Chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán bao gồm tổng thể các vấn đề liên quan đến mục đích chuyển đổi và quá độ giáo dục, các yêu cầu của xã hội và lịch sử thúc đẩy bắt buộc phải
Trang 14
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐỨC BÁ
MÔN QUỐC SỬ CHO CẤP TIỂU HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 -1919
(Qua nghiên cứu Quốc sử Tiểu học lược biên 國 史 小 學 略 編
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hán Nôm
Hà Nội - 2013
Trang 25
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐỨC BÁ
MÔN QUỐC SỬ CHO CẤP TIỂU HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 -1919
(Qua nghiên cứu Quốc sử Tiểu học lược biên 國 史 小 學 略 編
Trang 31
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I CẤP TIỂU HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH 13
CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 – 1919 VÀ MÔN QUỐC SỬ 13
1.1 CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ CHỮ HÁN (1906-1919) 13
1.1.1 Chính sách cai trị về phương diện giáo dục của thực dân Pháp sau 1884 13
1.1.2 Sự đòi hỏi của xã hội cho sự thay đổi giáo dục khoa cử 17
1.1.3 Cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán 23
1.1.4 Hệ thống trường của giáo dục khoa cử cải lương (1906-1019) 24
1.2 MÔN QUỐC SỬ TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ CHỮ HÁN(1906-1919) 27
1.2.1 Môn Quốc sử và Sách giáo khoa cho môn Quốc sử 27
1.2.2 Cải lương thi Hương, thi Hội và môn Quốc sử 29
1.3 QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN – VĂN BẢN VÀ KẾT CẤU 33
1.3.1 Văn bản “Quốc sử Tiểu học Lược biên” 33
1.3.2 Kết cấu của “Quốc sử Tiểu học lược biên” 34
1.4.2 Tác giả Phạm Huy Hổ / 范 輝 琥 39
CHƯƠNG II MÔN QUỐC SỬ CỦA CẤP TIỂU HỌC THỂ HIỆN TRONG SÁCH “QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN 国史小學略編” 40
2.1 Mười nguyên tắc biên soạn của “ Quốc sử Tiểu học Lược biên” 40
2.2 Sự dẫn nhập cận đại của “Quốc sử Tiểu học Lược biên” về lịch sử 43
2.2.1 Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc sử 44
Trang 42
2.2.2 Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc hiệu 46
2.2.3 Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc dân, dân tộc 48
2.2.4 Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc giới 49
2.3 Hệ thống hóa diên cách địa danh theo bảng 50
2.3.1 Bảng Hùng Vương phân rõ 15 bộ: 50
2.3.2 Bảng đất Giao Chỉ cũ 51
2.3.3 Bảng 3 quận do nhà Tần đặt 52
2.3.4, Bảng Triệu Vũ Đế phân quận Tượng làm hai, rồi hợp với Nam Hải, Quế Lâm gọi là nước Nam Việt 53
2.3.5 Bảng nhà Hán phân Nam Việt làm 9 quận gọi là Giao Chỉ 53
2.3.6 Cương giới thời Trưng Nữ Vương phục quốc 53
2.3.7 Bảng phân chia ra Giao Châu và Quảng Châu của Tôn Hạo nhà Ngô 54
2.3.8 Bảng Giao Châu thời Tấn 54
2.3.9 Bảng cương giới thời vua Lý Bí phục quốc 54
2.3.10 Bảng Đường đặt An Nam Đô Hộ Phủ làm 12 châu 54
2.3.11 Bảng cương giới thời Ngô Vương Quyền dựng nước 55
2.3.12 Bảng cương giới phía Nam của triều Lý, Trần về sau 56
2.3.13 Giải thích thêm địa danh Giao Chỉ, Giao Châu 56
2.4 Kết cấu “Chương”, “Tiết” và thời lượng cho môn Quốc sử 56
2.4.1 Kết cấu “Chương” của Quốc sử Tiểu học Lược biên 56
2.4.2 Kết cấu “tiết” của Quốc sử Tiểu học Lược biên 59
2.4.3 Thời lượng cho môn Quốc sử cho cấp Tiểu học 61
2.5 Đôi điều về lược biên Quốc sử Tiểu học Lược biên 62
2.5.1 Nguyên tắc cho lược biên 62
2.5.2 Lược biên và tóm tắt lược biên 65
Trang 53
2.5.3 “Quốc sử Tiểu học Lược biên” với bộ sử trước đó 67
2.6 Tính chất cận đại, nhà trường của “Quốc sử Tiểu học Lược biên 國 史
小 學 略 編” 73 KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6Chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán bao gồm tổng thể các vấn đề liên quan đến mục đích chuyển đổi và quá độ giáo dục, các yêu cầu của
xã hội và lịch sử thúc đẩy bắt buộc phải có cải lương và quá độ giáo dục, các cách thức bố trí chương trình cấp học, các yêu cầu về kiến thức cho các cấp học, các hệ thống chương trình cho các cấp học, các ngôn ngữ và văn tự được
sử dụng trong chương trình, các môn học, các hình thức thi cử và văn bằng, giá trị của các văn bằng đó trong xã hội biện pháp và cách thức
Trong những biểu hiện cho chính sách cải lương giáo dục ấy, cần phải kể đến sự phân chia cấp học, thiết lập chương trình cũng như soạn lại sách giáo khoa, xác định môn thi, chương trình thi … là những vấn đề có tính trọng tâm nhất
Chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906, quy định có 3 cấp học: Ấu học (tuổi học từ 6 tuổi đến 12 tuổi), Tiểu học(tuổi học dưới 27 tuổi), Trung học(tuổi học dưới 30) Tương ứng với các cấp học ấy là hệ thống sách giáo
Trang 7mình Với cấp Tiểu học có 國 史 小 學 略 編 - Quốc sử Tiểu học Lược biên
國 史 小 學 略 編 - Quốc sử Tiểu học Lược biên là bộ sách giáo khoa môn
Lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán cho cấp tiểu học của Chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán kéo dài trong quãng thời gian dài 13 năm, từ 1906 đến 1919, được 范 輝 琥 Phạm Huy Hổ, một tác gia Hán văn cận đại biên soạn năm Duy Tân Đinh Mùi (1907) Hiện nay văn bản của bộ sách này vẫn còn được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu A 1327, gồm
2 quyển, dầy 286 trang, kích thước 29 x 15,5
Tuy lịch sử Việt Nam đã được biên soạn từ khá sớm như: Đại Việt Sử ký 大越史記 của Lê Văn Hưu được biên soạn dưới thời Trần Thái Tông (1225 –
thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Đại Việt thông giám 大越通監 và Đại Việt Thông giám Tổng luận 大越通監總論 đều được viết dưới thời vua Lê
Tương Dực (1509 – 1516) (…), song, đó là những bộ quốc sử được biên soạn theo tinh thần “minh chính thống”, “thông giám”, đề cập đến đạo trị nước an dân của các bậc đế vương, thuộc phạm trù “đế vương chi học-cái học của đế vương” Các bậc đế vương qua các bài học lịch sử để định đạo tu tề, trị bình, chính tam cương, tuân thủ ngũ thường Quán thông, dẫn dắt lịch sử là đạo
Trang 88
cương thường Đối tượng hướng vào của các bộ sách ấy trước tiên là các bậc
đế vương chứ tuyệt nhiên không nhằm thể hiện cái học phổ thông Do vậy, sự
có mặt của những bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho các cấp học của chương trình Hán học cải lương (1906 – 1919) có một ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu các vấn đề liên quan đến một loạt phương diện như: bản chất của chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán; những nội dung
cụ thể của quá độ và chuyển đổi giáo dục; những vấn đề về văn hóa xã hội đương thời thể hiện trong cả cải lương giáo dục khoa cử nói chung, trong môn quốc sử nói riêng; sự phổ thông hóa lịch sử; tính chất quốc dân của các tri thức lịch sử; giáo dục lịch sử cho quốc dân; tính chất cận hiện đại của môn quốc sử (….) Điều đó không chỉ có ý nghĩa cho việc khảo cứu lịch sử mà còn
có ý nghĩa cho cuộc sống hiện tại, giáo dục hiện tại Về mặt chuyên ngành, nghiên cứu bộ sách này giúp cho chúng ta hiểu thêm về Hán văn cận đại, mà
cụ thể là Hán văn giáo dục, Hán văn cho môn Quốc sử
Từ những điểm nêu trên cho thấy, việc đề cập đến hệ thống sách giáo khoa
lịch sử Việt Nam cũng như việc phân tích văn bản Quốc sử Tiểu học Lược
lương, và tìm hiểu bước quá độ từ giáo dục khoa cử chữ Hán sang giáo dục Pháp – Việt những thập niên đầu thế kỷ XX trong một môn học cụ thể-môn Quốc sử
