ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC ***** NGUYỄN THỊ HIỀN NGHIÊN CỨU VĂN BẢN HOÀNG VIỆT VĂN TUYỂN CỦA BÙI HUY BÍCH LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN KHOA VĂN HỌC
*****
NGUYỄN THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN HOÀNG
VIỆT VĂN TUYỂN CỦA BÙI HUY BÍCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
Trang 3MỤC LỤC trang
PHẦN MỞ ĐẦU……… 6
CHƯƠNG I TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA BÙI HUY BÍCH………… 20
1.1 Vài nét về tiểu sử và hành trạng của Bùi Huy Bích……….20
1.2 Sự nghiệp sáng tác văn học của Bùi Huy Bích………26
1.3 Tiểu kết chương I……… 31
CHƯƠNG II NGHIÊN CỨU CÁC TRUYỀN BẢN HOÀNG VIỆT VĂN TUYỂN… 33
2.1 Tập hợp, mô tả các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển………33
2.1.1 Tập hợp các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển………33
2.1.2 Mô tả các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển……… 33
2.1.3 Niên đại hoàn thành văn bản Hoàng Việt văn tuyển 38
2.1.4 Cách ghi tên tác giả, tác phẩm qua các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển 38
2.1.5 Xuất xứ của văn bản Hoàng Việt văn tuyển 39
2.1.6 Cấu trúc của văn bản Hoàng Việt văn tuyển 40
2.1.7 Hoàng Việt văn tuyển và sự thể hiện quan điểm, phương pháp sưu tập, biên định di sản văn xuôi của Bùi Huy Bích 49
2.1.8 Nhận xét về tình hình các truyền bản chữ Hán Hoàng Việt văn tuyển 52
2.2 Phân loại các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển 64
2.2.1 Phân loại các truyền bản 64
2.2.1 Nhận xét truyền bản nhóm I 64
2.2.2 Nhận xét truyền bản nhóm II 65
2.3 Tiểu kết chương II 68
Trang 4CHƯƠNG III GIÁ TRỊ HOÀNG VIỆT VĂN TUYỂN TRONG HỆ THỐNG VĂN
TUYỂN VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI 70
3.1 Khái quát về hệ thống Văn tuyển Việt Nam thời trung đại 70
3.1.1 Tình hình biên soạn sách Văn tuyển Trung Quốc 70
3.1.2 Tình hình biên soạn sách Văn tuyển Việt Nam 72
3.2 Hoàng Việt văn tuyển trong hệ thống Văn tuyển Việt Nam thời trung đại 74
3.2.1 Các thể văn chữ Hán trong văn học Việt Nam thời trung đại 74
3.2.2 Hệ thống thể loại trong Hoàng Việt văn tuyển 79
3.3 Tiểu kết chương III 86
KẾT LUẬN CHUNG 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 95
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 Tên tài liệu viết tắt
Bản A (hoặc A): Hoàng Việt văn tuyển A 3163
Bản B (hoặc B): Hoàng Việt văn tuyển A 3163/1
Bản C (hoặc C): Hoàng Việt văn tuyển A 2683
Bản D (hoặc C): Hoàng Việt văn tuyển A.1582
Bản E (hoặc E): Hoàng Việt văn tuyển VHv 1452/a
Bản G (hoặc G): Hoàng Việt văn tuyển VHv 1452/c
Bản H (hoặc H): Hoàng Việt văn tuyển VHv 93
Bản I (hoặc I): Hoàng Việt văn tuyển A 203
Bản K (hoặc K): Hoàng Việt văn tuyển R.601
Bản L (hoặc L): Hoàng Việt văn tuyển R.602
Bản M (hoặc M): Hoàng Việt văn tuyển R 979
Bản N (hoặc N): Hoàng Việt văn tuyển R.980
HVVT: Hoàng Việt văn tuyển
2 Ký hiệu tài liệu trích dẫn
Ký hiệu tài liệu trích dẫn được thể hiện trong dấu […,….], trong đó số Ả
Rập trước dấu phẩy (,) chỉ Tài liệu trích dẫn, trùng với số thứ tự ở Tài liệu tham
khảo; số Ả Rập ở sau dấu (,) chỉ số trang trong Tài liệu trích dẫn Xin lấy ví dụ
từ [2] Các nhà khoa bảng Việt Nam (2006), Nxb Văn học, Hà Nội
- Nếu luận văn dùng Tài liệu trích dẫn từ [6] thì sẽ được viết là Các nhà khoa bảng Việt Nam [6]
- Nếu luận văn trích dẫn trong trang 2 của [6] thì sẽ viết là Các nhà khoa
bảng Việt Nam [6, 2]
- Nếu luận văn trích dẫn tài liệu nằm ở trang 1 đến trang 2 của [6] thì sẽ
viết là Các nhà khoa bảng Việt Nam [6, 1 – 2]
Trang 63 Trích dẫn từ nhiều truyền bản hay nhiều tập
Nếu luận văn trích dẫn từ nhiều truyền bản hay nhiều tập của cùng một
tên sách, thí dụ từ Hoàng Việt văn tuyển [2], [3], [4] thì sẽ viết là Hoàng Việt văn
tuyển [2, 3, 4]
4 Tên viết tắt của thư viện lưu trữ truyền bản
Thư viện Viện Hán Nôm: TVHN
Thư viện Quốc gia: TVQG
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG PHẦN NỘI DUNG CỦA
LUẬN VĂN
trang
2.1 Mô tả các truyền bản chữ Hán Hoàng Việt văn tuyển 37
2.2 Đối chiếu sơ bộ hai tác phẩm Thiên đô chiếu, Bình Ngô đại cáo trong Hoàng Việt văn tuyển với Đại Việt sử ký toàn thƣ 40
2.3 Đối chiếu tên tác phẩm của truyền bản chữ Hán và truyền bản đã dịch ra chữ quốc ngữ 62
2.4 Số lượng thể loại của các truyền bản chữ Hán 63
2.5 Tình hình văn bản của các truyền bản nhóm I 65
2.6 Tình hình văn bản của các truyền bản nhóm II 66
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
+ Bảo tồn, phát huy giá trị tinh hoa của di sản văn hoá thành văn quá khứ
là một trong những nhiệm vụ quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn cũng
như của chuyên ngành Hán Nôm học Vấn đề đó đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội hiện nay
Mảng sách văn học chiếm vị trí đặc biệt trong kho tàng di sản Hán Nôm
được bảo lưu đến ngày nay Văn tuyển cũng là một bộ phận đáng kể nằm trong
số đó Hệ thống Văn tuyển giống như những tài liệu gốc quan trọng trong việc khai thác di sản văn học cổ Cho nên, khảo sát văn bản học Văn tuyển là một
nhiệm vụ nhằm giới thiệu, nghiên cứu, đánh giá về các phương diện văn hoá thành văn Đề tài luận văn được triển khai theo định hướng nghiên cứu văn bản
học Văn tuyển nhằm đạt được những mục đích nêu trên
Văn tuyển (văn tập) là tuyển tập chuyên sưu tập, tuyển chọn các bài văn
của nhiều tác giả hữu danh hay khuyết danh theo những tiêu chí, mục đích hay trình tự nào đó
Văn tuyển bao gồm các bài văn xuôi chữ Hán thuộc nhiều thể loại khác
nhau như phú, tế, văn bia, chiếu, biểu, hịch…, thường được viết bằng biền văn,
vận văn và tản văn Vận văn là loại văn xuôi có vần nhưng không phải thường
được sử dụng trong phú, minh, tụng, tán… Tản văn là văn xuôi tự do, không được dùng trong tựa, bạt, ký, lục… Biền văn là một lối hành văn đặc biệt, có phương thức biểu đạt khác với tản văn Biền văn được dùng trong hầu hết các thể
văn chữ Hán Ở phần sau, chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn về thể loại văn này
+ Trừ một số ít các bài viết tổng quan, việc nghiên cứu di sản Văn tuyển
Hán văn từ trước đến nay thường chỉ chú trọng khai thác tư liệu chứ chưa đặt
vấn đề tìm hiểu sâu về vấn đề văn bản của những Văn tuyển đó Các công trình
nghiên cứu văn bản học thường chỉ nghiêng về những tác gia, tác phẩm cụ thể
Trong khi đó, chính hệ thống Văn tuyển mới giúp chúng ta đánh giá tổng thể về
Trang 9một mảng, một giai đoạn hay nhiều thời kỳ của văn học chữ Hán một cách khái
quát nhất Cho nên, tìm hiểu các vấn đề của Văn tuyển sẽ có tác dụng giới thiệu
di sản Văn tuyển cũng như tìm hiểu, đánh giá thành tựu, phương pháp hoạt động
ngữ văn học trong quá khứ; tiến đến tổng kết được những vấn đề lý luận thuộc phạm vi văn hiến học Việt Nam
+ Trong số rất ít các tác phẩm có tính chất thi văn tuyển Việt Nam thời trung đại như Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên (越 面 幽 靈 集 - 李 濟 川), Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (嶺 南 摭 怪 - 陳 世 法), Thánh
Tông di cảo (聖 宗 遗 稿), Quế Đường văn tập của Lê Quý Đôn (桂 堂 文 集
- 黎 貴 惇), Quốc triều văn tuyển (國 朝文 選 ), Lập Trai văn tuyển của Lập Trai (立 齋 文 選 -立 齋), Ngu Sơn văn tuyển của Đông Dương Vũ Phạm Khải (禺 山 文 選 - 東 洋 武 笵 啟 ), Phương Đình văn tuyển của Nguyễn Văn Siêu (方 停 文 選 - 阮 文 超), Dụ am văn tập của Phan Huy Ích, Châu
phong tạp thảo của Phạm Đình Hổ (州 豐 雜 草 - 笵 廷 虎), … thì HVVT của
Bùi Huy Bích có một vị trí tương đối đặc biệt Đây là hợp tuyển văn học đời Trần 陳, Lê 黎 do Tồn Am Bùi Huy Bích (存 庵 裴 輝 璧) tuyển chọn và viết lời dẫn; Nguyễn Tập (阮 集), đốc học Trấn Sơn Nam biên tập và viết tựa năm Minh Mệnh (明 命) 6 (1825), in tại Hi Văn Đường (希 文 堂) HVVT bao quát
