Điều này, khẳng định vị trí, vai trò không nhỏ của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của người dân cũng như trong công cuộc xây dựng quê hương Thanh Hóa Để nêu bật lên được vai trò và n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DÂN
THANH HÓA TỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Châu Á Học
Mã số: 60 31 50
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Nguyễn Tương Lai
HÀ NỘI, 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài: 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 12
4 Phương pháp nghiên cứu: 12
5 Cấu trúc của luận văn: 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: PHẬT GIÁO Ở THANH HÓA NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ 14 1.1 Khái quát chung về lịch sử Phật giáo ở Thanh Hóa 14
1.2 Những người có công khởi dựng và phát triển Phật giáo Thanh Hóa 23
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO THANH HOÁ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG VÀ TƯ TƯỞNG CỦA NHÂN DÂNTỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY 28
2.1 Những đóng góp chính 28
2.1.1 Phật giáo đối với đạo đức 28
2.1.2 Phật giáo đối với lối sống, nếp sống 35
2.1.3 Phật giáo đối với phong tục tập quán 40
2.1.3.1 Tập tục đi chùa cầu may 41
2.1.3.2 Tập tục Cầu siêu và Làm chay 43
2.1.3.3 Tập tục coi ngày giờ 45
2.1.3.4 Tập tục dựng cây nêu ngày tết 46
2.1.4 Phật giáo đối với văn hóa lễ hội 47
Trang 42.1.4.1 Lễ hội báo hiếu Vu Lan 48
2.1.4.2 Lễ hội chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh 50
2.1.4.3 Lễ hội tâm linh Đền Sòng, Phố Cát 51
2.1.4.4 Lễ hội Bánh Chưng Bánh Dày 52
2.1.5 Phật giáo đối với công tác từ thiện xã hội 54
2.2 Những thách thức của quá trình hội nhập và phát triển 57
2.2.1 Sự lệch lạc trong nhận thức của Tăng Ni Phật tử 57
2.2.2 Hiện tượng mê tín trong hoạt động lễ nghi nhà chùa 58
2.2.3 Nhu cầu tham dự vào tiến trình hội nhập quốc tế 58
2.3 Những hoạt động của Phật giáo Thanh Hoá trong quá trình hội nhập và phát triển 61
2.3.1 Chăm lo đào tạo Tăng Ni Phật tử trong toàn tỉnh 61
2.3.2 Xây dựng, củng cố và phát triển các Ban đại diện Phật giáo 63
2.3.3 Củng cố và phát triển tín đồ Phật tử 65
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO THANH HOÁ ĐỐI VỚI VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT CỦA TỈNH NHÀ TỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY 68
3.1 Phật giáo đối với Văn học 68
3.2 Phật giáo đối với kiến trúc, điêu khắc chùa chiền 73
3.2.1.Kiến trúc điêu khắc Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Văn Lộc, Hậu Lộc,Thanh Hóa) 73
3.2.2 Kiến trúc điêu khắc chùa Hoa Long (Vĩnh Thịnh, Vĩnh lộc, Thanh Hóa) 76
3.2.3 Kiến trúc điêu khắc chùa Đót Tiên (Du Xuyên, Thanh Hải, Tĩnh Gia, Thanh Hóa) 77
3.2.4 Kiến trúc điêu khác chùa Mật Đa (Phường Nam Ngạn, Thành phố Thanh Hóa ) 79
3.2.5.Kiến trúc điêu khắc chùa Đại Bi (Phường Đông Vệ, Thành Phố
Thanh Hóa ) 80
3.2.6 Kiến trúc điêu khắc chùa Thanh Hà (Phường Trường Thi, Thành phố Thanh Hóa) 81
Trang 53.2.7 Sự thay đổi trong chất lượng xây dựng chùa hiện nay 83
3.3 Phật giáo đối với Âm nhạc 85
3.4 Phật giáo đối với Sân Khấu 87
PHẦN KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 107
Trang 6đồ của mình đã tham gia tích cực vào công cuộc kháng chiến, thống nhất đất nước; Đồng thời góp phần phục hồi hòa bình, gìn giữ nền độc lập dân tộc Trong đời sống tinh thần của dân tộc, Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa - xã hội, góp phần xây dựng nền tảng đạo đức, lối sống lành mạnh cho nhiều thế hệ người Việt
Nội dung giáo lý Phật giáo thể hiện triết lý giáo dục con người phải sống tận chân, tận thiện, tận mỹ Chính những giá trị đạo đức này đã ngày càng khẳng định vai trò của Đạo Phật trong việc giáo dục hoàn thiện nhân cách đạo đức con người, đồng thời giúp cho Phật giáo ngày càng tạo lập được cơ sở thực tiễn vững chắc cho
sự tồn tại và phát triển của mình trên đất nước Việt Nam
Thanh Hóa là một địa phương có nền văn hóa lâu đời, từ văn hóa Đa Bút đến văn hóa Đông Sơn trải dài mấy ngàn năm Khi Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa, được người dân Thanh Hoá tiếp nhận một cách tự nhiên và nhanh chóng hòa hợp với tín ngưỡng bản địa, khiến cho nó ăn sâu bám rễ, phát triển tạo nên sự hòa đồng giữa văn hóa Phật giáo với văn hóa tín ngưỡng bản địa trong nhiều thiên niên kỷ
Do đó, ngay từ thời Lý, Trần, Phật giáo đã phát triển rộng khắp ở các miền trung
du, đồng bằng trong tỉnh Dấu ấn Phật giáo Thanh Hóa qua các thời kỳ phát triển được đánh dấu bằng hệ thống chùa chiền dày đặc (269 ngôi chùa trong toàn tỉnh) Đặc biệt là các ngôi chùa từ thời Lý, Trần vẫn tồn tại đến ngày hôm nay như chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, chùa Hoa Long, chùa Hương Nghiêm, chùa Linh Xứng
Trang 7…Điều này minh chứng cho sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với người dân Thanh Hóa là rất sâu đậm, không phải địa phương nào cũng có được
Ngày 01 tháng 11 năm 1984, Giáo hội Phật giáo tỉnh Thanh Hóa được thành lập, đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của Phật giáo Thanh Hóa Kể từ sau khi thành lập, đặc biệt là trong giai đoạn hiên nay Phật giáo Thanh Hóa đã tham gia và
có những đóng góp to lớn trong mọi lĩnh vực hoạt động của tỉnh nhà như: Chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa xã hội Điều này, khẳng định vị trí, vai trò không nhỏ của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của người dân cũng như trong công cuộc xây dựng quê hương Thanh Hóa
Để nêu bật lên được vai trò và những đóng góp có giá trị tích cực của Phật giáo đối với tỉnh nhà, thì việc nghiên cứu khảo sát một cách đầy đủ và có hệ thống
về Phật giáo ở Thanh Hóa là một việc làm cần thiết Việc làm này sẽ giúp cho nhân dân Thanh Hoá nói chung và giới Tăng Ni Phật tử Thanh Hoá nói riêng tự hào về Phật giáo Thanh Hoá với một quá trình phát triển dài lâu cùng với những đóng góp rất thiết thực cho đất nước, cho dân tộc trong bao nhiêu năm qua mà đặc biệt là sau khi Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hoá được thành lập cho đến nay Việc làm này sẽ góp phần đưa ra những giải pháp để Phật giáo phát huy hơn nữa những đóng góp hiệu quả đối với công cuộc xây dựng và phát triển xã hội, đặc biệt trong việc xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh cho nhân dân trong tỉnh Đây chính là lý do để
tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của người dân Thanh Hóa từ năm 1984 đến nay” làm luận văn tốt nghiệp, với hy vọng giải
mã thêm các lớp trầm tích văn hóa Phật giáo ở Thanh Hóa và phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo này vào sự nghiệp dựng xây phát triển đất nước Việt Nam dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh
-Ý nghĩa khoa học:
Luận văn đã khái quát được quá trình du nhập và phát triển Phật giáo vào Thanh Hóa, nêu lên vai trò của Phật giáo trên một số lĩnh vực trong đời sống văn hóa của người dân tỉnh Thanh Đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp chủ yếu
Trang 8nhằm phát huy những mặt tích cực, khắc phục những mặt hạn chế của Phật giáo trong việc xây dựng đời sống văn hóa của nhân dân Thanh Hóa, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay Từ đó góp phần xây dựng những luận cứ khoa học nhằm củng cố và phát triển Phật giáo Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan đến Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng, cũng như sử dụng làm tài liệu tham khảo để giảng dạy về tôn giáo ở các trường đại học, cao đẳng và trường chính trị tỉnh
Ngoài ra luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, bồi dưỡng, tập huấn đối với cán bộ làm công tác tôn giáo, công tác vận động quần chúng nói chung và ở Thanh Hóa nói riêng
Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam
Năm 1984, tiến sĩ Perter D.Samtina viết cuốn “Fundamentals of Buddhism” (Nền tảng của đạo Phật) Cuốn sách được Thích Tâm Quang dịch sang tiếng Việt năm 1996 Trong cuốn sách này, tác giả trình bày 12 bài giảng về lịch sử ra đời của đạo Phật và những giáo lý cơ bản của đạo Phật như: Tứ diệu đế, nhân quả, nghiệp, ngũ uẩn… Đây là những nội dung được trình bày từ quan niệm của một Phật tử Phương Tây, có hiểu biết sâu sắc về giáo lý Phật giáo, với nhiều nội dung phong phú, nhất là những quan niệm về nhân sinh của đạo Phật nguyên thủy
Năm 1986, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam – Viện Triết học xuất bản cuốn “Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam”, tập hợp 25 bài tham luận của các nhà nghiên cứu có tên tuổi trong giới khoa học Việt Nam như Trần
Trang 9Văn Giàu, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Đức Sự, Trần Bạch Đằng, Hà Văn Tấn, Phan Đại Doãn, Trần Đình Hựu…Trong tập bài tham luận này, các tác giả đã phân tích
và làm sáng tỏ mối quan hệ tác động qua lại giữa Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, tính chất của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam Đồng thời cũng đề cập đến một số tông phái Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng chủ nghĩa yêu nước tới văn hóa Việt Nam…
Năm 1988, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Viện Triết học do PGS Nguyễn Tài Thư chủ biên Cuốn sách đề cập đến quá trình du nhập và Phát triển Phật giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên cho đến nửa đầu thế kỷ XX
Năm 1992, Hòa Thượng Thích Thanh Từ viết cuốn “ Phật giáo với dân tộc”, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Trong cuốn sách này tác giả giới thiệu 3 đề tài lớn: Phần 1 Phật giáo trong mạch sống dân tộc, phần 2 Vài nét chính luân lý Phật giáo, phần 3 Đạo Phật và tuổi trẻ
