1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo cứu văn bản Du hiên thi thảo của Bùi Văn Dị.PDF

142 497 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những bậc thi nhân, văn sĩ đã từng cầm bút, có rất nhiều tác phẩm của họ còn được lưu giữ lại và trở nên quen thuộc người đời sau nhưng cũng có không ít tác phẩm của những con n

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu 6

2.1 Các công trình thư mục học, từ điển 7

2.2 Một số sách có tính chất giới thiệu, điểm qua hoặc tuyển chọn và trích dẫn một số tác phẩm trong các sáng tác của Bùi Văn Dị 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Những đóng góp của luận văn 11

6 Bố cục của đề tài 11

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 13

1.1 Thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị 13

1.1.1 Tiểu sử Bùi Văn Dị 13

1.1.2 Trước tác của Bùi Văn Dị 21

1.2 Tổng quan tình hình văn bản Du Hiên thi thảo 27

Chương 2 50

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ TÁC PHẨM DU HIÊN THI THẢO 50

2.1 Giá trị về nội dung của tác phẩm 50

2.1.1 Du Hiên thi thảo thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân và ý chí căm thù giặc của nhà chí sĩ họ Bùi 50

2.2.2 Du Hiên thi thảo là lời ca về tình yêu thiên nhiên của nhà thơ 64

Trang 2

2.2.3 Giá trị sử liệu và những hạn chế trong nội dung tư tưởng của tác

phẩm 73

2.2 Giá trị nghệ thuật của Du Hiên thi thảo 82

2.2.1 Thể thơ 82

2.2.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 90

2.3.3 Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố 95

KẾT LUẬN CHUNG 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 105

TÀI LIỆU CHỮ HÁN CỦA TÁC GIẢ 107

TỪ ĐIỂN 108

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong nền văn học của dân tộc Việt Nam, văn học viết bằng chữ Hán chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Trong suốt khoảng thời gian kéo dài hàng nghìn năm, chữ Hán được sử dụng như một loại văn tự quốc gia Chữ Hán đã được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực đời sống như chính trị, văn hóa, khoa học,

xã hội, lịch sử, và cũng chính là công cụ để các bậc thi nhân, văn sĩ ghi lại cảm xúc của mình Chính vì vậy, ngày nay chúng ta đã được thừa hưởng một kho tàng văn hóa thành văn vô giá được ghi chép bằng chữ Hán do ông cha để lại Trong đỉnh cao của nền văn học trung đại đó, chúng ta đã rất quen thuộc với những tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, , Nguyễn

Du, v.v ; đến các vị vua say mê văn học như Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Minh Mạng, Tự Đức Trong số những bậc thi nhân, văn sĩ đã từng cầm bút, có rất nhiều tác phẩm của họ còn được lưu giữ lại và trở nên quen thuộc người đời sau nhưng cũng có không ít tác phẩm của những con người tài hoa vẫn chưa được biết đến, đó vẫn là những vấn đề còn bỏ ngỏ, là những mảng màu còn trống trong bức tranh toàn cảnh của nền văn học Việt Nam đang cần được các nhà nghiên cứu, tìm hiểu, khai thác và khám phá Những tác phẩm thi ca của Tiến sĩ Bùi Văn Dị là một trong những trường hợp như thế Tên tuổi của ông thường

được biết đến như một một vị quan thanh liêm có lòng yêu nước thương

dân Tấm gương hiếu học và yêu nước của ông như một dấu son trong danh sách những nhà khoa bảng của mảnh đất Hà Nam nói riêng, nước Việt Nam nói chung, nhưng người đời sau ít người biết đến ông còn là một nhà thơ tài hoa, uyên bác Trong cuộc đời 29 năm làm quan (1866-1895) của ông đã trải 7 đời vua (Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái), ông luôn được đánh giá cao và nắm giữ nhiều vai trò quan trọng trong triều đình Dựa trên tài năng thơ văn và công lao của ông, Bùi Văn Dị được đặc cách nhận học vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1865) Xuất phát từ một trái tim ưu thời

Trang 4

mẫn thế và một tâm hồn nhạy cảm với cuộc sống, ông đã sáng tác rất nhiều thơ

ca Những tác phẩm của ông được tập hợp trong các tập thơ, tùy bút như: Du Hiên thi thảo 輶軒詩草, Tốn Am thi thảo 遜庵詩草, Tốn Am thi sao 遜庵詩抄, Trĩ Chu thù xướng tập 雉舟酬唱集, Nhưng do điều kiện lịch sử, mãi đến

những năm đầu thế kỉ XX, một số tác phẩm của ông mới được dịch và trích dẫn trong một số sử sách viết về lịch sử, văn học, tư tưởng triều Nguyễn Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về con người, sự nghiệp

và giá trị các tác phẩm của ông Đó cũng chính là lí do chính khiến chúng tôi lựa chọn tác phẩm của ông làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài Tuy nhiên, trong khuôn khổ, phạm vi của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi không thể tham vọng

giới thiệu hết được những trước tác của tác giả mà chỉ Nghiên cứu văn bản Du Hiên thi thảo - một trong những tập thơ tiêu biểu của ông Việc lựa chọn đề tài

này không chỉ phù hợp với mã ngành đào tạo Hán Nôm mà đề tài nghiên cứu thành công sẽ trở thành một nguồn tư liệu tham khảo quan trọng cho những ai quan tâm đến vấn đề tác phẩm, giá trị nội dung tư tưởng, văn bản của tác giả, cũng như góp phần tìm hiểu diện mạo thơ văn, lịch sử triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng và đầy biến động trong lịch sử Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu

Đối với bất kì một công trình nghiên cứu nào, việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, từ đó tổng kết những giá trị và hạn chế của việc nghiên cứu trước khi đưa ra những kiến giải của bản thân người nghiên cứu là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết

Như chúng ta đã biết, Bùi Văn Dị là một nhà nho, được đào tạo chính quy, theo con đường khoa bảng Ông đỗ đạt cao (đỗ cử nhân năm Ất Mão, niên hiệu

Tự Đức năm thứ 8 (1855), và thi đỗ Phó bảng năm Ất Sửu (1865), được trúng cách làm Tiến sĩ trong khoa thi này) Tài năng thơ ca của ông được vua Tự Đức

ban lời khen tặng: 狀元宰相以安排了 “Trạng nguyên Tể tướng dĩ an bài liễu”

(Tài Trạng nguyên Tể tướng đã định sẵn rồi), ông trở thành người bạn luôn cùng

Trang 5

đàm luận thi ca với đức vua Những tác phẩm thi ca của ông được trích dẫn và in

trong nhiều tác phẩm văn học đương thời như: 表 詔 賦 合 選 Biểu chiếu phú hợp tuyển, 舉業詩集 Cử nghiệp thi tập, 諸名家詩 Chư danh gia thi, 外 國 來 文

Ngoại quốc lai văn tập, 國 朝 名 人 墨 痕 Quốc triều danh nhân mặc ngấn,

詩歌雜編 Thi ca tạp biên, 詩討雜編 Thi thảo tạp biên…Tuy nhiên, cho đến

ngày nay, theo tìm hiểu của chúng tôi, tên tuổi và các tác phẩm của ông mới chỉ được chọn dịch và giới thiệu một cách sơ lược trong một số tác phẩm Có thể chia các loại tài liệu đề cập đến Bùi Văn Dị và các tác phầm của ông thành hai loại: Các công trình thư mục học, từ điển và một số sách có tính chất giới thiệu, điểm qua hoặc tuyển chọn và trích dẫn một số tác phẩm trong các tập thơ của Bùi Văn Dị

2.1 Các công trình thư mục học, từ điển

- Di sản Hán Nôm Việt Nam- Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa - Francois

Gros, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Tác phẩm giới thiệu khái quát về Bùi Văn Dị, các bút danh và các sáng tác của ông, bao gồm tập văn xuôi

Du hiên tùng bút – tập văn xuôi ghi chép những thắng cảnh trên đường đi sứ Yên

Kinh, những di tích, danh lam thắng cảnh của Việt Nam Trong đó còn có hai bài văn bia phân định địa giới giữa Việt Nam và Trung Quốc

Phần giới thiệu về tập thơ Du hiên thi thảo chủ yếu điểm qua về kí hiệu

văn bản, đồng thời khái quát về tình hình văn bản của tác phẩm hiện được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm (trang 35 - 36)

- Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam),

Trần Văn Giáp, Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội 1984, Giới thiệu sơ lược về tên tuổi, quên quán, chức danh, bút danh và các tác phẩm của Bùi Văn Dị (trang 283 – 284)

Trang 6

- Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá

Thế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1991 Viết khái quát về tác giả Bùi Văn Dị

và các sáng tác của ông (trang 45- 46)

- Tên tự, tên hiệu các tác gia văn học Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh, Nhà

xuất bản Khoa học xã hội, 2002, Giới thiệu về tác giả Bùi Văn Dị, tên tự, tên hiệu và các tác phẩm của ông (ở các trang 13, 67, 142, 253, 854)

- Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam (Hội Khoa học lịch sử Việt Nam), Trần Hồng Đức (chủ biên),

Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2003, (trang 187)

- Khoa bảng Thăng Long Hà Nội qua mộc bản triều Nguyễn (Cục văn thư

và lưu trữ Nhà nước, Trung tâm lưu trữ quốc gia IV), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2009 (trang 457)

- Mộc bản triều Nguyễn – Đề mục tổng quan (Cục văn thư và lưu trữ Nhà

nước, Trung tâm lưu trữ quốc gia IV), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2009, ghi chép rất cụ thể các chức vụ của Bùi Văn Dị trong triều đình nhà Nguyễn qua các triều vua, như Quang Lộc tự khanh, Sung biện Các vụ, …(trang 891)

- Từ điển văn học Việt Nam, Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (biên

soạn), Nhà xuất bản Giáo dục, 1994 Tác phẩm giới thiệu sơ lược về tác giả văn học Bùi Văn Dị (trang 35 - 36)

- Từ điển văn học (bộ mới), Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), cùng các soạn giả

Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Nhà xuất bản thế giới, 2004 Trong công trình này đã có những đánh giá khái quát khá xác đáng và có phần chi tiết về bản thân con người và các sáng tác của tác giả Bùi Văn Dị Trong đó

có đoạn viết: “Bùi Văn Dị là nhà thơ sáng tác trên mọi nẻo đường công cán, trong nhiều cương vị, công chức khác nhau Trong thời gian đi sứ ở Trung Quốc,

ông có Vạn lí hành ngâm, (Ngâm vịnh trên con đường vạn dặm) Trong Bùi Văn

Dị, con người chức năng không hề che lấp con người thi nhân Ông hầu như rất

Trang 7

ít làm những bài thơ về thuyết giáo, về đạo trung hiếu, về nghĩa vụ bề tôi, về nghĩa vụ với xã tắc, nghĩa là những bài về thuyết lí khô khan, trái lại, thơ ông vang lên âm ba của cuộc sống thật….” (trang 183)

2.2 Một số sách có tính chất giới thiệu, điểm qua hoặc tuyển chọn và trích dẫn một số tác phẩm trong các sáng tác của Bùi Văn Dị

- Những công trình thuộc nhóm này hiện nay còn rất ít Qua tìm hiểu được của chúng tôi, hiện nay, các công trình có tuyển chọn, biên dịch và trích dẫn các tác phẩm này chỉ được giới thiệu qua một số các tác phẩm sau:

- Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh, Hội văn học nghệ thuật

Hà Nam Ninh, gồm hai tập, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981 Trong công trình này, các soạn giả có khái quát tên tuổi, quên quán, chức vụ và trích dẫn một số các sáng tác của 14 tác gia văn học Việt Nam nổi tiếng người Hà Nam Ninh Phần viết về tác giả Bùi Văn Dị từ trang 123 đến 125 Các bài thơ

được tuyển dịch và giời thiệu trong tác phẩm này chủ yếu thuộc hai tập Du Hiên thi thảo và Tốn Am thi sao

- Thơ văn yêu nước Hà Nam Ninh (1958 - 1990), Nguyễn Văn Huyền (chủ

biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1982 Trong công trình này cũng giới thiệu

sơ lược về tên tuổi, quê quán, bút danh và trích dẫn một số bài thơ trong các sáng tác của Bùi Văn Dị

- Tuyển tập thơ văn Việt Nam (giai đoạn 1858 - 1920), Huỳnh Lý (chủ

biên), Nhà xuất bản Văn học, năm 1985,

- Tổng tập văn học Việt Nam, (42 tập), Nhà xuất bản khoa học xã hội,

2000 Trong đó, tập 19 của bộ sách này có giới thiệu sơ lược về tác giả tác phẩm

và tuyển dịch một số bài thơ tiêu biểu trong các sáng tác của ông

Nhìn chung, có thể thấy, tất cả những công trình nghiên cứu trên, phần lớn chỉ giới thiệu một cách sơ lược vể tác giả, quê quán, các bút danh, chức danh và các sáng tác của ông, đồng thời trích dẫn một số bài thơ tiêu biểu để làm rõ

Trang 8

những nhận định mà người viết đánh giá về Bùi Văn Dị Cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về tác giả, các sáng tác của ông Đặc

biệt là về vấn đề văn bản của Du Hiên thi thảo - một trong những sáng tác quan

trọng thể hiện tâm tư, tình cảm của một nhà nho yêu nước trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược Đó cũng chính là một hạn chế đáng kể trong việc nghiên cứu nền văn học chữ Hán của Việt Nam thời trung đại nói chung và vấn đề nghiên cứu thi ca triều Nguyễn nói riêng Do vậy, chúng tôi chọn đề tài

Khảo cứu văn bản Du Hiên thi thảo của Bùi Văn Dị làm luận văn nghiên cứu

tốt nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khi nghiên cứu một vấn đề, việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó góp phần định hướng cho đề tài trong suốt quá trình giải quyết vấn đề

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là văn bản 輶 軒 詩 草 Du Hiên thi thảo được lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm với 7 dị bản: A 2554, A.355,

A.1441, VHv.1127, VHv.1128, VHv.1993, VHv.248

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thân thế và sự nghiệp tác gia Hán Nôm Bùi Văn Dị và những bài thơ của ông được chép trong tập 輶 軒 詩 草

Du Hiên thi thảo, từ đó bước đầu nghiên cứu giá trị thơ của Bùi Văn Dị trong

nền thơ ca Việt Nam nói chung và thời Nguyễn nói riêng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong

đó tiêu biểu như:

Phương pháp văn bản học nhằm sưu tầm, phân loại, đối chiếu, so sánh để chọn ra bản đáng tin cậy nhất Kết hợp một số phương pháp phương pháp hỗ trợ như thống kê định lượng, phương pháp nghiên cứu văn học sử và những thao tác

Trang 9

nghiên cứu chung trong nghiên cứu khoa học xã hội liên ngành,… để giải quyết các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài

5 Những đóng góp của luận văn

1 Giới thiệu tóm tắt những thư mục, từ điển, các công trình nghiên cứu có

đề cập đến vấn đề tác giả và các sáng tác của tác gia Hán Nôm Bùi Văn Dị

2 Chỉ ra các vấn đề về văn bản học, giải quyết một phần các vấn đề đó, đóng góp cho công tác văn bản học Hán Nôm nói chung

3 Nghiên cứu toàn diện về thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị

4 Lần đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu mảng thơ chữ Hán của Tiến sĩ

Bùi Văn Dị được chép trong 輶 軒 詩 草 Du Hiên thi thảo

5 Thông qua khảo sát, thống kê và phân tích số liệu văn bản, luận văn

bước đầu tìm hiểu giá trị thơ của Tiến sĩ Bùi Văn Dị được chép trong Du Hiên thi thảo

6 Gợi mở những vấn đề khoa học cho những nghiên cứu chuyên sâu về

tác giả, các trước tác của Bùi Văn Dị nói chung và tác phẩm Du hiên thi thảo nói

riêng

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của đề tài gồm 2 chương:

Chương 1: Bùi Văn Dị và tác phẩm Du Hiên thi thảo

1.1 Thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị

1.1.1 Tiểu sử Bùi Văn Dị

1.1.2 Trước tác của Bùi Văn Dị

1.2 Tổng quan tình hình văn bản Du Hiên thi thảo

Trang 10

- Mô tả các dị bản: Tác phẩm 輶 軒 詩 草 Du Hiên thi thảo ở Viện nghiên cứu

Hán Nôm có các dị bản mang kí hiệu: A 2554, A.355, A.1441, VHv.1127, VHv.1128, VHv.1993, VHv.248

- Đối chiếu, so sánh giữa các dị bản

1.3 Chọn bản đáng tin cậy để công bố

1.4 Hoàn cảnh sáng tác và niên đại tác phẩm

* Tiểu kết

Chương 2: Tìm hiểu giá trị tác phẩm Du Hiên thi thảo

2.1 Giá trị về nội dung của tác phẩm

2.1.1 Du Hiên thi thảo thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân và y chí

căm thù giặc của Bùi Văn Dị

2.1.2 Du Hiên thi thảo là lời ca về tình yêu thiên nhiên của nhà thơ

2.1.3 Giá trị sử liệu và những hạn chế trong nội dung tư tưởng của tác phẩm

2.2 Giá trị nghệ thuật của Du Hiên thi thảo

- Phiên âm và dịch nghĩa một số bài thơ trong Du hiên thi thảo 輶 軒 詩 草

- Nguyên bản chữ Hán, bản photocopy tác phẩm Du hiên thi thảo 輶 軒 詩

草, bản kí hiệu VHv.1128

Trang 11

Chương 1

BÙI VĂN DỊ VÀ TÁC PHẨM DU HIÊN THI THẢO

1.1 Thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị

1.1.1 Tiểu sử Bùi Văn Dị

Tên tự, tên hiệu và quê quán

Bùi Văn Dị 裴文異(1833 - 1895), còn được gọi là Bùi Dị 裴異, tự: Ân Niên 殷年, các tên hiệu của ông bao gồm: Tốn Am 遜 庵, Du Hiên 輶 軒, Hải Nông 海農, Châu Giang 珠江… Ông là nhà thơ, nhà giáo và là một đại thần trải

7 đời vua Nguyễn: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái trong lịch sử Việt Nam

Trước đây, có một thời, danh tính và quê quán của tác giả còn đặt ra nhiều câu hỏi cho các nhà nghiên cứu Nhân dân địa phương chỉ biết có ông sứ Dị, còn ở các nơi khác, người ta thường gọi ông là Bùi Dị, Bùi tướng Trong chính sử triều Nguyễn, chỉ thấy có ghi là Bùi Ân Niên Các sách về khoa cử chép là Bùi Văn Dị Trong thơ của tác giả có chỗ đề là Tốn Am, Có khi kí là Châu Giang, có khi ghi là Hải Nông…Về quê quán, có chỗ ghi là huyện Kim Bảng, có chỗ ghi là huyện Thanh Liêm Còn cái tên làng Châu Cầu có chăng chỉ còn lại trong kí ức của những người già cả, các bậc tiền bối

Thực ra, Bùi Văn Dị mới là tên chính thức, tên gốc của ông Khi ra làm quan, vì kiêng quốc húy nên mới dùng tên chữ Ân Niên làm danh xưng (tên này

do vua Tự Đức đặt cho ông) Vì vậy, trong chính sử triều Nguyễn mới nhất loạt đều ghi theo tên này Việc ghi các tên tự của Bùi Văn Dị cũng luôn gắn liền với đức tính và các chặng đường trong cuộc đời của ông Vốn là con người luôn khiêm tốn, và trong tâm niệm, ông cũng luôn đề cao, coi trọng đức tính này nên ông lấy tên hiệu là Tốn Am Sinh ra ở làng Châu Cầu, bên cạnh bờ sông Châu hiền hòa, nên ông lấy tên hiệu khác là Châu Giang Tên hiệu này thể hiện tình cảm gắn bó với làng xóm, quê hương của Bùi Văn Dị Người dân nơi đây vẫn

Trang 12

gọi ông với cái tên thân thuộc “ông sứ Châu Cầu” Khi đất nước đã bị thực dân Pháp xâm lược, ông bỏ quan, tỵ địa ở xã Hải Quật (huyện Yên Định, Thanh hóa) Ở đây, ông cày cấy sinh nhai, vì vậy còn có hiệu là Hải Nông

Làng Châu Cầu xưa kia nằm trên đường thiên l‎í từ Huế ra Thăng Long, là nơi giao nhau của ba con sông: sông Đáy, sông Nhuệ và sông Châu, lại là nơi địa đầu của hai huyện là Kim Bảng và Thanh Liêm Vào những năm 90 của thế kỷ XIX, đất này được chuyển đổi thuộc huyện Thanh Liêm, sau đổi thành đất của thị xã Phủ Lý, nay là đất của thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam Do vậy khi tìm hiểu về quê quán và tên tự, tên hiệu của Bùi Văn Dị đã gây ra không ít những băn khoăn cho những người làm công tác nghiên cứu

Nguồn gốc gia đình, dòng họ

Tổ tiên của họ Bùi, quên gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín (nay thuộc thành phố Hà Nội) Đến cuối thời Lê mới chuyển về Hà Nam Đến Bùi Văn Dị đã được sáu đời Tuy không thuộc dòng dõi danh gia thế phiệt, song đến đời thứ hai, khi ông rời về Châu Cầu, trong dòng họ đã có người giữ một chức quan võ nhỏ dưới thời Lê Đến đời thứ 3 dưới triều Nguyễn, đã có người làm huyện thừa Các đời về sau, trong dòng họ đều có người theo con đường Nho nghiệp Cha của Bùi Văn Dị là Bùi Văn Hy đã đỗ tú tài

Thời niên thiếu

Bùi Văn Dị sinh ngày 17 tháng 5 năm 1833 (tức ngày 28 tháng 3 năm Qu‎y Tỵ), tại quên nhà Ngay từ thủa thiếu thời, chàng thanh niên họ Bùi này đã bộc lộ

rõ tư chất thông minh, trí nhớ tốt Năm 13 tuổi đã vượt qua được kỳ thi khảo hàng xứ để lều chõng đi dự thi Hương Những mẫu chuyện về sự thông minh, hiếu học của cậu bé họ Bùi còn được các cụ trong làng kể cho con cháu nghe như một tấm gương sáng về đạo hiếu học của quê nhà

Đỗ đạt và chặng đường làm quan

Trang 13

Hai khoa thi năm 1850 và 1852, Bùi Văn Dị đều đỗ Tú tài khi ông mới 18

và 20 tuổi Đến năm 1855, thi đỗ Cử nhân Năm 1865, mới vào Huế dự thi Hội, đạt học vị Phó bảng cùng người em họ là Bùi Văn Quế Người đương thời có đôi câu đối mừng họ Bùi còn được truyền tụng đến ngày nay:

Sau khi thi đỗ, ông lần lượt được bổ làm Tri huyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang Sau một thời gian về quê cư tang, năm

1771, ông được tiến cử vào Nội các

Ngay khi ông mới ra làm quan, năm 1867, quan Pháp đã đánh chiếm được

cả Nam kỳ Đến năm 1873, lại kiếm cớ gây hấn xâm lược Bắc kỳ Tự Đức chọn một số quan chức người Bắc như Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Thượng Phiên, Bùi Văn Dị… vốn quen thuộc với phong thổ đất Bắc phối hợp với các quan lại

Trang 14

địa phương để giải quyết các vụ rắc rối Lúc này, quân Pháp lực lượng còn mỏng, không dám manh động Ngày 15 tháng 3 năm 1874, sau hiệp ước Giáp Tuất (còn gọi là hiệp ước Philastre), quân Pháp buộc phải rút quân đội ra khỏi bốn tỉnh Bắc kỳ Bùi Văn Dị được cử làm Án sát Ninh Bình, cùng với Bố chánh Đặng Văn Huấn tiếp quản tỉnh này

Năm sau, tức năm 1875, ông được rút về triều và tăng chức Quang lộc tự khanh, lại sung vào Nội các Năm ấy, mở thi Hội, thi Đình, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Văn Tường được cử làm Độc quyển Trần Văn Chuẩn cùng Bùi Văn Dị làm Duyệt quyển Khoa thi đó chọn được 11 Tiến sĩ Trong đó, có hai người sau này là những nghĩa sĩ nổi tiếng của phong trào Cần vương là Tống Duy Tân và

Vũ Hữu Lợi (con rễ thứ hai của Bùi Văn Dị)

Đến năm 1876, đến kì tuế cống nhà Thanh, tuy chức hàm của ông lúc này còn thấp, song do nhiều năm làm ở Nội các, nhiều lần tháp tùng vua Tự Đức đi

du ngoạn, cùng nhà vua xướng họa, vua Tự Đức biết tài thơ văn của ông nên thăng chức Thị lang Bộ Lễ, được cử làm Chánh sứ cùng hai Phó sứ là Lâm Hoàng và Ngô Cát đi sứ Yên Kinh Trong chuyến đi này, Chánh sứ Bùi Văn Dị

đã gây được sự khâm phục của một số quan lại nhà Thanh Viên quan nhị phẩm Nghê Mậu Lễ được cử đi hộ cống đã nhận xét: “Sứ thần Việt Nam là Tôn bá Châu Giang – Bùi Văn Dị là một con người thung dung, phong nhã khó ai bằng Ngoài lúc bút đàm ra, nghe giọng nói thanh cao, biết rằng sự am hiểu về lễ, nhạc

Trang 15

bạc – một cơ quan chuyên giao thiệp với Pháp và trông coi các thuyền buôn qua lại

Năm 1882, quân Pháp lại mở rộng đánh chiếm Bắc kỳ Đầu tiên, chúng đánh chiếm thành Hà Nội Tổng đốc Hoàng Diệu tử tiết cùng thành Bùi Văn Dị

đã dâng sớ cực lực phản đối xu hướng nhân nhượng Pháp và thể hiện chí khí quyết tâm, cương quyết đánh Pháp Những tâm tư, tình cảm của ông trong thời

gian này thể hiện rất rõ trong tập thơ Du Hiên thi thảo Song phải đến khi giữ

chức Khâm sai Phó kinh lược sứ Bắc kỳ, dẫn một đội quân nhỏ đi kiểm tra, đôn đốc tình hình quan binh ở các tỉnh, phối hợp tổ chức phòng thủ Ngựa ông rong ruổi ở nhiều tỉnh Trung du và đồng bằng xung quanh Hà Nội, từ Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên đến Bắc Ninh, Sơn Tây Ông đã trực tiếp tham ra trận đánh trong hai ngày 27 và 28 tháng 3 năm 1883, chặn quân Pháp lấn

ra ngoại vi Hà Nội

Khi quân Pháp ở Hà Nội, chúng đã chia một bộ phận đánh chiếm Nam Định, Bùi Ân Niên cùng với Trương Quang Đản – Tổng đốc Bắc Ninh chọn vài đạo quân tinh nhuệ đi ứng cứu Nam Định Trong trận giao tranh này, ông cùng với quân lính đã chiến đấu hết sức anh dũng, lập được chiến công và giết được gần ba chục tên địch Sau trận này, Bùi Văn Dị được thưởng quân công và một đồng tiền vàng Đồng thời, được cử làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh Tháng 10, ông có chiếu được cử đi làm tổng đốc Ninh – Thái (Bắc Ninh – Thái Nguyên), nhưng một phần vì ông mang bệnh nặng, một phần vì phải bãi binh, ông xin từ dịch về quê dưỡng bệnh

Cơn bạo bệnh đó đến với ông không chỉ vì phải lăn lộn, vất vả ngoài chiến trận mà còn vì một nỗi mất mát, đau thương quá lớn, đó là việc vua Tự Đức đột ngột mất đi giữa lúc đất nước đang trong cơn rối loạn, nguy cấp Trong triều đình diễn ra cảnh 四月三王 “tứ nguyệt tam vương” (Bốn tháng ba vua – Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc) Pháp nhân cơ hội đất nước rối ren đánh úp vào

Trang 16

Thuận An, uy hiếp kinh đô Huế Triều đình phải kí hiệp ước Harmand với những điều khoản vô cùng nghiệt ngã Theo hiệp ước này, Nam kỳ là thuộc địa, Trung

kỳ và Bắc kỳ là sứ bảo hộ của thực dân Pháp Nam triều phải gọi về toàn bộ số quân đã gửi ra Bắc Kỳ và đình chỉ mọi hoạt động quân sự Việc này đã khiến cho ông suy sụp tinh thần đến phát bệnh Ông đã lấy cớ đó để từ chối nhận Tổng đốc Ninh – Thái

Tưởng như ông đã về quê ở ẩn, tránh xa mọi thế sự, nhưng tấm lòng ưu thời mẫn thế của một nhà Nho vẫn canh cánh bên lòng tấm lòng với nước non

Trong Đại Nam thực lục còn ghi chép rõ: Năm đầu Kiến Phúc (1884), ông được

triệu về kinh làm Tả Tham tri Bộ Lại Khi mở kinh diên ở điện Vũ Hiển, Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật sung làm Giảng quan, Bùi Văn Dị sung làm “nhật Giảng quan” (thường trực giảng dạy hàng ngày) để giảng dạy sách vở cho vua Kiến Phúc [7, tr21]

Khi vua Hàm Nghi lên ngôi, ngày 6 tháng 6 năm 1884, ông làm Tả Tham tri Bộ Lại, kiêm sung Biện sự vụ Viện Cơ mật vì được coi là “người am luyện” [7, tr22] Đáng lưu ý, đây là thời gian mà phe chủ chiến trong triều đình Huế, chủ chốt là bộ ba nhân vật trong Viện cơ mật là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật chia nhau cầm đầu các bộ quan trọng trong triều đình đó là Bộ Lại (tổ chức), Bộ Binh (quân sự), và bộ Hộ (kinh tế), đang tập hợp lực lượng để kháng chiến Chủ yếu là các quan chức văn võ đã từng phen sát cánh chiến đấu chống phỉ Thanh, đánh giặc Pháp ở vùng trung du, thượng du Bắc kỳ như Trương Quang Đản, Trần Xuân Soạn Chính Bùi Văn Dị cũng ở trong số này, vì ông vừa làm Tham tri Bộ Lại và nằm trong Viện Cơ mật

Khi thực dân Pháp xâm chiếm kinh thành, cũng nhiều sĩ phu đương thời, Bùi Văn Dị cũng chọn con đường lui về ở ẩn Thời gian này, ông chọn lui về xã Hải Quật, một xã hẻo lánh ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Đến năm 1877, một bước ngoặt lớn lại đến với ông Ông được gọi trở về kinh thành trong tâm

Trang 17

trạng rối bời Vốn biết ông là người ngay thẳng và có văn học, vua Đồng Khánh muốn trọng dụng ông Từ chức quan Tham tri Bộ Lại, Ông được chuyển sang làm Tham tri Bộ Binh, kiêm Thương tá Viện Cơ mật, đồng thời vẫn là Kinh diên Giảng quan Ông lường trước là sẽ không ổn với chính quyền bảo hộ, vì một thời ông đã là đối thủ của họ Vì vậy ông chỉ xin một công việc nào đó ở sử quán Ông đã trình bày nguyện vọng với vua Đồng Khánh, nhưng vua không nghe và vẫn để ông nắm quyền ở Bộ Binh.Quả đúng như ông tiên liệu, Thống sứ Bắc kỳ can thiệp ngay với Nam triều: “không nên dùng lại Ân Niên, yêu cầu cho về hưu”[7, tr26] Sự can thiệp này, một phần do quá khứ của ông, một phần cũng có thể vì sự vụ con rể của ông là Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi mưu đồ dấy nghĩa Cần vương

