1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI

132 530 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, với đề tài luận văn này tác giả muốn có một cái nhìn khái quát đầy đủ về thực trạng ô nhiễm môi trường sinh thái tại Trung Quốc, đi sâu phân tích những thành tựu, tồn tại trong h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HÀ THU HƯƠNG

VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

Ở TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HÀ THU HƯƠNG

VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

Ở TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

Trang 3

iii

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI 5

1.1 Khái niệm chung 5

1.2 Tiêu chuẩn môi trường 5

1.3 Hệ thống đánh giá tác động môi trường 8

1.4 Mối quan hệ giữa Môi trường sinh thái và con người – xã hội 9

1.5 Quan hệ giữa Môi trường và Phát triển bền vững 12

1.6 Sự cần thiết phải bảo vệ MTST 15

CHƯƠNG 2:SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SỰ NGHIỆP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG MƯỜI NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI 17

2.1 Những chủ trương chính sách của Chính phủ Trung Quốc 17

2.1.1 Nguyên tắc cơ bản của chính sách môi trường 20

2.1.2 Đặc trưng cơ bản của chính sách MTST 22

2.1.3 Xây dựng hệ thống chính sách môi trường Trung Quốc 23

2.1.4 Xây dựng bảo vệ môi trường sinh thái 25

2.2 Thực trạng MTST ở Trung Quốc 30

2.2.1 Vấn đề môi trường nước 31

2.2.1.1 Ô nhiễm nguồn ngước 33

2.2.1.2 Tình trạng thiếu nước nghiêm trọng 37

2.2.2 Vấn đề môi trường không khí 39

2.2.2.1 Các hợp chất gây ô nhiễm trong không khí 40

2.2.2.2 Sự phát thải khí gây ô nhiễm của các tỉnh, thành 44

2.2.2.3 Khí thải gây ô nhiễm giữa các ngành nghề công nghiệp 47

2.2.2.4 Hậu quả của việc ô nhiễm không khí 50

2.2.3 Vấn đề môi trường đất 52

Trang 4

iv

2.2.3.1 Thoái hóa đất 54

2.2.3.2 Tình trạng đất bị hoang mạc hóa, sa mạc hóa 56

2.2.3.3 Hiện tượng đất tái nhiễm mặn tương đối nghiêm trọng 57

2.2.3.4 Hiện tượng ô nhiễm đất ngày càng trầm trọng 57

2.3 Nguyên nhân dẫn đến vấn đề ô nhiễm MTST 58

2.4 Các biện pháp khắc phục 60

2.4.1 Đầu tư xây dựng xử lý ô nhiễm môi trường 60

2.4.2 Thực hiện chính sách “ kinh tế tuần hoàn” 63

2.4.3 Thực hiện chính sách “ tiết kiệm năng lượng, giảm tải khí thái” 65

2.4.4 Xây dựng “ Văn minh sinh thái” 68

2.4.5 Một số biện pháp cụ thể 70

2.5 Kết quả đạt đƣợc trong công tác BVMT 71

2.5.1 Có hiệu quả trong việc giảm thiểu ô nhiễm, chỉ tiêu chất lượng môi trường tiếp tục có chuyển hướng tích cực, tình trạng hoang mạc, sa mạc hóa có xu hướng xuyên giảm: 71

2.5.2 Kiện toàn hệ thống luật pháp –Chính sách- Cơ quan quản lý 76

2.5.2.1 Hoàn thiện bộ máy cơ quan bảo vệ môi trường 77

2.5.2.2 Đạt được sự chuyển biến lớn từ phương thức làm việc, cách thức quản lý, mức độ chấp hành luật BVMT 77

2.5.3 Vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác BVMT được nâng cao 84

2.5.4 Trung Quốc trở thành một quốc gia có trách nhiệm hơn trong lĩnh vực môi trường 86

2.6 Những vấn đề còn tồn tại, cần khắc phục : 88

2.6.1 Phương diện chế định chính sách môi trường 89

2.6.2 Tính hiệu quả của việc thi hành chính sách môi trường còn chưa đầy đủ 89

2.6.3 Cách thức giải quyết tính hiệu quả của việc chấp hành chính sách môi trường còn chưa đầy đủ: 94

Trang 5

v

2.6.4 Tăng cường hơn nữa sự tham gia của quần chúng nhân dân: 96

CHƯƠNG III:TRIỂN VỌNG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TẠI TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM 98

3.1 Triển vọng sự nghiệp BVMTST ở Trung Quốc từ nay đến năm 2020 98

3.1.1 Tích cực ứng phó đối với biến đổi khí hậu toàn cầu 101

3.1.2 Tăng cường tiết kiệm và quản lý tài nguyên 105

3.1.3 Phát triển năng lượng tái tạo 108

3.1.4 Phát triển các ngành công nghệ tiên tiến 110

3.2 Vấn đề môi trường sinh thái tại Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI 113

3.2.1 Khái quát thực trạng MTST tại Việt Nam 113

3.2.2 Chính sách kinh tế xanh tại Việt Nam 115

3.3.3 Một số gợi mở từ chính sách Kinh tế xanh của Trung Quốc cho ViệtNam 117

KẾT LUẬN 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 6

ÔNMT Ô nhiễm môi trường

Trang 7

Quốc(2001-2008) 36 Bảng 2.3: Bảng thống kê lượng tiêu hao than đá và khí đốt toàn quốc

(2004-2008) 41 Bảng 2.4: Các chất ô nhiễm chủ yếu trong khí thải (2001-2008) 42 Bảng 2.5: Bảng so sánh tỷ lệ khí thải SO2 giữa các ngành nghề trong công nghiệp (2001-2008) 47 Bảng 2.6: Sự thay đổi tỷ lệ ô nhiễm của các ngành nghề giữa các năm 48 Bảng 2.7: Bảng so sánh mức độ ô nhiễm khí thải SO2 của các ngành công nghiệp (2001-2008) 48 Bảng 2.8: Các loại hình và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thoái hoá đất 53 Bảng 2.9: Bảng khái quát tình hình đầu tư trong công tác xử lý ô nhiễm môi trường (2001-2009) 61

BIỂU

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ so sánh lượng nước thải (2001-2008) 34 Biểu đồ 2.2: So sánh lượng tạp chất hoá học trong nước thải (2001-2008) 35 Biểu đồ 2.3 : So sánh lượng khí thải NH3 trong nước (2001-2008) 36 Biểu đồ 2.4: Biểu đồ năm kim loại nặng trong nước thải công nghiệp (2001-2008) 37 Biểu đồ 2.5 : Sự biến đổi khí thải SO2 qua các năm (2001-2008) 43 Biểu đồ 2.6: sự biến đổi lượng khí bụi và bụi công nghiệp qua các năm

(2001-2008) 44

Trang 8

viii

Biểu đồ 2.7 : So sánh tình hình khí thải SO2 giữa các tỉnh thành 45

Biểu đồ 2.8: so sánh tình hình khí thải NO giữa các tỉnh thành 46

Biểu đồ 2.9 : So sánh lượng bụi thải ra giữa các tỉnh thành 46

Biểu đồ 2.10: so sánh tổng lượng bụi công nghiệp giữa các tỉnh thành 47

Biểu đồ 2.11: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi mức độ ô nhiễm khí thải SO2 49

Biểu đồ 2.12 :Tình trạng khí thải SO2 trong các ngành công nghiệp (màu vàng : CN điện lực, xanh: chế tạo phi kim loại; xám: luyện kim kim loại màu; màu đỏ: các ngành công nghiệp khác) 49

Biểu đồ 2.13 :Tình trạng khí thải NO2 trong các ngành công nghiệp (màu vàng : CN điện lực, xanh: chế tạo phi kim loại; xám: luyện kim kim loại màu; màu đỏ: các ngành công nghiệp khác) 49

Biểu đồ 2.13: tình trạng bụi thải giữa các ngành 50

Biểu đồ 2.14 bụi thải công nghiệp giữa các ngành 50

Trang 9

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trong những thách thức lớn nhất mà xã hội loài người đang phải đối mặt Thông qua các biện pháp thông tin đại chúng, vấn đề bảo

vệ môi trường nói chung đã dần từng bước đi vào tâm thức mỗi cá nhân đang tồn tại trong xã hội loài người Nó như một tiếng kêu cứu, một tiếng gào thét dài để cứu lấy sự “tự nhiên” vốn dĩ của nó, và cũng chính là lời cảnh báo với những con người đang tồn tại trong xã hội này! Tại sao lại như vậy?