Năm 1995, Nhà xuất bản Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản cuốn
“Đạo đức học Phật giáo” bao gồm những bài tham luận của nhiều tác giả Nội dung chủ yếu của cuốn sách được các tác giả đề cập là những cơ sở và các phạm trù đạo đức của Phật giáo, những phân tích để cắt nghĩa rõ thêm nội dung của chúng như giới, hạnh, nguyện, thiện, ác
Năm 1996, Giáo sư Nguyễn Phan Quang viết Cuốn “Có một nền đạo lý Việt Nam” Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách giới thiệu đến sự hòa nhập của đạo đức Phật giáo trong đạo lý dân gian Việt Nam Từ đó giúp người đọc nhận thức được vai trò cũng như những đóng góp tích cực của Phật giáo đối với nền đạo đức dân tộc
Năm 1996, Giáo sư Trần Lâm Biền viết cuốn “Chùa Việt”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin Tác giả đã khái quát lịch sử các Chùa Việt và quá trình thâm nhập Phật Giáo vào Việt Nam thông qua hệ thống chùa chiền; những nghiên cứu tính chất văn hoá, Nghệ thuật, Kiến trúc và phong cách tượng Phật tại các chùa Việt Nam từ thời Lý đến thế kỷ 10
Trang 10Năm 1997, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản cuốn “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” do Giáo sư Nguyễn Tài Thư chủ biên Phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào các khái niệm từ, bi, hỉ, xả cùng các giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư tưởng của con người Việt Nam
Năm 2000, Thanh Lê viết cuốn “Văn hóa và lối sống”, Nhà xuất bản Thanh Niên Tác giả đã hệ thống hóa vấn đề văn hóa và lối sống như là một hành trang của thanh niên vào thế kỷ XXI Trong đó phân tích thực trạng suy đồi của lối sống thanh niên và đưa ra một số giải pháp nhằm chống lại tình trạng suy đồi và lối sống
sa đọa này
Năm 2002, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu viết cuốn “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam”, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Nội dung chủ yếu của cuốn sách là sự khái quát những nét cơ bản về quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc Việt Nam
Năm 2006, Nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản cuốn “Chùa Cổ Việt Nam”
do Vũ Ngọc Khánh chủ biên Cuốn sách tập chung giới thiệu các ngôi chùa cổ Việt Nam trong đó có một số ngôi chùa tiêu biểu của Thanh Hóa
Năm 2007, Nguyễn Đức Lữ trong cuốn “Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” đã đánh giá các giá trị truyền thống của Phật giáo trong tương quan với các tôn giáo, tư tưởng tín ngưỡng và các trào lưu tư tưởng khác Từ đó tác giả cho rằng, trong công cuộc đổi mới đất nước, trước xu hướng toàn cầu hóa, Phật giáo cần biết tự điều chỉnh để thích ứng với xã hội Việt Nam và nhân loại thời hiện đại, cùng đất nước bước trên lộ trình đổi mới trong bối cảnh lịch sử mới
Nghiên cứu về Phật giáo Thanh Hóa
Năm 1984, Nhà xuất bản văn hoá thông tin xuất bản cuốn “Lịch sử Thanh
Hóa” tập 2, do Ban nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa giới thiệu Phần nói về Phật giáo
đã trình bày quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Thanh Hóa
2000, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản cuốn “Địa chí Thanh Hoá” tập 1, do nhiều tác giả trong ban nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa viết, phần viết về
Trang 11“Những tôn giáo phổ cập ở Thanh Hóa chung với tình hình cả nước”, đã giới thiệu
về những người có công khởi dựng và phát triển Phật giáo ở Thanh Hóa và giới thiệu về các nhà sư nổi tiếng của Thanh Hóa
Năm 2008, TS Mai Thị Hồng Hải với Báo cáo tổng kết khoa học đề tài “Vận dụng lý thuyết văn hóa vùng và phân vùng văn hóa nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy sắc thái văn hóa tỉnh Thanh Hóa”, trong phần về tôn giáo tín ngưỡng có giới thiệu về quá trình du nhập Phật giáo vào Thanh Hóa đồng thời giới thiệu về một số chùa nổi tiếng ở Thanh Hóa…
Năm 2009, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản cuốn “Kỷ yếu tọa đàm kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa”, bao gồm những bài viết, báo cáo về quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu đạt được của tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa qua 25 năm thành lập (1984-2009) Năm 2009, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản cuốn “Chùa xứ Thanh”, tập 1 của tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa bao gồm nhiều tác giả viết, chủ yếu giới thiệu về lịch sử các ngôi chùa trong toàn tỉnh
Năm 2010, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản cuốn “Chùa xứ Thanh”, tập 2 của tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa bao gồm nhiều tác giả viết, chủ yếu giới thiệu về lịch sử các ngôi chùa trong toàn tỉnh
Năm 2010, Trịnh Quốc Tuấn viết cuốn “Về Quê Thanh - Tiếp cận từ lịch sử văn hóa xứ Thanh”, Nhà xuất bản Thanh Hóa Phần viết về Phật giáo, tác giả đã tập trung tìm hiểu sự đồng hành của Phật giáo cùng dân tộc, Phật giáo Thanh Hóa với công cuộc đổi mới quê hương, chặng đường 25 năm phát triển của Phật giáo Thanh
Hóa
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình, các bài viết khác gián tiếp bàn về ảnh hưởng của Phật giáo tới đạo đức, lối sống, văn hóa, nghệ thuật, tư duy của con người Việt Nam ở các vùng, miền khác nhau trên các tạp chí Phật học, nghiên cứu tôn giáo và một số tạp chí khác
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều khẳng định, qua hàng ngàn năm tồn tại
và phát triển ở Việt Nam Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống văn
Trang 12hóa của người Việt Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến Phật giáo trên nhiều góc độ lịch sử, tư tưởng, văn hóa khác nhau, mang tính tổng quát trên phạm
vi cả nước, hay riêng từng khu vực Riêng vấn đề xác định “Vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của người dân Thanh Hóa từ năm 1984 đến nay” cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách cụ thể, có hệ thống Vì vậy, nghiên cứu Phật giáo và và vai trò của nó đối với đời sống văn hóa của người dân Thanh Hóa từ năm 1984 đến nay vẫn còn là một lĩnh vực còn bở ngở, mang tính chất mới mẻ, đặt ra nhiều yêu cầu và khó khăn đòi hỏi sự nỗ lực nhiều mặt của người viết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: luận văn chủ yếu nghiên cứu vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của nhân dân Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm 1984 đến nay
Phạm vi nghiên cứu: Phật giáo và vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của người dân Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm 1984 đến nay là một vấn đề rất rộng lớn Trong phạm vi nghiên cứu của mình, Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu
về vai trò của Phật giáo Thanh Hóa đối với phương diện đời sống sinh hoạt cộng đồng và phương diện tư tưởng, văn học – nghệ thuật của nhân dân Thanh Hóa từ năm 1984 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, đọc các nguồn tài liệu liên quan
Phương pháp điền dã: được tác giả xem như một công cụ cơ bản trong thu thập khai thác các thông tin về các hoạt động, những nghi lễ và giá trị vật chất, tinh thần của Giáo hội Phật giáo Thanh Hóa
Phương pháp tổng hợp, hệ thống, phân tích Các phương pháp này được áp dụng trong việc xử lý các thông tin được khai thác, nghiên cứu từ các bài viết và công trình nghiên cứu khoa học về Phật giáo nói chung, cũng như Phật giáo tỉnh Thanh Hóa nói riêng để trình bày trong luận văn
Trang 135 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Phật giáo ở Thanh Hóa nhìn từ góc độ lịch sử
Chương 2: Vai trò của Phật giáo Thanh Hóa đối với đời sống sinh hoạt cộng đồng
và tư tưởng của nhân dân từ năm 1984 đến nay
Chương 3: Vai trò của Phật giáo Thanh Hoá đối với văn học - nghệ thuật của tỉnh
nhà từ năm 1984 đến nay
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHẬT GIÁO Ở THANH HÓA NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ
1.1 Khái quát chung về lịch sử Phật giáo ở Thanh Hóa
Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, vào khoảng thế kỷ VI (trước Công nguyên) ở miền Bắc Ấn Độ do Thái tử Tất Đạt Đa (Siddharta: 563 - 483 trước công nguyên), con trai của Tịnh Phạn Vương (Suđhodana) trị vì một xứ nhỏ ở trung lưu sông Hằng là Ca Ty La Vệ (nước Nê Pan ngày nay) sáng lập Cuộc sống giàu sang nơi cung đình khiến ông không hề hay biết những gì đang diễn ra với bao bi kịch kiếp người ngoài xã hội Cho đến khi trực tiếp đi ra ngoài thành và tận mắt chứng kiến nỗi khổ của kiếp người, Thái tử Tất Đạt Đa quyết noi gương các đạo sĩ tu theo lối sống khổ hạnh Năm 19 tuổi, ông bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn tu Sau 6 năm khổ hạnh, ông chợt nhận thấy rằng, lối tu đó cũng không giải thoát con người khỏi nổi đau sinh, lão, bệnh, tử Vì theo ông, tu khổ hạnh hay chủ chương khoái lạc cũng đều là những cực đoan phi lý như nhau Bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng ông cũng đã phát hiện ra con đường “trung đạo”, một con đường đúng đắn nhất dẫn con người đến sự giải thoát Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã đạt đến chân lý, đã hiểu được bản chất của
sự tồn tại nhân sinh và bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tăng đoàn Phật giáo Từ đó ông được gọi là Thích Ca Mầu Ni – tức là người
đã giác ngộ chân lý đầu tiên
Từ Ấn Độ, Phật giáo đã lan truyền đến nhiều châu lục, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của nhiều quốc gia Phật giáo được truyền bá chủ yếu chia làm hai lộ tuyến là Nam truyền và Bắc truyền Về phương Bắc thì gọi là Bắc phương Phật giáo hay là Bắc tông Phật giáo; còn gọi là Đại thừa Phật giáo hay Phật giáo phát triển phái đại chúng bộ, gồm có các nước và các vùng miền, lãnh thổ như: Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Mãn Châu, Cao Ly, Nhật, Việt Nam Kinh điển chủ yếu là chữ Phạn (Sanskrinit) Về phương Nam thì gọi là Nam phương Phật giáo
Trang 15hay Nam tông Phật giáo, còn gọi là Tiểu thừa Phật giáo, hay Phật giáo Nguyên thủy, phái thượng tọa bộ, gồm có các nước và các vùng miền, lãnh thổ như: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, Nam Dương… kinh điển chủ yếu là chữ Pali (Palit) Trong quá trình truyền bá, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục, dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều trường phái và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia trên thế giới
Theo sử sách thì Phật giáo truyền bá vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên, theo hai con đường: đường thủy và đường bộ Đường thủy bắt đầu từ Ấn
Độ, theo các thuyền buôn dọc theo Nam Dương đến bán đảo Đông Dương ngày nay, rồi vào Việt Nam Đường bộ thông qua các nhà sư Ấn Độ đến Bắc Trung Quốc
và qua Triều Tiên, vào Nhật Bản và xuống nước ta Chuyện cổ tích Chữ Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ, các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Ma Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng thời với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189 đã minh chứng cho dấu ấn của đạo Phật thời kỳ đầu truyền bá tại Việt Nam Cho đến khoảng thế kỷ thứ II (sau công nguyên), nước ta
đã hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay) là trụ sở Phật giáo quan trọng và lớn nhất của cả nước
Hòa cùng dòng chảy của cả nước, Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa cũng rất sớm, dung hội cả Bắc Tông (Đại thừa) và Nam Tông (Tiểu thừa) Từ buổi đầu du nhập, Phật giáo đã hòa quyện cùng với sắc thái văn hóa xứ Thanh, tạo cho Phật Giáo Thanh Hóa có những sắc thái riêng, dung hội các dòng tư tưởng và tín ngưỡng địa phương, nhưng không làm biến dạng những nét riêng có trong Hoằng Dương Phật pháp của Phật giáo
Đối với sự du nhập của Phật giáo ở Thanh Hóa, hiện nay chưa có tài liệu nào nói chính xác mốc thời gian Phật giáo có mặt tại nơi đây Nhưng qua sử sách ghi chép lại, qua các văn bia ở chùa cổ thời Lý, Trần và qua sự phân tích các dấu viết liên quan đến Phật giáo thời kỳ đầu có mặt trên đất Thanh Hóa, chúng ta có thể khẳng định rằng Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa từ những thế kỷ đầu sau công
Trang 16nguyên Thời kỳ này, Thanh Hóa chịu ảnh hưởng trực tiếp Phật giáo từ Ấn Độ sang thông qua đường biển Các nhà sư Ấn Độ đã theo chân các thuyền lái buôn đi dọc
bờ biển Nam Dương đến bán đảo Đông Dương, và Thanh Hóa là một trong những địa điểm dừng chân của các nhà sư Ấn Độ để truyền đạo Điều này được minh chứng qua hai dấu tích liên quan đến Phật giáo buổi đầu du nhập vào Thanh Hóa đó
là vết chân Phật ở đền Độc Cước và đặc trưng những tượng người được tìm thấy ở Lạch Trường ( huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa)
Đền Độc Cước nằm trên mỏm Cổ Giải dãy Trường Lệ (Sầm Sơn, Thanh Hóa) và thờ vị thần chỉ có nửa người bên phải, chỉ có một mắt, một tay, một chân (gọi là thần Độc Cước) Theo truyền thuyết vị thần này đã tự xé mình làm hai phần, nửa ở dưới biển đánh bọn cướp biển, còn nửa kia để trên bờ đánh bọn cướp cạn để cứu nhân dân
Thực ra vị thần này đã được đưa vào Phật Điện thờ cúng nhiều nơi Trong một bản Diên Quang tam Muội Tạo Tượng, đã xếp thần Độc Cước vào hàng cuối cùng trong Phật điện Trong tám đạo sắc hiện có ở Độc Cước Sơn từ năm 1783 –
1924, đã phong Độc Cước Tiêu Thần, Độc Cước tiêu thượng đẳng thần, Độc Cước chi Thần Nói về mối quan hệ giữa thần Độc Cước với Phật giáo, Ban nghiên cứu Lịch sử Thanh Hóa đã nhận định: “Mối liên hệ giữa thần Độc Cước ở Thanh Hóa với Phật giáo là ở chỗ khi truyền Phật giáo vào Việt Nam, các nhà sư Ấn Độ đã thờ thần một bàn chân biểu thị cho Đạo, diễn ra trong các năm 36, 37, 84, 159, 183…” [1, Tr.79] Để chứng minh vấn đề này, chúng ta ngược dòng lịch sử sẽ thấy, thiết chế của đạo Phật ở Việt Nam ban đầu chưa phải là chùa chiền, tượng pháp mà khởi đầu việc thờ Phật bắt đầu từ thờ dấu chân Phật Tổ Điều đó còn truyền lại câu chuyện nhà sư Cà Sa Đồ Lê ở chùa Dâu (Bắc Ninh) dựng một chân giảng kinh kệ
và xoay mình theo hướng mặt trời Tục thờ thần Độc Cước chính là ảnh xạ của tục thờ dấu chân của Đạo Phật
Những di vật được tìm thấy ở Lạch Trường, Hậu Lộc (Đây là một trong những cửa biển lớn của khu vực Bắc Trung bộ, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế chính trị sầm uất của một vùng xứ Thanh xưa kia), đặc biệt là “cây đèn đồng Lạch
Trang 17Trường” được nhà khảo cổ học Thụy Điển, ông O Janse tìm thấy năm 1935, trong một ngôi mộ gạch có niên đại vào những thế kỷ đầu Công nguyên Cây đèn đồng này có một đặc điểm kỳ lạ là: Vừa là đèn, vừa là tượng mang dáng vẻ của một người đàn ông, nhưng hình dáng của người đàn ông này lại không giống với hình dáng của người đàn ông Việt xưa nay, mà giống với người đàn ông ở các vùng Trung Á hay Ấn Độ, với các đặc điểm như: Râu quai nón, mái tóc hình xoáy ốc, sống mũi nổi cao, môi trễ, rốn lồi… Theo lý giải của ông Janse, nhân vật chính của cây đèn hình người quỳ này thiếu đi tất cả đặc điểm của người Trung Hoa mà mang đặc điểm của Phật Buddha của Ấn Độ Sự hiện diện của các di vật này là minh chứng lịch sử cho sự diễn ra một cơ tầng Việt Ấn đậm nét trong giai đoạn đầu Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa
Bên cạnh đó, thông qua các dữ liệu lịch sử được ghi chép trong sử sách, văn bia…thì từ thế kỷ thứ VII trở đi, Ái Châu (tên gọi của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn đầu) nói riêng và Giao Châu nói chung đã bắt đầu du nhập hai phái Thiền tông của Phật giáo Trung Quốc, đó là phái Nam Phương và phái Quan Bích Hai phái Thiền tông này là cơ sở chủ yếu của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ độc lập sau này
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn thì sư Pháp Hiền ( ? – 626, thuộc đời Đường của Trung Quốc) đã “đi giảng đạo, dựng chùa khắp mọi nơi ở Phong Châu (Sơn Tây) Hoan Châu (Nghệ An), Tràng Châu (Ninh Bình) và Ái Châu (Thanh
Hoá)” Đồng thời, theo Thiền uyển tập anh ngữ lục, thì sư Pháp Hiền, đệ tử của phái
Nam Phương, cũng đã cho xây nhiều tháp ở các chùa tại Trường Châu, Ái Châu
(Thanh Hoá)…để đựng 5 hoàn xá lị Phật do Tùy Cao Tổ ban sang Cuốn Đại
Đường cầu pháp cao tăng truyện của tác giả Nghĩa Tĩnh, có ghi tên 6 vị sư Việt
Nam từng sang Ấn Độ cầu pháp thỉnh kinh, trong đó có hai vị sư quê ở Ái Châu là Pháp sư Trí Hành và Thiền sư Đại Thặng Đăng Hai vị sư này đều thông hiểu chữ Phạn, có phạn danh và bước chân của họ đã trải dài từ Trung Hoa đến Ấn Độ Pháp
sư Trí Hành tên phạm là Prajnadeva, đã từng xuống Nam Hải đến nước Ấn Độ, hoạt động truyền bá ở phía Bắc Hằng Hà và mất ở chùa Tính Giả vào khoảng năm 50 tuổi Thiền sư Đại Thặng Đăng có tên phạm Mahayana- Pradija, thủa bé theo cha
Trang 18mẹ đi thuyền đến lưu vực sông Menam rồi mới xuất gia Sau theo sứ nhà Đường là Diễn Tự vào kinh đô nhà Đường học đạo với tam tạng Pháp sư Huyền Trang (đời Đường Thái Tông 627- 649) Ở Trường An vài năm, sư đã xem hết sách kinh mà vẫn muốn đi lễ thánh tích, liền vượt biển sang Srilanca qua Nam Ấn, Đông Ấn, Trung Ấn rồi đến Malaca Sư viên tịch ở chùa Bát nết bàn (Parinirnana, Kucinagara) lúc 60 tuổi…
Thông qua các cứ liệu lịch sử nêu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, vào khoảng thế kỷ thứ VI, thứ VII sau công nguyên, ở Ái Châu (Thanh Hoá), Đạo Phật
đã thịnh hành, với những “ngôi chùa nổi tiếng được ban xá lị để dựng tháp thờ” [47,
Tr 664] Nhưng thời kỳ này, Phật giáo Thanh Hóa không hình thành một môn phái riêng biệt, không có những trung tâm lớn với cả một hệ thống như các địa phương khác trên cả nước, mà chỉ dừng lại ở những hang, chùa nhỏ hẹp Điểm khác biệt rõ rệt là Phật giáo Thanh Hóa buổi đầu, thích nghi với những cư dân vùng biển hơn là những người dân làm nông nghiệp ở vùng Bắc Bộ [1, Tr 79,80 ]
Thời kỳ Ngô, Đinh, Tiền Lê, triều đình đều coi Phật giáo là một tôn giáo chính thức và tạo điều kiện mở rộng và phát triển Đạo Phật Do đó, Phật giáo đã lan rộng đến nhiều vùng đất nước mà trung tâm là Bắc sông Hồng với các chùa nổi tiếng như Luy Lâu, Kiến Sơ đồng thời có thêm các trung tâm mới ở Nam sông Hồng như Đại La (thời Lý là Thăng Long), chùa Khai Quốc (Trấn Quốc, Hà Nội); ảnh hưởng của Phật giáo cũng không ngừng được mở rộng trong đời sống nhân dân, kết hợp chặt chẽ với tín ngưỡng dân gian cổ truyền Trong điều kiện như vậy, Phật giáo ở Thanh Hóa cũng đã có bước phát triển mới Thời kỳ này, cạnh các cửa biển Lạch Trường (Hậu Lộc), Bạch Cầu, Thần Phù (Nga Sơn), Hà Trung, Đông Sơn, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc… đã có các ngôi chùa lớn được tạo dựng điển hình như chùa Hương Nghiêm, chùa Trịnh Nghiêm, và chùa Minh Nghiêm (thuộc huyện Thiệu Hoá và Đông Sơn ngày nay)…Các chùa này ra đời sớm và không ngừng được tu sửa, trùng tu qua các giai đoạn lịch sử Theo sử liệu, thời Tiền Lê, khi Vua Lê Hoàn
đi tuần du đến Giang Ngũ huyện, thấy chùa chiền đổ nát liền cho tu sửa lại Đến thời Lý, khi Vua Lý Thái Tông đi tuần phương Nam, tới Ái Châu, ghé thăm cảnh
Trang 19chùa, thấy cột kèo đã gãy cũng bỏ sức trùng tu Những sử liệu này cho thấy, đến trước thế kỷ X, nhiều ngôi chùa đã ra đời trên đất Thanh Hóa, đánh dấu sự du nhập
và phát triển từ rất sớm của Đạo Phật ở tỉnh Thanh
Thời Lý, Trần, xã hội Việt Nam đã đạt đến sự ổn định, Nhà nước Trung ương tập quyền được tổ chức và ngày càng hoàn bị Vua Lý Công Uẩn, người sáng lập ra nhà Lý vốn là một thiền sư đạo hạnh Do đó, khi lên ngôi, Nhà vua đã ban nhiều sắc lệnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Phật giáo phát triển Dưới sự ủng
hộ và cho phép của nhà vua, chùa chiền được mở rộng, số lượng Tăng Ni Phật tử ngày càng tăng lên Nhà vua còn sai sứ sang Trung Quốc xin kinh Tam Tạng về truyền dạy trong chùa, mở rộng đến chúng sinh Do đó, trong triều đình thì đạo Phật
là rường cột, ngoài xã hội thì tràn ngập không khí đạo Phật, “dân chúng quá nửa làm sãi, chỗ nào cũng có chùa chiền” (lời bàn của Lê Văn Hưu trong Đại Việt Sử ký toàn thư) Đây cũng là thời kỳ vàng son của Phật giáo xứ Thanh, hàng loạt các ngôi chùa được xây dựng mới hoặc tu sửa lại, các sinh hoạt văn hóa cũng như tập tục dân gian đều mang đậm sắc thái Đạo Phật, điều này góp phần phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân xứ Thanh Trong thời kỳ này, vùng đồng bằng và ven biển phía Bắc Thanh Hóa đã trở thành một trung tâm Phật giáo lớn của khu vực, với các cổ tự nổi tiếng như: Chùa Hương Nghiêm (Giáp Bối Lý) một kiến trúc
bề thế với tâm niệm “ngàn năm không mai một” như văn bia ở chùa đã ghi tạc; chùa
Báo Ân (núi An Hoạch) được Lý Thường Kiệt sai Vũ Thùa Thao đi dò tìm đá suốt
19 năm mới xây cất bằng sự hưng công của nhân dân cả vùng; chùa Linh Xứng xây dựng từ năm 1008 đến năm 1010 dưới chân núi Ngưỡng Sơn (nay là xã Hà Ngọc,
Hà Trung) hoành tráng tới mức “trước của chính treo chuông vàng, một tiếng chày
kình ngân vang khắp chốn” (Thơ văn Lý – Trần); chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh
(Hậu Lộc) được trùng tu trên nền cũ, năm 1116 Lý Nhân Tông đi tuần du Phương Nam đã nghỉ lại Thanh Hóa Để kỷ niệm chuyến đi này của nhà vua, Chu Công đã xuất lĩnh dân cư, già trẻ giúp sức xây dựng lại chùa; chùa Đông Sơn (ở làng Đông Sơn, TP Thanh Hóa) dựng dưới chân núi Long Đại do danh sư Quan Thiệu họ Phạm trụ trì xây cất ở một vùng sơn thủy hữu tình, là chốn tiêu dao của vua Trần
Trang 20Dụ Tông, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông…; chùa Hưng Phúc (Quảng Hùng, Quảng Xương) là ngôi chùa không chỉ là nơi tu hành, tụng kinh niệm Phật, mà còn là chứng tích ghi nhớ chiến công của quân và dân Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1285…
Từ thời Lê Sơ trở đi, Nho giáo được triều đình trọng dụng, ngày càng khẳng định vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội người Việt Phật giáo không còn giữ vai trò quốc giáo, nhưng vốn đã ăn sâu bám rễ trong tinh thần, tình cảm người dân, nên vẫn lưu truyền với đạo đức truyền thống của nhân dân cả nước nói chung, và của người dân quê Thanh nói riêng Thời Lê Sơ với những thành tựu rực rỡ sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, đã xây dựng một chế độ phong kiến Trung ương tập quyền
vững mạnh, tạo cho đất nước một thời “Thiên hạ âu ca” Tuy nhiên, giai đoạn cuối,
nhà Lê đã để mất ngôi về tay nhà Mạc, dẫn đến tình trạng chiến tranh Nam Bắc triều tranh giành quyền lực liên miên Chiến tranh Nam Bắc triều đã đẩy người dân vào cảnh loạn ly, khốn đốn Đây cũng là thời kỳ mà tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với Phật giáo được hồi sinh, họ đã tìm thấy ở Đạo Phật niềm an ủi tinh thần trong cảnh đất nước loạn lạc, cuộc sống khổ cực, lầm than Các quan niệm của Đạo Phật như: Đời là bể khổ, thế gian vô thường, từ bi cứu khổ, nhân quả nghiệp báo được nhân dân tiếp nhận và biến hóa theo sự tưởng tượng trong quan niệm đạo đức dân gian Trên đất Thanh Hóa, hàng loạt các ngôi chùa được tu sửa, dựng mới Tiêu biểu là chùa Hoa Long (Vĩnh Thịnh, Vĩnh Lộc), được xây dựng với những mảng kiến trúc gỗ, đá đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc, trở thành một trong những ngôi chùa tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc chùa chiền Việt Nam
Dưới thời Nguyễn, Nho giáo được Nhà nước ra sức đề cao, triều đình đã tìm cách đưa lên vị trí độc tôn và bài xích, đả kích các tôn giáo khác Để hướng triều thần và nhân dân tập trung và trung thành với tư tưởng trung quân, có những vị vua thậm chí đã xa lánh, hoài nghi đạo Phật Mặc dù không được triều đình xem trọng, nhưng Phật giáo vẫn được nhân dân tôn trọng, tiếp thu và phát triển như một truyền thống tín ngưỡng đã có Một loạt các chùa cũ đã được nhân dân đóng góp và bỏ công sức trùng tu như: Chùa Dâu, Bút Tháp, Phật Tích, Tây Phương Ở Thanh
Trang 21Hóa, các chùa Sùng Nghiêm, Hương Nghiêm, Long Cảm cũng đã được các Phật
tử hưng công sửa chữa
Đến thời kỳ thuộc Pháp, Phật giáo đã lan tỏa hầu hết các vùng, miền trên đất Thanh Hóa Hầu hết các xã các vùng ở trung du, đồng bằng Thanh Hóa đều có chùa, đồng thời chùa được phát triển lên cả các huyện miền núi như: Cẩm Thủy, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Lang Chánh…Riêng ở Cẩm Thủy, có tới hàng chục ngôi chùa được xây dựng hòa vào cảnh trí thiên nhiên trong các hang động núi đá vôi, cạnh các dòng suối Một hệ thống chùa chiền được chú trọng phát triển bên cạnh các đình làng, nghè, phủ, đền, miếu nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh phong phú, đa dạng của nhân dân Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, với tinh
thần “cả nước cho tuyền tuyến”, Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Thanh
Hóa nói riêng đều chú trọng vào công tác phục vụ cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, giành lại nền độc lập của dân tộc hơn là mở rộng, phát triển Phật giáo Hưởng ứng cuộc đấu tranh của toàn dân tộc, nhiều nhà sư trẻ đã “cởi áo cà sa, khoác chiến bào” ra nhập quân đội, dũng cảm không ngại gian khó, hy sinh chiến đấu chống lại
kẻ thù xâm lược Các nhà sư cao niên ở địa phương thì đứng ra đoàn kết nhân dân, giúp đỡ bộ đội, động viên các Phật tử tăng gia sản xuất, chống chiến tranh phá hoại của kẻ địch, góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc Đồng thời nhiều ngôi chùa trên đất Thanh Hóa là cơ sở cách mạng, là nơi che dấu, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng, thương bệnh binh, là những địa chỉ tin cậy và
cơ sở liên lạc của cách mạng xứ Thanh như: Chùa Trần (Hà Trung) là nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Hà Trung, chùa Vĩnh Thái (Nông Cống)
là địa điểm liên lạc và là nơi che chở cho các chiến sĩ cách mạng, chùa Đông Tác là
ga tạm, nơi tập kết hàng hóa chi viện cho tiền tuyến, chùa Mật Đa là trạm cứu chữa thương binh trong những ngày Hàm Rồng rực lửa
Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà Đây
là yếu tố và bối cảnh thuận lợi, khơi dậy nguyện vọng thiết tha thống nhất Phật giáo của toàn thể Tăng Ni, Phật tử Để thực hiện nguyện vọng thống nhất của toàn thể Tăng Ni, Phật tử cả nước, Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam đã được
Trang 22tổ chức từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 11 năm 1981 tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức thành lập trong sự đoàn kết nhất trí cao của Tăng
Ni, Phật tử Việt Nam và của toàn thể đại hội Ở Thanh Hóa, thực hiện nghị quyết Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất, Tăng Ni, Phật tử tỉnh Thanh Hóa đã tích cực vận động thống nhất các sơn môn, pháp phái với sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung Ương giáo hội và các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Ban đại diện Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa được thành lập ngày 1 tháng 11 năm 1984, tại chùa Thanh Hà, Phường Nam Ngạn (nay là phường Trường Thi, Thành phố Thanh Hóa) Năm 1992, Ban đại diện được nâng cấp thành Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa Sự ra đời của Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa không những đánh dấu sự trưởng thành, phát triển của Phật giáo Thanh Hóa, mà còn khẳng định sự đóng góp không nhỏ của Phật giáo trong công cuộc xây dựng Thanh Hóa
trên con đường hội nhập và phát triển theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc –
Chủ nghĩa xã hội”
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, với điều kiện kinh tế ngày càng phát triển,
xã hội ngày càng ổn định, thì việc đáp ứng đời sống tinh thần, cũng như nhu cầu tâm linh của con người càng trở nên cần thiết Đây là cơ duyên để đạo Phật càng được đông đảo quần chúng nhân dân tiếp nhận, từ đó mà có điều kiện phát triển mạnh mẽ Theo thống kê của Ban tôn giáo tỉnh Thanh Hóa, hiện nay Thanh Hóa có
269 ngôi chùa, trong đó có tới hơn 80 ngôi chùa được xếp hạng di tích quốc gia và cấp tỉnh (14 chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia, 68 chùa xếp hạng di tích cấp tỉnh) Đồng thời trong toàn tỉnh, có tới hơn 2 triệu người dân là những tín đồ và người yêu mến Phật giáo (chiếm 50% - 60% dân số trong toàn tỉnh) Trong công cuộc xây dựng tỉnh Thanh Hóa thời kỳ đổi mới hiện nay, Phật giáo Thanh Hóa đã tham gia vào mọi lĩnh vực như văn hóa, kinh tế, chính trị… Điều này đã khẳng định
vị trí, vai trò và những đóng góp không nhỏ của Phật giáo trong đời sống văn hóa của người dân tỉnh Thanh trong giai đoạn hiện nay
Trang 231.2 Những người có công khởi dựng và phát triển Phật giáo Thanh Hóa
Những người có công khơi dựng và phát triển Phật giáo Thanh Hóa thì rất nhiều nhưng theo sử sách ghi chép lại và đặc biệt là qua tư liệu được khắc trong văn bia (bia chùa Hương Nghiêm, bia chùa Linh Xứng, bia chùa Sùng Nghiêm), thì chỉ cho chúng ta biết những nhân vật tiêu biểu sau:
Lê Lương (?-?)
Lê Lương là Sư tổ của Nhà sử học vĩ đại Lê Văn Hưu (theo Lê gia chính phả), hiện không rõ năm sinh, năm mất của ông Theo Văn bia chùa Hương Nghiêm lưu giữ, thì Lê Lương sống dưới thời Đinh Tiên Hoàng Ông là nhà hào phú đất Cửu
Chân (tức Thanh Hoá) lúc bấy giờ, được ca ngợi là “nhà thường chứa hơn trăm lẩm
thóc, môn khách thường có tới ba nghìn” Lê Lương được đánh giá là một người
nhân đức, thiện Phật, ông thường mở kho thóc phát chẩn cứu dân khi gặp đói kém, thiên tai mất mùa, do đó được nhân dân vùng Ái Châu xưng tụng công đức Biết
ông là người có đạo nghĩa, Vua Đinh Tiên Hoàng bèn phong cho ông tước Kim Tử
Quang lộc đại phu, cho làm chức Đô dịch sứ quán Cửu Chân Đến thời Vua Lê Đại
Hành cũng theo như thế mà phong sắc cho ông Trong Bản xã tiên hiền và Lê gia
Chính phả còn ghi Lê Lương được ban Trấn Quốc công - Bộc xạ Tướng công Vài
nét ghi chép ít ỏi này đã cho thấy Lê Lương là người vốn có tư chất thiện tâm, là một nhân vật nổi bật ở quận Cửu Chân vào thời đầu nền tự chủ của nước Đại Cồ Việt dưới triều vua Đinh
Điều đáng chú ý và khẳng định công lao của Lê Lương trong việc phát triển
Phật giáo Thanh Hóa là ông đã “dốc lòng vì việc thiện, tôn sùnq tượng giáo” Tuy ông không phải là một nhà sư, nhưng ông lại là một người “có đạo tâm” chân niệm
Đạo Phật và có công khởi dựng Phật giáo xứ Thanh vào cuối thế kỷ X Văn bia chùa Hương Nghiêm còn ghi rõ công tích Lê Lương đã xuất của nhà, xây dựng ba ngôi chùa lớn ở quận Cửu Chân (Thanh Hoá) lúc bấy giờ, bao gồm chùa Hương Nghiêm, chùa Trinh Nghiêm và chùa Minh Nghiêm Hiện nay, trong ba ngôi chùa
mà Lê Lương đứng ra xây dựng chỉ còn lại một tấm bia của chùa Hương Nghiêm còn lưu giữ, giúp chúng ta hình dung lại quy mô, cảnh trí của chùa, không khí sinh
Trang 24hoạt Đạo Thiền lúc bấy giờ ở Thanh Hoá, cũng như đánh dấu điểm “xưa nhất” còn lại dấu tích khởi dựng Phật Giáo xứ Thanh với nhân vật Lê Lương
Lý Thường Kiệt (1019 - 1105)
Lý Thường Kiệt là một nhân vật lịch sử, một danh tướng thời Lý, một danh nhân văn hoá đất Việt Ông được vua Lý phong cấp và giao cho nhiệm vụ “dao thụ” (ở xa mà trông coi) Ái Châu (tức Thanh Hoá) Đến năm Nhâm Tuất (1082), Lý Thường Kiệt chính thức về làm Tổng Trấn Thanh Hoá Trước đó một năm, năm Tân Dậu (1081) Lý Thường Kiệt đã về thăm tình hình Thanh Hoá và đến tận giáp Bối Lý (tức là Kẻ Rỵ, quê của Lê Lương) để xử việc giáp Viên Đàm (cạnh giáp Bối Lý) tranh chấp đất đai của họ Lê, con cháu quan Bộc xạ tướng quốc Lê Lương
Theo ghi chép, ông đã theo lệnh vua Lý mà bảo vệ sở hữu cho chùa Hương Nghiêm của dòng họ Lê Lương, đồng thời tiến hành xét xử phân nghiêm và có
những quy định rạch ròi để tránh sự tái tranh chấp: “Mùa thu năm ấy (tức năm Tân
Dậu - 1081) Thái uý Lý Công đến tận nơi, cho chuộc ruộng đất, lập bia đá và chia ruộng cho hai giáp Rồi ông lại tới đầm A - Lôi, chia một nửa đầm cho giáp Bối Lý, một nửa đầm cho giáp Viên Đàm Thái uý còn truyền bảo lần nữa cho hai giáp biết, không được lấy một lá rau, một ngọn cỏ ở hai bên hồ đầm Ngay lúc đó lại ra lệnh giao về cho dòng dõi nhà họ Lê” (Văn bia chùa Hương Nghiêm)
Ngoài công trạng gìn giữ chùa chùa Hương Nghiêm, công tích phát triển Đạo Phật xứ Thanh của Lý Thường Kiệt còn được kể đến trong việc xây dựng chùa Báo
Ân và chùa Linh Xứng Khi Lý Thường Kiệt làm Tổng trấn cai quản Thanh Hoá, hai chùa Báo Ân (tức chùa Núi Nhồi - An Hoạch Sơn) và Linh Xứng (tức chùa Ngọ
Xá - Ngưỡng Sơn) đã được được xây dựng trong khoảng những năm từ 1082 đến năm l100 Mặc dù sử sách không ghi rõ chùa nào dựng trước, chùa nào dựng sau, nhưng đã khẳng định cả hai chùa đều được tiến hành trong chủ trương đôn đốc và kiểm soát của Thái uý Lý Thường Kiệt Trong đó, chùa Linh Xứng được đích thân
Lý Thường Kiệt cùng Đại sư Sùng Tín sau khi du ngoạn “ngược thuyền lên cửa Phấn Đại dừng thuyền tại núi Long Tị” ngắm cảnh, rồi lại “rời thuyền về phía Tây,
Trang 25qua dòng sông Nam Thạc, đến ấp Đại Lý” đê lèn núi Ngưỡng Sơn mà quyết định địa điểm cũng như việc xây dựng chùa
Ngoài hai ngôi chùa kể trên được chính Lý Thường Kiệt chủ trương xây dựng, ông còn quan tâm chăm sóc và tu bổ các ngôi chùa khác ở trong trấn phủ lúc bấy giờ như: chùa Hương Nghiêm, chùa Sùng Nghiêm Trong thời gian Lý Thường Kiệt trấn nhậm Thanh Hoá, có thể nói Phật giáo xứ Thanh được tạo điều kiện phát triển và đạt tới độ cực thịnh, tạo nên bản sắc văn hoá tâm linh hướng Phật trên toàn cõi, được văn bia ở các chùa Hương Ngiêm, Báo Ân, Linh Xứng ghi chép lại:
“Khánh thành bày tiệc, mời bậc cao tăng đọc kinh Vô thượng, chứng phép báu vô sinh Đem quả phúc này dâng cho dường mối của Thánh thượng sánh với mặt trời, mặt trăng luôn luôn vằng vặc, cùng với núi sông mãi mãi vững bền lại mong các đợi chủ làm việc hết lòng thành tín, nguyện lực đừng quên Mọi người đều giác ngộ bản tâm, bước sang bờ cực lạc ” (Văn bia chùa Hương Nghiêm)
Hay:
“Ôi! Cõi tịnh thờ Phật có thể gọi là hoàn thành vậy Nhân ngày tốt mở tiệc khánh thành Bọn người mũ ni, kẻ sĩ áo thâm như mây kéo tới Cửa ngoài mở hội Thái Hoà triệt bỏ những đồ vật quý Sửa soạn tiệc chay, tuyên đọc lời kinh Vô thượng thức tỉnh chúng sinh” (Văn bia chùa Linh Xứng)
Chu Công và Chu Văn Thường (? - ?)
Đây là hai nhân vật hiện không rõ năm sinh, năm mất, cũng như danh tính đầy đủ Theo tìm hiểu, thì Chu Công giữ chức Thông phán, sau khi Lý Thường Kiệt được gọi về triều đình thì ông mới “vâng chiếu chì tín giữ quận phù, quyên thống lĩnh các việc châu quận” (Văn bia chùa Sùng nghiêm) Chu Văn Thường thì giữ chức Thự mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đổng trung thư kiện biên tu, kiêm coi việc quan huyện Cửu Chân tại Thanh Hoa (Văn bia chùa Báo Ân) Cũng có nhiều
dữ liệu còn cho rằng, Chu Công và Chu Văn Thường là cùng một người Vì cả hai người đều họ Chu, một người mang danh hiệu chung (“Công”), một người có cả tên lót và tên thật (“Văn Thường”), điều này khiến nhiều người nghi ngờ hai cái tên đều
Trang 26chỉ về cùng một người: Chu Công (tên họ đầy đủ là Chu Văn Thường, một viên quan ở Cửu Chân dưới trướng Lý Thường Kiệt) Đối với sự hiện diện và đóng góp của Chu Công trong việc phát triển Phật giáo Thanh Hóa thì không được sử sách lưu giữ, chỉ có một tài liệu ít ỏi là văn bia ở chùa Sùng Nghiêm, còn ghi lại tính cách cũng như công tích của ông với diện mạo là một hiền quan có tài, có nhiều đóng góp với trấn Thanh Hoá thời Lý:
“Chu Công là người ôn hòa kính cẩn, khí khái thanh liêm Lấy trung tín thờ người trên, lấy khoan nhân tiếp kẻ dưới Nghe lời nói hay để mãi trong lòng, học đủ
ba đông mà không biết mệt mỏi Tinh thông kinh sử, uyển lệ văn chương; tiếng khen sớm lan truyền trong đám nho sinh, tên tuổi lại vang lừng nơi trường ốc…”
Hay:
“Ông bèn ban bố hiệu lệnh: thay cũ đổi mới: khống chùng không thẳng mà
khoan mãnh dựa nhau, không “mềm nắn rắn buông” mà cương nhu hợp độ: xếp đặt các việc đểu được hợp nghi Khuyên nhân dân chăm việc nông trang, xét hình ngục cốt điều hoà ái Cho nên dưới trên mọi lòng bỏ hết kiện tụng, xóm làng vui vẻ
mà phong hóa thanh cao Thiên tử nghe tin xiết bao tán thưởng, cho rằng việc trọng nhậm phiên trấn đã tìm được bậc hiền lương làm nên cônq tích Mùa thu, nhà vua xuống chiếu sai ông thống lĩnh dân chúng sửa sang nhơ thự ở quận dựng điện đường cùng lân vũ xung quanh Củng cố thành quách, chia đặt trạm dịch, khai đào sông ngòi, mở mang vườn tược Khi công việc đã hoàn thành, nhà vua thấy ông có tài năng, thăng ông làm chức Bí thư lang kiêm giữ,công việc nội phủ, rồi lại trao trọng trách trông coi trấn Thanh Hoá (Văn bia chùa Sùng Nghiêm)
Sau khi Lý Thường Kiệt về triều (năm 1100), mười lăm năm sau (năm Ất
Mùi, niên hiệu Hôi Tường Đai Khánh, 1115), Chu Công mới “Kính vâng chiếu chỉ
tới qiữ quân phù, quyền thống lĩnh việc quận châu của năm huyện và ba nguồn thuộc trấn Thanh Hoa” (Bia chùa Sùng nghiêm) Sau khi đến nhậm chức tại Thanh
Hóa, Chu Công đã sai viên huyện lệnh là Lê Chiếu trông coi việc dựng các ngôi chùa mới, to cao, đẹp đẽ, nguy nga hơn trước Công lao của Chu Công đối với Phật giáo ở Thanh Hoá, được đánh giá là chỉ xếp sau Lê Lương và Lý Thường Kiệt Các
Trang 27ông đều là những người đã có nhiều công tích trong việc xây dựng, gìn giữ Phật giáo từ những ngày đầu du nhập và phát triển trên đất Thanh Hóa
Bên cạnh đó, chúng ta còn phải kể đến các nhà sư tiêu biểu như: Khuông Việt Đại sư,Thiền sư Pháp Dung và Thiền sư Trí Bảo Họ đều là những nhà sư nổi tiếng, có nhiều đóng góp trong sự phát triển Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Thanh Hóa nói riêng Trong đó, nhà sư Trí Bảo là người có nhiều công sức xây dựng, phát triển Phật giáo Thanh Hóa Thời kỳ Lý Thường Kiệt làm tổng trấn Ái Châu, ông là người trợ lý đắc lực của Lý Thường Kiệt trong việc xây dựng và trùng
tu chùa chiền ở Thanh Hóa lúc bấy giờ Sự đóng góp của ông đối với Phật giáo Thanh Hóa đến nay vẫn còn ghi ấn trong văn bia chùa Sùng Nghiêm và văn bia chùa Linh Xứng Có thể khẳng định rằng, những người có công khởi dựng và phát triển Phật giáo xứ Thanh chắc còn nhiều nữa, nhất là từ các đời Trần - Lê - Nguyễn
về sau Tuy nhiên, do sự khan hiếm của các nguồn tư liệu ghi chép lại, do hạn chế của bản thân người viết, trong khuôn khổ luận văn, người viết chỉ giới thiệu khái quát những người có nhiều công tích nhất trong việc gây dựng và phát triển Phật
giáo Thanh Hóa, với những cứ liệu đã được sử sách ghi chép lại
Thời kỳ chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các Tăng Ni Phật
tử Thanh Hóa, ngoài việc hành đạo ra còn tham gia chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc, điển hình như ni cô Đàm Xuân, Đàm Duyên, hòa Thượng Thích Thanh Trì…Họ là những người không chỉ có công với đất nước trong hai cuộc chiến tranh, mà còn có công trong vệ bảo vệ và gìn giữ những ngôi chùa ở Thanh Hóa Ngoài ra khi nói đến những người có công phát triển Phật giáo Thanh Hóa, đặc biệt là từ năm 1984 đến nay Chúng ta không để không kể đến Hòa thượng Thích Thanh Cầm, Ni cô Đàm Nhung, Hòa Thượng Thích Tâm Đức Họ là những người có công lớn trong việc gây dựng và phát triển Giáo hội Phật giáo tỉnh Thanh Hóa, đồng thời cũng là những người đưa Phât phật giáo Thanh Hóa phát triển lớn mạnh như ngày hôm nay
Trang 28CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO THANH HOÁ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG VÀ TƯ TƯỞNG CỦA NHÂN DÂN
TỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY 2.1 Những đóng góp chính
2.1.1 Phật giáo đối với đạo đức
Đạo đức là một hình thái, ý thức xã hội bao gồm một hệ thống những quy tắc, những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, và trong quan hệ với xã hội
Theo giáo sư Trần Văn Giàu thì giá trị đạo đức truyền thống của người Việt Nam có thể tóm tắt thành mấy chữ: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” Theo những quan niệm này, thì Phật giáo có nhiều giá trị đạo đức tương đồng và giữa chúng có sự ảnh hưởng, thẩm thấu lẫn nhau Đó
là đạo đức Phật giáo đã đóng góp ít nhiều cho giá trị đạo đức truyền thống xã hội, tạo cho con người Việt Nam một sức mạnh để sống và tồn tại
Vai trò của Phật giáo đối với người dân Thanh Hoá trên phương diện đạo đức được biểu hiện ở nhiều góc độ khác nhau vừa mang tính chất phong phú, lại khẳng định những giá trị rõ ràng và có ý nghĩa sâu sắc Tư tưởng cứu khổ, cứu nạn,
từ bi hỉ xả, vô ngã vị tha của đạo Phật đã ăn sâu và bám rễ trong đời sống và được nhân dân Thanh Hoá, ứng dụng vào cuộc sống hàng ngày Chính vì vậy, đứng trước những khó khăn và thử thách, họ luôn lấy tinh thần đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau làm cốt lõi, nền tảng, làm sợi dây gắn bó nhau để cùng chống chọi với thiên tai địch họa, với mọi kẻ thù xâm lược, từng bước ổn định và xây dựng cuộc sống Do vậy, truyền thống yêu nước sâu sắc chính là một trong những yếu tố tạo nên nền tảng đạo đức của người dân xứ Thanh, đồng thời nó cũng chính
là nét đẹp trong tính cách của người dân nơi đây
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Thanh Hóa là một trong những tỉnh đóng góp nhiều sức người sức của, góp phần giải phóng dân tộc, giành độc lập
về cho đất nước Điều này được minh chứng qua hai cuộc kháng chiến chống thực
Trang 29dân Pháp và chống đế quốc Mỹ Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, quân và dân Thanh Hóa vừa chiến đấu vừa sản xuất để cung cấp lương thực, thực phẩm quân trang quân phục cho chiến trường Tinh thần xả thân chiến đấu ngoan cường của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Thanh Hóa trên mặt trận là biểu tượng tốt đẹp rực sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng Tấm lòng yêu nước và hy sinh vì dân tộc của nhân dân Thanh Hóa được thể hiện cụ thể qua sự chiến đấu kiên cường, không sợ hy sinh đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như: Anh hùng liệt sĩ Trần Đức (xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia), anh hùng liệt sĩ Lê Công Khai (xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa), anh hùng liệt sĩ Trương Công Man (xã Cẩm Phong, huyện Cẩm Thủy), anh hùng Lò Văn Bường (xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân) Tiêu biểu là anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện, Tiểu đội trưởng Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn pháo cao xạ 367, quê xã Nông Trường, huyện Nông Cống đã lấy thân mình cứu pháo không để rơi xuống vực thẳm Với chiến thắng Điện Biên Phủ tạo, quân và dân Thanh Hóa mãi mãi xứng đáng với lời biểu dương khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người về thăm năm 1957: “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó” [63] Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc
Mỹ, quân và dân Thanh Hóa một lần nữa lại kiên cường chiến đấu anh dũng, không
sợ khó khăn gian khổ, không sợ hy sinh góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Điều này được minh chứng rõ nét qua “chiến thắng Hàm Rồng” lịch sử Cầu Hàm Rồng có vị trí giao thông rất quan trọng là cầu đường sắt duy nhất đi qua sông Mã Đây là cây cầu rất nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam
là trọng điểm của cuộc đấu tranh đánh phá và bảo vệ giao thông Với tầm lòng yêu nước quyết tâm giữ vững cầu Hàm Rồng, quân và dân Thanh Hóa đã chiến đấu anh dũng không sợ hy sinh, gian khổ, nhiều tấm gương được ca ngợi và được sử sách ghi chép lại như như nữ anh hùng Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng…Với những thành quả đạt được qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống
đế quốc Mỹ đã minh chứng cho tấm lòng yêu nước của nhân dân Thanh Hóa, đồng
Trang 30thời cũng nói lên yếu tố đạo đức của người dân Thanh Hóa trong mối quan hệ với dân tộc, với đất nước bị lâm nguy bởi giặc ngoại xâm
Bên cạnh đó, với phương châm giúp người, cứu đời, Phật giáo Thanh Hóa luôn cùng với nhân dân vượt qua mọi gian khó, thể hiện bản chất đạo đức tốt đẹp, cũng như tính hướng thiện Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Phật giáo Thanh Hoá, đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc, nhiều ngôi chùa tỉnh Thanh đã trở thành chỉ huy sở, căn cứ nuôi giấu cán bộ, nơi tập kết lương thực thực phẩm, đạn dược và cũng là nơi nuôi dưỡng ban đầu cho bộ đội, dân quân bị thương, như chùa Mật Đa, chùa Đại Bi, chùa Đông Tác (Thành phố Thanh Hóa), chùa Đô Mỹ, chùa Trần(Hà Trung, Thanh Hóa), chùa Vĩnh Thái(Nông Cống, Thanh Hóa) .Trong các cuộc chiến đấu ác liệt, đã có không ít các nhà sư tự nguyện “cởi áo cà sa, khoác chiến bào” dấn thân vào bom đạn, góp sức đấu tranh giành độc lập nước nhà; các Tăng Ni Phật tử cũng đã không quản ngại gian khổ, dành trọn tình thương và lòng nhiệt tình chăm sóc anh em bộ đội, quân dân bị thương, dỡ nhà làm hầm cho anh em bộ đội, dân quân trú ẩn, lấy cánh cửa chùa để làm cáng cứu thương… Các Tăng Ni Phật tử như nữ sư Thích Nữ Đàm Xuân, Đàm Duyên, Đàm Hiên, Hòa thượng Thích Thanh Trình, Hoà Thượng Thích Thanh Cầm, … đều có công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Sự đóng góp, hy sinh của các nhà sư Thanh Hóa đã để lại tiếng thơm cho đời và là tấm gương sáng cho các thế hệ sau học tập noi theo Sự hy sinh ấy từng được nhà thơ Cù Huy Cận ca ngợi trong bài thơ ông làm tại chùa Mật Đa trong một lần về Thanh Hóa:
“Cởi áo cà sa, ký lên Tam bảo Xông pha chiến trường, giết giặc lập công”
Phát huy truyền thống cao đẹp đó, trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay, lòng yêu nước, yêu thương dân tộc được nhân dân Thanh Hóa nói chung và các Tăng Ni phật tử Thanh Hóa nói riêng thể hiện qua việc thực hiện lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đội ngũ Tăng Ni Phật tử trong tỉnh trong những năm qua luôn tích cực hưởng ứng tham gia và thực hiện có hiệu
Trang 31quả các phong trào thi đua yêu nước, như: các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”; học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí Từ các phong trào này, ngày càng xuất hiện nhiều mô hình, điển hình tiên tiến được nhân rộng trên các lĩnh vực đời sống xã hội của tỉnh nhà Các Tăng Ni Phật tử đều hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chấp hành đúng chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, phát triển kinh tế nhằm cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Phật tử, tự làm giàu cho mình, đồng thời làm giàu cho xã hội; thực hiện đúng tinh thần “Đạo pháp - dân tộc - xã hội chủ nghĩa”, tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt là hoạt động từ thiện, sẵn sàng cưu mang và giúp đỡ những người hoạn nạn, khó khăn, góp phần giữ vững ổn định trật tự xã hội
Tình yêu đất nước được gắn liền với yêu quê hương làng xóm Tình cảm yêu quê hương, làng xóm đã trở thành một tình cảm thiêng liêng đối với người dân quê Thanh Là một trong những miền quê nghèo, luôn phải gánh chịu nhiều thiên tai lũ lụt, nên người dân Thanh Hoá luôn sẵn sàng “đồng cam, cộng khổ”, “chia ngọt sẻ bùi” với những người xung quanh mình, đoàn kết nhau trên mọi phương diện để cùng chống trọi với tự nhiên Điều đáng nói là, càng trong gian khổ khó khăn, người dân Thanh Hoá càng sống nhân ái, thủy chung Những mất mát bởi thiên tai, bão lụt, mất mùa càng làm sáng ngời tình tương thân, tương ái của họ Sự đùm bọc lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, là một trong những nghĩa
cử cao đẹp của tình làng, nghĩa xóm, được người dân Thanh Hoá giữ gìn và không ngừng được bồi đắp sau khi thấm nhuần những giáo lý nhà Phật, nó được thể hiện trong những hành động, nghĩa cử cao đẹp như ủng hộ đồng bào bão lụt, chăm sóc người già, người neo đơn, bệnh tật, giúp đỡ người nghèo, người hoạn nạn, xây dựng nhà tình nghĩa, bếp ăn tình thương… và được minh chứng qua những con số
cụ thể: chỉ trong 5 năm (từ năm 2008 đến năm 2013) , toàn dân trong tỉnh đã đóng góp và ủng hộ trên 9.400 triệu đồng cho quỹ “Mái ấm công đoàn - hỗ trợ đoàn viên”; Liên đoàn lao động tỉnh đã hỗ trợ làm 287 nhà cho các gia đình nghèo trị giá
Trang 324.447 triệu đồng, thăm và tặng 289 suất quà trị giá 298 triệu đồng cho các gia đình
có hoàn cảnh khó khăn Trích ngân sách hoạt động công đoàn tỉnh 120 triệu đồng xây nhà cho 8 hộ nghèo tại 4 huyện miền núi và 110 triệu đồng ủng hộ đồng bào các tỉnh miền Trung bị bão, lụt Thông qua Quỹ Tấm lòng vàng – Báo Lao động hỗ trợ 15 gia đình xây dựng nhà mới (trị giá 225 triệu đồng) [64] Từ những con số
cụ thể này, chúng ta có thấy, lối sống có tình, có nghĩa, có đạo đức, làm điều tốt, điều thiện không còn xa lạ đối với người dân Thanh Hoá, mà ngược lại đã trở thành chuẩn mực đạo đức của người dân quê Thanh Đây thực sự là giá trị đạo đức hết sức quý báu, được phát huy từ truyền thống dân tộc, được vun đắp bởi những giá trị tốt đẹp của giáo lý nhà Phật, góp phần hình thành nên nhân cách và lối sống của người dân Thanh Hoá, đồng thời làm giàu thêm nền văn hóa truyền thống dân tộc
Mặc dù đối với nhiều người dân Thanh Hoá nói chung, Phật tử nói riêng, những giáo lý của nhà Phật như “Tứ diệu đế”, “Ngũ giới”, “Thập giới”, “Bát chính đạo”… có phần cao siêu, thần bí và khó hiểu đối với họ Họ thậm chí có thể không biết cặn kẽ và thấu đạt những thuyết “nghiệp báo”, “luân hồi” , nhưng với tình yêu quê hương làng xóm nói trên, đã hun đúc cho họ những tình cảm đạo đức yêu thương và đức thiện như những gì Phật dạy Do sự tương đồng trong tình cảm nảy sinh từ trong cuộc sống với những giáo lý của Phật giáo, mà họ đã tin vào những luân lý đạo đức của Phật giáo và xem đó như là những chuẩn mực trong đối nhân
xử thế Họ tin rằng “ở hiền thì sẽ gặp lành” và “ở ác thì sẽ tan tành như ma” Họ cũng tin vào sự khuyến thiện, trừng ác, họ lo tu tập để tạo nhiều công đức, lo giữ giới, ăn chay, lo làm điều thiện Do đó họ đã “tự giác”, tự nguyện “giác tha” theo lời Phật dạy rằng: “Lấy oán trả oán, oán oán chồng chất, lấy ân trả oán, oán tự tiêu tan”, và chủ trương “muốn hạnh phúc và tốt lành hãy hướng tới cái thiện, hãy làm nhiều việc nghĩa Muốn công danh và sự nghiệp thành đạt phải quan tâm học hành rèn luyện” [62] Hiểu và nắm rõ những chân lý, những tư tưởng này của đạo Phật, trong quá khứ cũng như hiện tại, người Thanh Hóa luôn hướng đến cái thiện, việc nghĩa, không ân ân, oán oán, hận thù chồng chất… Với thuyết “nghiệp báo luân hồi”, người dân Thanh Hóa không tin vào định mệnh, họ tin ở “nghiệp”, họ hiểu
Trang 33rằng: con người làm chủ lấy “nghiệp” của mình, làm chủ những hành động của mình chứ không có lực lượng siêu nhiên, huyền bí nào đó định đoạt được số phận của mình Vì thế, người dân Thanh Hóa luôn tự chủ trên tinh thần “đại bi”, “đại trí”, thương người và tự cứu lấy mình, cứu người Đây là quan điểm chủ động, không trông chờ ỷ lại số phận, chủ động xây dựng lấy cuộc sống của chính mình, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bằng chính sức lực và trí tuệ của mình, sống trong sạch, giản dị Tinh thần này, được người dân Thanh Hóa thể hiện rõ nét nhất qua việc làm lập nhiều đền miếu tế tự các vong linh, những người đã ngã xuống trong nội chiến Nam Bắc triều (chiến tranh Lê – Mạc) ở thế kỷ XV Sau này, qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Thanh Hóa một lần nữa chịu cảnh đẫm máu trên chiến trường khốc liệt, biết bao nhiêu sinh linh bị đổ máu, thương vong Thấm nhuần tư tưởng từ bi, không ân ân oán oán của đạo Phật, người Thanh Hóa đã không phân biệt Chính – tà, Ta – địch, nếu thấy có người tử nạn là mang đi chôn cất tử tế Những nghĩa cử cao đẹp này không phải ai cũng làm được, không phải địa phương nào cũng thể hiện được Để làm được những điều này, phải
có tấm lòng từ bi, nhân hậu, trong tâm không ân ân oán oán Có lẽ, do Thanh Hóa
là một tỉnh chịu ảnh hưởng sâu sắc đạo Phật mới tạo nên cho con người Thanh Hóa tính cách cao cả ấy
Không chỉ đề xướng các giá trị đạo đức, Phật giáo Thanh Hóa còn nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức Đạo đức Phật giáo có giá trị khuyến thiện và hướng thiện Chúng ta đều biết, trong cuộc sống hiện nay, sau một số năm đổi mới đất nước, sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cùng với quá trình mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế, đã dần dần đưa đất nước ta vào thế ổn định và phát triển Nhưng bên cạnh đó, nhiều hiện tượng tiêu cực cũng theo đó mà nảy sinh, những hiện tượng tham nhũng, trộm cắp, cờ bạc, mại dâm và chủ nghĩa thực dụng, sống gấp đang ngày càng phát triển… Để giải quyết được các hiện tượng tiêu cực này đòi hỏi một quá trình lâu dài và sự đóng góp của toàn xã hội Ở góc độ Phật giáo, thì đó là
sự phát huy ý nghĩa thiết thực của các giáo lý “ngũ giới”, “bát giới”, “thập giới”… , các biện pháp nhấn mạnh tu dưỡng đạo đức và khuyên răn giữ gìn đạo đức này có
Trang 34tác dụng vượt xa luân lý của những người không theo đạo Sức mạnh chi phối của đạo đức Phật giáo trước hết là trong hàng ngũ các tín đồ Tăng Ni Phật tử luôn tin rằng nếu phạm giới họ sẽ bị quả báo ở kiếp sau, muốn được lên cõi niết bàn thì con người cần giữ trọn các điều răn và chăm lo việc làm thiện, “từ bi - hỷ xả”, “vô ngã
vị tha” để cứu khổ, cứu nạn Về thực chất, đây cũng chính là những nguyên tắc đạo đức được hình thành nên từ những yêu cầu của cuộc sống xã hội mà Phật giáo nắm
bắt được và vận dụng vào mục đích của mình Vì vậy, thực hiện đạo đức “với Phật
giáo là điều kiện giải thoát, nhưng với xã hội có cuộc sống yên bình, có quan hệ lành mạnh, cục diện mà xã hội phát triển nào cũng mong đạt được.” [55 Tr 50]
Những giá trị tốt đẹp của đạo đức Phật giáo là cầu nối cho Phật giáo dễ dàng thấm nhuần vào trong lòng người dân Thanh Hóa, góp phần xây dựng và bồi đắp tình cảm đạo đức trong mỗi con người nơi đây, tạo nên một chủ nghĩa nhân đạo tích cực, và là một nhân tố bền vững trong nhân sinh quan của người dân quê Thanh
Đặc biệt, họ luôn chú trọng xây dựng đạo đức trên nền tảng gia đình, vì theo
họ, gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt xã hội tốt, và ngược lại gia đình xấu,
xã hội xấu Do đó, họ luôn đinh ninh và làm theo lời Phật dạy “Ân đức cha mẹ vô
lượng, vô biên, kể không bao giờ cùng” và “Cùng tột các điều thiện không gì bằng hiền Cùng tột các điều ác không gì bằng bất hiếu” Trong quan hệ gia đình của
người dân Thanh Hóa, chúng ta dễ dàng bắt gặp những quan niệm và giáo lý của nhà Phật, ví như: làm cha phải là người cha từ, làm con phải là người con có hiếu Cha mẹ có trách nhiệm thương yêu, quan tâm chăm sóc con cái, và ngược lại con cái phải hiếu kính đối với cha mẹ Hiếu đễ với tổ tiên còn có nghĩa là con cháu phải thành đạt, làm rạng rỡ tổ tiên, dòng họ, làng xóm, quê hương theo tinh thần “con hơn cha, nhà có phúc” Theo những chuẩn mực này, ở Thanh Hóa, một Phật tử được coi là mộ đạo và hướng đạo chỉ khi người đó biết hiếu thảo với ông bà, cha
mẹ, chung thủy trong quan hệ vợ chồng, sắt son trong tình bằng hữu, nặng lòng với quê hương, đất nước Đây là những giá trị hết sức quý báu cần nghiên cứu, gìn giữ
và phát huy để phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội mới Nó cũng chính là những giá trị, chuẩn mực sống mà tất cả mọi người dân Thanh Hóa đã và đang hướng đến
Trang 352.1.2 Phật giáo đối với lối sống, nếp sống
Lối sống là thể hiện cụ thể quan điểm tư tưởng, quan niệm đạo đức trong những hình thức hoạt động của con người trong xã hội Nó thể hiện ở chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn trong quan hệ giữa người và người nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp, văn minh, tiến bộ Lối sống, nếp sống của người dân Thanh Hóa là biểu hiện tính đặc thù trong lối sống, nếp sống của người Việt Nam Tính đặc thù đó do nhiều yếu tố quy định, trong đó thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển lối sống, nếp sống của người dân Thanh Hóa
Phật giáo hướng đến khuyến khích người dân lao động lấy việc phục vụ chúng sinh cứu khổ, cứu nạn làm điều kiện tu hành, Phật dạy: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” nghĩa là “một ngày không làm, một ngày không ăn” Khi khuyến khích sự tiến bộ về mặt vật chất, Phật giáo đồng thời nhấn mạnh sự phát triển tương ứng về mặt tinh thần và đạo đức, nhằm thiết lập một xã hội ổn định và phát triển toàn diện Ớ Thanh Hóa, hầu hết những người xuất gia tu hành ngoài việc đạo, họ còn tham gia vào việc đời, một mặt lo tăng gia sản xuất để tự lo cuộc sống của mình, mặt khác tham gia vào hoạt động từ thiện như mở lớp học tình thương, giữ trẻ, mở cơ sở chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền dân tộc, cứu giúp người hoạn nạn Mặc dù đây là những nghề đơn giản, nhưng lại mang ý nghĩa nhân bản lớn lao, thể hiện tinh thần từ bi hỷ xả của đạo Phật trong quá trình nhập thế, trong tình yêu thương con người, giúp đỡ kẻ hoạn nạn, cứu độ chúng sinh Những tư tưởng và nếp sống đạo hạnh này của nhà Phật, làm cho Phật giáo thực sự hòa quyện, thấm sâu vào tinh thần, ý thức của mỗi người dân Thanh Hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến cách nghĩ, cách làm, cũng như lối sống, nếp sống của họ Từ ảnh hưởng của Đạo Phật, người dân Thanh Hóa đều nhận thức được rằng, dù là người
tu hành, hay người dân bình thường ai cũng phải tự lực cánh sinh, sống bằng chính khả năng của mình, giản dị, tiết kiệm và yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau Với quan niệm “tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “có làm thì mới có ăn, không dưng ai
dễ đem phần cho ai”… người dân Thanh Hóa từ bao đời nay luôn có truyền thống
Trang 36cần cù, chịu thương, chịu khó, tìm mọi cách vươn lên trong khó khăn…Chính nhờ truyền thống vượt khó và tinh thần đoàn kết lao động, được bồi đắp thêm bởi những giáo thuyết nhà Phật, nhân dân Thanh Hóa đã từ một tỉnh nghèo, đói kém triền miên, không ngừng vươn lên, cải thiện đời sống và đạt được những bước phát triển kinh tế vượt bậc, được đánh dấu bằng những con số cụ thể: Tốc độ tăng trưởng kinh
tế giai đoạn 2001-2005 đạt 9,1%, giai đoạn 2006-2010 đạt 11,3%, Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 1,7 lần so với giai đoạn 2001-2005, năm
2010 GDP bình quân đầu người ước đạt 810 USD )[65] Các khu vực kinh tế trong tỉnh được xây dựng và không ngừng mở rộng, như: Khu công nghiệp Lễ Môn, khu công nghiệp Đình Hương - Tây ga, khu công nghiệp Bỉm Sơn, khu công nghiệp Lam Sơn, khu kinh tế Nghi Sơn… Các khu công nghiệp này đã tạo điều kiện công
ăn việc làm ổn định cho hàng nghìn người lao động và đồng thời cũng là nhân tố quyết định nâng cao đời sống kinh tế xã hội cho hàng nghìn hộ dân ở Thanh Hoá
Có thể nói, sự phát triển trong kinh tế đã góp phần củng cố lối sống, nếp sống trong nhân dân, góp phần giữ vững trật tự xã hội Điều đặc biệt có ý nghĩa đối với Đạo Phật là, sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà đã góp phần củng cố niềm tin không chỉ của các Tăng Ni Phật tử, mà còn của toàn thể nhân dân trong tỉnh vào Đạo Phật, vào tính hướng thiện và những giá trị to lớn mà đạo Phật đem lại không chỉ trong lĩnh vực đời sống tinh thần mà còn bao gồm cả lĩnh vực vật chất
Bên cạnh việc khuyến khích nhân dân phát triển kinh tế, thì Phật giáo cũng chú ý đến việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Tư tưởng “từ bi hỷ xả, cứu khổ cứu nạn” của đạo Phật đã có ảnh hưởng hưởng lớn đến cách sống, lối sống, cũng như những sinh hoạt tinh thần của người dân quê Thanh Người Thanh Hóa luôn đề cao tinh thần giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn trong mọi hoàn cảnh Điều này thể hiện qua sự hưởng ứng “Cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và “Chùa cảnh tinh tiến gương mẫu” do Mặt trận tổ quốc tỉnh phát động, và các cuộc vận động khác do Hội chữ Thập đỏ, các tổ chức đoàn thể trong tỉnh phát động như: “ Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng”,
“Một miếng khi đói hơn gói khi no”, “Quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ học sinh nghèo
Trang 37vượt khó”, “ Quỹ giúp bạn nghèo vượt khó”…Thông qua các cuộc vận động này, nhân dân Thanh Hóa đã quyên góp được hàng chục tỷ đồng, góp phần cùng với chính quyền địa phương trong công tác an sinh xã hội Phật giáo Thanh Hóa đã phát động chiến dịch hiến máu tình nguyện dịp Tết Nguyên Đán và Hội Xuân Hồng
2013 với chủ đề: Giọt Hồng Từ Bi tại chùa Thanh Hà ngày 16/1/2013, qua đó truyền đi thông điệp “Hiến máu cứu người - Một nghĩa cử cao đẹp” đến tất cả các Tăng Ni Phật tử và nhân dân trong tỉnh, với những lời cầu nguyện: “Giọt máu từ bi
đi về muôn hướng Trao gửi tình thương trên khắp nẻo đường Con xin cúng dường lên mười phương Phật Nguyện Cho chúng sinh Tâm ý hòa hợp Biết thương mến nhau.” [66]
Ngày 19/03/2013, tại chùa Kênh - Hưng Phúc Tự, thôn 6 xã Quảng Hùng, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã diễn ra đêm văn nghệ gây quỹ trùng tu tôn tạo chùa Kênh… Những hoạt động nhân đạo, từ thiện này đã mình chứng cho công lao to lớn mà Phật giáo tỉnh Thanh đã đóng góp để tạo nên những giá trị nhân sinh tốt đẹp, có thể giúp người ta biết chia sẻ những khó khăn người khác gặp phải, biết giúp đỡ người khác, biết đồng cảm với những số phận bất hạnh cô đơn và biết hy sinh bản thân mình vì người khác… Phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước, Tăng
Ni Phật tử tỉnh Thanh Hóa đã chan hòa, thiết thân cùng xã hội, hiện hữu trong lòng dân tộc, phục vụ chúng sinh, tích cực động viên, tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, gia đình Phật tử, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; thực hiện việc cưới, tang, lễ, tết, văn minh lành mạnh tiết kiệm, bài trừ mê tín dị đoan, cùng toàn dân xây dựng an ninh quốc phòng, giữ gìn kỷ cương xã hội Bằng tinh thần đoàn kết hòa hợp, phụng sự Đạo pháp, phục vụ Dân tộc, Tăng Ni, Phật tử Thanh Hóa đã tích cực tham gia cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc tỉnh phát động Nói về vấn đề này, Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2006 của Ban trị
sự Phật giáo tỉnh đã chỉ rõ: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao về mọi mặt, tình hình chính trị ổn định, các mục tiêu kinh tế đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức, quốc phòng an ninh được giữ
Trang 38vững Nhân dân Thanh Hoá hưởng ứng tích cực các phong trào đền ơn, đáp nghĩa,
lá lành đùm lá rách, đặc biệt là cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” Qua đây ta có thể khẳng định rằng: Chính các Tăng Ni Phật tử sẽ là những tấm gương trong việc xây dựng nếp sống mới cho nhân dân trong tỉnh noi theo
Dưới ảnh hưởng những giáo lý của đạo Phật, người dân xứ Thanh rất chú trọng sống thiện, giữ 5 giới (năm điều cấm kỵ của người Phật tử) như không sát sinh; không lấy của không cho, sống trung thực, lương thiện, cố gắng không xâm phạm tới tài sản, của cải của người khác; không tà dâm, đảm bảo các mối quan hệ gia đình trong sáng, lành mạnh, giáo dục và bồi dưỡng các thế hệ trong gia đình sống lương thiện, từ bi; không nói dối, nói lời chia rẽ, tránh nói những lời ác độc, khó nghe, làm đau lòng người khác, gây mất đoàn kết cả trong gia đình và ngoài xã hội, ngược lại biết kiên nhẫn, biết vui vẻ đón nhận lời phê bình, và biết thông cảm với những khuyết điểm của người khác… Trong các giới này thì giới không sát sinh được người dân trong tỉnh gắn liền với việc ăn chay và phóng sinh
Xuất phát từ quan niệm “Từ bi”, “Tôn trọng và bảo vệ sự sống” của đạo Phật Việc ăn chay đã trở thành nếp sống văn hóa của người Việt Nam nói chung và người Thanh Hóa nói riêng Trong những năm gần đây phương thức ăn chay trong đạo Phật đã trở thành nếp sống văn hóa không thể thiếu được đối với những người theo đạo Phật và mộ đạo Phật ở Thanh Hóa Những người ăn chay ở Thanh Hóa không chỉ dừng lại ở những người có tuổi mà cả giới trẻ, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên Ăn chay đã trở thành nét văn hóa “tôn trọng sự sống và bảo vệ sự sống cho mọi loài” Không chỉ những người theo đạo Phật mới ăn chay mà cả những người không theo đạo Phật cũng ăn chay Vì họ cho rằng mỗi khi ăn chay sẽ giúp
họ tránh được nghiệp sát sinh, nhờ vậy mà thân tâm được thanh tịnh và cuộc sống cũng sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn Tùy theo từng người, từng gia đình mà họ có chu kỳ
ăn chay khác nhau: ăn hai ngày (ngày mùng 1 và 15), bốn ngày (gồm các ngày mùng 1,14,15, 30), sáu ngày (gồm các ngày mùng 8, 14, 15, 23, 29 và 30), tám ngày (là các ngày mùng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24 và 30), mười ngày (tức ngày mùng
Trang 391, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30); hay một tháng (như các tháng giêng, tháng 4, tháng 7 hay tháng 10), hoặc ba tháng (gồm tháng giêng, tháng 7 và tháng 10), bốn tháng (bao gồm tháng giêng, tháng 4, tháng 7 và tháng 10) và trường trai Dù ăn
chay ở dạng nào thì họ cũng luôn tuân thủ theo đúng giới luật, giữ đúng yếu lý từ
bi, bình đẳng đối với mọi loài chúng sinh
Để phục vụ cho việc ăn chay của người dân Thanh Hóa trở nên thuận tiện hơn, hiện nay ở Thanh Hóa ngày càng xuất hiện nhiều các quán cơm chay, các cửa hàng bán đồ chay Theo thống kê chưa đầy đủ hiện nay trên địa bàn các huyện của tỉnh Thanh Hóa (không tính thành phố Thanh Hóa) có 20 cửa hàng bán thực phẩm Chay ở các huyện như; Hoằng Hóa có 02 cửa hàng, Hậu Lộc 04 cửa hàng, Đông Sơn 02 cửa hàng, Sầm Sơn 4 cửa hàng, Vĩnh Lộc 3 cửa hàng, Tỉnh Gia 3, Hà Trung
2 cửa hàng …Riêng thành phố Thanh Hóa có 09 cửa hàng chế biến và kinh doanh thực phẩm Chay phục vụ cho các Tăng Ni, Phật tử, cư sĩ (Số liệu trên là kết quả điều tra tìm hiểu của chính tác giả luận văn thực hiện tháng 4/2013) Trong các quán
ăn chay nói trên thì quán chay tại chùa Đô Mỹ (Hà Tân, Hà Trung, Thanh Hóa) được người dân trong tỉnh tín nhiệm và tìm đến vào các dịp chay trường vì họ cho rằng Chùa Đô Mỹ là “Ngôi chùa cầu được ước thấy” đã có nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn về đường con cái đến hành lễ, ăn chay niệm Phật sinh được con
Mặc dù các quán bán đồ chay hiện nay ở Thanh Hóa còn chưa nhiều, đa phần là tự phát theo nhu cầu ăn chay của người dân trong vùng, nhưng điều này cũng đã nói lên việc ăn chay, thờ Phật đã trở thành nếp sống văn hóa không thể thiếu được đối với mỗi người Phật tử Thanh Hóa
Ngoài ăn chay, người dân Thanh Hóa còn có thói quen phóng sinh trong các dịp lễ đầu năm, giải hạn và rằm tháng 7 Vào các dịp này, người dân nơi đây có thói quen phóng sinh cho các con vật như chim, cua, lươn, ốc… Tùy theo quan niệm và điều kiện của từng gia đình mà chọn ngày tổ chức sớm muộn trong khoảng thời gian quy định chung (chủ yếu trong hai tháng 1 và tháng 7), mà tiến hành làm lễ và chọn lựa các con vật phóng sinh Tuy nhiên, họ đều có chung một tư tưởng là, khi giải thoát cho các con vật này, thì họ đã tích thêm đức cho bản thân và cho con cháu
Trang 40sau này, đồng thời cũng giải đi cái vận cái hạn mà gia đình, cũng như mỗi thành viên trong gia đình đang gặp phải Bên cạnh việc phóng sinh, vào các dịp lễ này còn có các mâm cơm cúng chúng sinh Mâm cúng chúng sinh bao gồm rất nhiều thứ như: bánh kẹo, bỏng, ngô, khoai, mía, cháo, bánh chưng… Nếu xét trên phương diện tâm linh thì đây là mâm “bố thí” cho những cô hồn đói khát không nơi nương tựa Còn xét trên phương diện cuộc sống hiện tại thì đây là mâm “bố thí” cho những người nghèo khổ Dù thực hiện phóng sinh theo hình thức nào thì người dân quê Thanh luôn nhắc nhở nhau: “Phóng sinh cần phải tùy hoàn cảnh, điều kiện và quan trọng hơn hết cần phải được soi tỏ bằng trí tuệ nhằm mang đến sự sống đích thực cho chúng sanh Có như vậy phóng sanh mới đúng pháp, mới thể hiển được lòng từ
bi nhiệm mầu của đạo Phật” [68]
Có thể thấy, tùy điều kiện từng gia đình mà người dân nơi đây có cách thể hiện khác nhau về các nghi thức ăn chay, phóng sinh, bố thí Nhưng cho dù ở hình thức nào thì họ cũng ảnh hưởng sâu sắc đạo Phật và quan trọng hơn nó đã trở thành thói quen, nết sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày của những người dân Thanh Hóa Điều này cũng khẳng định rằng, ngoài hành động theo luân lý và đạo đức vốn
có của dân tộc Việt Nam, thì người dân Thanh Hóa còn xây dựng đạo đức, lối sống nếp sống của mình dựa trên những lời dạy “Từ ,bi, hỷ, xả, cứu khổ cứu nạn” của Đạo Phật
2.1.3 Phật giáo đối với phong tục tập quán
Phong tục, tập quán là nhân tố quan trọng của một nền văn hóa, là bộ phận hợp thành bản sắc văn hóa dân tộc Thanh Hóa cũng như các vùng miền khác trong
cả nước, tiến trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với nhiều nền văn hóa là một vận động tất yếu của lịch sử Sự giao lưu ảnh hưởng giữa Phật giáo với tín ngưỡng bản địa đã tạo những phong tục, tập quán đa dạng và phong phú, mang đặc điểm riêng biệt của nhân dân trong vùng, hình thành nên hoàng loạt các hình thức tín ngưỡng như: cúng lễ như cúng cầu an, cúng cầu siêu, lễ các vong linh đã chết được siêu thoát, lễ cầu siêu cho anh hùng liệt sĩ… Ở những gia đình không theo Đạo Phật, nhưng do người quá cố hoặc gia chủ mến chuộng Đạo Phật, thì thường thỉnh Chư