1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Loại hình văn bản sách giáo khoa lịch sử cho hệ Ấu học đầu thế kỷ XX qua nghiên cứu văn bản An Nam sơ học sử lược

292 578 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 292
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, sự có mặt của những bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho các cấp học của chương trình Hán học cải lương 1906 – 1919 có một ý nghĩa đối với việc tìm hiểu Hán văn, mà cụ thể là H

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Khoái

Hà Nội – 2010

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU… ……….……… 5

1 Lý do chọn đề tài … ……… ……… 5

2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài ……… 6

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu ……… ……… 7

4 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài… ………… 8

5 Phương pháp nghiên cứu ……….8

6 Kết cấu của luận văn ……… 8

CHƯƠNG 1: SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM VIẾT BẰNG CHỮ HÁN CHO HỆ ẤU HỌC NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX… ….……… 10

1.1 Cải lương giáo dục chữ Hán (1906 – 1919)… 10

1.1.1 Áp lực đối với cải lương giáo dục từ xã hội… 10

1.1.2 Cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán giai đoạn 1906 – 1919 19

1.2 Sách giáo khoa lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán trong chương trình cải lương giáo dục 1906 – 1919….……… ….24

1.2.1 Sách giáo khoa lịch sử viết bằng chữ Hán - Nôm của giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ……… ………… 24

1.2.2 Phân loại sách giáo khoa lịch sử Việt Nam ………… 27

1.3 Giới thiệu sách An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 về mặt văn bản ……… …… 30

Tiểu kết chương 1……… ………….……… 37

Trang 4

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

SÁCH AN NAM SƠ HỌC SỬ LƯỢC 安南初學史略 … 38

2.1 Các nguyên tắc biên soạn và nguồn tư liệu An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 dựa vào ……… 38

2.2 Những trình bày về vị trí địa lý, nguồn gốc gống nòi con người

Việt Nam trong An Nam sơ học sử lược 安南初學史略…….… 48

2.3 Tiến trình lịch sử Việt Nam thể hiện trong An Nam sơ học sử lược 安南初學史略… ……….……… 53

2.4 Đối chiếu cách viết của An Nam sơ học sử lược 安南初學 史略 với sách lịch sử Việt Nam trước đó……… 66

2.4.1 Một cái nhìn sơ lược về hệ thống sách lịch sử Việt Nam… 66

2.5 An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 trong mối quan hệ với hệ thống sách lịch sử Việt Nam……… …… 71

Tiểu kết chương 2……….……….…….79

PHẦN KẾT LUẬN……… …… ……… 80

THƯ MỤC TÀI LIỆU SÁCH THAM KHẢO……… …… ……… 84

PHỤ LỤC 1 Phiên âm:……… 88

2 Bản dịch ……… 178

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau một loạt Hiệp ước đầu hàng, chịu các điều kiện bất bình đẳng, nhất là với các điều kiện của Hiệp ước Patơnốt (1884), vua quan nhà Nguyễn đã khuất phục hoàn toàn bọn xâm lược Pháp Thực dân Pháp đã lập chế độ cai trị khác nhau trên cả 3 miền ở nước ta: Nam Kỳ theo chế độ thuộc địa; Bắc Kỳ theo chế độ bảo hộ; Trung Kỳ là đất của Nam triều Điều

đó đã ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong đó có giáo dục, văn hóa, tư tưởng Thực dân Pháp với mục tiêu nhằm thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, chúng cần đến một đội ngũ viên chức thừa hành và phục vụ cho công việc khai thác thuộc địa của chúng Muốn có được lớp người ấy, chúng phải cải lương nền giáo dục cũ (bằng Hán văn),

để rồi theo thời gian, chính sự cải lương giáo dục ấy đã tạo nên một bước quá độ cho sự Pháp hóa hoàn toàn về mặt giáo dục trên lãnh thổ Việt Nam

Cải lương nền giáo dục khoa cử Hán học cũ được đánh dấu bằng việc ra đời của đạo dụ ngày 31 tháng 5 năm 1906 Việc cải lương nền giáo dục mới này, tuy vẫn bằng chữ Hán nhưng chương trình học có thay đổi lớn, cần được xem như một bước quá độ từ khoa cử truyền thống sang giáo dục Pháp – Việt bằng Pháp ngữ

Trong những biểu hiện cho chính sách cải lương giáo dục ấy, cần phải kể đến sự phân chia cấp học, thiết lập chương trình cũng như soạn lại sách giáo khoa, xác định môn thi, chương trình thi….là những vấn đề có tính trọng tâm nhất

Về mặt xác lập cấp học, cải lương giáo dục khoa cử 1906, quy định

Trang 6

là hệ thống sách giáo khoa được Hội đồng biên soạn sách duyệt Trong số các môn học có hệ thống sách giáo khoa bằng chữ Hán, cần phải kể đến môn lịch sử Việt Nam

Tuy lịch sử Việt Nam đã được biên soạn từ khá sớm [Đại Việt sử ký

大越史記 của Lê Văn Hưu được biên soạn dưới thời Trần Thái Tông (1225 -

1258), Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書 được Ngô Sĩ Liên viết dưới thời

Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Đại Việt thông giám 大越通鋻 và Đại Việt thông

giám tổng luận 大越通鋻總論 đều được viết dưới thời vua Lê Tương Dực (1509

giáo dục truyền thống để tâm đến Do vậy, sự có mặt của những bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho các cấp học của chương trình Hán học cải lương (1906 – 1919) có một ý nghĩa đối với việc tìm hiểu Hán văn, mà cụ thể là Hán văn giáo dục

Trong số các sách giáo khoa lịch sử Hán văn giáo dục ở giai đoạn này, có bộ sách thuộc môn lịch sử cho bậc Ấu học do người Pháp biên soạn,

với sự chuyển dịch của người Việt Nam, đó là bộ An Nam sơ học sử lược

安南初學史略 Nhận thấy đây là bộ sách giáo khoa lịch sử chữ Hán có ý nghĩa nghiên cứu Hán văn giáo dục trong hệ thống giáo dục cải lương 1906

– 1919 nên chúng tôi đã chọn An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 như

là một minh chứng cho sự cải lương giáo dục Hán văn, làm đề tài cho luận văn Cao học Hán Nôm của mình

Tất nhiên, việc nghiên cứu bộ sách lịch sử Việt Nam này được đặt ra trong cái nền chung của sự nghiên cứu về loại hình sách giáo khoa lịch sử Việt Nam của chương trình cải lương giáo dục Hán văn 1906 – 1919

Trang 7

2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài:

Đề tài trên được thực hiện nhằm có những mục đích sau đây:

- Hệ thống hóa các sự kiện liên quan đến chương trình môn lịch sử của

giáo dục Hán học cải lương

- Hệ thống hóa sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho hệ Ấu học và

giáo dục 3 cấp của giai đoạn nghiên cứu

- Nghiên cứu văn bản An Nam sơ học sử lược 安南初學史略

- Phiên âm, dịch nghĩa văn bản

- Phân tích văn bản từ góc nhìn tư liệu lịch sử và phê phán

Từ những điểm nêu trên cho thấy, việc đề cập đến hệ thống sách giáo

khoa lịch sử Việt Nam cũng như việc phân tích văn bản An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 có ý nghĩa trong việc tìm hiểu giáo dục chữ Hán cải

lương, và tìm hiểu bước quá độ từ giáo dục khoa cử chữ Hán sang giáo dục Pháp – Việt những thập niên đầu thế kỷ XX trong một môn học cụ thể

Trang 8

Hơn nữa, hầu như chưa có công trình nào đề cập đến góc độ Hán văn của sách giáo khoa lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán cho bậc Ấu học, Sơ học

Đó là một trong những lý do thúc đẩy chúng tôi đi vào đề tài này

4 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống sách giáo khoa lịch sử dành cho hệ Ấu học và cho hệ thống giáo dục khoa cử cải lương ở Việt Nam, những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong đó trực tiếp đi vào

phân tích văn bản An Nam sơ học sử lược 安南初學史略

5 Phương pháp nghiên cứu

Do đề tài này liên quan đến giai đoạn lịch sử khá đặc biệt của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nói chung, giáo dục chữ Hán cải lương nói riêng nên phải quán triệt các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong việc nhận thức và đánh giá các sự kiện, cũng như các tình huống cụ thể