Nhận thấy đây là bộ sách giáo khoa lịch sử chữ Hán không chỉ có ý nghĩa cho việc nghiên cứu Hán văn giáo dục trong hệ thống giáo dục cải lương 1906 – 1919 mà còn có ý nghĩa liên quan đến một loạt các vấn đề như: quá độ và chuyển đổi giáo dục nói chung; quá độ và chuyển đổi văn hóa từ truyền thống sang hiện đại; quá độ từ cái học khoa cử sang cái học phổ thông cận hiện đại,
cho nên chúng tôi đã chọn Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 như là
Trang 99
một minh chứng cho sự cải lương giáo dục Hán văn làm đề tài cho luận văn Cao học Hán Nôm của mình
2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài:
Đề tài trên được thực hiện nhằm có những mục đích sau đây:
- Xác định vị trí môn Quốc sử trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906-1919 thông qua việc hệ thống hóa các sự kiện liên quan đến sự ra đời cũng như những điểm chính yếu nhất của chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán này; Hệ thống hóa sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho 3 cấp học của giai đoạn nghiên cứu
văn bản học và kết cấu Phiên âm, dịch nghĩa văn bản làm cơ sở tài liệu cho mọi phân tích về môn Quốc sử cho cấp Tiểu học trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906-1919
là một bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho cấp Tiểu học trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử, chương trình cho sự quá độ
và chuyển đổi giáo dục từ khoa cử truyền thống sang giáo dục phổ thông hiện đại theo kết cấu của sách như: Các nguyên tắc của Phàm lệ; Sự dẫn nhập cận đại về Quốc sử; Bảng diên cách địa danh qua các đời; Các “chương”, “tiết” của nó
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã có nhiều công trình về lịch sử giáo dục Việt Nam đề cập đến chương trình giáo dục cải lương, song do các yêu cầu của công tác viết lịch sử giáo dục, các nhà viết lịch sử giáo dục ấy không thể đi sâu vào phân tích tình hình
Trang 1010
giáo dục Hán văn cho môn lịch sử Việt Nam Hơn nữa, các công trình nghiên cứu lịch sử ấy, do những khó khăn về tư liệu nên thường mới chỉ đề cập đến giáo dục Hán văn cho môn lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn phê phán quá nghiêm khắc Do vậy, các công trình đó đã tự hạn chế mình, chúng không thể
đi sâu vào phân tích tình hình của môn học lịch sử trong bước chuyển văn hóa
Hơn nữa, tuy đã có một số công trình đề cập đến sách giáo khoa dạy lịch
sử Việt Nam bằng chữ Hán, chữ Nôm (Nguyễn Thị Hường, 2009, 2011) hay
cũng có báo cáo về Quốc sử Tiểu học Lược biên nhằm giới thiệu bộ sách này
(Đào Thị Huệ, 2012), song do xuất phát từ các mục đích và phạm vi nghiên
cứu, vấn đề Quốc sử Tiểu học Lược biên được nhìn nhận như là một trường
hợp phục vụ cho nghiên cứu môn Quốc sử trong Chương trình cải lương giáo dục khoa của 1906-1919 vẫn là một vấn đề còn bị bỏ trống Đó là một trong những lý do thúc đẩy chúng tôi đi vào đề tài này
4 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là môn Quốc sử cho cấp Tiểu học của hệ thống giáo dục khoa cử cải lương ở Việt Nam 1906-1919 thể hiện trong văn
bản Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編
5 Phương pháp nghiên cứu
Do đề tài này liên quan đến giai đoạn lịch sử khá đặc biệt của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nói chung, giáo dục chữ Hán cải lương nói riêng nên phải quán triệt các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử trong việc nhận thức và đánh giá các sự kiện, cũng như các tình huống cụ thể
Trang 1111
Đồng thời, đề tài cũng yêu cầu vận dụng các phương pháp trong nghiên cứu Hán Nôm và văn bản học, ngữ văn Hán Nôm, phân tích văn bản Hán
Nôm nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề về văn học của văn bản Quốc sử Tiểu
giáo khoa lịch sử này với tư cách như là bộ sách minh chứng cho môn Quốc
sử của cấp Tiểu học trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán 1906-1919
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã đặt Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 trong
mối liên hệ với Chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906-1919
- Luận văn đã giới thiệu và phân tích kết cấu của Quốc sử Tiểu học Lược biên để làm rõ mối liên hệ với Quốc sử truyền thống và tính chất
cận hiện đại cũng như tính quá độ giáo dục của Chương trình cải
lương giáo dục khoa cử 1906-1919 thể hiện trong bộ sách này
sự đóng góp và cống hiến cho học giới về mặt tư liệu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liện tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và phần Phụ lục kèm theo
Chương 1, với tiêu đề: CẤP TIỂU HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH CẢI
LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 – 1919 VÀ MÔN QUỐC SỬ, nhằm nêu lên một cái nhìn chung về hệ thống trường 3 cấp của nền cải lương giáo dục chữ Hán 1906-1919 nói chung, cấp Tiểu học nói riêng, đồng thời bước
Trang 1212
học, làm cơ sở cho những phân tích của chương sau
Chương 2, với tiêu đề : MÔN QUỐC SỬ CỦA CẤP TIỂU HỌC THỂ
HIỆN TRONG SÁCH “QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN
国史小學略編”, nhằm phân tích các vấn đề về các nguyên tắc của biên soạn Quốc sử như là một môn học, các mục bài có tính dẫn nhập và các bảng biểu có tính hệ thống hóa về Quốc sử, hệ thống chương, tiết và sơ bộ về tính
chất lược biên của Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 để qua đó làm
rõ những nội dung chủ yếu của môn Quốc sử cho cấp Tiểu học nền cải lương giáo dục chữ Hán 1906-1919
Phụ lục kèm theo luận văn này là nguyên văn chữ Hán và bản dịch Phần
đầu và Quyển nhất của Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 ký hiệu
A.1327 hiện đang lưu trữ viện Viện nghiên cứu Hán Nôm
Trang 13thời bước đầu giới thiệu Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 về mặt
văn bản học và kết cấu
1.1 CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ CHỮ HÁN (1906-1919)
1.1.1 Chính sách cai trị về phương diện giáo dục của thực dân Pháp
sau 1884
Năm 1884 và các năm sau đó, đất nước chúng ta có một số sự kiện chính yếu như sau: Hoà ước Pa-tơ-nốt (Patennôtre)được ký vào năm 1884; cuộc
Trang 1414
chiến của vua Hàm Nghi và sau đó là phong trào Cần vương (1885-1897) của văn thân yêu nước theo đường nho học kiểu cũ, trung quân, dựa trên đạo cương thường, nghĩa quân thần (….) Trước tình hình đó, chính quyền thực dân với các tổng trú sứ và toàn quyền như Paul Bert (1886), De Lanessan (1891-1894) đã nghiêng về đường lối mua chuộc nho sĩ, dùng triều đình Huế phục vụ cho các âm mưu của chúng [lập Viện Hàn Lâm Bắc Kỳ, tiếp tục giữ nguyên khoa cử từ chương, tiếp tục dùng chữ Hán trong hành chính, cung cấp tiền cho tu sửa đền miếu, tổ chức lễ bái trong các đền miếu ] Đường lối cai trị có tính chất “association - hợp tác” ấy đã được áp dụng nhằm ổn định xã hội, dẹp yên phong trào Cần vương
Bên cạnh chính sách thực dân “association - hợp tác” , chính quyền thực dân lại thực hiện cả chính sách đồng hoá (assimilation) nhằm Pháp hoá Việt Nam theo liều lượng và tiến trình phù hợp Bên cạnh việc duy trì giáo dục khoa cử, thực dân Pháp lại mở hệ thống trường Pháp Viêt Ở Việt Nam lúc đó tồn tại hai loại giáo dục:
a Hệ thống giáo dục khoa cử
b Hệ thống giáo dục Pháp Việt
Hai hệ thống giáo dục này khác nhau về một loạt vấn đề Hệ thống giáo dục khoa cử vốn là hệ thống giáo dục nho học, lấy thánh kinh hiền truyện làm đối tượng, lấy Hán văn làm ngôn ngữ, lấy Quốc Tử Giám là trường trung tâm, lấy dân gian làm trường thiên thành, lấy Hương, Hội, Điện làm kỳ thi, lấy cử nghiệp (chọn người ra quan) làm mục đích
Hệ thống giáo dục Pháp Việt lấy khoa học châu Âu làm đối tượng, lấy Pháp ngữ làm mục đích, lấy quốc ngữ làm chuyển ngữ, lấy chia trường làm cấp học (trường sơ cấp - trường tiểu học - trường trung học) Nền giáo dục ấy chia làm hai loại: giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp Giáo dục phổ thông là giáo dục cho mọi người dân, cả nam cả nữ, với 3 cấp học (sơ cấp
Trang 1515
- tiểu học - trung học) Giáo dục chuyên nghiệp gồm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục cao đẳng - đại học theo từng chuyên môn Dù trong hoàn cảnh của chế độ thực dân, nhưng giáo dục trong hệ thống trường Pháp-Việt là giáo dục hiện đại, là lối thoát, lối đi lên cho giáo dục bản xứ
Hai loại giáo dục ấy khác nhau về chiều hướng phát triển
Sau Hoà ước 1884, những kinh nghiệm trong việc giáo dục ở Nam Kỳ đã được áp dụng ở Bắc Kì và Trung Kì Từ năm 1886, Paul Bert đã cho mở một
hệ thống các trường thuộc hệ thống giáo dục Pháp-Việt ở Hà Nội như: trường thông ngôn, 9 trường Tiểu học cho nam sinh, 4 trường tiểu học cho nữ sinh, 2 trường dạy nghề, 1 trường dạy vẽ như trên đây chúng tôi đã nêu
Vào cuối thế kỷ XIX, hầu hết các tổng xã Nam Kì có trường Tiểu học Pháp-Việt Ở Bắc Kì và Trung Kì hệ thống trường này còn ít Năm 1900, Hà Nội: 15 trường; Hải Phòng: 5 trường; Nam Định: 4 trường; Thanh Hoá: 2 trường; Vinh: 3 trường; Huế: 2 trường Hội An, Nha Trang mỗi nơi 1 trường Ngày 27-4-1904, thực dân Pháp ra Nghị định thiết lập Chương trình giáo dục
hệ Pháp-Việt ở Bắc Kì
Cần lưu ý một đôi lời rằng, giáo dục Pháp-Việt đã khởi đầu từ năm 1867 ở sáu tỉnh Nam Kì Học quốc ngữ và qua chuyển ngữ quốc ngữ ở đây để tiến tới Pháp hóa Pháp ngữ Lúc đầu, loại trường này bị tẩy chay Thực dân Pháp phải bắt người đi học, cấp tiền, cấp mọi vật liệu, sách vở cho người đi học, thuê tiền cho người đi học nhưng vẫn chẳng có mấy người
Ngược lại, trường chữ nho, trường của thầy đồ dù bị cấm đoán, hạn chế nhưng lại đông người đến học vì đi học ở đây được coi là “giữ đạo nhà”
Trong khoảng gần 10 năm việc giáo dục ở Nam Kỳ lục tỉnh dùng dằng giữa hai loại trường tây - trường ta như thế Nhưng tình hình đã thay đổi từ năm 1874 khi Pháp thành lập cơ quan Học chính Nam Kì, đưa ra quy chế giáo dục Thầy đồ muốn mở trường phải xin phép chính quyền Trường thầy đồ
Trang 1616
nếu dạy quốc ngữ và chữ Pháp sẽ được nhận tài trợ Giáo dục gồm 2 cấp Tiểu học và Trung học Tiểu học học các môn: chữ quốc ngữ, chữ Hán, chữ Pháp, toán, khoa học Thời gian học là 3 năm Cuối khoá có thi Thi đậu sẽ được tuyển vào làm ở các công sở Pháp hoặc học lên Học xong Tiểu học thì vào trường Trung học bảo hộ với các môn như ở Tiểu học nhưng ở cấp học cao hơn và học cả lịch sử địa lý
Tốt nghiệp trường trung học bảo hộ - Trường Chasseloup Laubat sẽ có lương gấp đôi so với có bằng Tiểu học
Năm 1879, qui chế giáo dục thứ hai ra đời Giáo dục chia làm 3 cấp: Sơ học, Tiểu học, Trung học Sơ học học 3 năm với các môn: chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, làm toán Học xong Sơ học phải thi tốt nghiệp mới lên Tiểu học Tiểu học học các môn: chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, chữ nho, toán, khoa học, lịch sử, địa lý Cuối cấp phải thi tốt nghiệp Tốt nghiệp Tiểu học mới được vào Trung học Trung học học 4 năm Học xong, thi tốt nghiệp Trung học
Tuy có kinh nghiệm giáo dục như thế ở Nam Kì, nhưng chính quyền thực dân vẫn duy trì chế độ khoa cử sau năm 1884 với một khoảng thời gian hơn
20 năm vì các tính toán nham hiểm để đánh lừa, ru ngủ nhân dân ta, nhất là với tầng lớp “thức tự ”
Những năm đầu thế kỉ XX, một bộ phận nhà Nho ưu tú, yêu nước, nhiều người trong số họ từng tham gia cử nghiệp đã nhận ra âm mưu nham hiểm của thực dân Pháp khi chúng duy trì khoa cử cặn bã, lạc hậu, bảo thủ Chịu ảnh hưởng của những tác động khu vực và quốc tế, họ nhận ra những sai lầm khi theo đuổi cử nghiệp Họ đã đứng dậy phê phán cử nghiệp, đả đảo khoa cử từ chương Họ đòi thực hiện một nền giáo dục thực nghiệp, có ích Chính họ đã tạo ra một áp lực xã hội đòi hỏi chính quyền thực dân phải thay đổi chế độ giáo dục
Trang 1717
1.1.2 Sự đòi hỏi của xã hội cho sự thay đổi giáo dục khoa cử
Những năm đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới và khu vực đã ảnh hưởng đối với Việt Nam Nhật Bản Duy tân, những năm cuối thế kỷ XIX ; Cuộc vận động Duy tân ở Trung Quốc vào những năm 1895 – 1898; Hải chiến Giáp Ngọ giữa Nhật Bản và Trung Quốc nhà Thanh; Chiến tranh Nga Nhật
1905 mà Nga bại Nhật thắng; Tân thư, Tân văn, Tân báo đã mang đến cho người Việt Nam một cách nhìn mới, một tư tưởng mới Biết bao người đã từng qua vòng cử nghiệp, khi họ giác ngộ, nhận thấy trong cuộc “tân vận hội” cần phải: “Đúc gan sắt để dời non lấp bể”, “Lấy máu nóng rửa vết dơ nô lệ”,
“Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn” xả thân vì nghĩa lớn Họ kêu gọi anh em hãy cảnh giác, hãy nhận ra âm mưu của thực dân, hãy tránh xa bùa mê thuốc
lú của khoa cử (…) Chính điều đó đã tạo nên một làn sóng duy tân sôi nổi,
bồng bột khắp các miền đất nước Xin dẫn ra ở đây một đoạn trích từ “Hòa lệ cống ngôn-Hòa lệ dâng lời” của Phan Bội Châu năm 1906 để làm rõ tinh thần
ấy
“Kính gửi 6500 thí sĩ đồng bào túc hạ!
Nước mất 30 năm rồi! Giống nòi ta 10 phần bị tiêu diệt đến 6,7 phần rồi Lũ giặc dị chủng lợi dụng những người biết chữ, đọc sách chúng ta diệt giống nòi ta Thế nào là nước mất? Từ khi bọn giặc dị chủng đến phá kinh thành nước ta, đoạt quốc quyền của chúng ta, vua hãm trong cung sâu, không khác tù đày; quan lại nhân dân bị đánh roi đòn, khác gì trâu ngựa Hết thảy chính quyền, không kể lớn bé, nằm trong tay giặc Các anh em hãy nhìn lá cờ cắm trong trường thi là lá cờ ta chăng? hay là cờ ba sắc của giặc nhỉ? Lúc này
là lúc nào nếu không phải là lúc đồng bào chúng ta, phàm là người có huyết khí đều vật vã khóc lóc, dấn thân vì nạn nước, gối đất phủ sương để chịu tang nước, nếm mật nằm gai báo quốc đó sao? Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí nữa? Thế nào là giống nòi bị diệt? Dã tâm của giặc như hổ
Trang 1818
ngoạm, tằm ăn, thực không sao kể xiết, nhưng âm mưu đoạt lấy mệnh mạch của chúng ta, đó là cái chính Chính phủ giặc thu thuế chúng ta đến muôn hình vạn trạng, thương nhân giặc cướp đoạt lợi quyền của chúng ta đến muôn ức vạn, ngay cả cứt đái dơ bẩn cũng vơ vét hết, nên dân ta, kẻ nghèo chết trước, người giàu chết sau, đói rét đến thân, tinh khí hao tổn, giống nòi chẳng sinh, dẫu có sinh nhưng chẳng có dưỡng Các anh em hãy xem của cải trong nhà, trai gái sinh nở, so với 10 năm trước đây thế nào? Đã không binh hỏa, lại không thiên tai, mà tình cảnh lại đến mức như thế là do ai nhỉ? Lúc này là lúc nào, nếu không phải là lúc mà những người có huyết khí trong số đồng bào chúng ta chau mày, nhăn trán, đêm ngày dằn vặt, mưu tính gìn giống giữ nòi,
vì liệt tổ liệt tông của chúng ta đang yên nghỉ nơi chin suối, vì cha mẹ hiền từ mang nặng đẻ đau mà rửa mối nhục mất nước hay sao? Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí với giặc?”
Trên cơ sở lưu ý anh em thức tự biết về tâm trạng của đất nước giống nòi, Phan Bội Châu đi vào phân tích âm mưu của bọn giặc diệt chủng mà anh
em thức tự hoặc vô thoặc hữu ý vì đam mê cử nghiệp đã bị giặc lợi dụng để đi đến một luận điểm có tính chất mấu chốt rằng, giặc đã lợi dụng những người thức tự cho âm mưu diệt chủng của chúng: “Sao lại nói giặc lợi dụng những người biết chữ chúng ta diệt giống nòi ta? Nước ta gần đây, người có thể nắm quyền bính ở trên dân chúng, ấy là kẻ sĩ; người có thể hút máu liếm mủ cũng
là kẻ sĩ Ôi kẻ sĩ, tự cho mình nhiệm vụ “lấy đạo giác ngộ dân, thác không dời dối, đạo may vẹn toàn”, đó là điều muôn dân trông mong ở nơi kẻ sĩ Há lại có thể muối mặt theo giặc, táng tận lương tâm, điên khùng mất trí, không điều xấu nào không làm, để đến nỗi như bây giờ ư? Thế mà chính phủ giặc đối xử với kẻ sĩ, bóc tước tất cả những gì là quốc túy, chỉ lưu lại thứ khoa cử cặn bã này, dụ để rồi hãm hại anh em, dỗ anh em bằng hư hàm, lấy lộc mỏng nhử an
h em, biến anh em thành chó săn, bắt anh em làm kẻ thu thuế vơ vét, tróc thuế
Trang 1919
thu đòi, bày đặt móc moi, gây bao oan ngục, cắn cả chú bác, cậu mợ, cha mẹ anh em để bồi dày túi tham cho giặc Đem cả đời làm chó săn, nịnh bợ lũ sài lang dị chủng để rồi cái mình thu được chẳng qua cũng chỉ là những cục xương thừa, thịt thối mà thôi Sao anh em chẳng nghĩ “thỏ đã hết chó săn phải chết” vốn là lẽ thường có xưa nay Nước mất, giống nòi bị diệt ấy là do thế cục tạo nên Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí của giặc nữa
“Gái điếm hay đâu hờn mất nước Cách sông còn hát Hậu đình hoa” thật là câu đáng được ngâm vì anh em đấy Này Tiến sĩ, này Cử nhân, này Tú tài, quả
là những mồi nhử độc ác khiến giống nòi ta bị tiêu diệt, nước ta bị mất Sau đây chục năm nữa, cháu con tuyệt diệt, phần mộ hoang vu, lúc ấy hư danh Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài gửi cho ai nhỉ? Cho ai nhỉ? Liệt tổ liệt tông ngậm hờn dưới suối hoàn toàn chẳng muốn nhận hư danh do chính phủ giặc phong tặng, hơn nữa các cụ lại còn sụt sùi nhỏ lệ đến mức khạc nhổ cả ra”
Nước mất giống nòi bị diệt là do cục thế tạo nên Trong cái cục thế nước mất khiến chủng diệt, vậy mà sĩ tử - những người tự nhiệm “lấy đạo giác dân” mà chính mình lại chưa giác ngộ Vì vậy, Phan Bội Châu đã viết nhiều câu nhằm cho họ tỉnh ngộ lại “Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí nữa … Tiến sĩ cử nhân để làm gì khi mà nước mất chủng diệt, mồ mả cha ông bị giày xéo …” “Sau đây vài chục năm nữa, con cháu tuyệt diệt, phần mộ hoang vu, lúc ấy hư danh Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài giữ cho ai nhỉ …”
Từ sự giác ngộ sĩ tử về tình thế đất nước chủng tộc, vạch trần các âm mưu thâm độc của giặc, Phan Bội Châu kêu gọi và cổ động họ hãy gánh vác trách nhiệm của kẻ sĩ trong hoàn cảnh thời thế bấy giờ “Ôi! Đọc sách, làm sáng tỏ nghĩa lý là kẻ sĩ mà thôi, có tư tưởng vĩ đại cũng là kẻ sĩ, gánh nặng đường xa cũng là kẻ sĩ Các anh em hãy xem rộng các sách Âu Á tân thư, tiểu
sử các anh hung vĩ đại, như Cát Tô Sĩ, như Lư Thoa, như Cát Điền Tùng Âm, Đại Ôi Trọng Tín Đổi mới để tạo thời thế, không nhờ sức của kẻ sĩ thì nhờ ai?
Trang 2020
Anh em ơi! Anh em ơi! Nếu anh em làm thì cũng được như thế đấy! Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy đạo đức phụ trợ, tự chính mình để khiến người khách cũng chính theo, tự lo cho mình để rồi lo cho người khác, tẩy rửa tập quán nô lệ xấu
xa, gây tiếng vang độc lập trước, ấy là trách nhiệm của người đức sĩ Lấy
nhiệt thành làm chủ, lấy hung biện phụ trợ, tìm nơi diễn thuyết, khiến người yếu trở nên mạnh, kẻ ngu thành trí, khơi dậy nhân tâm đã chết, hô hào tinh
thần yêu nước, ấy là trách nhiệm của những người chí sĩ Lấy nhiệt thành làm
chủ, lấy dũng khí phụ trợ, vẫy áo đứng dậy, bôn tẩu khắp hoàn cầu, chọn lựa
văn minh, mưu đồ khôi phục, ấy là trách nhiệm của những người nghị sĩ Lấy
nhiệt thành làm chủ, lấy ý tưởng phụ trợ, trước thư, lập ngôn, theo bệnh bốc thuốc, cố gắng, khuyến học, chung đức anh hùng, ấy là trách nhiệm của kẻ
triết sĩ đó Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy mưu lược hỗ trợ, xét muốn biến còn
trong mầm non, thu núi song trong tàn cục, làm cho kẻ mạo hiểm không nhầm
phương châm, ấy là trách nhiệm của kẻ sách sĩ đó Lấy nhiệt thành làm chủ,
lấy sảng khoái hỗ trợ, theo Kinh Kha, theo Sĩ Nhiếp, vì người dân nước rửa sạch bất bình, khiến thù trong giặc ngoài chạy đâu cũng không thoát khỏi búa
rìu, ấy là trách nhiệm cảu hiệp sĩ đó Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy khoa học
phụ trợ, sưu tập máy móc, chấn hưng công nghiệp, vì tổ quốc đổi lợi quyền,
ấy là trách nhiệm của kẻ mỹ thuật sĩ đó Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy thao
lược phụ trợ, gạn lọc tinh thần, tập binh nghiệp cho đại thành, kích thích tinh
thần thượng võ, dạy dỗ quân sự cho quốc dân, ấy là trách nhiệm cảu tướng sĩ
mưu lược Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy ái quốc làm mục đích, liên kết đoàn thể, trao đổi tri thức, phục tòng công lý, tu công dân đức, giữ công dân nghĩa, lập công dân ước, xướng công dân quyền, cùng làm thầy, cùng bảo vệ nhau, cùng giúp đỡ, thương xót nhau, không ghen ghét kiêu ngạo với nhau, không lừa dối, khinh nhờn nhau, không nghi kỵ nhau Cho nhau trách nhiệm thì ai ai cũng đều tự lập, gộp nhau vào thì khối hợp quần Đó là trách nhiệm chung của
Trang 2121
50 triệu đồng bào cả nước chúng ta Đó cũng là điều mà anh em nên là những người gánh vác và đề xướng đầu tiên Thời thế tạo anh hùng, anh hùng cũng tạo nên thời thế Các anh em, nếu cứ cúi đầu cam tâm làm chó săn cho giặc sao bằng ngẩng cao đầu, hiên ngang làm thiên dân của Tổ quốc”
Đoạn trích trên cho thấy, Phan Bội Châu dã kêu gọi tầng lớp sĩ để họ xa rời cử nghiệp, xa rời cái bùa mê thuốc lú mà giặc đã gieo rắc để ra gánh vác công việc quốc gia của mình Sĩ tử thức tự được chia thành 8 loại mà mỗi loại
lại có trách nhiệm của mình như: đức sĩ, chí sĩ, nghị sĩ, triết sĩ, sách sĩ, hiệp
sĩ, mỹ thuật sĩ, tướng sĩ
Bằng lời lẽ thống thiết của một bầu máu nóng, Phan Bội Châu kêu gọi
tử sĩ hãy nghĩ đến truyền thống vinh quang của Tổ quốc, dân tộc trong sự diễn đạt các đối lập giữa xưa và nay để thức tỉnh tinh thần yêu nước trong họ theo lối lập luận bằng logic: “Ô hô! Thảm trạng đất nước, còn nỡ nói chăng? còn
nỡ nói chăn! Từ thời Tự Đức trở về trước, nếu có kẻ con buôn người Thanh, giáo sĩ phương Tây nào dám giày xéo dẫm đạp đất nước ta, ta có thể hạ chúng xuống Từ năm Kiến Phúc lại đây, đến lũ người da đen nô lệ Châu Phi cũng dẫm đạp đất ta mà chẳng còn có ai dám cất lời Tổng đốc của chúng ta chẳng dám tranh, sĩ dân của chúng ta chẳng dám bàn Xưa sao vinh quang đến thế, nay sao nhục đến thế Đó là xưa thì quốc quyền còn, nay thì quốc quyền đã mất Xót thay quốc quyền mất, đau thay quốc quyền mất! Đấng quân chủ tội