Môi trường sinh thái là điều kiện cơ bản của sự sinh tồn và phát triển của loài người, cũng là cơ sở của sự phát triển kinh tế xã hội Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của dân số thế giới và sự phát triển kinh tế mạnh mẽ…đã khiến cho loài người phải đối mặt với một thực tế không thể tránh khỏi – Sự xấu đi, sự ô nhiễm ngày càng sâu của môi trường: Trên thế giới diện tích rừng bị thu hẹp, ô nhiễm nguồn nước, khí độc trong không khí không ngừng gia tăng, các hoạt động phá huỷ tự nhiên cũng không ngừng gia tăng… Những điều này không thể không thu hút sự chú ý quan tâm của mỗi chúng ta Cả thế giới đang phải đối mặt với làn sóng môi trường lần 2 tính từ thập niên 50 trở lại đây Lần 1 xuất hiện vào thập niên những năm 50 – Khi đó sự ô nhiễm môi trường tại các quốc gia công nghiệp phát triển đạt đến mức độ nghiêm trọng trực tiếp uy hiếp tới sự an toàn và tính mạng của con người, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế Lần 2 xuất hiện từ đầu những năm 80, đây là cao trào thứ nhất của việc ô nhiễm môi trường và phá hoại hệ sinh thái trên diện rộng Một số vấn đề mà chúng ta quan tâm, nó ảnh hưởng nghiêm trọng trong phạm vi rộng, chủ yếu là: “Mưa axit”, sự “ phá hoại tầng ozon” và “hiệu ứng nhà kính” Những vấn đề này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh tồn và phát triển của loài người, trở thành thành vấn

Trang 10

2

đề lớn thu hút sự quan tâm của tất cả các nước trên thế giới Tháng 11/1988,

Liên hợp quốc đã mở ra hôi nghị về “biến đổi khí hậu toàn cầu” tại Humberg

Bảo về môi trường sinh thái đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia

Trung Quốc là một điển hình cho sự phát triển kinh tế nhảy vọt, tăng trưởng nóng nhiều năm Bên cạnh những thành tựu to lớn về mặt kinh tế, tài chính, văn hoá giáo dục…cũng giống như các nước khác trên thế giới, Trung Quốc cũng không tránh khỏi những hậu quả không mong muốn, chính là sự ô nhiễm môi trường sinh thái Trong bối cảnh ngày một xấu đi của môi trường sinh thái, Trung Quốc ngày càng cảm nhận sâu sắc hơn những nguy hại của việc ô nhiễm môi trường đem đến, vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái được quan tâm hàng đầu Công tác quy hoạch, quản lý bảo vệ môi trường cùng ngày một chú trọng hơn, chính sách Bảo vệ môi trường sinh thái đã trở thành chính sách cơ bản của nhà nước Trung Quốc Bởi vậy “bảo vệ môi trường sinh thái” đã trở thành một trong những hạng mục quan trọng để Trung Quốc

đạt được mục tiêu “xã hội khá giả toàn diện” vào năm 2020 Nhận thức được

tầm quan trọng của vấn đề Môi trương sinh thái, chính phủ Trung Quốc đã có nhiều biện pháp để khắc phục, xây dựng và bảo vệ môi trường sinh thái và đạt được những thành tựu cơ bản, có thể trở thành kinh nghiệm quý cho các nước

Là nước đang phát triển, lại là láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam trong quá trình phát triển cũng gặp những vấn đề MTST tương tự như Trung Quốc Những kinh nghiệm của Trung Quốc do đó rất cần cho Việt Nam, giúp Việt

Nam có thể “tìm lợi tránh hại” trong sự nghiệp BVMT Bởi vậy tác giả đã

chọn đề tài: “Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc trong

những năm đầu thế kỉ XXI”

2 Lịch sử nghiên cứu

Môi trường nói chung, môi trường sinh thái nói riêng là một vấn đề rất

Trang 11

3

“nóng” thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, tại thời điểm hiện tại ở

Việt Nam có rất nhiều bài viết về vấn đề Môi trường như: Phạm Thành

Dũng: “Môi trường sinh thái – vấn đề của mọi nhà”, Tạp chí giáo dục lí luận,

số 3/99; GS Võ Quý: “ Tác động của biến đổi khí hậu đến đa sinh dạng sinh

học ở Việt Nam – Thực trạng và một số giải pháp ban đầu”, Tạp chí Tài

nguyên và môi trường, Số 19/ 2009; Nguyễn Vũ Hoan, Trương Đình Bắc:

“Kinh nghiệm về quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường tại Trung Quốc”;

Nguyễn Hoàng Giáp, Hoài Anh: “ Ô nhiễm môi trường – thách thứ lớn đối

với Trung Quốc trước thềm thế kỉ XXI”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, Số 2

(24)/ 1999 Đại bộ phận các bài viết đều về một mặt, một khía cạnh nào đó, hoặc được nhắc đến trong các bài viết về kinh tế của Trung Quốc (Thành tựu

và thách thức) chứ chưa được khái quát, tập hợp hay phân tích một cách cụ thể và đầy đủ thực trạng, biện pháp, chính sách hay những bài học kinh nghiệm về các lĩnh vực của môi trường sinh thái Vì vậy, với đề tài luận văn này tác giả muốn có một cái nhìn khái quát đầy đủ về thực trạng ô nhiễm môi trường sinh thái tại Trung Quốc, đi sâu phân tích những thành tựu, tồn tại trong hệ thống chính sách môi trường đối với công tác BVMT tại Trung Quốc, từ đó đưa ra được những bài học kinh nghiệm mang tính vận dụng đối với Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của Luận văn là nghiên cứu vấn đề môi trường sinh thái tại Trung Quốc

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu tính cấp thiết phải bảo vệ MTST, những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ MTST, định hướng của Trung Quốc trong thời gian tới và đưa ra những gợi mở đối với Việt Nam Thời gian nghiên cứu: trong 10 năm đầu thế kỉ XXI (2000 -2010)

4 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

4

Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề chung về Môi trường sinh thái, Luận văn hướng tới đi sâu trình bày các vấn đề thực trạng cụ thể của MTST tại Trung Quốc Trên cơ sở đó đánh giá triển vọng vấn đề BVMTST của Trung Quốc trong thời gian tới và đưa ra những vấn đề gợi mở cho Việt Nam

5 Câu hỏi nghiên cứu

Từ câu hỏi tổng quát về vấn đề môi trường sinh thái tại Trung Quốc, Luận văn cụ thể hóa mục tiêu trên qua các câu hỏi sau:

Một là: Những vấn đề chung về MTST là gì?

Hai là: Thực trạng MTST tại Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỉ XXI như thế nào? Định hướng phát triển sự nghiệp BVMTST từ nay đến năm

2020 là gì?

Ba là: Từ các vấn đề của Trung Quốc sẽ gợi mở cho Việt Nam những gì?

6 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở biện chứng, áp dụng phương pháp nghiên cứu logic học, liên ngành, phân tích thống kế, đối chiếu so sánh, xử lý số liệu

7 Ý nghĩa của đề tài

Vấn đề môi trường đã và đang là vấn đề cấp bách của nhân loại nói chung, Việt Nam nói riêng, bởi vậy đề tài có ý nghĩa sâu sắc Trong 10 năm đầu thể kỉ XXI, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra những yêu cầu mới cao hơn để phát triển xã hội Nội dung quan trọng trong đó bao gồm BVMTST, dó đó chất lượng MTST được nâng lên rõ rệt, “con người được sống hòa bình với thiên nhiên” Sự vươn lên của Trung Quốc trong sự nghiệp BVMTST có thể coi là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam, chúng ta có thể học hỏi những điều tích cực và tránh né những sai lầm trong sự nghiệp BVMTST của mình

8 Kết cấu của luận văn: Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về MTST

Chương 2: Sự phát triển của sự nghiệp BVMTST trong 10 năm đầu thế

kỉ XXI

Chương 3: Triển vọng vấn đề BVMTST tại Trung Quốc và những vấn

đề gợi mở cho Việt Nam

Trang 13

5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

1.1 Khái niệm chung

“ Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội – nhân

văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ” [Bách khoa toàn thư

về Môi trường 1994]

Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên mà ở đó, cá thể, quần thể, loài có quan hệ trực tiếp hoặc

gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình [3; Tr.15]

Môi trường sinh thái là môi trường sống của các hệ sinh thái xung

quanh chúng ta Bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn nhau trong một không gian nhất định và một thời điểm nhất định thông qua các dòng tuần hoàn vật chất và dòng năng lượng Hay nói cách khác hệ sinh thái bao gồm các quần xã1

và sinh cảnh của nó

1.2 Tiêu chuẩn môi trường

Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: “Tiêu chuẩn môi trường

là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường” Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với

sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có tính đến dự báo phát

1Quần xã là một tập hợp các quần thể sinh vật cùng sống trong một vùng địa lý hay sinh

cảnh nhất định, là phần sống hay hữu sinh của hệ sinh thái Các sinh vật trong quần xã có

và hoạt động như một hệ thống mởtương tác với các yếu tố vô sinh của môi trường

Trang 14

6

triển Cơ cấu của hệ thống tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau:

Những quy định chung của tiêu chuẩn môi trường gồm có: Tiêu chuẩn

nước, (bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và ven biển, nước

thải v.v ); Tiêu chuẩn không khí (bao gồm khói bụi, khí thải (các chất thải) v.v ); Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong

sản xuất nông nghiệp; Tiêu chuẩn về bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu,

diệt cỏ; Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực vật, đa

dạng sinh học; Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hoá; Tiêu chuẩn liên quan đến môi trường do các hoạt động khai thác khoáng sản trong lòng đất, ngoài biển v.v

Sự phát triển bộ tiêu chuẩn ISO 14000 của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc

tế - ISO là một trong những kết quả cụ thể đạt được theo sau Hội nghị LHQ

về Môi trường và Phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro vào năm 1992, đã đưa vào cam kết hành động của Tổ chức ISO nhằm hỗ trợ các mục tiêu phát triển bền vững đã được thảo luận tại Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất lần đầu tiên

Về bản chất, bộ tiêu chuẩn ISO 14000 cung cấp một khuôn khổ hoạt động cho các tổ chức lớn và nhỏ, trong ngành sản xuất và dịch vụ, trong các lĩnh vực dịch vụ công và tư nhân, trong các nền kinh tế đã được công nghiệp hóa, nền kinh tế đang phát triển lẫn nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi, nhằm mục đích:

