận Trạch, tổng Lương Tài, huyện Văn Lâm, phủ Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên bị thất lạc Vâng theo công văn của quan trên, toàn dân cùng hội họp tại đình, lập lệ ngạch mới, các điều lệ liệt kê vào sau đây.”

Như vậy, hương ước là văn bản pháp lý của mỗi làng xã, liên quan trực tiếp đến tổ chức xã hội cũng như đời sống nhân dân Nó là tấm gương phản chiếu đời sống văn hóa, xã hội của từng làng xã trong mỗi giai đoạn lịch sử 2.2 Phân loại hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm

Văn bản hương ước cổ truyền của huyện Văn Lâm chủ yếu là các bản viết tay, chữ Hán, chữ Nôm Không có văn bản hương ước khắc in hoặc văn bia ghi hương ước

Trang 38

Các văn bản hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm bao gồm chủ yếu là

hương ước của làng xã, như Đại Từ xã tục lệ, AFa3/62, gồm 70 điều về tục lệ của xã Đại Từ, tổng Đại Từ; hoặc Cát Lư xã điều lệ gồm 38 điều lệ xã Cát Lư

tổng Đại Từ soạn năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781) Ngoài ra còn có quy ước

của hai, ba xã trong cùng một tổng như: Yên Xuyên Ngọ Cầu nhị xã khoán

ước

Bên cạnh các văn bản tục lệ của làng xã là phổ biến, còn có một số quy ước, định lệ của giáp, của phường hội, trong đó có Hội Tư văn làng xã, như

bản Xã nội các giáp biệt lệ, gồm 31 điều của 8 giáp Đông Tỉnh, Xuân Lập,

Trung Thanh, Phú Thọ, Thượng Giám, Xuân Nguyên, Xuân Đài, Trung Hiếu của xã Đại Từ; khoán lệ thôn Thục Cầu, xã Thục Cầu tổng Đồng Xá gồm:

Bản thôn công khoán, Tư văn hội khoán, Tây giáp khoán lệ, Bắc giáp khoán

lệ, Đông giáp khoán lệ hoặc Tư văn hội lệ của Hội Tư văn xã Lộng Đình

gồm 16 điều Có khoán ước riêng về việc giao hảo các xã như bản Hương

Lãng xã giao hảo các xã kỳ vũ khoán, gồm 16 điều lập nămThành Thái thứ 12

(1900) giữa các xã hai tổng Thái Lạc và Đại Từ

Trong hương ước hay tục lệ cổ truyền của làng xã, thậm chí lại được chia nhỏ thành các khoán lệ trong từng việc cụ thể, như lệ bầu Hậu "Bảo Hậu khoán từ" trong tục lệ làng Nhuận Trạch tổng Lương Tài, lệ giỗ hậu của giáo

ngõ như Nam giáp hậu kỵ biên lệ trong tục lệ xã Lương Tài tổng Lương Tài Ngoài ra, còn có các quy ước cụ thể của đình làng, như Nhị thôn bản đình tục

lệ, gồm 8 điều quy ước chung giữa 2 thôn Xuân Phao và Văn Ổ, xã Đại Từ

tổng Đại Từ trong việc thờ phụng Thần đình Thậm chí, chép lại định lệ mục lục tế văn trong lễ Kỳ phúc đình làng như tục lệ xã Hương Lãng

Trang 39

Tiểu kết chương 2 Hương ước của làng xã người Việt xuất hiện ở Việt Nam khá sớm, song phần lớn văn bản hương ước các làng xã vùng đồng bằng và trung du Bắc, Trung bộ, cũng như ở các làng xã huyện Văn Lâm hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, xuất hiện khá phổ biến từ thế kỷ XVII-XVIII Sau đó, hương ước liên tục được sửa đổi, bổ sung các điều khoản cho phù hợp với từng làng xã, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa…của người dân lúc bấy giờ Kết cấu chung của hương ước gồm: thành phần tham gia soạn thảo hương ước, lý do lập hương ước, nội dung cụ thể, ngày tháng lập hương ước và chữ kí, điểm chỉ xác nhận của tập thể tác giả hương ước Với kết cấu chặt chẽ, chi tiết như vậy nên hương ước có ý nghĩa như là một thứ luật pháp, một hệ thống tiêu chuẩn đạo đức mà bất cứ người dân nào của làng

xã cũng phải thực hiện Thực hiện tốt những điều đã cam kết trong hương ước

là làm cho thuần phong mĩ tục, trật tự trị an trong làng được đảm bảo, đời sống sung túc, mọi người ăn ở hòa thuận, đoàn kết giúp đỡ nhau…Với mục đích tốt đẹp của việc xây dựng hương ước như vậy, người dân ở Văn Lâm không chỉ xây dựng hương ước của làng mà còn lập những quy ước của các giáp, phường hội…với các công việc cụ thể

Văn bản ghi chép những quy ước của người dân Văn Lâm sớm nhất còn lưu giữ được là hương ước thôn Thọ Khang lập năm Chính Hòa 10 (1689), tục lệ xã Hành Lạc, tục lệ xã Như Quỳnh được soạn thảo vào năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740), ngoài ra là các bản hương ước lập vào thời Tây Sơn và đầu thời Nguyễn Các văn bản này luôn được bổ sung quy định mới của cộng đồng dân cư cho phù hợp với những thay đổi trong làng xã Như vậy, hương ước luôn mang tính thời sự, nó đồng hành với diễn biến cuộc sống của người dân sau lũy tre làng

Trang 40

Hương ước được tập thể đại diện dân làng lập ra xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, nó được đọc trong các dịp tập trung dân làng như lễ hội đầu năm,

vì vậy nội dung của nó như cơn mưa dầm, thấm nhuần tư tưởng mỗi người dân địa phương Nó có sức mạnh ràng buộc con người ta ở mọi vị trí trong xã hội, không kể sang hèn, từ lúc sinh ra cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay

Đây là kho tàng di sản Hán Nôm vô cùng đồ sộ phong phú phản ánh nhiều mặt về các hoạt động và phong tục tập quán làng xã huyện Văn Lâm nói riêng, của làng xã người Việt nói chung trong lịch sử

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w