1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013

111 424 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sĩ: “Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2- Đài Truyền hình Việt Nam Khảo sát 2013” được thực hiện nhằm nghiên cứu nội dung, h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ VĨNH SƠN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

TRÊN KÊNH VTV2 ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

(Khảo sát 2012-2013)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-HỒ VĨNH SƠN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

TRÊN KÊNH VTV2 ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, cẩn trọng và trung thực

Xin được bày tỏ lòng trân trọng cảm ơn tới PGS.TS Dương Xuân Sơn,

đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Ban Khoa giáo VTV2, các anh, chị Phòng Khoa học Công nghệ Môi trường, Ban Khoa giáo VTV2, Đài Truyền hình Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệu viết luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên và khích lệ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc

Xin trân trọng cảm ơn

Hà nội, ngày tháng năm 2014 Tác giả luận văn

HỒ VĨNH SƠN

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8

7 Cấu trúc của luận văn 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ TRUYỀN THÔNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 10

1.1 Một số chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học 10

1.2 Môi trường và đa dạng sinh học 14

1.2.1 Môi trường và bảo vệ môi trường 14

1.2.2 Đa dạng sinh học 16

1.2.2.1 Khái niệm đa dạng sinh học 16

1.2.2.2 Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học 19

1.2.2.3 Một số vấn đề chung về đa dạng sinh học ở Việt Nam 20

1.3 Truyền thông về đa dạng sinh học 22

1.3.1 Truyền thông 22

1.3.2 Một số nội dung của hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam 22

1.3.3 Mục tiêu của hoạt động truyền thông đa dạng sinh học 23

Trang 5

1.3.4 Diện mạo chung của hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh

học ở Việt Nam 24

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN KÊNH VTV2- ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 30

2.1 Vài nét về các chương trình truyền hình phản ánh đề tài môi trường của Đài Truyền hình Việt nam 30

2.2 Giới thiệu về chương trình Việt Nam Xanh, Phát triển bền vững và Các vấn đề giáo dục 32

2.2.1 Chương trình "Việt Nam Xanh" 32

2.2.2 Chương trình "Phát triển bền vững" 35

2.2.3 Chương trình "Các vấn đề giáo dục" 38

2.3 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình về bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 39

2.4 Đánh giá chất lượng hoạt động truyền thông về đa dạng sinh học trên kênh VTV2 qua chương trình Việt Nam Xanh, Phát triển bền vững và Các vấn đề giáo dục môi trường 41

2.4.1 Về số lượng 41

2.4.2 Về chất lượng 43

2.4.2.1 Nội dung 43

2.4.2.2 Về hình thức 48

2.5 Hiệu quả của hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học của các chương trình Việt Nam Xanh, Phát triển bền vững và Các vấn đề giáo dục 51

2.5.1 Đánh giá của cơ quan chủ quản 51

2.5.2 Đánh giá của khán giả 54

Trang 6

2.5.3 Một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động truyền thông về bảo tồn đa

dạng sinh học trên truyền hình 66

Tiểu kết chương 2 69

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 70

3.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 70

3.1.1 Ban hành các quy định pháp luật cụ thể truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học 70

3.1.2 Tăng cường đầu tư cho hoạt động truyền thông về đa dạng sinh học trên truyền hình 73

3.1.3 Đào tạo nâng cao nhận thức, năng lực nghiệp vụ truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học trên truyền hình để tạo ra những tác phẩm thực sự có chất lượng và hiệu quả 74

3.2 Nhóm giải pháp vi mô 76

3.2.1 Phân chia nhóm đề tài chủ đề cho mỗi chương trình, tránh sự trùng lặp 76 3.2.2 Khắc phục những mặt hạn chế của các chương trình truyền hình có yếu tố xã hội hóa trong sản xuất chương trình 76

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ các chương trình đa dạng sinh học được phát sóng qua

các năm 42 Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả của nghiên cứu về thói quen tiếp cận thông tin của

công chúng 54 Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả của nghiên cứu về mức độ quan tâm của người xem

tới các nhóm đề tài 57 Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả nhận biết các chương trình truyền hình về môi trường

(đơn vị %) 57 Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về các đề tài môi trường được nhận biết 58 Bảng 2.6 Đánh giá mức độ hấp dẫn của các chủ đề về bảo tồn đa dạng sinh học

trên truyền hình 62 Bảng 2.7 Mức độ tác động của các mục tiêu truyền thông về đa dạng sinh học lên

công chúng truyền hình 63 Bảng 2.8 Tỉ lệ khán giả có phản hồi tới chương trình 64 Bảng 2.9 Tổng hợp về thời lượng chương trình phù hợp 64 Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả khảo sát về số lượng chủ đề hợp lý trong cùng một

chương trình truyền hình 65

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biều đồ 2.1 Kết quả khảo sát mức độ hấp dẫn của các chương trình 60Biểu đồ 2.2 Mức độ hấp dẫn của các yếu tố trong các chương trình môi trường 61

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính

đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim

và thú hoang dã trên thế giới Việt Nam được Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng

về thực vật Việt Nam còn là một trong 8 "trung tâm giống gốc" của nhiều loại cây trồng, vật nuôi như có hàng chục giống gia súc và gia cầm Đặc biệt các nguồn lúa và khoai, những loài được coi là có nguôn gốc từ Việt Nam, đang là cơ sở cho việc cải tiến các giống lúa và cây lương thực trên thế giới

Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 11.458 loài động vật, 21.017 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền

Cụ thể, hệ động thực vật của Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo đặc trưng cho vùng Đông Nam Á với 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo,

826 loài nấm, và 21.000 loài động vật, trong đó có 310 loài thú, 840 loài chim, 286 loài bò sát, 3.170 loài cá, 7.500 loài côn trùng và các động vật xương sống khác.Trong 30 năm qua, nhiều loài động thực vật được bổ sung vào danh sách các loài của Việt Nam như 5 loài thú mới là sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, chà vá chân xám và thỏ vằn Trường Sơn, 3 loài chim mới

là khướu vằn đầu đen, khướu Ngọc Linh và khướu Kon Ka Kinh, khoảng 420 loài cá biển và 7 loài thú biển Nhiều loài mới khác thuộc các lớp bò sát, lưỡng cư và động vật không xương sống Về thực vật, tính từ năm 1993 đến

Trang 9

năm 2002, các nhà khoa học đã ghi nhận thêm 2 họ, 19 chi và trên 70 loài mới Tỷ lệ phát hiện loài mới đặc biệt cao ở họ Lan có 3 chi mới và 62 loài mới; 4 chi và 34 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam Ngành hạt trần

có 1 chi và 3 loài mới lần đầu tiên phát hiện trên thế giới; 2 chi và 12 loài được bổ sung vào danh sách thực vật Việt Nam

Trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, môi trường tự nhiên ngày càng bị tác động một cách nghiêm trọng Đa dạng sinh học là một thành tố quan trọng của môi trường cũng không nằm ngoài những tác động đó Trong công tác truyền thông về bảo vệ môi trường, truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học cũng được đặt ra một cách bức thiết Trong thực tế, chính phủ, các cơ quan chức năng, các cơ quan chuyên môn về truyền thông báo chí và các tổ chức quốc tế cũng đã có sự quan tâm nhất định tới truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học Tuy nhiên, hoạt động này chưa thật sự nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư; hoạt động thông tin, tuyên truyền còn bị hạn chế, chưa thật sự làm thay thay đổi rõ rệt nhận thức

và hành vi vủa cộng đồng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sĩ: “Vấn đề bảo tồn đa

dạng sinh học trên kênh VTV2- Đài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2013)” được thực hiện nhằm nghiên cứu nội dung, hình thức thể hiện của các

2012-chương trình truyền hình về bảo tồn đa dạng sinh học (2012-chương trình Việt nam xanh, Phát triển bền vững, Các vấn đề giáo dục), tác động và hiệu quả truyền thông của chương trình này đối với công chúng, đồng thời kiến nghị các giải pháp về quản lý và sản xuất chương trình nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông của các chương trình truyền hình về đề tài bảo tồn đa dạng sinh học