 Giảm thiểu các tác động có hại đến môi trường gây ra bởi các hoạt động của các nền kinh tế

 Đáp ứng các yêu cầu luật định

Trang 15

7

 Đạt được sự cải tiến liên tục của các kết quả hoạt động về môi trường

 Nâng cao hiệu quả kinh doanh thông qua việc sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực

Vào cuối tháng 12 năm 2009, 13 năm sau khi xuất bản phiên bản đầu tiên của tiêu chuẩn ISO 14001, trong đó đưa ra các yêu cầu đối với hệ thống quản

lý môi trường, tiêu chuẩn này đã được sử dụng và thực thi tại 159 quốc gia và nền kinh tế Đối tượng sử dụng tiêu chuẩn này bao gồm cả các tổ chức thuộc khu vực dịch vụ công và tư nhân, cả quy mô lớn và nhỏ, cả trong ngành sản xuất và cung cấp dịch vụ, và trong các nền kinh tế đã phát triển và đang phát triển

Ngoài tiêu chuẩn ISO 14001, bộ tiêu chuẩn ISO 14000 còn bao gồm 22 tiêu chuẩn khác giúp giải quyết các thách thức cụ thể như quá trình phân tích vòng đời (Life Cycle Analysis - LCA, việc dán nhãn môi trường (environmental labelling) và các loại khí nhà kính

Tiêu chuẩn ISO 14064:2006 và ISO 14065:2007 cung cấp một khuôn khổ hành động thống nhất mang tính quốc tế áp dụng cho việc đo lường mức phát thải khí nhà kính (GHG) và kiểm chứng các công bố về lượng phát thải GHG

để đảm bảo rằng "một tấn carbon luôn luôn là một tấn carbon" Nhóm tiêu chuẩn này hỗ trợ các chương trình giảm phát thải GHG và cũng hỗ trợ cho các chương trình kinh doanh quyền phát thải Ngoài sự công nhận bởi Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), các tiêu chuẩn này cũng đang được thực thi hằng ngày bởi các đối tượng sử dụng khác nhau ví dụ như một xưởng in của New Zealand, một công ty vận tải biển của

Na Uy, một công ty xây dựng của Ấn Độ và một tổ chức của Tây Ban Nha, một trong những nhà cung cấp cơ sở hạ tầng vận tải lớn nhất trên thế giới

Trang 16

8

Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là phần đóng góp rõ rệt nhất của Tổ chức ISO cho môi trường Tuy nhiên, thêm vào đó, Tổ chức ISO còn cung cấp một tập hợp phong phú các phương pháp phân tích và kiểm tra, thử nghiệm và lấy mẫu đã được tiêu chuẩn hóa nhằm giải quyết những thách thức môi trường cụ thể Tổ chức ISO đã phát triển trên 650 Tiêu chuẩn Quốc tế được sử dụng cho việc giám sát các khía cạnh ví dụ như chất lượng không khí, nước, đất và bức

xạ hạt nhân

Những tiêu chuẩn này chính là các công cụ hữu hiệu cung cấp cho doanh nghiệp và chính phủ nguồn dữ liệu có giá trị về mặt khoa học về những tác động môi trường từ các hoạt động kinh tế Những tiêu chuẩn này cũng có thể được sử dụng làm cơ sở kỹ thuật cho các quy định về môi trường Những công việc khác liên quan đến môi trường của Tổ chức ISO cũng bao gồm xây dựng các tiêu chuẩn áp dụng cho thiết kế các tòa nhà, hoặc cải tạo lại những tòa nhà nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng

1.3 Hệ thống đánh giá tác động môi trường

Theo Luật BVMT năm 1993 của Việt Nam, tại mục 11 điều 2 định

nghĩa đánh giá tác động môi trường như sau: “ Đánh giá tác động môi trường

là quá trình phân tích, đánh giá dự báo ảnh hưởng đến môi trường của dự án, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của cơ sở sản xuất- kinhdoanh, công trình kinh tế, khoa học kĩ thuật, y tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng và các công trình khác, đề xuất giải pháp thích hợp để BVMT” [5; tr82] Nội dung

cơ bản của hệ thống đánh giá tác động môi trường bao gồm các vấn đề sau:

Đánh giá: là bao gồm việc thu thập, chỉnh lý số liệu tài liệu, phân tích,

xử lý thông tin để xác định các tác động và mức độ tác động Việc đánh giá mức độ tác động phải dựa vào chuẩn mực quốc gia hoặc quốc tế

Trang 17

9

Tác động: tức là gây ra hậu quả, gây ra ảnh hưởng đối với môi trường Khi tiến hành đánh giá tác động phải xem xét xác định các yếu tố như: Loại tác động; mức độ tác động, thời gian tác động Có thể chia tác động theo các

danh mục: Ô nhiễm và MTST( tác động lên không khí,nước, tiếng ồn và mức

độ rung, mức phóng xạ, hệ động thực vật, hệ sinh thái, đa dạng sinh học….),

tài nguyên thiên nhiên( tác động lên đất nông nghiêp, tài nguyển rừng, cung

cấp nước, khoáng sản, tài nguyên biển, tài nguyên năng lượng…), môi trường

xã hội; kinh tế

1.4 Mối quan hệ giữa Môi trường sinh thái và con người – xã hội

Các loài vật sống trên trái đất đều chịu ảnh hưởng của môi trường sinh thái Chính môi trường thuận lợi đã tạo ra sự sống và các loài nhờ đó mà sinh sôi và phát triển Ngày nay xã hội càng hiện đại thì con người càng tác động nhiều đến môi trường, làm biến đổi môi trường sinh thái một cách nghiêm trọng Nếu môi trường sinh thái không được bảo vệ thì các chất thải của con người thải ra ngoài môi trường sẽ làm ô nhiễm ngay chính môi trường sống của con người

Ví dụ rác thải hóa chất của các bệnh viện, khu công nghiệp ngấm xuống đất, hoặc đổ trực tiểp ra nguồn nước, làm ô nhiễm nguồn nước rồi chính con người sẽ dùng nguồn nước đó, hậu quả là sinh ra các loại bệnh tật

Hoặc xã hội hiện đại con người sản sinh ra nhiều xe cộ, máy móc công nghiệp nên đã thải một lượng lớn các khí thải độc hại ra môi trường, làm thủng tầng ô zon (tầng khí bảo vệ trái đất), gây tổn hại tới sức khỏe con người, ngoài ra hiện tượng trái đất nóng dần lên sẽ gây hiện tượng băng tan làm cho mực nước biển dâng lên, làm thay đổi khí hậu sinh ra các thiên tai lũ lụt, tác động trực tiếp đến đời sống của con người Nói chung môi trường sinh thái luôn tác động rất lớn và trực tiếp đến đời sống của con người

Trang 18

10

Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Sự tương tác hoà đồng giữa các hệ thống của thiên nhiên tạo ra môi trường tương đối ổn định Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Chẳng hạn như nhờ hiện tượng hiệu ứng nhà kính tự nhiên mà Trái Đất dần ấm lên nhiệt độ tăng từ -15°C tới 18°C

[29], thích hợp cho nhiều loài sinh sôi nảy nở, ngày nay việc sử dụng nguyên

liệu hóa thạch làm chất đốt công nghiệp, hay chặt phá rừng bừa bãi đã sản sinh ra một lượng lớn khí CO2, CH4, CFC, hơi nước tạo thành lớp nhà kính khổng lồ bao phủ, làm Trái Đất nóng dần lên từ 1,5° đến 4,5°C (2050) nếu ko

có biện pháp khắc phục kịp thời Hậu quả là băng tan, dâng cao mực nước biển, biến đổi khí hậu, xuất hiện nhiều loại bệnh dịch mới điều kiện sống bình thường bị thay đổi, nhiều loài bị tiêu diệt vì không thích nghi được

Hoạt động của con người và xã hội được xem như một khâu, một yếu

tố trong hệ thống sinh thái Sản xuất là quá trình tất yếu của sự phát triển Con người khai thác nguồn tài nguyên có sẵn trong tự nhiên, sử dụng vào nhiều mục đích kinh tế khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình.Tuy nhiên không hoạt động sản xuất nào không tạo ra chất thải Việc phát sinh và

xả thải các chất gây ô nhiễm môi trương đang dần trở thành vấn đề toàn cầu đáng lo ngại trước hàng loạt hiện tượng như: hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thủng tầng ozon, băng tan 2 cực, mực nước biển dâng, mưa axit kéo theo các thiên tai động đất, sóng thần, mưa bão, lũ lụt hạn hán ngày càng nhiều và khó dự đoán cản trở hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt và tổn hại sức khỏe con người Chính vì thế, phát triển bền vững đất nước không đơn thuần chỉ là sự tăng trưởng GDP hằng năm, xây dựng một xã hội tiêu thụ, đặt

hệ thống kinh tế tách biệt với lợi ích cộng đồng và bảo vệ MTST vì sẽ không giải quyết nghèo đói cũng như hàng loạt vấn đề suy thoái môi trường nảy sinh