Đồng thời, đề tài cũng yêu cầu vận dụng các phương pháp trong nghiên cứu Hán Nôm và văn bản học, phân tích văn bản Hán Nôm, nhằm

làm sáng tỏ một số vấn đề về văn bản học của văn bản An Nam sơ học sử lược 安南初學史略, bước đầu nêu ra những nhận xét về bộ sách giáo khoa

lịch sử này trên một số phương diện

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và tư liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và phần phụ lục kèm theo

Trang 9

Chương 1, với tiêu đề “ SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM VIẾT BẰNG CHỮ HÁN CHO HỆ ẤU HỌC NHỮNG NĂM CUỐI THẾ

sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho hệ thống trường 3 cấp của nền cải

lương giáo dục chữ Hán 1906, đồng thời bước đầu giới thiệu An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 về mặt văn bản học

Chương 2, với tiêu đề “MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG DIỆN

NỘI DUNG CỦA SÁCH AN NAM SƠ HỌC SỬ LƯỢC 安南初學史略”, nhằm phân tích về các vấn đề thuộc bình diện nội dung của An Nam sơ học

sử lược 安南初學史略

Phụ lục kèm theo luận văn này là bản dịch An Nam sơ học sử lược 安

南初學史略 dày 144 trang, do chúng tôi thực hiện, trực tiếp dịch từ văn

bản An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 mang ký hiệu A.935 của thư

viện Viện nghiên cứu Hán Nôm

Trang 10

CHƯƠNG 1

SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM VIẾT BẰNG

CHỮ HÁN CHO HỆ ẤU HỌC NHỮNG NĂM

Chương này nhằm trình bày những nét khái quát nhất về tình hình giáo dục chữ Hán 1906 – 1919 cũng như hệ thống sách giáo khoa lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán trong hệ thống nhà trường 3 cấp của hệ thống giáo dục cải

lương trên, nơi mà bộ sách An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 được sử

dụng với tư cách là sách học chính thức

Do vậy, chương này bao gồm các nội dung sau:

- Cải lương giáo dục chữ Hán 1906 – 1919

- Sách giáo khoa lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán trong chương trình cải lương giáo dục đầu thế kỷ XX (1906 – 1919)

- Những vấn đề văn bản học An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 – bộ

sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho hệ Ấu học trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán đầu thế kỷ XX

1.4 CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN (1906 – 1919)

1.1.1 Áp lực đối với cải lương giáo dục từ xã hội

Sau Hiệp ước 1884, tuy đã hoàn chỉnh bộ máy cai trị song thực dân Pháp vẫn duy trì chương trình giáo dục khoa cử đầy cặn bã, đầy nọc độc để đánh lừa, ru ngủ nhân dân ta, nhất là với tầng lớp “thức tự - biết chữ” Chính sách thâm độc đó đã bị các sĩ phu yêu nước đương thời tố cáo, lên án, trong đó

Trang 11

người đã tố cáo mạnh mẽ, quyết liệt nhất là Phan Bội Châu Cụ đã viết trong

Hòa lệ cống ngôn năm 1906, nội dung bức thư này như sau:

“Kính gửi 6500 thí sĩ đồng bào túc hạ !

Nước mất 30 năm rồi ! Giống nòi ta 10 phần bị tiêu diệt đến 6,7 phần rồi Lũ giặc dị chủng lợi dụng những người biết chữ, đọc sách chúng ta diệt giống nòi ta Thế nào là nước mất ? Từ khi bọn giặc dị chủng đến phá kinh thành nước ta, đoạt quốc quyền của chúng ta, vua hãm trong cung sâu, không khác tù đày; quan lại nhân dân bị đánh roi đòn, khác gì trâu ngựa Hết thảy chính quyền, không kể lớn bé, nằm trong tay giặc Các anh em hãy nhìn lá cờ cắm trong trường thi là lá cờ ta chăng ? hay là cờ ba sắc của giặc nhỉ ? Lúc này là lúc nào nếu không phải là lúc đồng bào chúng, ta phàm là người có huyết khí đều vật vã khóc lóc, dấn thân vì nạn nước, gối đất ngủ sương để chịu tang nước, nếm mật nằm gai báo quốc đó sao ? Các anh em còn mặt mũi nào

mà tham gia ứng thí nữa ? Thế nào là giống nòi bị diệt ? Dã tâm của giặc như

hổ ngoạm, tằm ăn, thực không sao kể xiết, nhưng âm mưu đoạt lấy mệnh mạch của chúng ta, đó là cái chính Chính phủ giặc thu thuế chúng ta đến muôn hình vạn trạng, thương nhân giặc cướp đoạt lợi quyền của chúng ta đến muôn ức vạn, ngay cả cứt đái dơ bẩn cũng vơ vét hết, nên dân ta, kẻ nghèo chết trước, người giàu chết sau, đói rét đến thân, tinh khí hao tổn, giống nòi chẳng sinh, dẫu có sinh nhưng chẳng có dưỡng Các anh em hãy xem của cải trong nhà, trai gái sinh nở, so với 10 năm trước đây thế nào ? Đã không binh hỏa, lại không thiên tai, mà tình cảnh lại đến mức như thế là do ai nhỉ ? Lúc này là lúc nào, nếu không phải là lúc mà những người có huyết khí trong số đồng bào chúng ta chau mày, nhăn trán, đêm ngày dằn vặt, mưu tính gìn giống giữ nòi, vì liệt tổ liệt tông của chúng ta đang yên nghỉ nơi chín suối, vì cha mẹ

Trang 12

hiền từ mang nặng đẻ đau mà rửa mối nhục mất nước hay sao ? Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí với giặc ?”

Trên cơ sở lưu ý anh em thức tự biết về thân trạng của đất nước giống nòi, Phan Bội Châu đi vào phân tích âm mưu của bọn giặc diệt chủng mà anh

em thức tự hoặc vô tình hoặc hữu ý vì đam mê cử nghiệp đã bị giặc lợi dụng

để đi đến một luận điểm có tính chất mấu chốt rằng, giặc đã lợi dụng những người thức tự cho âm mưu diệt chủng của chúng: “Sao lại nói giặc lợi dụng những người biết chữ chúng ta diệt giống nòi ta ? Nước ta gần đây, người có thể nắm quyền bính ở trên dân chúng, ấy là kẻ sĩ; người có thể hút máu liếm

mủ cũng là kẻ sĩ; người có thể làm mọt nước hại dân để nuôi béo mình cũng là

kẻ sĩ Ôi kẻ sĩ, tự cho mình nhiệm vụ “lấy đạo giác ngộ dân, thác không dời dối, đạo may vẹn toàn”, đó là điều muôn dân trông mong ở nơi kẻ sĩ Há lại có thể muối mặt theo giặc, táng tận lương tâm, điên khùng mất trí, không điều xấu nào không làm, để đến nỗi như bây giờ ư ? Thế mà chính phủ giặc đối xử với kẻ sĩ, bóc tước tất cả những gì là quốc túy, chỉ lưu lại thứ khoa cử cặn bã này, dụ để rồi hãm hại anh em, dỗ anh em bằng hư hàm, lấy lộc mỏng nhử anh

em, biến anh em thành chó săn, bắt anh em làm kẻ thu thuế vơ vét, tróc thuế thu đòi, bày đặt móc moi, gây bao oan ngục, cắn chết cả chú bác, cậu mợ, cha

mẹ anh em để bồi dày túi tham cho giặc Đem cả đời làm chó săn, nịnh bợ lũ sài lang dị chủng để rồi cái mình thu được chẳng qua cũng chỉ là những cục xương thừa, thịt thối mà thôi Sao anh em chẳng nghĩ “thỏ đã hết chó săn phải chết” vốn là lẽ thường có xưa nay Như thế là nước mất, giống nòi bị diệt ấy là

do thế cục tạo nên Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí của giặc nữa “Gái điếm hay đâu hờn mất nước Cách sông còn hát Hậu đình hoa” thật

là câu đáng được ngâm vì anh em đấy Này Tiến sĩ, này Cử nhân, này Tú tài, quả là những mồi nhử độc ác khiến giống nòi ta bị tiêu diệt, nước ta bị mất