được các thành tựu văn tuyển thời cổ, là cơ sở tư liệu cho hệ thống Văn tuyển đời sau HVVT là bộ Văn tuyển ưu tú, tiêu biểu nhất về phương pháp, quan điểm sưu
tập, biên chỉnh di sản văn học Việt Nam trong quá khứ Vì vậy, nghiên cứu văn bản HVVT sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định, giúp chúng ta khái quát một số phương diện của văn học chữ Hán Việt Nam
+ Bùi Huy Bích là danh nhân Việt Nam thế kỷ XVIII Ông để lại cho đời
nhiều tác phẩm văn học lớn, trong đó tiêu biểu có Hoàng Việt văn tuyển (黄 越
文 選), Hoàng Việt thi tuyển (黄 越 詩 選), Tồn Am thi cảo (存 庵 詩 稿),
Tồn Am văn tập (存 庵 文 集), Nghệ An thi tập (藝 安 詩 集),
Trang 10+ HVTT đã được giới thiệu, dịch thuật và xuất bản, nhưng vấn đề văn bản chưa được chú ý nghiên cứu, khai thác Tìm hiểu về HVVT ở các phương diện văn bản sẽ giúp chúng ta đánh giá toàn diện hơn về những thành tựu và cống hiến của Bùi Huy Bích cho văn học Việt Nam Nhìn về tổng thể, HVVT là cầu
nối cho Văn tuyển giai đoạn trước và sau Bùi Huy Bích Chính vì vậy, đề tài
Nghiên cứu văn bản Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích có ý nghĩa thiết
thực và tích cực trong việc gìn giữ và phát huy di sản văn hoá Hán Nôm
*Giá trị của HVVT trong hệ thống Văn tuyển Việt Nam thời trung đại được khẳng định qua khái quát Văn tuyển Trung Quốc, Văn tuyển Việt Nam, hệ
thống thể loại trong HVVT
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo PGS TS Phạm Tú Châu, gần bốn chục năm trước đây, các nhà Hán
học lão thành của Phòng Văn học cổ cận đại thuộc Viện văn học đã chép tay và dịch tập thơ Tồn Am thi cảo của Bùi Huy Bích nhằm tiến tới giới thiệu và nghiên
cứu tập thơ quan trọng này của ông Kế hoạch sau đó tạm gác lại và cho đến nay,
công việc đó của Viện văn học vẫn không nhúc nhích được bước nào, trừ bài Tìm
hiểu về Bùi Huy Bích, đánh giá chung về thơ văn Bùi Tồn Am do GS Trương
Chính đăng trên Tạp chí Văn học số 3, năm 1975 Ngoài ra, GS Nguyễn Lộc,
Trang 11GS Trần Thị Băng Thanh có đề cập đến tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển trong
Từ điển văn học, tập I [29, 140], và bài Bùi Tồn Am với hai thi phẩm Bích Câu
của Nhất Phàm trong sách Gương mặt văn học Thăng Long (Trung tâm hoạt
động Văn hoá Khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám xuất bản năm 1994) So với
số tác phẩm mà Bùi Huy Bích để lại thì việc nghiên cứu và giới thiệu thơ văn Bùi Huy Bích thật sự chưa làm được bao nhiêu Đó cũng là một khó khăn lớn cho chúng tôi khi tiến hành tìm hiểu cuộc đời, thơ văn Bùi Huy Bích để viết lịch
sử vấn đề cho luận văn này
Những công trình nghiên cứu liên quan đến văn bản HVVT của Bùi Huy Bích trong tư liệu mà chúng tôi bao quát được khi thực hiện đề tài luận văn tuy không nhiều, nhưng có thể tạm chia thành ba mảng chính:
- Các công trình thư mục học, từ điển
- Các công trình khảo sát và khai thác tư liệu (tác giả, tác phẩm) phục vụ cho dịch thuật, công bố văn hiến
- Các bài nghiên cứu có tính chất giới thiệu hoặc điểm qua một số nét về tình hình văn bản, quan điểm, phương pháp sưu tập của Bùi Huy Bích
3.1 Các công trình thƣ mục học, từ điển
- Công trình thư mục học đầu tiên ghi chép về HVVT phải kể đến là Tìm
hiểu kho sách Hán Nôm (tập 2) [37] của Trần Văn Giáp, với mục đích kiểm kê,
khái quát về hiện trạng các văn bản Hán Nôm đã nêu ngắn gọn đặc điểm của văn
bản HVVT, dựa vào bài tựa sách Thi tuyển nói về việc in sách Thi tuyển không liên quan đến Văn tuyển Ngoài ra, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm [37] cũng thống
kê được số lượng tác phẩm, số lược tác giả ở từng quyển và từng triều đại, cho biết tổng số tác phẩm của 8 quyển gồm 111 bài
- Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, tập 1, mục 1508 [33, 860] viết rằng: Hoàng Việt văn tuyển có 10 bản in, 1 bản viết, 1 mục lục, là tập văn đời Trần, Lê
- Từ điển văn học, tập I [29, 140] cho rằng, Hoàng Việt văn tuyển được
Trang 12Bùi Huy Bích soạn cùng với Hoàng Việt thi tuyển, năm Kỷ Hợi (1839), niên hiệu
Minh Mạng được khắc in
- Từ điển văn học (bộ mới) [31, 626] viết rằng, tác phẩm văn Việt Nam
bằng chữ Hán do nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam Bùi Huy Bích soạn
cùng với Hoàng Việt thi tuyển năm Kỷ Hợi, niên hiệu Minh Mạng (1839) Sách
được khắc in (A.3163/1-3) tuyển 112 bài văn hay từ đời Lý đến đời Lê, trong đó
có 92 bài văn của 43 tác giả nổi tiếng đương thời; của chính soạn giả có 15 bài;
số còn lại là 15 tác giả khuyết danh
3.2 Các công trình khảo sát và khai thác tư liệu (tác giả, tác phẩm) phục vụ cho dịch thuật, công bố văn hiến
Có nhiều bài văn của HVVT được công bố trong các bộ tổng tập, tuyển tập, hợp tuyển văn học, được dịch và giới thiệu trong mấy chục năm trở lại đây,
đó là các bộ sách:
- Hợp tuyển thơ văn Việt Nam [14] có một số tác giả, tác phẩm văn học
trung đại Việt Nam được tuyển từ HVVT
- Thơ văn Lý – Trần [27] có một số bài văn thơ mà HVVT cũng có như Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bạch Đằng giang phú
- Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, tập 2 [11] viết
HVVT được khắc in năm 1825
3.3 Các bài nghiên cứu có tính chất giới thiệu hoặc điểm qua một số nét về tình hình văn bản, quan điểm, phương pháp sưu tập về Bùi Huy Bích
Chúng tôi đã hết sức cố gắng sưu tập tư liệu, nhưng hiện tại mới chỉ thấy
có bài viết với nhan đề Tìm hiểu Bùi Huy Bích (Trương Chính, Tạp chí văn học,
1975, số 3) Bài viết đi sâu vào tìm hiểu thân thế, sự nghiệp, tác phẩm của Bùi
Huy Bích Tác giả có nói đến Hoàng Việt văn tuyển làm năm Mậu Thân (1788),
sau khi Bùi Huy Bích từ quan Bốn mươi bảy năm sau, năm Ất Dậu (1825), năm
Minh Mệnh thứ 6, Đốc học trấn Sơn Nam là Nguyễn Tập làm tựa cho bản đó,
một người tên là Phạm Hi Văn khắc in Khi đó, Bùi Huy Bích mất đã được 7
Trang 13năm rồi Về thời gian soạn Hoàng Việt văn tuyển, quan điểm của Trương Chính
(1788) có khác với quan điểm của Phạm Tú Châu (1839) Điều này cần khảo cứu thêm, tuy vậy cả hai học giả đều thống nhất thời điểm khắc in HVVT là vào năm
1825
3.3.1 Công trình nghiên cứu về Bùi Huy Bích và trước tác của ông
Từ trước tới nay, công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến Bùi Huy Bích và trước tác của ông không nhiều Chúng tôi xin liệt kê như sau:
+ Danh nhân văn hoá Bùi Huy Bích [5] của Trung tâm UNESCO thông
tin tư liệu lịch sử và văn hoá Việt Nam (H.1988)
Cuốn sách viết về danh sĩ Bùi Huy Bích với danh nghĩa là đại danh Nho,
nhà giáo dục lớn Việt Nam thế kỷ XVIII Danh nhân văn hoá Bùi Huy Bích [5]
bao gồm tập bài nghiên cứu, các công trình nghiên cứu về Bùi Huy Bích Ngoài
ra, cuốn sách còn sưu tầm thêm một số bài thơ văn, luận thuyết của Tồn Am Bùi Huy Bích mà các dịch giả nổi tiếng đã dịch từ mấy thập kỷ trước đây và dịch
thêm một một số bài thơ trong Tồn Am thi cảo Các bài viết được sắp xếp hợp lý, tương đối hệ thống, phản ánh trung thực các hoạt động của danh sĩ Bùi Huy
- Bùi Huy Bích, đại danh nho Việt Nam thế kỷ XVIII – Vũ Khiêu [5, 26 - 37]
Thông qua bài viết, GS Vũ Khiêu khẳng định Bùi Huy Bích là một đại danh nho, được bồi dưỡng về Nho giáo từ thuở lọt lòng và trung thành với Nho
Trang 14giáo đến hơi thở cuối cùng Nho giáo đưa ông tới đỉnh cao của danh vọng: thi đỗ
đến Hoàng giáp, làm quan đến Tể tướng Bước thăng trầm của cuộc đời ông gắn
liền với vận mệnh Nho giáo Ông đã cống hiến cho xã hội những điều tốt đẹp nhất mà Nho giáo có thể cống hiến Ông cũng chia sẻ với Nho giáo những hạn chế từng tạo nên nhiều bi kịch của học thuyết này
- Nỗi niềm riêng của tác giả Tồn Am thi cảo – Phạm Tú Châu [5, 52 – 61]
