Trên cơ sở đó, vấn đề nghiên cứu về văn bia Hán Nôm ở các đình làng Thừa Thiên Huế nhằm tìm hiểu lịch sử địa phương và lịch sử văn hóa vùng miền của một thời kinh kỳ tráng lệ.. Đề tài có
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN LÃM THẮNG
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG VĂN BIA ĐÌNH
THỪA THIÊN HUẾ
CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM
MÃ SỐ: 60 22 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.NGUYỄN KIM SƠN
Hà Nội - 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài 01
II Lịch sử vấn đề nghiên cứu 02
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 04
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 04
V Phương pháp nghiên cứu 04
VI Giá trị đóng góp và khả năng ứng dụng của đề tài 05
VII Cấu trúc đề tài 06
NỘI DUNG CHƯƠNG I: SỰ PHÂN BỐ VĂN BIA ĐÌNH THỪA THIÊN HUẾ 07
I Tìm hiểu lịch sử địa lý và hệ thống đình làng Thừa Thiên Huế 07
I.1 Khái lược địa lý, lịch sử, văn hoá 07
I.1.1 Vị trí địa lý 07
I.1.2 Hành chính 08
I.1.3 Cư dân 08
I.1.4 Thừa Thiên Huế - kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể vô giá của dân tộc 09 I.2 Lịch sử hình thành lãnh thổ 10
I.3.Quá trình hình thành làng xã-nền tảng cho sự ra đời bia đình Thừa Thiên Huế 12 II Một số giới thuyết về văn bia Thừa Thiên Huế 21
III Sự phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế theo không gian và thực trạng 23
III.1 Sự phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế theo không gian .23
III.2 Thực trạng văn bia đình Thừa Thiên Huế 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 29
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH TẠO TÁC VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VĂN BIA ĐÌNH THỪA THIÊN HUẾ 30
I Quá trình tạo tác văn bia đình Thừa Thiên Huế 30
I.1 Tác giả văn bia 30
Trang 3I.2 Người viết chữ 33
I.3 Thợ khắc bia 34
II Đặc điểm hình thức văn bia đình Thừa Thiên Huế 35
II.1 Bố cục bài văn bia 35
II.2 Kích thước và độ dài văn bia 36
II.2.1 Kích thước văn bia 36
II.2.2 Độ dài văn bia 37
II.3 Chữ Nôm trên văn bia 38
II.4 Trang trí hoa văn 39
II.5 Chữ huý trên văn bia 40
II.6 Bài minh, bài tán trên văn bia 42
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 46
CHƯƠNG III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỘI DUNG VĂN BIA ĐÌNH THỪA THIÊN HUẾ 47
I Quá trình xây dựng trùng tu đình làng 47
I.1 Đôi nét về thực trạng đình làng ở Thừa Thiên Huế 47
I.2 Quá trình xây dựng trùng tu đình làng .50
II Quan niệm phong thuỷ trong việc xây dựng đình 59
III Quá trình tụ cư 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG III 68
KẾT LUẬN 69
PHỤ LỤC:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Di sản văn hóa Hán Nôm Thừa Thiên Huế gắn bó với không gian và hoàn cảnh lịch sử của triều Nguyễn - thời kỳ mà khối lượng khổng lồ các văn bản Hán Nôm đã được hình thành, chuyển tải thành tựu của một nền văn hóa phong phú Nghiên cứu văn bản Hán Nôm để tìm hiểu về văn hoá cộng đồng, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật… của một giai đoạn nhất định và sự tiếp diễn lịch sử của một địa phương đều nằm trong lộ trình nghiên cứu văn hoá dân tộc Trên cơ sở đó, vấn đề nghiên cứu về văn bia Hán Nôm ở các đình làng Thừa Thiên Huế nhằm tìm hiểu lịch sử địa phương và lịch sử văn hóa vùng miền của một thời kinh kỳ tráng lệ
Trên tinh thần đó, chúng tôi gói gọn phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực văn bia đình Thừa Thiên Huế Ở đây, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu văn bia Hán Nôm đình làng Đây là công trình khoa học nghiêm túc, hầu mong trước hết là sưu tầm để bảo lưu, sau đó làm rõ mối tương quan giữa sinh hoạt làng
xã và văn hóa cộng đồng trong diễn trình chung của lịch sử văn hóa Việt
Chúng tôi xác lập đề tài luận văn là Nghiên cứu hệ thống văn bia đình
Thừa Thiên Huế Đề tài là hướng tiếp cận và xử lý văn bản Hán Nôm trong
một phạm vi rộng của một tỉnh, nên có tầm quan trọng và mang tính chất thời
sự Do đó chúng tôi tóm tắt lý do cơ bản sau để xác định đề tài:
- Tìm hiểu văn bia đình làng một tỉnh thuộc miền Trung
- Tìm hiểu một số vấn đề sinh hoạt làng xã thông qua văn bản bi ký đình làng của vùng Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế qua không gian và thời gian
Trang 5II Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã có những công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống về văn bia một thời đại, một địa phương, một lĩnh vực cụ thể trong đời sống xã hội ở Việt Nam như:
- Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã Luận
án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn của TS Phạm Thị Thuỳ Vinh
Công trình đã nghiên cứu khá công phu, toàn diện văn bia vùng văn hóa Kinh Bắc thời Lê cả về hình thức và nội dung Dựa trên sự khảo cứu kỹ lưỡng, khoa học, tác giả đã không chỉ phác họa diện mạo văn bia ở một vùng văn hóa đặc sắc mà còn cung cấp cho độc giả (trong đó có tác giả luận văn này) những kinh nghiệm quý báu trong việc khảo cứu hệ thống văn bia
Bên cạnh đó, một số công trình của các nhà nghiên cứu: Nguyễn Quang Hồng, Đỗ Thị Bích Tuyển, Trần Thu Hường cũng đã cung cấp nhiều vấn đề quan trọng về Văn khắc Hán Nôm ở Việt Nam như:
- Văn khắc Hán Nôm Việt Nam do GS Nguyễn Quang Hồng chủ biên
- Nghiên cứu về hệ thống văn bia chợ ở Việt Nam Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Bích Tuyển
- Văn bia đình làng Bắc bộ thế kỷ XVII Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ
văn của Trần Thu Hường
Bên cạnh đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn khắc Hán Nôm Thừa Thiên Huế như:
- Văn khắc Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế (Đề tài cấp Bộ Trần
Đại Vinh - Nguyễn Lãm Thắng) Công trình đã sưu tầm, biên dịch một cách công phu văn khắc Hán Nôm trong các đình, miếu, điền thổ, sơn môn trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, qua đó cung cấp một cái nhìn tổng thể về nội dung văn khắc Hán Nôm vùng Huế nói chung và văn bia đình Thừa Thiên Huế nói riêng
Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình sưu tầm, biên dịch khác về văn bia chùa, văn bia cung đình, văn bia, văn chuông Thừa Thiên Huế như:
Trang 6- Văn bia chùa Huế (Phan Đăng)
- Văn bia chùa Huế (Thích Giới Hương)
- Văn Bia cung đình (Trần Đại Vinh)