Trang 13

Sau đây chục năm nữa, cháu con tuyệt diệt, phần mộ hoang vu, lúc ấy hư danh Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài gửi cho ai nhỉ ? cho ai nhỉ ? Liệt tổ liệt tông ngậm hờn dưới suối hoàn toàn chẳng muốn nhận hư danh do chính phủ giặc phong tặng, hơn nữa các cụ lại còn sụt sùi nhỏ lệ đến mức khạc nhổ cả ra”

Nước mất giống nòi bị diệt là do cục thế tạo nên Trong cái cục thể nước mất khiến chủng diệt, vậy mà sĩ tử - những người tự nhiệm “lấy đạo giác dân” mà chính mình lại chưa giác ngộ Vì vậy, Phan Bội Châu nhiều câu nhằm cho họ tỉnh ngộ lại “Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí nữa…Tiến sĩ cử nhân để làm gì khi mà nước mất chủng diệt, mồ mả cha ông

bị giày xéo…” “Sau đây chục năm nữa, con cháu tuyệt diệt, phần mộ hoang

vu, lúc ấy hư danh Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài giữ cho ai nhỉ…”

Từ sự giác ngộ sĩ tử về hình thế đất nước chủng tộc, vạch trần các âm mưu thâm độc của giặc, Phan Bội Châu kêu gọi và cổ động họ hãy gánh vác trách nhiệm của kẻ sĩ trong hoàn cảnh thời thế bấy giờ “Ôi ! đọc sách, làm sáng tỏ nghĩa lý chỉ là kẻ sĩ mà thôi, có tư tưởng vĩ đại cũng là kẻ sĩ, gánh nặng đường xa cũng là kẻ sĩ Các anh em hãy xem rộng các sách Âu Á tân thư, tiểu sử các anh hùng vĩ đại, như Cát Tô Sĩ, như Lư Thoa, như Cát Điền Tùng

Âm, Đại Ôi Trọng Tín Đổi mới để tạo thời thế, không nhờ sức của kẻ sĩ thì nhờ ai ? Anh em ơi ! Anh em ơi ! Nếu anh em làm thì cũng được như thế đấy ! Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy đạo đức phụ trợ, tự chính mình để khiến người khác cũng chính theo, tự lo cho mình để rồi lo cho người khác, tẩy rửa tập quán nô lệ xấu xa, gây tiếng vang độc lập trước, ấy là trách nhiệm của người

đức sĩ Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy hùng biện phụ trợ, tìm nơi diễn thuyết,

khiến người yếu trở nên mạnh, kẻ ngu thành trí, khơi dậy nhân tâm đã chết, hô

hào tinh thần yêu nước, ấy là trách nhiệm của những người chí sĩ Lấy nhiệt

Trang 14

chọn lựa văn minh, mưu đồ khôi phục, ấy là trách nhiệm của những người

nghị sĩ Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy ý tưởng phụ trợ, trước thư, lập ngôn,

theo bệnh bốc thuốc, cố gắng, khuyến học, chung đúc anh hùng, ấy là trách

nhiệm của kẻ triết sĩ đó Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy mưu lược hỗ trợ, xét

muốn biến còn trong mầm non, thu núi sông trong tàn cục, làm cho kẻ mạo

hiểm không nhầm phương châm, ấy là trách nhiệm của kẻ sách sĩ đó Lấy

nhiệt thành làm chủ, lấy sảng khoái hỗ trợ, theo Kinh Kha, theo Sĩ Nhiếp, vì người dân nước rửa sạch bất bình, khiến thù trong giặc ngoài chạy đâu cũng

không thoát khỏi búa rìu, ấy là trách nhiệm của hiệp sĩ đó Lấy nhiệt thành

làm chủ, lấy khoa học phụ trợ, sưu tập máy móc, chấn hưng công nghiệp, vì đồng bào mà chẹn đường chảy của, vì tổ quốc đổi lợi quyền, ấy là trách nhiệm

của kẻ mỹ thuật sĩ đó Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy thao lược phụ trợ, gạn lọc

tinh thần, tập binh nghiệp cho đại thành, kích thích tinh thần thượng võ, dạy

dỗ quân sự cho quốc dân, ấy là trách nhiệm của tướng sĩ mưu lược Lấy nhiệt

thành làm chủ, lấy ái quốc làm mục đích, liên kết đoàn thể, trao đổi trí thức, phục tòng công lý, tu công dân đức, giữ công dân nghĩa, lập công dân ước, xướng công dân quyền, cùng làm thầy, cùng bảo vệ nhau, cùng giúp đỡ, thương xót nhau, không ghen ghét kiêu ngạo với nhau, không lừa dối, khinh nhờn nhau, không nghi kỵ nhau Chia nhau trách nhiệm thì ai ai cũng đều tự lập, gộp nhau vào thì khối hợp quần Đó là trách nhiệm chung của 50 triệu đồng bào cả nước chúng ta Đó cũng là điều mà anh em nên là những người gánh vác và đề xướng đầu tiên Thời thế tạo anh hùng, anh hùng cũng tạo nên thời thế Các anh em, nếu như cúi đầu cam tâm làm chó săn cho giặc sao bằng ngẩng cao đầu, hiên ngang làm thiên dân của Tổ quốc”

Đoạn trích trên cho thấy, Phan Bội Châu đã kêu gọi tầng lớp sĩ để họ xa rời cử nghiệp, xa rời cái bùa mê thuốc lú mà giặc đã gieo rắc để ra gánh vác

Trang 15

công việc quốc gia của mình Sĩ tử thức tự được chia thành 8 loại mà mỗi loại

lại có trách nhiệm của mình như: đức sĩ, chí sĩ, nghị sĩ, triết sĩ, sách sĩ, hiệp

sĩ, mỹ thuật sĩ, tướng sĩ

Bằng lời lẽ thống thiết của một bầu máu nóng, Phan Bội Châu kêu gọi

sĩ tử hãy nghĩ đến truyền thống vinh quang của tổ quốc, dân tộc trong sự diễn đạt các đối lập giữa xưa và nay để thức tỉnh tinh thần yêu nước trong họ theo lối lập luận bằng logíc :“Ô hô! Thảm trạng mất nước, còn nỡ nói chăng ? còn

nỡ nói chăng ! Từ thời Tự Đức trở về trước, nếu có kẻ con buôn người Thanh, giáo sĩ phương Tây nào dám giày xéo dẫm đạp đất nước ta, ta có thể hạ chúng xuống Từ năm Kiến Phúc lại đây, đến lũ người da đen nô lệ châu Phi cũng dẫm đạp đất ta mà chẳng còn có ai dám cất lời Tổng đốc của chúng ta chẳng dám tranh, sĩ dân của chúng ta chẳng dám bàn Xưa sao vinh quang đến thế, nay sao nhục đến thế Đó là xưa thì quốc quyền còn, nay thì quốc quyền đã mất Xót thay quốc quyền mất, đau thay quốc quyền mất ! Đấng quân chủ tội

gì mà bị nhục, nhân dân tội gì mà mắc họa Phàm là đồng bào ta, kẻ nào mà không có lòng đam mê cứu nước, không ôm nỗi đau mất nước, không có lòng trung báo nước thì kẻ ấy là tội phạm lớn nhất, là kẻ thù chung của cả nước đó Nước là gì vậy ? Hợp mọi người mà nên, hợp ức triệu nhân dân mà thành vậy Yêu nước là tình cảm gì vậy ? Kết lòng yêu mình với lòng yêu nhà mà thành lòng yêu nước Nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà mất Nước vốn là đầu não của thân ta, là cơ sở của nhà ta Gà trong một lồng, một con bị giết, cả lồng đều hãi, ấy là sợ vạ chết lan đến thân mình Ong trong một tổ, chọc một con thì muôn con cùng hống, ấy là chúng cứu đồng loại khi bị giết đấy Tô thuế này, sưu dịch này, đồn điền này, hỏa xa này, bảo hiểm này, giấy bạc này, giặc ngầm phô bày đặt, mưu mô thâm độc, đều là dao sắc để giết gà, là tay độc