Tác giả Phạm Tú Châu cho rằng, thơ Bùi Huy Bích mang tính ký sự Mỗi bài thơ được viết ra đều gắn với một sự kiện đáng nhớ, đáng ghi lại trong cuộc đời tác giả, từ khi còn trẻ đến khi công thành danh toại, thân cư trọng chức Bởi thế, phần nhiều bài thơ của Bùi Huy Bích đều ghi chú không gian, thời gian cùng mối quan hệ cụ thể ở ngay trong đầu đề Nội dung của các bài thơ mang dấu vết lịch sử cùng tâm thái của người đương thời Mỗi khi tức cảnh sinh tình, cụ Bùi cũng dùng nhiều đoạn tiểu dẫn khá dài để làm rõ bối cảnh ra đời của tình cảm hay sự kiện được phản ánh, đề cập đến trong thơ hay đưa hẳn những sự việc đó vào thơ Những bài thơ mang bóng dáng lịch sử hầu như tập trung trong tập
Nghệ An thi tập, Tồn Am thi cảo, quy tụ ở hai chủ đề: nỗi gian khổ, khó nhọc của
quân sĩ và cảm xúc về đời sống khó khăn của người dân Ngoài ra, Bùi Huy Bích còn có một loạt bài vịnh sử, ca ngợi công lao dẹp giặc mở nước về phía Nam của các vua triều trước mỗi khi ông đi qua di chỉ cũ ghi dấu chiến công năm xưa
- Bùi Tồn Am với hai thi phẩm Bích Câu - Nhất Phàm [5, 88 – 101]
Tác giả đề cập đến hai thi phẩm Bích Câu tiền tập và Bích Câu hậu tập
Bích Câu tiền tập gồm 100 bài thơ, được sáng tác trong thời gian từ khi ông 19
tuổi đến 34 tuổi Bích Câu tiền tập là cảm xúc, băn khoăn của tác giả khi đi đến những miền đất địa linh nhân kiệt Ngoài ra, trong Bích Câu tiền tập cũng có một
số bài thơ miêu tả trực tiếp Thăng Long xưa
Trong thời gian Bùi Huy Bích làm Đốc đồng ở Nghệ An, ông đã đi khắp
miền Trung, vào Hóa Châu để chiêm ngưỡng chùa Thiên Mụ và Bích Câu hậu
tập ra đời Bích Câu hậu tập gồm 199 bài thơ viết về xứ gió cát miền Trung Qua
Trang 15hai thi phẩm Bích Câu, tác giả cho rằng, đó chính là tấm lòng của danh sĩ Bùi
Huy Bích đối với đất Thăng Long xưa, cũng như trách nhiệm của kẻ sĩ Bùi Huy Bích trước vận mệnh đất nước
- Hoàng Việt văn tuyển - Phạm Tú Châu [5, 223 – 224]
Tác giả khái quát về tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển gồm 112 bài văn từ thời Lý đến thời Lê và khẳng định Hoàng Việt văn tuyển góp phần không nhỏ
cho nền văn chương Việt Nam
- Hà Nội với tấm lòng Tồn Am - Nguyễn Vinh Phúc [5, 62 – 69]
Tác giả Nguyễn Vinh Phúc cho rằng, thơ Bùi Huy Bích thể hiện tình cảm đằm thắm đối với Thăng Long Bùi Huy Bích có cả chùm thơ về Hồ Tây Thăng Long Hà Nội không chỉ là quê hương mà còn là một nguồn thi hứng, một nơi để Bùi Huy Bích gửi gắm nỗi niềm tâm sự về thời cuộc, về đất nước, về nhân dân
- Đình nguyên Hoàng giáp Bùi Huy Bích, nhà giáo dục lớn – Lê Tiến
Hùng [5, 70 – 78]
Bài viết khẳng định Bùi Huy Bích là nhà giáo dục lớn, có động cơ và mục đích học tập, có phương pháp học tập Bùi Huy Bích đã dùng học vấn là con đường quan trọng để hình thành phẩm chất, nhân cách
- Những ngôn phẩm quý báu từ sách Gia huấn - Cung Khắc Lược [5, 79 –
87]
Bài viết đề cập đến sự nghiệp sáng tác của Bùi Huy Bích với hơn 20 tác
phẩm đồ sộ để lại cho đời Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến cuốn sách Hành tham
quan gia huấn do Bùi Huy Bích biên soạn nói về vấn đề giáo dục gia đình Toàn
bộ tác phẩm gồm 262 câu viết bằng chữ Nôm, phần lớn là từ thuần Việt Tác phẩm thể hiện giá trị nhân văn và lý tưởng thẩm mỹ của Bùi Huy Bích
- Tâm tư và phẩm chất Bùi Huy Bích qua thơ ông - Trần Lê Văn [5, 102 – 109]
Tác giả Trần Lê Văn cho rằng, toàn bộ thi phẩm của Bùi Huy Bích là tấm
Trang 16gương phản chiếu cái tâm và cái tài của ông một cách trung thực nhất Đó cũng
là tâm tư phẩm chất của một kẻ sĩ chân chính của mọi thời đại
- Hai tấm văn bia, một tấm lòng Bùi Huy Bích với văn hoá Thanh Trì -
Trương Đình Khoái [5, 110 – 126]
Tác giả nêu 2 áng văn bia do Bùi Huy Bích soạn thảo hiện còn ở đất Thanh Trì nhằm tìm hiểu sâu hơn về tấm lòng của ông đối với văn hoá làng xã ngoại ô Thăng Long xưa
- Nhân cách của tổ Bùi Huy Bích - Bùi Đức Tiến [5, 127 – 134]
Tác giả căn cứ vào những di sản văn hoá của Tổ Bùi Huy Bích để lại và nhiều bài nghiên cứu để bày tỏ những suy nghĩ của mình về nhân cách Bùi Huy Bích
Trong tất cả các bài viết, chỉ có bài Bùi Huy Bích với ý thức bảo vệ phát
huy di sản văn hoá dân tộc của Vũ Tuấn Sán và bài Hoàng Việt văn tuyển của
Phạm Tú Châu có nói khái quát về HVVT chứ chưa phân tích cụ thể về văn bản
+ Bùi Huy Bích, danh nhân truyện ký của Trúc Khê [41] được coi là
quyển sách hiếm hoi viết về danh sĩ Bùi Tồn Am Trúc Khê đã lần theo dấu nhà, thuở nhỏ, thi đỗ, làm quan, cảnh già, thơ và thuyết của Bùi Huy Bích Ngoài ra, tác giả đã trình bày tỉ mỉ về lịch sử, sự nghiệp và cuộc sống riêng của Bùi Huy Bích
+ Hoàng Việt thi văn tuyển [1] sưu tầm, trích dịch và giới thiệu gần ba trăm bài thơ và mấy chục bài văn chữ Hán ở hai tập Hoàng Việt thi tuyển và
Hoàng Việt văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích Trong phần tổng luận, các
dịch giả đã có một số nhận định tổng quát về những bài thơ, văn của Bùi Huy Bích cũng như giới thiệu tư tưởng lành mạnh, tốt đẹp của ông qua thơ văn trích dịch
+ Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội (từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX)
của tập thể tác giả Tô Hoài, Nguyễn Vinh Phúc, Hoàng Ngọc Hà, Ngô Văn Phú, Phan Thị Thanh Nhàn…(H Nxb Hội nhà văn, 1998) sơ lược tiểu sử, liệt kê tác
Trang 17phẩm của Bùi Huy Bích, cho rằng Hoàng Việt văn tuyển là hợp tuyển các bài
phú, ký, minh, văn tế…, sắp xếp theo loại văn
+ Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam của Trần Đình Sử [32]
bàn về thể loại văn trong văn học trung đại Việt Nam có nói rằng: “Hoàng Việt
văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích (cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX) là học
trò của Lê Quý Đôn, dựa vào tư liệu của thầy mà biên soạn thêm” [32, 282]
Điểm qua các công trình nghiên cứu và tư liệu khảo sát có liên quan đến HVVT, chúng ta có thể nhận thấy những vấn đề cần tiếp tục triển khai nghiên cứu sau:
+ Việc khảo cứu, đánh giá về các truyền bản HVVT hiện còn lưu giữ là nhiệm vụ quan trọng Từ đó có thể lựa chọn văn bản cơ sở để nghiên cứu, chỉ ra bản HVVT tốt nhất với mục đích cung cấp tư liệu cho việc công bố di sản văn tuyển chữ Hán của người Việt thời Trần – Lê và việc nghiên cứu, khai thác, công
bố các tác phẩm văn học của các tác gia văn học Việt Nam thời trung đại
+ Nghiên cứu các truyền bản HVVT để tiến tới khôi phục được diện mạo của bộ văn tuyển này
+ HVVT là một trong những nguồn tư liệu quan trọng về hoạt động ngữ văn học cổ điển Việt Nam
4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là các vấn đề về văn bản học
và giá trị của HHVT trong hệ thống Văn tuyển Việt Nam thời trung đại, các truyền bản HVVT hiện tồn, lưu trữ tại Thư viện Viện Hán Nôm, Thư viện Quốc
gia, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội Ngoài ra, luận văn còn tham
khảo thêm những tư liệu có liên quan đến nội dung của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là toàn bộ văn bản có nhan đề HVVT cùng những tài liệu chữ Hán, tiếng Việt có liên quan đến văn bản và tiểu sử tác giả Tồn Am Bùi Huy Bích Cụ thể, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu 13 truyền bản HVVT, trong đó có 12 truyền bản chữ Hán, 1 truyền bản đã được dịch ra chữ
Trang 18quốc ngữ
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Phương pháp nghiên cứu
5.1.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản học
Luận văn chủ yếu tuân theo phương pháp nghiên cứu văn bản học để tiến hành sưu tập, thống kê, phân loại, so sánh, đối chiếu… các truyền bản HVVT
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành KHXH
Các phương pháp nghiên cứu liên ngành được vận dụng một cách linh hoạt, phối hợp với nhau trong toàn bộ quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của