- Văn bia chùa Huế (Trần Đại Vinh- Phan Thuận An)
- Tuyển dịch văn bia chùa Huế (Lê Nguyễn Lưu)
- Văn bia và văn chuông dân gian Thừa Thiên Huế (Trần Đại Vinh)
Đây là tuyển tập văn bia dân gian được tác giả sưu tầm phiên dịch và chú thích trên phương diện văn bản, chưa khảo cứu về đặc điểm văn bia về hình thức cũng như đi sâu nghiên cứu về nội dung
- Tổ chức bảo vệ và phát huy văn hóa Hán Nôm Huế (Đề tài cấp Nhà
nước - PGS TS Nguyễn Văn Thịnh) Công trình này đã tiến hành sưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu và đánh giá các giá trị tiêu biểu của di sản văn hóa Hán Nôm ở Huế và khu vực miền Trung, qua đó kiến nghị các giải pháp bảo tồn và khai thác nguồn di sản quý giá ở địa phương này Đây là lần đầu tiên di sản văn hóa Hán Nôm Huế được sưu tầm công phu, ở quy mô lớn và được đánh giá một cách có khoa học Đề tài có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn quan trọng, là cơ sở cho việc thực hiện chủ trương của Nhà nước về “xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” ở Cố đô Huế và khu vực miền Trung…[119]
Các công trình trên phần lớn đi sâu vào nghiên cứu vốn di sản Hán Nôm cung đình cũng như chùa chiền ở Thừa Thiên Huế… Trong công trình nghiên
cứu Văn khắc Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế, chúng tôi chủ yếu sưu tầm
văn bản trên hiện vật và phiên âm dịch nghĩa Ở luận văn này, chúng tôi bước đầu nghiên cứu có hệ thống về văn khắc Hán Nôm ở các đình làng Thừa Thiên Huế, đi sâu nghiên cứu toàn diện về hai mặt nội dung và hình thức văn bản
Trang 7III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
III.1 Mục đích nghiên cứu
- Nắm rõ đặc điểm, tình hình văn bản và giá trị văn hoá của văn bia đình Thừa Thiên Huế
- Dùng làm tài liệu tham khảo để giảng dạy môn Văn hoá Huế, hoặc
Thực hành Hán Nôm
- Góp thêm tài liệu nghiên cứu về triều Nguyễn
III.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, tiếp xúc với văn bản trên thực tế Tổ chức rập văn bản và đo đạc, thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến văn bia đình Thừa Thiên Huế đủ tiêu chuẩn để nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình văn bản học của bia đình Thừa Thiên Huế
- Nghiên cứu giá trị văn hoá làng xã của bia đình Thừa Thiên Huế
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
IV.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống bia đình làng Thừa Thiên Huế
IV 2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế về không gian, qua đó nêu lên những đặc trưng văn bia đình làng vùng đất này
- Bước đầu tìm hiểu giá trị nội dung văn bia đình làng về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán trong không gian văn hóa của tỉnh Thừa Thiên Huế
- Thông qua tư liệu văn bia, góp phần nghiên cứu lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế
V Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu
V.1 Phương pháp văn bản học
Trang 8Vận dụng phương pháp văn bản học để nghiên cứu văn bia, đưa ra một
số nhận định về niên đại, thời đại và tác giả
V.2 Phương pháp thống kê định lượng
Tiến hành các thao tác thống kê định lượng đối với tư liệu văn bia đình làng Thừa Thiên Huế, thu thập được theo các tiêu chí: sự phân bố theo không gian và thời gian, tác giả biên soạn Thông qua đó, đưa ra những nhận xét tổng quát về tình hình, đặc điểm và giá trị của văn bia đình làng Thừa Thiên Huế
VI Giá trị đóng góp và khả năng ứng dụng của đề tài
Thông qua nguồn tư liệu chủ yếu là các bản chụp và sự khảo sát văn bản trên thực địa để thống kê và trình bày một cách có hệ thống các văn bia đình làng
Đồng thời dựa trên thựa tế văn bản, nghiên cứu về đặc điểm phân bố của văn bia theo không gian và thời gian, từ đó nêu lên những đặc trưng văn bia của địa phương này
Bước đầu nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán… thông qua nội dung văn bia đình làng Thừa Thiên Huế
Để làm sáng tỏ một số vấn đề được nêu lên trong luận văn, Phần phụ
lục của luận văn cần thiết giới thiệu phiên âm và dịch nghĩa 15 bài văn bia,
kèm theo một số hình ảnh đình làng và thác bản bia đình Thừa Thiên Huế
Trang 9VII Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Sự phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế
Chương II: Quá trình tạo tác và đặc điểm hình thức bia đình Thừa Thiên Huế Chương III: Một số vấn đề nội dung bia đình Thừa Thiên Huế
Trang 10NỘI DUNG
Chương 1
SỰ PHÂN BỐ VĂN BIA ĐÌNH THỪA THIÊN HUẾ
Để tìm hiểu, nghiên cứu về nội dung và hình thức cũng như những giá trị văn hoá, lịch sử được phản ánh qua hệ thống văn bia đình Thừa Thiên Huế, trước tiên, chúng ta phải tìm hiểu nghiên cứu về sự phân bố của nó Muốn đạt được mục tiêu đó, cần phải tìm hiểu về lịch sử địa lý cùng với những giá trị văn hoá được truyền lưu cho đến ngày nay Bởi những yếu tố này, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình tạo tác văn bia đình Thừa Thiên Huế
I Tìm hiểu lịch sử địa lý và hệ thống đình làng Thừa Thiên Huế
I.1 Khái lược địa lý, lịch sử, văn hoá
I.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở Bắc duyên hải miền Trung Việt Nam, bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:
Điểm cực Bắc: 16.044'30'' vĩ Bắc và 107.023'48'' kinh Đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền
Điểm cực Nam: 15.059'30'' vĩ Bắc và 107.041'52'' kinh Đông ở đỉnh núi cực Nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông
Điểm cực Tây: 16.022'45'' vĩ Bắc và 107.000'56'' kinh Đông tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới
Điểm cực Đông: 16.013'18'' vĩ Bắc và 108.012'57'' kinh Đông tại bờ phía Đông đảo Sơn Trà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc
Thừa Thiên - Huế tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị ở phía bắc, với thành phố
Đà Nẵng ở phía Nam, với CHDCND Lào ở phía Tây và với biển Đông
Trang 11Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.053,99 km2, chiếm hơn 1,5% diện tích toàn quốc, với số dân là 1.045.134 người (01/04/1999), bằng 1,37% dân số nước ta [115]
I.1.2 Hành chính
Sau khi đất nước tái thống nhất, vào tháng 6 - 1976 tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở hợp nhất các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Trong kì họp thứ 5 của quốc hội khóa 8 vào tháng 6 - 1989, tỉnh Thừa Thiên - Huế được tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên Khi đó, Thừa Thiên - Huế gồm các đơn vị hành chính sau: thành phố Huế và các huyện: Hương Điền, Hương Phú, Phú Lộc và A Lưới