Trang 16

lưu ly, tù nhân đói rét, oan trái muôn ngàn vạn trạng, đau lòng nhức mắt, khác

gì giống gà khi cái chết đang phơi trước mặt, đàn ong bị chọc tổ Người dẫu chí ngu nhưng lại là giống linh trong môn vạn vật, sao mà cam chịu, không tỉnh ngộ, im lìm thản nhiên không một chút nghi ngờ Suy xét nguyên nhân, rút lại là do không yêu nước Người ta ai cũng biết đến mình, chắc họ sẽ yêu mình Yêu nước ấy chính là hình ảnh ta yêu chính ta phóng ra cho to hơn nữa Người ta ai cũng có thân, có mình, điều ấy, nghĩa rằng ai cũng có trách nhiệm yêu nước Không kể sang, hèn, giàu, nghèo, không kể trẻ, già, không kể hèn, ngu, không có chỗ nào trốn tránh, không có nơi nào vứt bỏ, phó mặc được Thương đau thay ! Đau thay ! Hoàng đế Thành Thái chỉ là hư vị, các quan bộ, sảnh chỉ là hư danh, chỉ là tượng gỗ của giặc, chỉ là ảo ảnh hão huyền chẳng thà chết mà vinh Người phương Tây có câu: Không có tự do, chẳng thà chết

Bỉ nhân xin các anh em xét kỹ lại Giấy ngắn, lời dài, kể sao cho xiết nỗi lòng, cúi đầu khóc đến chảy máu mắt, trước gió lạy chào các anh em Tháng Sáu năm Bính Ngọ sau ngày đã mất nước người mặc áo chịu tang nước xin kính cáo”

Biết bao người đã từng qua vòng cử nghiệp, khi họ giác ngộ, nhận thấy trong cuộc “tân vận hội” cần phải: “Đúc gan sắt để dời non lấp bể”, “Lấy máu nóng rửa vết dơ nô lệ”, “Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn” đã xả thân vì nghĩa lớn, tạo nên một làn sóng duy tân sôi nổi, bồng bột khắp các miền đất nước, khiến cho bè lũ thực dân phong kiến phải hoảng sợ Một mặt, chúng đã khủng bố, bắt bớ tù đày Nhà tù đầy những tiến sĩ, cử nhân, tú tài, những người thức tự… Mặt khác, để đối phó với tình hình, chúng tìm cách lôi kéo, mua chuộc những người thức tự, chúng lại điều chỉnh chính sách cai trị, trong

đó có các chính sách liên quan đến khoa cử, tạo nên sự cải lương khoa cử, cải lương giáo dục Hán học

Trang 17

Qua đó giúp chúng ta thấy rằng, động lực cho phong trào đòi phế bỏ khoa cử hủ bại nằm chính trong phong trào yêu nước của nhân dân ta Những phong trào thế giới đã ảnh hưởng lớn đối với Việt Nam lúc bấy giờ phải nhắc đến: cuộc vận động Duy tân ở Trung Quốc vào những năm 1895 - 1898, nước Nhật Bản Duy tân những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và chiến thắng quân đội Nga hoàng của Nhật Bản vào năm 1905, Tân thư, Tân văn, Tân báo…

Phong trào Duy tân ở Việt Nam diễn ra từ 1902 – 1908 Thủ lĩnh của phong trào này là các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Trần Quý Cáp… Phạm vi và nội dung chương trình hoạt động của phong trào này phong phú, rộng rãi Phong trào kêu gọi đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, hành động cải lương ôn hòa, chủ trương nhấn mạnh vào hai vấn đề lớn là dân quyền và dân trí Trong công tác giáo dục, văn hóa văn nghệ, phong trào khuyến khích cho nền tân học, bỏ chữ Hán dạy chữ Quốc ngữ, thay đổi lối khoa cử phong kiến trước đây để thay bằng lối khoa cử thực học, tuyên truyền tinh thần yêu nước thương nòi, đề cao tự trọng và ý thức cá nhân, học theo lối sống văn minh như cắt tóc ngắn, để răng trắng…

Phong trào tổ chức các cuộc diễn thuyết công cộng để thức tỉnh ý thức

về dân tộc cho quần chúng nhân dân, các bài ca, bài vè được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, nhất là vùng sâu xa, đối tượng là những vùng ít được học hành Ngoài việc mở các lớp truyền bá chữ Quốc ngữ, chữ Pháp họ còn thành lập các hội nghề nghiệp, như: hội nông, hội thương…“ Những cơ sở văn hóa, giáo dục được tổ chức rải rác ở các miền quê Quảng Nam có qui củ Chương trình giáo dục về phương diện văn hóa là một điểm son đáng được chú ý nhằm đào tạo một mẫu người toàn vẹn, với một bộ óc sáng suốt trong một thân thể

Trang 18

tráng kiện”(Nguyễn Q Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, 2005, trang

153)

Từ đây, phong trào cổ xúy tân học dấy lên một cách mạnh mẽ, họ đề xướng lối học mới, trực tiếp chống lại lối giáo dục nô dịch của thực dân và lối giáo dục phong kiến lạc hậu Các nhà Duy tân là những người thầy uyên thâm

về học vấn và phẩm chất đạo đức, là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa giáo dục với lòng nhiệt huyết yêu thương đồng loại và lòng yêu nước sâu sắc

Trước sự lớn mạnh của phong trào mà chủ trương giáo dục lại đi ngược lại với lợi ích của mình, thực dân Pháp đã ra lệnh bắt giam và lưu đầy những người sáng lập ra phong trào, đồng thời đóng cửa các nghĩa thục của phong trào Duy tân, phong trào bị dập tắt vào năm 1908 Mặc dù phong trào

đã bị thực dân Pháp khủng bố trắng nhưng ảnh hưởng và dư ba của phong trào tác động vô cùng to lớn đối với vấn đề văn hóa giáo dục của nước ta lúc bấy giờ, là động lực khiến Pháp phải có những chương trình cải lương giáo dục của chúng trong hành trình chinh phục và đô hộ nước Nam

Trong khi các trường học của phong trào Duy Tân được mở ra ở miền Trung và miền Nam thì Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội và phát triển ở các tỉnh miền Bắc Trường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập vào tháng 3 năm 1907, tại số 4 phố Hàng Đào, thành viên là các sĩ phu tiêu biểu như: Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lương Trúc Đàm…trong đó cụ cử Lương Văn Can làm thục trưởng, Nguyễn Quyền giữ vai trò là Giám học Trường Đông Kinh nghĩa thục của Lương Văn Can được xây dựng theo mô hình của trường Khánh Ứng nghĩa thục tại Đông Kinh (ToKyo - Nhật Bản) do Phúc Trạch Dụ Cát sáng lập, cũng là trường học có nhiều ảnh hưởng đến Minh trị Nhật Bản Vào năm 1906, hai chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã đi tham quan trường này, họ

Trang 19

thấy đây là một cơ sở đào tạo giáo dục vững chãi, đáng tin cậy và độc đáo

“ Thế rồi, trên cơ sở những hiểu biết về một trường học đào tạo nhân tài dựng xây đất nước kiểu Khánh Ứng ấy, các vị sĩ phu nho học yêu nước Việt Nam đã quyết định thành lập ở Hà Nội một Nghĩa Thục và rồi từ cái “Nghĩa Thục” này

đã phát triển thành một “phong trào” Nghĩa Thục hoạt động ở nhiều địa điểm

của đất nước từ năm 1907 trở đi”.(Chương Thâu, Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX, 1997, trang 40)

Với tinh thần cổ xúy tân học, truyền bá và kêu gọi mọi người học tập văn minh tiến bộ, tìm đường cứu nước, phổ biến các tri thức phổ thông về lịch

sử, địa lí và đả kích đường lối giáo dục nô dịch, đắm chìm trong văn chương

cử nghiệp, chữ Hán được nhà trường Đông Kinh nghĩa thục sử dụng như một công cụ tuyên truyền tư tưởng canh tân hữu hiệu, các tài liệu, sách vở được nhà trường biên soạn và sử dụng trở thành những quyển sách có giá trị về mặt truyền bá tư tưởng hiện đại cho nhân dân ta

Những đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục trên lĩnh vực văn hóa giáo dục chính là nội dung giảng dạy ở trong nhà trường Đó là các vấn đề: đề cao tinh thần dân tộc và lòng yêu nước; học tập và tiếp cận khoa học theo phương pháp mới; đề cao ý thức cá nhân, phát huy óc sáng tạo; công kích chế