đề tài
5.2 Cách dùng một số thuật ngữ, khái niệm
Luận văn có dùng các khái niệm/thuật ngữ như văn bản, bản sao, dị bản, truyền bản, tác phẩm nhằm nhấn mạnh mục đích sử dụng trong đoạn văn
Bản sao dùng để nhấn mạnh một đơn vị truyền bản của văn bản
Truyền bản được dùng nhấn mạnh văn bản của một bản sao nào đó trong
quá trình lưu truyền
Tác phẩm được hiểu là một bộ sách lớn (như HVVT), có khi chỉ là một
hoặc các tác phẩm của một tác giả cụ thể được sao chép trong HVVT
Văn bản học Hán Nôm có mục đích quan trọng là xác định văn bản, bao
gồm: xác định tên văn bản; tác giả văn bản; niên đại văn bản; tính chân thực của văn bản; văn bản quy phạm (chuẩn mực)
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Sau khi hoàn thành luận văn, chúng tôi sẽ có những đóng góp sau:
*Sưu tập ở các thư viện được 13 truyền bản HVVT
Truyền bản đủ có 113 tác phẩm ở 8 thể loại lớn (17 tiểu thể loại) bao gồm:
Trang 19cổ phú – ký - minh, văn bia, chí, lục - văn tế - chiếu, chế, sách - biểu (đối nội),
tạ, khải - tản văn - biểu (ngoại giao), tấu, công văn Trong số 13 truyền bản, có 8
truyền bản chữ Hán hiện được lưu trữ tại Thư viện Viện Hán Nôm, 4 truyền bản chữ Hán được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia và 1 truyền bản bản quốc ngữ HVVT do Tô nam Nguyễn Đình Diệm dịch, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn
hoá xuất bản năm 1972 hiện có ở Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Thư viện Viện Hán Nôm, Thư viện Viện Văn học, Thư viện Quốc gia
*Tìm hiểu và tóm lược lại tiểu sử, hành trạng và sự nghiệp sáng tác của Tồn Am Bùi Huy Bích
*Trên cơ sở nghiên cứu văn bản, lần đầu tiên, chúng tôi tìm hiểu, mô tả chi tiết tình hình mỗi truyền bản, bao gồm số lượng tác giả, tác phẩm, thể văn trong các truyền bản, từ đó cho thấy vị trí, giá trị của mỗi truyền bản trong 13 truyền bản HVVT
*Qua khảo sát, chúng tôi đã đưa ra các bảng thống kê so sánh, nhận xét về tình hình các truyền bản HVVT
*Lần đầu tiên đánh giá Hoàng Việt văn tuyển trong hệ thống Văn tuyển
Việt Nam thời trung đại
* Xác định bản D (A 1582) là bản tốt nhất trong số 12 truyền bản Hoàng
Việt văn tuyển chữ Hán Lần đầu tiên, tình hình văn bản HVVT đã được khảo sát
một cách toàn diện, từ đó chúng tôi đưa ra được văn bản HVVT có diện mạo gần với bản Bùi Huy Bích nhất
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài Phần mở đầu và phần Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3
chương:
+ Chương I: Tiểu sử và sự nghiệp của Bùi Huy Bích
+ Chương II: Nghiên cứu các truyền bản của Hoàng Việt văn tuyển
+ Chương III: Giá trị của Hoàng Việt văn tuyển trong hệ thống Văn tuyển Việt
Trang 20Tài liệu tham khảo gồm 70 đơn vị tài liệu, trong đó có 41 đơn vị tài liệu
tiếng Việt; 29 đơn vị tài liệu Hán – Nôm, được sắp xếp theo thứ tự từ [1] đến [70]
Trang 21Mục lục Hoàng Việt văn tuyển bản B (A 3163/1)
Trang 22CHƯƠNG I
TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA BÙI HUY BÍCH
1.1 VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG CỦA BÙI HUY BÍCH
Bùi Huy Bích là danh nhân văn hoá nổi tiếng thế kỷ XVIII Tác phẩm của ông có giá trị lớn thời đó và cả sau này Từng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu, giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Huy Bích, cho nên việc giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của ông đã tương đối hoàn chỉnh Để phục vụ cho việc triển khai đề tài nghiên cứu văn bản HVVT, chúng tôi chỉ giới thiệu khái quát về ông, đồng thời chú ý khẳng định đóng góp của Bùi Huy Bích với tư cách
là danh nhân văn hoá, thể hiện qua nhiều công trình biên soạn, khảo cứu và sáng tác, trong đó có HVVT
Bùi Huy Bích 裴 輝 璧 (1744 – 1818) hiệu là Tồn Am 存 庵, Am Bệnh Tẩu 庵 病 叟, Tồn Ông 存 翁, tự Am Chương 庵 章 hay Hi Chương 希 章, là học trò của Bảng nhãn Lê Quý Đôn 黎 貴 惇, suốt đời gần gũi với Lê Quý Đôn
Ông là danh nhân, danh sĩ người Hà Nội, từng giữ chức Tham tụng (tương
đương chức thủ tướng) trong triều đình Lê – Trịnh
Bùi Huy Bích sinh ngày 28 tháng 8 năm Giáp Tý (1744) tại làng Định Công, gần Ngã Tư Sở; mất ngày 25 tháng 5 năm 1818 Gia tộc họ Bùi 裴 làng Thịnh Liệt hay họ Bùi Làng Sét (tên Nôm) là dòng họ nổi tiếng có nhiều nhân vật quan trọng ở các triều đại, đời đời có nhiều người được phong tước quận công, lại nổi tiếng văn chương Thịnh Liệt cổ kính xưa là làng Việt cổ, nằm cạnh kinh thành Thăng Long, đến thế kỷ XV thì có tên là Thịnh Liệt Gia tộc họ Bùi bắt đầu từ thôn Giáp Nhị Đầu thế kỷ XIX, làng Thịnh Liệt thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng Vào đầu thế kỷ
XX, làng Thịnh Liệt thuộc tổng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông Năm 1950, Thịnh Liệt được đổi tên thành Đoàn Kết, đến năm 1964 lại được đổi thành Thịnh Liệt Ngày nay, Thịnh Liệt thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội
Trang 23Làng Thịnh Liệt được Nguyễn Trãi nhắc đến trong sách Dư địa chí (與
地 志) vì đặc sản cá rô đầm Sét Nằm trong số rất ít các làng quê miền Bắc Việt Nam, Thịnh Liệt có cả văn chỉ lẫn thọ chỉ Thọ chỉ, giống như văn chỉ, là một ngôi đền trong làng nhưng không dùng để tôn vinh các danh nhân văn hoá mà để tôn vinh những người lớn tuổi, từ hơn 70 tuổi trở lên Dòng họ Bùi ở làng Thịnh Liệt đóng góp nhiều danh nhân văn hoá cho đất Việt, như Bùi Bỉnh Trực, Bùi Vịnh, Bùi Nhữ Tích, Bùi Xương Trạch, Bùi Liêm
Bùi Huy Bích là cháu năm đời của Tiên quận công Bùi Bỉnh Uyên, là
cháu ba đời của Bùi Xương Trạch Bùi Xương Trạch đời Lê sơ nhà nghèo, chuyên tâm cày cấy, thường mang sách ra đồng vừa làm vừa học, 41 tuổi đỗ Tiến sĩ Ông là người nổi tiếng thanh liêm, từng làm quan trong triều Hậu Lê,
từng giữ các chức vụ như Đông các học sĩ, Thượng thư Bộ binh, Tế tửu Quốc Tử
Giám, Thượng thư trưởng Lục bộ, khi mất được truy tặng Thái phó, Quảng quận công Bùi Xương Trạch có bài Quảng văn đình ký, được chép trong Hoàng Việt văn tuyển Bài ký này Bùi Xương Trạch phụng mệnh soạn thảo (Hồng Đức năm
thứ 24, 1493), được vua rất khen ngợi Hai người con của Bùi Xương Trạch là
Bùi Trực, Bùi Vịnh đều có tên trong sử sách Bùi Trụ làm Thượng thư Bộ hộ nhà
Mạc, sau quy thuận nhà Lê, được phong tước Kinh quốc công Bùi Vịnh đỗ
Bảng nhãn khoa Nhâm Thìn (1532), niên hiệu Đại Chính (nhà Mạc), làm Tả thị
lang Bộ hộ, sau cũng có công với nhà Lê, phong tước Mai quận công Bùi Trụ
còn để lại một bài thơ ngũ ngôn 49 vần, một bài phú chữ Hán và một bài phú Nôm Con Bùi Vinh là Bùi Bỉnh Uyên, từng giữ chức Thượng thư thời Lê Thế
Tông (1573 –1600), cũng được phong tước công
Bùi Huy Bích xuất thân trong gia đình dòng dõi, ông nội là Bùi Xương
Tự, làm Tham nghị ty thừa chính Thái Nguyên, thị nội trong triều, sau giữ chức
Liêm công đại phu rồi Hàn lâm thị độc đại phu, được phong tước Bá Bùi Xương
Tự hiệu Gia Lạc và Túc Trai, cũng làm tham nghị, nổi tiếng văn thơ, đỗ hương
khoa Sĩ vọng, Hoành từ
Trang 24Cha Bùi Huy Bích là Bùi Dụng Tân, hiệu Trúc viên cư sĩ, không ra làm quan, dạy học ở nhà Tuy thuộc dòng dõi hiển đạt, cao khoa nhưng Trúc Viên cư
sĩ nhà nghèo phải xuống tận Hải Dương dạy học kiếm tiền
Tám tuổi, Bùi Huy Bích mồ côi mẹ, sau ông theo cha đến nơi dạy học tại làng An Lâu, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Thuở nhỏ, ông học tại nhà, năm 17 tuổi theo học Nguyễn Bá Trữ Nguyễn Bá Trữ đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754), người Linh Đường Năm 19 tuổi, ông thi đỗ hương cống, nhưng năm sau trượt thi hội Sau khi thi trượt, ông theo học Lê Quý Đôn, nhưng bất mãn với xã hội nên không thi tiến sĩ Mãi đến năm 25 tuổi (1770), ông đỗ thi hội rồi thi đình,