Hiện nay, Thừa Thiên - Huế bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh (Huế),
1 Thị xã Hương Thuỷ và 7 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới) với 122 xã, 20 phường (thuộc thành phố Huế), 4 phường (thuộc Thị xã Hương Thuỷ) và 7 thị trấn huyện lỵ: Phong Điền (huyện Phong Điền), Sịa (Quảng Điền), Tứ Hạ (Hương Trà), Thuận An (Phú Vang), Phú Lộc (Phú Lộc), Khe Tre (Nam Đông), A Lưới (A Lưới) [115]
I.1.3 Cư dân
Sau khi tách tỉnh, vào năm 1990 dân số của Thừa Thiên - Huế là gần 90,1 vạn người Đến năm 1999 dân số trung bình đã là 1.049,460 người, đứng thứ 31 trong số 61 tỉnh, thành của cả nước
Người Kinh chiếm khoảng 97% dân số của toàn tỉnh và là lực lượng chủ đạo trong công việc phát triển kinh tế - xã hội Địa bàn cư trú chủ yếu là thành phố Huế và các huyện ven biển Một số bộ phận người Kinh cũng định cư ở Nam Đông, A Lưới (phần nhiều là sau năm 1975)
Sinh sống trên lãnh thổ Thừa Thiên - Huế còn có một số dân tộc thiểu số như: Bru - Vân Kiều, Cơ - tu, Ta - ôi chiếm đại bộ phận (trên 90% số dân của
Trang 12các dân tộc thiểu số trong tỉnh) Địa bàn cư trú của họ hầu hết ở khu vực đồi núi
Tương tự như Quảng Bình, Quảng Trị, người Bru - Vân Kiều ở Thừa Thiên - Huế là dân tộc có nguồn gốc bản địa Họ cư trú trong các bản (Vil hay Vel) với hoạt động kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy
Người Cơ - tu cũng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, cư trú ở các huyện A Lưới, Phú Lộc với một số tên gọi khác nhau (Ca - tàng, Ca - tu, Kha
- tu…) Họ sống thành từng bản, mỗi bản có khoảng 15 - 30 nóc nhà sàn; làm rẫy theo phương thức phá rừng, chọc lỗ tra hạt Nghề thủ công có dệt, đan lát Người Cơ - tu theo chế độ phụ hệ, có sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú như hát Tơ Len và có nhiều truyện cổ được truyền tụng
Người Tà - ôi chủ yếu sống ở huyện A Lưới và cũng có nhiều tên gọi như Ba - hi, Pa - cô, Cà - tu, Tà - uốt… Nền kinh tế gắn với nương rẫy (gần đây đã làm ruộng nước), săn bắn Sinh hoạt văn hóa - văn nghệ phong phú,
có nhiều làn điệu dân ca (Ka Lơi, Ba Hoi, Roin), nhạc cụ, câu đố, truyện kể
Phần lớn cư dân Thừa Thiên - Huế sinh sống ở nông thôn (72,42% tổng
số dân - năm 1999) Tỉ lệ dân thành thị trong tổng số dân tương đối cao và đạt 27,58% Về chỉ tiêu này, Thừa Thiên - Huế đứng đầu các tỉnh của vùng Bắc Trung bộ gấp 2,2 lần mức bình quân của cả vùng và cao hơn mức trung bình của toàn quốc (23,47%) [115]
I.1.4 Thừa Thiên Huế - kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể vô giá của dân tộc
Nét đặc sắc về văn hóa của Thừa Thiên Huế là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian với văn hóa cung đình Mảnh đất này còn có nhiều làng nghề (kim hoàn, đúc đồng, thêu thùa, đan nón, mộc mỹ nghệ, rèn, gạch ngói, hoa giấy, tranh dân gian, ẩm thực, ngư nghiệp…) với các sản phẩm mà người dân
ở tạo ra, đã gửi gắm trong đó tâm hồn của người dân xứ Huế Bên cạnh đó, Thừa Thiên Huế còn nổi tiếng với nhiều lễ hội dân gian, mà tiêu biểu là lễ hội
Trang 13điện Hòn Chén diễn ra hai lần trong năm vào tháng 3 âm lịch (Xuân tế) và lễ tháng 7 âm lịch (Thu tế), lễ hội Cầu Ngư ở Thai Dương Hạ hằng năm vào ngày 12 tháng giêng âm lịch
Các di tích văn hóa lịch sử có mặt ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh, nhất
là thành phố Huế Tính đến hết năm 1999 cả tỉnh có 73 di tích đã được xếp hạng, bao gồm 11 đình, 3 chùa, 1 đền, 1 tháp, 54 di tích lịch sử - cách mạng
và 2 di tích khác Không kể đàn Nam Giao, Hổ Quyền và cụm lăng tẩm ở phía Nam sông Hương, Huế còn lưu giữ khoảng 200 công trình kiến trúc cung đình
ở phía bờ Bắc [115]
Hệ thống thành quách bao quanh gồm 3 vòng thành là: Kinh thành,
Hoàng thành và Tử Cấm thành, hầu hết được xây dựng trong 30 năm đầu thế
kỷ XIX dưới thời Gia Long (1802 - 1819) và Minh Mạng (1820 - 1840) Bên trong Kinh thành là Đại Nội được xây dựng năm 1804 và hoàn chỉnh năm
1833 với hơn 100 công trình kiến trúc tráng lệ Ở phía Nam sông Hương có 7 khu lăng tẩm gồm các lăng: Thiên Thọ (Gia Long), Hiếu Lăng (Minh Mạng), Xương Lăng (Thiệu Trị), Khiêm Lăng (Tự Đức), An Lăng (Dục Đức), (Tư Lăng (Đồng Khánh) và Ứng Lăng (Khải Định)
Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều đình làng, nhiều địa danh cùng với nó là
cả kho tàng văn hoá dân gian ẩn chứa bên trong, phản ánh đời sống tinh thần cũng như tiến trình đi lên của cộng đồng làng xã nơi đây trong mấy trăm năm qua Văn bia đình, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một phần di sản văn hoá Huế mà giới nghiên cứu hiện nay vẫn còn chưa quan tâm thoả đáng
I2 Lịch sử hình thành lãnh thổ
Vào thời kỳ thuộc Hán, những năm đầu công nguyên, vùng đất Thừa Thiên thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam Theo tác giả Trần Đại Vinh: Vào năm 192, nhân dân Tượng Lâm dưới sự lãnh đạo của một tù trưởng (sử Trung Quốc viết là Khu Liên) đã giành được quyền độc lập, dựng nước Lâm
Ấp, kinh đô là Sinhapura (tại làng Trà Kiệu) và về sau là kinh đô (phế tích tại
Trang 14làng Đồng Dương) Từ đó, Lâm Ấp dần lớn mạnh Năm 248, họ đã vượt biên giới phía Bắc ra đánh phá, hạ được thành Khu Túc Năm 347, vua Lâm Ấp là Phạm Văn đã chiếm toàn bộ quận Nhật Nam, rồi thông báo với thứ sử Giao Châu là Chu Phồn đòi lấy Hoành Sơn (Đèo Ngang) làm phân giới Từ đó, giao tranh giữa quân đội của chính quyền đô hộ và quân đội vương quốc Lâm Ấp diễn ra thường xuyên nơi đây, giành qua giật lại nhiều lần, nhưng cơ bản Lâm
Ấp vẫn giữ được vùng bành trướng của mình Cho đến năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lập nền độc lập của đất nước Đại Việt, thì từ Hoành Sơn trở về Nam vẫn là lãnh thổ của vương quốc Chiêm Thành (tên gọi về sau của nước Lâm Ấp)
Dưới sự cai trị của Lâm Ấp - Chiêm Thành, tất nhiên vùng này đã được phân chia thành các địa hạt hành chính, có tên gọi cụ thể, với tiếng nói và chữ viết cổ Chămpa, nhưng hầu hết đã thất truyền Sử đời Tống chỉ còn ghi lại vùng phía Bắc Chiêm Thành là châu Ô, Lý Sử Đại Việt ghi kỹ hơn, cũng chỉ thêm các châu phía Bắc, là Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh Vào đời Lý, năm