ở Nam Định, bị kết án sử tử Nam triều lúc đó không chịu tuân theo triệt để những yêu cầu của Pháp, vẫn giữ Bùi Văn Dị ở triều là một ngoại lệ duy nhất Điều đó đã thể hiện sự kính trọng ông của triều đình Nam triều Tuy buộc phải tạm điều ông sang Nội các, nhưng chỉ sang đầu năm sau, ông đã được thăng quyền Thượng thư Bộ Lễ, kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán, cùng biên soạn cuốn

Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ (dưới triều vua Tự Đức) [7, tr26]

Đến khi vua Thành Thái lên ngôi, ông lại càng được trọng dụng Ông không chỉ làm Kinh diên Giảng quan bình thường mà là Phụ đạo đại thần Và trong bốn năm sau, ông đã lần lượt thăng các chức Lại bộ Thượng thư, Phụ chính đại thần Trong dịp này, ông đề nghị xét lại học vị Phó bảng trước đây đối với ông là xử oan, không đúng với thể lệ hiện hành Vì vậy, ông được đặc cách truy phục học vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1886) Dù rằng, việc yêu cầu sửa sai để giữ lẽ công bằng là một việc làm chính đáng, song dù sao cũng gây ra dư luận xôn xao trong giới sĩ phu, nhất là trong kinh thành Huế, cho đó là một trường hợp xưa này chưa từng có trong lịch sử

Một số nhà Nho đương thời chê trách việc làm của ông, trong đó có Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến - một trong những người bạn thân của ông Họ chê trách ông đã không giữ được cái chí cũ về ở ẩn, mà cuối đời còn ham cái

Trang 18

danh vị hão Lời trách cứ ấy cũng là tâm lí quen thuộc của các nhà Nho có khí tiết – vẫn rất đáng trân trọng Vì các nhà Nho đương thời vẫn coi trọng và lấy cách xử sự của Bá Di, Thúc Tề làm chuẩn mực Xong, đối với chúng ta, từ cái nhìn thời đại khác nhau, chúng ta không nên có cái nhìn khắt khe, nên có sự nhìn nhận và đánh giá công bằng hơn Chúng ta nên căn cứ vào những hành động cụ thể để đánh giá và nhận xét Trong lòng ông luôn cánh cánh tấm lòng với non nước Ông quay trở lại quan trường không phải vì mục đích vinh thân, phì gia,

mà vẫn mong có thể góp chút sức mọn để rửa nhục cho đất nước Tâm sự này, chúng ta sẽ có dịp tìm hiểu qua những dòng giãi bày trong từng trang thơ của ông

Chí khí của người xưa, hậu thế không dám lạm bàn, nhưng cũng có thể thấy rằng, khác với Nguyễn Khuyến Tuy cùng một thời, nhưng những ngày tháng cuối đời, ông Tam nguyên Yên Đổ đã có lúc kêu lên thật tuyệt vọng 道喪我安歸! “Đạo táng, ngã an quy” (Đạo mất rồi, ta về đâu đây) Còn đối với Bùi Văn Dị, ông già bến Châu Giang vẫn có niềm tin rằng 斯文猶未喪“Tư văn

do vị táng” (Cái văn này còn chưa mất hẳn) Tức là ông vẫn tin vào nền văn hóa truyền thống Ông tin rằng, gặp con mưa gió, cuồng phong, cái tư văn, cái oai linh của tổ tiên chỉ có thể bị che lấp, song nó chưa bao giờ bị tuyệt duyệt Do vậy, ông vẫn cam tâm, nhận mình là người trồng hoa, trồng hoa thật và cũng là người vun trồng tinh hoa của con người Riêng việc ông là thầy dạy học cho vua Thành Thái từ lúc còn ở tiềm cho đến lúc trưởng thành, trở thành một ông vua có chí hướng cứu nước đó chẳng đáng ghi nhận là một việc làm vun trồng tinh hoa của dân tộc đó sao?

Số phận đã gắn đời ông với gần 20 năm dưới triều vua Tự Đức, mà hơn nửa thời gian đó, ông là cận thần thân tín, năm lần được giao trọng trách đảm nhiệm công việc ở Nội các, lại là một bạn thơ tâm đầu ý hợp của vị vua yêu văn học này Về cuối đời, khi sức đã đuối, suốt tám năm trời làm Phó Tổng tài Quốc

Trang 19

sử quán chuyên trách bộ Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ (về triều Tự Đức) [7, tr29],

đồng thời trong suốt ba năm đã dành thời gian biên tập, hoàn chỉnh bộ thơ sử của

vị Tiên đế ấy

Đến năm 1890, ông đã xin từ chức Thượng thư Bộ Lại và Phụ chính đại thần, chỉ giữ chức Phụ đạo đại thần, kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán

Đến năm 1894, ông hoàn thành Đại Nam thực lục đệ kỷ tứ Trong lòng

như trút đi bao gánh nặng Công việc vừa hoàn thành thì ngày 22 tháng 9 năm

1895, ông mất tại Quốc sử quán [7, tr27]

Hơn sáu mươi tuổi, cuộc đời lăn lộn với việc nước Tấm lòng canh cánh cùng chính sự, tuổi đã cao, sức đã kiệt Vậy nhưng, ông sứ Châu Cầu vẫn miệt mài làm việc, vẫn cố gắng vun trồng tinh hoa cho đời cho đến hơi thở cuối cùng

vì ông vẫn tin rằng, oai linh của tổ tiên, cái tư văn chưa hề mất hẳn Những việc làm và lẽ sống đó của ông thật đáng cho chúng ta trân trọng

1.1.2 Trước tác của Bùi Văn Dị

Bùi Văn Dị được biết đến là một vị Tiến sĩ có tên tuổi, một nhà chí sĩ yêu nước của Việt Nam dưới triều Nguyễn, đồng thời là một tấm gương sáng về đạo hiếu học của đất Hà Nam Ông còn là một nhà thơ, một nhà văn tài hoa uyên bác Các sáng tác của Bùi Văn Dị luôn gắn liền với các chặng đường của lịch sử dân tộc Trong con người ông, luôn tồn tại hai nửa khác nhau, một con người ưu thời mẫn thế, luôn trăn trở trước mọi thay đổi của thời cuộc, trước những biến động của chính sự Nhưng bên cạnh đó là một tâm hồn rất tinh tế, nhạy cảm Những suy nghĩ, cảm nhận về cuộc sống, những thay đổi trước cảnh vật, đất trời, thời cuộc đều được ngòi bút giàu cảm xúc ghi lại một cách tinh tế Cả chặng đường đời của Bùi Văn Dị, bên cạnh con đường hoạn lộ, quan trường cũng chính là con đường sáng tác thơ văn không mệt mỏi Thật đúng như nhận xét khái quát về

nhân vật này trong Từ điển Văn học (bộ mới): “Bùi Văn Dị là nhà thơ sáng tác

trên mọi nẻo đường công cán, trong nhiều cương vị, trong nhiều quan chức khác

Trang 20

nhau Ở ông, con người chức năng, con người phận vị không hề che lấp đi con người thi nhân…” [54, tr166] Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác khá

đồ sộ

Cho đến nay, theo tìm hiểu của chúng, các sáng tác cả ông hầu hết là các trước tác thơ văn chữ Hán Cụ thể như sau:

Tốn Am thi sao là tập thơ bao trùm cả đời thơ của tác giả Tập thơ bao

gồm những bài được viết từ thời kì thi cử, thời kì làm quan, cho đến những năm tháng cuối đời Khoảng từ năm 1850 đến 1894 (không kể thời kì đi sứ và thời kì cầm quân đánh pháp)

Tốn Am thi sao được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm bao gồm ba

bản in mang kí hiệu: VHv.701, VHv.702, A.1428: bao gồm 186 trang, khổ giấy

26 x 16; và một bản viết tay mang kí hiệu A.196: bao gồm 166 trang, khổ giấy 31.5 x 22.5 Trong tập thơ này, tác giả lấy tên hiệu là Châu Giang 珠 江 và Hải Nông 海 農, sáng tác và viết lời tựa năm Thành Thái Giáp Ngọ (1894) Hai con trai là Hướng Thành 向 誠 tự Cơ Thiện 幾 善, và Hướng Lập 向立 tự Nhu Trai

懦 齋 hiệu chỉnh Tuy Lí Quận Vương, 綏 理 郡 王 hiệu Vi Dã 葦 野 bình và đề

từ năm Thành Thái Quý Tị (1893) Văn Đào Tử 文陶子 viết lời bình bằng son

đỏ Kì Sơn tàng bản Tập thơ này bao gồm 185 bài, được chia làm 4 quyển, đại thể, bốn quyển đó ứng với các chặng đường đời của tác giả:

Quyển 1: 54 bài, được làm trong khoảng thời gian thi cử và bước đầu làm quan ở tỉnh (1850 - 1871)

Quyển 2: 40 bài ứng chế, họa vần với vua Tự Đức vào khoảng thời gian làm việc ở Viện Hàn lâm và tòa Nội các ( 1871 - 1883)

Quyển 3: 48 bài, được làm trong thời gian tị địa ở Thanh Hóa và trở lại làm quan dưới triều Đồng Khánh (1885 - 1888)

Trang 21

Quyển 4: 43 bài, được làm trong khoảng thời gian cuối đời, vẫn tiếp tục làm quan dưới triều vua Thành Thái (1889 - 1894)

Trong tập thơ này, tác giả hạ bút viết lời đề tựa Ông viết: “Viết thơ, xem sách để truyền lại thơ, vốn không phải là y định ban đầu của ta, nhưng cũng qua

đó, con cháu khi đọc thơ sẽ hiểu được cái chí của ta, những khoảng thời gian ta

đã trãi qua, và những nơi ta sống cũng được chứng thực rõ ràng” [45, tr5] Thật như lời tác giả, hậu thế qua những trang thơ của ông đã hiểu thêm về một con người, một nhân cách, một tấm lòng thật đáng trân trọng