Trang 19

11

Trước hết là sự suy thoái tầng ozon: Tầng ozon là lớp khí (O3) rất dày bao bọc lấy trái đất và có tác dụng như là một cái đệm bảo vệ trái đất khỏi những tia cực tím của mặt trời, (tầng ozon đã hấp thụ 99% lượng bức xạ tia cực tím của mặt trời chiếu xuống trái đất) Tầng ozon bị suy thoái sẽ tác động mạnh đến mọi sinh vật trên trái, làm tăng thêm các bệnh tật, làm giảm khả năng miễn dịch của con người Cuối năm 1985 các nhà khoa học Anh đã phát hiện lổ thủng tầng ozon ở Nam Cực, đến năm 1988 người ta lại phát hiện ra lỗ thủng ozon ở Bắc Cực… Nguyên nhân gây ra sự suy thoái tầng ozon là do các hợp chất cacbon có chứa flo hoặc brôm Ước tính hàng năm có khoảng 788.000 tấn CFH3 (Clo-ro Cac-bon) thải vào môi trường, chất này được sử

dụng rộng rãi trong công nghệ đông lạnh và chất dung môi.[23]

Thứ hai là hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” Trái đất và khí quyển

được xem như là một nhà kính khổng lồ, trong đó trái đất có nguy cơ bị đốt nóng lên Nhiệt độ của trái đất tăng lên được gọi là hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” Nguyên nhân của hiện tượng này là do sử dụng nhiều các nguyên liệu hoá thạch, do sự giảm sút diện tích rừng xanh …, lượng khí thải độc CO2,

CH4, CFC3 vào thiên nhiên ngày càng nhiều

Thứ 3: Hiện tượng trái đất ấm dần lên:

Trong thế kỷ này, nhiệt độ của trái đất tăng lên từ 0,30C đến 0,70

C so với thế kỷ trước Các nhà khoa học dự đoán rằng đến năm 2030 nếu lượng khí

CO2 tăng lên hai lần thì nhiệt độ tăng từ 1,50C đến 4,50C.[23] Khi nồng độ

khí CO2 trong khí quyển tăng lên, một phần nhiệt độ của trái đất bốc lên gặp khí CO2 sẽ phản chiếu trở lại đốt nóng trái đất Nhiệt độ của trái đất tăng lên

sẽ làm tan khối lượng băng khổng lồ ở hai cực và làm cho mực nước biển dâng lên Mực nước biển dâng lên là nguy cơ đe doạ rất nhiều quốc gia và đời sống của hàng triệu dân trên thế giới

Thứ 4: Hiện tượng mưa Axit: gắn liền với một hiện tượng ô nhiễm

Trang 20

12

môi trường khác không kém phần nguy hiểm đó là mưa axít Trong các chất khí thải vào khí quyển, đặc biệt có SO2 và NO2 theo hơi nước bốc lên cao, chúng bị oxy hoá và thủy phân tạo thành axít, gặp lạnh mưa xuống đất Mưa axít có tác hại rất lớn đến các thế hệ sinh thái nông nghiệp, làm giảm năng suất mùa màng, có nơi còn bị mất trắng, làm giảm chất lượng cây trồng và vật nuôi, phá hoại nặng nề các cánh rừng ôn đới phía Bắc bán cầu Mưa axít còn làm ô nhiễm các đường ống nước uống và nước sinh hoạt của con người và sinh vật, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tính mạng của con người

1.5 Quan hệ giữa Môi trường và Phát triển bền vững

Môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là quá trình cải tạo và cải thiện các điều kiện đó Môi trường và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để phát triển, bảo đảm sự tồn tại và nâng cao chất lượng cuộc sống, cần phải khai thác và sử dụng TNTN Hậu quả của quá trình phát triển là sản sinh một lượng phế thải, chất độc hại làm tổn hại đến môi trường Mặt khác xu thế chạy đua với sự tăng trưởng kinh tế sẽ gây ra sự khai thác thái quá TNTN, lãng phí TNTN không tái tạo, khiến cho TNTN ngày một cạn kiệt, môi trường ngày bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng và điều đó quay lại tác động tiêu cực với con người và cộng đồng Đó là mâu thuẫn chung giữa môi trường và phát triển mà mỗi quốc gia đều phải đối mặt Một yêu cầu đặt ra đó là các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội và BVMT phải được kết hợp gắn bó với nhau trong các chương trình kế hoạch cũng như

điều hành và quản lý các mục tiêu kinh tế đó Phát triển như vậy gọi là “ phát

Trang 21

13

bền vững là sự phát triển hài hòa, nỗ lực đạt tới mục tiêu về tăng trưởng kinh tế-xã hội, phải kết hợp với mục tiêu BVMT và tiết kiệm TNTN Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định phát triển bền vững

là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: kinh tế, xã hội và BVMT Mỗi hợp phần đều phải nỗ lực thực hiện các tiêu chí để đạt mục tiêu chung là Phát triển bền vững, cụ thể như:

Về kinh tế: Giảm dần mức sử dụng năng lượng và tài nguyên; thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây tổn hại đến đa dạng sinh học và môi trường; Xóa đói giảm nghèo; Tăng cường sử dụng công nghệ sạch và công nghệ tái chế;

Sử dụng sản phẩm sinh hoạt không gây tác hại đến môi trượng

Về xã hội: ổn định tăng trưởng dân số; Phát triển cuộc sống ở nông thôn, giảm sức ép đô thị; Nâng cao dân trí; Tăng cường sự tham gia của quần chúng trong công tác ra quyết định…

Về BVMT: Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Khai thác tài nguyên hợp lý, không phá vỡ thế cân bằng sinh thái; Bảo vệ đa dạng sinh học; Giảm sử dụng các khí nhà kính, bảo vệ tầng ôzôn, giảm thiểu sự ô nhiễm các thành tố khác của môi trường

Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển xã hội loài người

Để đảm bảo một tương lai an toàn hơn, phồn vinh hơn, nhân loại chỉ có một con đường là giải quyết một cách cân đối các vấn đề về môi trường và phát triển kinh tế - xã hội Vì thế, cộng đồng quốc tế đã nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi, bàn thảo qua nhiều diễn đàn, nhiều hội nghị với nhiều chương trình

Trang 22

14

rộng hẹp khác nhau Đến tháng 6/1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển họp tại Rio dễ Janero (Braxin), có 179 nước tham

dự, đã thông qua Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững, với quan

niệm “PTBV là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con

người, những không gây tổn hại tới sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai” Sau Hội nghị Rio năm 1992, Chương trình Nghị sự 21 được triển khai

thực hiện với những mức độ khác nhau ở các nước, trong đó có Việt Nam và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện thông qua một số hội nghị cấp cao diễn ra trong 10 năm sau đó Tháng 9/2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV họp ở Johannesburg (Nam Phi) có 196 nước và tổ chức quốc tế tham dự Trên

cơ sở tổng kết, đánh giá lại 10 năm thực hiện Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững toàn cầu, Hội nghị đã bàn thảo, bổ sung, hoàn thiện

Chương trình Nghị sự 21 và đưa ra khái niệm đầy đủ, toàn diện:"PTBV là quá

trình phát triển có sư kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Từ khái niệm đó cho thấy: PTBV giống như

xây dựng một tòa nhà kinh tế - xã hội trên nền móng hệ môi trường sinh thái Tòa nhà chỉ bền vững khi cả khung nhà, mái nhà và nền móng đều vững chắc, gắn kết chặt chẽ và hài hòa với nhau

Chương trình Nghị sự 21 về PTBV toàn cầu được 179 nước tham dự Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển năm 1992 thông qua, cam kết thực hiện và Hội nghị Thượng đỉnh về PTBV toàn cầu năm 2002

có 196 nước và tổ chức quốc tế tham gia bàn thảo, bổ sung, hoàn thiện

Chương trình Nghị sự 21 về PTBV toàn cầu nêu lên những thách thức loài người đang phải đối mặt và khẳng định nguyện vọng của toàn nhân loại

Trang 23

15

mong muốn phát triển theo cách thức đảm bảo kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, xóa gói, giảm nghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

Chương trình Nghị sự 21 về PTBV toàn cầu tạo cơ sở nền tảng và đòi hỏi các nước trên thế giới cũng như Việt Nam phải xây dựng chiến lược, kế hoạch quốc gia, những chính sách và giải pháp phát triển đất nước hướng tới PTBV toàn cầu Mục tiêu tổng quát của Chương trình Nghị sự 21 về PTBV

toàn cầu mà nhân loại hướng tới là "Đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu

có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải biết kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

1.6 Sự cần thiết phải bảo vệ MTST

Thứ nhất, BVMTST để duy trì sự phát triển hài hòa giữa các nguồn tài nguyên với môi trường, xã hội và dân số Như đã nói ở trên môi trường có mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển kinh tế, xã hội Để phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên là một nhu cầu thiết yếu, song nếu khai thác và sử dụng không đúng mức sẽ mang đến nhiều hậu qủa nặng nề, do phá hoại môi trường sinh thái mang lại Nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, cũng như đời sống của con người: Nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy kiệt, chất lượng cuộc sống bị suy hại, bệnh tật gia tăng Chính vì vậy BVMTST là cấp thiết để cân bằng giữa khai thác sử dụng và bảo vệ tái tạo, đảm bảo chất lượng môi trường sống

Thứ hai, giải quyết được vấn đề môi trường vừa phù hợp với mục tiêu phát triển của một quốc gia, vừa phù hợp với lợi ích chung của nhân loại BVMTST không phải chỉ là vấn đề riêng của một quốc gia nào, nó mang tính

Trang 24

16

toàn cầu Phát triển BVMTST chính là mục tiêu chiến lược của mỗi quốc gia,

đó là sự điều hòa giữa phát triển kinh tế với sự phát triển môi trường, xã hội Đây là cơ sở tất yếu để thực hiện chính sách phát triển đất nước bền vững Mỗi quốc gia tự ý thức về trách nhiệm môi trường, giải quyết tốt vấn đề BVMTST, cũng chính là cách thể hiện trách nhiệm của mình đối với vấn đề quốc tế chung, cùng chung tay bảo vệ địa cầu, sinh sống hòa bình với thiên nhiên là mục tiêu chung của nhân loại