1069, quân Chiêm quấy phá biên giới phía Nam Đại Việt, do đó vua Lý Thánh Tông đã thân chinh, đem quân Đại Việt tiến vào kinh đô Vijaya lúc bấy giờ (Việt gọi là Phật Thệ và về sau là Chà Bàn, Đồ Bàn) bắt được vua Chiêm là RudravarmanII (Chế Củ) đem về Thăng Long Chế Củ xin dâng đất ba châu
Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để chuộc tội và được trở về
Nhưng 5 năm sau, quân Chiêm lại quấy phá biên giới Do đó, năm 1075 vua Lý Nhân Tông cử Lý Thường Kiệt cầm quân đi đánh Chiêm Thành Lý Thường Kiệt đã cho vẽ bản đồ hình thể của ba châu này Triều đình đã cho đổi tên Địa Lý thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh và chính thức chiêu
mộ dân vào lập nghiệp nơi đây [101]
Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân
để đổi lấy hai châu Ô - Rí Năm 1307, vua Trần cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa và đặt quan chức cai trị Thành Hóa châu (nằm cách Huế 9 km về
Trang 15phía hạ lưu sông Hương) là trụ sở và trung tâm chính trị kinh tế hành chính và quân sự của châu Hóa
Sau hơn hai thế kỷ mở mang khai khẩn, đến giữa thế kỷ thứ XVI, lộ Thuận Hóa đã thành nơi "đô hội lớn của một phương" Năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là Phú Xuân, ở vị trí tây nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát triển mạnh mẽ của xứ Đàng Trong Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712-1738) phủ Chúa dời ra Bác Vọng, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc đông nam Kinh thành Huế hiện nay Sự nguy nga bề thế của Đô thành Phú Xuân dưới thời chúa Nguyễn
Phúc Hoạt đã được Lê Quý Đôn mô tả trong sách Phủ biên tạp lục năm 1776
Đó là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương,
từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà Tiếp đó, Phú Xuân là kinh đô của nước Đại Việt thống nhất dưới triều Tây Sơn (1788-1801) và là kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn (1802-1945)
I.3 Quá trình hình thành làng xã - nền tảng cho sự ra đời bia đình Huế
Văn bia là di sản văn hoá của dân tộc Sự ra đời và phát triển của nó phụ thuộc rất lớn vào thực tiễn của sự phát triển đời sống vật chất và đời sống tinh thần của một vùng miền
Quá trình mở mang bờ cõi của các đời vua Đại Việt cũng chính là quá trình không ngừng phát triển của các làng, xã, ấp… về các mặt: địa giới, tổ chức hành chính, đời sống văn hoá… Càng về sau, làng xã vùng Huế càng đi vào quy củ Đây là nền tảng cho sự xuất hiện của hệ thống bia đình tại vùng đất này, đặc biệt dưới thời nhà Nguyễn
Trang 16Việc phân định địa hạt hành chính vùng Thuận Hóa (gồm các lộ (trấn), châu, huyện, xã, thôn, giáp ) đã được hoàn chỉnh vào đời Trần Theo Đào
Duy Anh trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, hành chính châu Thuận
và châu Hóa được phân chia như sau: châu Thuận gồm các huyện: Ba Lãng,
Lợi Điều, An Nhân, Thạch Lan Các huyện Lợi Bồng, Thế Vinh, Sạ Lệnh, Trà
Kệ, Tư Dung, Bồ Đài, Bồ Lãng là các huyện thuộc châu Hóa Đến đời Lê, 4
huyện của châu Thuận gộp lại thành 2 huyện là Vũ Xương và Hải Lăng và hai châu Thuận Bình, Sa Bôi thuộc phủ Triệu Phong, nay thuộc phần phía Nam
tỉnh Quảng Trị, lưu vực sông Thạch Hãn
Hai huyện Lợi Bồng và Tư Dung thời Trần, vào thuộc Minh đã gộp thành huyện Sĩ Vinh Sau đó, nhà Lê chia châu Thuận thành ba huyện: Đan
Điền (Sạ Lệnh, Bồ Đài cũ), Kim Trà (Bồ Lãng, Trà Kệ cũ) và Tư Vinh (Sĩ Vinh cũ) [4]
Khi sát nhập hai châu Ô, Rí vào lãnh thổ nước ta, triều đình Đại Việt không ngừng xây dựng và phát triển thành phên giậu phía Nam của tổ quốc trước sự quấy phá của Chămpa, đồng thời làm bàn đạp cho công cuộc Nam tiến về sau
Đến đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), lề lối sinh hoạt ở các làng xã
vùng Thuận Hoá về cơ bản đã ổn định Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã ghi nhận điều này: “Ất Tỵ, [Đại Trị năm thứ 8 (1365), mùa xuân,
tháng giêng… trai gái họp nhau ở Bà Dương chơi trò đánh đu Người Chiêm
đã đã nấp sẵn ở đầu nguồn của Hoá Châu từ tháng 12 năm trước, đến khi ấy
ập tới cướp bắt lấy người đem về” [40, tr 143]
Năm 1353, vua Trần Dụ Tông phái Trương Thiếu Bảo (Trương Hán Siêu) vào chống giữ vùng Thuận Hoá, không lâu sau, vùng đất này xuất hiện nhiều làng xã của người Việt, trong đó một số làng còn tồn tại đến ngày nay đậm nét văn hoá cổ truyền quý giá như: An Cựu, Thuỵ Lôi, Dương Xuân
Sách An Nam chí nguyên, tác phẩm địa lí - lịch sử do Cao Hùng Trưng, người Trung Quốc, sống vào cuối thế kỉ 17, biên soạn cho biết: Thuận Hóa
Trang 17vào đời Trần gồm có 2 châu, 11 huyện, 79 xã, 1470 hộ, 5662 khẩu Tuy nhiên,
do thời gian phát triển chưa dài nên nhìn chung ở đời Trần, làng xã Việt thuộc châu Thuận, châu Hoá vẫn còn thưa thớt, nhiều vùng đất còn chưa được khai phá Điều này dần được khắc phục vào các giai đoạn sau
Sau khi bình Ngô thành công (năm 1428), Lê Thái Tổ đã ban một số sắc
lệnh khuyến khích việc mộ dân lập ấp, dựng làng tại châu Ô: “Xứ Ô Châu,
người Chiêm Thành đã bỏ đi hết, phàm nhân dân các địa phương của ta ai không có nhà cửa, ruộng vườn, của cải, mộ được nhiều người khai phá, cày bừa, đợi lập thành làng xóm mới đánh thuế”.[7, tr 23] Sau khi bình định
Chiêm Thành năm 1470 - 1471, vua Lê Thánh Tông đã cho một số tướng lĩnh, quân sĩ Nam tiến vào lập làng, lập họ tại vùng đất Thuận Hoá Từ đó hình thành nhiều dòng họ gắn với sự xuất hiện của nhiều làng mới, chẳng hạn như dòng họ Phan với làng Thanh Phước ở huyện Hương Trà, nay thuộc Thừa Thiên Huế
Năm Quang Thuận thứ 7 đời Lê Thánh Tông (1466), triều đình tiến hành cải tổ hành chính, theo đó, xứ Thuận Hoá được chia thành 2 phủ, 7 huyện, 4 châu Trong đó, phủ Triệu Phong được chia thành 5 huyện, 2 châu
Ba huyện Đan Điền, Kim Trà, Tư Vinh (nay thuộc Thừa Thiên Huế) được
chia cụ thể như sau: huyện Đan Điền gồm 63 xã, 9 thôn, 6 sách; huyện Kim
Trà có 73 xã, 2 thôn, 6 châu, 13 sách; huyện Tư Vinh có 44 xã, 18 thôn, 1
trang
Cũng vào đời Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 24 (1490), địa giới hành chính vùng Thuận Hoá tiếp tục được điều chỉnh Tính riêng địa bàn Thừa Thiên Huế, 3 huyện vẫn giữ nguyên, nhưng tổng số xã, thôn có một số biến động do sự điều chỉnh phân bố của chính quyền
Theo Ô Châu cận lục tại thời điểm này (1553), Thừa Thiên Huế có 179 làng, gồm 3 huyện: Kim Trà có 60 làng, Đan Điền có 52 làng và Tư Vinh có