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận và thực tiễn báo chí nói chung và nghiên cứu báo chí về bảo vệ môi trường nói riêng ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động truyền thông bảo vệ môi trường Trong các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, như đề tài nghiên cứu với các đối

tác Việt Nam và các tổ chức quốc tế, tiêu biểu Nghiên cứu khoa học "Truyền thông đại chúng Việt Nam và Biến đổi khí hậu" (do Học viện Báo chí và

Tuyên truyền thực hiện với sự tài trợ của Viện FES, Cộng hòa Liên Bang

Đức) và "Báo cáo đánh giá hiện trạng và xu hướng phản ánh thông tin môi trường trên báo in Việt Nam năm 2012" của Tổng cục Môi trường thực hiện

phối hợp với tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới- IUCN Tuy nhiên, các đề tài này tuy nghiên cứu về truyền thông bảo vệ môi trường nhưng vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học lại chỉ được đề cập đây đó chứ chưa phải là nhiệm vụ nghiên cứu chính

Ngoài ra có một số công trình dưới dạng báo cáo hoặc chiến lược

truyền thông môi trường, trong đó phải kể đến "Chiến lược truyền thông bảo tồn động vật hoang dã do Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học" ( Tổng cục Môi

trường thực hiện) Chiến lược này chỉ đưa ra kế hoạch hành động mà chưa có

sự đánh giá cuối cùng về hiệu quả và tác động của truyền thông đa dạng sinh học đối với các đối tượng truyền thông

Bên cạnh đó, đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, các khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc luận văn sau đại học bảo vệ thành công các đề tài có đề cập tới hoạt động truyền thông về bảo vệ môi trường nói chung và vai trò của báo chí đối với bảo tồn đa dạng sinh học nói chung Ví

dụ như: Năm 2005, Khóa luận tốt nghiệp đại học TNĐH “Sự cố Vedan-Sự kiện "Nóng" trên báo Tuổi Trẻ Tp.HCM", Thanh Niên, Tiền Phong (Khảo sát qua 63 tin, bài từ ngày 14/9 đến ngày 10/10/2008)”, người thực hiện Nguyễn

Trang 11

Thị Thúy, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu một số thông tin thời sự môi trường phản ánh trên báo in Năm 2006, khóa luận TNĐH “Vấn đề ô nhiễm môi trường từ các doanh nghiệp liên doanh qua phản ánh của báo in (2008-2009) (Khảo sát vụ Vedan đầu độc sông Thị Vải trên báo Tuổi Trẻ, Nông thôn ngày nay, Đồng Nai)”, người thực hiện Phạm Thị Huệ, đề tài chủ yếu nghiên cứu mức độ đưa tin về một sự cố môi trường trên ba tờ báo khác nhau Năm 2007, Khóa luận TNĐH “Các góc độ tiếp cận đề tài và cách thức tổ chức thông tin sự kiện lũ lụt miền Trung trên 3 báo điện tử: Dantri.com, VTC.vn, vnexpress.net (10/2010) người thực hiện Nguyễn Thị Thảo”, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mức độ tiếp cận đề tài và tổ chức thông tin của các báo điện tử đối với việc đưa tin thiên tai, lũ lụt Năm 2008, Khóa luận TNĐH

“Báo trực tuyến Vnexpress.net với việc thông tin về biến đổi khí hậu ở nước

ta hiện nay” người thực hiện Lý Như Quỳnh, đề tài tập trung nghiên cứu việc đưa tin về biến đổi khí hậu trên báo trực tuyến Năm 2008, “Đề tài Biến đổi khí hậu- phóng sự Hãy sống xanh”, người thực hiện Lô Thùy Linh, đề tài chủ yếu nghiên cứu hoạt động truyền thông cổ vũ lối sống thân thiện với môi trường Năm 2009, Khóa luận TNĐH “Báo Nam Định với vấn đề ô nhiễm môi trường (khảo sát trên báo Nam Định từ tháng 01/2011 đến tháng 8/2011)”, người thực hiện Đinh Thị Lương, đề tài nghiên cứu hoạt động đưa tin về ô nhiễm môi trường trêm báo tỉnh Năm 2009, Khóa luận “Báo điện tử với việc phản ánh vụ việc về đất đai tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng (Áp dụng lý thuyết "Đóng khung" để phân tích nội dung các bài báo của Tuoitre.vn, Vnexpress.net và Anhp.vn)”, người thực hiện, sinh viên Nguyễn Thị Hồng Nam, đề tài nghiên cứu chủ yếu về các thông tin xung quanh vụ tranh chấp đất đai ở Tiên Lãng, Hải Phòng

Như tên gọi của các đề tài nghiên cứu hoa học và khóa luận TNĐH nói trên, các nghiên cứu đã đề cập tới vai trò và các kía cạnh khác nhau của

Trang 12

truyền thông về bảo vệ môi trường và tài nguyên như vấn đề đất đai, ô nhiễm môi trường, các sự kiện và sự cố môi trường, các hiện tượng tự nhiên bất thường như bão lũ, các biểu hiện và hệ quả của tác động khí hậu trên các phương tiên tuyền thông khác nhau như báo in, phát thanh, báo điện tử Tuy

có một vài nghiên cứu mang tính gần gũi với hướng nghiên cứu của đề tài này nhưng cho tới nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học trên truyền hình nói chung và kênh VTV2 Đài Truyền hình Việt Nam (THVN) nói riêng Do vậy, đề tài nghiên cứu đảm bảo tính mới và không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu thực trạng truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học tại Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay thông qua kênh truyền hình VTV2- kênh Khoa học và Giáo dục

Phân tích thành công và hạn chế hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học trên truyền hình về bình diện: chất lượng chương trình và tác động của hoạt động truyền thông này đối với công chúng nói chung và nhận thức về hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học của công chúng nói riêng

Cuối cùng, đề tài nhằm đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học trên truyền hình

3.2 Nhiệm vụ

Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước có liên quan tới bảo vệ môi trường nói chung và bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng, đặc biệt là các văn bản có liên quan trực tiếp tới lĩnh vực truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học

Trang 13

Nghiên cứu thực trạng hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học và quy trình thực hiện một chương trình truyền hình về bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2- Đài Truyền hình Việt Nam

Khảo sát đánh giá ý kiến của khán giả truyền hình đối với một số chương trình về hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học Qua đó, đánh giá tác động của hoạt động truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học đối với nhận thức

và hành vi của công chúng

Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học trên sóng truyền hình Đài

Truyền hình Việt Nam

4 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu

Hoạt động truyền thông về đa dạng sinh học bao gồm nhiệm vụ của rất nhiều cơ quan chuyên môn thuộc chính phủ, các bộ ngành và địa phương, các

tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, các cơ quan báo chí và những người quan tâm Tuy nhiên với giới hạn của một luận văn thạc sĩ, đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2, Đài THVN, khảo sát từ tháng 01.2012 đến tháng 12.2013

Đối tƣợng nghiên cứu chính của đề tài là các chương trình truyền

hình trên kênh VTV2: Chương trình Việt Nam Xanh, chương trình Phát triển bền vững và chương trình Các vấn đề giáo dục Đây là ba chương trình do VTV sản xuất, được phát sóng vào các giờ khác nhau trên kênh VTV2, có phản án các thông tin môi trường và đa dạng sinh học Đề tài tập trung phân tích văn bản truyền thông, qui trình sản xuất chương trình và nghiên cứu công chúng nhằm đánh giá chất lượng hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học của các chương trình kể trên

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Đề tài sẽ sưu tầm, hệ

thống các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động truyền thông về bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học Các tài liệu cụ thể là: Luật báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi bổ xung một số điều của Luật Báo chí năm 1992 Các văn bản quy phạm pháp luật: Luật Thủy sản được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 (số 17/2003/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2004 (số 29/2004/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2005; Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (số 52/2005/QH11) và có hiệu lực ngày 01 tháng

7 năm 2006; Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng

11 năm 2008 (số 20/2008/QH12) và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2009

Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tư liệu, tài liệu, luận văn và khóa luận liên quan đến đề tài Các bài báo liên quan tới vấn đề luận văn nghiên cứu trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở trung ương và địa phương Ngoài

ra, luận văn còn nghiên cứu các văn bản khác liên quan tới quá trình sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình như kết luận giao ban, kịch bản

- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Đối tượng chịu tác

động trực tiếp, đối tượng hưởng lợi nhiều nhất của các chương trình truyền hình là công chúng Hiệu quả đầu tiên cần được nghiên cứu của một chương trình truyền hình là hiệu quả truyền thông của nó Do vậy, đề tài thực hiện một điều tra xã hội học có quy mô nhỏ để đánh giá hiệu quả, chất lượng các chương trình truyền hình về bảo tồn đa dạng sinh học thông qua ý kiến của công chúng Dự kiến cuộc điều tra được thực hiện với 300 bảng hỏi được phát cho khách thể nghiên cứu là đối tượng học sinh sinh viên và người dân đang sống và làm việc tại thủ đô Hà nội

Trang 15

- Phương pháp quan sát trực tiếp: Do người thực hiện đề tài chuyên

viên truyền thông tại Tổng cục Môi trường- Bộ Tài nguyên và Môi trường, một đơn vị có hoạt động hợp tác chặt chẽ về nội dung truyền thông với Đài Truyền hình Việt Nam, nên tôi có điều kiện tiếp xúc, quan sát, tìm hiểu, tiếp cận thực tế sản xuất chương trình truyền hình về bảo tồn đa dạng sinh học để phân tích, đánh giá, phát hiện những khó khăn, thuận lợi, thành công và hạn chế của các chương trình cụ thể

- Phương pháp nghiên c ứu trường hợp: Đề tài lựa chọn kênh truyền

hình để nghiên cứu là kênh VTV2

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Người thực hiện đề tài sẽ tiến

hành phỏng vấn sâu với các phóng viên, biên tập viên trực tiếp tham gia sáng tạo tác phẩm, các nhà quản lý của cả đơn vị truyền thông là Đài Truyền hình Việt Nam và lãnh đạo Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học và Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường Ngoài ra chúng tôi còn phỏng vấn một

số nhà nghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam, những chuyên gia truyền thông ở các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tại Việt Nam để tìm hiểu, thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia về hoạt động truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học ở hiện nay ở nước ta

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài chỉ ra một cách hệ thống lý các lý luận và thực tiễn về truyền thông bảo vệ môi trường nói chung và bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng trên truyền hình Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng chất lượng về nội dung

và hình thức thể hiện của các chương trình truyền hình về môi trường trên VTV2 một cách tương đối toàn diện và có hệ thống Rút ra những kinh nghiệm thực tiễn nhằm phục vụ cho công tác chuyên môn

Đề tài phát hiện và củng cố thông tin về thực trạng, khó khăn, thuận lợi,

ưu điểm và tồn tại, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất

Trang 16

lượng chương trình truyền hình về đề tài bảo tồn đa dạng sinh học Làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý trong việc hoạch định những chính sách và xây dựng qui trình sản xuất phù hợp nhằm nâng cao chất lượng chương trình truyền hình về bảo tồn đa dạng sinh học

Kỳ vọng trở thành nguồn tư liệu tham khảo về truyền thông bảo vệ môi trường nói chung và truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc

tế, các cơ quan báo chí, các nhà nghiên cứu báo chí, sinh viên báo chí và những người có quan tâm tới hoạt động này

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về đa dạng sinh học và truyền thông

về đa dạng sinh học ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học trên Kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng chất lượng hoạt động truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học của các chương trình truyền hình

Trang 17

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ

TRUYỀN THÔNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM

1.1 Một số chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn

đề Bảo tồn đa dạng sinh học

Nhằm ngăn chặn suy thoái đa dạng sinh học, từ đầu những năm 1960 Chính phủ và các Bộ, ngành đã xây dựng các chính sách và nhiều văn bản pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học Từ đó đến nay, việc cải cách thể chế và luật pháp đã phát triển nhanh chóng với sự ra đời nhiều bộ luật có liên quan tới bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm

1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật Đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật Thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, Luật

Đa dạng sinh học được Quốc hội phê chuẩn ngày 13 tháng 11 năm 2008

Có thể nói rằng, Luật Đa dạng sinh học ra đời đã đánh dấu một bước tiến căn bản trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Lần đầu tiên, có bộ Luật đề cập tổng thể, bao quát hết các khía cạnh bảo tồn, từ vấn đề quy hoạch bảo tồn ĐDSH, đến bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, loài, nguồn gen Luật cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập các cơ chế tài chính, hoàn thiện tổ chức, tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH Ngoài ra, đây cũng là văn bản đã đặt mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học là trên hết

Trước khi Luật Đa dạng sinh học ra đời, việc quản lý các hoạt động liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học được điều chỉnh bởi 03 Luật chính sau: Luật Thuỷ sản năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

Trang 18

Luật Thủy sản được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 (số 17/2003/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 Luật này quy định 02 hệ thống các khu bảo tồn vùng nước thủy nội địa và khu bảo tồn biển với các mức phân hạng: vườn quốc gia; khu bảo tồn loài và sinh cảnh; và khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh Theo điều 9 của Luật Thủy sản, Chính phủ ban hành tiêu chuẩn để phân loại và công bố các khu bảo tồn; quy hoạch, xây dựng và phân cấp quản lý các khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển; ban hành quy chế quản lý khu bảo tồn có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2004 (số 29/2004/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2005 Đây là văn bản rất quan trọng đối với công tác bảo vệ hệ sinh thái rừng, một trong các hệ sinh thái có diện tích lớn nhất, giầu đa dạng sinh học và có nhiều giá trị quan trọng đối với đời sống đất nước và con người Việt Nam Luật BV&PTR đã quy định Hệ thống rừng đặc dụng được

sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: (i) Vườn quốc gia; (ii) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; (iii) Khu bảo

vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; (iv) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học

Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (số 52/2005/QH11) và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2006 Văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam Theo Luật Bảo vệ môi trường, các khu vực và hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế phải được điều tra, đánh

Trang 19

giá và lập quy hoạch để bảo vệ dưới dạng: (i) Khu bảo tồn biển ; (ii) Vườn Quốc gia; (iii) Khu dự trữ thiên nhiên; (iv) Khu dự trữ sinh quyển; và, (v) Các khu bảo tồn loài và sinh cảnh Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật Bảo vệ môi trường đưa ra 7 căn cứ thành lập khu bảo tồn, đó là: (i) Giá trị di sản tự nhiên của thế giới, quốc gia và địa phương; (ii) Giá trị nguyên sinh, tính đặc dụng, phòng hộ; (iii) Vai trò điều hoà, cân bằng sinh thái vùng; (iv) Tính đại diện hoặc tính độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên; (v) Nơi cư trú, sinh sản, phát triển thường xuyên hoặc theo mùa của nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu, quý hiếm bị đe doạ tuyệt chủng; (vi) Giá trị sinh quyển, sinh cảnh, cảnh quan thiên nhiên, sinh thái nhân văn đối với quốc gia, địa phương; và, (vii) Các giá trị bảo tồn khác theo quy định của pháp luật

Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm

2008 (số 20/2008/QH12) và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2009 Theo luật này, bảo tồn đa dạng sinh học được hiểu là (i) là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; (ii) bảo vệ sinh cảnh tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của thiên nhiên; và, (iii) nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Luật Đa dạng sinh học phân chia khu bảo tồn thiên nhiên theo 5 loại hệ sinh thái: (i) rừng, (ii) biển, (iii) đất ngập nước, (iv) núi đá vôi, và (v) đất chưa sử dụng (Điều 34) Theo luật này, các khu bảo tồn được phân thành 4 loại: (i) Vườn Quốc gia; (ii) khu bảo tồn thiên nhiên; (iii) khu bảo tồn loài và sinh cảnh; và, (iv) Khu bảo vệ cảnh quan Luật đồng thời quy định “vùng đệm” là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn

Trước khi Luật Đa dạng sinh học được ban hành, các bộ Luật khác, đặc biệt là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản đã quy định nhằm quản