độ khoa cử từ chương; chống chữ Hán và chống bọn hủ Nho; chống nền cựu học; đặc biệt nhà trường còn quan tâm đến vấn đề giáo dục sơ đẳng và giáo dục chuyên môn cho người học

Tuy chỉ tồn tại chưa đầy một năm nhưng nhà trường Đông Kinh nghĩa thục đã có một đóng góp không nhỏ cho việc cải cách tư tưởng, văn hóa cho nhân dân ta, gieo được những hạt giống tốt về một nền dân tộc dân chủ tiến bộ

ở đầu thế kỷ XX Đó là “cuộc vận động của buổi giao thời, chuyển tiếp giữa

Trang 20

mới Những hoạt động mở đầu cho phong trào dân chủ tư sản của Đông Kinh nghĩa thục sau này sẽ được phát triển mạnh mẽ trong các cuộc vận động chính trị của thập kỷ tiếp theo”.(Chương Thâu, 1997, trang 107)

1.1.2 Cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán của chính quyền thực dân giai đoạn 1906 – 1919

Khi các phong trào của các sĩ phu yêu nước liên tiếp nổ ra, thực dân Pháp ngoài việc tìm mọi cách để đàn áp và khủng bố phong trào, mặt khác chúng cũng tìm cách để cải lương giáo dục, nhằm nâng cao hơn nữa lĩnh vực này theo mục đích của họ

Ở thời kỳ này, Paul Bert - Tổng trú sứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã có những chính sách mềm dẻo, nhẹ nhàng và tinh vi Chúng tìm cách lôi kéo, mua chuộc, hoặc gắn vào đó bằng những ý thức đạo đức, dân tộc vốn có trong con người Việt thông qua công tác giáo dục, đào tạo

Bề ngoài thì thể hiện sự tôn trọng giá trị tinh thần, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam bằng những chủ trương “khai hóa”, “bảo hộ”,

“chấn hưng đạo học” nên chữ Hán vẫn được đưa vào dạy ở các nhà trường trong toàn xứ nhưng có sự giám sát, theo dõi chặt chẽ của nhà cầm quyền

“ P.Bert vẫn chủ trương làm từ từ sao cho ảnh hưởng của nước Pháp ngấm dần nhưng liên tục vào nhân dân ta Ông ta không tán thành việc bắt người Việt Nam bỏ chữ Hán để học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ như các đô đốc làm ở

Nam Kỳ, vì như vậy là “ trái với khoa học ” (Phan Trọng Báu, Giáo dục Việt Nam thời cận đại, 2006, trang 57) Nghĩa là chữ Hán không bị xóa bỏ hoàn

toàn, cũng không chiếm số nhiều như ở thời kỳ trước nữa, chương trình dạy phải theo tùy từng loại trường, tùy từng ban, từng lớp

Trang 21

Những trường học mới được mở ra trên Bắc Kỳ, chữ Hán vẫn phải được duy trì ở một mức độ nhất định, nhằm mục đích “ trước mắt, cần làm cho các nho sĩ nhận thức được rằng họ phải biết tiếng Pháp, hiểu người Pháp, còn người Pháp cũng phải học tiếng người “bản xứ” để hiểu biết người dân mình cai trị ”.(Phan Trọng Báu, 2006, trang 57)

P.Bert cho thành lập nhiều trường học ở các trung tâm hành chính để cho công chức, thông ngôn, hạ sĩ quan, giáo viên người Pháp theo học Tổ chức thành lập các trường dạy nghề để đào tạo ra các công nhân có tay nghề cao, có thể làm được các ngành nghề mới mẻ như mộc, mỹ nghệ, rèn…Tuy nhiên kết quả giáo dục của người Pháp chưa tiến triển được bao nhiêu thì P.Bert chết, mọi kế hoạch phát triển giáo dục trên đất Bắc Kỳ mới chỉ được hoạch định thì phải dừng lại giữa chừng

Đến năm 1889, người Pháp đã tổ chức được những trường học ở vùng biên giới Việt – Trung như Cao Bằng, Lạng Sơn, Đồng Đăng… Mãi đến năm

1894, khi De Lanessan làm Toàn quyền thì kế hoạch giáo dục của Paul Bert đề

ra trước đây tiếp tục được thực hiện, các công việc như mở nhà in chữ Hán,

mở các lớp học chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho quan lại, binh sĩ người Pháp, ra

tờ Công báo bằng chữ Hán…Sau đó ở Trung Kỳ, Toàn quyền Rousseau đã cho mở trường Quốc học Huế do Khâm sứ Trung Kỳ kiểm soát, với mục đích

là đào tạo con em tầng lớp trên của triều đình phong kiến thành những quan cai trị, bao gồm có cả cựu học và tân học Năm 1897, Doumer thay Rousseau làm Toàn quyền đã cho thành lập trường Viễn Đông Bác Cổ vào năm 1898, với nhiệm vụ chuyên nghiên cứu các vấn đề khoa học, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là đề xuất các chương trình cải lương giáo dục Như vậy, kết quả là giáo dục Việt Nam song tồn hai loại giáo dục: Giáo dục Pháp – Việt và giáo dục

Trang 22

Cuối cùng, đến 1906, thực dân Pháp cũng phải cải lương giáo dục khoa

cử tạo nên hệ thống giáo dục chữ Hán cải lương, bao gồm có 3 cấp học là: bậc

Ấu học, bậc Tiểu học và bậc Trung học

Bậc ẤU HỌC

Do các xã thôn tự trù thiết lập để dạy những trẻ em nam và nữ, từ 6 đến

12 tuổi Còn những ai đứng ra mời thầy, lập trường tư cũng cho phép Các sĩ

tử trường tư cũng đều được tham dự sát hạch ứng thí cũng như sĩ tử trường công

- Các xã thôn được tự tuyển lựa giáo sư nhưng cần phải có chính quyền chuẩn nhận

- Các viên giáo huấn của các phủ huyện có chức vụ trong việc kiểm sát trường Ấu học ở hương thôn

- Các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trường Ấu học, theo quy thức của trường

Ấu học Kinh phí của các trường ấy do các tỉnh chi cấp

- Giáo quy của trường Ấu học có 2 loại Một là giáo quy Hán tự Hai là giáo quy Nam âm Giáo quy Hán tự nhằm dạy những chữ Hán thường dùng và những chữ Hán thiết dụng về cái lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý Giáo quy Nam âm thì dạy chữ quốc ngữ và các độc bản (đọc bài) chữ quốc ngữ thiết yếu

về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, lễ phép, thiên văn, địa lý và vệ sinh

- Tốt nghiệp Ấu học thì được cấp bằng TUYỂN SINH

- Còn như phép đào tạo các giáo sư cho hệ Ấu học thì ở tỉnh lỵ của các tỉnh có thiết lập một trường quốc ngữ để dạy cho các hương sư không biết chữ quốc ngữ

Trang 23

Bậc TIỂU HỌC

- Các phủ huyện đều thiết lập trường Tiểu học (tức trường giáo thụ, huấn đạo)

- Tiểu học thu nhận những người dưới 27 tuổi

- Giáo quy của trường Tiểu học có 2 loại Một là giáo quy Hán tự Hai là giáo quy Nam âm Giáo quy chữ Hán để dạy các môn luân lý, văn chương, Bắc sử, Nam sử Các môn này do giáo thụ, huấn đạo giảng giáo Giáo quy Nam âm để dạy các thư tịch về lịch sử thế giới, địa lý và cách trí, toán học cho được tiện Hoặc dạy cả thêm chữ Pháp Giáo quy Nam âm ấy nếu như các viên giáo thụ huấn đạo không có thể dạy cả được thì có sự trợ giúp của các giáo sư các trường Pháp – Việt

- Quan Đốc học của các tỉnh có trách nhiệm kiểm sát các trường Tiểu học Học xong chương trình Tiểu học thì quan Đốc học làm quan chủ khảo tổ chức thi cho các học sinh Tiểu học Ai trúng tuyển sẽ được nhận văn bằng KHÓA SINH

Bậc TRUNG HỌC

- Trung học thiết lập ở tỉnh lỵ (tức trường của quan Đốc học)