67 làng Đó là những làng thành lập sớm vào thế kỷ XIV thời nhà Trần và thế
kỷ XV thời Hậu Lê
Trang 18Dưới đây là bảng kê tên làng Thừa Thiên Huế gồm 3 huyện theo Ô châu
31.Kim Ngọc 32.Bình Lâm 33.Hà Khê 34.Kim Long 35.Liễu Cốc 36.Bộc Môn 37.Phụ Ổ 38.Bồn Chữ 39.Mai Quán 40.Quán Khách 41.Long Hồ 42.Lưu Bảo 43.Viễn Trình 44.Bình Lãng 45.Vĩnh Áng
46.Lương Viện 47.Thai Dương 48.Quy Lai 49.Thạc Lại 50.An Ninh 51.Quê Chử 52.Bồn Phổ 53.Chử Hồ 54.Phi Thát 55.Tùng Triền 56.La Chử 57.Dương Hoá 58.Cư Hóa 59.Vĩ Dã 60.Quần Mao
Bảng 1: Tên làng huyện Kim Trà theo Ô châu cận lục
19.Bao La 20.Đức Trọng 21.Phò Lê 22.Hà Cảng 23.Thượng Lộ 24.Bồ Điền 25.Bái Đáp 26.Phò Đái 27.Cổ Bi
28.Lại Bằng 29.Khúc Ốc 30.Võ Xá 31.U Cần 32.Hồ Đỉnh 33.Tân Bả 34.Cổ Tháp 35.Thế Chí 36.Tráng Liệt
Trang 1945.Lỗ Xá 46.Đông Xuyên 47.Thanh Kệ 48.Dương Loan
49.Đào Cù 50.Phổ Lại 51.Nam Bì 52.Thủ Lễ
Bảng 2: Tên làng huyện Đan Điền theo Ô châu cận lục
35.Bao Vinh 36.Địa Linh 37.Tri Lễ 38.Bao Thu 39.Lễ Khê 40.Dương Xuân 41.Vân Thê 42.Lê Xá 43.Ôn Tuyền 44.Đồng Hồ 45.Đồng Di 46.Đông Hồ 47.Diên Đại 48.Văn Sát 49.Lang Xá 50.Lương Văn 51.Nẵng Hà
52.Cổ Bưu 53.La Khê 54.Thế Vinh 55.La Miên 56.Quán Khách 57.Phổ Trì 58.Phù Bài 59.Minh Nông 60.Phạm Lang 61.Ba Lỗi 62.Cao Đôi 63.La Ngã 64.Hà Đá 65.Diêm Trường 66.Phụng Chính 67.Vinh Hoài
Bảng 3: Tên làng huyện Tư Vinh theo Ô châu cận lục
Giai đoạn các chúa Nguyễn (1613 - 1789) cai trị xứ Đàng Trong và thời
kỳ Tây Sơn, Nguyễn, đã xuất hiện ngày càng nhiều các đô thị, làng xã trên địa
Trang 20bàn Thuận Hoá Vì thế, đã có sự định hình nhất định về sự tổ chức đời sống vật chất và tinh thần ở địa phương này
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá với lời sấm truyền “ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, đã đưa theo một lực lượng lớn dân binh nhằm xây dựng nơi này chỗ dựa vững chắc Từ đó về sau, số lượng cư dân ngoài Bắc vào lập làng, lập nghiệp ngày càng đông đúc
Trong thời các chúa Nguyễn, hành trình Nam tiến của dân chúng rất đa dạng, bao gồm: dân vùng Thanh - Nghệ (quê hương các Chúa Nguyễn), quân Mạc, quân Trịnh bị bắt được đưa đi khai khẩn; người Minh Hương chạy trốn nhà Thanh Chính lực lượng đó đã xây dựng nên các tổ chức làng xã, các dòng
họ tương đối phát triển tại vùng đất Ô Châu ác địa này, chẳng hạn như dòng
họ Nguyễn Phúc, Phạm Đăng, Nguyễn Đình,… Các dòng họ này qua nhiều đời đã xây dựng được nền tảng văn hoá truyền thống vững chắc cho tới tận ngày nay
Hiện nay, chúng ta vẫn còn lưu giữ được một số tư liệu nói về sinh hoạt sản xuất của các làng xã trong giai đoạn này Qua đó, chứng tỏ rằng, đến thời
kỳ này, tổ chức làng xã phát triển rất mạnh mẽ và trở thành một hình thức tổ chức cơ bản của xã hội nông nghiệp Việt Nam Việc đo đạc đất đai, phân chia
xã, thôn được xem là công việc quan trọng của nhà nước Năm 1618, Nguyễn Phúc Nguyên sai quan đo ruộng đất để thu thuế, trừ bỏ nạn hào lý chấp chiếm công điền, người dân yên nghiệp làm ăn (làm ruộng) Lê Quý Đôn cho biết, bấy giờ, huyện Hương Trà (Thừa Thiên Huế) có tới 222 đơn vị, huyện Quảng Điền có 137 đơn vị, huyện Phú Vang có 352 đơn vị, tổng cộng cả 3 huyện trên của Thừa Thiên Huế có 711 đơn vị, tăng rất nhiều so với thời điểm Dương
Văn An viết Ô Châu cận lục
Đến cuối thời Chúa Nguyễn, số lượng các tổng, làng, thôn, giáp tăng lên đáng kể Dưới đây chúng tôi kê tên các huyện kèm theo tên các tổng trực thuộc và số lượng làng Và chú thêm tên làng có văn bia mà chúng tôi đang khảo sát
Trang 21STT Tên huyện Tên tổng Số làng Làng có văn bia
Bảng 4: Bảng kê số làng cuối thời Chúa Nguyễn
Trang 22Dưới thời các chúa Nguyễn và sau này là các vua Nguyễn, thời Tây Sơn, vấn đề xây dựng tổ chức hành chính cấp làng xã cũng như việc khai hoang, lập làng, mở rộng lãnh thổ không ngừng được diễn ra Vua Gia Long lên ngôi, ông tách ba huyện: Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang ra khỏi phủ Triệu Phong, lập thành dinh Quảng Đức
Đến năm 1835, Minh Mạng chia dinh Quảng Đức (bấy giờ đã đổi tên thành phủ Thừa Thiên) thành 6 huyện: Hương Trà (có 98 xã), Phú Vang (90
xã thôn), Quảng Điền (58 xã thôn), Hương Thuỷ (58 xã thôn), Phú Lộc (87 xã thôn), Phong Điền (40 xã thôn) Đồng thời, đơn vị phường trước kia nay đổi thành ấp, thôn, xã (tên phường chỉ còn dùng cho các khu vực nhỏ bên trong Kinh thành Huế)
Thời Đồng Khánh, Thừa Thiên Huế có thêm các huyện mới được tách
từ 3 huyện Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang Cụ thể là: Phong Điền, Hương Thuỷ, Phú Lộc và Thị xã Huế
STT Tên huyện Tên tổng Số xã, thôn,
Trang 23Đến thời Duy Tân (1907), thành phố Huế gồm có 9 phường, từ phường
Đệ Nhất đến phường Đệ Cửu Trong đề tài của chúng tôi, có 4 văn bia thuộc
hai phường Đệ Nhất (Phú Hoà) và Đệ Cửu (Phú Vĩnh)
Ở thế kỷ XIX, thời nhà Nguyễn, các làng xã luôn tăng lên về số lượng,
từ 431 đơn vị (theo sách Đại Nam nhất thống chí) đến thời Bảo Đại đã là 474 đơn vị (theo Danh sách xã thôn Trung Kỳ trước 1945) Tác giả Nguyễn Đình
Trang 24Đầu căn cứ vào địa bạ thời Gia Long cho chúng ta biết, có khoảng 354 làng, trong đó 210 làng còn địa bạ
Đầu thế kỷ XX, Theo Niên giám tổng quát xứ Đông Dương [7, tr 33],
năm 1907, 6 huyện của phủ Thừa Thiên có 31 tổng, 457 làng, 39785 đinh
Đến Cách mạng tháng Tám, Thừa Thiên Huế có 474 làng, và hiện nay con số ấy đã hơn 500 [101]
Như vậy, trải qua 700 năm với 7 triều đại phong kiến, làng xã vùng Thuận Hoá không ngừng biến động, trong đó, đặc trưng chung là tăng lên về
số lượng và ngày càng thể hiện được chiều sâu trong việc tổ chức hành chính cũng như đời sống văn hoá Văn bia đình ra đời và phát triển cũng xuất phát từ nền tảng đó, đồng thời quay lại thúc đẩy sự phát triển của đời sống tinh thần làng xã
II Một số giới thuyết về văn bia Thừa Thiên Huế
Văn bia xuất hiện từ khá sớm, bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước Á Đông chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, tiêu biểu như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản
Có thể coi thời điểm xuất hiện của văn bia là từ thời Hậu Hán: Từ Hậu Hán về sau mới có văn bia, tìm văn bia trong bia, thời Tiền Hán chưa thể
thấy được” (Dương Tu, Tạp cổ lục) Chu Kiến Tâm dẫn lời Diệp Xương Xí
trong Ngữ thạch cũng có ý kiến tương tự: “Tất cả nội dung khắc trên đá đều gọi là văn bia bắt đầu từ đời Hán về sau” [48]