Trang 20

lý, điều chỉnh một loạt các đối tượng cụ thể như: hệ sinh thái rừng, động vật, thực vật rừng, hệ sinh thái biển, động thực vật biển, vùng nước địa Còn với Luật Đa dạng sinh học, văn bản này đã đề cập một cách trực tiếp nhất đến trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học theo nghĩa đầy đủ nhất của thuật ngữ này, đó là: đa dạng sinh học là sự phong phú về gen , loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên (Điều 3 khoản 5), không phân biệt nguồn gen động vật hay thực vật, loài sinh vật trên cạn hay dưới nước, hệ sinh thái rừng, biển hay đất ngập nước Đây là cách tiếp cận của Công ước Đa dạng sinh học đã được cộng đồng quốc tế công nhận

Như vậy, cho đến nay, đã và đang tồn tại 03 bộ Luật chính liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, đó là: Luật Thuỷ sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật Đa dạng sinh học Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” (Điều 83.2); “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một

cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau” (Điều 83.3) Theo vậy, có thể hiểu khi Luật Đa dạng sinh học được ban hành sẽ có những điều khoản áp dụng

“thay thế” các điều khoản liên quan của các Luật Thuỷ sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường nếu xét về mục đích bảo tồn đa dạng sinh học

Tuy nhiên, trên thực tế cho đến thời điểm này, Luật Đa dạng sinh học chưa có đối tượng cụ thể để quản lý vì chính các đối tượng này đã được điều chỉnh bởi Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong thời gian qua

Bên cạnh các bộ Luật đã đề cập ở trên, trong thời gian qua không thể không đề cập tới một văn bản có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác bảo tồn

Trang 21

đa dạng sinh học ở Việt Nam Đó là Kế hoạch Hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học (gọi tắt là Kế hoạch 79) (được ban hành theo Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ) Ở thời điểm năm 2007, đây là văn bản có tính tổng thể nhất về bảo tồn đa dạng sinh học với nhiều mục tiêu, chỉ tiêu được đặt ra cho đến năm 2010 Đầu năm 2011, Bộ Tài nguyên & Môi trường đã có báo cáo đánh giá 03 năm thực hiện Kế hoạch 79

1.2 Môi trường và đa dạng sinh học

1.2.1 Môi trường và bảo vệ môi trường

Môi trường thể hiện mối quan hệ giữa con người và cách ứng xử của nó đối với tự nhiên và xã hội xung quanh Không một sinh vật, một cá thể thậm chí một con người nào có thể sống thiếu môi trường xung quanh Đối với con người, môi trường bao quanh gồm cả khía cạnh tự nhiên và xã hội Hiện nay

có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau về môi trường và các yếu tố nội tại của môi trường

Môi trường là nơi xảy ra một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình,

trong quan hệ với hiện tượng, quá trình ấy Cũng có khái niệm cho rằng, môi trường là toàn bộ, nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó có con người hay một sinh vật tồn tại và phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật đấy [40, tr639]

Môi trường bao gồm: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao

quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này

và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự

Trang 22

nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật,

xã hội loài người và các thể chế Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng

Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam đã quy định: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.[20, tr1]

Môi trường được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Ngoài ra người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như các công trình giao thông công cộng, các phương tiện sản xuất, các tiện nghi sinh hoạt

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới cuộc sống của con người Ví dụ môi trường của học sinh là nhà trường với thày giáo, bạn bè, nội quy, quy định, trường lớp, sân chơi, phòng thí nghiệm với gia đình, họ tộc, hàng xóm với các quy định không thành văn chỉ được thi hành và công nhận với các cơ quan hành chính các cấp và các quy định, quy tắc Nói tóm lại môi trường là tất cả những gì bao quanh chúng ta, giúp chúng ta tồn tại và phát triển [38, tr6-7]

Trang 23

Bảo vệ môi trường

Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo

vệ đa dạng sinh học [20, tr1]

Bảo vệ môi trường là các hoạt động của con người nhằm ngăn chặn và chống lại mọi sự xâm phạm nhằm giữ gìn chất lượng và số lượng các yếu tố của môi trường, tránh các tác động xấu trước mắt và lâu dài

Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành sạch đẹp, cải thiện điều kiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo

vệ môi trường Luật Bảo vệ môi trường đã ghi rõ: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường"

1.2.2 Đa dạng sinh học

1.2.2.1 Khái niệm đa dạng sinh học

“Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên” [19,tr 2]

Thuật ngữ "đa dạng sinh học" được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980 Định nghĩa này bao gồm hai khái

Trang 24

niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần

xã sinh vật) Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học" này Trong đó, định nghĩa của tổ chức FAO (Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc) cho rằng: "đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái"

Đa dạng sinh học (tiếng Anh: biodiversity) được định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau

Theo trang web http://vietnamnationalparks.com: Đa dạng sinh học là

sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:

1 Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm

2 Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể

3 Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau

Có thể hiểu rằng: Đa dạng sinh học là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống, loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất

cả sự tập hợp phức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái Đa dạng

Trang 25

sinh học được thể hiện ở ba cấp độ: đa dạng di truyền, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái (http://bidoupnuiba.gov.vn/)

Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen , loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên Như vậy, đa dạng sinh học gồm toàn bô ̣ các gien , loài và hệ

sinh thái trên hành tinh này Hay nói cách khác, đa dạng sinh học chính là tất

cả các loài sinh vật sinh sống xung quanh chúng ta và bao gồm cả chúng ta – con người ĐDSH có thể là các cây, con vẫn cung cấp lương thực , thực phẩm cho chúng ta hàng ngày ; các loài cây thuốc truyền thống và cây nguyên liê ̣u

để chế biến tân dược ; các loài hoa tô điểm cho cuộc sống đến các loài động thực vật hoang dã như sư tử, báo, ngựa vằn sống ở hoang mạc châu Phi xa xôi, loài chim cánh cụt ở Nam Cực, cá heo, cá voi ngoài biển khơi hay những chú voi ở Bản Đôn, chú tê giác ở Vườn quốc gia Cát Tiên…Đa dạng sinh học còn bao gồm các loài vi khuẩn và cả những sinh vật phù du khởi đầu nh ững chuỗi thức ăn, đi qua các mắt xích rồi kết thúc ở các món ăn của con người…

Đa dạng sinh học còn bao gồm các hệ sinh thái như các cánh rừng tự

nhiên giúp điều hòa nguồn nư ớc và khí hậu; các vùng biển với nguồn lợi

phong phú cung cấp cá, tôm, cua, hến… Đa dạng sinh học còn là sự tổng hòa của tất cả các gien, các loài và các hệ sinh thái giúp tạo nên những hoàn cảnh

sống khác nhau cho loài ngư ời Sự đa dạng về điều kiện sống đã tạo nên một mạng lưới an toàn của thiên nhiên Chúng giúp con người và xã hội loài người

có thể đương đầu và thích ứng với nhi ều sự đổi thay, như hiện tượng biến đổi khí hậu đang xảy ra gần đây là mô ̣t ví du ̣ điển hình

Tuy nhiên, đa dạng sinh học không giống nhau đồng đều trên toàn thế giới, mà nó thay đổi do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự thay đổi theo vĩ độ và đới khí hậu Nếu tính sự thay đổi vĩ độ từ từ cực đến xích đạo, thì càng về vùng nhiệt đới, sự đa dạng loài càng tăng đối với hầu hết các nhóm sinh vật Ví dụ: Dù cùng diện tích, nhưng một nước nằm ở vùng

Trang 26

nhiệt đới như Kenia lại có 308 loài thú, trong khi đó Pháp – một nước ở vùng

ôn đới chỉ có 113 loài Sự tương phản này thể hiện rõ rệt đối với cây cỏ và thực vật có hoa Ví dụ: một hecta rừng Amazon ở Peru hay vùng đất thấp ở Malaysia có thể có đến hơn 200 loài cây, trong khi đó ở rừng Châu Âu hay

Mỹ thì chỉ có khoảng 30 loài trong cùng diện tích Có lẽ chính vì vậy, mà nơi

có đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới, chỉ chiếm 7% diện tích trái đất nhưng lại chứa ½ tổng số loài trên thế giới