Thứ ba, giải quyết được vấn đề môi trường đảm bảo cho tương lai đất nước được tươi sáng Phát triển BVMTST chính là sự theo đuổi cầu thị một môi trường mới tốt đẹp hơn Thực hiện tốt công tác bảo vệ sẽ nâng cao chất lượng môi trường sống, giảm nguy cơ bệnh tật do những tác động xấu từ việc

ô nhiễm môi trường mang lại Đảm bảo được sự phát triển cân đối, ổn định kinh tế - xã hội – môi trường, thực hiện đất nước phát triển bền vững

Trang 25

17

CHƯƠNG 2

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SỰ NGHIỆP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG MƯỜI NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI

2.1 Những chủ trương chính sách của Chính phủ Trung Quốc

Đảng và Nhà nước Trung Quốc luôn luôn coi trọng vấn đề BVMT, coi trọng việc chế định chính sách môi trường đúng đắn là thúc đẩy phát triển sự nghiệp BVMT Hiện tại Trung Quốc có hai quốc sách cơ bản lớn nhất đó là

Sự nghiệp kế hoạch hóa gia đình và Sự nghiệp BVMT; hai chiến lược quan trọng là Khoa học chấn hưng quốc gia và Phát triển đất nước lâu dài Hai sự chuyển biến mang tính căn bản: một là chuyển biến cơ chế kinh tế kế hoạch truyền thống sang Cơ chế kinh tế thị trường XHCN; hai là chuyển biến phương thức tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang phương thức tăng trưởng chiều sâu Có thể nói rằng hai Quốc sách lớn, hai Chiến lược, hai sự chuyển biến mang tính căn bản đều có mối quan hệ với vấn đề BVMT

Đảng và Nhà nước Trung Quốc xác lập: Bảo vệ môi trường là một quốc sách cơ bản của Trung Quốc Phòng chống ÔNMT, phá hoại sinh thái và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý là chính sách phát triển quốc gia lâu dài, mang lại lợi ích toàn diện

Chế định: xây dựng kinh tế, xây dựng thành thị và xây dựng môi

trường cùng quy hoạch, cùng thực thi và cùng phát triển, thực hiện phương trâm chỉ đạo, thống nhất giữa hiệu ích kinh tế, hiệu ích xã hội, hiệu ích môi

Trang 26

18

thực thi pháp luật, bảo đảm tính hiệu quả thực thi của luật bảo vệ môi trường

Kiên trì đưa Bảo vệ môi trường vào trong kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Thực hiện quản lý, quy chế vĩ mô dưới sự chỉ đạo của nhà nước, đầu tư từng bước đối với công tác bảo vệ môi trường, đưa công tác bảo

vệ môi trường đặt cùng với các sự nghiệp xây dựng khác, phát triển hài hòa

Cơ quan bảo vệ môi trường cấp chính phủ, thiết lập thể chế quản lý môi trường tương đối hoàn thiện, phát huy đầy đủ tác dụng của công tác quản lý giám sát môi trường Thể chế quản lý và hệ thống luật pháp từng bước được hoàn thiện:

Trung Quốc coi trọng xây dựng pháp chế môi trường Lấy “Hiến pháp

nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” là cơ sở, lấy “ Luật Bảo vệ môi trường

nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa” là hệ thống pháp luật chủ thể Hiến

pháp Nước CHND Trung Hoa quy định: “Nhà nước bảo vệ cải thiện Môi

trường sinh thái, môi trường sinh hoạt, phòng trị ô nhiễm và mối đe dọa chung Nhà nước đảm bảo sử dụng hợp lý TNTN, bảo vệ động thực vật quý hiếm Nghiêm cấm bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào sử dụng bất kì thủ đoạn nào để chiếm và phá hủy TNTN”.[7;tr.8]

“ Luật Bảo vệ môi trường nước CHND Trung Hoa” là luật cơ bản của

luật bảo vệ môi trường Trung Quốc Theo luật xác lập phương châm cơ bản của việc phát triển hài hòa giữa Bảo vệ môi trương và xây dựng kinh tế - phát triển xã hội Quy định quyền lợi và nghĩa vụ của chính phủ các cấp, các đơn

vị và cá nhân trong công tác bảo vệ môi trường

Trung Quốc đưa ra quy định cụ thể các đối tượng Bảo vệ môi trường,

ban bố các luật cơ bản đối với các loại tài nguyên như: “Luật chống ô nhiễm

nước”, “Luật chống ô nhiễm không khí”; “Luật phòng chống Ô nhiễm chất thải rắn”; “Luật bảo vệ môi trường biển”; “Luật rừng”; “Luật ngư nghiệp”;

“ Luật khai thác tài nguyên khoáng sản”; “ Luật quản lý đất”; “Luật bảo vệ

Trang 27

19

động vật hoang dã”; “luật duy trì thổ nhưỡng”; “Luật Nông nghiệp”[9;tr.76]

Chính phủ Trung Quốc còn đưa ra hơn 30 pháp lệnh về BVMT như:

“Pháp lệnh phòng chống ô nhiễm tiếng ồn”; “Pháp lệnh khu bảo vệ tự nhiên”;

“Pháp lệnh phòng chống chất phóng xạ”; “Pháp lệnh quản lý an ninh các chất hóa học độc hại” ; “Pháp lệnh phòng chống ô nhiễm nước tại lưu vực sông”;

“Quản lý khai thác dầu mỏ”; “Quản lý chất thải dưới hải dương”; “Pháp vệ

động thực vật”;[10;tr.83] pháp lệnh xanh hóa đô thị:… Ngoài ra các cơ quan

hữu quan con đưa ra một lượng lớn các văn kiện hành chính về bảo vệ môi trường

Chỉ số môi trường là bộ phận tổ thành quan trọng trong hệ thống luật

bảo vệ môi trường của Trung Quốc, bao gồm: Chỉ số chất lượng môi trường, chỉ số ô nhiễm cơ bản các chất thải trong môi trường Chỉ số chất lượng môi trường và chỉ số ô nhiễm của các chất thải trong môi trường là chỉ số áp dụng của địa phương và của nhà nước Cuối năm 1995, nhà nước ban bố 364 chỉ số đánh giá môi trường Luật pháp Trung Quốc quy định, chỉ số đánh giá chất lượng môi trường và chỉ số ô nhiếm môi trường là những chỉ số bắt buộc, vi

phạm các chỉ số này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.[36]

Trong quá trình kiện toàn hệ thống luật môi trường, Trung Quốc luôn đặt việc thực thi luật môi trường ở vị trí quan trọng, bốn năm liên tiếp tiến hành kiểm tra việc chấp hành luật môi trường trên toàn quốc, tiến hành xử lý nghiêm khắc các vụ việc gây ÔNMT Trung Quốc luôn coi trong công tác giám sát, đưa thông tin của các phương tiện thông tin đại chúng đối với các vấn đề môi trường, đặc biệt là việc đưa tin về các hành vi vi phạm Luật môi trường, gây ÔNMT đến công chúng Do đó việc tiếp tục tăng cường xây dựng luật môi trường là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng Trong đó, Trung Quốc luôn coi trọng việc xây dựng thể chế quản lý môi trường Hiện tại đã xây dựng được cơ quan quản lý giám sát thống nhất các cấp Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc

Trang 28

20

2.1.1 Nguyên tắc cơ bản của chính sách môi trường

Áp dụng khoa học về môi trường hiện đại, tư tưởng tiên tiến về mối quan

hệ giữa con người và môi trường, Trung Quốc từng bước hình thành phương châm và nguyên tắc BVMT tương đối khoa học

Thứ nhất: nguyên tắc Môi trường – kinh tế, điều tiết xã hội, phát triển

lâu dài Nguyên tắc này là sự kết hợp giữa “nguyên tắc phát triển xây dựng

kinh tế và điều tiết BVMT”, là phương châm chiến lược, là xuất phát điểm cơ

bản của công tác Tài nguyên môi trường Trung Quốc Trung Quốc chủ trương BVMT và phát triển kinh tế, điều tiết xã hội, phát triển bền vững, phản đối “Ô nhiễm trước, xử lý sau”, phản đối hy sinh TNTN, phản đối bỏ qua các biện pháp BVMT trong trình độ phát triển kinh tế kĩ thuật, làm hạn chế sự phát triển kinh tế

Thứ 2: Nguyên tắc trách nhiệm đối với môi trường Nói một cách khái

quát về nguyên tắc này như sau: “Ai làm ô nhiễm, người đấy có trách nhiệm

xử lý”; “ai khai thác, người đó bảo vệ”; “ai phá hoại, người đó khắc phục”,

“ai lợi dụng người đó bồi thường”… “ BVMT do đích thân Đảng, Nhà nước quản lý và chịu trách nhiệm” Nguyên tắc này chính là việc quy trách nhiệm đối với người, hành vi phá hoại môi trường và cũng là một nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng trách nhiệm tương ứng của công tác BVMT “Ai làm ô nhiễm, người đó có trách nhiệm xử lý” là cốt lõi của chính sách phòng trị ô nhiễm, nó thiết lập nên trách nhiệm xử lý ô nhiễm của người gây nên ô nhiễm và cơ chế chất thải; “ Ai khai thác, người đó bảo vệ”; “ ai phá hoại, người đó khắc phục” đó chính là chính sách bảo vệ thiên nhiên và bảo vệ TNTN, nó xác định người khai thác TNTN có trách nhiệm bảo vệ , và xử lý đối việc phá hoại thiên nhiên “Ai làm chủ người đó có trách nhiệm” là chế độ quản lý môi trường Trung Quốc, đó là trách nhiệm đối với mục tiêu BVMT của cán bộ các cấp trong các cơ quan hành chính như chủ tịch tỉnh, huyện,

Trang 29

21

thành phố, thị trấn…Họ có trách nhiệm với chất lượng môi trường sống mà mình phụ trách Đó cũng là xác định chế độ chịu trách nhiệm đối với Giám đốc, chủ các công ty, doanh nghiệp…đối với môi trường

Thứ 3: Nguyên tắc phòng bị là chính, kết hợp phòng trị, kết hợp xử lý

Đây là nguyên tắc quan trọng đối với sách lược, chiến lược, con đường, biện pháp của việc phòng bị việc phá hoại, gây ÔNMT Hiện nay Trung Quốc đang đẩy mạnh quy hoạch môi trường, thúc đẩy sản xuất sạch, khống chế toàn

quá trình sản xuất và cơ chế đánh giá sự ảnh hưởng đối với môi trường

Thứ 4: Nguyên tắc môi trường dân chủ Có thể khái quát nguyên tắc

này như sau: “dân chủ xã hội chủ nghĩa”, “dựa vào quần chúng BVMT”,

“toàn dân tham gia quản lý môi trường” là nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa được quy định trong “ hiến pháp nước CHND Trung Hoa”, là biểu hiện

cụ thể của quần chúng đối với vấn đề BVMT trong khu vực mình sinh sống được quy định trong “văn kiện của ĐCS Trung Quốc”, đó là nội dung trong các luật “luật chống ô nhiễm nước”, “luật chống ô nhiễm tiếng ồn” và các quyết định của Quốc vụ viện về các vấn đề đối với BVMT” ( Năm 1996) đều

có sự tham gia quản lý của quần chúng Thực chất đó là sự thể hiện niềm tin vào vai trò của quần chúng đối với vấn đề BVMT

Thứ 5: Các nguyên tắc khác: Ngoài các nguyên tắc được nêu lên phía

trên, trong các chính sách và quy định pháp luật khác cũng quy định và thể hiện một số nguyên tắc khác: nguyên tắc kết hợp giữa khai thác sử dụng với bảo vệ cải thiện TNTN Nguyên tắc quy hoạch toàn diện và bố cục hợp lý, nguyên tắc dựa vào KHKT để bảo vệ môi trường, nguyên tắc tăng cường quản lý và pháp chế môi trường…Trong đó nguyên tắc tăng cường quản lý và pháp chế môi trường, là sự nhấn mạnh công tác quản lý giám sát môi trường

là trọng điểm của công tác BVMT, dựa vào luật pháp để quản lý giám sát môi trường

Trang 30

22

2.1.2 Đặc trưng cơ bản của chính sách MTST

Thứ nhất: Nhấn mạnh và kiên trì sự chỉ đạo của ĐCS trong công tác

BVMT Dựa theo “Hiến pháp nước CHND Trung Hoa” về việc quy định “bốn

nguyên tắc cơ bản”, chế định và thực thi chính sách môi trường của Trung

Quốc phải dựa trên cơ sở các chính sách hữu quan của Đảng Chính sách môi trường của Đảng Cộng Sản chính là chính sách môi trường quốc gia của Trung Quốc

Thứ hai: Kiên trì việc xây dựng kinh tế là trung tâm: Trung Quốc là

một quốc gia đang trong quá trình phát triển, phát triển chiếm vị trí hàng đầu, không phát triển kinh tế thì không có năng lực xây dựng và bảo vệ môi trường Trung Quốc cũng giống như một số các quốc gia đang phát triển, phát triển nhanh chóng của kinh tế rất được quan tâm Chỉ có việc phát triển kinh tế nhanh mạnh, ổn định thì mới tăng them đươc tiềm lực, mới có thể bảo vệ và cải thiện có hiệu quả môi trường “xây dựng kinh tế là trung tâm” là xuất phát điểm cơ bản của chính sách quốc gia Trung Quốc, công tác BVMT và chính sách môi trường bắt buộc phải thể hiện xuất phát điểm cơ bản này

Thứ 3: Kiên trì thực sự cầu thị: thực sự cầu thị lại là một xuất phát điểm

cơ bản của chính sách môi trường và công tác bảo vệ môi trường Trung Quốc Xuất phát từ thực tế Trung Quốc là một nước XHCN đang phát triển có nguồn dân số, tài nguyên thiên nhiên lớn; Thực sự cầu thị chủ yếu là dựa trên quy luật phát triển kinh tế xã hội, xây dựng luật môi trường sinh thái và thực hiện chính sách môi trường, triển khai công tác BVMT Hiện nay vấn đề phá hoại gây ô nhiễm và sử dụng lãng phí tài nguyên môi trường đang diễn ra rất nghiêm trọng, song trình độ văn hóa, khoa học kĩ thuật, kinh tế của Trung Quốc vẫn còn lạc hậu Đây là mâu thuẫn không thể tránh khỏi giữa việc chế định và thực hiện các chính sách môi trường, cũng tạo thành những khuyết điểm chính trong việc thực hiện chính sách môi trường

Trang 31

23

Thứ 4: Các đặc trưng khác: Ngoài những đặc trưng trên, chính sách môi

trường Trung Quốc vẫn còn nhiều đặc trưng khác với chính sách môi trường của các nước phát triển phương tây như trên phương diện trình tự ban hành và thực hiện các chính sách môi trường

2.1.3 Xây dựng hệ thống chính sách môi trường Trung Quốc

Xuất phát từ quốc sách cơ bản của vấn đề BVMT, Trung Quốc đã hình thành năm chính sách lớn dựa trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của chính sách môi trường: Kinh tế môi trường, kỹ thuật môi trường, xã hội môi trường, hành chính môi trường và môi trường quốc tế

Chính sách kinh tế môi trường: Đó là sự vận dụng biện pháp kinh tế hữu

quan, đặc biệt là chính sách đòn bẩy kinh tế để giải quyết các vấn đề môi trường, phát triển công tác môi trường, chủ yếu bao gồm: hình thức thu phí đối với chất thải ra môi trường, bồi thường môi trường sinh thái, thuế tài nguyên thiên nhiên; Chính sách ưu tiên kinh tế BVMT(như chính sách ưu tiên vay vốn, ưu đãi giá, miễn giảm thuế…); chính sách đầu tư BVMT, xây dựng kiện toàn thị trường TNTN,…Hiện nay phần nhiều quy định, luật pháp và chính sách môi trường đều có nội dung trong chính sách kinh tế môi trường như “Quy định của Quốc vụ viện về việc tăng cường công tác BVMT trong thời kì điều chỉnh nền kinh tế quốc dân” (Năm 1981); “10 đối sách lớn của Môi trường – Phát triển Trung Quốc” (năm 1992) đưa ra các quy định cụ thể đối với việc vận dụng biện pháp kinh tế để BVMT” Trung Quốc còn thiết lập một số chính sách kinh tế môi trường chuyên môn như “ biện pháp chấp hành việc thu phí thải môi trường” ( 1982), “thông báo về quy định sử dụng nguồn vốn BVMT” (1984), “thông báo của Cục BVMT quốc gia về việc vận dụng

chính sách vay tín dụng để thúc đẩy công tác BVMT” (1995)…

Chính sách kỹ thuật môi trường: Đó là những chính sách hữu quan của kỹ

thuật BVMT, bao gồm chủ yếu: yêu cầu và biện pháp, phương hướng, con

Trang 32

“ Quy định của Ủy ban BVMT của Quốc vụ viện về kĩ thuật phòng chống ô

nhiếm nước” (1986)

Chính sách xã hội môi trường: Là chính sách hữu quan giải quyết các vấn

đề xã hội và nguồn tài nguyên môi trường, bao gồm: Chính sách dân số môi trường, tổ chức xã hội môi trường, công chúng cùng tham gia quản lý môi trường, chính sách môi trường dân tộc, chính sách môi trường tôn giáo, chính sách tuyên truyền giáo dục môi trường… Hiện nay một số chính sách, quy định luật pháp của Trung Quốc có nội dung trong chính sách môi trường xã hội như: “Quyết định của Quốc Vụ Viện đối với BVMT”(1996) quy định rõ ràng: “Xây dựng cơ chế công chúng cùng tham gia, phát huy tác dụng của các đoàn thể xã hội, động viên công chúng cùng tham gia công tác BVMT, khen

thưởng cũng như xử phạt các hành vi trái với quy định luật BVMT

Trang 33

25

Chính sách hành chính môi trường: Hay còn gọi nó là chính sách

quản lý môi trường Nó bao gồm cơ chế quản lý hành chính môi trường (bao gồm điều tiết hành chính, tổ chức quản lý), chế độ quản lý hành chính môi trường, cách thức và biện pháp quản lý hành chính môi trường, quản lý hành chính đối với chất thải, đối với tài nguyên, quản lý hành chính đối với sản phẩm, đối với nguồn ô nhiễm cũ, nguồn ô nhiễm mới…Hiện nay có nhiều quy định luật pháp hay chính sách quốc gia có nội dung trong chính sách hành chính môi trường, ngoài ra còn một số văn kiện chính sách mang tính chuyên môn như: “ phương án “tam đinh” của cục BVMT quốc gia” (1994), “xây dựng biện pháp quản lý BVMT”(1986), “Biện pháp quản lý cấp giấy phép đối

với nguồn nước thải” (1988)

Chính sách môi trường quốc tế: Đây là chính sách mang tính đối ngoại, là

chính sách để xử lý các hoạt động và sự vụ quốc tế Chủ yếu bao gồm Chính sách môi trường đối ngoại, chính sách môi trường thương mại, chính sách đối với các tổ chức môi trường mang tính quốc tế, chính sách môi trường đầu tư đối với nước ngoài, chính sách giao lưu hợp tác môi trường quốc tế…

2.1.4 Xây dựng bảo vệ môi trường sinh thái

Thứ nhất, nhiệm vụ của công tác bảo vệ môi trường sinh thái: Bước sang

thế kỉ XXI, sự nghiệp bảo vệ MTST đã phát triển lên một giai đoạn mới Lấy bảo vệ làm chủ là tiền đề, Trung Quốc đã tổng hợp tất cả các vấn đề Bảo vệ, nghiên cứu, giáo dục, khai thác tài nguyên, du lịch sinh thái…trở thành một đơn

vị cơ bản quản lý khoa học tự nhiên, thực hiện chiến lược phát triển bền vững Trước mắt phấn đấu đạt được hiệu ích sinh thái tốt nhất, hiệu ích kinh tế lớn nhất, và hiệu ích xã hội hoàn hảo nhất Để thực hiện mục tiêu, việc xây dựng khu

bảo vệ sinh thái có 5 nhiệm vụ chính:

Bảo vệ môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: Đây là nhiệm vụ

đầu tiên, tiên quyết của việc bảo vệ môi trường sinh thái, cần bảo vệ tốt môi

Trang 34

và tuần hoàn vật chất giữa hệ thống môi trường và hệ thống xã hội, duy trì hiệu quả của sự cân bằng sinh thái nhân loại

Mở rộng giáo dục và nhận thức bảo vệ môi trường: Nhìn từ góc độ đối

tượng, công tác tuyên truyền bao gồm tuyên truyền giáo dục đối với cán bộ nhân viên trong các khu bảo vệ MTST và đối với cả quảng đại quần chúng; Nhìn từ góc độ nội dung, công tác tuyên truyền chủ yếu là tuyên truyền nhận thức phổ cập khoa học và tuyên truyền các chế định trong các khu bảo vệ sinh thái như điều lệ, pháp lệnh và chính sách của nhà nước Nó khiến cho mỗi cán

bộ nhân viên hiểu được giá trị khoa học của khu bảo vệ sinh thái và quan trọng hơn là nhìn thấy trách nhiệm quan trọng và rất vinh dự của mình, khiến cho mỗi cán bộ nhân viên trở thành một nhân viên tuyên truyền, một người xây dựng tự nguyện cho sự nghiệp Bảo vệ sinh thái Nó cũng khiến cho quần chúng nhân dân hiểu được ý nghĩa của bảo vệ sinh thái, và những gì tốt đẹp

mà MTST mang lại cho chúng ta, khiến cho việc bảo vệ TNTN và môi trường

tự nhiên trở thành hành động tự giác của quần chúng nhân dân Để có thể tiếp nhận các khu ảo vệ sinh thái của các nhà khoa học, cũng như thông qua khảo sát chuyên môn của các chuyên gia,và có thể phát triển khu Bảo vệ sinh thái của ngành du lịch thì trước hết cần phải có sự kết hợp của công tác tuyên truyền và công tác phục vụ, không ngừng mở rộng ảnh hưởng của khu sinh thái trong và ngoài nước, phát huy tất cả hiệu ích, công năng của khu bảo vệ sinh thái

Trang 35

27

Phát triển nghiên cứu khoa học: Phát huy tác dụng của công tác nghiên

cứu khoa học trong phát triển và xây dựng các khu bảo vệ sinh thái Độ sâu và rộng của công tác nghiên cứu khoa học đó là sự đánh dấu chủ yếu cân bằng giữa trình độ quản lý và ưu thế công tác Các khu bảo vệ sinh thái những ưu thế thực tiễn, kết hợp với những ưu thế về nghiên cứu khoa học, để nâng cao trình độ khoa học ứng dụng thực tiễn, và dựa vào thực tiễn để nghiên cứu xuất bản sách, chuyên đề…trở thành nguồn dữ liệu lí luận quý báu

Kiểm tra thường xuyên sự biến đổi môi trường sinh thái: Các hoạt động

sinh sống, sản xuất của con người đều ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Chúng ta không thể lường trước được những hậu quả về sự biến đổi MTST, chỉ có thể tiến hành kiểm tra thường xuyên lâu dài, mới có thể đưa ra kết quả những quy luật biến đổi MTST, đây là một công việc có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo vệ MTST

Khai thác hợp lý nguồn TNTN: Các đơn vị bảo vệ khu sinh thái không chỉ

đơn thuần là việc bảo vệ mà là dưới tiền đề đó để khai thác và sử dụng hợp lý nguồn TNTN Nói cách khác đó là việc đưa ra các quy hoạch, phương trâm chỉ đạo đối với việc khai thác sử dụng nguồn TNTN

Chiến lược bảo vệ MTST: Trung Quốc là một trong những quốc gia có

hệ đa dạng sinh vật phong phú, đồng thời cũng là một trong những quốc gia

mà hệ sinh thái tự nhiên đang chịu sự uy hiếp lớn nhất Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên Trung Quốc và hệ đa dạng sinh vật đang bị uy hiếp nghiêm trọng Do đó xây dựng bảo vệ sinh thái

và khu bảo vệ sinh thái là nhiệm vụ cấp thiết trong sự nghiệp phát triển kinh

tế xã hội quốc gia

Đề cương bảo vệ tự nhiên Trung Quốc: Sau khi công bố “Đại cương bảo

vệ thiên nhiên thế giới” năm 1990,Trung Quốc bắt đầu định “Đề cương bảo

vệ tự nhiên Trung Quốc” Đề cương này được lập ra năm 1983, năm 1986

Trang 36

28

được Ủy ban bảo vệ môi trường Quốc vụ viện thông qua và công bố: “Đề cương bảo vệ tự nhiên Trung Quốc” được xác định là chiến lược đầu tiên trong phương diện bảo vệ tự nhiên Nó đã thể hiện đầy đủ quan niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ được xác định và đề ra Chương 15 trong đề cương đã chỉ ra cụ thể

việc xây dựng khu bảo vệ sinh thái :

Tiến hành quy hoạch khu bảo vệ sinh thái toàn quốc

Tăng cường quản lý và xây dựng các khu sinh thái tự nhiên

Đưa việc xây dựng khu sinh thái tự nhiên vào công tác xây dựng của địa phương và nhà nước

Tăng cường quản lý và xây dựng các khu danh lam thắng cảnh

Chương trình nghị sự thế kỷ XXI của Trung Quốc: Tháng 6 năm1992,

Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc được tiến hành tại Braxin về Môi trường và Phát triển, Hội nghị đã thông qua một số văn kiện quan trọng

“Tuyên ngôn Môi trường và Phát triển”, “Chương trình nghị sự thế kỉ XXI”,

“Tuyên bố nguyên tắc về vấn đề Lâm nghiệp” và ký “Công ước khung của LHQ về vấn đề biến đổi khí hậu”, “công ước bảo vệ tính đa dạng của hệ sinh vật” Trung Quốc đánh giá cao nội dung cuộc họp lần này và cùng ký cam kết thực hiện với tất cả các quốc gia khác Tháng 7/1992 Ủy bản bảo vệ môi trường Quốc vụ viện đã quyết định: UB kế hoach quốc gia, UB khoa học kĩ thuật quốc gia, các cơ quan bộ ngành, đoàn thể xã hội đã biên tập “ Chương trình nghị sự thế kỉ XXI Trung Quốc - Dân số, môi trường và Phát triển Trung Quốc thế kỉ XXI” Qua một năm nỗ lực đã hoàn thành công tác biên tập, tháng 3/1994 thông qua sự thẩm định của Quốc Vụ Viện đã được công bố công khai Chương 14 trong “Chương trình nghị sự thế kỉ XXI Trung Quốc”

đã phân tích đồng thời tính đa dang của hệ sinh vật và hiện trạng vấn đề bảo

vệ của nó, đề ra mục tiêu “xây dựng và hoàn chỉnh mạng khu bảo tồn sinh thái quốc gia”

Trang 37

1995 được Quốc Vụ Viện thông qua

Kế hoạch hành động hệ đa dạng sinh vật học Trung Quốc: Năm 1992,

được chương trình phát triển LHQ (UNDP) và Quỹ môi trường toàn cầu

(GEF) hỗ trợ, Trung Quốc định ra “Kế hoạch hành động bảo vệ hệ đa dạng

sinh vật học Trung Quốc” Cục bảo vệ môi trường quốc gia là cơ quan đầu

não tổ chức và điều tiết biên tập “kế hoạch hành động”, trước hết là do các tổ

chức bộ ngành báo cáo, sau đó tổng kết “Kế hoạch hành động bảo vệ tính đa dạng hệ sinh vật học Trung Quốc” là một văn kiện chiến lược, có ý nghĩa

quan trọng để thúc đẩy bảo vệ hệ sinh vật đa dạng, đặc thù, phong phú “Kế

hoạch hành động” này trở thành căn cứ quan trọng để Quỹ GEF- Ngân hàng

thế giới đầu tư phát triển “ dự án quản lý khu bảo vệ sinh thái Trung Quốc”

Kế hoạch bảo vệ khu bảo vệ sinh thái Trung Quốc: Ngân hàng thế giới

thông qua “Dự án quản lý khu bảo vệ tự nhiên Trung Quốc”, hỗ trợ vốn chế định “kế hoạch bảo vệ khu bảo vệ sinh thái tự nhiên toàn quốc”, từ đó chỉ đạo

việc phát triển va xây dựng khu bảo tồn tự nhiên Kế hoạch này có thể nói là cách thức và hành động cụ thể dưới khung của các chiến lược nói phía trên

Có thể nói, Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã tập trung toàn lực để đưa

ra nhiều biện pháp, chính sách, nguyên tắc…, cơ quan quản lý BVMT từ TW đến địa phương, đó là những chính sách, biện pháp đầy đủ và toàn diện, đặt Môi trường trong tương quan đầy đủ với các nhân tố khác, có mối liên hệ và tác động tới sự phát triển của quốc gia Chính sự nỗ lực này khiến cho công

Trang 38

ở vị trí cao mà có đặc tính khô cằn của sa mạc như Takla-Makan và sa mạc Gobi

Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã giành được nhiều kết quả đáng mừng, từ năm 1979 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt trên 9%, GDP bình quân đầu người đạt 5499,71 USD (Theo báo cáo của

trung tâm thông tin Internet Trung Quốc năm 2011)[19] Nhưng mô thức tăng

trưởng truyền thống của Trung Quốc trong thời gian dài dựa vào đầu tư cao,

tiêu hao cao không thể tiếp tục kéo dài: Thứ nhất, Tỷ lệ bình quân đầu người

của Trung Quốc thấp hơn so với mức bình quân thế giới, trong quá trình phát triển những mâu thuẫn về tài nguyên không đủ như đất canh tác, nước, dầu

mỏ … ngày càng nổi bật; Thứ hai, hiệu quả sử dụng năng lượng thấp, tiêu hao

nhiều đặc biệt là trong tình hình giá cả tài nguyên không ổn định, đã thúc đẩy

Trang 39

là “vấn đề lớn” có thể đe dọa đến sự phát triển bền vững của đất nước.[7;

tr.515] Thực trạng vấn đề ÔNMT sinh thái của Trung Quốc trong những năm

đầu thế kỉ XXI được thể hiện chủ yếu của các phương diện sau: Ô nhiễm nước, Ô nhiễm không khí, Ô nhiễm đất, Sự suy giảm hệ đa dạng sinh vật, Ô nhiễm phóng xạ và Ô nhiễm tiếng ồn, song trong khuôn khổ Luận văn tác giả tập trung đi sâu phân tích ba loại ô nhiễm dưới đây: Ô nhiễm nước, Ô nhiễm không khí, Ô nhiễm đất

2.2.1 Vấn đề môi trường nước

Ô nhiễm nguồn nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lí – sinh học – hoá học của nước, với sự xuất hiện các loại chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng của các sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước đáng ngại hơn ô nhiễm đất

Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa: “ Ô nhiễm nước là sự

biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi

cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã ”[5;tr 24]

Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hoá chất độc hại, các loại

vi khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau

Trang 40

32

như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải từ các bệnh viện, các loại rác thải từ sinh hoạt bình thường của con người hay hoá chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ…sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, sông suối hoặc ngấm xuống dưới đất mà không qua

xử lý hoặc với số lượng quá lớn vượt qua khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao hồ, sông suối

Tổng lượng nước trên toàn cầu hiện nay là 1386.106 km3, bao phủ gần

¾ diện tích Bề mặt trái đất, trong đó lượng nước ngọt chỉ chiếm trên dưới 2,5% tổng lượng nước mà hầu hết tồn tại ở dạng đóng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%) còn lượng nước ngọt con người có thể tiếp cận để sử dụng

trực tiếp thì lại càng ít ỏi (chỉ chiếm 0,26 %) [1;Tr.27] Sự gia tăng dân số

cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, thâm canh nông nghiệp và thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm

vi toàn cầu Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước ở nhiều nơi và của sự xâm nhập mặn đối với khu vực ven biển Ô nhiễm nước uống là phổ biến ở các thành phố lớn, ô nhiễm nitrat (NO3) và sự tăng khối lượng kim loại nặng gây tác động đến chất lượng nước hầu như ở khắp mọi nơi Nguồn cung cấp nước sạch trên thế giới không thể tăng lên được nữa; ngày càng có nhiều người phụ thuộc vào nguồn cung cấp cố định này và càng nhiều người chịu ảnh hưởng của sự ô nhiễm hơn…Trong bản thông điệp của UNEP nhân ngày Thế giới về nước - ngày 22-3-1996 nhấn mạnh: ô nhiễm nước là một vấn đề nan giải và rộng khắp Làm cho nước bị ô nhiễm trở nên sạch là một nhu cầu

cấp bách và thiết, là trách nhiệm của mọi người, mọi chế độ xã hội[Error!

Reference source not found.; tr.17]

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS. Dương Thu Bảo (2011). Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế và điều chỉnh kết cấu kinh tế. Bộ môn nghiên cứu Kinh tế học. Trường Đảng Trung ƣơng Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế và điều chỉnh kết cấu kinh tế
Tác giả: GS. Dương Thu Bảo
Năm: 2011
2. Lê Văn Khoa (Chủ biên), Đoàn Văn Tiến, Nguyễn Song Tùng, Nguyễn Quốc Việt, Môi trường và phát triển bền vững, NXB Giáo dục 2009 3. PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, Đạo đức môi trường, Nhà xuất bản thôngtin và truyền thống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển bền vững", NXB Giáo dục 2009 3. PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, "Đạo đức môi trường
Nhà XB: NXB Giáo dục 2009 3. PGS.TS Nguyễn Đức Khiển
4. GS. Phan Duyệt (2011). Điều chỉnh và chuyển đổi Chiến lược Kinh tế đối ngoại của Trung Quốc thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính-tiền tệ.Viện nghiên cứu Chiến lược đối ngoại. Trường Đảng Trung ương Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh và chuyển đổi Chiến lược Kinh tế đối ngoại của Trung Quốc thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính-tiền tệ
Tác giả: GS. Phan Duyệt
Năm: 2011
5. PGS.TS Võ Chí Mỹ (2005), Khoa học môi trường, Bộ giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Mỏ địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học môi trường
Tác giả: PGS.TS Võ Chí Mỹ
Năm: 2005
6. GS.TS Vũ Trung Tạng, Sinh thái học- hệ sinh thái, Nhà xuất bản giáo dục VIệt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học- hệ sinh thái
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục VIệt Nam
7. Trung Quốc trước thách thức thế kỷ XXI (Biên dich theo: Trung Quốc – Thách thức nghiêm trọng của thế kỷ mới, NXB Khoa học xã hội Trugn Quốc – 2000), NXB Văn Hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trước thách thức thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Trugn Quốc – 2000)
10. Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường (tài liệu dịch của UNEP) (2011). Hướng tới nền kinh tế xanh, lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo. Báo cáo tổng hợp phục vụ các nhà Khác
11. 高甲荣,齐实主编 (2008 年), 生态环境建设规划 ,中国林业出 版社。 Khác
15. 曾贤刚(2006), 中国环境保护的四年区变 - 从松花江水污染事件 说起政策导航 (tr.10-13) Khác
16. 吴获,武春友(2006), 建国以来中国环境政策的演进分析 ,大 连理工大学学报(社会科学版)(tr.48-52) Khác
17. 周生贤(2009), 中 国特色环境保护新道路的哲学思考 ,环境科 学院所(第 22 卷第 6 期) Khác
18. 中国环境保护的现状与前景 ,党政论坛干部文摘。2008.12 Trang Web Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  môi  trường  Trung  Quốc  năm  2006”    đánh  giá  chất  lượng  nước  trong - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
nh môi trường Trung Quốc năm 2006” đánh giá chất lượng nước trong (Trang 41)
Bảng 2.2: Sự so sánh các tạp chất độc hại có trong nước thải Trung - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Bảng 2.2 Sự so sánh các tạp chất độc hại có trong nước thải Trung (Trang 44)
Bảng 2.4: Các chất ô nhiễm chủ yếu trong khí thải  (2001-2008) - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Bảng 2.4 Các chất ô nhiễm chủ yếu trong khí thải (2001-2008) (Trang 50)
Bảng 2.5: Bảng so sánh tỷ lệ khí thải SO 2  giữa các ngành nghề trong công - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Bảng 2.5 Bảng so sánh tỷ lệ khí thải SO 2 giữa các ngành nghề trong công (Trang 55)
Bảng 2.7: Bảng so sánh mức độ ô nhiễm khí thải SO 2  của các ngành công - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Bảng 2.7 Bảng so sánh mức độ ô nhiễm khí thải SO 2 của các ngành công (Trang 56)
Bảng 2.6: Sự thay đổi tỷ lệ ô nhiễm của các ngành nghề giữa các năm - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Bảng 2.6 Sự thay đổi tỷ lệ ô nhiễm của các ngành nghề giữa các năm (Trang 56)
Bảng 2.8: Các loại hình và  nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thoái hoá đất - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Bảng 2.8 Các loại hình và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thoái hoá đất (Trang 61)
Bảng 2.9:  Bảng khái quát tình hình đầu tƣ trong công tác xử lý ô nhiễm - Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Bảng 2.9 Bảng khái quát tình hình đầu tƣ trong công tác xử lý ô nhiễm (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w