Tuy nhiên, mầm mống của văn bia đã xuất hiện trước trước đó rất lâu Ngay từ thời Hạ, Thương, Chu, người ta đã khắc các ký tự lên mai rùa, lên vách đá nhằm trao đổi thông tin, phản ánh thế giới thông qua cái nhìn trực quan Càng về sau, khi đời sống phát triển cao hơn, văn bia ra đời và trở thành biểu hiện của đời sống văn hóa con người
Đến đời Tần, vua Tần Thủy Hoàng đã khắc chữ lên đá để đánh dấu, ghi lại những chuyến du ngoạn của mình: “Sử ký, Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ ghi
Trang 25việc Tần Thuỷ Hoàng (221 - 207 TCN) tuần du phương Đông, có 6 khắc đá: lên Trâu Dịch, lên Thái Sơn, lên Lang Nha, lên Chi Phù, lên Kiệt Thạch, lên Cối Kê, nhiều thuyết cho là khắc vào núi đá hoặc khắc vào tấm đá rồi dựng lên Lại nói việc Nhị Thế (207 - 136 TCN) tuần du các quận huyện phía đông đều có khắc lên tấm đá mà Thuỷ Hoàng đã dựng… Cái tên khắc thạch bắt đầu từ đó” [48]
Sự giao lưu khá sớm với nền văn hóa Hán đã giúp cho quá trình tiếp thu văn hóa của Việt Nam có một lịch sử lâu đời Văn bia xuất hiện ở Việt Nam từ thời Bắc thuộc, khoảng thế kỷ thứ VII Tấm bia cổ nhất được tìm thấy tại làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa có
tên Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn được lập vào năm
Mậu Dần, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (tức năm 618) [48]
Từ đó, cho tới hết thời Nguyễn, văn bia Việt Nam tăng lên rất nhanh
về số lượng cũng như chủng loại, từ các Kinh chàng (các cột đá khắc kinh Phật) cho tới bi văn, ma nhai, bia tháp minh, bia Hậu Nếu như thời Đinh (968 - 980), chúng ta mới chỉ tìm thấy một số Kinh chàng, thời nhà Lý (1010 – 1225) có 23 bia, thời Trần (1225 – 1400) 44 bia thì đến thời Mạc, chúng ta có 165 bia, các triều đại sau này là Lê trung hưng, Tây Sơn, thời
Nguyễn thì con số đó lên tới “khoảng vài ngàn văn bia” [33, tr 48]
Về sự phân bố theo không gian, văn bia Việt Nam, nhìn chung thường gắn với các di tích văn hóa, lịch sử như: đình, chùa, miếu, lăng tẩm, nhà thờ họ Xuất phát từ đặc điểm lịch sử mở rộng dần bờ cõi về phương Nam của dân tộc, văn bia Việt Nam cũng được phân bố không đều giữa các vùng miền trên cả nước Từ Bắc chí Nam, hầu hết nơi nào cũng có bia, tuy nhiên Miền Bắc và Bắc Trung bộ vẫn là nơi có nhiều văn bia hơn cả so với hai miền còn
lại Các tỉnh phía Nam, “mật độ văn bia Hán - Nôm vùng này rất thưa so với
niền Trung và miền Bắc” [48, tr 52]
Trang 26Theo sự thống kê của tác giả Trịnh Khắc Mạnh từ bộ Thư mục văn bia,
“Thừa Thiên Huế có khoảng 180 văn bia” [48, tr 52], chủ yếu bao gồm các
loại sau: văn bia cung đình, văn bia chùa, văn bia dân gian
Trong đó, văn bia đình, theo tác giả Trần Đại Vinh, Thừa Thiên Huế có khoảng 13 văn bia đình trên tổng số khoảng 160 văn bia các loại [107, tr 8] Tuy nhiên, theo sự điền dã của chúng tôi, con số này là 19 Khảo sát văn bia đình trên địa bàn khá rộng của một tỉnh với điều kiện đi lại cũng như thời gian
có hạn chế, nên có một số đình làng chúng tôi chưa khảo sát hết được Điều này cũng khó xác định được số lượng chính xác nhất Hy vọng, những lần khảo sát tới, chúng tôi có thể phát hiện thêm những tấm bia khác dù chúng không có giá trị về mặt nội dung cũng như hình thức còn khuất lấp trong dân gian
III Sự phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế theo không gian và thực trạng
III.1 Sự phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế theo không gian
Vì vậy, hiện nay ở Thừa Thiên Huế, trong khi một số địa phương khác không lưu giữ được sản phẩm văn hóa quan trọng này, một số nơi tuy đình vẫn còn (chủ yếu là loại đình phục dựng gần đây) nhưng không có bia Qua khảo sát thực tế của chúng tôi, thì thành phố Huế vẫn là nơi cò lưu giữ được
Trang 27nhiều bia nhất (7 bia), tiếp đến là hai huyện Phong Điền, Quảng Điền, cả hai huyện đều còn lại 4 bia, Hương Trà và Phú Vang là hai huyện còn lại ít nhất, mỗi huyện hai bia
Bảng 6: Sự phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế theo không gian
Để người đọc tiện theo dõi, chúng tôi lập thành biểu đồ sau:
Trang 28Biểu đồ 1: Sự phân bố văn bia đình Thừa Thiên Huế theo địa bàn huyện, thị, thành phố
Qua Bảng 1 và Biểu đồ 1, chúng tôi nhận thấy số lượng văn bia đình còn
tồn lưu ở tỉnh Thừa Thiên Huế quá ít Nếu đem so sánh với số lượng văn bia của một huyện ở Hà Nội cụ thể là huyện Gia Lâm, thì tỉ lệ chênh lệch khá lớn
Theo tác giả Phạm Minh Đức, bia đình của huyện Gia Lâm có 33 bia, chiếm 23,25% Nội dung bia đình cũng khá phong phú: ghi về các vị Thành Hoàng, quy định về lệ làng, trùng tu sửa chữa đình Những bia đình tiêu biểu:
Sáng tạo đình miếu phù đồ bi 創造亭廟浮屠碑 ở đình xã Dương Xá niên đại
dựng năm Dương Hòa 8 (1642), bia Tạo Thọ Sơn đình 造壽山亭 dựng năm Vĩnh Trị 4 (1679), ở đình xã Kim Sơn, bia Hậu thần bi kí 後神碑記 dựng năm
Cảnh Trị 7 (1669) ở đình xã Ninh Hiệp, bia Hậu thần bi kí 後神碑記 [108]
dựng năm Cảnh Hưng 30 (1769) ở đình xã Yên Thường [15]
Trang 29Như vậy, tổng số bia đình của Thừa Thiên Huế chỉ gần 1/3 số lượng bia của huyện Gia Lâm Với số lượng quá ít ỏi như vậy, cũng làm hạn chế cho công việc khảo sát, đối sánh giữa các văn bia trong từng giai đoạn lịch sử cũng như trong việc phân loại văn bia theo chủ đề
III.2 Thực trạng văn bia đình Thừa Thiên Huế
Theo sự quan sát của chúng tôi, trong tổng số 19 văn bia đình Thừa Thiên Huế, có 8 bia được gắn vào tường ở bên trong đình hoặc ở ngoài hiên
Có một số bia không có diềm bia hoặc trán bia Qua mỗi lần trùng tu, các tấm bia này được bồi đắp thêm trán bia và diềm bia bằng chất liệu xi măng Có khi, các tấm bia này cũng bị thay đổi vị trí cũ
Đình Hạ Lang khởi tạo vào năm Cảnh Hưng thứ 26, Ất Dậu (1765) đời vua Lê Hiển Tông Trùng tu lần thứ nhất vào năm Gia Long thứ 7, Mậu Thìn (1808) đời vua Nguyễn Thế Tổ Trùng tu lần thứ hai vào năm Tự Đức 15, Nhâm Tuất (1862) đời vua Nguyễn Dực Tông Rồi “tân chế cải tạo” vào năm
Tự Đức 34, Tân Tỵ (1881) Lại “tái tu” lần một vào năm Thành Thái thứ 7, Ất Mùi (1895) đời vua Nguyễn Thành Thái Rồi “tái tu: lần 2 vào năm 1957 Và lần cuối cùng là “đại tu nâng cấp” vào năm Kỷ Sửu (2009) Qua 7 lần trùng
tu, hai văn bia cũng đã bị thay đổi vị trí nhiều lần Hiện tại hai văn bia này được áp vào hai bên tường phía trong đình với độ cao 2m7