Tương tự như trên cạn, sự thay đổi đa dạng sinh học dưới nước cũng tuân theo quy luật trên, nghĩa là càng đi về vùng nhiệt đới, thì sự đa dạng loài càng tăng Chính vì vậy, tương đương với các cánh rừng mưa nhiệt đới trên cạn, các rạn san hô dưới đại dương cũng được tôn vinh như “rừng mưa nhiệt đới” dưới biển cũng bởi chính sự đa dạng về các loài cao Rạn san hô lớn nhất thế giới là rạn San Hô Lớn (Great Barrier Reefs) ở bờ biển phía đông nước

loài cá, 4000 loài thân mềm, 5 loài rùa biển và là nơi sinh sản của khoảng 252 loài chim Mặc dù chỉ chiếm 0,1% diện tích đại dương, nhưng rạn san hô này lại có tới 8% các loài cá trên thế giới

1.2.2.2 Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh

thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu

vâ ̣t di truyền [19, tr 1]

Bảo tồn Đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các giống, loài sinh sống trên trái đất Nhưng bên cạnh đó: "Yếu tố cơ bản đầu tiên của bảo tồn là cần một từ đồng nghĩa với phát triển" (Gifford Pinchot, 1955)

Trang 27

Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu

và nguyện vọng của các thế hệ tương lai Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy

cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái đó trong tương lai

Hiện nay có các phương thức bảo tồn chủ yếu là bảo tồn tại chỗ situ) và bảo tồn chuyển vị (Ex-situ).Trong khi phương thức bảo tồn tại chỗ là nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng, phương thức bảo tồn chuyển vị bao gồm các hoạt động nhằm bảo tồn các loài mục tiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự nhiên của chúng

(In-Hai phương thức bảo tồn này có tính chất bổ sung cho nhau Những cá thể từ các quần thể dược bảo tồn Ex-situ có thể được đưa vào thiên nhiên nơi

có phân bố tự nhiên của chúng để tăng cường cho các quần thể đang được bảo tồn In-situ và việc nghiên cứu các quần thể được bảo tồn Ex-situ có thể cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về các đặc tính sinh học của loài và từ đó hỗ trợ cho việc hình thành các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn cho các quần thể được bảo tồn In-situ (http://bidoupnuiba.gov.vn/)

Như vậy, Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các giống, loài sinh sống trên trái đất Hay nói cách khác, bảo tồn đa dạng sinh học về cơ bản là duy trì các quần thể loài đang tồn tại và và phát triển

1.2.2.3 Một số vấn đề chung về đa dạng sinh học ở Việt Nam

Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo Ðông Dương, trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu tiếp cận với xích đạo, phần đất liền trải dài trên 15 vĩ độ từ

Trang 28

phía Bắc xuống phía Nam khoảng 1.650 km Việt Nam có tổng diện tích tự

núi Vùng biển bờ biển dài khoảng 3260 km với hàng ngàn đảo lớn nhỏ, có

nhiệt đới gió mùa mà còn có cả khí hậu á nhiệt đới và ôn đới núi cao ở các vùng núi

Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu là cơ sở rất thuận lợi để tạo nên đa dạng sinh học vô cùng phong phú và đặc sắc của Việt Nam, thể hiện ở đa dạng các hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng nguồn gen Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, mức độ đa dạng sinh học (ÐDSH) ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian

Những nét đặc trưng của đa dạng sinh học ở Việt Nam

- Đa dạng hệ sinh thái: Cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có hệ thống

chính thức phân loại các hệ sinh thái Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, có thể chia các hệ sinh thái của Việt Nam thành 3 nhóm chính: hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái thuỷ vực nước ngọt và hệ sinh thái biển và ven bờ Các hệ sinh thái ở Việt Nam lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, kể cả các tác động của thiên nhiên, cũng như của con người Sự đa dạng này bao gồm cả hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái thuỷ vực nước ngọt,

hệ sinh thái biển và ven bờ

- Ða dạng loài: Bao gồm đa dạng loài về thực vật, động vật ở cạn, vi

sinh vật, sinh vât nước ngọt và sinh vật biển và đa dạng nguồn gen cây trồng, vật nuôi

Giá trị của đa dạng sinh học ở Việt Nam: Tài nguyên sinh vật và ĐDSH

ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, thể hiện ở các phương diện: sinh thái, kinh tế, văn hoá và xã hội Bao gồm: (1) Giá trị sinh thái và môi trường và (2) Giá trị kinh tế

Trang 29

Nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm đa dạng sinh học bao gồm: Khai thác quá mức tài nguyên sinh vật bao gồm: khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ, đánh bắt thủy sản bằng phương pháp không bền vững Săn bắn và buôn bán trái phép động vật hoang dã; chuyển đổi mục đích sử dụng đất một cách thiếu cơ sở khoa học, thay đổi phương thức sử dụng đất; phát triển cơ sở

hạ tầng; sự di nhập các giống mới và các loài sinh vật ngoại lai; ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu; sức ép từ gia tăng dân số và di cư tự do

1.3 Truyền thông về đa dạng sinh học

bảo sự phát triển bền vững [7, tr15] Như vậy, truyền thông là quá trình tương

tác liên tục giữa hai hay nhiều đối tượng, trong đó có sự lưu chuyển dòng thông tin chủ yếu từ đối tượng cung cấp thông tin tới đối tượng tiếp nhận và dòng thông tin phản hồi ngược lại từ khách thể thông tin với chủ để thông tin

1.3.2 Một số nội dung của hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam

Hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam được tập trung vào các nhóm thông tin sau đây:

Giới thiệu về thực trạng đa dạng sinh học và bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam, đặc biệt quan trọng là: Bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên; Bảo tồn các loài hoang dã, các giống vật nuôi cây trồng nguy cấp, quý hiếm; Sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học; Bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu

Trang 30

Giới thiệu và phổ biến hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đa dạng sinh học đặc biệt là các văn bản luật và dưới luật có liên quan như: Luật Bảo vệ môi trường, Luật biển, Luật thủy sản, Luật Bảo tồn đa dạng sinh học

và các văn bản dưới luật khác

Các các nhân, tổ chức điển hình trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học đặc biệt là những tổ chức cá nhân có đóng góp quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn, cứu hộ, nuôi giữ các loài sinh vật quý hiếm và kêu gọi sự giúp

đỡ của cộng đồng đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học

Phát hiện, đưa ra ánh sáng, đưa ra thông tin nhằm đầu tranh với các đối tượng có liên quan tới các vụ việc xâm hại đa đạng sinh học ở Việt Nam Đặc biệt là các vụ săn bắn, nuôi nhốt, ngược đãi, buôn bán động vật trái phép, đưa trái phép các sinh vật ngoại lai từ nước ngoài vào Việt Nam

Tiếp nhận và xử lý các thông tin phản hồi từ cộng đồng đối với thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương, đặc biệt là thông tin về hành động xâm phạm đa dạng sinh học, săn bắn, nuôi nhốt, ngược đãi, buôn bán động vật trái phép, đưa trái phép các sinh vật ngoại lai vào Việt Nam

1.3.3 Mục tiêu của hoạt động truyền thông đa dạng sinh học

Cũng như bất kỳ hoạt động truyền thông nào khác, truyền thông về da

dạng sinh học cũng nhằm mục tiêu trước hết là phổ biến thông tin kiến thức,

cung cấp thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật, các kiến thức chung

về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học, các thông tin có liên quan nhằm mục tiêu nâng cao sự hiểu biết của số đông công chúng về đa dạng sinh

học và bảo tồn đa dạng sinh học Từ sự nâng cao nhận thức, đối tượng được

truyền thông hiểu được đâu là hành động hợp lý đâu là hành động không hợp

lý, dẫn tới sự thay đổi thái độ và thay đổi hành vi của người dân trong thái

độ và hành động đối đa dạng sinh học và các thành phần của nó Ví dụ như từ hoạt động truyền thông, người dân hiểu được đa dạng sinh học và sự đa dạng