đỗ hoàng giáp – hạng tiến sĩ thứ tư sau trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa
Sau khi thi đỗ Hoàng giáp, ông được lần lượt giữ chức Hàn lâm Viện hiệu
lý, Thị chế (1771), Thiêm sai phủ liêu tri hộ phiên, Đông các hiệu thư
Sách Lịch đại danh hiền phổ 歷 代 名 谱 賢 記 viết về Bùi Huy Bích như sau: “Ông bình văn thì sang sảng, phong độ uy nghi, lúc nào cũng ung dung
nhàn nhã Mỗi khi ông đến tế ở Quốc Tử Giám thì người ta đua nhau đến xem ”
Năm 1777, ông lĩnh chức Đốc đồng Nghệ An, rồi phụng sai vào Thuận Hoá tuyên dụ Ông ở Hoan Châu khá lâu, từ năm 1777 đến năm Cảnh Hưng 42 (1781) Đó là những năm tháng khó nhọc, vất vả trong cuộc đời ông Trong thời gian này, ông có công dẹp loạn giặc Mường ở miền tây Nghệ An; bị phái vào Thuận Hoá điều tra công tội của tướng sĩ và tình hình nhân dân
Năm 1780, giặc Mường yên, Bùi Huy Bích được thăng Hiệp trấn Nghệ
An kiêm thụ lĩnh chức Tham chính Ông đã che chở cho dân, khiến dân xứ Nghệ
được nhờ Năm 1781, ông được chúa Trịnh Tĩnh Vương triệu về triều, trao cho
chức Nhập thị bồi tụng
Năm 1782, ông được cử làm Hành quyền Tham tụng kiêm Quốc tử giám
tế tửu, tước Kế liệt hầu Trong điều kiện chúa Trịnh chiếm giữ cả quyền bính của
vua Lê, hàng ngũ đồng liêu thiếu đoàn kết, Bùi Huy Bích càng chán nản
Trang 25Bùi Huy Bích từng đứng ra can gián Trịnh Sâm khi ông định bỏ con trưởng, lập con thứ, nhưng không thành Sau đó, ông bị chúa Trịnh nghi ngờ nên năm 1785, ông đã từ quan về dưỡng bệnh tại phường Bích Câu, Hà Nội
Năm 1786, quân Tây Sơn đánh ra Thăng Long, chúa Trịnh cử Bùi Huy Bích vào cương vị đốc chiến nhưng ông chưa kịp nhận lệnh thì cánh quân này đã tan vỡ Tiếp theo đó, Trịnh Bồng, Trịnh Lệ lần lượt lên ngôi Chiêu Thống lên ngôi vua, có vời Bùi Huy Bích ra làm quan nhưng ông từ chối
Nguyễn Huệ lên ngôi vua có mời các danh thần nhà hậu Lê ra giúp nước, nhưng ông không hợp tác Đến đời vua Gia Long, ông được trọng đãi, nhưng vẫn xin về quê sống, rồi liên tiếp đổi chỗ ở coi như đi ở ẩn: năm 1785 – 1790 ở phường Bích Câu; năm 1795 – 1800 ở An Lâu, Thanh Miện, Hải Dương; năm
1800 – 1818 ở làng Thịnh Liệt Bùi Huy Bích mất năm Mậu Dần (1818), thọ 75 tuổi
Trung thành với nhà Lê, cho nên khi vua Gia Long lên ngôi, ngự giá Bắc thành, mua chuộc bầy tôi cũ của nhà Lê, ban quần áo, tiền bạc, bổ dụng phẩm trật cũ cho hàng ngũ quan lại của nhà Lê, nhưng Bùi Huy Bích không ra làm quan ở triều Gia Long Nguyễn Văn Thành bắt bầy tôi nhà Lê dâng biểu “khuyến tiến”, nghĩa là khuyên vua Gia Long xưng Hoàng đế Một mình Bùi Huy Bích không ký Gia Long sai người đến tận làng, hứa làm lại nhà cho ông, ông vẫn
không nhận Thời Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn, năm lần bảy lượt mời ông
đến bàn việc quốc sự, nhưng ông đều thoái thác, nói rằng mình là bầy tôi của triều cũ, không được dự bàn với triều mới
Quãng đời của ông từ khi cáo quan về tới lúc mất kéo dài hơn 30 năm (1785 – 1818) có thể nói là nghèo khổ; một nửa thời gian trú ngụ ở quê người; con đông, 6 trai, 7 gái; sống bằng nghề dạy học, nhưng ông không hề than vãn Thú vui duy nhất của ông là dạy học, làm thơ, viết sách
Về già, Bùi Huy Bích thường mượn thơ văn thể hiện niềm ưu thương, để lại cho người đời nhiều áng thơ văn bất hủ Di cảo của ông thể hiện cảnh ngộ,
Trang 26tâm trạng thời vãn niên Tuổi già, Bùi Huy Bích lấy thơ văn làm nguồn vui, thường cùng em là Bùi Cảnh, cháu họ là cử nhân Bùi Trực xướng hoạ thơ từ
Một đời làm quan của Bùi Huy Bích tưởng chừng như hanh thông nhưng thực sự chưa lúc nào ông đắc chí cả Theo G.S Vũ Khiêu, Bùi Huy Bích là nhà nho lớn của thế kỷ XVIII Đó cũng là nguyên nhân ông không theo phò nhà Tây Sơn Vào thời đại ấy, một người theo đạo Nho chỉ làm nổi được hai điều, đó là tu thân và tề gia, còn trị quốc, bình thiên hạ là điều bất cập Như vậy, thời đại Bùi Huy Bích sống chịu nhiều hạn chế với sự suy vi của Nho giáo
Bùi Huy Bích là nhà Nho học lớn thế kỷ XVIII Ông được bồi dưỡng và trung thành với Nho giáo cho đến hơi thở cuối cùng Nho giáo đã đưa ông tới
đỉnh cao danh vọng: thi đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Tể tướng Với tinh thần
độc tôn Nho giáo, Bùi Huy Bích đã đánh giá thấp Phật giáo, Lão giáo Ông ca ngợi Lê Quát, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, bài xích các thuyết dị đoan, các truyện kỳ quái, mê tín của Phật giáo và Đạo giáo
Trung thành với học thuyết Nho giáo, ông đề cao đạo trung hiếu Bản thân ông giữ trọn vẹn tấm lòng thần tử đối với vua Lê, chúa Trịnh Vì chữ trung, ông
đã không theo vị anh hùng dân tộc Quang Trung như nhiều trí thức đương thời
mà quá trung thành với vua Lê Chiêu Thống
Như vậy, Bùi Huy Bích học đỗ đến Đình nguyên Hoàng giáp, làm quan đến chức Tể tướng nhưng tư tưởng không gò bó trong giáo huấn của thánh hiền,
gặp lúc cực loạn, cực suy, ông vẫn sống trong sạch, không làm điều gì trái với lương tâm Cho nên, trước nhà thời ông có đề mấy chữ “Túc thanh cao” Người thời nay nhắc đến ông bởi ông là người ham văn học, có ý thức giữ gìn di sản của tổ tiên, soạn nhiều bộ sách có ích cho đời
Bùi Huy Bích sống vào giữa thời loạn lạc, binh biến liên miên Nội chiến phong kiến Lê – Mạc (1545 – 1592), Trịnh – Nguyễn (1627 – 1672) đã chia cắt đất nước Sang thế kỷ XVIII, nội chiến chấm dứt, nhưng đất nước chịu những hậu quả ghê gớm: nông nghiệp đình đốn, nạn đói tràn lan Dân chúng phải ăn
Trang 27rau, ăn cỏ, người chết chồng chất Trong khi đó, bọn quan lại, vua chúa, hoàng thân quốc thích lao vào cuộc sống hưởng lạc trên mồ hôi nước mắt của dân Chính vì vậy, các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp bùng lên
Ở Đàng Ngoài, từ năm 1737 đến năm 1741, năm nào cũng có một cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổi Năm 1737, nhà sư Nguyễn Dương Hưng dấy quân ở Tam Đảo; năm 1738, Lê Duy Mật đảo chính ở Thăng Long, sau đó thất bại thì chạy lên miền núi Thanh Hoá; năm 1739, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh nhất tề nổi dậy ở Hải Dương; còn Vũ Đình Dung, Hoàng Công Chất dấy quân ở Sơn Nam Năm 1740, nghĩa quân của Nguyễn Tuyển tan vỡ ở Hải Dương, nhưng Nguyễn Danh Phương đã xây dựng căn cứ địa ở Tam Đảo, cố thủ với quân triều đình trong 10 năm ròng (1741 – 1751) Năm 1741, Nguyễn Cừ thua trận, tướng giỏi của ông là Nguyễn Hữu Cầu tổ chức cuộc khởi nghĩa mới
Đó là cuộc khởi nghĩa đánh dấu điểm cao của nhân dân Đàng Ngoài
Phong trào khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài tạm lắng thì năm 1771 nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử nước ta: phong trào Tây Sơn Khởi nghĩa Tây Sơn lan rộng toàn quốc, thực hiện được một phần yêu cầu dân chủ thiết tha, cấp bách của nông dân Cuộc hành quân thần tốc của Nguyễn Huệ
đã quét sạch chính quyền phong kiến thối nát, bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước
Đầu thế kỷ XIX, Gia Long lật đổ triều Tây Sơn, nhưng không dập tắt được phong trào nông dân Trong 7 năm Gia Long làm vua (1802 – 1819), phong trào nông dân bùng nổ trên toàn quốc với hơn 50 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ
Có thể nói, thời đại Bùi Huy Bích sống là thời kỳ đầy sôi động, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp đều gay gắt, quyết liệt Cũng từ đó, trỗi dậy ý thức quần chúng, ý thức dân tộc, đánh dấu một chặng đường phát triển của lịch sử, một bước chuyển biến mạnh mẽ của đất nước
Tóm lại, Bùi Huy Bích sinh ra trong một gia đình Nho học, có nhiều người hiển danh, đỗ đạt Cả cuộc đời, ông theo đuổi sự nghiệp văn chương, sống
Trang 28thanh cao hơn người Trung thành tuyệt đối với Nho giáo, với triều Lê, cho nên
về cuối đời, ông sống ẩn dật, lấy học trò và văn chương làm niềm ưu quốc ái dân