Ngoài hai văn bia ở đình Hạ Lang, những văn bia có đắp thêm trán bia, diềm bia hoặc đế bia bằng chất liệu xi măng như bia đình làng Long Hồ Thượng, văn bia đình Phú Cát 1, văn bia đình Phú Cát 2, văn bia đình Hô Lâu, văn bia đình Đệ Nhất 1, Đệ Nhất 2
Có 6 văn bia có nhà bia: văn bia đình Hoà Viện, văn bia đình Phú Vĩnh, văn bia đình Đệ Cửu, văn bia đình An Truyền 1, An Truyền 2, văn bia đình Thủ Lễ 2 Những văn bia có nhà bia che chở, hầu hết còn nguyên vẹn, chữ nghĩa rõ ràng, ít hư hao Chỉ có bia đình làng Hoà viện, tuy vẫn có nhà bia,
Trang 30nhưng tấm bia này được tạo từ đá nhám hồng, nên văn khắc đã có bị bào mòn theo năm tháng
Tấm bia bùa ở đình làng Thủ Lễ (Phụ lục 2) bị chôn mất ¼ phần chân
đế Văn bia này toạ lạc ngay trước bậc tam cấp của đình và bị cây cột ở hàng hiên án trước mặt
Bởi bao tháng năm hứng chịu mưa nắng và nhiều nguyên nhân khác, nên 3 văn bia ở đình làng Phước Tích đều bị rạn nứt Văn bia thứ 2 đã bị mất một phần ở trán bia và diềm bia Hai văn bia còn lại thì rạn nứt thành 4 đến 5 mảnh
Văn bia ở đình Văn Xá tuy được gắn ở bình phong của đình làng, vẫn
có mái che đơn giản nhưng cũng bị nứt rạn và rêu cỏ phủ mờ
Đặc biệt, ở hai nội dung bia đình làng Phú Vĩnh và đình làng Đệ Cửu cùng chung một tấm bia trong một nhà bia Xét về mặt nội dung, cách gọi tên phường, cũng như năm tạo, chúng tôi “tạm” tách ra thành hai bia độc lập Điều đó, càng làm rõ thêm quá trình trùng tu đình phường, cũng như thay đổi tên phường trên địa bàn Thị xã Huế mà sau này là Thành phố Huế
1 Hoà Viện Nhà bia 1
Trang 32sự nghiệp bảo vệ dân tộc
2 Từ triều Trần cho tới hết triều Nguyễn, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn chú trọng phát triển “vùng đất mới” của dân tộc về mặt lãnh thổ cũng như văn hóa Trong đó sự phát đời sống làng xã là một khía cạnh cơ bản
Nét chung dễ nhận thấy của tiến trình hình thành, phát triển làng xã Thừa Thiên Huế là sự không ngừng gia tăng số lượng các làng, đồng nghĩa với việc phát triển về đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nơi đây Đó được coi là nền tảng cho sự phát triển các đình làng và văn bia đình theo tiến trình lịch sử
3 Hiện nay, số đình làng Thừa Thiên Huế còn lại khá nhiều, tuy nhiên,
do nhiều lý do khác nhau (thiên tai, địch hoạ…), số lượng bia đình chỉ còn 19
và được phân bố rải rác trên địa bàn Thành phố Huế (7 bia) cùng các huyện: Phong Điền (4 bia), Hương Trà (2 bia), Quảng Điền (4 bia), Phú Vang (2 bia) Các chương còn lại của công trình này sẽ đi sâu nghiên cứu đặc điểm, phân bố
và những vấn đề sinh hoạt làng xã thể hiện qua văn bia
Trang 33Chương 2 QUÁ TRÌNH TẠO TÁC VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC
VĂN BIA ĐÌNH THỪA THIÊN HUẾ
I Quá trình tạo tác văn bia đình Thừa Thiên Huế
Trong công việc dựng văn bia ở các nơi công cộng để lưu truyền những thông tin giá trị về phương diện văn hoá của quốc gia hay của cộng đồng cư dân, thì quá trình tạo tác là công việc cần thiết nhất, cần phải có sự chuẩn bị chu đáo về tinh thần cũng như vật chất Ngoài sự chuẩn bị về vật liệu như đá,
xi măng, gỗ ngói để dựng nhà bia… điều quan trong trước tiên là phải tìm cho được người soạn bài văn, ở đây chúng tôi gọi là tác giả văn bia Tiếp theo là chọn người viết chữ và sau cùng là thợ chạm khắc
Bên cạnh đó, về mặt hình thức của văn bia cũng không kém phần quan trọng Trong chương này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về quá trình tạo tác (tác giả văn bia, người viết chữ, thợ khắc bia) và đặc điểm hình thức văn bia như
bố cục, kích thước, hoa văn trang trí và một số vấn đề liên quan đến nội dung văn bia như chữ huý, chữ Nôm, bài minh, bài tán…
I.1 Tác giả văn bia
Bia đình Thừa Thiên Huế rất ít đề cập đến các tác giả soạn bia một cách
cụ thể Phần lớn thường ghi là bản xã kính ghi hoặc kính khắc Trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều văn bia không ghi tên người soạn là 13/19 bia (chiếm 68,42%) Xét về nội dung, những văn bia có ghi tên có học vị, chức tước cao Dưới đây là bảng thống kê về những người tham gia dựng bia
Trang 34STT Tên bia Tên tác giả Chức tước, địa
Đốc học Ninh Bình, Đốc học Nam Định
Không rõ
11 Hòa Viện Không ghi
12 Văn Xá Vũ Phạm Khải Sử quán Toản tu,
14 Hạ Lang 1 Không ghi
15 Hạ Lang 2 Không ghi
16 Thủ Lễ 1 Không ghi
Trang 3517 Thủ Lễ 2 Không ghi
18 An Truyền 1 Bản xã
19 An Truyền 2 Bản xã
Bảng 8 Các tác giả soạn văn bia đình Thừa Thiên Huế
Dựa vào bảng trên đây chúng tôi nhận thấy có 06 văn bia ghi tác giả
soạn, còn lại là bản xã hoặc không ghi tên Những tác giả biên soạn Văn bia
đình Thừa Thiên Huế bao gồm các thành phần khác nhau như: quan lại, người
đỗ đạt và dân làng Trong các tác giả đỗ đạt, có học vị, địa vị xã hội cao, đáng chú ý nhất là Nguyễn Đỉnh Thần và Vũ Phạm Khải
Nguyễn Đỉnh Thần tức là Nguyễn Thượng Hiền (1868 – 1925), tự là Đỉnh Thần và Đỉnh Nam, hiệu là Mai Sơn Người thôn Trù, xã Liên Bạt, tổng
Xà Cầu, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hoà tỉnh Hà Nội (Nay thuộc xã Liên Bạt huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây)
Ông cử nhân năm Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc 1 (1884), đời vua Nguyễn Giản Tông và thi đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân năm Nhâm Thìn, niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892) đời vua Nguyễn Thành Thái Ông giữ các chức quan như: Toản tu Quốc sử quán, Đốc học Ninh Bình, Đốc học Nam Định Nguyễn Thượng Hiền là một chí sĩ yêu nước, ông từ quan sang Trung Quốc rồi sang Nhật, sau trở lại Trung Quốc hoạt động phong trào yêu nước ở trong nước Ông tham gia phong trào chống Pháp, có uy tín trong Việt nam Quang Phục Hội Mất tại Quảng Châu năm 1925 [47, tr 248]
Vũ Phạm Khải hiệu là Phượng Trì (1807- 1872) tự là Đông Dương, người xã Thiên Trì huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Ông thi đỗ cử nhân năm Tân Mão niên hiệu Minh Mệnh 12 (1831) đời vua Nguyễn Thánh Tổ Ông giữ các chức như: Lễ khoa cấp sự trung, Hàn lâm trực học sĩ, Sử quán toản tu, Thị lang, Bố chính Thái Nguyên, Thị độc học sĩ [47, tr 340]
Trang 36Trong số các tác giả soạn văn bia tỉnh Thừa Thiên Huế thì những quan lại đỗ đạt ít tham gia vào việc biên soạn Điều này cho thấy những tác giả soạn văn bia đa phần là những người có chức sắc trong làng, những chức quan nhỏ Đây là điểm khác biệt của Văn bia đình Thừa Thiên Huế so với văn bia cung đình Huế, văn bia Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