Vạn lí hành ngâm là tập thơ được sáng tác trên con đường xa vạn dặm

Đây có thể xem là tập nhật kí bằng thơ trong cuộc hành trình đi sứ nhà Thanh của tác giả, từ mùa hạ năm Bính Tí (1876) đến mùa xuân năm Mậu Dần (1878), suốt chặng đường từ kinh đô Huế sang đến Yên Kinh và từ Yên Kinh trở về

Tên sách hiện nay còn lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với 4 bản in

và ba bản viết tay mang các kí hiệu: VHv.868: bao gồm 179 trang, khổ giấy 26 x 15.5 Bản mang kí hiệu A.2840: bao gồm 158 trang, khổ giấy, 25 x 13 Còn hai bản mang kí hiệu VHv.867, VHv.251: đều bao gồm 177 trang, in trên khổ giấy

27 x 16 Ba bản viết tay mang kí hiệu: VHv.869/1 – 2: bao gồm 268 trang, khổ giấy 25 x 18 Bản mang kí hiệu A.305: bao gồm 160 trang, khổ giấy 32 x 22; và bản mang kí hiệu A.2363: bao gồm 138 trang, khổ giấy 28 x 16

Trong các bản trên, bản mang kí hiệu VHv.869/1 – 2: bao gồm 268 trang,

khổ giấy 25 x 18, được đóng làm hai tập Nét chữ đá thảo, rắn giỏi, sắc sảo, bay

bướm, viết trên giấy lệnh, có khuyên điểm son rất kỹ Những người làm sách Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu đoán rằng, có thể đây chính là thủ cảo của tác

giả Các bản in ở đây cũng không giống nhau về số trang và khổ giấy Có thể

được in ở nhiều thời điểm khác nhau Căn cứ vào bản VHv.869/1 – 2, sách được

chia làm bốn quyển, bao gồm 275 bài thơ, chủ yếu là thất ngôn bát cú và tứ

Trang 22

tuyệt Đầu sách còn có năm bài tựa của các quan chức – văn nhân nhà Thanh như: Nghê Mậu Lễ, Long Văn Bân, Dương Ân Thọ, Thịnh Tích Ngô, Dương Trọng, chức quan cao nhất là Nhị phẩm, học vị Tiến sĩ Ngoài ra còn có bài thơ

đề từ của Tuy Lí Vương – Miên Trinh

Trong các lời đề từ trên, mỗi người viết lời tựa đều có một góc nhìn, một cách đánh giá khác nhau Xin trích ra một đoạn lời đề từ của Nhị phẩm Tú chính đại phu Nghê Mậu Lễ, mạo muội gọi là để thay cho lời nhận xét, bình luận về tập thơ: “Năm Quang Tự thứ hai, vâng mệnh đi hộ cống, được quen biết sứ thần Việt Nam là Tôn bá Châu Giang Bùi Văn Dị - một con người thung dung, phong nhã, khó ai sánh Ngoài lúc bút đàm ra, nghe giọng nói thanh cao, biết rằng sự

am hiểu về Lễ - Nhạc đã đạt đến độ uẩn khúc rất sâu… Tôi đem thơ ông ra đọc suốt đêm, tự nhiên thấy trong mình thần thanh khí sảng, bất giác phải vùng dậy

Đó là do thơ gửi ‎ sâu, lời ra thật khéo Tất cả đều từ bản tính mà ra Tuyệt không

tơ hào tô điểm Đó chính là điều mà người ta nói rằng, không cầu kì một chữ mà vẫn toát lên vẻ phong lưu là vậy chăng? Song đây chỉ là một cái đốm mà thôi Nếu như được xem cả con báo thì mới thấy hết được sự hoa lệ,… thật không dám dùng ngôn từ mĩ miều mà tán dương ” [7, tr79]

Trong chuyến đi sứ Trung Quốc Này, Bùi Văn Dị còn là đồng tác giả của

tập thơ Trĩ Chu thù xướng tập Trong tập này, ông lấy hiệu là Châu Giang 珠江 cùng biên soạn với Dương Ân Thọ 楊恩壽, hiệu Bồng Hải 蓬海 (Dương Ân Thọ

là người được phía Trung Quốc cử đi đón tiếp sứ giả) Đây là tập thơ xướng họa

giữa Bùi Văn Dị và Dương Ân Thọ Trong tập này, Bùi Văn Dị có 49 bài thơ, Dương Ân Thọ có 56 bài Dương Ân Thọ viết lời tựa và cho in ngay ở Trung Quốc, vào năm Quang Tự thứ 3 (1877), khi Bùi Văn Dị đang còn trên đất Trung Quốc Hiện nay, ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ một bản in mang kí

Trang 23

hiệu A.1218: bao gồm 62 tr., khổ giấy 24 x 15 và một bản viết tay mang kí hiệu A.392: bao gồm 71 tr., khổ giấy 32 x 23

Trong quá trình sáng tác tập thơ này, viên Quan sát sứ ở Hồ Nam là Dương Ân Thọ đã cùng ông xướng họa Dương Ân Thọ gửi thư cho Tiến sĩ Long Văn Bân hết sức ca ngợi tài năng của sứ thần Việt Nam đã kể lại: Thị Lang (Bùi Văn Dị) tài thơ mẫn tiệp không ai bằng Thơ trước của tôi vừa gửi đi thì bài họa của ông đã gửi tới Có đêm mưa gió đã khuya, ông đã cởi áo đi nằm, có thơ của tôi gửi đến, ông liền vùng dậy, vén tay áo họa đáp, không cần đợi cho trời kịp sáng Cứ hạ bút xuống là thao thao bất tuyệt…” [7, tr15]

Qua những lời nhận xét đó, chúng ta có thể nhận thấy, Bùi Văn Dị lúc này không chỉ là một vị cầm đầu sứ bộ ngoại giao, mà ở ông còn là một nghệ sĩ, một thi nhân thực thụ, đang sáng tạo nghệ thuật một cách say mê và đầy thi hứng, tạo nên sự kính phục, ngưỡng mộ của những bậc quan lại và văn nhân Trung Quốc

Tập thư xướng họa của Bùi Văn Dị với các danh nhân Việt Nam và Trung Quốc, trong đó bao gồm cả những bức thư trao đổi, xướng họa cùng ông, hoặc nhờ ông chỉ giáo, đề tựa trong dịp đi sứ nhà Thanh năm Bính Tí (1876) Trong tập này, ông dùng bút hiệu là Châu Giang Tập thư xướng họa này do Đường Cảnh

Phong 唐 景 封 và Nghê Mậu Lễ 兒 懋 禮 (Trung Quốc) đề tựa Hiện nay ở Viện

nghiên cứu Hán Nôm còn lưu một bản viết tay tập thư này, mang kí hiệu

VHv.1781, bao gồm 158 trang, cỡ giấy 25 x 18

Đây là tập thơ được viết trong thời kì cầm quân đánh Pháp, trong khoảng thời gian từ 1882 đến 1883 với bút hiệu là Ân Niên Tập thơ nhỏ này bao gồm 47 bài Bùi Hữu Tạo 裴有造 viết tựa năm Bính Tuất (1886) Vi Dã Lão Nhân

Trang 24

韋野老人 đề từ năm Thành Thái 2 (1890); Vi Dã tiên sinh viết lời phẩm bình bằng mực xanh; Văn Lộc tiên sinh viết lời phẩm bình bằng mực tầu Thi Sơn tàng bản Hiện nay, được lưu giữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm gồm 5 bản in, hai bản viết Cụ thể là các bản mang kí hiệu sau: A.2554: 68 trang, 27 x 14, in VHv.1127: 68 trang,

24 x 14, in VHv.1128: 68 trang, 24 x 14, in VHv.1993: 68 trang, 23 x 12, in

VHv.248: 136 trang, 28 x 15, in (tập dày đóng 2 quyển trùng nhau) A.355: Du Hiên thi tự, 36 trang, 31 x 21, viết A.1441: 150 trang, 25 x 15 (26 trang đầu là thơ

của Du Hiên, 124 trang; còn lại là Trúc Vân văn tập hay Tiến sĩ Hưng Niết Chu Trúc Vân văn tập là tập văn, thơ, câu đối của Chu Mạnh Trinh, Án sát Hưng Yên viết)

Đây là tập văn xuôi của Bùi Văn Dị, gồm những bài văn ghi chép những thắng cảnh trên đường đi sứ Yên Kinh Những danh lam thắng cảnh của Việt Nam như núi Phật Tích, đầm Dạ Trạch, Ninh Kiều Khảo về các nước giáp giới Việt Nam như Thủy Xá, Hỏa Xá, Vạn Tượng, Nam Chưởng Khảo về các địa danh lịch sử như Thị Kiều, Phú Lương, Xương Giang, ải Lão Thử, đèo Pha Lũy Đây là tập văn xuôi duy nhất của ông Trong đó có 2 bài văn bia phân địa giới giữa Việt Nam và Trung Quốc Tập văn này có ‎ nghĩa vô cùng quan trọng cho những ai để tâm muốn tìm hiểu về đất nước Trung Quốc lúc bấy giờ Tại Viện

nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được một tập Du hiên tùng bút, mang kí hiệu

A.801, là bản viết tay, dày 288 trang, khổ giấy 29 x 20

Đây là tập hợp tuyển một số bài luận, biểu, chiếu, đầu đề 3 kỳ thi Hội năm

Ất Sửu (1865); một số bài văn sách, thơ, phú của những người thi đỗ như Hoàng Tương Hiệp, Khuất Duy Hài, Đào Duy Dương, Ngô Văn Phát, Vũ Hữu Ngọc, Bùi Văn Dị, Đinh Văn Quang, Lê Lượng Tại Viện nghiên cứu Hán Nôm còn

Trang 25

lưu giữ được một bản viết tay, mang kí hiệu VHv.1926, dày 144 trang, khổ giấy

28 x 16 Tập hợp tuyển này bị thiếu mất một tờ

Nhìn vào sự nghiệp sáng tác thơ văn của Bùi Văn Dị, ta thấy ông là một người giàu tâm hồn nghệ sĩ, lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi Những sáng tác của ông khá phong phú về thể loại Dưới triều Nguyễn, một số tập thơ của ông đã được các thi nhân nổi danh đương thời viết lời tựa và cho in ấn Do một số hạn chế về thời đại và lịch sử, mãi đến những năm cuối thế kỷ XX, một

số bài thơ trong các trước tác của ông mới được tuyển chọn, dịch và giới thiệu trong một số công trình văn học của nước nhà Qua những thành tựu nghệ thuật

mà ông để lại, chúng ta tự hào xếp ông vào hàng ngũ những tác gia Hán Nôm lỗi lạc ở Việt Nam

1.2 Tổng quan tình hình văn bản Du Hiên thi thảo

Trong mục này, chúng tôi tiến hành tập hợp, liệt kê, mô tả và tìm hiểu sâu các các dị bản, sau đó tiến hành đối chiếu, so sánh giữa các dị bản để giải quyết vấn đề đặt ra trong nội dung của đề tài

Tình hình chung của văn bản

Các dị bản của Du hiên thi thảo, theo tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay

chưa có bản dịch sang chữ Quốc ngữ Các dị bản chủ yếu vẫn là các bản in sao mộc bản và bản chép tay bằng chữ Hán Do vậy, đối tượng tìm hiểu và khảo sát

của chúng tôi trong luận văn này là các văn bản chữ Hán của tập thơ Du hiên thi thảo được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hiện nay tập thơ Du hiên thi thảo được lưu trữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm gồm 5 bản in, 2 bản viết, như

chúng tôi đã giới thiệu ở trên

1.2.1 Mô tả các dị bản

Các bản in của văn bản Du hiên thi thảo mang đặc điểm chung là, một tờ

hai trang, mỗi trang có 6 dòng chữ to Mỗi dòng thông thường có 18 chữ lớn, trừ

Trang 26

những dòng đầu ghi tên bài thơ, hoặc những dòng cuối kết thúc bài thơ số lượng chữ có ít hơn Trong các dòng chữ to có nhiều chỗ đan xen các chữ dòng nhỏ là giải thích của tác giả cho bài thơ hoặc chú thích của người ghi chép Những trường hợp này, dòng to được ngắt thành hai dòng chữ nhỏ hơn, in xen vào ngay dưới chân của dòng chữ lớn Các bản in đều có khuyên tròn và khuyên móc trong các bài thơ

Dưới đây, chúng tôi sẽ miêu tả cụ thể những đặc điểm về hình thức và nội dung của từng dị bản:

1.2.1.1 Các bản in

Bản kí hiệu A.2554

Đây là bản in, tổng cộng có 70 trang, trừ hai trang bìa (một trang bìa mặt

có ghi chữ Hán, bìa trong không ghi chữ Hán) còn lại 68 trang nội dung (trong phần giới thiệu các dị bản của tập thơ lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chỉ ghi 68 trang, tức không tính trang bìa ghi tên tập thơ và mặt trong của tranh bìa này) Tập thơ được in trên khổ giấy 27 x 14, in bìa cứng, gáy màu xanh Trang đầu tiên, phần trên cùng có ghi một số chữ 九, 高, 氏 và chữ �, �… Các chữ này viết không có hàng lối, thứ tự, ngoài ra còn có một chữ bị xóa, không nhìn rõ chữ

Ở chính giữa có dòng chữ 輶軒詩艸, được viết theo lối chữ triện, viết theo chiều dọc, cỡ chữ to và đậm Ở dòng chữ này, ở dưới hai chữ đầu, mỗi chữ đều có 3 chữ nhỏ hơn, viết theo hàng ngang, theo lối chữ hành khải dưới chữ 輶

là hàng chữ 潢版板; dưới chữ 軒 là hàng chữ 藏板藏, hai chữ đầu ghi vào chính giữa chữ 軒, chữ thứ ba ghi dưới chân, hơi lệch sang bên phải, cao hơn một chút

so với hai chữ còn lại Ở khoảng giữa của chữ 詩 và chữ 艸 có tất cả 5 chữ, bao gồm hai chữ 板, một chữ 詩, một chữ 山, bị nhòe mực và một chữ không ghi rõ nét chữ

Trang 27

Dòng bên phải chia làm hai phần: phía trên ghi dòng chữ 葦 野先生绿評, cách một đoạn ghi dòng chữ 雲麓先生墨評 Cỡ chữ hai đoạn bằng nhau, ghi theo lối hành khải, viết theo chiều dọc

Dòng bên trái có tổng cộng 8 chữ Cụ thể là chữ 執 辨 蓍 山 藏 板 Có hai chữ 蓍 liên tiếp nhau, chữ đầu được viết theo lối đá thảo Khoảng giữa của chữ 執 và 辨 có chữ 德, cỡ chữ nhỏ hơn, viết xen vào Dưới cùng của dòng chữ này có đóng hai dấu triện nhỏ (trong trang này có chữ cần chú ý, đó là chữ "thi"

, trong cụm từ 蓍 山 藏 板, ở trang giới thiệu các dị bản của tập thơ Du hiên thi thảo của Viện nghiên cứu Hán Nôm đều phiên là chữ "kì", có sách giới thiệu

tập thơ này phiên thành chữ "mạo")

Mặt trong của trang bìa (được tính là trang thứ 2) có dòng chữ Du hiên thi thảo của Bùi Văn Dị được ghi bằng chữ Quốc ngữ

Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ Có dòng 12 chữ, được viết theo thể thảo thư Trang thứ 12 có 2 dòng, đều được viết thấp xuống một chữ Bên phải của trang không có dòng chú thích

Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo Một trang có 4 dòng, trang còn lại có một dòng ghi: 成泰二年夏五葦野老人書

Dòng đầu của bài thơ đầu tiên có ghi 河內金榜裴文異殷年著 Trên đầu trang có chú thích các dòng chữ 低回慷慨純以勝氣,葦野評自然整,雲麓評,… dòng chú này chữ được viết nhỏ hơn Phần nội dung tập thơ kế tiếp sau phần đề

từ, không ngắt trang

Nét mực in các bài trong tập có sự đậm nhạt khác nhau Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép Phần chú thích được ghi bằng chữ nhỏ, có khi được ghi phần trên của trang giấy, có khi được

Trang 28

chia làm hai dòng, ghi ngay dưới chân của chữ lớn Tập thơ tổng cộng có 55 bài Sách không có mục lục ghi thứ tự các bài thơ

Bản kí hiệu VHv 1127 và Bản kí hiệu VHv 1128

Đây là hai bản in Hai bản có phần nội dung và hình thức trùng khít nhau Khổ giấy 24 x 14, tổng cộng mỗi bản có có 70 trang, trừ hai trang bìa (một trang bìa mặt có ghi chữ Hán, bìa trong không ghi chữ Hán) còn lại 68 trang nội dung

Trang đầu tiên, phần trên cùng có ghi một số chữ 九, 高, 氏 và chữ �, �… Các chữ này viết không có hàng lối, thứ tự, ngoài ra còn có một chữ bị xóa, không nhìn rõ chữ

Ở chính giữa có dòng chữ 輶軒詩艸, được viết theo lối chữ triện, viết theo chiều dọc, cỡ chữ to và đậm Ở dòng chữ này, ở dưới hai chữ đầu, mỗi chữ đều có 3 chữ nhỏ hơn, viết theo hàng ngang, theo lối chữ hành khải dưới chữ 輶

là hàng chữ 潢版板; dưới chữ 軒 là hàng chữ 藏板藏, hai chữ đầu ghi vào chính giữa chữ 軒, chữ thứ ba ghi dưới chân, hơi lệch sang bên phải, cao hơn một chút

so với hai chữ còn lại Ở khoảng giữa của chữ 詩 và chữ 艸 có tất cả 5 chữ, bao gồm hai chữ 板, một chữ 詩, một chữ 山, bị nhòe mực và một chữ không ghi rõ nét chữ

Dòng bên phải chia làm hai phần: phía trên ghi dòng chữ 葦 野先生绿評, cách một đoạn ghi dòng chữ 雲麓先生墨評 Cỡ chữ hai đoạn bằng nhau, ghi theo lối hành khải, viết theo chiều dọc

Dòng bên trái có tổng cộng 8 chữ Cụ thể là chữ 執 辨 蓍 山 藏 板 Có hai chữ 蓍 liên tiếp nhau, chữ đầu được viết theo lối đá thảo Khoảng giữa của chữ 執 và 辨 có chữ 德, cỡ chữ nhỏ hơn, viết xen vào Dưới cùng của dòng chữ này có đóng hai dấu triện nhỏ Mặt trong của trang bìa (được tính là trang thứ 2)

có dòng chữ Du hiên thi thảo của Bùi Văn Dị được ghi bằng chữ Quốc ngữ

Trang 29

Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ Có dòng 12 chữ, được viết theo thể thảo thư Trang thứ 12 có 2 dòng, đều được viết thấp xuống một chữ Bên phải của trang không có dòng chú thích

Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo Một trang có 4 dòng, trang còn lại có một dòng ghi: 成泰二年夏五葦野老人書

Dòng đầu của bài thơ đầu tiên có ghi 河內金榜裴文異殷年著 Trên đầu trang có chú thích các dòng chữ 低回慷慨純以勝氣, 葦野評自然工,雲麓評,… dòng chú này chữ được viết nhỏ hơn Phần nội dung tập thơ kế tiếp sau phần đề

từ, không ngắt trang

Nét mực in các bài trong tập có sự đậm nhạt khác nhau Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép Phần chú thích được ghi bằng chữ nhỏ, có khi được ghi phần trên của trang giấy, có khi được chia làm hai dòng, ghi ngay dưới chân của chữ lớn Mỗi tập thơ đều có đầy đủ

55 bài Sách không có mục lục ghi thứ tự các bài thơ

Bản kí hiệu VHv 1993

Đây là bản in, tổng cộng có 68 trang, khổ giấy 22x13, in bìa cứng, gáy màu xanh Trang đầu tiên, dòng trên cùng có ghi dòng chữ 嗣三十年復月本钞, dòng chữ này được ghi theo chiều ngang Nét chữ in đậm hơn so với các chữ trong bài thơ Cỡ chữ nhỏ hơn so với các chữ ghi trong trang đầu tiên này Bên phải có ghi dòng chữ: 河內金榜裴文異殷年著 Ở chính giữa có hàng chữ: 輶軒詩草 được viết theo lối chữ chân theo chiều dọc Nét chữ to và đậm hơn so với chữ ghi trên đầu theo chiều ngang và chữ ghi ở hai bên Bên trái có hàng chữ: 葦野先生绿評雲麓先生墨評 Cỡ chữ bằng hàng chữ bên phải Nét chữ viết theo lối chữ thảo, chữ 先 bị mực nhòe Trang đầu tiên không có dấu triện

Trang 30

Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ Có dòng 12 chữ, đều được viết theo thể chữ thảo Trang thứ 12 có 2 dòng, đều viết thấp xuống một chữ Bên phải của trang thường có dòng chú thích

Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo Một trang có 4 dòng, trang còn lại có một dòng ghi: 成泰二年下五葦野老人書

Trước bài thơ đầu tiên của tập thơ có dòng chữ 河內金榜裴文異殷年著 Trên đầu trang có chú thích các dòng chữ 低回慷慨純以勝氣, 葦野評自然工整, 雲麓評, … dòng chú này chữ được viết nhỏ hơn Kết thúc phần tự thuật được tiếp nối bằng phần nội dung của tập thơ, không ngắt trang Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ đá thảo, nét in các bài có sự đậm nhạt khác nhau Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép Phần chú thích được ghi bằng chữ nhỏ, chia làm hai dòng, ghi ngay dưới chân của chữ lớn Tập thơ có đầy đủ 55 bài, không có mục lục ghi các bài thơ

Bản kí hiệu VHv 248

Đây là bản in, tập này đóng hai quyển trùng nhau, tổng cộng có 138 trang, trừ hai trang bìa của một tập, còn lại 136 trang nội dung Tập thứ hai không có trang bìa (trang bìa, của tập thứ nhất, một trang bìa mặt có ghi chữ Hán, mặt trong bìa trong không ghi chữ Hán) (trong phần giới thiệu các dị bản của tập thơ lưu trữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, chỉ ghi 136 trang, tức không tính trang bìa ghi tên tập thơ và mặt trong của tranh bìa này) Tập thơ được in trên khổ giấy 28

x 15, in bìa cứng, gáy màu xanh Màu giấy đen hơn các bản còn lại Trang đầu tiên, phần trên cùng có ghi một số chữ 九, 高, 氏 và chữ �, �…Các chữ này viết không có hàng lối, thứ tự ngoài ra còn có một chữ bị xóa, không nhìn rõ chữ

Trang 31

Ở chính giữa có dòng chữ 輶軒詩艸, được viết theo lối chữ triện, viết theo chiều dọc, cỡ chữ to và đậm Ở dòng chữ này, ở dưới hai chữ đầu, mỗi chữ đều có 3 chữ nhỏ hơn, viết theo hàng ngang, theo lối chữ hành khải dưới chữ 輶

là hàng chữ 潢版板; dưới chữ 軒 là hàng chữ 藏板藏, hai chữ đầu ghi vào chính giữa chữ 軒, chữ thứ ba ghi dưới chân, hơi lệch sang bên phải, cao hơn một chút

so với hai chữ còn lại Ở khoảng giữa của chữ 詩 và chữ 艸 có tất cả 5 chữ, bao gồm hai chữ 板, một chữ 詩, một chữ 山, bị nhòe mực và một chữ không ghi rõ nét chữ

Dòng bên phải chia làm hai phần: phía trên ghi dòng chữ 葦野先生 绿評, cách một đoạn ghi dòng chữ 雲麓先生墨評 Cỡ chữ hai đoạn bằng nhau, ghi theo lối hành khải, viết theo chiều dọc

Dòng bên trái có tổng cộng 8 chữ Cụ thể là chữ 執 辨 蓍 山 藏 板 Có hai chữ 蓍 liên tiếp nhau, chữ đầu được viết theo lối đá thảo Khoảng giữa của chữ執 và 辨 có chữ 德, cỡ chữ nhỏ hơn, viết xen vào Dưới cùng của dòng chữ này có đóng hai dấu triện nhỏ (trong trang này có chữ cần chú y, đó là chữ "thi"

, trong cụm từ 蓍 山 藏 板, ở trang giới thiệu các dị bản của tập thơ Du hiên thi thảo của Viện nghiên cứu Hán Nôm đều phiên là chữ "kì", có sách giới thiệu

tập thơ này phiên thành chữ "Mạo")

Mặt trong của trang bìa (được tính là trang thứ 2) có dòng chữ Du hiên thi thảo của Bùi Văn Dị được ghi bằng chữ Quốc ngữ

Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ Có dòng 12 chữ, được viết theo thể chữ thảo Trang thứ 12 có 2 dòng, đều được viết thấp xuống một chữ Bên phải của trang không có dòng chú thích

Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo Một trang có 4 dòng, trang còn lại có một dòng ghi: 成泰二年下五葦野老人書 Trước bài thơ đầu

Trang 32

tiên của tập thơ có dòng chữ 河內金榜裴文異殷 年著 Trên đầu trang có chú thích các dòng chữ 低回慷慨純以勝氣, 葦野評 自然工整, 雲麓評,… dòng chú này chữ được viết nhỏ hơn Kết thúc phần tự thuật được tiếp nối bằng phần nội dung của tập thơ, không ngắt trang

Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ đá thảo, nét in các bài có

sự đậm nhạt khác nhau Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép Phần chú thích được ghi bằng chữ nhỏ, có khi được ghi phần trên của trang giấy có khi được chia làm hai dòng, ghi ngay dưới chân của chữ lớn Tập thơ kết thúc ở trang thứ 70, sau đó lặp lại tập thứ hai, trực tiếp vào phần tựa, không có trang bìa Cả hai tập thơ có phần nội dung đầy đủ 55 bài thơ và không có phần mục lục ghi thứ tự các bài thơ

1.2.1.2 Các bản chép tay

Bản kí hiệu A 355: 輶軒 詩序 Du Hiên thi tự

Đây là bản viết tay, tổng cộng có 37 trang, khổ giấy 31 x 21, bìa được đóng bằng giấy cứng màu trắng, gáy đóng viền màu xanh Tập này không có trang bìa ghi tên của tập thơ và dấu triện của tàng bản như các tập thơ khác Trừ bìa giấy cứng, trang đầu tiên là lời tựa, dài 5 trang, mỗi trang có 9 dòng, mỗi dòng có 20 chữ, dài gần Sau lời tựa là lời đề từ của Vi Dã lão nhân, dài 1 trang, bên mép trái ghi dòng chữ 成泰二年夏五葦野老人書 Sau lời đề từ là lời bình của Vân Lộc tiên sinh Lời bình một trang Trước lời bình có dòng chữ河內金榜裴文異殷年著 Trên đầu trang có chú thích các dòng chữ 低回慷慨純以勝氣, 葦野評自然工整, 雲麓評, dòng chú này chữ được viết nhỏ hơn Kết thúc phần phẩm bình của Vân Lộc tiên sinh được tiếp nối bằng phần nội dung của tập thơ, không ngắt trang Các trang trong tập thơ đều được chép thống nhất một thể chữ là hành thư Bên trái hoặc bên phải của mỗi trang đều có

Trang 33

dòng chữ 輶軒詩草 được viết sát vào mép trang Tập thơ có chấm câu, ít dùng khuyên tròn

Trong các trang phần nội dung, thứ tự các bài được chép lần lượt như trong các bản in, không bị đảo lộn vị trí các bài, số lượng bài đủ 55 bài thơ

Tuy nhiên, phần sao chép này hầu như bỏ hết các dòng bình phẩm của Vi

Dã lão nhân và Vân Lộc tiên sinh ghi ngay trên đầu trang của các bài thơ Phần chú thích ghi bằng chữ nhỏ của chính tác giả hoặc người đọc quyển ghi dưới các chữ to cũng bị lược bỏ nhiều Người sao chép quyển không viết đài các chữ như trong các bản khác, có giữ lệ kiêng húy các chữ Các chữ Hán chỉ địa danh được đánh dấu bằng nét sổ xuống Những chữ viết sai hoặc viết thiếu được bổ sung bằng chữ nhỏ hơn, và viết ngay bên phải của chữ viết sai hoặc vị trí của chữ viết thiếu cần thêm vào

Quá trình sao chép, các chữ bị sai lệch nhiều so với các bản khác Ví dụ: trang số 6, dòng thứ 7, nhầm chữ 今古 thành 古今; trang 8, dòng thứ nhất, trong câu thơ 同君醉臥罷村場卧, câu thơ này thừa một chữ 臥, bài thơ được làm theo thể thất ngôn bát cú, câu này có 8 chữ, một chữ chép sai chưa được xóa; câu thơ cuối cùng trong bài thơ này, nằm ở trang 8, dòng đầu tiên, chữ 聽 được viết thành chữ 咱; cũng trong trang 8, dòng số 9; chữ 拊 được viết thành 附; chữ

蓬莱viết thành 蓬山; trang số 9, dòng số 3, chữ 當畫 được viết thành 當重…

Bản kí hiệu A.1441

Đây là bản viết tay Tổng cộng có 150 trang, khổ giấy 25 x 21, trong đó

26 trang đầu là thơ của Du Hiên, 124 trang còn lại là Trúc Vân văn tập hay Tiến

sĩ Hưng Niết Chu Trúc Vân văn tập là tập văn, thơ, câu đối của Chu Mạnh Trinh,

án sát Hưng Yên Bìa được đóng bằng giấy cứng màu trắng, đóng gáy màu xanh Trang đầu tiên có dòng chữ 輶軒詩集附竹雲文集 được viết theo lối khải thư Tiếp đến là hai bài đề tự cho hai tập thơ dài 5 trang Phần tập thơ của Bùi Văn Dị

Trang 34

được bắt đầu từ trang thứ 7 Trang mặt của tập thơ này ghi chữ 輶軒詩草 được viết theo lối hành thư Dưới dòng chữ này có một dòng chữ nhỏ hơn ghi

河內金榜裴文異殷年著, dòng chữ này được ghi theo lối chữ khải Sau trang mặt không có phần lời tựa và phần đề từ và phần bình phẩm như các tập khác mà trực tiếp đi vào phần nội dung Trang bìa mặt cũng không có dấu triện

Mỗi trang ghi chép phần nội dung thường có 9 dòng, được chép theo chiều dọc Số chữ trong mỗi dòng không giống nhau, phụ thuộc vào số lượng chữ của từng bài thơ Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ hành khải, chữ viết rõ ràng, dễ đọc Trong bản chép này, các bài thơ đều có dấu chấm ngắt câu, các khuyên tròn và khuyên móc ít sử dụng hơn các tập khác Những chữ ghi địa danh đều được đánh dấu bằng nét sổ xuống Những chữ viết sai đều được xóa hoặc bị bôi đen và viết chữ thay thế xuống dưới hoặc bên cạnh

Phần chú thích của tác giả được ghi chú bằng chữ nhỏ, ghi ngay xuống dưới chữ cần chú thích Có trường hợp chú thích dài thường được ngắt làm hai dòng, ghi dưới chữ lớn Còn những chú thích ngắn, thường được ghi bằng chữ nhỏ, ghi bên dưới, hơi chếch sang bên phải của từ cần chú thích Không có chú thích thêm của người sao chép hoặc kiểm tra quyển, chú rõ lên phần đầu của trang, chỉ định rõ đây là chú thích của chính tác giả hay chú thích thêm của người sao chép, hiệu đính Phần chú thích của bản thân tác giả trong bản chép tay này cũng bị lược bỏ nhiều so với các bản khác

Thứ tự của các bài thơ trong bản chép tay này so với các bản in cũng có

sự khác nhau Một số bài thơ bị lược bớt như: 解悶四絕 (Giải muộn tứ tuyệt)),

田和傷損惻然 有懷爰賦長歌一首(Điền hòa thương tổn trắc nhiên hữu hoài viên phú trường ca nhất thủ), 罷兵南還次韻石農先生見贈之作 (Bãi binh Nam hoàn thứ vận thạch nông tiên sinh kiến tặng chi tác)…

Trang 35

Những bài thơ được viết theo lối nhị thủ, tam thủ… thông thường sẽ viết tên bài đầu tiên, sau khi hết bài thứ nhất sẽ xuống hàng để ngắt đoạn, tiếp đến bài thứ hai sẽ viết là “Kỳ nhị”, bài thứ ba viết là “Kỳ tam”, nhưng trong tập này chỉ xuống ngắt hàng của bài trước và viết tiếp bài sau vào hàng tiếp theo, không đề

tên các bài như các bài: 夏中旣過柴山感題二 首用以 誌年月日也 (Hạ trung k‎í quá Sài sơn cảm đề nhị thủ dụng dĩ chí niên nguyệt nhật dã ; 答和唐維卿 (景松)主政見贈元韻二首 (Đáp Hòa đường Duy Khanh (Cảnh Tùng) chỉ chính kiến tặng nguyên vận nhị thủ), 送計部侍郎 充慶和 典農使藩峯以七十回休… (Tống Kế bộ thị lang Sung Khánh hòa điển nông sứ phiên tùng phong dĩ thất

thập hồi hưu)

Tổng cộng có 39 bài thơ của tập Du hiên thi thảo

Do có một số bài thơ bị lược nên trật tự của các bài thơ cũng thay đổi Mặt khác, trong quá trình sao chép, người sao chép cũng thay đổi vị trí của nhiều bài thơ so với trật tự của các bài trong các bản khác Ví dụ sau bài 十月過朔雨后後曉渡珥河 (Thập nguyệt quá sóc vũ hậu hiểu độ Nhị Hà), trong

các bản khác là bài 余在邯城有中秋對月 之作云祿先生和并錄是夜感作佳詩 依元韻奉 (Dư tại Hàm thành hữu trung thu đối nguyệt chi tác Vân lộc tiên sinh hòa lai bình lục thị dạ cảm tác giai thi tức y nguyên vận phung), còn trong bản

đang khảo lại là bài 送大學士致政權充欽差領河寜牧陳公仲恭再得仍舊回休

(Tống đại học sĩ chí chính quyền sung khâm sai lĩnh Hà Ninh mục Trần Công Trọng cung tái đắc nhưng cựu hồi hưu), 用雲麓先生送別元韻 (Dụng Vân Lộc tiên sinh tống biệt nguyên vận)…

Chúng ta có thể theo dõi một số thông tin của các truyền bản trong bảng tổng hợp sau:

Trang 36

Bảng 1.1: Tổng hợp một số thông tin từ các truyền bản

Stt Kí hiệu

sách

Kích thước

Số trang

Trang bìa

Dấu triện

Lời tựa

Chú thích

Mục lục

Ghi chú: Dấu (+) thể hiện có

Dấu (-) thể hiện không, hoặc không đầy đủ

1.2.2 Nhận xét các dị bản

Qua việc tập hợp, tìm hiểu, so sánh, đối chiếu các dị bản Du hiên thi thảo

hiện đang lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi nhận thấy rằng, 5 bản

in đều có sự gống nhau về nội dung Về hình thức, giữa các bản có một số điểm khác nhau Riêng hai bản mang kí hiệu VHv.1127 và VHv.1128 là trùng khít nhau Những bản còn lại chủ yếu khác nhau về trang bìa Sự khác nhau đó tuy không nhiều nhưng nó lại có y nghĩa rất quan trọng trong việc xác định niên đại

ra đời của các bản in

Các bản viết tay được chép khá cẩn thận, nét chữ đẹp nhưng còn nhiều sai sót Chủ yếu là không chép đủ số lượng các bài, bỏ nhiều phần chú thích của

Trang 37

chính tác giả và người đọc, người bình cho tập thơ (Vi Dã lão nhân và Vân Lộc tiên sinh) Mặt khác, thứ tự của các bài cũng bị thay đổi

Để có cái nhìn cụ thể, chúng tôi chia các văn bản ở đây thành 2 nhóm, đó

là nhóm các văn bản được khắc in và nhóm các văn bản chép tay Qua đó tìm ra

ưu điểm và nhược điểm của mỗi nhóm như sau:

Nhóm các văn bản khắc in

Các văn bản thuộc nhóm khắc in bao gồm 5 bản, mang các kí hiệu sau:

A 2554, VHv 1127, VHv 1128, VHv 1993, VHv 248 Trong nhóm khắc in này, tạm thời chúng tôi lại chia thành hai nhóm

Nhóm 1: là bản khắc in đầu đủ, bao gồm các văn bản mang kí hiệu: VHv

1128, A 2554, VHv 1127, VHv 248

Đối với văn bản nhóm này, phần in khắc khá rõ ràng Trong phần nội dung còn khá đầy đủ các lời chú của tác giả, của người đọc quyển, của Vi Dã lão

nhân và Vân Lộc tiên sinh Trong đó, hai bản mang kí hiệu VHv 1127 và VHv

1128 có phần hình thức và nội dung trùng khít nhau, kể cả khổ giấy và chất liệu

giấy in Từ đó cho chúng ta có thể phán đoán, hai văn bản này có thể được in khắc cùng một thời điểm Riêng bản mang kí hiệu VHv 248, có khổ giấy rộng hơn, mặt khác chất liệu giấy cũng cũ hơn rất nhiều so với các bản còn lại Điều

có cho phép chúng ta dự đoán, có thể bản này được in khắc sớm hơn, hoặc ít nhất là không được in khắc cùng một thời điểm với các bản còn lại Do những đặc điểm như vậy, chúng tôi xếp các văn bản này vào nhóm văn bản đầy đủ, có giá trị tư liệu cao

Nhóm 2: là văn bản khắc in không đầy đủ có kí hiệu: VHv 1993

Về hình thức, trang bìa mặt của tập này có ghi rất rõ là bản sao Qua so sánh, trang bìa không giống như bất kì một trang bìa nào của các bản in, đặc biệt

là không có dấu triện của Thi Sơn tàng bản, hơn nữa còn chỉ rõ thời điểm sao

Trang 38

chép: 嗣德三十六六年復月本钞, còn phần nội dung thì sao nguyên bản chính Như vậy chỉ có trang mặt là mới được làm lại trong đợt in sao này Qua đó, có thể khẳng định văn bản này ra đời muộn hơn so với các văn bản thuộc nhóm trên Chúng tôi xếp văn bản này vào nhóm sao chép chưa đầy đủ (gần đầy đủ) Bản này có giá trị cho việc xác định niên đại cho tác phẩm sao chép và cũng có giá trị cho việc tham khảo nội dung tác phẩm

trong tổng số 47 bài thơ của tập Du hiên thi thảo Thứ tự của các bài thơ cũng bị

đảo lộn, không theo một trật tự nhất định Đề mục của các bài thơ có chỗ được chép, có chỗ bị bỏ thiếu và viết tiếp phần nội dung, khi nhìn vào rất khó phân định Phần đài của các chữ không thống nhất Phần chú của tác giả, của người bình phẩm cũng bị lược bỏ rất nhiều

Bản mang kí hiệu A.355 Đây là bản chép tay khá đầy đủ Chữ viết khá đẹp Thứ tự các bài thơ và số lượng các bài thơ so với các bản in khá ổn định (đầy đủ 47 bài thơ) Tuy nhiên, bản này lại lược bỏ hầu hết các chú thích Phần chép sai và chép lỗi quá nhiều Tập thơ không có trang mặt ghi tên tập thơ và một số nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề xuất xứ của tập thơ

Đây là nhóm các văn bản chép tay “tam sao thất bản”, nên không thể tránh khỏi những sai xót như đã nên trên Tuy nhiên, nhóm văn bản này vẫn có giá trị tham khảo nhất định và có nghĩa quan trọng trong việc xác định các truyền bản của văn bản tập thơ này

Trang 39

Chúng ta có thể theo dõi một số thông tin về các bài thơ trong các dị bản qua bảng so sánh sau:

Bảng 1.2: Bảng so sánh số lượng và thứ tự các bài thơ trong các dị bản

(Mang chủng hậu nhị nhật, Thƣợng Lâm thú

doanh dữ đồng quận chƣ cựu hữu dạ thoại cảm

3

遊紫沉山神女廟口占一律 (Du Tử Trầm sơn

thần nữ miếu khẩu chiêm nhất luật) + + + + + + +

Trang 40

4

(Hựu đăng Tứ Trầm sơn Vô Vi tự Vũ Thái Viên

(Quang) hữu tác tức y nguyên vận)

軍 (Bát nguyệt nhị thập nhậ t quá Vạn An sơn

yết Hưng Đạo Đại Vương từ tính bái Phạm

Tướng Quân)

+ + + + + + +

2

1 重陽北駐 (Trùng Dương Bắc trú) + + + + + + + 2

2 解悶四絕 (Giải muộn tứ tuyệt) + + + + + + 0 2

đại vũ tam nhật , tích Giang bạo trướng th ủy

thâm thất bát xích , điền hòa thương tổn trắc

nhiên hữu hoài viên phú trường ca nhất thủ)

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tổng hợp một số thông tin từ các truyền bản - Khảo cứu văn bản Du hiên thi thảo của Bùi Văn Dị.PDF
Bảng 1.1 Tổng hợp một số thông tin từ các truyền bản (Trang 36)
Bảng 1.2:  Bảng  so sánh  số  lượng và  thứ  tự  các bài  thơ trong  các dị  bản - Khảo cứu văn bản Du hiên thi thảo của Bùi Văn Dị.PDF
Bảng 1.2 Bảng so sánh số lượng và thứ tự các bài thơ trong các dị bản (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w