- Trung học thu nhận những người dưới 30 tuổi

- Giáo quy của trường có 2 loại Một là giáo quy chữ Hán Hai là giáo quy Nam âm và giáo quy chữ Pháp Chữ Hán thì dạy theo các văn bản thư tịch chữ Hán tương đối cao và thể thức các hạng công văn Nam âm thì dạy cho các môn lịch sử liệt quốc, địa lý và cách trí tân thời, toán pháp và tập làm văn chương chữ quốc ngữ Chữ Pháp thì dạy Pháp văn tự thoại sơ đẳng

Trang 24

- Sau khi hoàn thành chương trình, do tỉnh tổ chức thi tốt nghiệp lấy văn

bằng THÍ SINH (Phạm Văn Khoái, KHOA THI TIẾN SĨ CUỖI CÙNG TRONG LỊCH SỬ KHOA CỬ VIỆT NAM ( Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư,

1919 ), 2010, trang 60 - 62)

Chương trình giáo dục Hán học cải lương không chỉ được đề đến chương trình nội dung mà còn được cụ thể hóa bằng các môn học và việc biên soạn sách giáo khoa cho từng môn học Đã có rất nhiều môn học mới xuất hiện trong chương trình giáo dục khoa cử cải lương so với khoa cử truyền thống, chẳng hạn các môn thuộc phạm trù khoa học như: toán, cách trí Còn các môn thuộc phạm trù khoa học xã hội nhân văn cũng xuất hiện những môn mới, như: lịch sử Việt Nam, lịch sử Thái tây, địa lý các nước Ngay trong các môn trực tiếp kế thừa từ truyền thống, như kinh điển nho học, chư sử cũng đều được rút gọn lại

Việc để tồn tại song song hai nền giáo dục Pháp – Việt và giáo dục khoa

cử Hán học cải lương chỉ là giải pháp trước mắt Giáo dục cổ truyền Việt Nam dẫu có được cải lương vẫn bị xóa bỏ, được đánh dấu bằng kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ năm 1915, ở Trung Kỳ năm 1918, còn thi Hội và thi Đình cuối cùng vào đầu năm 1919 Ngày 14 tháng 6 năm 1919, vua Khải Định ký dụ bãi

bỏ tất cả các trường học chữ Hán cùng với hệ thống quản lý giáo dục từ triều đình đến cơ sở

Trong khuôn khổ những quy định trên đây, hệ thống sách giáo khoa chữ Hán đã được biên soạn một cách có tổ chức Ngoài những sách vở có nội dung theo chương trình giáo dục được dạy chính thức trong các trường học do Pháp

mở, dưới sự chỉ đạo của nhà nước bảo hộ, thời kỳ này còn xuất hiện rất nhiều sách vở của hệ thống trường tư Môn học, môn thi thay đổi trong đó xuất hiện

Trang 25

nhiều sách của môn lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán Dưới đây là danh sách những bộ sách đó

1.5 SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ VIỆT NAM VIẾT BẰNG CHỮ HÁN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC 1906 –

1919

1.5.1 Sách giáo khoa lịch sử viết bằng chữ Hán - Nôm của giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX hiện đang lưu trữ tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm

Tác giả

Hình thức thể hiện

In 1911

Mêbông và Ruxiê (Pháp) soạn bằng tiếng Pháp Phạm Văn Thụ, Nguyễn Doãn Thạc dịch ra Hán Văn

Hoàng Đạo Thành soạn, Quan Văn đường tàng bản

Trang 26

In, 546 tr.,15x21

In : 1908

Triển, Bùi Hướng Thành biên tập

Đỗ Văn Tâm hiệu đính,Đông Dương Nghị học hội đồng kiểm duyệt

Văn xuôi

III

VHv 1507

In, 72 tr., 16x22 (thiếu Q1,Q2)

Cải lương mông học

quốc sử giáo khoa

1 bản viết, chữ Nôm có chữ quốc ngữ, AB.646, 40 tr.,24.5x14

Đề tựa

1952

Nguyễn Văn Bình soạn

Văn xuôi

1924

Nguyên Tử Thành hiệu Thụy Hưng Đường ở Thường Châu viết tựa

Văn vần

Không ghi

Không ghi

Văn xuôi

kinh (VHv.2033, cuốn sách này

có 1 ký hiệu AN.231)

Văn xuôi

Pari.EFEO.MF.II/6/911 (A.238)

Không ghi

Không ghi

Trang 27

天南四字經

XIII

Viết, 120 tr., 31x

20, có chữ Hán, chữ Quốc ngữ

và chữ Pháp viết trên giấy Tây

Văn vần

Paris.MF.II/6/1089 22 bản in 5 bản viết ( bộ 5 Q:Thủ, Xuân,Hạ, Thu, Đông )

Không ghi

Ngô Giáp Đậu soạn.Đỗ Văn Tâm nhuận đính

Văn xuôi

Bè, HN,

1911 Hội đồng Học chính Bắc

Kỳ tọa duyệt cho phép In và phát hành

Ngô Giáp Đậu soạn, Phạm Văn Thụ duyệt, Đoàn Triển, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa

484tr,25,5x15 (Thủ, Xuân, Thu,Đông

344 tr.,25,5x15 (Thủ, Xuân, Thu)

A.2984/1-2

VHv.1906 VHv.2024

Trang 28

208 tr.,28x16 (Thủ Xuân, Hạ, Thu )

11 văn xuôi, 5 văn vần

(Trích dẫn theo Nguyễn Thị Hường, Sơ bộ khảo sát các sách dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở Việt Nam // Thông báo Hán Nôm học 2007, trang 487 – 493)

1.5.2 Phân loại loại hình văn bản sách giáo khoa lịch sử Việt Nam

Trong danh mục trên đây có nhiều bộ sách đã được biên soạn ra để dạy cho các trường học ở An Nam, vào thời điểm sau cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán, năm 1906 Từ bảng danh mục sách giáo khoa lịch sử viết bằng chữ Hán, giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trên đây, chúng ta có thể nêu

ra ở đây những nhận xét ban đầu trên nhiều khía cạnh như sau:

Trang 29

Một là, đối tượng của những quyển sách này chủ yếu là dành cho học sinh các bậc học trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán 1906 – 1919 của thực dân Pháp trên đất An Nam Do vậy, nội dung trình bày rất ngắn gọn, giải thích đơn giản Các sự kiện của lịch sử Việt Nam được tóm lược từ thời thượng cổ (Kinh Dương Vương) đến triều đại nhà Nguyễn, cũng có bộ được biên soạn đến thời Pháp thuộc Những sự kiện ấy được lựa chọn ra để biên tập

có tính tiêu biểu cao, chủ yếu đi vào tính chất khái quát mà không đi vào từng chi tiết nhỏ, quy mô nhỏ, [ Trung học Việt sử toát yếu giáo khoa 中學越史撮要教

xuống chiếm tỷ lệ tương đối cao

Hai là, trong số 16 mục sách được thống kê trên đây, số lượng sách được biên soạn dưới sự chỉ đạo của nhà nước hay chính quyền bảo hộ chiếm

số lượng khá lớn Chẳng hạn như những quyển An Nam sơ học sử lược 安南 初學史略, Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢子新書, Trung học Việt sử toát yếu

中學越史撮要 là những sách thuộc loại này

Sách vở do tổ chức xã hội biên soạn, in ấn chủ yếu thuộc dòng giáo dục yêu nước, loại sách vở này cũng có số lượng phong phú nhưng lại là loại sách

vở không được công khai giảng dạy trong các nhà trường do Pháp tổ chức

Những thông tin trên đây cho thấy, vào thời điểm thực dân Pháp tiến hành cải lương giáo dục thì điều kiện in ấn đã rất phát triển, sách giáo khoa lịch sử Việt Nam bắt đầu được chú ý, coi trọng và trở thành tài liệu quan trọng trong chương trình giáo dục chữ Hán cải lương 3 cấp: Ấu học, Tiểu học, Trung học lúc bấy giờ Tính phổ biến của những quyển sách này trong xã hội

vì vậy sẽ vô cùng rộng rãi

Trang 30

Từ bảng kê đó, chúng tôi lại tiếp tục phân xuất để lập ra danh mục sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho hệ Ấu học Việc phân xuất này vừa dựa theo tên gọi, vừa dựa vào cấu trúc thực tế của từng quyển sách Dưới đây là sự cụ thể danh mục đó phục vụ cho đề tài luận văn của chúng tôi:

1) Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書

VHv.1485: 546 tr., 15x21, chữ in VHv 1507: 72 tr., 16x22, chữ in (3 bản in, 3 bản viết)

Sách do Dương Lâm, Đoàn Triển, Bùi Hướng Thành biên tập Đỗ Văn Tâm hiệu đính Đông Dương Nghị học Hội đồng kiểm duyệt, in tại nhà in Viễn Đông Đây là loại sách giáo khoa soạn cho lớp đồng ấu, viết bằng chữ Hán

2) Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 改良蒙學國史教科書

A.169:128 tr., 25x15, chữ in; VHv.214 (1 bản in, 1 bản viết, 1 mục lục,

1 tựa, 1 bạt)

Sách giáo khoa soạn cho lớp đồng ấu về lịch sử Việt Nam, từ Hồng

Bàng đến Duy Tân, chia thành 5 thiên: 1 Thượng cổ thời đại, gồm 3 tiết; 2 Bắc thuộc thời đại, gồm 9 tiết; 3 Trung cổ bột hưng thời đại, gồm 9 tiết; 4 Cận thể thống nhất thời đại, gồm 33 tiết; 5 Tối cận thống nhất thời đại

3) Quốc sử Ấu học giáo khoa thư, Nam quốc địa dư Ấu học giáo khoa thư 國史幼學教科書,南國地輿幼學教科書。

(VHv.1589, 1 bản viết, 38 tr., 28x16.)

4) Việt sử tam tự tân ước toàn biên 越史三字新約全編。

Trang 31

VHv 1697; VHv.1820; VHv.235 (3 bản in, cùng một ván khắc, 134 tr., 28x16, 2 tựa)

Phạm Văn Thụ viết bài tựa thứ nhất, ghi năm Duy Tân Kỉ Dậu (1909), bài tựa thứ hai do Nguyễn Văn Tuấn viết Áng Hiên (Hà Nội), in năm Duy Tân Kỷ Dậu (1909)

Sử Việt Nam (soạn theo thể văn vần, mỗi câu 3 chữ) từ Hồng Bàng đến Tây Sơn

5) Mông học Việt sử tam tự giáo khoa thư 蒙學越史三字教書。

A.2314, gồm có 1 bản viết, 40 tr., 29x15,6, 1 tựa

Chuyết Sĩ Nguyễn Tử Thành, hiệu Thụy Hưng Đường ở Thương Châu viết tựa năm Khải Định 9 (1924)

Là sách giáo khoa dạy trẻ em về lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến đời Nguyễn, soạn theo thể thơ mỗi câu 3 chữ

6) Đại Việt tam tự sử phụ Đại Việt sử ký bản kỉ 大越三字史附大越史

chống quân Minh, và có thêm phần Đại Việt sử ký bản kỷ 大越史記本紀, (đây

là Q1), phần Bản kỉ 本紀 của bộ Đại Việt sử ký bản kỷ tiền biên 大越史記本 紀前編 khắc thời Tây Sơn

7) An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 (chúng tôi sẽ giới thiệu ở

phần 1.4)

Trang 32

Như vậy, sự có mặt của 7 bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán cho người mới bắt đầu đi học, được biên soạn, xuất bản ra đã cho thấy những điểm khác của Hán văn giáo dục giai đoạn này so với các giai đoạn trước đó

1.3 GIỚI THIỆU SÁCH AN NAM SƠ HỌC SỬ LƯỢC 安南初學史

略 VỀ MẶT VĂN BẢN

Sách An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 do 2 giáo sư người Pháp

là MêBông - 馬雲鵬, Giáo sư EFEO và RuXiê - 盧痴繄 , Giám đốc học chính Nam Kỳ [Sách Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu và các bản

được các quan lại nhà Nguyễn dịch ra Hán văn và hiệu chính lại Sách này hiện đang được lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có tất cả 8 quyển, trong đó 7 quyển là bản in, 1 quyển viết tay 7 quyển in được in trong thời kỳ thực dân Pháp thực hiện chương trình cải lương giáo dục lần thứ nhất

ở Việt Nam (1906) Các quyển có ký hiệu A.3114 bis, A.3114 , A.3191 in

năm 1909 (niên hiệu Thành Thái thứ 3) do Cao Xuân Dục, Đỗ Văn Tâm hiệu chính, kích cỡ của sách là 26x15, gồm 172 trang, quyển A.3191 hiện chỉ còn

có 94 trang, thiếu mất 16 thiên cuối Các quyển có ký hiệu VHb.219, A.3228,

VHb.230, A.935 in năm 1911 (niên hiệu Thành Thái thứ 5) do Phạm Văn Thụ,

Nguyễn Doãn Thạc dịch từ tiếng Pháp ra Hán văn, kích cỡ của sách là 17x11,

có tất cả 144 trang Quyển VHv.1556 được chép tay vào năm 1928 (niên hiệu

Bảo Đại năm thứ 4) cũng do Phạm Văn Thụ, Nguyễn Doãn Thạc dịch ra Hán văn, sách gồm 210 trang, kích cỡ của sách là 26x16 Đây là bộ sách lịch sử

Trang 33

viết cho hệ Ấu học nước An Nam đầu thế kỷ XX, tất cả đều được trình bày theo thể loại văn xuôi

Văn bản có mã số A.935 được chúng tôi chọn làm tài liệu nghiên cứu cho luận văn là văn bản in, cả quyển có 144 trang, mỗi trang đầy đủ có 13 dòng, mỗi dòng đầy đủ có từ 29 đến 30 chữ, trình bày các chữ từ trên xuống dưới, các dòng từ phải qua trái

Dưới đây chúng tôi xin minh họa một số trang của các văn bản bộ sách

An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 này:

Văn học khoa Tiến sỹ sung Nam Kỳ chư học đường Giám đốc Lư Si

Ê.Đồng trước

Đại Nam: Phó bảng Quang Lộc Tự khanh sung liêm phỏng sứ Phạm Văn Thụ.

Đồng dịch (Trang 5 văn bản A.935).

Trang 34

協辨大學士高春育,杜文心 校正

經有東洋學政會同閲依

Duy Tân tam niên san khắc

Đông Dương khảo cổ trường chưởng thư ký Mêbông,

Nam Kỳ học chính Giám đốc Lư Si Ê tuyển Do Pháp văn dịch xuất

AN NAM SƠ HỌC SỬ LƯỢC Hiệp biện Đại học sĩ Cao Xuân Dục, Đỗ Văn Tâm hiệu chính

Kinh hữu Đông Dương học hội đồng duyệt y” ( Trang bìa văn bản A

3114 bis và A.3114)

Nội dung bộ sách An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 có ký hiệu

A 935 được chúng tôi chọn làm tài liệu nghiên cứu, trình bày theo thứ tự sau đây:

- 序 Tự: Lời tựa, từ trang 1 – 3

- 第一篇:土地人民之位置 Đệ nhất thiên: Thổ địa nhân dân chi vị trí

- Thiên thứ nhất: Thổ địa, nhân dân, vị trí, từ trang 5 – 6

- 第二篇:鴻龐之出現及屬陽之并吞 Đệ nhị thiên: Hồng Bàng chi xuất hiện cập Thục Dương chi thôn tính - Thiên thứ hai: Hồng Bàng

xuất hiện và Thục Dương Vương thôn tính, từ trang 7 – 9

- 第三篇:支那文明之輸入 Đệ tam thiên: China văn minh chi thâu nhập - Thiên thứ ba: Thâu nhập văn minh Trung Quốc, từ trang 9 – 11

- 第四篇:趙武王之掘強及其滅亡 Đệ tứ thiên: Triệu Vũ Vương chi quật cường cập kỳ diệt vong Thiên thứ tư: Triệu Vũ Vương quật

cường và diệt vong, từ trang 11 – 14

- 第五篇:北屬支那之辰期 Đệ ngũ thiên: Bắc thuộc China chi thời

kỳ - Thiên thứ năm: Thời kỳ Bắc thuộc China, từ trang 14 – 16

Trang 35

- 第六篇:支那統治之吏政 Đệ lục thiên: China thống trị chi lại chính - Thiên thứ sáu: Chính sách thống trị của China, từ trang 16 –

rối loạn đến Ngô Quyền xướng nghĩa, từ trang 23 – 26

- 第九篇:林邑之干涉 Đệ cửu thiên: Lâm Ấp chi can thiệp - Thiên

thứ chín: Sự can thiệp của Lâm Ấp, từ trang 26 – 28

- 第十篇:南詔之衝突及鄰國之位置 Đệ thập thiên: Nam Chiếu chi xung đột cập lân quốc chi vị trí - Thiên thứ mười: Xung đột của Nam