gì mà bị nhục, nhân dân tội gì mắc họa Phàm là đồng bào ta, kẻ nào không có lòng đam mê cứu nước, không ôm nỗi đau mất nước, không có lòng trung báo nước thì kẻ ấy là tội phạm lớn nhất, là kẻ thù chung của cả nước đó Nước là
gì vậy? Hợp mọi người mà nên, hợp ức triệu nhân dân mà thành vậy Yêu nước là tình cảm gì vậy? Kết lòng yêu mình với lòng yêu nhà mà thành lòng yêu nước Nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà mất Nước vốn là đầu não của thân ta, là cơ sở của nhà ta Gà trong một lồng, một con bị giết, cả lồng
Trang 2222
đều hãi, ấy là sợ vạ chết lan đến thân mình Ong trong một tổ, chọc một con thì muôn trùng con cùng hống, ấy là chúng cứu đồng loại khi bị giết đấy Tô thuế này, sưu dịch này, đồn điền này, hỏa xa này, bảo hiểm này, giấy bạc này, giặc ngầm phô bày đặt mưu mô thâm độc, đều là dao sắc để giết gà, là tay độc chọc tổ ong Đường phu dịch nặng nề, buôn bán đình đốn, dân xóm làng phải lưu ly, từ nhân đói rét, oan trái muôn ngàn vạn trạng, đau lòng nhức mắt, khác
gì giống gà khi cái chết đang phơi trước mặt, đàn ong bị chọc tổ Người dẫu chí ngu nhưng lại là giống linh trong muôn vạn vật, sao mà cam chịu, không tỉnh ngộ, im lìm thản nhiên không một chút nghi ngờ Suy xét nguyên nhân, rút lại là do không yêu nước Yêu nước ấy chính là hình ảnh ta yêu chính ta phóng ra cho to hơn nữa Người ra ai cũng có thân, có mình, điều ấy, nghĩa rằng ai cũng có trách nhiệm yêu nước Không kể sang, hèn, giàu, nghèo, không kể trẻ, già, không kể hèn, ngu, không có chỗ nào trốn tránh, không có nơi nào vứt bỏ, phó mặc được Thương đau thay! Đau thay! Hoàng đế Thành Thái chỉ là hư vị, các quan bộ, sảnh chỉ là hư danh, chỉ là tượng gỗ của giặc, chỉ là ảo ảnh hão huyền chẳng thà chết mà vinh Người phương Tây có câu: Không có tự do, chẳng thà chết Bỉ nhân xin các an hem xét kỹ lại Giấy ngắn, lời dài, kể sao cho xiết nỗi lòng, cúi đầu khóc đến chảy máu mắt, trước gió lạy chào các an hem Tháng Sáu năm Bính Ngọ sau ngày đã mất nước người mặc
áo chịu tang nước xin kính cáo”
Một phong trào đấu tranh bồng bột sôi nổi dâng khắp các miền đất nước khiến cho bè lũ thực dân phong kiến phải hoảng sợ Một mặt, chúng đã khủng
bố, bắt bớ tù đày Nhà tù đầy những tiến sĩ, cử nhân, tú tài, những người thức
tự … Mặt khác, để đối phó với tình hình, chúng tìm cách lôi kéo, mua chuộc những thức tự, chúng lại điều chỉnh chính sách cai trị, trong đó có các chính sách liên quan đến khoa cử, tạo nên sự cải lương khoa cử, cải lương giáo dục Hán học
Trang 2323
Như vậy, động lực cho phong trào đòi phế bỏ khoa cử hủ bại nằm chính trong phong trào yêu nước của nhân dân ta
1.1.3 Cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán
Ngày 27 tháng tư năm 1904 (tức Thành Thái năm thứ 16), ban hành nghị định thiết lập Nha Học chính Bắc Kì Đến ngày tháng Hai năm 1906 (tức Thành Thái năm thứ 18), ban hành Nghị định thiết lập Nghị Học Hội đồng, cải định các khoản về phép học phép thi của xứ Đông Dương Ngày 31 tháng
5 năm 1906, phụng thượng dụ cải định Trung Kì Học pháp Cũng ở trong năm
ấy, ngày 14 tháng 9, Toàn quyền phụng dụ thi hành Lại ngày 16 - 11 năm ấy, Thống sứ Bắc Kì tuân phụng các khoản của Nghị định Thượng dụ
Năm 1906, Toàn quyền Beau ra Nghị định cải tổ giáo dục ở Bắc Kì Theo đó, giáo dục ở Bắc Kỳ có 3 hệ thống trường
Một là, hệ thống trường Pháp-Việt với 3 cấp trường (sơ cấp, tiểu học,
trung học), giảng dạy bằng Pháp ngữ, quốc ngữ với các môn học của khoa học hiện đại (toán, khoa học)
Hai là, hệ thống trường chữ nho được cải lương từ hệ thống giáo dục cử
nghiệp có tính chất thiên thành thủa trước thành một loại trường nhà nước quản lý với 3 cấp (sơ học, tiểu học, trung học) Tốt nghiệp loại trường này mới được đi thi Hương
Ba là, hệ thống các trường chuyên nghiệp Với 3 ngành.,
- Huấn nghiệp Âu châu: Đào tạo cán sự và thợ chuyên môn cho các xí
nghiệp, giao thông, xây dựng, điện lực
- Huấn luyện bản xứ: Đào tạo cán sự và thợ chuyên môn cho các ngành
công nghiệp bản xứ mới phát triển như: dệt, đan, thợ mộc, thợ nề
- Mỹ nghệ: Đào tạo thợ chuyên môn cho các ngành thêu, đan, chạm trổ,
khảm, gốm, sơn mài
Trang 2424
Như vậy, với cải cách học vụ năm 1906, giáo dục khoa cử bằng chữ Hán đã được cải lương theo hướng giáo dục phổ thông Chữ Hán trong chương trình cải cách học vụ giai đoạn này đã được dùng như một thử nghiệm nhằm truyền tải tri thức phổ thông Chữ Hán trong toán học, cách trí Sự thử nghiệm này vừa để đổi mới chữ Hán khoa cử từ chương nhưng cũng là biện pháp để loại bỏ chữ Hán, loại bỏ khoa cử từ chương Nhưng sự loại bỏ ấy không tức thì, mà phải mất đến 10 năm (ở Bắc Kì) và 13 năm (với Trung Kì)
Năm 1906, còn được đánh dấu bởi sự kiện Toàn quyền Paul Beau ký Nghị định thành lập Viện Đại học Đông Dương với 5 trường Đại học: Luật và pháp chính; Khoa học; Y khoa; Xây dựng; Văn chương
1.1.4 Hệ thống trường của giáo dục khoa cử cải lương (1906-1019)
Đó là thời kỳ biến đổi thứ nhất của học hiệu Lúc đó, tức sau khoa thi Hương năm Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18 (1906) là thời kỳ cáo chung của văn bát cổ Theo tấu chương ngày 6 - 7 năm Thành Thái 18 của Viện Cơ Mật
về canh định giáo dục và qui thức phép thi mà Nghị Học Hội đồng thương nghĩ và đã được phê chuẩn, thì thấy, Học pháp có 3 bậc: Bậc thứ nhất gọi là
ẤU HỌC Bậc thứ hai gọi là TIỂU HỌC Bậc thứ ba gọi là TRUNG HỌC
ẤU HỌC
Do các xã thôn tự trù thiết lập để dạy những trẻ em nam và nữ, từ 6 tuổi đến 12 tuổi Còn những ai đứng ra mời thầy, lập trường tư cũng cho phép Các
sĩ tử trường tư cũng đều được tham dự sát hạch ứng thí cũng như sĩ tử trường công
- Các xã thôn được tự tuyển lựa giáo sư nhưng cần phải có chính quyền chuẩn nhận
- Các viên giáo huấn của các phủ huyện có chức vụ trong việc kiểm sát trường Ấu học ở hương thôn
- Ở các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trường theo qui thức của trường Ấu học Kinh phí của các trường ấy do các tỉnh chi cấp
Trang 2525
- Giáo qui của trường Ấu học có 2 Một là giáo qui Hán tự Hai là giáo qui Nam âm Giáo qui Hán tự nhằm dạy những chữ Hán thường dùng và những chữ Hán thiết dụng về cái lĩnh vực chính trị địa lý luân lý Giáo qui Nam âm thì dạy chữ quốc ngữ và các độc bản (bài đọc) chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, lễ phép, thiên văn, địa lý và
vệ sinh
- Tốt nghiệp Ấu học thì được cấp văn bằng TUYỂN SINH
- Còn như phép đào tạo các giáo sư cho hệ Ấu học thì ở tỉnh lỵ của các tỉnh có thiết lập một trường quốc ngữ để dạy cho các hương sự không biết chữ quốc ngữ