Trang 31

loài là rất quan trọng đối với thế giới, giữ gìn và bảo vệ các loài động vật hoang dã là cần thiết Dẫn tới người dân hiểu được việc ăn thịt thú rừng không những là phạm pháp, không đạt được nhiều tác dụng thần kỳ như mong muốn mà còn là góp phần hủy hoại môi trường sống Từ đó, người dân sẽ từ

bỏ thói quen ăn thịt các loài động vật hoang dã tình trang đang diễn ra phổ biến hiện nay

1.3.4 Diện mạo chung của hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam

Hoạt động của các tổ chức thuộc chính phủ cấp trung ương và địa

phương: Ở cấp trung ương, có một số có các vị chịu trách nhiệm quản lý nhà

nước về các vấn đề liên quan tới đa dạng sinh học là Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Khoa học Công nghệ, trong đó Cục Bảo tồn đa dạng sinh học là cơ quan chuyên môn chủ yếu trong quản lý nhà nước về đa dạng sinh học Đây vừa là nơi tham mưu và soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về Bảo tồn Đa dạng sinh học để Bộ Tài nguyên và môi trường trình Chính phủ, chính phủ quyết định ban hành các văn bản dưới luật và trình Quốc hội đối với Luật Bảo tồn đa dạng sinh học

Hoạt động truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay có hai hình thức chính: (1) Nhiệm vụ truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học cũng được coi là nhiệm vụ thường xuyên của các đơn vị này, ví dụ: Tổ chức hoạt động truyền thông nhân Ngày Quốc tế về Đa dạng sinh học (22/05), Ngày Bảo tồn

hổ (29/07), Chiến dịch Bảo tồn gấu (2) Các nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan quản lý về bảo tồn đa dạng sinh học như soạn thảo và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có các hoạt động truyền thông kèm theo Tuy nhiên, các hoạt động này chưa thường xuyên và liên tục, chủ yếu được thực hiện ở thời điểm trước hoặc sau ngày kỷ niệm hoặc ngày diễn ra sự kiện

Trang 32

Ngoài ra, cục Bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Tổng cục Môi trường có thực hiện một số hoạt động hợp tác không thường xuyên với các cơ quan báo chí để cung cấp thông tin liên quan tới hoạt động ngành Ở cấp địa phương, các hoạt động này còn khá lẻ tẻ, chưa thành hệ thống và chưa sâu sắc Một số hoạt động tiêu biểu là: Ngày 02/8/2008 Trung tâm Đa dạng Sinh học và Phát triển (CBD) thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới (ITB) được sự tài trợ của WWF

và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) đã tổ chức "Diễn đàn Truyền thông Bảo tồn Đa dạng Sinh học Khu vực phía Nam Việt Nam" tại Tp

Hồ Chí Minh Các đại biểu tham gia Diễn đàn đến từ 15 Khu bảo tồn/Vườn Quốc gia, các Viện nghiên cứu, trường Đại học, các tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ có quan tâm đến truyền thông bảo tồn Đa dạng Sinh học Diễn đàn diễn

ra sôi nổi với các bài trình bày của các KBT/VQG cùng với sự tham gia thảo

Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tại Việt Nam: Theo thống kê của Vụ Các tổ chức phi chính phủ- Bộ Ngoại giao,

hiện nay có khoảng 990 tổ chức phi chính phủ quốc tế và hàng trăm tổ chức phi chính phủ Việt Nam đang hoạt động tại Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội- tài nguyên môi trường Trong đó, có một con số không nhỏ các tổ chức hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, tiêu biểu như Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN, Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên WWF, Tổ chức Birdlife International (tổ chức bảo tồn các loài chim quốc tế) và hàng trăm tổ chức khác tuy không hoạt động hoàn toàn trong lĩnh vực đa dạng sinh học nhưng thường xuyên có các chương trình hoặc dự án liên quan tới bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ đa dạng sinh hoạt nói riêng Hoạt động truyền thông của các tổ chức này chủ yếu là đưa ra các tài liệu, kết quả nghiên cứu, công bố các số liệu khoa học, in ấn các tài liệu phát tay, tổ chức hội thảo hoặc đưa các thông tin về dự án trên các kênh thông tin báo chí

Trang 33

WWF Việt Nam với 4 chiến dịch: Thứ nhất: Bảo vệ tính toàn vẹn cảnh quan và phục hồi sau biến đổi khí hậu; Thứ hai: Đảm bảo phát triển thủy điện bền vững; Thứ 3: Tăng cường năng lực thực thi pháp luật và quản lý khu bảo tồn; Thứ 4: Đảm bảo tài chính bền vững và đầy đủ Các hoạt động của WWF trải dài trên 3 khu vực chính: Trung Trường Sơn, Nam Trường Sơn và Đồng bằng Sông Cửu Long Các hoạt động của WWF và các đối tác thường xuyên được cập nhật trên trang web của tổ chức này và các phương tiện thông tin đại

IUCN đã có mối liên hệ lâu dài với Chính phủ Việt Nam ngay từ đầu khi IUCN hỗ trợ kỹ thuật năm 1984-1985 cho việc chuẩn bị xây dựng Chiến lược Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia lần thứ nhất Kể từ đó tới nay, IUCN Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam Trong đó có việc hỗ trợ kỹ thuật cho Cục Môi trường và Kế Hoạch Hành động Đa dạng Sinh học trong thời gian 1993-

1996, Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững cho giai đoạn 1991-2000, Kế hoạch Hành động Môi trường Quốc gia 5 năm giai đoạn 2001-

2005, Luật Đa dạng Sinh học của Việt Nam

Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của IUCN vào năm 1993 Văn phòng đại diện đã được thành lập tại Hà Nội trong cùng năm đó IUCN đã có hai NGO thành viên ở Việt Nam, đó là Viện Kinh tế Sinh Thái (ECO-ECO), Trung Tâm Nghiên cứu Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường (CRES), và Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD).Với mục tiêu tổng thể là khuyến khích phát triển bền vững ở Việt Nam, có 4 lĩnh vực chính mà Sida hỗ trợ, bao gồm: Quản lý nhà nước: hỗ trợ việc xây dựng khuôn khổ pháp lý, xây dựng năng lực cho các cơ quan nhà nước và các đoàn thể xã hội, tăng cường thể chế, cải thiện công tác thi hành luật, và xây dựng các cơ chế khuyến khích để bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên

Trang 34

nhiên; Quy hoạch môi trường: lồng ghép quy hoạch môi trường vào phát triển kinh tế nhằm hài hòa giữa phát triển và bảo tồn; Dịch vụ môi trường: nhằm giúp duy trì những lợi ích mà các hệ sinh thái và môi trường có thể đem lại cho người dân Việt Nam Đây là một trong những lĩnh vực truyền thống của IUCN Việt Nam trong những nỗ lực trước đây; Thay đổi khí hậu: nhằm hỗ trợ

và giúp điều phối những nỗ lực của chính phủ và các cộng đồng để xây dựng những chiến lược thích nghi nhằm đối phó với các biến đổi về khí hậu IUCN cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động truyền thông về môi trường và đa dạng sinh học như hợp tác với các cơ quan báo chí hoặc hỗ trợ xuất bản sách

đỏ Việt Nam

Birthlife Việt Nam được tổ chức để hoạt động trong lĩnh vực xây dựng năng lực khả năng quản lý và lãnh đạo tập trung vào hoạt động bảo tồn tại địa phương, quản lý bảo tồn, bảo tồn trong mối liên hệ với con người và trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xây dựng năng lực nghiên cứu khoa học về bảo tồn, giáo dục và nâng cao nhận thức về bảo tồn, tập trung vào các hoạt động chính là: (1) bảo tồn loài, (2) bảo tồn khu vực/không gian sống/hệ sinh thái; (3) Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa trên cộng đồng Hình thức truyền thông chủ yếu là thực hiện các lớp học tại cộng đồng và thông tin trên website

Ngoài ra còn rất nhiều tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế khác tham gia bảo tồn đa dạng sinh học và truyền thông bảo tồn đa dạng sin học, hoặc ít nhất là đề cập tới vấn đề này như là bối cảnh cho các hoạt động nâng cao năng lực, nghiên cứu khoa học hoặc là thực địa khác

Hoạt động của các cơ quan báo chí và truyền thông hiện nay tại Việt Nam: với nhiều mức độ khác nhau, đều có đề cập tới vấn đề đa dạng

sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Trong đó, các cơ quan báo chí ngành tài nguyên môi trường dành thời lượng và số trang tương đối cao hơn so với các báo chí khác Hiện nay có Báo Tài nguyên- Môi trường, Tạp

Trang 35

chí Môi trường là hai cơ quan báo chí ngành chuyên môn về môi trường Ngoài ra, các báo in đều có các bài phản ánh hoặc thậm chí cả chuyên mục phản án về vấn đề môi trường Trong đó, phải nhắc tới Báo Đầu tư với

chuyên mục Phát triển xanh Các cơ quan báo chí đã sử dụng nhiều ấn phẩm

với nhiều dạng tác phẩm, nhiều nguồn thông tin, nhiều mức độ đưa tin khác nhau về đa dạng sinh học nói riêng và tài nguyên môi trường nói chung Đài THVN từ lâu cũng dành sự quan tâm cho các đề tài về môi trường nói chung, bảo tồn đa dạng sin học nói chung Là kênh chuyên biệt về Khoa học- Giáo dục, kênh VTV2 cũng đề cập tới rất nhiều vấn đề liên quan trong hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học với mục tiêu là nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi về bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng thông qua các chương trình và chuyên mục được phát sóng thường xuyên, định kỳ

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Đa dạng sinh học là một trong những thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên Nằm trong khu vực khí hậu cận nhiệt đới gió mùa nhưng nhờ hình dạng lãnh thổ và địa hình độc đáo, hệ thống động thực vật ở Việt Nam hết sức phong phú và đa dạng, với nhiều loài đặc hữu quý hiếm Có thể nói, thiên nhiên đã hình thành ở nước ta một hệ thống đa dạng sinh học phong phú

và giàu có Tuy nhiên vấn đề bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học cũng luôn là một thách thức đáng kể

Tham gia hoạt động bảo tồn sinh học ở Việt Nam không chỉ có các cơ quan chức năng, các cơ quan tổ chức nhà nước trung ương và địa phương mà còn có sự tham gia tích cực của các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước Trong đó, công tác truyền thông là một trong những nội dung quan trọng Sự tham gia của các cơ quan báo chí cũng trở thành một kênh thông tin quan trọng và hiệu quả trong công tác truyền thông về hoạt động bảo tồn sinh học Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian và dung lượng, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu hoạt động truyền thông về bảo tồn đa dạng sinh học trên một kênh sóng của đài truyền hình quốc gia Các chương trình truyền hình được lựa chọn là những chương trình có nhóm đề tài chủ đạo là vấn đề môi trường, bảo

vệ môi trường, duy trì phát triển bền vững trong đó có đề cập tới các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học cấp trung ương và địa phương

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN KÊNH VTV2- ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 2.1 Vài nét về các chương trình truyền hình phản ánh đề tài môi trường của Đài Truyền hình Việt nam

Đài THVN là cơ quan báo chí trực thuộc sự quản lý của Thủ tướng Chính phủ Ngày nay cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đặc biệt là các thiết bị truyền hình, viễn thông, vệ tinh và truyền hình cáp…

đã làm cho các sản phẩm truyền hình trở thành đại chúng với mọi người dân Đài Truyền hình Việt Nam là loại báo hình có ưu thế lớn hơn tất cả các loại hình báo chí khác do tính đặc thù rất lớn trong thông tin truyền tải, vì vậy đã

có sức thu hút đông đảo quần chúng theo dõi

Chính vì những đặc điểm này, Đài THVN đóng vai trò quan trọng trọng việc định hướng tư tưởng chính trị, đường lối, chủ trưởng chính sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với mọi người dân Bên cạnh đó truyền hình còn đóng vai trò không kém phần quan trọng là thông tin nhanh chóng các vấn đề thời sự, kinh tế- xã hội, văn hóa, thể thao đến người dân một cách đầy đủ, toàn diện, đóng vai trò to lớn trong đời sống tinh thần, văn hóa với mọi người dân Không những thế, truyền hình còn là công cụ đắc lực để nâng cao dân trí, phát triển kinh tế đặc biệt là đối với những người dân ở vùng sâu vùng xa

Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường, sự suy giảm các nguồn động vật hoang dã quý hiếm, bảo tồn đa dạng sinh học là vấn đề đang được hết sức quan tâm, đặc biệt ở những nước đang phát triển Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế nước ta cũng gặp phải vấn đề này Nhất là trong những năm gần đây do nền kinh tế nước ta đang đi lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đẩy mạnh quá trình đo thị hóa dẫn tới tình trạng môi trường càng

Trang 38

bị ô nhiễm Do vậy bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề được Đảng

và Nhà nước hết sức quan tâm Công tác truyền thông tuyên truyền cho vấn

đề bảo vệ môi trường, trong đó có bảo tồn đa dạng sinh học được Đài Truyền hình Việt Nam chú trọng, thông qua các chương trình truyền hình với nhiều hình thức thể hiện, nội dung phong phú đa dạng và thông điệp rõ ràng, sáng sủa, đúng đắn

Những chương trình truyền hình đầu tiên về môi trường trong đó có đề cập tới đa dạng sinh học là CKX (chính trị kinh tế xã hội- 1990 với sự bình luận nổi tiếng của nhà báo Trường Phước) hoặc chương trình VKT năm 1996 Ngoài ra chương trình môi trường để lại nhiều dấu ấn trong lòng công chúng

là chuỗi chương trình phát giác sự phá hoại rừng Tánh Linh (Bình Thuận) năm 1996 của nhà báo Trần Bình Minh nay là Tổng giám đốc Đài THVN Qua đó, có thể thấy rằng, các chương trình truyền hình về lĩnh vực môi trường trong đó đề cập tới đa dạng sinh học đã thu hút sự quan tâm phản ánh của Đài

từ khi khởi nguồn

Hiện nay, ngoài việc đưa tin thời sự các vấn đề về môi trường và đa dạng sinh học, VTV hiện đang duy trì các chuyên mục chuyên sâu về môi trường, phát sóng định kỳ:

Chuyên mục Môi trường (thời lượng: 25 phút) phát sóng hàng tuần vào

8h05 - thứ bảy trên kênh VTV1: Đây là chương trình tạp chí chính luận về môi trường Trong đó, 2/3 thời lượng chương trình phản ánh các hiện tượng

và tác hại của biến đổi khí hậu, cảnh báo về hoạt động tiêu thụ động vật hoang

dã, cảnh báo về tình trạng khai thác tài nguyên khoáng sản với công tác bảo

vệ môi trường Bên cạnh đó, 1/3 thời lượng dùng để giới thiệu các mô hình bảo vệ môi trường tại các địa phương, đưa thông tin về các hoạt động bảo vệ môi trường tại các địa phương

Chương trình Hành trình xanh - thời lượng 5 phút (đổi tên thành

"24h sống xanh" từ tháng 6/2012), phát sóng 21h15 từ thứ 2 đến thứ 6 trên

Trang 39

kênh VTV1, phát lại vào 11h15 trên kênh VTV3: Cập nhật thông tin và cung cấp những kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường với những câu chuyện sinh động, thiết thực được truyền tải bằng hình thức dễ hiểu

Ngoài các chương trình Việt Nam xanh, Phát triển bền vững và Các vấn đề giáo dục sẽ được nghiên cứu kỹ trong luận văn này, trên kênh VTV2 còn có các chuyên mục có nội dung phổ biến kiến thức phòng chống thiên tai

và các chương trình khoa giáo phổ biến kiến thức về khoa học kỹ thuật, công nghệ, pháp luật về tài nguyên, môi trường mà tiêu biểu là chương trình Khám phá thế giới (là chương trình khai thác từ các kênh của nước ngoài, là các phim tài liệu khoa học rất có giá trị); những mảnh ghép cuộc sống (chương trình dạng tạp chí có các phóng sự đề cập tới vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam)

Ngoài ra trên các kênh sóng khác của Đài như VTV3, VTV4, VTV5, VTV6, VTV9 hàng ngày cũng thường xuyên phản ánh các tin tức, phóng sự thậm chí là chuyên mục phản ánh các vấn đề môi trường nói chung và bảo tồn