Sự tạo dựng bia đình ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, đặc biệt là quá trình soạn văn bản ít có sự đóng góp trực tiếp của giới quan chức, những người có vị thế cao trong xã hội Tuy nhiên, sự tham gia soạn thảo văn bản của một số vị quan, trong đó có cả vị đại quan triều đình giữ chức Sử quán Toản tu như Vũ Phạm Khải hay sự tham gia của nhị giáp tiến sĩ Nguyễn Đỉnh Thần, phần nào cho thấy mối quan hệ gắn bó giữa cư dân với tầng lớp trí thức và quan lại
I.2 Người viết chữ
Ngoài chất liệu và hoa văn trang trí trên trán bia và diềm bia, đáng chú ý nhất vẫn là nét chữ Chữ viết trên văn bia ngoài việc chuyển tải nội dung cần thiết của cá nhân hoặc nhóm người biên soạn tuân theo mục đích và ý nghĩa nhất định, nó còn biểu lộ được cái hồn của bi ký Những người viết chữ trong văn bia với nét chữ tài hoa của mình đã tôn vinh nội dung của văn bia thêm phần giá trị
Trong số 19 văn bia đình Huế chúng tôi khảo sát, chỉ có 2 văn bia ghi rõ tên người viết chữ, chiếm 0,05 % Văn bia đình Văn Xá là văn bia thứ nhất khắc tên người viết chữ Văn bia Phú Cát 1 là văn bia thứ 2 có ghi tên người viết chữ Điều này khác hẳn với văn bia vùng Kinh Bắc và văn bia Hà Nội Chỉ xét riêng văn bia huyện Gia Lâm (Hà Nội), chúng ta cũng thấy rằng
“những người viết chữ cho văn bia huyện Gia Lâm cũng chủ yếu là những người có chức tước, địa vị xã hội hoặc có đỗ đạt” [15, tr 78], trong số những
văn bia có ghi rõ tên người viết chữ “các tác giả chuyên trách viết chữ chiếm
35,85%, họ là những người đỗ đạt trong các khoa thi thư toán, Hoa văn học
Trang 37sinh, những người giữ chức Thị nội Thư tả, những nha lại theo ngạch văn thư” [15, tr 78]
Người viết chữ cho văn bia đình làng Văn Xá còn lưu lại tên cho đến nay, là Cao Xuân Thiều 高 春 韶 , làm thư lại ở bộ Công (Công bộ ty thư lại
工 部 司 書 吏 (viên chức trông coi việc giấy tờ ở công đường dưới thời nhà Nguyễn) Người viết chữ cho văn bia đình Phú Cát 1 là Đồng Thời Hoàng, chức vụ Đội trưởng, hàng bát phẩm Vì vậy, viết chữ cho văn bia cũng thuộc lĩnh vực chuyên trách, sở trường Điều đó cho thấy rằng, những (chúng tôi nói
“những” vì số lượng người viết chắc chắn lớn hơn một, song do người khắc chữ đã bỏ qua không ghi) người viết chữ cho văn bia bia đình Thừa Thiên Huế bao gồm cả tầng lớp quan lại, làm việc một cách chuyên nghiệp
Mười bảy văn bia còn lại tuy không ghi tên người viết chữ nhưng có thể suy đoán rằng, người viết chữ trong văn bia có thể là chính tác giả soạn văn bản hoặc không, trong số những người này, có một số lượng không nhỏ được đào tạo theo đúng chuyên nghành, viết chữ cho văn bia là công việc đúng sở trường Đây cũng là điều thường thấy của văn bia nhiều địa phương trong cả nước
I.3 Thợ khắc bia
Khắc đá là một khâu cuối cùng rất quan trọng trong công việc lập bia Thợ khắc bia là những người thể hiện bài văn bia của người soạn qua nét chữ của người viết và chạm khắc những hoa văn cách điệu để trang trí cho trán bia, diềm bia thêm bề thế và trang nhã hơn Thợ khắc đá có khi cũng là người viết chữ, có khi họ chỉ chuyên trách một việc chạm khắc mà thôi Trong tổng 19 bia đình Thừa Thiên Huế có 15 bia không ghi tên người khắc Có 2 bia ghi là bản xã kính khắc Còn lại bia có ghi tên và địa vị của người khắc Bia Phước Tích 1 do cửu phẩm Nguyễn Hoàn 阮 完 ở Lặc thạch tượng cục
Trang 38勒 石 匠 局 khắc và bia Phước Tích 2 là cửu phẩm Nguyễn Ban 阮 般 ở Thạch tượng cục 石 匠 局 đảm nhiệm việc này Bia đình Phú Cát 2 do bát phẩm đội trưởng Nguyễn Đăng Thạch được ban danh hiệu công nghệ xảo thủ cùng con là Nguyễn Đăng Bồn khắc
Dưới đây là bảng thống kê phân loại những người khắc đá cho văn bia đình Thừa Thiên Huế
STT Cương vị người khắc Số lượng văn bia Tỉ lệ%
1 Không ghi tên người khắc 14 73.68
Bảng 9 Thành phần người khắc chữ cho văn bia đình Thừa Thiên Huế
Qua sự thống kê trên, chúng tôi thấy hầu hết các bia đình ở Thừa Thiên Huế không chú trọng đến người khắc bia Điều đó chứng tỏ, những người thợ khắc đá ở đây có thể là người thợ bình thường không nằm trong đội ngũ của những người chuyên trách ở các thạch tượng cục có tên tuổi, có chức vị trong
xã hội
II Đặc điểm hình thức văn bia đình Thừa Thiên Huế
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu của chúng tôi tập trung khảo sát, nghiên cứu văn bia dưới dạng hiện vật và những thác bản do chúng tôi tự dập
để tiện khảo sát
II.1 Bố cục bài văn bia
Trang 39Văn bia đình Thừa Thiên Huế thường có bố cục như sau:
Trong 5 phần của bố cục văn bia thì phần bài văn trong văn bia là phần mang tính bền vững, còn các phần còn lại có độ xê dịch nhất định: Trong số
19 bia thì có 15 bia không có tên bia, 13 bia không có lạc khoản Các tên bia được khắc ở dòng đầu tiên bên trái của lòng bia nơi chứa nội dung văn bản Không có tên bia nào được khắc tên ở khoảng giữa trán bia và thân bia như các bia cung đình
II.2 Kích thước và độ dài văn bia
II.2.1 Kích thước văn bia
Văn bia đình Thừa Thiên Huế chủ yếu tồn tại dưới dạng bia hình dẹt Về kích cỡ bia chúng tôi khảo sát theo các tiêu chí: kích thước cao, kích thước rộng, từ đó suy ra diện tích bề mặt Trong quá trình tính toán kích cỡ các bia chúng tôi hoàn toàn dựa vào hiện vật, đơn vị là cm đối với chiều cao và chiều rộng, cm2 đối với diện tích bề mặt
Trang 4063 62 3906 Trên 6000 94,5 64 6048 8
Bảng 10: Kích thước bia đình Thừa Thiên Huế
Bảng thống kê trên cho thấy kích thước văn bia đình Thừa Thiên Huế chủ yếu trên 6000 cm2
( > 6 m2), đặc biệt, 2 bia có diện tích khá lớn: 55185
cm2, tương đương 5,5185 m2 (bia Phú Cát 1 và 2); 92988 cm2, tương đương 9,2988 m2 (bia đình Đệ Nhất 2) Đây đều là những bia được xây theo kiểu áp tường Loại bia có diện tích từ 2000 – 5000 cm2
có số lượng đứng thứ 2 (4 bia), loại bia có diện tích từ 1000 – 2000 cm2
và dưới 1000 cm2 có số lượng thấp nhất (lần lượt là 2 bia, 1 bia)
II.2.2 Độ dài văn bia
Độ dài văn bia là để chỉ số lượng chữ được thể hiện trong một văn bia
Số lượng chữ viết trên văn bia thường tỉ lệ thuận với kích cỡ văn bia, số mặt bia, kích thước của chữ viết và mật độ thưa dầy của chữ Chúng tôi thống kê
độ dài Văn bia đình Thừa Thiên Huế theo 3 mức độ như sau:
(bia)
Tỉ lệ %