để dạy các thư tịch về lịch sử thế giới, địa lý và cách trí, toán học cho được tiện Hoặc dạy cả thêm chữ Pháp Giáo qui Nam âm ấy nếu như các viên Giáo thụ Huấn đạo không có thể dạy cả được thì có sự trợ giúp của các giáo sư các trường Pháp-Việt
- Về sử dụng ngôn ngữ, số giờ ứng với các môn trong một tuần của cấp Tiểu học được phân phối như sau : chữ quốc ngữ (15 giờ), chữ Hán (10 giờ), chữ Pháp (10 giờ)
- Quan Đốc học của các tỉnh có trách nhiệm kiểm sát các trường Tiểu học Học xong chương trình Tiểu học thì quan Đốc học làm quan chủ khảo tổ chức thi cho các học sinh Tiểu học Ai trúng tuyển sẽ được nhận văn bằng KHOÁ SINH
Trang 26- Về sử dụng ngôn ngữ, số giờ ứng với các môn trong một tuần của cấp Trung học được phân phối như sau: quốc ngữ (16 giờ), chữ Pháp (12 giờ), chữ Hán (7 giờ) Các môn ở trường Trung học hướng vào các môn nhân văn nhiều hơn toán học và khoa học Tốt nghiệp Trung học được cấp bằng Thí sinh và được đi thi Hương
- Sau khi hoàn thành chương trình học, do tỉnh tổ chức thi tốt nghiệp, lấy văn bằng THÍ SINH Đó là thời kỳ sớm nhất thuộc lối tổ chức giáo dục phổ thông
(Nguồn: Phạm Văn Khoái, KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG TRONG
LỊCH SỬ KHOA CỬ VIỆT NAM (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư, 1919),
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010)
Song song với việc đổi phép học là việc đổi phép thi Hương và thi Hội Phép thi là một trong những yếu tố quyết định nhất cho việc học Những kì thi
có thi Quốc sử sẽ được chúng tôi trình bày ở dưới đây
Việc để tồn tại song song hai nền giáo dục Pháp – Việt và giáo dục khoa cử Hán học cải lương chỉ là giải pháp mang tính quá độ Giáo dục cổ truyền Việt Nam theo khoa cử dẫu có được cải lương vẫn bị xóa bỏ, được đánh dấu bằng
kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc Kì năm 1915, ở Trung Kì năm 1918, còn thi
Trang 271.2.1 Môn Quốc sử và Sách giáo khoa cho môn Quốc sử ở 3 cấp học
của chương trình cải lương giáo dục khoa cử
Từ sự mô tả trên đây cho thấy, chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán(1906-1919) là sự quá độ giáo dục, là sự chuyển đổi giáo dục từ giáo dục khoa cử từ chương bằng chữ Hán sang giáo dục phổ thông hiện đại theo một lộ trình đã được toan tính và dự liệu từ trước Quá độ giáo dục ấy sử dụng
cả 3 loại ngôn ngữ văn tự: Chữ Hán và Hán văn; Chữ Quốc ngữ và Quốc văn; Chữ Pháp và Pháp văn Các loại ngôn ngữ văn tự này lại được phân theo sự tương ứng với các môn học Các môn học được bố trí và thiết kể cho sự quá
độ và chuyển đổi giáo dục Cách thức tổ chức trường lớp cho thấy, giáo dục khoa cử cải lương gồm 2 loại trường Một là trường công do Nhà nước tổ chức Hai là trường tư thục Có thể nói hệ thống trường tư thục của chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán đã mọc lên như nấm sau trận mưa
rào nếu như chúng ta dựa theo những ghi chép đăng trên Đại Nam Đồng văn Nhật báo/ Đăng cổ tùng báo vào giai đoạn này Học sinh trường tư cũng được
dự thi như học sinh trường công là một trong những đảm bảo cho trường tư mọc lên như nấm sau cơn mưa nhằm khai dân trí, chấn hưng dân khí, thực dân tài
Về môn Quốc sử ta thấy được học cả ở 3 cấp Môn Quốc sử được dạy bằng chữ Hán Sách giáo khoa môn Quốc sử có thể do Hội đồng học vụ của nhà nước biên soạn và cũng có thể do các trường tư biên soạn Dưới đây chúng tôi xin dẫn danh mục sách giáo khoa Quốc sử đó
Trang 2828
1 學漢 字新 書 Ấu học Hán tự tân thư, Dương Lâm, Đoàn Triển, Bùi Hướng
Thành biên tập Đỗ Văn Tâm hiệu đính Nghị học Hội đồng kiểm duyệt, in
(1907) Quyển IV - Ấu học lịch sử giáo khoa thư 幼學歷史教科書
, VHv 1485
Quan Văn đường tàng bản, in, 1907 VHv.51, 38 tr., 23x15
3 越 史 三 字 新 約 全 編Việt sử tam tự tân ước toàn biên VHv 1697;
VHv.1820: VHv.235 (3 bản in, cùng một ván khắc, 134 tr., 28x16, 2 tựa) Phạm Văn Thụ viết bài tựa thứ nhất, ghi năm Duy Tân Kỷ Dậu (1909), bài tựa thứ hai do Nguyễn Văn Tuấn viết Áng Hiên (Hà Nội), in năm Duy Tân Kỷ Dậu (1909)
Sử Việt Nam (soạn theo thể văn vần, mỗi câu 3 chữ) từ Hồng Bàng đến Tây Sơn
Kỳ biên soạn, Phạm Văn Thụ, Nguyễn Doãn Thạc dịch, 1909, in VHb 219;A.3228;VHb.230; A 935
5 改良蒙學國史教科書 Cải lương mông học Quốc sử giáo khoa thư, A.169:
128 tr., 25x15, chữ in; VHv.214 (1 bản in, 1 bản viết, 1 mục lục, 1 tựa, 1 bạt).Sách giáo khoa soạn cho lớp đồng ấu về lịch sử Việt Nam, từ Hồng Bàng đến
Duy Tân, chia thành 5 thiên: 1 Thượng cổ thời đại, gồm 3 tiết; 2 Bắc thuộc thời đại, gồm 9 tiết; 3 Trung cổ bột hưng thời đại, gồm 9 tiết; 4 Cận thể thống nhất thời đại, gồm 33 tiết; 5 Tối cận thống nhất thời đại.
Trang 2929
Văn Tâm hiệu đính, 248 tr. ), A.1327
7 中學越史編年撮要 Trung học Việt sử biên niên toát yếu, Ngô Giáp Đậu
soạn, Đỗ Văn Tâm nhuận chính, 242 tr., A.328
Giáp Đậu soạn, Phạm Văn Thụ duyệt, Đoàn Triển, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa, VHv 987/1-4
(Nguồn: Trần Nghĩa F GROS Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu,
3 tập, Nxb Khoa học Xã hội, H., 1993.)
1.2.2 Cải lương thi Hương, thi Hội và môn Quốc sử
Theo Nghị bổ năm Duy Tân thứ hai (1909), phép thi Hương và thi Hội đổi
như sau:
1.2.2.1 Thi Hương và môn Quốc sử
- Đệ nhất trường, văn sách 5 đạo thuộc các đạo về tu thân, văn chương,
luân lý, lịch sử, pháp chính
- Đệ nhị trường, Luận thể chữ Nho 2 đề
- Đệ tam trường, Luận thể Quốc ngữ 3 đề
Những ai đã trúng 3 trường mà lại muốn thi chữ Pháp thì dịch 1 đề từ chữ Pháp ra Quốc ngữ Nếu ai không muốn thì cũng không cưỡng
- Đệ tứ trường, phúc hạch: Luận thể chữ Nho 1 đề; Luận thể Quốc ngữ 1
đề Tựu trung, phàm thuộc các đề cách trí, địa dư, tạm dùng theo sách Quốc ngữ tập độc tân thư do Trần Văn Thông soạn; thuộc các đề về chữ Hán dùng chính văn Ngũ Kinh, Tứ Thư; thuộc đề về các sử, không kể chữ Nho hay chữ
Quốc ngữ, đều dùng các sách Nam sử, Bắc sử Duy 4 trường: Thanh Hoá,
Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định thì ở trường đệ nhị vào khoa Nhâm Tý năm
Trang 3030
Duy Tân tạm còn thi thơ phú Về sau cũng chiếu thi hành theo thể thức mới
Từ sự mô tả trên, chúng tôi đưa phép thi Hương (trường Hà Nam)vào bảng
dưới đây để thấy các môn thi và vị trí của môn Quốc sử / Nam sử/ Bản quốc
nhân vật của thời kỳ khoa cử cải lương như sau:
Môn Quốc sử trong trường thi Hương Hà Nam(1909 - 1915)
Tên khoa
thi Hương
Tên trường thi Trường thứ nhất Trường thứ hai Trường thứ ba Trường thứ tư (Phúc hạch) Khoa Kỷ
2 đề luận (Quốc ngữ)
- 1 luận (chữ Nho)
- 1 luận (Quốc ngữ)
Khoa
Nhâm Tý
(1912)
Văn sách 4 đạo (chữ Nho)
- Văn chương (1)
- Luân lý (1)
- Nam sử (1)
- Chính trị/luật Nam triều (1)
Quốc văn: 3
đề
- Văn chương (1)
- Toán pháp (1)
- Địa dư/Cách trí (1)
2 đề:
- Luận chữ Nho, Hán (1)
- Luận Quốc ngữ (1)
Khoa Ất
Mão
(1915)
3 đạo văn sách chữ Nho:
- Văn chương
- Luân lý
4 đề quốc văn
- Luận thể văn chương (1)
- Sử ký/Địa
Chữ Pháp 2 đề (bắt buộc)
- Nho dịch Pháp
- Luận chữ Nho (1)
Trang 31- Pháp dịch Quốc ngữ
1.2.2.2 Thi Hội, thi Đình và môn Quốc sử
Đến như phép thi Hội, thi Đình cũng cải định theo phép thi Hương mới
Đệ nhất trường, văn sách 7 đạo: Kinh 1; Truyện 1; Bắc sử 1; Thái Tây
liệt quốc sử 1; Cách trí 1; Bản quốc Địa dư hoặc Luật lệ 1
Đệ nhị trường, Chiếu dụ 1; Tấu sớ 1; Biểu văn 1; (đều dùng kim văn)
Đệ tam trường, Luận chữ Hán 1 đề; Luận Quốc ngữ 2 đề (Văn học, Cách
trí, Thời vụ mỗi thứ 1; Tuỳ ý mà hỏi chữ Hán hay Quốc ngữ)
Đệ tứ trường, văn sách 7 đạo (Vạn quốc Địa dư, Đông Dương Chính trị 1
đạo; Bản quốc Chính trị 1 đạo; Bản quốc Nhân vật 1 đạo; Lục Bộ Hiến
chương 1 đạo; đều dùng Hán văn; Thời vụ 2 đạo; Dịch chữ Quốc ngữ)
Từ sự mô tả trên, chúng tôi đưa phép thi Hội, thi Đình(1910 - 1919) vào
các bảng dưới đây để thấy các môn thi và vị trí của môn Quốc sử / Nam sử/
Bản quốc nhân vật của thời kỳ khoa cử cải lương như sau
nhất
Trường thứ hai
Kinh: 5 Truyện: 5 Nam sử: 1 Biểu văn: 1
- Chiếu/dụ: 1
- Tấu, sớ: 1
- Biểu văn: 1 dùng kim văn
Luận: 3 đề
- Luận chữ Nho: 1
- Luận quốc ngữ: 2
Văn sách: 10 đạo
Trang 3232
(dùng kim văn làm 6 đề mới hợp lệ)
dư: 2
- Bản quốc
nhân vật: 2
- Thời vụ: 2 (dùng kim văn, làm 6 đề mới hợp lệ) Khoa Quý
Sửu (1913)
Văn sách: 5 đạo
quốc ngữ
Văn sách: 5 đạo Văn sách
đình đối Khoa Bính
Thìn (1916)
đình đối Khoa Kỷ
Mùi (1919)
Văn sách: 5 đạo
- Quốc ngữ dịch tây: 1
- Tây dịch chữ nho: 1
- Luận chữ tây:
1
Văn sách đình đối
(Nguồn : Phạm Văn Khoái, KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG TRONG
LỊCH SỬ KHOA CỬ VIỆT NAM (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư, 1919),
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010)
Như vậy, Quốc sử là một môn học chủ yếu trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán (1906-1919) Điều đó được thể hiện trên tất cả các cấp độ và phương diện từ giáo pháp, học qui, sách giáo khoa, phép thi Từ sự nhận thức chung đó, dưới đây chúng tôi xin đi vào giới thiệu bộ sách 國 史 小
Trang 3333
學 略 編 Quốc sử Tiểu học lược biên, nơi thể hiện một cách cụ thể nhất về
môn Quốc sử trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử ở cấp Tiểu học, nơi mà những người theo học có độ tuổi dưới 27, đã nhiều năm theo đuổi chương trình giáo dục khoa cử truyền thống, chữ Hán đã biết khá nhiều
VÀ KẾT CẤU
1.3.1 Văn bản “Quốc sử Tiểu học Lược biên”
“Quốc sử Tiểu học Lược biên 國 史 小 學 略 編” do Phạm Huy Hổ/ 范 輝
琥 biên tập năm Duy Tân Đinh Mùi (1907), kí hiệu A.1327 hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là lược biên lịch sử Việt Nam từ thời Hồng
Bàng đến thời Gia Long theo bộ Quốc triều Khâm định Việt sử Thông giám Cương Mục (gọi tắt là “Cương Mục”), bộ chính sử của nhà Nguyễn do Quốc
Sử Quán triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng năm 1856- 1881 Nhưng văn bản được tác giả biên tập thêm bốn phần nữa đó là: “Quốc Sử”, “Quốc Hiệu”,
“Quốc Dân”, “Quốc Giới” để thuận tiện cho người mới đọc sử biết được chỗ
quan trọng Và hơn nữa, Quốc sử Tiểu học Lược biên chính là sách để dậy lịch
sử giành cho hệ Tiểu học
Hiện văn bản đang được lưu trữ tại kho Di Sản Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm với kí hiệu A.1327; là một bản viết tay gồm 3 chương,
dầy 286 trang, kích thước 29 x 15,5; 1 phàm lệ Quốc sử Tiểu học Lược biên
được sao chép lại vào các năm: 1967, 1979, 1986, 1991 và có dấu kiểm sách của Viện Viễn Đông Bác Cổ
Bên cạnh Quốc sử Tiểu học Lược biên còn có Tiểu học Quốc sử Lược
biên Đó cũng là sách dạy lịch sử Việt Nam ( từ thời Hồng Bàng đến thời Gia Long), soạn cho chương trình tiểu học, gồm 205 tiết, có phần nói về quốc hiệu
tên đất và giới hạn Văn bản Tiểu học Quốc sử Lược biên do Đỗ Văn Tâm
Trang 3434
hiệu đính cũng đang được lưu trữ tại kho Di Sản Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu A.329; là một bản viết tay, dầy 248 trang, kích
thước 19 x 15, gồm: 1 bài tựa, 1 phàm lệ, 1 dẫn
Trong văn bản Quốc sử Tiểu học lược
“辰”nhằm kiêng húy tên của vua Tự Đức
Vì là bản chép tay nên nét chữ của các phần không giống nhau:phần Phàm lệ được viết bằng lối chữ thảo; phần Quốc sử, Quốc hiệu; Quốc dân; Quốc giới và Quyển 1 được viết bằng lối chữ chân, Quyển 2 và Quyển 3 cũng được viết bằng lối chữ chân nhưng hơi tháu Và cũng chính là bản chép tay nên trong văn bản có nhiều chỗ chữ bị xóa, bị gạch, viết thiếu chữ, chèn thêm chữ, dùng chữ không thống nhất: ví dụ như: chữ“趾”trong chữ“交趾”: lúc là“趾”lúc lại viết là“阯”, chữ“佗”trong chữ“趙佗”: lúc thì
là“佗”này lúc lại là“陀”
1.3.2 Kết cấu của “Quốc sử Tiểu học lược biên”
1.3.2.1 Bìa : - Trang bìa ( Trang 1): Ghi tên sách, năm xuất bản (theo
cả lịch ta và theo Tây lịch), tên tác giả Việc ghi được thể hiện như sau:
“QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN, Phạm Huy Hổ biên tập, Duy Tân Đinh Mùi nguyên niên đông, Tây lịch nhất thiên cửu bách thất niên - QUỐC SỬ
TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN, Phạm Huy Hổ biên tập, Năm Đinh Mùi niên hiệu Duy Tân năm đầu, Tây lịch ”
Trang bìa của “Quốc sử Tiểu học Lược biên 國 史 小 學 略 編
Trang 3535
1.3.2.2 Phàm lệ thập tắc của “Quốc sử Tiểu học Lược biên”
Tiếp theo là Phàm lệ gồm 10 điều, nêu lên những nguyên tắc chính yếu
cho việc biên soạn sách này “ Quốc sử Tiểu
học Lược biên Phàm lệ thập tắc- Mười điều
Phàm lệ cho Quốc sử Tiểu học lược biên”
1.3.2.3 Phần Dẫn nhập của “Quốc sử Tiểu học Lược biên”
Phần Dẫn nhập bao gồm các mục viết theo chủ đề như : Quốc sử; Quốc hiệu; Quốc dân; Quốc giới và các bảng biểu về cương giới lãnh thổ của nước ta qua các đời
Quốc Sử: Từ trang 6 đến trang 9, nhằm giới thiệu khái quát về lịch
sử Việt Nam và sơ lược về các bộ sử qua các triều đại
Quốc Hiệu: Từ trang 10 đến trang 12, giới thiệu về tên nước ta từ
Hồng Bàng cho đến Gia Long
Quốc dân: Từ trang 12 đến trang 15: là phần Quốc Dân: giải thích
nguồn gốc tổ tiên của dân tộc Việt Nam Dưới đây là một trích đoạn minh họa
Quốc giới: Từ trang 15 đến trang 34, giới thiệu khái quát nhất về vị trí
địa lý và địa giới của nước ta qua các thời kỳ từ: Hồng Bàng, Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ dựng nước
1.3.2.4 Hệ bảng diên cách địa lý qua các thời
Sau phần Dẫn nhập là các bảng biểu mang tính hệ thống hóa về các vấn
đề như: Bảng 15 bộ thời Hùng Vương; Bảng đất Giao Chỉ cũ; Bảng 3 quận do nhà Tần đặt; Bảng Triệu Vũ Đế phân quận Tượng làm hai, rồi hợp với Nam Hải, Quế Lâm gọi là nước Nam Việt; Bảng nhà Hán phân Nam Việt làm 9
Trang 3636
quận gọi là Giao Chỉ; Cương giới thời Trưng Nữ Vương phục quốc; Bảng phân chia ra Giao Châu và Quảng Châu của Tôn Hạo nhà Ngô; Bảng Giao Châu thời Tấn; Bảng cương giới thời vua Lý Bí phục quốc; Bảng Đường đặt