1.2 SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VĂN HỌC CỦA BÙI HUY BÍCH
1.2.1 Tình hình văn học thế kỷ XVII – XVIII
Bùi Huy Bích sống vào thời kỳ khủng hoảng sâu sắc và bùng nổ dữ dội những mâu thuẫn chứa chất trong lòng xã hội phong kiến Nhưng cũng chính trong giai đoạn đó, nền văn học dân tộc bước vào kỷ nguyên phồn thịnh chưa từng có: phát triển cả văn học chữ Hán và chữ Nôm Những tên tuổi lẫy lừng xuất hiện như Nguyễn Huệ, học giả Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương
Văn học thời kỳ này đã tiến đến những đề tài mới, thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao cả Phương pháp sáng tác đã vươn đến khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa Các thể loại văn học dùng tiếng Việt là chủ yếu Đây là thời kỳ tập đại thành những truyền thống của nền văn học dân tộc
Văn học thế kỷ XVII - XVIII đã phát triển rực rỡ cả về văn học chữ Hán
và chữ Nôm, tiêu biểu có Thánh Tông di thảo, Thiên nam ngữ lục; Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Truyện Song tinh của Nguyễn Hữu Hào, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn
Án, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Phương đình tùy bút lục của Nguyễn
Văn Siêu, v.v…
Trong thời kỳ này, tuy chưa có sách chuyên nghiên cứu về lịch sử văn
học, nhưng đã có sách hợp tập, tuyển thơ văn của nhiều triều đại Tiếp theo Việt
âm thi tập (越 音 詩 集) của Phan Phu Tiên (潘 孙 先) sưu tập năm 1433, Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương, còn có Toàn Việt thi lục (全 越 詩
錄) của Lê Quý Đôn (黎 貴 惇) Ngoài ra, bộ Ức Trai di tập (抑 齋 遺 集)
của Nguyễn Trãi (阮 廌) được Trần Khắc Kiệm sưu tầm do Dương Bá Cung
Trang 29hoàn chỉnh đã được đem khắc bản toàn bộ năm 1868 dưới triều Tự Đức Hoàng
Việt văn tuyển và Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích được khắc bản năm
1825 Cùng thời Bùi Huy Bích, còn có nhiều sách Văn tuyển khác như Quốc
triều văn tuyển 國 朝 文, Lập Trai văn tuyển (立 齋 文 選) của Lập Trai (立
齋) tiên sinh Phạm Quý Thích, Ngu Sơn văn tuyển (禺 山 文 選) của Đông Dương Vũ Phạm Khải (東 洋 武 笵 啟), Phương Đình văn tuyển (方 停 文 選) của Nguyễn Văn Siêu (阮 文 超), Châu phong tạp thảo (州 豐 雜 草) của Phạm Đình Hổ (笵 廷 虎) Sau thời Bùi Huy Bích có Dụ am văn tập của Phan Huy Ích, Kim giang văn tập, Đại Nam văn uyển thống biên, v.v
Rõ ràng, trong thời đại Bùi Huy Bích sống, văn học phát triển mạnh mẽ cả
về thể loại, số lượng tác giả và tác phẩm, đặc biệt là sách Văn tuyển xuất hiện ngày càng nhiều Hầu hết sách Văn tuyển được tuyển theo những khuôn mẫu có
sẵn, chất liệu có sẵn bằng cách vay mượn cả về nội dung lẫn hình thức của văn học cổ
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Bùi Huy Bích
Bùi Huy Bích (裴 輝 璧)có sự nghiệp sáng tác đồ sộ Thời thế không cho phép ông toại nguyện về hoạt động chính trị nên ông đã để tâm vào sáng tác, biên khảo văn học Ông đã để lại cho đời 20 tác phẩm có độ dày, nội dung lớn nhỏ khác nhau, nhưng đều có giá trị về nhiều mặt văn học, lịch sử, triết học và
giáo dục Hiện những bài văn trong hoạt động chính trị (biểu, tấu, khải, thư, trát) cũng như trong đời sống xã hội (bi kí, câu đối, bài tựa, bài bạt, văn tế) của ông
vẫn còn được lưu trong nhiều sách in hay viết tay Về phương diện sáng tác, tác phẩm của Bùi Huy Bích phần lớn viết vào giai đoạn trước thời Tây Sơn Thơ ông viết về cuộc sống nghèo khổ của nhân dân Thời gian làm đốc đồng ở Nghệ An rồi đi thanh tra vùng Thuận Hoá, Bùi Huy Bích có nhiều bài thơ tả cảnh những người đói húp từng lưng cháo được chẩn cấp Ông xót xa nghĩ đến những người chết chợ không có mảnh chiếu để chôn Bùi Huy Bích thấy nhân dân đói khổ là
Trang 30do thiên tai, thuế khoá, binh dịch
Bùi Huy Bích có công lớn trong việc sưu tập những áng thơ văn tiêu biểu
từ thời Lý đến đời Lê Các tác phẩm tiêu biểu của ông có Hoàng Việt thi tuyển (黄 越 詩 選), Hoàng Việt văn tuyển (黄 越 文 選), Tồn Am thi cảo (存 庵
詩 稿), Tồn Am văn tập (存 庵文 集), Tồn Am thi tập (存 庵 詩 集), Lữ trung
tạp thuyết (呂 忠 雜 說),…
- Tồn Am thi cảo (存 庵 詩 稿) được Phạm Nguyễn Du (笵 阮 游) viết
bạt năm Nhâm Dần (壬 寅), tức năm 1782; Quế Đường (桂 堂) ở Diên Hà viết
tựa năm Cảnh Hưng 4 Tác phẩm gồm Bích câu tiền hậu tập (碧 句 前 後 集), Nguyễn Du (阮 游) đề tựa, Nghệ An thi tập (藝 安 詩 集 ), Thoái Hiên thi tập
(腿 軒 詩 集)
- Tồn Am văn cảo (存 庵 文 稿) phản ánh tình hình nhân dân đói khổ vì
thiên tai, thuế khoá, binh dịch; miêu tả cảnh thiên nhiên nơi Bùi Huy Bích làm quan hay nương náu, nhất là thiên nhiên Thăng Long, Nghệ An, Quảng Bình Ngoài ra, trong sách còn có một số văn tế và bài bia chuông chùa Diên Khánh
- Tồn Am văn tập (存 庵文 集) gồm những bài biểu, tấu, khải, công văn, thư, trát, lệ ngữ, tản văn, bi ký, trướng, chí, tự, bạt, dẫn, thuyết, văn tế Ngoài ra,
trong tác phẩm còn có văn của gia đình họ Bùi ở Thịnh Liệt Đọc Tồn Am văn
tập, chúng ta có thể hiểu được thân thế, sự nghiệp, tư tưởng của ông Trong Tồn
Am văn tập có bài văn tế thầy học Lê Quý Đôn năm Cảnh Hưng 45 (Giáp Thìn,
1784); bài văn tế chị (mùa thu năm Tân Dậu 1801); bài văn tế con trai Bùi Cư (năm Gia Long 2, Kỷ Tỵ, 1809); bài văn tế Đản Trai tức Bùi Trực, cháu trai đồng thời là bạn thơ của ông năm Gia Long 14 (Ât Hợi, 1815) Đó là những bài
văn ông viết khi về già, lời lẽ chân thành, cảm động
- Tồn Am thi tập (存 庵 詩 集) gồm 27 bài thơ ngũ ngôn cổ phong, 15
bài thơ ngũ ngôn luật, 22 bài thơ thất ngôn cổ phong, 60 bài thất ngôn bài luật,
vịnh cảnh vật, thời tiết, di tích lịch sử, đề tặng, cảm hứng
Trang 31- Lữ trung tạp thuyết (呂 忠 雜 說) gồm 2 quyển, được xuất bản năm
1789, là tập tuỳ bút được viết khi Bùi Huy Bích ẩn náu ở Sơn Tây, tránh nhà Tây Sơn Đó là những ghi chép tản mạn những suy nghĩ về triết học, văn học, lịch sử, cuộc đời, đạo lý làm người, đính chính một số tài liệu lịch sử, nhớ lại hồi
ức, ca tụng quá khứ…
- Hoàng Việt thi tuyển (黄 越 詩 選) được coi là một tập hợp tuyển thơ,
chủ yếu được xây dựng trên cơ sở tuyển chọn thơ từ các bộ hợp tuyển cũ của các đời cho đến thời Lê Cảnh Hưng, trong đó có phụ thêm thơ của Bùi Huy Bích
Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, phần Văn tịch chí (文
席 志) có ghi cuốn Lịch triều thi sao, 6 quyển của Bùi Huy Bích, tóm lược nội dung sách và chép toàn bộ bài dẫn trong Hoàng Việt thi tuyển Sau bài tựa là bài
Thi sao nguyên bản tiểu dẫn, như đã được ghi trong Văn tịch chí ở cuối có mấy
chữ “Mậu Thân thu, Tồn Am bệnh lão Bùi Bích ngôn” (lời nói của Bùi Bích, ông già mang bệnh Tồn Am, mùa thu năm Mậu Thân) Như vậy, Hoàng Việt thi
tuyển chỉ là Lịch triều thi sao được in dưới tên mới
Hoàng Việt thi tuyển có tất cả 562 bài thơ vừa ngũ ngôn, lục ngôn, thất
ngôn, tứ tuyệt, bát cú hoặc trường thiên, gồm 6 quyển: quyển thượng gồm thơ các vua Lý, Trần; ba quyển trung gồm thơ Lý, Trần, Lê, thời Quang Thuận
(1460 -1470) và Hồng Đức (1470 -1497), tức thời Lê Thánh Tông; hai quyển hạ gồm thơ từ thời Lê Hiếu Tông (1498 -1504) đến đầu đời Cảnh Hưng, tức thời Lê Hiển Tông; từ Cảnh Hưng đến cuối Lê (1787)
Ngoài ra, Bùi Huy Bích còn có các tác phẩm Quốc triều chính đại học (國
朝 大 學 政) gồm 7 quyển, Lịch triều thi sao (歷 朝 詩 抄) gồm 6 quyển,
Hành tham quan gia huấn (行 參 觀 家 訓) Ông còn tóm lược và chú thích
Tứ thư (四 書), Ngũ kinh (五 經), viết văn bia, văn tế, phê bình văn học… Tứ thư, Ngũ kinh do ông tóm lược và chú thích được triều Nguyễn 阮 in với nhan đề
Tứ thư tiết yếu (四 書 節 要 ), Ngũ kinh tiết yếu (五 經 節 要)
Trang 32Như vậy, Bùi Huy Bích sống vào thời đại xuất hiện nhiều bậc thầy tài năng và phong khí văn chương sôi nổi Nhờ tài năng và niềm ham mê văn học, ông đã trở thành một trong những nhà ngữ văn học nổi bật thời trung đại.
1.2.3 Tuyển tập Hoàng Việt văn tuyển
Hoàng Việt văn tuyển (黄 越 文 選) là tuyển tập văn từ đời Trần đến đời
Lê do Tồn Am Bùi Huy Bích (存 庵 裴 輝 璧) tuyển chọn và viết lời dẫn; Nguyễn Tập (阮 集) , đốc học Trấn Sơn Nam biên tập và viết tựa năm Minh
Mệnh 6 (1825), in tại Hi Văn Đường (希 文 堂)
Hoàng Việt văn tuyển cùng khổ sách, chất giấy, kiểu chữ với Hoàng Việt thi tuyển Tờ đầu sách ngoài bốn chữ lớn tên sách Hoàng Việt văn tuyển, ở giữa
về bên trái có ghi bốn chữ Tồn Am gia tàng (lưu giữ tại gia đình Tồn Am), bên trái có ba chữ Hi văn đường ở trên hai dấu triện vuông, phía trên là bốn chữ Các
gia hội tuyển
Hoàng Việt văn tuyển tuyển tất cả 112 tác phẩm từ thời Lý đến thời Lê,
thuộc 8 thể loại lớn, chia thành 8 quyển Mỗi tác phẩm trong HVVT thường có lời dẫn về hoàn cảnh sáng tác, nhiều câu kèm chú thích Cuối mỗi tác phẩm có
ghi tên họ và thời đại tác giả, nhưng không ghi tiểu sử như trong Hoàng Việt thi
tuyển, có lẽ tác giả được ghi tiểu sử trong Hoàng Việt thi tuyển và Tồn Am đặt thi tuyển trước văn tuyển Đặc biệt cuối quyển 1 có hai bài ghi là “phụ”, đó là Phụ Côn sơn ca của Nguyễn Trãi và Phóng cuồng ca của Trần Quốc Tảng Có lẽ
soạn giả cho rằng, hai bài này nên đưa vào tập thi tuyển, vì thi với ca thường đi đôi với nhau
Trước Bùi Huy Bích hầu như chỉ có sách Thi tuyển mà rất ít sách Văn
tuyển Ông đã kế thừa kinh nghiệm làm sách Thi tuyển từ các bậc tiền nhân như
Hoàng Đức Lương, Phan Phu Tiên, đặc biệt là thầy học Lê Quý Đôn, nhưng cũng có sự cách tân, đổi mới về phương pháp tuyển chọn Có thể, ông đã học
cách biên soạn sách Văn tuyển theo Hoàng Việt văn hải (皇 越 文 海 ) của Lê
Trang 33Quý Đôn, dù tác phẩm đó hiện nay không còn
Sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, cho nên tài năng sinh ra ở thời đại đó cũng đầy bi kịch Số phận tên tuổi những người cùng thời với Bùi Huy Bích (裴 輝 璧) như Ngô Thì Nhậm (吳 時 任), Phan Huy Ích (潘 輝 益 ), Nguyễn Du (阮 游), Đoàn Nguyễn Tuấn (段 阮 俊), Trần Danh Án (陳 名 案), Lý Trần Quán (李 陳 冠), Nguyễn Thiếp (阮 帖) và ngay cả Lê Quý Đôn (黎 貴 惇), nhà bác học lớn, cũng là người thầy có nhiều ảnh hưởng đối với Bùi Huy Bích hẳn cũng chứa chất không ít những điều bất đắc ý Từ những tác phẩm
để lại cho thấy, dù trong hoàn cảnh nào, suốt đời Bùi Huy Bích đều ham học đọc sách, trau dồi đạo đức, trí tuệ, sáng tác và sưu tầm văn học, vươn lên không ngừng Đóng góp lớn của Bùi Huy Bích cho lịch sử là những trước tác của ông
để lại cho hậu thế và một nhân cách trong sáng giữa một thời đại đầy bi kịch
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Trong chương I, chúng tôi đã thực hiện một số công việc sau đây:
- Khảo sát một cách toàn diện về thân thế, hành trạng và sự nghiệp của Bùi Huy Bích
Bùi Huy Bích là học trò Bảng nhãn Lê Quý Đôn, là danh sĩ người Hà Nội,
danh nhân văn hoá nổi tiếng thế kỷ XVIII
Ông sinh ra trong một gia đình nổi tiếng văn chương và có nhiều danh nhân văn hóa Cái nôi Nho học của gia đình không những nuôi dưỡng tâm hồn văn chương mà còn thúc đẩy ông sáng tác, trở thành nhà ngữ văn học nổi tiếng thời trung đại và cả ngày nay cho đến đời sau
Bùi Huy Bích từng giữ nhiều chức quan, lăn lộn với dân chúng, có công dẹp loạn Cả một đời, Bùi Huy Bích sống trong nghèo khó, nhưng ông vẫn giữ được tấc lòng trong sáng, trung thành tuyệt đối với nhà Lê, với Nho giáo Ông không ra làm quan với nhà Nguyễn mà sống ẩn cư ở nhiều nơi, ngày càng chú tâm vào sự nghiệp dạy học và sáng tác văn chương
Trang 34- Tập hợp các sáng tác của Bùi Huy Bích
Bùi Huy Bích đi rất nhiều nơi, nhưng đi đến đâu có thơ văn để lại đến đấy Ông để lại cho đời hơn 20 tác phẩm văn học, có cả thơ, văn, tuyển tập, san
định Tứ thư, Ngũ kinh Tác phẩm của Bùi Huy Bích có giá trị văn học, lịch sử, triết học và giáo dục Tiêu biểu nhất trong các tác phẩm của ông là hai tập Thi
văn tuyển, được Hi Văn Đường khắc in vào thời Nguyễn
Bùi Huy Bích sáng tác cả thơ và văn với rất nhiều thể loại, có cả thể loại biểu, tấu, khải, công văn, thư, trát, lệ ngữ, tản văn, bi ký, trướng, chí, tự, bạt, dẫn, thuyết, văn tế, thơ ngũ ngôn, thất ngôn, tùy bút…
- Giới thiệu tổng quan về tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển
Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích gồm 8 quyển thuộc 8 thể loại lớn
(17 tiểu thể loại), tuyển văn từ đời Trần đến đời Lê Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích có sự kế thừa từ các nhà ngữ văn học tiền bối, Văn tuyển Trung
Quốc nhưng đã có sự cách tân, đổi mới về phương pháp tuyển chọn
Trang 35CHƯƠNG II
NGHIÊN CỨU CÁC TRUYỀN BẢN HOÀNG VIỆT VĂN TUYỂN
Trong chương II, chúng tôi tiến hành tập hợp, mô tả, phân loại các truyền bản và tìm hiểu sâu hơn về một số truyền bản tiêu biểu nhất nhằm thực hiện mục tiêu cụ thể mà luận văn đề ra
2.1 TẬP HỢP, MÔ TẢ CÁC TRUYỀN BẢN HOÀNG VIỆT VĂN TUYỂN
2.1.1 Tập hợp các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển
Các truyền bản của HVVT bao gồm những cuốn sách chữ Hán, chữ quốc ngữ có chép nội dung nằm trong 8 quyển của tác phẩm HVVT hiện được lưu trữ
ở các thư viện trong và ngoài nước
Hoàng Việt văn tuyển lưu trữ tại Paris: Paris SA.PD.2321 (1-2), in;
Paris.SA.HM 2217, 324 tr., in; Paris MG.FV.56310, 506 tr., in; Paris EFEO MF.II/2/300 (A 3163/1-3); Paris EFEO.MF.III/28 (A.3163)
Tại thư Viện Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ 8 văn bản HVVT bằng
chữ Hán, có ký hiệu A.3163; A.3163/1; A.2683; A.1582; VHv 1452/a; VHv 1452/c; VHv 93, A 203
Thư Viện Quốc gia lưu trữ 4 văn bản HVVT bằng chữ Hán, có ký hiệu
R.601; R.602; R.979; R.980
Ngoài ra, tại một số thư Viện như Thư viện Quốc gia, Thư Viện viện
Thông tin Khoa học xã hội, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện văn học vẫn lưu giữ được truyền bản được dịch ra chữ quốc ngữ gồm Hoàng Việt văn tuyển T.1, T.2, T.3 do Tô nam Nguyễn Đình Diệm, dịch năm 1972
2.1.2 Mô tả các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển
+ Truyền bản chữ Hán
Các truyền bản chữ Hán có đặc điểm chung là bản in trên giấy dó (trừ bản
A 203 chép tay); một tờ hai trang, một trang 9 dòng chữ to; mỗi dòng 23 chữ; có
giải thích; dòng to chia thành hai dòng nhỏ in xen vào giữa Sau các mục trong
Trang 36sách có ghi chú tên sách, xuất xứ, dưới từng bài có ghi tên tác giả, không ghi tiểu truyện, chỉ chua văn đời nào và chua điển tích, lai lịch đầu đề bài văn ấy; trong bài văn, câu nào có điển tích cũng có chua nghĩa Sau đây là một số đặc điểm riêng của các truyền bản:
- Bản A.3163: Khổ 29 x 16; 61 tr; trang đầu sách đề Hoàng Việt văn tuyển
quyển 3, dưới có bốn chữ nhỏ hơn: Tồn Am gia tàng, không có tựa, không có mục lục Phần nội dung có quyển 3 (9 bài minh, văn bia, chí, lục), quyển 4 (9 bài
văn tế), quyển 5 (26 bài chiếu, chế, sách), tổng cộng có 44 bài văn Bản A 3163
thiếu nhiều, nhưng có thể dùng để tham khảo
- Bản A.3163/1: Khổ 29 x 16, 59 tr; trang đầu sách đề Hoàng Việt văn tuyển, bốn chữ to ở giữa trang, phía phải bốn chữ nhỏ hơn: Tồn Am gia tàng phía
trái ba chữ Hi Văn Đường, dưới ba chữ này có hai dấu chữ triện: Hi Văn Đường,
Các gia hội tuyển Sau đó đến tựa, mục lục; phần nội dung chỉ có quyển 1 (15
bài phú cổ) và quyển 2 (15 bài ký), tổng có 30 bài văn Bản A 3163/1 tuy thiếu
nhiều, nhưng có tựa, mục lục, có thể dùng để đối chiếu với bản cơ sở
- Bản A.2683: Khổ 29 x 16, 324 tr; trang đầu sách là mục lục sách Hoàng
Việt văn tuyển Bản này không có tựa, có mục lục, nội dung có đầy đủ 8 quyển,
tổng cộng 113 bài văn
- Bản A.1582: Khổ 29 x 16, 324 tr; trang đầu sách là mục lục sách Hoàng
Việt văn tuyển Bản này không có tựa, có mục lục, nội dung có đầy đủ 8 quyển,
tổng cộng 113 bài văn
- Bản VHv 1452/a: Khổ 29 x 16, 324 tr; trang đầu là mục lục sách Hoàng
Việt văn tuyển, dưới có bốn chữ nhỏ hơn: Tồn Am gia tàng Bản này không có
tựa, không có mục lục, nội dung có đầy đủ 8 quyển, tổng cộng 113 bài văn
- Bản VHv 1452/c: Khổ 29 x 16, 324 tr; trang đầu sách là mục lục sách Hoàng Việt văn tuyển Bản này không có tựa, có mục lục, nội dung có đầy đủ 8
quyển, tổng cộng 113 bài văn
- Bản VHv 93: Khổ 29 x 16, 176 tr., (thiếu); trang đầu sách đề Hoàng Việt
Trang 37văn tuyển, bốn chữ to ở giữa trang, phía phải bốn chữ nhỏ hơn: Tồn Am gia tàng
phía trái ba chữ Hi Văn Đường, dưới ba chữ này có hai dấu chữ triện: Hi Văn
Đường, Các gia hội tuyển Bản này không có tựa, có mục lục, nội dung gồm 4
quyển: quyển 1 (15 bài phú cổ), quyển 2 (15 bài ký), quyển 3 (9 bài minh, văn
bia, chí, lục), quyển 4 (9 bài văn tế), tổng cộng 48 bài văn Bản này tuy không
đầy đủ, nhưng có giá trị tham khảo
- Bản A.203: Khổ 29 x 16, 324 trang chép tay; trang đầu sách đề Hoàng
Việt văn tuyển, bốn chữ to ở giữa trang, phía phải bốn chữ nhỏ hơn: Tồn Am gia tàng phía trái ba chữ Hi Văn Đường, dưới ba chữ này có hai dấu chữ triện: Hi Văn Đường, Các gia hội tuyển Thứ đến là tựa; sau là mục lục sách Hoàng Việt văn tuyển Trong số các truyền bản, bản A.203 là bản chép tay duy nhất, nhưng
có đầy đủ tựa, mục lục, nội dung đầy đủ 8 quyển, tổng cộng 113 bài văn
Theo Tìm hiểu kho sách Hán Nôm [37] thì bản A.203 có 111 bài, nhưng
thực tế lại có 113 bài Có sự khác nhau đó là do Trần Văn Giáp thống kê quyển 4
có 8 bài văn tế, quyển 5 có 25 bài chiếu, chế, sách, nhưng trên thực tế các truyền bản lại có 9 bài văn tế và 26 bài chiếu, chế, sách
- Bản R.601: Khổ 27 x 15,5, 156 tr., (thiếu); trang đầu sách đề Hoàng Việt văn tuyển, bốn chữ to ở giữa trang, phía phải bốn chữ nhỏ hơn: Tồn Am gia tàng
phía trái ba chữ Hi Văn Đường, dưới ba chữ này có hai dấu chữ triện: Hi Văn
Đường, Các gia hội tuyển Bản này không có tựa; có mục lục Phần nội dung chỉ
có quyển 1 (15 bài phú cổ), quyển 2 (15 bài ký), quyển 3 (9 bài minh, văn bia,
chí, lục), tổng có 39 bài văn
- Bản R.602: Khổ 27,5 x 16, 160 tr., (thiếu) Bản này không có tựa, mục
lục Phần nội dung chỉ có quyển 5 (26 bài chiếu, chế, sách), quyển 6 (22 bài biểu
(đối nội), tạ, khải), quyển 7 (11 bài tản văn), quyển 8 (6 bài biểu (đối ngoại),
tấu, công văn), tổng có 65 bài văn
- Bản R 979: Khổ 27,5 x 15,5, 176 tr., (thiếu); trang đầu sách đề Hoàng
Việt văn tuyển, bốn chữ to ở giữa trang, phía phải bốn chữ nhỏ hơn: Tồn Am gia
Trang 38tàng phía trái ba chữ Hi Văn Đường, dưới ba chữ này có hai dấu chữ triện: Hi Văn Đường, Các gia hội tuyển Bản này không có tựa; có mục Phần nội dung có
quyển 1 (15 bài phú cổ), quyển 2 (15 bài ký), quyển 3 (9 bài minh, văn bia, chí,
lục), quyển 4 (9 bài văn tế), tổng cộng có tất cả 48 bài văn
-Bản R.980: Khổ 26,5 x 15,5, 158 tr., (thiếu) Bản này không có tựa,
không có mục lục Phần nội dung chỉ có quyển 5 (26 bài chiếu, chế, sách), quyển
6 (22 bài biểu (đối nội), tạ, khải), quyển 7 (11 bài tản văn), quyển 8 (6 bài biểu
(đối ngoại), tấu, công văn), tổng có 10 thể loại; 65 bài văn
Kết quả mô tả các truyền bản chữ Hán Hoàng Việt văn tuyển được thể
hiện cụ thể ở bảng dưới đây:
TT Ký hiệu sách Kích thước Số trang Số quyển Quyển Tựa Mục lục
Trang 39Truyền bản quốc ngữ HVVT chỉ có một bản duy nhất, do Tô nam Nguyễn
Đình Diệm dịch, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản năm 1972
Trong bản dịch, dịch giả chú ý dịch sát nghĩa của nguyên văn chữ Hán, từ đó mà đạt được mục đích khôi phục nền văn chương chữ Hán của dân tộc HVVT được dịch ra quốc ngữ, được chia thành 3 tập:
- Hoàng Việt văn tuyển T.1
Bản dịch có 112 trang chữ Việt, phần sau là chữ Hán, bao gồm lời nói đầu; Phàm lệ; mục lục (quyển 1 đến quyển 8) Nội dung T.I chỉ có 15 bài phú cổ (cả phiên âm và dịch)
Ký hiệu tại Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội: VvN 229
- Hoàng Việt văn tuyển T.2
Bản dịch có 201 trang chữ Việt, phần sau là chữ Hán, từ quyển 2 đến hết quyển 4, bao gồm 6 thể loại: ký; minh, văn bia, chí, lục; văn tế
Ký hiệu tại Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội: VvN 230
- Hoàng Việt văn tuyển T.3
Bản dịch có 347 trang chữ Việt, phần sau là chữ Hán, từ quyển 5 đến quyển 8, gồm thể loại chiếu, chế, sách, biểu (đối nội), tạ, khải, tản văn, biểu (đối ngoại), tấu, công văn
Ký hiệu tại Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội: VvN 277
Trang 402.1.3 Niên đại hoàn thành văn bản Hoàng Việt văn tuyển
+ Trong công tác nghiên cứu văn bản học, việc xác định thời gian hoàn thành văn bản rất quan trọng Từ việc xác định thời gian hoàn thành văn bản gốc, chúng ta mới có thể xác định thời điểm bắt đầu hình thành các bản sao
+ Với HVVT, chúng ta may mắn có được thời điểm khắc in, đó là năm Ất Dậu (1825), năm Minh Mạng 6
+ Theo Trương Chính, có thể Hoàng Việt Văn Tuyển được viết năm Mậu
Thân (1788), sau khi Bùi Huy Bích từ quan, nhưng 47 năm sau, tức năm 1825, tác phẩm mới được Phạm Hi Văn khắc in
+ Theo Từ điển văn học (bộ mới) [31, 626] thì Hoàng Việt văn tuyển được
Bùi Huy Bích soạn cùng với Hoàng Việt thi tuyển năm Kỷ Hợi, niên hiệu Minh
Mạng (1839) Sách được khắc in có ký hiệu A.3163/1-3 (TVHN) tuyển 112 bài văn hay từ đời Lý đến đời Lê
2.1.4 Cách ghi tên tác giả, tác phẩm qua các truyền bản Hoàng Việt văn tuyển
Qua khảo sát các công trình thư mục học từ điển, bài viết…, chúng tôi thấy rằng:
- Tìm hiểu kho sách Hán Nôm [37], Trần Văn Giáp cũng ghi là Hoàng
Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích
- Từ điển văn học, tập I [29, 140] cũng ghi Hoàng Việt văn tuyển của Bùi
- Trong các bài nghiên cứu [5] của các học giả về Bùi Huy Bích và tác
phẩm của ông đều ghi là Hoàng Việt văn tuyển