Chiếu và vị trí của các nước láng giềng, từ trang 28 – 33

- 第十一篇:吳王權之自主及丁先皇之一統 Đệ thập nhất thiên: Ngô Vương Quyền chi tự chủ cập Đinh Tiên Hoàng chi nhất thống - Thiên

thứ mười một: Tự chủ của Ngô Quyên và Đinh Tiên Hoàng thống nhất, từ trang 33 – 36

- 第十二篇:前黎之擁位與李氏之代興 Đệ thập nhị thiên: Tiền Lê chi ủng vị dữ Lý thị chi đại hưng - Thiên thứ mười hai: Nhà Tiền Lê

giữ ngôi và họ Lý lên thay, từ trang 36 – 41

- 第十三篇:陳二世 Đệ thập tam thiên: Trần nhị thế - Thiên thứ mười

ba: Hai đời Trần, từ trang 41 – 46

Trang 36

- 第十四篇:偽胡之僣干及後陳之起滅 Đệ thập tứ thiên: Ngụy Hồ chi tiếm can cập Hậu Trần chi khởi diệt - Thiên thứ mười bốn: Ngụy

Hồ tiếm quyền đến Hậu Trần nổi lên và diệt vong, từ trang 46 – 51

- 第十五篇:屬朱明之統治及後黎之勃興 - Đệ thập ngũ thiên: Thuộc Chu Minh chi thống trị cập Hậu Lê chi bột hưng - Thiên thứ mười lăm:

Từ thuộc Minh đến Hậu Lê hưng khởi, từ trang 51 – 54

- 第十六 篇:皇黎之興盛及偽莫之僣干 Đệ thập lục thiên: Hoàng Lê chi hưng thịnh cập Ngụy Mạc chi tiếm can - Thiên thứ mười sáu:

Triều Lê hưng thịnh đến Ngụy Mạc tiếm quyền, từ trang 54 – 59

- 第十七篇:阮 - 鄭 Đệ thập thất thiên: Nguyễn – Trịnh - Thiên thứ

mười bẩy: Nguyễn - Trịnh, từ trang 60 – 64

- 第十八篇:阮 - 鄭之戰爭 Đệ thập bát thiên: Nguyễn – Trịnh chi chiến tranh - Thiên thứ mười tám: Chiến tranh Nguyễn - Trịnh, từ

trang 64 – 69

- 第十九篇:十七世紀辰之安南 Đệ thập cửu thiên: Thất thập thế kỷ chi An Nam - Thiên thứ mười chín: Nước An Nam ở thế kỷ 17, từ

mươi mốt: Chiến tranh Trịnh - Nguyễn đến loạn Tây Sơn, từ trang 80 – 88

Trang 37

- 第二十二篇:阮朝之戰勝 Đệ nhị thập nhị thiên: Nguyễn triều chi chiến thắng - Thiên thứ hai mươi hai: Triều Nguyễn chiến thắng, từ

ngoại của Minh Mệnh, Thiệu Trị, từ trang 110 – 118

- 第二十六篇:大法之來南圻 Đệ nhị thập lục thiên: Đại Pháp chi lai Nam Kỳ - Thiên thứ hai mươi sáu: Người Pháp đến Nam Kỳ, từ trang

Trang 38

- 第三十篇:統治之政策 Đệ tam thập thiên: Thống trị chi chính sách

- Thiên thứ ba mươi: Chính sách thống trị (của Pháp), từ trang 134 –

137

- 第三十一篇:縂述南國政教之進益 Đệ tam thập nhất thiên: Tổng thuật Nam quốc chính giáo chi tiến ích - Thiên thứ ba mươi mốt:

Tổng thuật tiến ích của nền chính giáo nước Nam, từ trang 137 – 141

- 第三十二篇:總論 Đệ tam thập tam thiên: Tổng thuật - Thiên thứ ba

mươi hai: Tổng kết, từ trang 141 – 144

Cả bộ chia làm 2 quyển (tập), trong đó quyển 1 từ thiên thứ nhất đến thiên thứ mười sáu, quyển 2 từ thiên thứ mười bẩy đến thiên thứ ba mươi hai

Qua kết cấu các thiên của An Nam sơ học sử lược 安南初學史略,

chúng ta được biết, đây là bộ thông sử có tính tóm tắt về lịch sử Việt Nam, suốt từ thời Hùng Vương cho đến những ngày Pháp lập được nền đô hộ của chúng sau Hiệp ước Patơnốt (1884)

Từ sự trình bày ở trên cho thấy, bộ sử này vừa có dấu ấn của lối biên niên, biên kỷ, vừa có sự phân kỳ hệ thống hóa Tất nhiên, đây là bộ sử Việt Nam dạy trong hệ thống nhà trường của chủ nghĩa thực dân phong kiến, cho nên nó chịu sự ảnh hưởng và chi phối của tư tưởng thực dân Điều này sẽ được chúng tôi đề cập đến ở mức độ sơ lược trong chương 2 dưới đây

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Như vậy, chương 1 với các nội dung như: chương trình cải lương giáo dục chữ Hán 1906 – 1919, vấn đề sách giáo khoa lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán trong chương trình cải lương giáo dục đầu thế kỷ XX đã cho phép chúng

Trang 39

ta hình dung tình hình cải lương giáo dục chữ Hán và vấn đề sách giáo khoa lịch sử Việt Nam trong hệ thống giáo dục nói trên

Bộ sách An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 là bộ sách có tính nhà

nước thực dân phong kiến, được in với số lượng đông đảo, có vai trò như là một trong những sách chủ đạo của hệ thống sách giáo khoa lịch sử Việt Nam trong cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán của hệ thống nhà trường thực dân – phong kiến

Nó được tái bản đến 2 lần, ở mức độ nào đó cho phép chúng ta liên tưởng đến mức độ phổ biến và ảnh hưởng của nó trong giáo dục đương thời

Sự phổ biến ấy cần phải được giải thích chính từ những vấn đề thuộc bình diện nội dung cũng như cách viết Những điều trên sẽ được chúng tôi đề cập đến ở chương tiếp theo

Trang 40

CHƯƠNG 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG DIỆN

NỘI DUNG CỦA SÁCH AN NAM SƠ HỌC

SỬ LƯỢC 安 南 初 學 史 略

Như trên chúng tôi đã trình bày, An Nam sơ học sử lược 安南初學史略

là bộ sách có vai trò vô cùng quan trọng trong chương trình cải lương giáo dục Hán văn những năm 1906 – 1919

Do vậy, trong chương này, chúng tôi sẽ đề cập đến một số vấn đề thuộc

về cách viết của An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 như: nguyên tắc biên soạn của An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 thông qua bài tựa, các nguồn

sử liệu mà An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 dựa vào, sự tương ứng giữa

An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 với hệ thống sách lịch sử truyền thống

trước đó để qua đấy chúng ta thấy được vị trí, vai trò của quyển sách này trong

hệ thống sách giáo khoa lịch sử Việt Nam trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán, những năm đầu thế kỷ XX

2.1 CÁC NGUYÊN TẮC BIÊN SOẠN CỦA AN NAM SƠ HỌC

SỬ LƯỢC 安南初學史略 VÀ NGUỒN TÀI LIỆU DỰA VÀO QUA PHÂN

TÍCH LỜI TỰA

Phần trên đã trình bày, bộ sách An Nam sơ học sử lược 安南初學史略

được biên tập lại từ các bộ sách lịch sử lớn trong hệ thống sách lịch sử truyền thống Việt Nam Tuy nhiên, sách do người nước ngoài biên soạn, với mục đích làm tài liệu dạy học cho hệ Ấu học trong chương trình cải lương giáo dục

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  thể  hiện - Loại hình văn bản sách giáo khoa lịch sử cho hệ Ấu học đầu thế kỷ XX qua nghiên cứu văn bản An Nam sơ học sử lược
nh thức thể hiện (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm