Lý do lựa chọn đề tài Cần kiệm vựng biên 勤儉彙編 là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đức Đạt, một Thám hoa, một danh nhân, một nhà giáo, một nhân vật lịch sử có tiếng thời Ng
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined PHẦN NỘI DUNG Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1 TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM CẦN KIỆM VỰNG BIÊN Error!
Bookmark not defined
1.1 Tác giả Nguyễn Đức Đạt Error! Bookmark not defined
1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Error! Bookmark not defined 1.1.2 Quê hương, dòng họ, gia đình Error! Bookmark not defined 1.1.3 Học hành, đỗ đạt, đường công danh hoạn lộError! Bookmark not
defined
1.1.4 Sự nghiệp giáo dục Error! Bookmark not defined 1.1.5 Tổng quan trước tác của Nguyễn Đức ĐạtError! Bookmark not
defined
1.2 Tình hình văn bản Cần kiệm vựng biên Error! Bookmark not defined
1.2.1 Bối cảnh sáng tác và niên đại hoàn thành tác phẩm Error!
Bookmark not defined
1.2.1.1 Bối cảnh sáng tác Error! Bookmark not defined 1.2.1.2 Niên đại hoàn thành tác phẩm Error! Bookmark not defined 1.2.2 Mô tả các dị bản Error! Bookmark not defined 1.2.3 Chọn bản để công bố Error! Bookmark not defined Tiểu kết Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ TÁC PHẨM CẦN KIỆM VỰNG
BIÊN Error! Bookmark not defined
2.1 Nội dung tác phẩm Cần kiệm vựng biên Error! Bookmark not defined
2.1.1 Nội dung của Cần kiệm vựng biên với chữ CầnError! Bookmark
not defined
2.1.1.1 Huấn cần Error! Bookmark not defined 2.1.1.2 Cần chính Error! Bookmark not defined 2.1.1.3 Cần chức Error! Bookmark not defined
Trang 22.1.1.4 Cần học Error! Bookmark not defined 2.1.1.5 Cần nghiệp Error! Bookmark not defined 2.1.2 Nội dung của Cần kiệm vựng biên với chữ “Kiệm” Error!
Bookmark not defined
2.1.2.1 Huấn kiệm Error! Bookmark not defined 2.1.2.2 Chủ kiệm Error! Bookmark not defined 1.1.2.3 Phụ kiệm Error! Bookmark not defined 1.1.2.4 Nho kiệm Error! Bookmark not defined 1.1.2.5 Tập kiệm Error! Bookmark not defined
2.2 Giá trị của tác phẩm Cần kiệm vựng biên đối với xã hội ngày nay Error!
Bookmark not defined
2.2.1 Giá trị chính trị - xã hội Error! Bookmark not defined 2.2.1 Giá trị đạo đức – giáo dục Error! Bookmark not defined Tiểu kết Error! Bookmark not defined
PHẦN KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TƯ LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Cần kiệm vựng biên 勤儉彙編 là một trong những tác phẩm tiêu biểu
của Nguyễn Đức Đạt, một Thám hoa, một danh nhân, một nhà giáo, một nhân vật lịch sử có tiếng thời Nguyễn Việc nghiên cứu về tác phẩm của ông
để tìm hiểu về con người, sự nghiệp cũng như tư tưởng, đạo đức và những cống hiến của ông là việc làm vô cùng cần thiết Đặc biệt là trong tình hình hiện nay khi những công trình cũng như chuyên luận nghiên cứu về ông chưa nhiều, chưa đầy đủ
Để chuẩn bị cho đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình, chúng tôi đã tìm tòi những tư liệu có liên quan đến tác giả Nguyễn Đức Đạt
và tác phẩm Cần kiệm vựng biên tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các
nguồn tài liệu khác Trong quá trình tìm tòi và khảo sát ban đầu, chúng tôi nhận thấy đây là tác phẩm thực sự có giá trị và mở ra rất nhiều điều lý thú, nhiều hướng nghiên cứu mới về tác phẩm này cũng như những tác phẩm khác trong hệ thống tác phẩm của Nguyễn Đức Đạt Đồng thời hướng mục đích chung là xây dựng cái nhìn vừa khái quát vừa đầy đủ về tác phẩm văn học chữ Hán thời Nguyễn, cũng như nghiên cứu giá trị nội dung và tư tưởng
tác phẩm Cần kiệm vựng biên từ nhiều khía cạnh văn học, sử học, chính trị,
xã hội học và đạo đức học
Cần kiệm vựng biên là một trong những tác phẩm chữ Hán có giá trị rất
lớn về chính trị, xã hội, đạo đức và văn học của cuối thế kỷ XIX Nội dung
của cuốn sách chia làm 10 mục với 10 nội dung chính: 1 Huấn cần (lời dạy
về chuyên cần); 2 Cần chính (siêng năng trong việc trị nước); 3 Cần chức (siêng năng trong chức vụ); 4 Cần học (siêng năng trong học tập); 5 Cần nghiệp (siêng năng trong nghề nghiệp); 6 Huấn kiệm (lời dạy về tiết kiệm);
Trang 47 Chủ kiệm (sự tiết kiệm của người làm vua); 8 Phụ kiệm (Sự tiết kiệm của quan chức); 9 Nho kiệm (sự tiết kiệm của nhà Nho); 10 Tập kiệm (rèn luyện
sự giản dị tiết kiệm) Mười chủ đề trên có ý nghĩa vô cùng to lớn không những đối với xã hội đương thời mà còn có ý nghĩa với mọi thời đại, mọi chế độ xã hội Đặc biệt trong xã hội ngày nay, những giá trị về cần, kiệm, liêm, chính đang bị đảo lộn, sự quan liêu, lười nhác, xa hoa, lãng phí đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội Việt Nam hiện nay Đó chính là những lý do
chúng tôi lựa chọn đề tài “Khảo cứu về tác phẩm Cần kiệm vựng biên của
Nguyễn Đức Đạt” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Về tác giả Nguyễn Đức Đạt và hệ thống tác phẩm của ông cũng đã có rất nhiều các sách, báo, chuyên luận, một vài luận văn Thạc sĩ, một số lời giới thiệu, trích dẫn trong các tổng tập…
Điển hình nhất là luận văn Thạc sĩ của Ngô Đức Thọ với đề tài Nguyễn Đức Đạt nhà giáo và học giả nửa cuối thế kỷ XIX, năm bảo vệ 1978 Luận
văn giới thiệu một cách chi tiết, cụ thể về tất cả các thông tin về tác giả nguyễn Đức Đạt, từ bối cảnh xã hội, gia đình, quê quán, hành trạng, cho đến quá trình học hành, thi cử, đỗ đạt, đường công danh hoạn lộ, nhân cách, cống hiến…Đồng thời luận văn này còn giới thiệu một cách tổng quát về toàn bộ sáng tác của ông Luận về một số tư tưởng nổi bật của Nguyễn Đức Đạt như quan niệm về chữ “Đạo”, tư tưởng Nho giáo…
Ngoài ra có một số sách, báo, chuyên luận nghiên cứu và giới thiệu về Nguyễn Đức Đạt điển hình như:
Ninh Viết Giao, Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng: Nguyễn Đức Đạt (1824-1887), Nxb Nghệ An, năm 1996
Mai Vũ Dũng, Quan niệm cuả Nguyễn Đức Đạt về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong Nam Sơn tùng thoại, Tạp chí Triết học, năm
2001
Nguyễn Thị Hương, Quan niệm về “Đạo” của Nguyễn Đức Đạt, báo
Trang 5Văn hoá Nghệ An, ngày 14 tháng 4 năm 2010
Các công trình thư mục học, từ điển như:
Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu (Trần Nghĩa - Francois
Gros chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Giới thiệu xuất xứ của
sách Cần kiệm vựng biên, các ký hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Mục Người Đỗ Đạt, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Giới thiệu tóm tắt tiểu
sử Nguyễn Đức Đạt Các nhà khoa bảng Việt Nam (Ngô Đức Thọ chủ biên),
Cùng rất nhiều các bài viết khác
Riêng về tác phẩm Cần kiệm vựng biên của Nguyễn Đức Đạt, cho đến
nay chưa thấy bất kỳ một bản dịch hay đề tài nghiên cứu cũng như sách, báo, chuyên luận nào đề cập đến, có chăng chỉ là một vài bài báo, chuyên luận đề cập sơ qua Đây thực sự là một điều đáng tiếc cho một tác phẩm có giá trị
của một tác giả lớn cuối thế kỷ XIX như tác phẩm Cần kiệm vựng biên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là tác phầm Cần kiệm vựng biên của Nguyễn Đức Đạt Cần kiệm vựng biên là một tác phẩm có giá trị, có ý nghĩa rất lớn đối
với xã hội, nó là sự tổng kết quy chuẩn đạo đức của tiền nhân, đồng thời là khuôn mẫu cho hành vi của mọi tầng lớp trong xã hội đương thời cũng như
xã hội hiện tại và tương lai Tác phẩm Cần kiệm vựng biên của Nguyễn Đức
Đạt hiện có tổng cộng 4 dị bản hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với các kí hiệu VHv 245, VHv 707, VHv 708, A.1418
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu xã hội, thời đại, thân thế và
sự nghiệp tác gia Hán Nôm Nguyễn Đức Đạt, cùng tìm hiểu những giá trị
nội dung tác phẩm Cần kiệm vựng biên của ông
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp chính sau:
Thứ nhất là phương pháp văn bản học: Đây là phương pháp truyền thống của chuyên ngành Hán Nôm học Bắt đầu từ việc sưu tầm văn bản của tác phẩm, đến việc mô tả các dị bản, so sáng đối chiếu giữa các dị bản, tìm
ra những sai khác trong các dị bản…tiếp đến xác định tác giả, niên đại ra đời tác phẩm, cuối cùng là xác định tính chân thực của văn bản, chọn bản nền đáng tin cậy để phiên dịch
Thứ hai là phương pháp phân tích tác phẩm: Thông qua phương pháp này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu giá trị nội dung, tư tưởng cũng như vị trí, ý
nghĩa của tác phẩm Cần kiệm vựng biên
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu liên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu và mục đích của đề tài
5 Những đóng góp của luận văn
1 Chỉ ra các vấn đề về nghiên cứu văn bản học, giải quyết một phần các vấn đề đó, đóng góp cho công tác văn bản học Hán Nôm nói chung
2 Nghiên cứu toàn diện về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt với những thông tin cập nhật hiện nay
3 Lần đầu tiên giới thiệu nội dung tác phẩm Cần kiệm vựng biên của
Trang 71.1.2 Quê hương, dòng họ, gia đình
1.1.3 Học hành, đỗ đạt, đường công danh hoạn lộ
1.1.4 Sự nghiệp giáo dục
1.1.5 Tổng quan trước tác của Nguyễn Đức Đạt
1.2 Tình hình văn bản Cần kiệm vựng biên
1.2.1 Bối cảnh sáng tác và niên đại hoàn thành tác phẩm
1.2.2 Mô tả các dị bản
1.2.3 Chọn bản để công bố
Tiểu kết
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ TÁC PHẨM CẦN KIỆM VỰNG BIÊN
2.1 Nội dung tác phẩm Cần kiệm vựng biên
2.1.1 Nội dung của Cần kiệm vựng biên với chữ “cần”
Trang 8PHỤ LỤC
- Dịch tác phẩm Cần kiệm vựng biên
- Nguyên văn chữ Hán tác phẩm Cần kiệm vựng biên, bản mang ký hiệu
VHv.708
Trang 9sự có giá trị, có ảnh hưởng to lớn không những đối với xã hội đương thời mà còn có sức lan tỏa đến xã hội hiện đại và tương lai
Nguyễn Đức Đạt 阮德達, tự là Khoát Như 豁如, hiệu là Nam Sơn Dưỡng Tẩu 南山養叟, Nam Sơn Chủ Nhân 南山主人, Khả Am Chủ Nhân 可庵主人, người làng Hoành Sơn, tổng Trung Cần, huyện Thanh Chương, nay thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng Thân phụ là Hương cống (học vị này từ năm 1828 đổi gọi là Cử nhân) Nguyễn Đức Hiển, đậu năm 1819, đồng khoa với Giải nguyên Nguyễn Công Trứ (1778-1858) Chú ruột là Nguyễn Đức Diệu, đậu Hương cống năm 1825, làm quan tới chức Tri huyện
Do đã có khá nhiều sách, báo, chuyên luận đã giới thiệu khá đầy đủ và
chi tiết về tác gia Nguyễn Đức Đạt mà chúng tôi đã liệt kê ra ở phần Lịch sử vấn đề Nghiên cứu Vì thế phần này chúng tôi chỉ điểm qua vài nét chính về
tác giả Nguyễn Đức Đạt để bạn đọc tiện hình dung
1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội
Nguyễn Đức Đạt sinh ra vào thế kỷ thứ XIX, thế kỷ mà triều đại phong kiến nhà Nguyễn dần dần suy bại, ngai vàng thay đổi vua liên tục, chỉ trong khoảng thời gian Nguyễn Đức Đạt sống (1824 – 1887) đã thay đổi đến 8 đời
Trang 10vua Có thể lịêt kê từ Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Nguyễn Phúc Đảm, niên hiệu Minh Mạng (1820 – 1841); Hiển Tổ Chương Hoàng Đế Nguyễn Phúc Miên Tông, niên hiệu Thiệu Trị (1841 – 1847); Dực Tông Anh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, niên hiệu Tự Đức (1847 – 1883); Cung Tông Huệ Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Ái, niên hiệu Dục Đức (1883); Nguyễn Phúc Hồng Dật, niên hiệu Hiệp Hoà (1883); Giản Tông Nghị Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng, niên hiệu Kiến Phúc (1883 – 1884); Nguyễn Phúc Ưng Lịch, niên hiệu Hàm Nghi (1884 – 1885); Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, niên hiệu Đồng Khánh (1885 – 1889)
Sự thay đổi liên tục về ngai vàng không những không có ảnh hưởng tích cực đến còn tạo ra sự xáo trộn không ngừng cho xã hội Ngoài những pháp quy pháp điển chung đặc trưng của chế độ phong kiến quân chủ tập quyền, mỗi đời vua lên thay lại có thêm những quy định mới, điều khoản mới và chế độ thuế khoá, lao dịch mới Các đời vua càng về sau giai cấp thống trị càng mục ruỗng, chế độ thuế khoá lao dịch càng nặng nề, đời sống nhân dân càng lâm vào cảnh bần cùng Theo thống kê từ năm 1802 đến năm 1862, tại Bắc Hà có từ 350 đến 400 cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra, trong số đó
có 154 cuộc dưới thời Minh Mạng, 58 cuộc dưới thời Thiệu Trị, và 40 cuộc nổi dậy dưới thời Tự Đức [44; tr67]
Ngoài mục đích chính trị muốn lật đổ triều đình thì một phần là do dân chúng phải chịu nhiều thiên tại như hạn hán, lụt lội liên miên Điển hình là
đê Văn Giang vỡ liên tiếp 18 năm dưới thời Thiệu Trị, Tự Đức, khiến cho các tỉnh Bắc Kỳ như Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Nam Định là những nơi tập trung đông dân nhất phải điêu đứng, khổ sở Đứng trước hiện trạng khẩn cấp đó, triều đình đã không có những hành động ứng phó kịp thời, những cuộc thương nghị trong triều đình cứ mãi dằng co về việc “thỉnh hưu” (nên thôi), thỉnh trúc (nên đắp), rồi lại “bán trúc bán hưu” (nửa đắp nửa bỏ) Kết quả là nhân dận chịu khổ triền miên trong cảnh lụt lội đói khổ tưởng như không có hồi kết thúc
Trang 11Dưới triều Nguyễn, càng về cuối tệ quan tham nhũng, cường hào hiếp bách lương dân càng đặc biệt trầm trọng Trong tờ sớ gửi lên triều đình, Nguyễn Công Trứ nhận xét: “Cái hại cường hào nó làm cho con người ta thành mồ côi, vợ người ta thành goá bụa, giết cả tính mệnh người ta mà không lộ, cho nên cứ công nhiên không kiêng sợ gì” [51, 47] Tình hình trong nước đã rối ren như vậy, trong khi đó thực dân Pháp được chính phủ Pháp ủng hộ ngày càng gây hấn nước ta Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị nhân dân theo tinh thần Nho giáo Triều đình không có chủ trương đối phó triệt để với phương Tây Đầu năm 1858, đô đốc hải quân Pháp Charles Rigault de Genouilly tiến quân đánh chiếm Đà Nẵng, chính thức mở màn kế hoạc xâm lược An Nam Tháng 2 năm 1961 thực dân Pháp
mở rộng việc chiếm đóng quanh Gia Định và Mỹ Tho Triều đình nhà Nguyễn không chống đỡ nổi phải miễn cưỡng chịu ký Hoà ước nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp Được thể quân Pháp không nhân nhược tiếp tục đánh chiếm, kết quả là tháng 7 năm 1867, 6 tỉnh Nam Kỳ đã biến thành thuộc địa của thực dân Pháp
Không dừng lại ở đó, năm 1873 quân Pháp mở cuộc tấn công Bắc Kỳ, chẳng bao lâu sau Hà Nội thất thủ, tiếp đến là Nam Định, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình Năm 1885, phái chủ chiến trong triều đình nổi dậy tấn công Pháp ở kinh đô Huế nhưng thất bại Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chạy lên vùng núi Quảng Trị ra chiếu Cần Vương kêu gọi người Việt nổi dậy đánh giặc cứu nước Hưởng ứng lời kêu gọi hàng chục cuộc khởi nghĩa đã nổ ra khắp cả nước, Nguyễn Đức Đạt cũng là nhân vật hưởng ứng tích cực phong trào này vào những năm cuối đời của mình
Sống trong bối cảnh xã hội ấy, là một nhà Nho chính thống, lại là một quan chức, Nguyễn Đức Đạt vô cùng trăn trở, ông đã nỗ lực hết mình để mang lại lợi ích của nhân dân lao động Nỗ lực ấy không chỉ bằng những hành động thực tiễn như chăm lo đến đời sống sản xuất của dân, dâng sớ lên triều đình xin đắp đê, xin miễn thuế cho dân, Nguyễn Đức Đạt còn thể hiện
Trang 12sự lo lắng, trăn trở của mình bằng các công trình sáng tác và biên soạn của mình để thể hiện tấm lòng thông cảm sâu sắc với quần chúng nhân dân đồng thời thể hiện thái độ phê phán sâu sắc đối với xã hội đương thời
1.1.2 Quê hương, dòng họ, gia đình
Nguyễn Đức Đạt sinh ra tại làng Hoành Sơn, tổng Trung Cần, huyện Thanh Chương (nay thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) một vùng quê địa linh nhân kiệt, từ bao đời đã được mọi người biết đến bởi những thành tích trong khoa bảng và trong lịch sử đấu tranh xây dựng đất nước
Riêng vào thời Nguyễn, làng Hoành Sơn quê Ông có hai tiến sĩ, một phó bảng, 11 cử nhân, trong đó các vị đại khoa đều là người họ Nguyễn Đức
Đó là Nguyễn Đức Đạt đậu Cử nhân năm 1847, đậu Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập
đệ tam danh, nhất danh (Thám hoa thứ nhất) năm 1853; Nguyễn Đức Quý (1849-1887) đậu Cử nhân năm 1876, đậu Hội nguyên, Đình nguyên Hoàng giáp năm 1884; Nguyễn Đức Vận đậu Cử nhân năm 1912, đậu Phó bảng năm 1916 Các vị Cử nhân họ Nguyễn Đức, ngoài 2 anh em ruột Nguyễn Đức Hiển, Nguyễn Đức Diệu, còn có Nguyễn Đức Huy đậu năm 1864 là con Nguyễn Đức Hiển, em Nguyễn Đức Đạt; Nguyễn Đức Đảng đậu năm 1882
là con Nguyễn Đức Đạt; Nguyễn Đức Ký đậu năm 1900, đồng khoa với Giải nguyên Phan Bội Châu (1867-1940), là cha Nguyễn Đức Vận
Nguyễn Đức Đạt còn có người em họ là Song Nguyên Hoàng giáp Nguyễn Đức Quý cũng là một trí thức nổi tiếng Sau khi thi đậu đại khoa, ông được bổ làm Biên tu Quốc sử quán Tháng 7/1885 vua Hàm Nghi lánh lên vùng núi ra chiếu Cần vương chống Pháp, ông cùng anh họ Nguyễn Đức Đạt đến yết kiến vua ở Sơn Phòng, Hà Tĩnh, được phong làm Tán tương quân vụ ông trở về quê chiêu tập nghĩa quân cần vương chống Pháp, do thế giặc mạnh, cuối cùng bị quân Pháp bắn chết
1.1.3 Học hành, đỗ đạt, đường công danh hoạn lộ
Lúc nhỏ, Nguyễn Đức Đạt học với cha là Nguyễn Đức Hiển, đỗ cử nhân
Trang 13vào năm 1824, đến năm 19 tuổi mới bắt đầu đi học xa nhà Khoa Đinh Mùi năm Thiệu trị thứ 7 (1847) ông đậu Cử nhân trường Nghệ Đến năm đầu niên hiệu Tự Đức ông từng vào kinh đô thi Hội, nhưng đến năm Tự Đức thứ
6 (1853) mới trúng cách Sau kỳ thi Đình, Tự Đức lại cho gọi 13 người được
dự thi Đình năm ấy vào điện Thị Duyệt thi một lần nữa Kết quả là có hai người đậu Thám hoa, một là Nguyễn Đức Đạt, hai là Nguyễn Văn Giao, điều đặc biệt là cả hai ông đều cùng tổng Nam Kinh Sự kiện đó đã làm chấn động cả xứ Nghệ, đem lại niềm tự hào cho gia đình, dòng họ và cả truyền thống quê hương Nam Đàn
Sau khi đỗ Thám hoa, Nguyễn Đức Đạt được bổ chức Thị giảng ở Viện Hiền tập tại kinh đô Huế Thời gian này ông thường xuyên đau ốm nên đến tháng 9 năm Bính Thìn (1865) ông xin nghỉ về quê dưỡng bệnh Đầu năm Canh Thân (1860) ông mới trở về kinh và được thăng hàm Cấp sự trung và giữ chức Khởi cư chú ở điện Kinh Diên
Đến năm Quý Hợi (1863), ông được bổ chức Đốc học Hà Nội, trên đường đi nhậm chức ghé qua quê nhà, tổng đốc Nghệ An là Vũ Trọng Bình mến tài đức của ông bèn xin với triều đình cải bổ ông làm chức Đốc học Nghệ An Đến năm Ất Sửu (1865) có chiếu triệu về kinh thăng chức Chưởng
ấn Ngự sử ở Đô Sát viện Tháng 7 năm đó, thân phụ ông mất, ông phải về quê cư tang, một thời gian sau, mẫu thân ông cũng qua đời, ông xin nghỉ việc ở lại quê nhà để lo việc tang sự
Lo xong tang cha mẹ, đầu năm Bính Dần (1866) ông nhận lời mời đến dạy học ở Hương Vân, Nam Đàn Ông dạy học ở đó suốt 4 năm Đến năm
Kỷ Tỵ (1869), triều đình lại bổ ông giữ chức Đốc học Nghệ An lần thứ 2, cuối năm Tân Mùi (1871) ông lại được điều đi giữ chức Quyền Án sát tỉnh Thanh Hoá, đến tháng 7 năm Nhâm Thân (1872) lại có chỉ triệu ông trở hại chức Đốc học Nghệ An lần thứ 3 Về Nghệ An được vài ngày ông lại được thăng chức Bố chánh sứ kiêm lĩnh chức Tuần phủ Hưng Yên
Thời gian này quân Pháp đang ráo riết chuẩn bị đánh chiếm Bắc Kỳ lần
Trang 14thứ nhất Đến nhiệm sở ở Hưng Yên ông ngay lập tức phải bắt tay vào công việc chiêu mộ thêm quân, đào hào đắp ụ, cắm chông…để đối phó với giặc Pháp Tuân thủ lệnh của triều đình cho Hà Nội và các tỉnh lân cận phải tuỳ
cơ ứng biến, khiến cho giặc đi đến đâu cũng thấy khó mà phải lui ra nhưng không được gây hấn trước để khỏi tổn thất Khi đoàn thuyền buôn có vũ trang của Pháp đứng đầu là lái buôn Giăng Đuy puy đi qua địa phận tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Đức Đạt đã sai người đưa một đội quân đi dọc theo bờ
đê để đề phòng bất trắc Tự Đức nghe tâu việc ấy, cho rằng như vậy dễ làm
“phật lòng” người Pháp bèn giáng Nguyễn Đức Đạt và Án sát Tôn Thất Phan một cấp và cho lưu chức
Trước âm mưu xâm lượng của thực dân Pháp, các tỉnh Bắc Kỳ đã đứng trước nguy cơ bị chiếm đóng, nhưng Tự Đức và hầu hết triều thần do tư tưởng sợ địch, trước sau vẫn hy vọng có thể thương thuyết bằng hoà bình Đây cũng chính là lý do chỉ một tên tướng Pháp là Gác-ni-ê với chưa đầy
300 tên lính đã có thể chiếm trọn 4 tỉnh Bắc Kỳ là Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định chỉ trong vòng hai tuần (từ 20/22 – 15/12/1873) một năm sau khi sự kiện tàu lái buôn sang khiên khích
Sau khi đánh chiếm được Hà Nội, ngày 23/11/1873, Gác-ni-ê sai người đưa quân xuôi sông Hồng xuống Hưng Yên kiếm cớ hạch sách về việc thi hành các điều khoản thông thương đã ký kết với triều đình Nguyễn Đức Đạt
và Án sát Tôn Thất Phan với lý do chưa nhận được mệnh lệnh gì từ triều đình nên đã vừa khép léo vừa kiên quyết khiến chúng hết cớ khiêu khích phải thay đổi dự định Sau hoà ước năm 1873, Hưng Yên hoàn toàn vô sự
Tự Đức cho rằng sự kiện cả 4 tỉnh Bắc Kỳ là Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định bị chiếm mà riêng Hưng Yên an toàn nên đã khen thưởng Nguyễn Đức Đạt và cho thực thụ Tuần phủ Hưng Yên
Nguyễn Đức Đạt làm Tuần phủ Hưng Yên trong những năm tỉnh này liên tiếp bị vỡ đê Trận lụt lớn tháng 6 năm Nhâm Thân (1872) gây thiệt hại lớn về người và của 17 huyện thuộc 3 tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên,
Trang 15đê Văn Giang vỡ ở Diên Hà, Phù Cù, Khoái Châu, dân đói phiêu bạt tha hương cầu thực… Không thể nhẫn tâm đứng nhìn nhân dân chịu thống khổ, Nguyễn Đức Đạt đã dâng sớ điều trần về đê điều vào tháng 11 năm Tự Đức thứ 28 (17/2/1875) Bằng những lập luận vô cùng hợp lý và thuyết phục về việc cần thiết của đê điều và tính bức thiết của việc đắp đê đối với đời sống của quần chúng nhân dân Bài sớ của Nguyễn Đức Đạt được nhiều người ủng hộ, cuối cùng được Tự Đức phê chuẩn Nguyễn Đức Đạt đã có những ý kiến đúng đắn và hợp lý, thể hiện tinh thần trách nhiệm một vị quan phụ mẫu và lương tâm của một nhà Nho trước một việc quan trọng có ảnh hưởng
to lớn đến lịch sử và đời sống nhân dân đương thời
Cùng trong năm Ất Hợi (1875) ông còn dâng sớ xin điều đình cho dân Hưng Yên được hoãn việc thi hành lệ thuế mới trong 3 năm Tự Đức đánh giá rất cao tài năng của Nguyễn Đức Đạt, đã nhiều lần ưu ái với ông, từ việc chọn là Thám hoa đỗ đầu, nhiều lần thăng chức, phê chuẩn sớ…Nhưng về vấn đề lần này, Nguyễn Đức Đạt dâng sớ điều đình về thuế khoá đã đụng chạm đến vấn đề huyết mạch của triều đình, Tự Đức nổi giận giáng ông xuống 2 cấp Đến cuối tháng 2 năm Bính Tý (1876) ông lấy cớ đau ốm xin
về quê dưỡng bệnh Từ đây ông chuyên tâm với nghiệp dạy học tại ngôi truờng có tên là Đông Sơn
Khoảng thời gian này, tình hình cả nước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng ngày càng căng thẳng, quân pháp rình rập đổ bộ vào thành phố Vinh
Sự nghiệp dạy học của Nguyễn Đức Đạt bị dang dở Ngày 5/7/1888 kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi lên vùng núi ra chiếu Cần vương, tổ chức kháng chiến
Nguyễn Đức Đạt nhận được chiếu chỉ của vua Hàm Nghi lập tức đi khắp các nơi hiểu dụ thân hào cần vương và tái bổ ông chức Lại bộ Thượng thư kiêm An Tĩnh tổng đốc lỵ sở tạm đóng tại làng Hoành Sơn, Hoàng Giáp Nguyễn Đức Đạt tập hợp được mấy trăm quân ứng nghĩa, chia thành các cơ đội đóng giữ khắp ba xã Đình làng Hoành Sơn trở thành đại bản doanh
Trang 16Khởi nghĩa chống Pháp do Thám hoa Nguyễn Đức Đạt đứng đầu và Hoàng giáp Nguyễn Đức Quý trực tiếp chỉ huy
Trong buổi đầu kháng chiến, phong trào còn rời rạc, cuộc khởi nghĩa ở Hoành Sơn chưa tập hợp được lực lượng nhân dân trong vùng Cuối năm Ất Dậu (1886) nghĩa quân bị thất bại phải rút lui vào vùng Vạc Nở trong núi Bạch Sơn (nay là xã Tiến Sơn, Hương Sơn, Hà Tĩnh)
Nguyễn Đức Đạt tuổi cao không đi theo được phải lánh trong chùa Đông Sơn Làng Hoành Sơn bị quân giặc triệt hạ, nhà ông cùng ngôi trường Đông Sơn bị đốt phá Được hơn một năm sau ông mất vào ngày 9 tháng giêng năm Đinh Hợi (1/2/1887) thọ 63 tuổi
1.1.4 Sự nghiệp giáo dục
Mặc dù đường hoạn lộ của Nguyễn Đức Đạt rất hanh thông nhưng gặp phải thời buổi nhiễu nhương, loạn lạc, ông không mặn mà lắm với công danh lợi lộc mà chỉ tâm huyết với nghề dạy học, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội
Tháng 7 năm 1866, sau khi lo việc tang cha mẹ xong, ông nhận lời đến dạy học ở làng Hương Vân, Nam Đàn Học trò nghe tin đến xin học rất đông Dân làng Lãng Đông (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An) góp sức dựng hẳn một ngôi trường bên bờ sen của làng đón ông đến dạy Đây là giai đoạn trường Thông Lãng (1866-1869) trong sự nghịêp dạy học của ông
Sau đó ông lại được bổ nhiệm chức Đốc học Nghệ An lần thứ 2, trải qua nhiều thăng trầm trên đường công danh hoạn lô có thăng có giáng, đến cuối tháng 2 năm Bính Tý (1876) ông lấy cớ đâu ốm về quê Nhưng không may cho ông đúng vào lúc đó không hiểu vì lý do gì thóc và tiền trong kho thóc công tỉnh Hưng Yên bị thiếu hụt, ông phải bồi thường hơn 1 vạn quan Ông không lấy gì làm giàu có, lại thanh liêm trong sạch nên 1 vạn quan là số tiền quá lớn đối với ông, dù đã bán hết tài sản cũng không thấm tháp gì May thay người giúp đỡ ông không phải ai khác mà chính là những học trò của
Trang 17ông, họ không ngững giúp ông trả hết nợ mà còn cùng với dân làng Hoành Sơn gom góp tiền của công sức lấy lại nhà và dựng một ngôi chùa năm gian đón ông về làng dạy học Từ đây ông chuyên tâm vào sự nghiệp dạy học trong thời gian dài Ngôi trường này cũng chính là nơi ghi lại dấu ấn về tài năng, tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Đức Đạt
Trường học của thầy Nguyễn Đức Đạt rất nổi tiếng, luôn sẵn sàng thu nhận con em những gia đình nghèo khổ, có hàng trăm học trò đủ mọi lứa tuổi từ khắp nơi đến xin học Học trò đông đến nỗi trường học không đủ chứa Cả làng Hoành Sơn hiếu học phải dọn sạch ngọn Nam Sơn làm thành lớp học ngoài trời mới đủ chỗ ngồi cho học trò
Học trò của Nguyễn Đức Đạt có rất nhiều những tên tuổi làm rạng danh
xứ Nghệ từ sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX như Cao Xuân Dục, Hồ Sĩ Tạo, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Thụy, Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, Nguyễn Thức Thự, Đặng Văn Bá, Nguyễn Đức Công… Trong đó có cả những người có hoàn cảnh nghèo khó được thầy Nguyễn Đức Đạt thu nhận dạy dỗ thành tài, tiêu biểu như Đặng Văn Thụy con một người thợ rèn đậu Hoàng giáp khoa Giáp Thìn năm Thành Thái thứ 16 (1904)
Học trò kính phục, ngưỡng mộ thầy Nguyễn Đức Đạt không chỉ vì thầy
có học thức uyên bác, tài năng hơn người, mà còn bởi thầy có nếp cống thanh cao, giản dị, trong sạch, hết mực hiếu kính với cha mẹ Ông đồng ý nhận chức Đốc học Nghệ An để gần gũi quê nhà tiện chăm sóc song thân, dễ dàng thu nhận những người hiếu học thay bằng nhậm chức Đốc học Hà nội - chốn kinh đô phồn hoa
Điều đặc biệt hơn là, nội dung giảng dạy của thầy Nguyễn Đức Đạt rất phong phú, phương thức truyền đạt mới mẻ Ông thường dạy theo lối vấn đáp, lấy ví dụ trong thực tế và dùng phương pháp so sánh, một phương pháp rất hiếm thấy trong nền giáo dục cũ Lời dạy của ông được học trò chép và
biên tập lại thành một bộ sách đồ sộ có tên là Nam Sơn tùng thoại gồm 4 quyển, 32 chương, tương tự như sách Luận Ngữ của Khổng Tử
Trang 18Quan điểm của ông về nghiệp học rất gần với Khổng Tử, ông cho rằng học là vì mình, học để làm người chứ không phải học để làm quan Vì thế, việc học phải là sự nghiệp suốt đời vì: “Kiến thức thì có hạn, sự lý thì vô cùng, người học không quý ở biết hết mà quý ở chỗ biết đến nơi đến chốn”., ông cũng có quan điểm gần với quan điểm dân gian: “Học thầy không tày học bạn” Ông cho rằng “Có bạn mới có đủ công dụng của ngũ luân Soi tối phải dùng đèn, đèn để tìm cái không thấy Đỡ người phải dùng gậy, gậy để làm vững những ai đi không vững Trong tăm tối không tự soi được, phải nhờ đèn mà soi; Thân thể vụng về không tự đỡ được, phải nhờ gậy để đỡ; Sách là đèn, bạn là gậy Trên bàn không có sách, trong nhà không có bạn thì khác nào như quẳng gậy, cất đèn Nhưng sách mà không phải sách thánh, bạn mà không phải bạn hiền thì cũng như đèn không ra đèn, gậy không ra gậy Đèn mà ra đèn thì chỗ tối không tối, gậy mà ra gậy thì đường nguy không nguy” (29, tr.111).
Nguyễn Đức Đạt là một nhà Nho có kiến thức uyên thâm Ngoài kinh điển Nho gia, ông còn tham khảo nhiều sách của bách gia chư tử, điều này
đã được chứng minh rất rõ trong Cần kiệm vựng biên với sự tổng hợp quan
điểm của chư tử về rất nhiều lĩnh vực trên quan điểm vựng tập của mình Do ông chưa có dịp được đi nhiều nơi, phần lớn cuộc đời ông găn bó với quê hương làng mạc, ít có điều kiện giao lưu với các sĩ phu đương thời, ít cập nhật, tiếp xúc với các biến động của đất nước nên không thể tránh được về mặt tầm nhìn và tư tưởng của ông còn có điểm hạn chế Tuy nhiên với sự tài hoa uyên bác, những cống hiến của ông cho sự nghiệp giáo dục bồi dưỡng nhân tài, những tác phẩm có giá trị mà ông để lại, những tư tưởng và hành động xuất phát từ quyền lợi của nhân dân cùng khổ và đạo đức, nếp sống nghiêm khắc, thanh bạch, mẫu mực của ông rất xứng đáng để thế hệ sau nể phục noi theo Ngày nay trong nhà thờ của chi họ Nguyễn Đức có một tấm biển gỗ sơn đỏ đề 4 chữ “Sắc tứ vinh hồi”, một lá cờ hình chữ nhật khổ dọc màu đỏ rua tơ thêu 6 chữ vàng: “Sắc tứ Thám hoa cập đệ” Trong ngôi từ
Trang 19đường tại làng Hoành Sơn do học trò lập để thờ ông có hai bức đại tự với 6 chữ “Vạn thế trạch” 萬世澤 và “Đại khoa môn” 大科門 cùng rất nhiều câu đối Một trong số đó là:
“授考作人,南山草堂宅萬世
文章明國,鴻嶺吾洲第一峰
Thụ khảo tác nhân, Nam Sơn thảo đường trạch vạn thế,
Văn chương minh quốc, Hồng Lĩnh ngô châu đệ nhất phong.”
(Đào tạo bao người, ơn muôn đời ngôi nhà cỏ núi Nam Sơn,
Văn chương nổi tiếng, một ngọn núi cao châu ta Hồng Lĩnh.)
Đó là những ghi nhận cho tài hoa, cống hiến và nhân cách Nguyễn Đức Đạt
1.1.5 Tổng quan trước tác của Nguyễn Đức Đạt
Bên cạnh việc làm quan, dạy học, Nguyễn Đức Đạt còn say mê nghiên cứu, sáng tác Sáng tác của ông gồm cả thơ, phú, biểu, ký, khải, thuyết, văn tế… với số lượng lớn và có giá trị Ông sáng tác và biên soạn với mục đích chủ yếu là để phục vụ việc dạy học, ngoài ra cũng là để biểu thị tư tưởng, quan điểm, cách nhìn nhận của ông về các mặt chính trị, xã hội, lịch sử, triết học… và để giải bày tâm hồn, tình cảm của một thi nhân trước nhân tình, thời cuộc
Những sách dùng trong dạy học:
1 Nam Sơn song khoá phú tuyển 南山窗課賦選
Khả Am Chủ Nhân Nguyễn Khoát Như 可 庵 主 人 阮 豁 如 soạn
Gồm 1 bản in, 3 bản chép tay, 1 mục lục, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gồm các mã: VHv 339: 214 Tr, 28.5 X 16; VHv 340: 204 Tr., 29 X 17;
VHv 2385: 110 Tr., 23 X 13; VHv 42: 162 Tr., 17 X 13
Nội dung bao gồm các bài phú do Nguyễn Đức Đạt soạn, dùng làm mẫu
Trang 20cho người tập làm văn thi cử, đề tài là thành ngữ,cảnh thiên nhiên,nhân vật lịch sử trong các sách kinh điển Trung quốc
2 Nam Sơn song khoá chế nghĩa 南山窗課制義,
Khả Am Chủ Nhân Nguyễn Khoát Như 可 庵 主 人 阮 豁 如 soạn năm Thành Thái thứ 9 (1897) Sách chép tay, tổng cộng 119 tờ, khổ 23x14, lưu trữ tại lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv 2386
Nội dung bao gồm 117 bài chế nghĩa do Nguyễn Đức Đạt soạn, dùng
làm mẫu cho người tập làm văn thi cử, đề tài lấy trong Kinh, Truyện…
3 Nam Sơn di thảo 南 山 遺 草
1 bản chép tay, 252 trang, khổ 27x17.5, lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv 478
Nội dung là thơ văn của Nguyễn Đức Đạt, gồm trướng (mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng thăng quan, viếng tang…), ký (nhà thờ, đình), biểu (tạ ơn…), phú (vịnh hoa, cỏ, trúc…), khải (ca ngợi công đức…); 150 bài thơ (tự thuật, tả cảnh sông núi, tiễn tặng bạn bè…)
5 Vịnh sử thi tập 詠史詩集
Trang 21Nam Sơn Chủ Nhân trứ, Gia Liễu phụng khắc, năm Tự Đức thứ 36 (1883) Gồm 6 bản in (bộ 2 quyển: Thượng và Hạ), 252 tr, 28 x 16, 1 thơ đề,
1 tựa, gồm các ký hiệu VHv.1456; VHv.1782; VHv.1783; VHv.2268: Quyển Thượng; VHv.2269; VHv.800/2: Quyển Hạ
Nội dung 570 bài thơ vịnh 225 nhân vật lịch sử Trung Quốc: Phục Hi,
Mô Mẫu (tên một người đàn bà xấu xí thời cổ), Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Hạ
Vũ, Đế Khải, Hằng Nga, Thiếu Khang, Thương Thang, Vũ Đinh, Đát Kỉ, Y Doãn, Tỉ Can, Chu Văn Vương, Tiết Đạo Hạnh, Nghiêu Quân Tố, Mộc Lan (thiên Thượng); Đường Cao Tổ, Đường Thái Tông, Chu Khảo Đình, Mạnh
Tử (thiên Hạ)… Mỗi bài thơ đều có tiểu sử nhân vật 2 bài thơ của Phan Trọng Mưu
6 Việt sử thăng bình 越史塍評
Nam Sơn Chủ Nhân trứ, Tử Văn đường phụng khắc, năm Tân Tỵ niên hiệu Tự Đức (1881), tổng cộng 4 bản in, 3 bản viết, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với các ký hiệu A.1026; VHv.1688; VHv.1284: 162 tr,
25 x 15; VHv.1284 mất 4 tr cuối); A.232: 150 tr., 32 x 22.5; VHv.2231: 116
tr, 28 x 15; VHv.1479: 85 tr, 29 x 17
Nội dung tập hợp các sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến nhà Tây Sơn, trình bày dưới hình thức vấn đáp để tiện cho việc ôn tập
Các công trình văn thơ, triết học, sử học có giá trị
1 Nam Sơn tùng thoại 南 山 叢 話
Do học trò của ông biên tập lại và tổ chức in vào năm Tự Đức 33 (1880) Bao gồm 2 bản in, 2 bản viết, 1 mục lục, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với các mã: VHV.246/1-2: 584 Trang,28 x 15,5; VHV.1420/1-2: 584 trang, 25 X 15; VHV.2682: 132 trang, 28,5 X 16 chép theo Q3 bản VHv; 426/1-2 VHV.2683: 104 trang, 28,5 X 16 chép theo Q4 bản VHv 426/1-2
Trang 22Nội dung gồm những bài giảng về một số vấn đề trong các sách kinh điển của Nho giáo: Học vấn, đức độ, lễ nhạc, đạo làm vua, khảo sát, sự vật…
2 Hồ dạng thi tập 胡樣詩摺
Soạn và viết tựa năm Tự Đức 32 (1879) Tử Văn Đường in năm Tự Đức
34 (1881), gồm 3 bản in, 246 tr, 27 x 16, 1 tựa, 1 mục lục, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với các mã: VHv 247; VHv 858; A 885
Nội dung gồm 444 bài thơ "tập cổ" (dùng các câu thơ cổ chắp thành bài thơ mới), gồm các bài tức sự (đỗ TS, vào chầu vua ), vịnh thiên nhiên (sương, gió, xuân, trăng thu, đêm hè, cuối đông ), vịnh phong cảnh (bản làng trong núi, buổi chiều bên sông ), cảm tác (qua nhà bạn đã mất, mất ngủ, nhớ nhà ) và các bài tự thuật, tạp hứng, tạp vịnh, mừng tặng, tạp thi
Trang 23cần); 2 Cần chính (siêng năng trong việc trị nước); 3 Cần chức (siêng năng trong chức vụ); 4 Cần học (siêng năng trong học tập): 5 Cần nghiệp (siêng năng trong nghề nghiệp); 6 Huấn kiệm (lời dạy về tiết kiệm); 7 Chủ kiệm (sự tiết kiệm của người làm vua); 8 Phụ kiệm (sự tiết kiệm của quan lại); 9 Nho kiệm (sự tiết kiệm của người trí thức); 10 Tập kiệm (rèn luyện sự giản
dị, tiết kiệm)
5 Khảo cổ ức thuyết 考古臆說
Nguyễn Đức Đạt, hiệu Nam Sơn Dưỡng Tẩu và Khả Am chủ Nhân, tự Khoát Như soạn và viết tựa năm Tự Đức 30 (1877), gồm 1 bản viết, 274 tr
29 x 17, 1 tựa, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mã:VHv 244
Nội dung gồm những bài khảo cứu về các nhân vật quan trọng, các sự kiện lịch sử lớn của Trung Quốc (từ Thượng cổ đến đời Minh) và của Việt Nam, như Nghiêu nhường thiên hạ; tiệc Hồng Môn; Ngũ Hồ làm loạn triều Tấn; Kinh Dương Vương là thủy tổ của 5 loại người Việt; Lê Thái Tổ giành lại được đất nước; Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa; tài lược của Lê Thánh Tông v.v
Các tác phẩm lẻ khác 1 :
1 Lý tài túc binh tác nhân chi luận (Bài làm trong kỳ thi Đình, khoa thi
Quý Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853)
2 Tam tỉnh phân hợp luận, Dụng nhân luận, Vi trị luận (Bài làm trong
kỳ thi phúc thí ở điện Thị Duyệt)
Bốn bài luận trên chép trong tập Quốc triều đối sách 國 朝 對 策, sách
chép tay, tr267 – 274, tr 305 – 308 Lưu trữ tại Thư viện viện KHXH, Ký hiệu VHv.318/1
3 Kỷ tỵ niên (1869) lục nguyệt Lãng Đông hà Trì dạ tập (Thơ xướng hoạ về đề tài hồ sen ở trường Thông Lãng), chép gộp trong tập Dã sử tạp
1 Theo Ngô Đức Thọ, Nguyễn Đức Đạt – Nhà giáo và học giả nửa cuối thể kỷ 19, đề tài luận văn thạc sĩ
Trang 24biên 野史雜編, sách chép tay, tờ 33 – 49, Lưu trữ tại Thư viện viện KHXH:
Ký hiệu VHv.1310
4 Bản điều trần về việc đê điều
Chép trong tập Điều trần đê chính sự nghị 條陳堤政事宜集, sách chép
tay, tờ 80a Lưu trữ tại Thư viện viện KHXH: Ký hiệu VHv.169/1
Một tác phẩm tiêu biểu khác nữa phải kể đến là Nam Sơn tùng thoại, có
tổng cộng 32 thiên, gồm 4 quyển, 292 tờ, chia thành 32 thiên do học trò ghi lại lời dạy của ông, biên tập thành sách, góp tiền khắc in và hoàn thành vào tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880) Tác phẩm có dung lượng khá lớn được chia theo chủ đề chuyên biệt về các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, giáo dục
1.2 Tình hình văn bản Cần kiệm vựng biên
Trang 251.2.1 Bối cảnh sáng tác và niên đại hoàn thành tác phẩm
1.2.1.1 Bối cảnh sáng tác
Cần kiệm vựng biên thực chất là một tác phẩm thuộc thể loại sách gia
huấn, tức sách dùng để giáo dục, răn dạy con cháu trong gia đình Thời xưa những gia đình danh gia vọng tộc, trí thức, có truyền thống khoa bảng thường rất coi trọng nền tảng gia đình, luân thường đạo lý, chuẩn mực xử thế, đạo đức làm người Do vậy, mỗi gia tộc đều có những cuốn sách thuộc thể loại gia huấn lưu hành trong nội bộ gia tộc mình để răn dạy các thành viên trong gia tộc Tác giả của những cuốn sách này thường là những người
có tri thức, có địa vị trong gia tộc và xã hội Bản thân người viết (soạn, dịch) cũng chính là tấm gương, là mẫu mực về nếp sống, hành vi, đạo đức, đối nhân xử thế cho các thành viên trong gia tộc Bản thân họ phải là những người thực hiện được tất cả các nguyên tắc, các chuẩn mực, các tiêu chí trong sách gia huấn Có như vậy cuốn sách viết ra mới có giá trị, mới được
các thành viên trong gia tộc quý trọng và tuân theo Cuốn Cần kiệm vựng biên của Nguyễn Đức Đạt không nằm ngoài quy luật trên
Tuy con đường làm quan của Nguyễn Đức Đạt rất sáng sủa, hanh thông nhưng lại sống vào buổi nhiễu nhương Để củng cố địa vị chuyên chế và thống nhất quốc gia nhà Nguyễn cũng đã đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn,
mà Nho giáo thời kỳ này lại lấy Tống Nho làm chuẩn mực Trong mấy chục năm đầu đời Nguyễn, các vua hạ lệnh biên soạn nhiều công trình địa lý, lịch
sử, giáo khoa rất đồ sộ Những bộ sách đồ sộ này không những có sự đóng góp rất lớn cho học thuật nước nhà mà còn nhằm đến một mục đích phát dương tư tưởng Nho giáo để cải tạo tư tưởng, cải tạo xã hội Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của tầng lớp sĩ phu đương thời, là một Thám hoa
đỗ đầu, lại nhiều lần giữ chức Đốc học (một chức quan về giáo dục) Nguyễn Đức Đạt không nằm ngoài luồng ảnh hưởng trên
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng tại Đà Nẵng, nhanh chóng chiếm đóng Nam kỳ Ngoài mâu thuẫn dân tộc, vấn đề xung đột tư tưởng
Trang 26trong xã hội Việt Nam trở nên nổi trội và gay gắt hơn bao giờ hết Sau gót giày của quân xâm lược thực dân Pháp là sự lấn chiếm ồ ạt của tư tưởng ngoại lai Âu châu, một thứ tư tưởng vốn rất xa lạ với người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng - những con người đã ăn đời ở kiếp với tư tưởng Nho giáo, đặc biệt là tầng lớp sĩ phu đọc sách thánh hiền Kết quả là những giá trị chuẩn mực đạo đức Nho giáo cổ truyền bị lung lay, lối sống theo lề thói cũ vốn được coi là quy chuẩn bị đảo lộn, sự tha hoá trong đội ngũ quan lại, những thước đo hành vi như cần, kiệm, liêm, chính bị mất gốc Là một sĩ phu yêu nước, trung thành với chế độ, với tư tưởng Tống nho, Nguyễn Đức Đạt không thể dửng dưng trước hiện thực xã hội Đây chính là
những lý do trực tiếp khiến Nguyễn Đức Đạt soạn Cần kiệm vựng biên
Cuốn sách là một bộ vựng tập những lời dạy của người xưa qua các sách kinh, sử, tử, tập về vấn đề cần, kiệm để răn dạy hậu thế Tuy thuộc thể
loại sách gia huấn, nhưng Cần kiệm vựng biên đã vượt ra ngoài phạm vi gia
huấn, trở thành cuốn sách dành cho rất cả các tầng lớp và trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, đó thực sự là một cuốn sách có giá trị
1.2.1.2 Niên đại hoàn thành tác phẩm
Xác định niên đại hoàn thành một văn bản cổ là rất quan trọng, nó cũng
là bước mấu chốt trong công tác nghiên cứu văn bản học
Đối với văn bản Cần kiệm vựng biên thì rất may là đã có được đầy đủ về
thời điểm biên soạn, bình luận và viết lời tựa cũng như thời điểm khắc in của văn bản
Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam Thư mục đề yếu thì văn bản Cần kiệm vựng biên được biên tập, bình luận, viết lời tựa vào năm Tự Đức thứ 23
(1870)
Theo Ngô Đức Thọ trong luận văn Thạc sĩ đề tài: Nguyễn Đức Đạt, nhà giáo và học giả nửa thế kỷ XIX - Nguyễn Đức Đạt, thì văn bản Cần kiệm vựng biên được hoàn thành vào tháng 8 năm Tự Đức thứ 23 (1870)
Theo lời tựa ngay đầu văn bản Cần kiệm vựng biên của chính tác giả đề
Trang 27là “Tự Đức nhị thập tam niên Canh Ngọ, mạnh thu, sóc đán” ( mùng 1 tháng
8 năm Tự Đức thứ 23)
Trang bìa văn bản Cần kiệm vựng biên, dòng chữ triện ngang trên cùng
đề “嗣 德 辛 巳 季 秋 恭 鐫” Tự Đức Tân Tỵ quý thu cung tuyên (cung kính khắc in vào cuối thu, tháng 10 năm Tân Tỵ (1881) niên hiệu Tự Đức)
Theo những khảo sát như trên chúng tôi đi đến kết luận văn bản Cần kiệm vựng biên được hoàn thành vào tháng 8 năm 1870 và đến tháng 10 năm
1881 được khắc in
1.2.2 Mô tả các dị bản
Các dị bản của Cần kiệm vựng biên theo khảo sát của chúng tôi, cho đến
nay vẫn chưa có bản dịch sang chữ Quốc Ngữ Các dị bản đều là bản in bằng chữ Hán, theo lối chữ chân Do vậy đối tượng nghiên cứu của chúng tôi
trong luận văn này là các dị bản chữ Hán của Cần kiệm vựng biên, hiện đều
đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có tổng cộng 4 bản
Hiện các dị bản của Cần kiệm vựng biên được lưu trữ tại Viện Nghiên
cứu Hán Nôm gồm 4 bản in mang các ký hiệu:
Dưới đây chúng tôi xin miêu tả cụ thể những đặc điểm về hình thức và nội dung của từng dị bản:
Bản A.1418
Trang 28Có tổng cộng 10 quyển, khổ 27 x 14, 63 tờ = 126 trang (chưa tính trang bìa, gồm bìa ngoài cùng cứng, màu trắng, 2 tờ bìa trong trắng), in mộc bản, chất giấy trắng
Trang đầu sách đề bốn chữ to theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 勤儉
彙編 (Cần kiệm vựng biên), phía trên là 6 chữ triện in theo hàng ngang từ
phải sang trái là: “嗣 德 辛 巳 季 秋 恭 鐫” (Tự Đức Tân Tỵ quý thu cung tuyên), bên phải có bốn chữ nhỏ hơn theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 可庵評輯 (Khả Am bình tập), bên trái chỉ có một chữ: 板(Bản)
Tiếp theo là đến một bài tựa 1 tờ = 2 trang, phía trên cùng bên phải đề:
勤儉彙編(Cần kiệm vựng biên), phía dưới đề: 南山可庵阮德達評輯 (Nam
Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt bình tập), mỗi trang có 8 dòng chữ to, mỗi dòng tối đa 22 chữ, dòng ngoài cùng (dòng lề) ghi tên tác phẩm, số quyển và
số tờ, không chấm câu, không khuyên , cuối bài tựa ghi: 嗣德二十三年庚午孟秋朔旦南山可庵阮德達 如書于郡廣文舍 (Tự Đức nhị thập tam niên Canh Ngọ mạnh thu sóc đán Nam Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt như thư
vu quận quảng văn xá)
Tiếp đến là 1 mục lục, 1 trang, đề là: 勤儉彙編目錄 (Cần kiệm vựng biên mục lục), gồm 10 dòng chia thành 2 cột, mỗi cột 5 dòng ghi tên các
quyển
Phần nội dung chia thành 10 quyển lần lượt là:
- Quyển 1: Huấn cần, tổng cộng 10 trang
- Quyển 2: Cần chính, tổng cộng 5 trang
- Quyển 3: Cần chức, tổng cộng 14 trang
- Quyển 4: Cần học, tổng cộng 12 trang
Trang 29- Quyển 5: Cần nghiệp, tổng cộng 8 trang
- Quyển 6: Huấn kiệm, tổng cộng 13 trang
- Quyển 7: Vương kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 8: Phụ kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 9: Nho kiệm, tổng cộng 7 trang (1 trang trắng)
- Quyển 10: Tập kiệm, tổng cộng 8 trang
Nội dung cũng mỗi trang 8 dòng chữ to (chưa tính dòng ngoài lề ghi tên tác phẩm, số quyển, số tờ), mỗi dòng tối đa 22 chữ to, phần chữ nhỏ là chú thích, giải thích kèm theo rải rác khắp văn bản, dòng chữ nhỏ chen vào giữa hai dòng chữ to, số lượng chữ không có quy tắc Chữ in tương đối mờ, các quyển đều không có chấm câu, không khuyên
Bản VHv.245
Có tổng cộng 10 quyển, khổ 27 x 17, 63 tờ = 126 trang (chưa tính trang bìa, gồm bìa ngoài cùng cứng, màu trắng, 2 tờ bìa trong trắng), in mộc bản, chất giấy trắng
Trang đầu sách đề bốn chữ to theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 勤儉
彙編 (Cần kiệm vựng biên), phía trên là 8 chữ triện in theo hàng ngang từ
phải sang trái là: “嗣 德 辛 巳 季 秋 恭 鐫” (Tự Đức Tân Tỵ quý thu cung tuyên), bên phải có bốn chữ nhỏ hơn theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 可庵評輯 (Khả Am bình tập), bên trái có bốn chữ bằng bốn chữ bên phải theo
hàng dọc từ trên xuống dưới là: 南皿藏板 (Nam Mãnh tàng bản)
Tiếp theo là đến một bài tựa 1 tờ = 2 trang, phía trên cùng bên phải đề:
勤儉彙編 (Cần kiệm vựng biên), phía dưới đề: 南山可庵阮德達評輯 (Nam
Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt bình tập), mỗi trang có 8 dòng chữ to, mỗi dòng tối đa 22 chữ, dòng ngoài cùng (dòng lề) ghi tên tác phẩm, số quyển và
Trang 30số trang, không chấm câu, không khuyên , cuối bài tựa ghi: 嗣德二十三年庚午孟秋朔旦南山可庵阮德達 如書于郡廣文舍 (Tự Đức nhị thập tam niên Canh Ngọ mạnh thu sóc đán Nam Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt như thư vu quận quảng văn xá)
Tiếp đến là 1 mục lục, 1 trang, đề là: 勤儉彙編目錄 (Cần kiệm vựng biên mục lục), gồm 10 dòng chia thành 2 cột, mỗi cột 5 dòng ghi tên các
quyển
Phần nội dung chia thành 10 quyển lần lượt là:
- Quyển 1: Huấn cần, tổng cộng 10 trang
- Quyển 2: Cần chính, tổng cộng 5 trang
- Quyển 3: Cần chức, tổng cộng 14 trang
- Quyển 4: Cần học, tổng cộng 12 trang
- Quyển 5: Cần nghiệp, tổng cộng 8 trang
- Quyển 6: Huấn kiệm, tổng cộng 13 trang
- Quyển 7: Vương kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 8: Phụ kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 9: Nho kiệm, tổng cộng 7 trang (1 trang trắng)
- Quyển 10: Tập kiệm, tổng cộng 8 trang
Phần nội dung mỗi trang 8 dòng chữ to (chưa tính dòng ngoài lề ghi tên tác phẩm, số quyển, số tờ), mỗi dòng tối đa 22 chữ to, phần chữ nhỏ là chú thích, giải thích kèm theo rải rác khắp văn bản, dòng chữ nhỏ được in xen kẽ vào giữa 2 dòng chữ to, số lượng không có quy tắc Chữ in tương đối rõ ràng, các quyển đều không có chấm câu, riêng quyển 9 có chấm câu
Bản VHv.707
Có tổng cộng 10 quyển, khổ 20 x 12, 63 tờ = 126 trang (chưa tính trang bìa, gồm bìa ngoài phết cật màu gụ, bìa trong gồm 2 tờ trắng, tờ thứ 3 đầu sách và cuối sách là tờ thứ 41 quyển 7 cùng văn bản và tờ thứ 5 quyển 3 của
Trang 31một văn bản khác), in mộc bản, chất giấy gió
Trang đầu sách đề bốn chữ to theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 勤儉
彙編 (Cần kiệm vựng biên), phía trên là 6 chữ triện in theo hàng ngang từ
phải sang trái là: “嗣 德 辛 巳 季 秋 恭 鐫” (Tự Đức Tân Tỵ quý thu cung tuyên), bên phải có bốn chữ nhỏ hơn theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 可庵評輯 (Khả Am bình tập), bên trái có bốn chữ bằng bốn chữ bên phải theo
hàng dọc từ trên xuống dưới là: 南皿藏板 (Nam Mãnh tàng bản)
Tiếp theo là đến một bài tựa 1 tờ = 2 trang, phía trên cùng bên phải đề:
勤儉彙編 (Cần kiệm vựng biên), phía dưới đề: 南山可庵阮德達評輯 (Nam
Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt bình tập), mỗi trang có 8 dòng chữ to, mỗi dòng tối đa 22 chữ, dòng ngoài cùng (dòng lề) ghi tên tác phẩm, số quyển và
số trang, không chấm câu, không khuyên , cuối bài tựa ghi: 嗣德二十三年庚午孟秋朔旦南山可庵阮德達 如書于郡廣文舍 (Tự Đức nhị thập tam niên Canh Ngọ mạnh thu sóc đán Nam Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt như thư vu quận quảng văn xá)
Tiếp đến là 1 mục lục, 1 trang, đề là Cần kiệm vựng biên mục lục, gồm
10 dòng chia thành 2 cột, mỗi cột 5 dòng ghi tên các quyển
Phần nội dung chia thành 10 quyển lần lượt là:
- Quyển 1: Huấn cần, tổng cộng 10 trang
- Quyển 2: Cần chính, tổng cộng 5 trang
- Quyển 3: Cần chức, tổng cộng 14 trang
- Quyển 4: Cần học, tổng cộng 12 trang
- Quyển 5: Cần nghiệp, tổng cộng 8 trang
- Quyển 6: Huấn kiệm, tổng cộng 13 trang
Trang 32- Quyển 7: Vương kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 8: Phụ kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 9: Nho kiệm, tổng cộng 7 trang (1 trang trắng)
- Quyển 10: Tập kiệm, tổng cộng 8 trang
Phần nội dung mỗi trang 8 dòng chữ to (chưa tính trang ngoài lề ghi tên tác phẩm, số quyển, số tờ), mỗi dòng tối đa 22 chữ to, chữ nhỏ là phần chú thích, giải thích kèm theo rải rác khắp văn bản, dòng chữ nhỏ được in chen vào giữa 2 dòng chữ to, số lượng không theo quy tắc Chữ in tương đối rõ ràng, các quyển đều không có chấm câu, không khuyên
Bản VHv.708
Có tổng cộng 10 quyển, khổ 27 x 14, 63 tờ = 126 trang (chưa tính trang bìa gồm bìa ngoài cứng, màu trắng, tờ cuối cùng sau phần nội dung có thêm
một tờ là tờ thứ 31 quyển 6 cùng văn bản), in mộc bản, chất giấy trắng
Trang đầu sách đề bốn chữ to theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 勤儉
彙編 (Cần kiệm vựng biên), phía trên là 8 chữ triện in theo hàng ngang từ
phải sang trái là: “嗣 德 辛 巳 季 秋 恭 鐫” (Tự Đức Tân Tỵ quý thu cung tuyên), bên phải có bốn chữ nhỏ hơn theo hàng dọc từ trên xuống dưới là: 可庵評輯 (Khả Am bình tập), bên trái có bốn chữ bằng bốn chữ bên phải theo
hàng dọc từ trên xuống dưới là: 南皿藏板 (Nam Mãnh tàng bản)
Tiếp theo là đến một bài tựa 1 tờ = 2 trang, phía trên cùng bên phải đề:
勤儉彙編 (Cần kiệm vựng biên), phía dưới đề: 南山可庵阮德達評輯 (Nam
Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt bình tập), mỗi trang có 8 dòng chữ to, mỗi dòng tối đa 22 chữ, dòng ngoài cùng (dòng lề) ghi tên tác phẩm, số quyển và
số trang, không chấm câu, không khuyên , cuối bài tựa ghi: 嗣德二十三年庚午孟秋朔旦南山可庵阮德達 如書于郡廣文舍 (Tự Đức nhị thập tam niên Canh Ngọ mạnh thu sóc đán Nam Sơn Khả Am Nguyễn Đức Đạt như thư vu quận Quảng văn xá)
Tiếp đến là 1 mục lục, 1 trang, đề là Cần kiệm vựng biên mục lục, gồm
10 dòng chia thành 2 cột, mỗi cột 5 dòng ghi tên các quyển
Trang 33Phần nội dung chia thành 10 quyển lần lượt là:
- VQuyển 1: Huấn cần, tổng cộng 10 trang
- Quyển 2: Cần chính, tổng cộng 5 trang
- Quyển 3: Cần chức, tổng cộng 14 trang
- Quyển 4: Cần học, tổng cộng 12 trang
- Quyển 5: Cần nghiệp, tổng cộng 8 trang
- Quyển 6: Huấn kiệm, tổng cộng 13 trang
- Quyển 7: Vương kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 8: Phụ kiệm, tổng cộng 22 trang
- Quyển 9: Nho kiệm, tổng cộng 7 trang (1 trang trắng)
- Quyển 10: Tập kiệm, tổng cộng 8 trang
Phần nội dung mỗi trang gồm 8 dòng chữ to (chưa kể dòng lề ngoài cùng ghi tên tác phẩm, số quyển, số tờ), mỗi dòng có tối đa 22 chữ to, phần chữ nhỏ là giải thích, chú thích kèm theo nằm rải rác khắp các trang trong văn bản, dòng chữ nhỏ được in chen vào giữa 2 dòng chữ lớn, số lượng chữ không theo quy tắc Chữ in tương đối rõ ràng, các quyển đều có chấm câu,
Số trang
số quyển
Trang 34bản chỉ có bản VHv.708 là có chấm câu, có khuyên tròn, cả 4 bản về nội dung hoàn toàn đồng nhất
1.2.3 Chọn bản để công bố
Sau khi tiến hành khảo sát lỹ lưỡng bốn dị bản của Cần kiệm vựng biên
được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi nhận thấy bản VHv.708 là bản tốt nhất, đáng tin cậy nhất Bản này có thể ra đời cùng thời điểm với các bản A.1418 và VHv 245 nhưng bản này có ưu điểm là đã được hiệu điểm và kiểm duyệt Căn cứ vào các nguyên tắc công bố một văn bản Hán Nôm, chúng tôi chọn bản VHv.708 làm bản nền nghiên cứu và công bố
cho văn bản Cần kiệm vựng biên
Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi đã thực hiện những công việc sau:
Khái quát về về hoàn cảnh lịch sử xã hội, gia thế, cuộc đời của Nguyễn Đức Đạt Qua đó nêu bật đặc trưng hoàn cảnh xã hội cũng như con người Nguyễn Đức Đạt Tuy con đường làm quan rất hanh thông, từng giữ rất nhiều chức vụ quan trọng và có những cống hiến không nhỏ cho nhân dân và đất nước Nhưng là một nhà Nho chân chính, Nguyễn Đức Đạt vẫn giữ một lối sống thanh bần, giản dị, nghiêm khắc và một khí tiết thanh liêm, trong sạch Cuối đời ông về quê cống hiến cho sự nghiệp dạy học và sáng tác văn chương
Tổng quan về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đức Đạt bằng việc liệt kê tên, mô tả khái quát về hình thức và nội dung các tác phẩm thơ văn theo 3 nhóm: 1 Các sách dùng trong dạy học; 2 Các công trình văn thơ, triết học,
sử học có giá trị; 3 Các tác phẩm lẻ khác
Khẳng định được văn bản Cần kiệm vựng biên chỉ có một cách ghi duy nhất là Cần kiệm vựng biên và tác giả duy nhất là Nguyễn Đức Đạt
Bằng các phương pháp văn bản học, cung cấp cái nhìn chi tiết về tình
hình văn bản Cần kiệm vựng biên, xác định được hoàn cảnh sáng tác (cuối
thế kỷ XIX), niên đại hoàn thành (năm Tự Đức thứ 23 (1870), mô tả, so sánh, đối chiếu các dị bản (4 dị bản: A.1418: 126tr, 27 x14, in; VHv.245: 126tr, 27
x 14, in; VHv.707: 126tr, 20 x 12, in; VHv.708” 126tr, 27 x 14, in) và chọn
Trang 35ra bản tin cậy để giới thiệu và phiên dịch (bản VHv.708)
Trang 36CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ TÁC PHẨM CẦN KIỆM VỰNG BIÊN
2.1 Nội dung tác phẩm Cần kiệm vựng biên
9 Nho kiệm (sự tiết kiệm của nhà Nho); 10 Tập kiệm (rèn luyện sự tiết
kiệm)
Tuy là tác phẩm vựng tập, nhưng bằng sự khéo léo của mình tác giả đã đưa những trích dẫn từ các sách Trung Quốc cổ tập hợp theo từng chủ điểm theo ý của mình, khiến cho những trích dẫn từ các sách khác nhau cùng hướng đến một nội dung giống nhau, xoá nhoà đi sự cứng nhắc của một tác phẩm vựng tập Các chủ điểm thường được tạo thành từ các trích dẫn ngắn nhưng vẫn đầy đủ nội dung, phần lớn là liệt kê những lời giáo huấn, những tấm gương, những mẫu hình đáng học hỏi có thật trong lịch sử Trung Quốc
về việc thực hiện cần, kiệm, cùng và những ý kiến nhận xét riêng của người vựng tập
2.1.1 Nội dung của Cần kiệm vựng biên với chữ Cần
Trong tác phẩm Cần, kiệm, liêm, chính của chủ tịch Hồ Chí Minh viết
vào tháng 6/1949, Người viết: Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, nền tảng thi đua ái quốc
“Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông
Đất có bốn phương: Đông, tây, nam, bắc
Trang 37Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa thì không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người.” [32; tr 631]
“Cần” nghĩa là siêng năng, chuyên cần, chăm chỉ, bền bỉ, nỗ lực, dẻo dai Đây là đức tính cần thiết nhất, được đặt lên hàng đầu đối với mỗi cá nhân theo nghĩa hẹp và đối với tập thể, đất nước theo nghĩa hẹp Bác Hồ cũng nói:
“Người siêng năng thì mau tiến bộ
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh
Cả nước siêng năng thì nước phồn thịnh.”[32, tr 62]
Sự quan trọng, cần thiết của chữ cần không phải đến Bác Hồ mới là người đầu tiên nêu ra ra mà nó đã được nêu ra, được chứng minh từ khi con
người mới hình thành Sự chuyên Cần chính là động lực thúc đẩy sự tiến hoá
của con người và xã hội loài người theo cả hai nghĩa vật chất và tinh thần Con người chỉ có thể tồn tại theo đúng nghĩa của một con người khi lao động một cách chăm chỉ để tạo ra sản phẩm Từ cổ chí kim đã có hàng ngàn tấm gương về sự chuyên cần, bền bỉ, được ghi chép lại trong văn hiến Ở Trung Quốc, với lịch sử phát triển lâu đời, dân cư đông đúc thì tầm quan trọng của chữ cần càng được chứng minh rõ ràng hơn
Những điển hình, những lời răn dạy của người xưa về sự chuyên cần được ghi chép lại trong các sách kinh, sử, tử, tập của Trung Quốc được Nguyễn Đức Đạt vựng tập thành bốn chủ điểm chính, cũng là bốn lĩnh vực
mà theo ông không thể thiếu được chữ cần, đó là: Cần chính, là chuyên cần trong việc trị nước; Cần chức, là chuyên cần trong chức vụ; Cần học, là chuyên cần trong việc học tập và Cần nghiệp, là chuyên cần trong nghề
nghiệp
Với bốn chủ điểm này, mục đích của tác giả là đề cao tầm quan trọng,
Trang 38sự cần thiết của chữ cần đối với tất cả các đối tượng thuộc các tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội từ vua chúa, quan lại, trí thúc cho đến dân thường Vua thì chuyên cần, gắng sức trong việc trị nước, giữ vững vận mệnh dân tộc; quan thì chuyên cần, nỗ lực trong chức vụ của mình, chăm lo đời sống nhân dân; trí thức thì chuyên cần, kiên trì trong việc dùi mài kinh
sử, tương lai có thể đóng góp tài trí cho đất nước; dân thường thì chuyên cần,
cố gắng trong nghề nghiệp của mình Thương nhân thì siêng năng buôn bán tạo ra lợi nhuận, thợ thủ công thì siêng năng lao động sáng tạo làm ra những sản phẩm tinh xảo, nông dân thì siêng năng cày cấy, tạo ra lương thực thực phẩm Sự chuyên cần, nỗ lực của từng thành viên sẽ tạo nên sự cường thịnh cho cả dân tộc, cả đất nước
Trong phần nói về chữ cần này, Nguyễn Đức Đạt cũng trực tiếp liệt kê những tấm gương điển hình về sự chuyên cần, chăm chỉ trong lịch sử Trung Quốc dưới hình thức trích dẫn, mỗi trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, chủ yếu là từ các sách như kinh, sử, truyện Các trích dẫn được sắp xếp theo logic nội dung, nghĩa là các trích dẫn có nội dung gần giống nhau được xếp gần nhau, tạo nên sự nhuần nhuyễn, liền mạch của tác phẩm, tạo nên giá trị liên tưởng rất cao
2.1.1.1 Huấn cần
Huấn cần nghĩa là lời dạy về sự chuyên cần Chính từ chữ “huấn” này
mà Cần kiệm vựng biên được xếp vào thể loại gia huấn, nhưng theo kết quả khảo sát của người nghiên cứu, Cần kiệm vựng biên đã vượt ra ngoài phạm
vi gia huấn (răn dạy trong gia tộc) trở thành tác phẩm dành cho tất cả các đối tượng, các thành phần trong xã hội, từ vua đến quan, từ trí thức đến dân thường Là mẫu mực, quy chuẩn để tất cả mọi người tự soi mình vào đó, để học tập theo hành động, phẩm chất của tiền nhân
Trong chương Huấn cần, Nguyễn Đức Đạt chủ yếu vựng tập từ các kinh,
sử, truyện Các kinh chủ yếu như Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi Các sử như: Sử ký Tư ký hiệu Thiên, Minh sử Các truyện như: Tả truyện, Mao
Trang 39Trường truyện Khổng Tùng Tử, Tuân Tử, Hoàn Phạm, Liễu Đồn Điền khuyến học văn Ngoài ra còn có các thể loại như quốc ngữ, luận, gia huấn
Tất cả các trích dẫn đều là những lời dạy sâu sắc, chí lý của cổ nhân về sự chuyên cần
Ngay đầu chương tác giả trích một câu trong Kinh Dịch: “Thiên hành
kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” (trời vận động mạnh mẽ, người quân tử lấy tự cường không ngừng nghỉ) [1; tờ 2] Câu đó có nghĩa người quân tử chuyền cần không biếng nhác là thuận theo đạo của trời, trời luôn luôn vận động thì con người không cớ gì lại ngừng nghỉ Người quân tử ở đây trước hết phải là vua: “Khắc cần vu bang” (chuyên vần trong việc nước)[1; tờ 2];
là bề tôi: “Kẻ bề tôi phụng sự sứ mệnh phải cần cù với việc công”[1; tờ 3]; là dân thường: “Phải lao động thì mới có suy nghĩ, phải có suy nghĩ thì mới có thể sinh ra thiện tâm” [1;tờ 3]
Chương này còn chỉ ra rằng “lười biếng” là kẻ địch của chữ “cần”, bởi:
“Nhàn tản an dật thì sẽ dẫn đến hưởng lạc quá độ, hưởng lạc quá độ thì sẽ quên đi những phẩm hạnh tốt đẹp, quên đi phẩm hạnh tốt đẹp thì sẽ sinh ra
tà niệm.” Cho nên: “Người dân sống ở vùng đất phì nhiêu trình độ không cao là do họ hưởng lạc quá độ Người dân sống ở vùng đất cằn cỗi không ai
là không hiểu đạo nghĩa vởi họ chuyên cần, chăm chỉ” [1, tờ 3] Từ đó có thể thấy rằng sự chuyên cần không những mang lại giá trị vật chất mà còn mang lại giá trị tinh thần (trình độ dân trí) của cả xã hội
Ngoài những lời giáo huấn chung, tác giả còn trình bày phương thức thực hiện chữ “cần” một cách cụ thể: Đối với bậc thiên tử: “Sáng sớm phải mặc áo thêu hoa văn ngũ sắc để tế tự mặt trời một cách long trọng, khiến cho tam công cửu khanh hiểu biết về sản xuất nông nghiệp, giữa trưa khảo sát việc chính trị, bàn giao công việc phải làm cho bách quan Buổi tối phải mặc thiên y ba màu tế tự mặt trăng, cùng với thái sử, tư tải ghi chép tỉ mỉ thiên tượng, đêm khuya phải đốc thúc các tần phi, khiến họ chuẩn bị tốt ngũ cốc
và đồ đựng, sau đó mới được nghỉ ngơi” [1; tờ 3] Đối với chư hầu: ”Sáng
Trang 40sớm nghe thiên tử bố trí công việc và huấn đạo, ban ngày hoàn thành những công việc thuộc trách nhiệm của mình, gần tối kiểm tra lại những điển chương là pháp quy có liên quan, buổi tối dặn dò các quan, nhắc nhở họ không được hưởng lạc quá độ, sau đó mới nghỉ ngơi”[1; tờ 3,4] Đối với các quan đại phu: “Sáng sớm phải trù tính, sắp xếp việc chính sự, ban ngày cùng với các liêu thuộc (quan cấp dưới) thương lượng xử lý việc chính sự, chiều tối kiểm tra lại một lần nữa công việc của ngày hôm đó, buổi tối xử lý những công việc trong nhà, sau đó mới được nghỉ ngơi” [1; tờ 4] Đối với Thanh niên quý tộc: “sáng sớm tiếp thụ bài học buổi sáng, ban ngày nghiên cứu và học tập những tri thức học được, chiều tối ôn tập lại, buổi tối phản tỉnh bản thân có lỗi lầm gì không và có chỗ nào không được như ý, sau đó mới nghỉ ngơi”[1, tờ 4] Từ bình dân trở xuống: “Mặt trời nên bắt đầu làm việc, mặt trời lặn mới nghỉ ngơi, không thể có một ngày lười nhác.”[1, tờ 4]
Thông qua việc lựa chọn, trích dẫn các sách Trung Quốc, dưới lập trường vựng tập của mình Nguyễn Đức Đạt đã cho người đọc hình dung được ý nghĩa, tầm quan trọng của chữ “cần” đối với mọi con người, mọi thời đại Cũng giống như Trung Quốc, xã hội Việt Nam thời Nguyễn Đức Đạt là
xã hội phong kiến, chế độ là chế độ quân chủ tập quyền, nghề nghiệp chính
là nông nghiệp Hơn nước nào hết, ở Việt Nam chúng ta, tầm quan trọng của chữ “cần” càng trở nên nổi bật nhất Cho nên những lời răn dạy được trích
dẫn trong Huấn cần chính là lời mà Nguyễn Đức Đạt mong muốn truyền đạt
cho các thế hệ người Việt Nam ở đủ mọi chức vị xã hội từ chức vị cao nhất
là vua cho đến thấp nhất là thứ dân
2.1.1.2 Cần chính
Trị nước là công việc nặng nề nhất, khó khăn nhất của người đứng đầu quốc gia, đặc biệt là dưới chế độ quân chủ tập quyền, chế độ mà quyền hạn tập trung vào một tay đấng quân vương Một thời đại thịnh trị chỉ khi vị vua trị vì thời đó quan tâm đến việc nước, chăm lo đến đời sống nhân dân, cần mẫn, kiên trì trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh của đất nước, của