An Nam Đô Hộ Phủ làm 12 châu: Bảng cương giới thời Ngô Vương Quyền dựng nước; Bảng cương giới phía Nam của triều Lý, Trần về sau; Giải thích thêm địa danh Giao Chỉ Giao Châu
1.3.2.5 Ba quyển của “Quốc sử Tiểu học Lược biên”
Sau phần Dẫn nhập và hệ thống hóa là đến Quyển 1, Quyển 2, Quyển 3
của 國 史 小 學 略 編 Quốc sử Tiểu học Lược biên
- Quốc sử Tiểu học Lược biên quyển nhất Từ trang 35 đến trang 98: phần này
là phần lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến thời Bắc thuộc; đồng thời là chương thứ nhất, với 56 tiết Tiết thứ 1 của Quyển nhất có tên là: “
經陽王我越首君”_ Kinh Dương Vương ngã Việt thủ quân_ Kinh Dương
Vương là vị vua đầu tiên của nước Việt ta; Tiết thứ 2 có tiêu đề: “
貉龍君百越之始祖 Lạc Long Quân Bách Việt chi thủy tổLạc Long Quân là thủy tổ của Bách Việt”; Tiết thứ 3 có tiêu đề:“雄王建國 Hùng Vương kiến quốc _Hùng Vương dựng nước”
- Quốc sử Tiểu học Lược biên quyển nhị Từ trang 99 đến trang 201: là phần
lịch sử Việt Nam từ thời tự chủ Ngô Vương Quyền đến thời Lê Mẫn đế; đồng
thời là chương thứ hai, với 79 tiết
- Quốc sử Tiểu học Lược biên quyển tam Từ trang 202 đến hết Hoàng
Nguyễn triều ta từ Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế1
đến đời Gia Long thứ 18 (Theo Tây lịch là từ năm 1558 đến năm 1819); đồng thời là chương thứ ba, với 70 tiết
Tổng cộng số “Tiết” của 3 Quyển là 205 tiết
Dưới đây xin được dẫn ra một số trang với tư cách là minh chứng
“Quốc sử Tiểu học Lược biên quyển nhất
Đệ nhất chương: Tự Hồng Bàng thị chí Bắc thuộc thời đại
Đệ nhất tiết: Kinh Dương Vương ngã Việt thủ quân
1 Thái Tổ Gia Dụ hoàng để: miếu hiệu của Nguyễn Hoàng con thứ của Nguyễn Kim
Trang 37biên quyển nhất
Chương thứ nhất: Từ họ Hồng Bàng đến thời Bắc thuộc
Tiết thứ nhất: Vị vua đầu tiên của nước Việt ta
Xưa, Đế Minh nước Bắc (là cháu đời thứ ba của Thần Nông2) xuống phía Nam tuần du Ngũ Lĩnh (một là núi Lâm Hạ, hai là núi Đại Dữu, ba là núi Thủy An, bốn là núi Quế Dương, năm là núi Yết Dương đều thuộc đất Lưỡng Quảng_ Quảng Tây,
Quảng Đông), lấy nàng Vụ Tiên, sinh
ra Lộc Tục, có thánh đức, muốn cho nối ngôi, Lộc Tục cố nhường cho anh của mình là Nghi Vì thế Đế Minh lập Đế Nghi để nối ngôi trị phương Bắc, phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương trị phương Nam, xưng là họ Hồng Bàng, là vị vua đầu tiên của nước Việt ta vậy Từ năm Nhâm Tuất (năm Đế Nghi thứ tư) đến nay là 4786 năm (năm Đinh Mùi Duy Tân thứ nhất)”
“Quốc sử Tiểu học Lược biên quyển nhị
Đệ nhị chương: Tự chủ thời đại Ngô Vương Quyền chí Lê Mẫn Đế
Đệ nhất tiết: Ngô Vương Quyền chi kiến quốc
2
Thần Nông là một vị vua thời Thượng cổ Trung Quốc, lấy lửa tượng trưng cho đức tính mình nên gọi là Viêm Đế, bắt đầu chế cày bừa dạy dân làm ruộng nên gọi là Thần Nông
Trang 3838
Ngô Quyền ký tru Công Tiện tử Hoằng Thao, chủ quyền phục hĩ, quốc hùng kinh hĩ Nãi tự xưng vương (Thời Tấn Thiên Phúc tứ niên, Tây lịch cửu bách tam thập cửu niên), đô Cổ Loa thành (Kim Phúc An tỉnh, Đông Anh huyện, Cổ Loa xã, tức Phong Khê Thục An Dương Vương cựu đô) Quốc hiệu Ngô, lập Dương Thị vi Hậu (Dương Đình Nghệ nữ), trí bách quan, chế triều nghi, định
Chương thứ 2: Thời tự chủ từ thời Ngô Vương Quyền đến thời Lê Mẫn ĐếTiết thứ nhất: Ngô Vườn Quyền dựng nước
Ngô Quyền đã giết Công Tiện, giết chết Hoằng Thao, lấy lại chủ quyền, nước mạnh dài lâu Bèn tự xưng vương (Thời Tấn năm Thiên Phúc thứ tư, theo Tây lịch là năm 939), đóng đô ở thành Cổ Loa (Nay là xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An tức là Phong khê đô
cũ của thời Thục An Dương Vương) Tên nước là Ngô, lập Dương Thị làm Hậu (Con gái của Dương Đình Nghệ), đặt ra trăm quan, dựng nghi lễ trong triều, định mầu sắc trang phục, cũng thấy sơ qua về quy mô đế vương”
“Quốc sử Tiểu học lược biên quyển tam
Đệ tam chương: Hoàng Nguyễn bản triều tự Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế chí Gia Long thập bát niên (Tự Tây lịch nhất thiên ngũ bách ngũ thập bát niên chí nhất thiên bát bách thập cửu niên)
quyển 3.Chương thứ 3: Tiết thứ nhất: Thế đức triều ta Nước Việt ta từ khi
dựng nước đến nay, Nam Bắc hỗn đồng, chưa có triều nào thống nhất được như triều ta Kính phụng Thế Tổ Cao hoàng đế ta, sự nghiệp trung hưng sáng
tỏ, công lao hiển hách, cũng là tích thêm mãi đến nay, không bỏ một ngày
Trang 3939
Triệu Tổ3
về trước, các bậc công hầu thay nhau hiển vinh, các Tiên Vương trong Nam từ Thái Tổ nhận mệnh (Lê Anh Tông năm đầu, theo Tây lịch là năm 1558, việc này ghi rõ ở chương thứ 2) trải qua 9 đời với 202 năm”
1.4.2 Tác giả Phạm Huy Hổ / 范 輝 琥
Thông tin về tác gia Hán Nôm Phạm Huy Hổ hầu như không được nhiều bộ sách tra cứu đề cập tới Các cuốn sách có tính tra cứu của các tác giả sau:
1 Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường Tự Điển Văn học Việt Nam NXB Giáo dục, H.,1995
2 Cao Xuân Dục Quốc triều Hương khoa lục Nguyễn Thị Nga;
Nguyễn Thị Lâm dịch Cao Tự Thanh hiệu đính và giới thiệu NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993
3 Trần Văn Giáp Lược truyện các tác gia Việt Nam NXB Khoa
học xã hội, H., 1971
4 Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá
Tự điển Văn học NXB Thế giới, H., 2004
5 Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thể Tự điển nhân vật lịch sử Việt Nam NXB Khoa học xã hội, 1991
6 Trịnh Khắc Mạnh Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, H., 2007
hoàn toàn không ghi chép gì về Phạm Huy Hổ., chỉ biết rằng Phạm Huy Hổ sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, và có một số bài viết trên
Tạp chí Nam Phong như:
3
Nguyễn Kim tổ triều Nguyễn.
Trang 4030 tuổi, chính quyền thực dân phong kiến chỉ là một “công cụ vô thức của lịch sử” mà thôi Hệ thống giáo dục khoa cử cải hương này là giáo dục quá độ, giáo dục chuyển đổi sang một hệ thống giáo dục phổ thông thống nhất ở Việt Nam đầu thế kỉ XX Trong chương trình giáo dục mang đặc trưng quá độ ấy,
Quốc sử là một môn học được học ở cả 3 cấp Ở cấp Tiểu học, Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 là bộ sách giáo khoa Quốc sử Chương dưới
đây sẽ đề cập cụ thể hơn về sách với tư cách là một bộ giáo khoa Quốc sử
CHƯƠNG II
MÔN QUỐC SỬ CỦA CẤP TIỂU HỌC THỂ HIỆN TRONG SÁCH
“QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN 国史小學略編”
Chương này nhằm phân tích các vấn đề về các nguyên tắc của biên soạn Quốc sử như là một môn học, các mục bài có tính dẫn nhập cận đại liên quan đến nhận thức về quốc sử, quốc hiệu, … và các bảng biểu có tính hệ thống hóa địa danh thuộc hệ thống hành chính qua các thời, kết cấu “chương”, “tiết”
cũng như sơ bộ đề cập đến tính chất lược biên của Quốc sử Tiểu học lược biên
cho cấp Tiểu học nền cải lương giáo dục chữ Hán 1906-1919
2.1 Mười nguyên tắc biên soạn của “ Quốc sử Tiểu học Lược biên”