đa dạng sinh học nói riêng

2.2 Giới thiệu về chương trình Việt Nam Xanh, Phát triển bền vững và Các vấn đề giáo dục

2.2.1 Chương trình "Việt Nam Xanh"

Trước đó trên kênh VTV2 và các kênh khác đã và đang có một số chương trình truyền hình khai thác mảng đề tài con người và thiên nhiên ở các vùng miền của tổ quốc theo hình thức du khảo, khám phá Tuy nhiên, có thể

do hạn chế về nguồn lực và thời gian nên các chương trình này chỉ dừng lại ở mức độ mô tả bên ngoài của sự việc, hiện tượng Tiếp nối chương trình Đại ngàn Trường Sơn do Ban Khoa giáo, Đài THVN sản xuất, chương trình Việt Nam Xanh bắt đầu phát sóng vào năm 2008

Trang 40

Mục tiêu

Chương trình này hướng đến mục tiêu nâng cao kiến thức và nhận thức của công chúng về các vấn đề bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Cụ thể:

Đưa đến cho khán giả góc nhìn chân thực, sống động về môi trường, thiên nhiên và cuộc sống ở các vùng miền của đất nước;

Diễn giải những kiến thức khoa học về tài nguyên môi trường một cách trực quan và dễ hiểu;

Cảnh báo nguy cơ đe dọa đối với thiên nhiên và môi trường;

Hướng dẫn, kêu gọi người dân bảo vệ thiên nhiên, môi trường

Đối tượng khán giả: (1) Khán giả trẻ (học sinh, sinh viên ) – đối

tượng có ý thức và khả năng thay đổi nhận thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng (2) Những đối tượng yêu thích khám phá thiên nhiên và môi trường (3) Khán giả ở các khu vực nông thôn, miền núi – nơi còn lưu giữ những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá

Thời lượng phát sóng: Số lượng: 26 chương trình/năm; trung bình: 2

chương trình/tháng; thời lượng: 30 phút /1 chương trình

Cấu trúc chương trình

Phần 1: Theo chân nhà khoa học (20 phút):Nhóm thực hiện phối hợp

với các tổ chức, dự án có hoạt động nghiên cứu, triển khai tại hiện trường để thực hiện chương trình Các nhà nghiên cứu, nhà khoa học sẽ trực tiếp giới thiệu các vấn đề về môi trường, tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, phát triển bền vững được tại thực địa một cách thực tế và sinh động Các hoạt động nghiên cứu được quay không cần sắp đặt mà dựa theo chính chương trình của các nhà khoa học

Phần 2: Lăng kính thiên nhiên (8 phút):Giới thiệu các giá trị tài nguyên

thiên nhiên qua góc nhìn của nhân vật trải nghiệm (phóng viên hiện trường,

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cac Mac và F. Ăngghen (1995), Cac Mac và F. Ăngghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cac Mac và F. Ăngghen toàn tập
Tác giả: Cac Mac, F. Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
5. Chính phủ, Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 đã tạo động lực mạnh mẽ cho việc xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 đã tạo động lực mạnh mẽ cho việc xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao
6. GS.Lê Trọng Cúc, (2002), Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên
Tác giả: GS.Lê Trọng Cúc
Nhà XB: Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
7. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2012
8. Đài Truyền hình Việt Nam, Kỷ yếu 30 năm xây dựng và trưởng thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu 30 năm xây dựng và trưởng thành
Tác giả: Đài Truyền hình Việt Nam
9. GS. Phạm Bình Quyền, GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn (2002), Đa dạng sinh học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học
Tác giả: GS. Phạm Bình Quyền, GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
10. Eric Flkhtelius (2002), 10 bí quyết kỹ năng nghề báo (Bản dịch của Nguyễn Văn Dững, Hoàng Anh, Ngọc Oanh), NXB Lao động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 bí quyết kỹ năng nghề báo
Tác giả: Eric Flkhtelius
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2002
11. Grabennhicop (2003), Báo chí trong kinh tế thị trường, NXB Thông tân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí trong kinh tế thị trường
Tác giả: Grabennhicop
Nhà XB: NXB Thông tân
Năm: 2003
12. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới & xu hướng phát triển, NXB Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới & xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2008
13. Vũ Đình Hòe (Chủ biên) (2000), Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quản lý, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quản lý
Tác giả: Vũ Đình Hòe
Nhà XB: Hà nội
Năm: 2000
14. Khoa Báo chí (2005), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học KH XH-NV, Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Khoa Báo chí
Năm: 2005
15. Khoa Báo chí, Phân viên Báo chí và Tuyên truyền- Học viện Chính trị quốc gia HCM (2000), Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn
Tác giả: Khoa Báo chí, Phân viên Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
16. Khoa Báo chí- Học viện Báo chí và Tuyên truyền (1998), Truyền hình trong các hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, Tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình trong các hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại
Tác giả: Khoa Báo chí- Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 1998
17. Khoa báo chí MGU (1997), Những vấn đề cấp thiết của báo chí, Maxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cấp thiết của báo chí
Tác giả: Khoa báo chí MGU
Năm: 1997
18. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
21. Hồ Chí Minh, Về vấn đề báo chí, Tài liệu tham khảo, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề báo chí
22. Michael Schudson (2003), Sức mạnh của tin tức truyền thông, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh của tin tức truyền thông
Tác giả: Michael Schudson
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
23. Phan Ngọc (2000), Một cách tiếp cận văn hóa, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cách tiếp cận văn hóa
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
24. Trần Quang Nhiếp (chủ biên) (2002), Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Quang Nhiếp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
27. Phạm Đình Huỳnh, Phạm Chiến Khu (1995), Nghiên cứu Xã hội học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Xã hội học
Tác giả: Phạm Đình Huỳnh, Phạm Chiến Khu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất chương trình truyền hình tại VTV2 - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
Sơ đồ 2.1 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình tại VTV2 (Trang 48)
Bảng 2.2. Tổng hợp kết quả của  nghiên cứu về thói quen tiếp cận thông - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
Bảng 2.2. Tổng hợp kết quả của nghiên cứu về thói quen tiếp cận thông (Trang 61)
Bảng 2.4. Tổng hợp kết quả nhận biết các chương trình truyền hình về - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
Bảng 2.4. Tổng hợp kết quả nhận biết các chương trình truyền hình về (Trang 64)
Bảng 2.3. Tổng hợp kết quả của nghiên cứu về mức độ quan tâm của - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
Bảng 2.3. Tổng hợp kết quả của nghiên cứu về mức độ quan tâm của (Trang 64)
Bảng 2.5. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về các đề tài môi trường được - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
Bảng 2.5. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về các đề tài môi trường được (Trang 65)
Bảng 2.6. Đánh giá mức độ hấp dẫn của các chủ đề về bảo tồn đa dạng - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
Bảng 2.6. Đánh giá mức độ hấp dẫn của các chủ đề về bảo tồn đa dạng (Trang 69)
Bảng 2.7. Mức độ tác động của các mục tiêu truyền thông về đa dạng - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
Bảng 2.7. Mức độ tác động của các mục tiêu truyền thông về đa dạng (Trang 70)
Hình ảnh - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
nh ảnh (Trang 95)
Hình ảnh - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
nh ảnh (Trang 96)
Hình ảnh - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
nh ảnh (Trang 96)
1  Hình hiều   Viê ̣t Nam xanh - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
1 Hình hiều Viê ̣t Nam xanh (Trang 100)
Hình ảnh Yến làm tổ - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
nh ảnh Yến làm tổ (Trang 104)
1’26  Hình ảnh đặc trưng về khối dãy - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
1 ’26 Hình ảnh đặc trưng về khối dãy (Trang 106)
Hình ảnh cuộc sống cư dân trên  Cù lao Chàm là một đảo có cảnh quan địa chất rất đặc thù của đá - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
nh ảnh cuộc sống cư dân trên Cù lao Chàm là một đảo có cảnh quan địa chất rất đặc thù của đá (Trang 107)
4  Bảng chữ cuối  Những người thực hiê ̣n - Vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát 2012-2013
4 Bảng chữ cuối Những người thực hiê ̣n (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm