ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG TÂN ƯỚC VIỆT SỬ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX TRƯỜNG HỢP VIỆT SỬ TÂN ƯỚC TOÀN BIÊN LUẬN VĂN THẠC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG
TÂN ƯỚC VIỆT SỬ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ
XX (TRƯỜNG HỢP VIỆT SỬ TÂN ƯỚC TOÀN BIÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hán Nôm
Hà Nội-2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG
TÂN ƯỚC VIỆT SỬ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ
XX (TRƯỜNG HỢP VIỆT SỬ TÂN ƯỚC TOÀN BIÊN)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm
Mã số:60 22 40
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Khoái
Hà Nội-2013
Trang 31
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 5
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc của Luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 TÂN ƯỚC VIỆT SỬ ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ VIỆT SỬ TÂN ƯỚC TOÀN BIÊN越 史 新 約 全 編 10
1.1 Tân ước Việt sử viết bằng Hán văn những năm đầu thế kỉ XX 10
1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX 10
1.1.2 Cải lương giáo dục khoa cử (1906 -1919) và môn Sử 15
1.2.Tân ước Việt sử những năm đầu thế kỷ XX 23
1.2.1 Tân ước Việt sử như một đòi hỏi 23
1.2.2 Nguồn sử cho tân ước Việt sử 27
1.2.3 Những nội dung chủ yếu của “ước” và "tân ước" Việt sử 30
1.3 Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編 của Hoàng Đạo Thành 32
1.3.1 Tác gia Hán Nôm Hoàng Đạo Thành 32
1.3.2 Văn bản "Việt sử Tân ước toàn biên"越史新約全編 33
1.3.3 Kết cấu của Việt sử tân ước toàn biên 37
*Tiểu kết chương 1 40
Chương 2.TÂN ƯỚC VIỆT SỬ TRONG VIỆT SỬ TÂN ƯỚC TOÀN BIÊN 越 史 新 約 全 編 42
Trang 42
2.1 Nhận thức mới về sử và Việt sử thể hiện trong bài 'Tự' 42
2.1.1 Quốc sử cho quốc dân 42
2.1.2 Học quốc sử là nhiệm vụ của quốc dân 46
2.1.3 Học quốc sử phải học theo lối mới 49
2.2 Nguyên tắc tân ước thể hiện qua "Tự chí tam tắc" 56
2.2.1 "Tự chí tam tắc –Ba nguyên tắc biên soạn " 56
2.2.2 Các bộ sử nguồn cho tân ước 57
2.2.3 Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bộ sử nguồn trực tiếp cho tân ước 61
2.3Tân ước Việt sử trong Việt sử tân ước toàn biên 68
2.3.1 Tân ước về cơ cấu 68
2.3.2 Tân ước phần “Cương” trong Việt sử tân ước toàn biên 79
2.3.3 Tân ước phần “Mục” 84
2.3.3 Tân ước “thông giám” 88
2.4 Chép đủ những gì liên quan đến đại thể, cốt yếu hưng vong hay “máy chung đúc quốc hồn, linh đan bồi bổ quốc não” 91
2.4.1 "Hưng" hay “bất khuất” trong giành độc lập thời Bắc thuộc 91
2.4.2 "Hưng" trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt
độc lập tự chủ 95
2.4.3 "Vong" của các triều vì để mất lòng dân 104
*Tiểu kết chương 2 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 113
Trang 53
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã lập ra các chế độ cai trị khác nhau
ở 3 miền ở nước ta (Nam Kì theo chế độ thuộc địa; Bắc Kì theo chế độ bảo hộ; Trung Kì là đất của Nam triều) Phong trào Cần vương tan rã dần sau cái chết của Phan Đình Phùng, thủ lĩnh khởi nghĩa Hương Khê (1895) Thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914) nhằm vơ vét tài nguyên thuộc địa cung cấp cho chính quốc với tất cả những mưu đồ hiểm độc Chủ nghĩa thực dân khi thực hiện các mưu đồ hiểm độc nhằm biến nước ta thành thuộc địa, trói dân ta trong vòng nô lệ nhưng nó lại trở thành “công cụ vô thức của lịch sử” cho những thay đổi trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam vào những năm tháng của một giai đoạn lịch sử được gọi là buổi “giao thông Âu Á”, “mưa
Âu gió Mỹ” đầy cạnh tranh mang tinh thần của qui luật chọn lọc tự nhiên
“ưu thắng liệt cường” Một lớp nhà Nho duy tân xuất hiện Họ hướng vào lịch sử, truyền dạy, phổ cập những hiểu biết về lịch sử dân tộc, lịch sử đất nước, lịch sử giống nòi, lịch sử Bách Việt, lịch sử Lạc Hồng bằng nhiều hình thức ngôn ngữ văn tự, trong đó có chữ Hán
Việt Nam có truyền thống biên soạn lịch sử bằng Hán văn từ khá
sớm {Đại Việt Sử ký 大越史記 của Lê Văn Hưu 黎文休(1272); Đại Việt
Sử ký toàn thư 大越史記全書 bản Nội các quan bản (1697); Khâm định Việt sử thông giám cương mục 欽定越史通鑒綱目(in cuối thế kỉ XIX) ]
Tuy nhiên, do được viết bằng Hán văn, lại là những bộ sử lớn cho nên dân gian không mấy ai có điều kiện đọc được Hơn nữa, sử Việt Nam ít được dạy trong trường thầy đồ và hệ thống khoa cử
Trang 64
Trong khi đó, tiến trình hiện đại hóa văn hóa những năm đầu thế kỉ
XX yêu cầu văn hóa phải trở thành giá trị phổ cập, có tính đại chúng, phổ biến, phổ thông nhưng lại có tính phân ngành, phân môn cụ thể Để phổ biến và phổ thông lịch sử nước nhà họ đã tiến hành “tân ước”, “lược biên”,
“toát yếu” quốc sử từ các bộ quốc sử đồ sộ viết bằng Hán văn vốn được Quốc sử quán biên soạn, được in và chủ yếu được tàng trữ ở chính Quốc sử quán nhằm làm “gương soi chung – thông giám” theo tinh thần “ngụ bao biếm”, “chính danh phận”, “sùng chính học”, “tôn chính thống”, tạo nên một trào lưu “tân ước”, “lược biên”, “toát yếu” Việt sử chữ Hán
Trong trào lưu đó, Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 của
Hoàng Đạo Thành, một tác gia Hán Nôm cận đại Việt Nam là một trong những đại diện tiêu biểu nhất
Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 của Hoàng Đạo Thành
có tác dụng giáo dục và thức tỉnh lòng yêu nước Việt Nam một cách công khai tuy nó phải có cách viết thích hợp với hoàn cảnh và chế độ kiểm duyệt
của thực dân Pháp Bởi thế cho nên có thể coi Việt sử tân ước toàn biên 越
史 新 約 全 編 của Hoàng Đạo Thành như là một minh họa cụ thể cho
phương thức “tân ước” Việt sử những năm đầu thế kỉ XX
Nghiên cứu hiện tượng “tân ước” Việt sử chữ Hán những năm đầu
thế kỉ XX được thông qua một trường hợp cụ thể là Việt sử tân ước toàn
biên 越 史 新 約 全 編 sẽ góp phần làm sáng tỏ cách thức “tân ước” cũng
như vai trò của chữ Hán như một công cụ cho sự quá độ và chuyển đổi văn hóa, tuyên truyền truyền thống lịch sử dân tôc, cổ vũ động viên lòng yêu nước ngay cả trên phạm vi sách vở công khai, góp phần làm sáng tỏ vai trò
Trang 75
của Việt sử trong việc thức tỉnh hồn quốc dân, chiêu hồn nước Do vậy chúng tôi chọn vấn đề “Tân ước Việt sử những năm đầu thế kỷ XX -
Trường hợp Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編” làm đề tài cho
luận văn Thạc sĩ Hán Nôm của mình
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Đề tài trên được triển khai nghiên cứu nhằm các mục đích chủ yếu sau đây:
- Khái quát những nét chủ yếu của “tân ước” Việt sử những năm đầu thế kỷ XX qua việc điểm lại danh sách những bộ sử được biên soạn theo lối tân ước mà hiện đang còn được lưu trữ ở Kho sách Hán Nôm
- Phân loại chúng theo các chỉ số để gộp nhóm chúng, làm cơ sở cho
sự lựa chọn Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 như là một đại
diện có tính trường hợp cho trào lưu tân ước Việt sử đầu thế kỷ XX
- Giới thiệu Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 về mặt văn
bản học, phiên âm, dịch nghĩa văn bản
- Phân tích các nguyên tắc tân ước của Việt sử tân ước toàn biên 越
史 新 約 全 編 từ bài Tự, Tam tắc
- Phân tích sự thể hiện của bút pháp tân ước Việt sử trong Việt sử
tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 đã được quán triệt thành nguyên tắc
trong Tam tắc là “Phụng ước quốc sử, kính cẩn giản ước theo các bộ sử cũ
và Khâm định thông giám cương mục, còn như những gì liên quan đến đại
thể, cốt yếu hưng vong căn cứ theo thực mà ghi chép đủ”
Trang 86
- Làm nổi bật giá trị của Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編
trên các phương diện như: phổ thông, phổ cập quốc sử, “máy đúc quốc hồn, linh đan quốc não”
Việc phân tích tác phẩm làm rõ được những tính chất và giá trị của văn bản, đóng góp vào việc học quốc sử, làm sáng rõ vai trò của quốc sử là
“máy đúc quốc hồn”, “ linh đan bồi bổ quốc não” của quốc sử trong buổi
Âu Á giao thông, đất nước Việt Nam trong cảnh “cá chậu chim lồng”, dân Việt trong cảnh “vong quốc nô”
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu có liên quan đến tân ước Việt sử những năm
đầu thế kỷ XX -Trường hợp Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu sách Việt sử tân ước toàn biên 越 史
新 約 全 編 từ góc nhìn thư mục học; giới thiệu và trích dịch ở phạm vi khóa luận tốt nghiệp đại học; giới thiệu và trích dịch minh chứng để nghiên cứu về sách Hán Nôm dạy lịch sử Việt Nam như:
- Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – nguồn tư liệu văn
học sử học Việt Nam, Tập 1, Thư viện Quốc gia xuất bản, Hà Nội, 1970,
trang 255 – 256;
- Trần Nghĩa, F GROS, Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề
yếu, Tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, H., 1993, trang 611 – 612;
- Trần Thị Cẩm Ly, Tìm hiểu văn bản “Việt sử Tân ước toàn
biên” - Giới thiệu và trích dịch, Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành
Hán Nôm, 2011;
- Nguyễn Thị Hường, Nghiên cứu sách dạy lịch sử viết bằng
chữ Hán và chữ Nôm, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, chuyên ngành Hán
Trang 97
Nôm đã được bảo vệ thành công ở Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Học viện, Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội, ngày 07 tháng 9 năm 2012
Từ danh mục những công trình thể hiện lịch sử nghiên cứu vấn đề
cho phép khẳng định rằng, chưa có một công trình nào nghiên cứu về Việt
sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 từ góc nhìn nó như là một trong
những trường hợp có tính đại diện cho trào lưu tân ước Việt sử những năm đầu thế kỷ XX Đó cũng là một lý do thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ ngành Hán Nôm của mình
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là vấn đề tân ước Việt
sử đầu thế kỷ XX được thể hiện trong Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新
約 全 編 của Hoàng Đạo Thành Tác phẩm này như một trong những trường hợp có tính đại diện cho trào lưu tân ước Việt sử giai đoạn này Hơn nữa đây lại là một bộ sử được chính quyền cho in, trong đó lại có những ghi chép về thời Tây Sơn với một bút pháp ngợi ca Song do yêu cầu của đề tài chủ yếu đề cập đến vấn đề “tân ước”, còn phần sử về thời Tây Sơn là viết mới Phần này được luận văn nhìn nhận như một cố gắng đặc biệt của
tác giả Hoàng Đạo Thành cũng như của Việt sử tân ước toàn biên Nó cần
được nghiên cứu sâu trong một nghiên cứu độc lập khác cho xứng đáng với
vị thế và giá trị của nó
4.2 Để hình dung về sự “ước”, “ước lược” của Việt sử, cần xác định
nội dung của một số thuật ngữ về các nhân tố cũng như thao tác liên quan đến “ước” như: tác phẩm gốc; sản phẩm và tác phẩm được hình thành nhờ
“ước” và bằng “ước”; các đơn vị được dùng để đo đếm sự sự “ước” Do
Trang 10“tân ước” của Việt sử chỉ giới hạn ở mức độ và phạm vi các vấn đề được
thể hiện trong Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 theo các giới
- Phân tích những biểu hiện cụ thể cho sự tân ước Việt sử trong
Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編
- Giải thích những nguyên nhân xuất hiện sự tân ước cũng như tác dụng của tân ước cho mục tiêu phổ thông sử Việt, mở rộng phạm vi hiểu sử Việt, giáo dục sử Việt, tuyên truyền sử Việt qua Hán văn, bằng văn ngôn chữ Hán Sử Việt như là “ cỗ máy hun đúc quốc hồn, linh đan bổ quốc não”,
“chiêu hồn nước”, “thức tỉnh quốc dân”, hướng vào thanh thiếu niên mà kêu gọi họ học sử nước, gánh vác việc giang sơn trong buổi tân vận hội
“Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội Ghé vai vào xốc vác cựu giang san”,
“xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” như lời chí sĩ Phan Bội Châu nói sau này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện Luận văn, chúng tôi vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 119
- Phương pháp văn bản học để tìm hiểu, khảo sát văn bản
- Các phương pháp và thao tác cụ thể của ngữ văn Hán Nôm để phiên âm, dịch nghĩa và phân tích văn bản
- Các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét vấn đề tân ước Việt sử đầu thế kỷ XX
6 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 2 chương với các nội dung chủ yếu của từng chương như sau:
Chương 1 Tân ước Việt sử đầu thế kỷ XX và Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編
Chương này nhằm giới thiệu tân ước Việt sử như là một hiện tượng
mang tính trào lưu Đồng thời, chúng tôi tiến hành bước đầu giới thiệu Việt
sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 của tác gia Hoàng Đạo Thành như
là một trong những trường hợp tiêu biểu nhất của trào lưu tân ước Việt sử giai đoạn này về mặt văn bản, hình thức, bố cục và nguồn tư liệu sử dụng
Phụ lục kèm theo luận văn này là bản dịch Việt sử tân ước toàn biên
越 史 新 約 全 編 do chúng tôi dịch trực tiếp từ văn bản Việt sử tân ước
toàn biên 越 史 新 約 全 編 mang kí hiệu VHv.996/1-2 hiện đang lưu trữ
tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm
Trang 1210
NỘI DUNG Chương 1 TÂN ƯỚC VIỆT SỬ ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ
VIỆT SỬ TÂN ƯỚC TOÀN BIÊN 越 史 新 約 全 編
Chương này giới thiệu một số điểm có liên quan đến các nhân tố lịch
sử, xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX làm cơ sở cho sự ra đời của hình thái “tân ước” Việt sử và một số khía cạnh chủ yếu cho sự “tân ước” như nguồn sử gốc cho sự tân ước, các nội dung của tân ước Đồng thời
chúng tôi giới thiệu tác phẩm Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編
của tác gia Hoàng Đạo Thành như là một trong những tác phẩm Việt sử Hán văn tiêu biểu được biên soạn theo “tân ước” dưới góc nhìn văn bản học và kết cấu của nó
1.1 Tân ước Việt sử viết bằng Hán văn những năm đầu thế kỉ XX
1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX
Sau khi lần lượt chiếm nhiều phần lãnh thổ nước ta (5-6-1862, thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì; 14-3-1874, chiếm cả sáu tỉnh Nam Kỳ), ngày 25-8-1883, buộc nhà Nguyễn phải ký hiệp ước Hác măng, thừa nhận sự bảo hộ của Pháp Ngày 6-6-1884, điều chỉnh hiệp ước Hác măng thành điều ước Pa tơ nốt (Patennotre), đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam, chia Việt Nam thành ba miền với
ba chế độ khác nhau Với việc ký điều ước này, nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách là một nhà nước độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp
đổ (Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, 2004)
Trang 1311
Từ đó trở đi, về hình thức ở Trung Kì và Bắc Kì song song tồn tại chính quyền của người Pháp và chính quyền Nam triều nhưng thực dân Pháp đã thâu tóm trên thực tế mọi sự điều hành
Tháng Bảy năm 1885, thực dân Pháp hối thúc triều đình nhà Nguyễn lập Nha Kinh lược Bắc Kì, mà đại sứ của nó đóng vai trò khâm sai, thay mặt triều đình giải quyết các công việc của Bắc Kì nhằm cắt đứt mối liên
hệ trực tiếp của triều đình với Bắc Kì Đến ngày 26-7-1897, lại bãi cả Nha này để thâu tóm quyền hành, thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914)
Ở cấp miền, đứng đầu bộ máy cai trị thực dân là: thống đốc (Nam
Kì), thống sứ (Bắc Kì); khâm sứ (Trung Kì) Bộ máy cai trị cấp miền này
ổn định trong suốt thời gian đô hộ của thực dân Pháp (từ 1884-1945)
Thống sứ Bắc Kì do tổng thống Pháp bổ nhiệm, nằm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của toàn quyền Đông Dương Thống sứ có quyền điều động thăng giáng, ban phẩm hàm, sa thải bộ máy quan lại Nam triều ở Bắc Kì Như vậy, thống sứ có quyền lập quy, hành pháp, tư pháp
Bắc Kỳ là đất “nửa bảo hộ” nên chính quyền thực dân chỉ đặt đến cấp tỉnh Đến cuối năm 1919, Bắc Kì có 21 tỉnh; 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng); 4 đạo quan binh Tuy gọi khác nhau nhưng đó là những cấp hành chính tương đương nhau
Đứng đầu mỗi tỉnh ở Bắc Kì là một quan công sứ (hoặc phó sứ; hoặc
có cả công sứ và phó sứ) Công sứ chịu trách nhiệm trước thống sứ về mọi mặt ở tỉnh và cai trị tỉnh đó thông qua hệ thống quan lại Nam triều
Ở hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng, đứng đầu là quan đốc lý Đốc
lý có địa vị, quyền hạn tương đương như công sứ
Trung Kì là đất “bảo hộ” nhưng là đất kinh kỳ, nên có khâm sứ bên
cạnh triều đình và công sứ ở cấp tỉnh Khâm sứ Trung Kì ngoài chức năng,
Trang 1412
địa vị pháp lý, quyền hạn trách nhiệm như thống sứ Bắc Kì, còn trực tiếp chỉ đạo và giám sát triều đình Huế (vua, quan), duyệt các đạo dụ của vua, chỉ đạo, giám sát hoạt động của Nội Các, Viện Cơ Mật, Lục Bộ, Phủ Tôn Nhân, Quốc Tử Giám
Nam Kì là đất “thuộc địa” Đứng đầu là thống đốc Chính quyền Pháp được tổ chức đến tất cả các cấp
Thực dân Pháp coi các vua nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn Chính vì vậy, trong số các vua thời Nguyễn từ 1884 đến 1945 có đến 3 vua chống Pháp hay không chịu phục tùng Pháp (Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân Ba vua này đều bị đi đầy)
Ngay từ giai đoạn cai trị của các đô đốc (chính quyền quân sự) của Pháp trên đất Nam Kì (1861-1879), trong giới cầm quyền thuộc địa cũng đã xuất hiện hai chủ trương cai trị Một là chủ trương đồng hoá (assimilation) tức là áp dụng chính sách Pháp hóa, thực dân hóa hoàn toàn Hai là chủ trương hợp tác (association) tức là áp dụng chính sách nửa thực dân nửa phong kiến, sử dụng chế độ phong kiến nhà Nguyễn, duy trì chế độ khoa cử lỗi thời phục vụ cho các mưu đồ thực dân Hai đường lối này lại còn được
đề cập đến nhiều hơn trong chính sách cai trị sau khi thực dân Pháp đã chiếm cả Việt Nam(1884) Các tổng trú sứ và toàn quyền như Paul Bert (1886) và De Lanessan (1891-1894) lại thiên về thực hiện chính sách hợp tác Còn các toàn quyền khác, chẳng hạn Paul Doumer (1897-1902) lại thiên về thúc đẩy sự hoàn thiện chính sách Pháp hoá Song chủ trương đồng hoá (assimilation) hay chủ trương hợp tác (association) chỉ là thuật cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp trong các mưu đồ thực dân mà thôi
Nhưng nhân dân ta đã anh dũng chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp Mở đầu là phong trào Cần vương Trung với vua là điều mà sách vở thánh hiền dạy và là điều cửa miệng của học trò Khi kinh thành có biến,
Trang 1513
vua Hàm Nghi xuất bôn thì đây chính là lúc mà tôi con phải tỏ lòng trung,
là cơ hội cho sự vận dụng những gì đã học từ sách vở vào trong thực tế Chiếu Cần vương viết bằng Hán văn đã ban ra từ 4-7-1885 Một phong trào
"Cần vương - lo cho việc của nhà vua" diễn ra rộng khắp trên các miền của
đất nước kéo dài đến hơn 10 năm Lực lượng lãnh đạo Cần vương là các văn thân yêu nước Dưới ngọn cờ Cần vương, quy mô nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) mà chủ soái của nó là Phan Đình Phùng Sau khi phong trào Cần vương thất bại, có một lớp nhà nho yêu nước
mà nhiều người trong số họ từng qua cử nghiệp đỗ đạt cao đã được đón một luồng gió duy tân từ Đông Á thổi vào Gương Nhật Bản duy tân, gương Trung Hoa cách mạng giữa buổi mưa Âu gió Mỹ qua tân thư, tân báo, tân văn làm họ bừng tỉnh Họ nhận thấy nguyên nhân của mất nước là
sự lạc hậu, là do cái học cử nghiệp đã làm lầm lỡ bao thế hệ Do vậy, họ chống hủ nho, kêu gọi canh tân đổi mới, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh Các đại diện là: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế với các phong trào: Đông Du; Duy tân; Đông Kinh nghĩa thục
Một trong những lãnh tụ nổi bật nhất của phong trào duy tân đầu thế kỷ
XX là Phan Bội Châu Phan Bội Châu – người chí sĩ cách mạng, người mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc coi là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tin sùng” (Hồ Chí Minh,
Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995) đã nói về bối
cảnh của giai đoạn đó trong Văn tế Phan Châu Trinh như sau: “gió duy tân
từ Đông Hải thổi vào”, “sóng cách mạng bởi châu Âu tràn tới”, “Dọc ngang trời đất, rực lửa văn minh”, “Tức tối nước nhà cam đường hủ bại”
Những sĩ phu yêu nước mà nhiều người trong số họ đã qua vòng khoa
cử, đệ tử một thời của “cửa Khổng sân Trình” đã nhận ra nguyên nhân mất
Trang 1614
nước, dân tộc là ở chỗ “nước nhà cam đường hủ bại” Vượt lên chính mình,
họ đã dồn trí lực cho một cuộc đổi mới dân tộc chưa từng có tiền lệ trong lịch sử theo lối học Tây học Đông như trường hợp Phan Châu Trinh “Cậy tân học dặn dò phương tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức so sánh người xưa Mượn Đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hương Cảng, Hoành Tân lỏi len đường mới” nhằm “khai dân trí, chấn hưng dân khí, thực dân tài” với một bầu máu nóng “chiêu hồn nước”, “đề tỉnh quốc dân hồn”, “bảo chủng, tồn chủng”
Phan Bội Châu đã đau lòng vì nước mình đã bị mất nhưng ông đau lòng hơn khi thấy đồng bào mình sống trong cảnh nước mất mà lại không biết rằng nước mình đã mất Tầng lớp thức tự vẫn say mê trong vòng cử nghiệp, mê văn thánh hiền xưa trong khi: “江山死矣生如贅賢聖寥然誦亦癡
Giang sơn tử hĩ sinh như chuế Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si - Giang
sơn đã mất, sống cũng nhục Hiền thánh mờ xa, học cũng ngu” Cần phải thức tỉnh họ Bằng lời lẽ thống thiết của một bầu máu nóng Bức thư “和淚
貢言 Hòa lệ cống ngôn- Hòa lệ dâng lời” được ông viết năm Bính Ngọ
(1906) Phan Bội Châu nhắc nhở cho sĩ tử “phường mặt trắng” biết rằng: nước đã mất 30 năm rồi Giống nòi 10 phần đã bị diệt đến 6, 7 phần rồi, sau
đó cắt nghĩa tỉ mỉ thế nào là nước mất, lúc này là lúc nào” Phan Bội Châu kêu gọi sĩ tử hãy nghĩ đến truyền thống vinh quang của tổ quốc, dân tộc mà giành lại quốc quyền, giành lấy tự do trong sự diễn đạt các đối lập xưa nay." Xưa sao vinh quang đến thế, nay sao nhục nhã đến thế Đó là xưa thì còn quốc quyền, nay thì quốc quyền đã mất Xót thay quốc quyền mất, đau thay quốc quyền mất ( ) Không có tự do chẳng thà chết Bỉ nhân xin các anh em xem xét kĩ lại Giấy ngắn lời dài, kể sao cho xiết nỗi lòng, cúi đầu
Trang 17đã bước qua rồi Giật mình tỉnh dậy rằng thôi xin chừa" (Dương Bá Trạc)
Họ đã ném bút nghiên, bỏ khoa cử mà đi học thực nghiệp, ra nước ngoài hỏi kinh nghiệm duy tân Họ tham gia tranh đấu thức tỉnh đồng bào, không
sợ bị bắt bớ hay đầu rơi máu chảy, khiến thực dân Pháp buộc phải cải lương khoa cử, quá độ và chuyển đổi giáo dục khoa cử sang giáo dục phổ thông, cải đổi chương trình học, trong đó có môn Việt sử
1.1.2 Cải lương giáo dục khoa cử (1906 -1919) và môn Sử
1.1.2.1 Cải lương khoa cử (1906 -1919)
Cải lương khoa cử chữ Hán là vừa là quá độ và sự chuyển đổi giáo dục từ giáo dục khoa cử sang giáo dục phổ thông hiện đại theo qui định của Học chính Tổng qui ban hành năm 1917
Cải lương giáo dục khoa cử qui định giáo dục khoa cử cũ được tổ chức lại theo 3 cấp như sau: Ấu học, Tiểu học, Trung học
ẤU HỌC do các xã thôn tự trù thiết lập để dạy những trẻ em nam và
nữ, từ 6 tuổi đến 12 tuổi Còn những ai đứng ra mời thầy, lập trường tư cũng cho phép Các sĩ tử trường tư cũng đều được tham dự sát hạch ứng thí cũng như sĩ tử trường công Các xã thôn được tự tuyển lựa giáo sư nhưng cần phải có chính quyền chuẩn nhận Các viên giáo huấn của các phủ huyện có chức vụ trong việc kiểm sát trường ấu học ở hương thôn Ở các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trường Ấu học, theo qui thức của trường Ấu học Kinh phí của các trường ấy do các tỉnh chi cấp Giáo qui của trường Ấu học có 2 Một là giáo qui Hán tự Hai là giáo qui Nam âm Giáo qui Hán tự nhằm dạy những chữ Hán thường dùng và những chữ Hán thiết dụng về cái
Trang 1816
lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý Giáo qui Nam âm thì dạy chữ quốc ngữ
và các độc bản (bài đọc) chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, lễ phép, thiên văn, địa lý và vệ sinh Tốt nghiệp Ấu học thì được cấp văn bằng TUYỂN SINH
Còn như phép đào tạo các giáo sư cho hệ Ấu học thì ở tỉnh lỵ của các tỉnh có thiết lập một trường quốc ngữ để dạy cho các hương sự không biết chữ quốc ngữ
TIỂU HỌC do các phủ huyện thiết lập (Tức trường giáo thụ, huấn đạo) Tiểu học thu nhận những người dưới 27 tuổi Giáo qui của trường Tiểu học có 2 Một là giáo qui Hán tự Hai là giáo qui Nam âm Giáo qui chữ Hán để dạy các môn luân lý, văn chương, Bắc sử, Nam sử Các môn này do giáo thụ, huấn đạo giảng giáo Giáo qui Nam âm để dạy các thư tịch
về lịch sử thế giới, địa lý và cách trí, toán học cho được tiện Hoặc dạy cả thêm chữ Pháp Giáo qui Nam âm ấy nếu như các viên giáo thụ huấn đạo không có thể dạy cả được thì có sự trợ giúp của các giáo sư các trường Pháp-Việt Quan Đốc học của các tỉnh có trách nhiệm kiểm sát các trường Tiểu học Học xong chương trình Tiểu học thì quan Đốc học làm quan chủ khảo tổ chức thi cho các học sinh Tiểu học Ai trúng tuyển sẽ được nhận văn bằng KHOÁ SINH
TRUNG HỌC thiết lập ở tỉnh lỵ (tức trường của quan Đốc học) thu nhận những người tuổi dưới 30 Giáo qui của trường có 2 loại: Một là giáo qui chữ Hán Hai là giáo qui Nam âm và giáo qui chữ Pháp Chữ Hán thì dạy theo các văn bản thư tịch chữ Hán tương đối cao và thể thức các hạng công văn Nam âm thì dạy cho các môn lịch sử liệt quốc, địa lý và cách trí tân thời, toán pháp và tập làm văn chương chữ quốc ngữ Chữ Pháp thì dạy Pháp văn tự thoại sơ đẳng Sau khi hoàn thành chương trình trung học, tỉnh
tổ chức thi tốt nghiệp, lấy văn bằng THÍ SINH
Trang 1917
Duy Tân năm đầu (1908), thiết lập HỌC BỘ từ Ty Tân Hưng để chuyên nắm về sự vụ giáo dục Duy Tân năm thứ hai (1909), chọn Hội đồng Sở tu thư để lần lượt biên tập các sách giáo khoa Tiểu học, Trung học Duy Tân năm thứ ba (1910) lại thương định phương pháp thiết lập trường thi Hương và xác định tư cách các giáo sư Duy Tân năm thứ tám (1915) lại
nghĩ lập các khoản về chương trình Ấu học (Phạm Văn Khoái (2010), Khoa
thi tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ 4, 1919), Nxb ĐHQG, Hà Nội)
Cải lương giáo dục khoa cử tuy do chính quyền thực dân phong kiến thực hiện nhưng điều này lại diễn ra dưới áp lực đấu tranh của nhân dân ta
mà những chí sĩ yêu nước từng qua vòng cử nghiệp, chí sĩ duy tân là những người đi tiên phong Khi cải lương giáo dục khoa cử được vận hành, chính những sĩ phu yêu nước ấy lại đi đầu trong cuộc mở mang học vấn được diễn đạt bằng cách nói như “khai dân trí”, “chấn hưng dân khí”, “thực dân tài” Đông kinh Nghĩa thục, ra đời vào năm 1907 chính là một trường của các chí sĩ cách mạng cho mục đích cao cả đó
1.1.2.2 Môn Sử trong chương trình cải lương khoa cử (1906 -1919)
Môn Sử trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử (1906-1919) bao gồm: Viêt sử, Bắc sử, Thái Tây sử Dưới đây là một số sách cho môn
Sử theo Di sản Hán Nôm Việt Nam-Thư mục đề yếu
STT Tên sách Tình trạng văn bản Niên đại Tác giả
Hình thức thể hiện
Lịch sử Trung Quốc từ Tam Hoàng, Ngũ Đế đến Thanh
(1875-1908) Sách này được Hội đồng học vụ Bắc Kì duyệt
Liễu Giang cư
sĩ biên tập, Liễu Văn Đường, Hà Nội in năm Duy Tân 3 (1909)
Văn xuôi
Trang 2018
編 làm sách giáo khoa lịch sử
bậc tiểu học Phần Tổng luận bàn về diện tích, dân
số, phong tục, núi sông, hồ, đạo, khí hậu, địa chất, sản vật, diên cách, địa lý của
Sách giáo khoa soạn cho lớp đồng ấu về lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Duy Tân, chia thành 5
4 Cận thế thống nhất thời đại, gồm 33 tiết;
5 Tối cận thống nhất thời đại
Có truyện Đại thống lĩnh A Khuê Na Đô và 3 nhà văn lớn của Phi Luật Tân là Tất Lạp Lê, Sa Nhi và Bản Tây;
bài bàn về lịch sử Phi Luật Tân; truyện Lí Mã Bôn cuối
Không ghi
xuôi
Trang 2119
đời Minh, Trung Quốc
Riêng VHv 2145 có đề mục thi ở trường nhất, khoa Nhâm Tí (1912)
25x15, VHv 2145: 130 tr.,
27x16 III MÔNG
Sách giáo khoa dạy trẻ em
về lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến đời Nguyễn, soạn theo thể thư
mỗi câu 3 chữ 2: 352 tr
Chuyết sĩ Nguyên
Tử Thành, hiệu Thụy Hưng Đường ở Thường Châu viết tựa năm Khải Định 9 (1924)
Văn xuôi
29 x 16,5
Viết:
1924 A.382: Q5 và
CN Lương Trúc Đàm soạn In năm Duy Tân Mậu Thân (1908)
Văn xuôi
In:
1908
VHV
2102: Chép theo bản VHv.173
182 tr., 29,5 x
Trang 22sự tích các vua, các danh thần và nghịch thần từ đời Kinh Dương Vương đến đời Duy Tân
2 Nam quốc địa dư ấu học giáo khoa thư (tr.30- 38):sách giáo khoa địa lí Việt Nam, dùng cho các bậc tiểu học , gồm vị trí, giới hạn, tên các tỉnh,kinh đô qua các triều đại,các sông, núi lớn, nông thổ sản
Không ghi
Không ghi
Ngô Giáp Dậu
Trang 2321
YẾU 中學
越史撮要
– 4, A.770/1 – 2 :
Dục đề tựa In tại
số nhà 22 phố Hàng Bè, Hà Nội,
Viết
VHv.986/1 –
2
484 tr., 25.5 x 15 (Thủ, Xuân, Thu, Đông)
In:
1911
A.2984/1 – 2 330 tr.,
25.5 x 15 (Thủ, Xuân, Thu)
In:
1911
VHv.1906, VHv.2024
128 tr., 25.5 x 15 (Thủ, Xuân)
In:
1911
VHv.988/2,3 418 tr.,
25.5 x 15 (Hạ, Thu)
In:
1911
VHb.120 126 tr.,
17.5 x 13 (Thu, Đông)
Viết
VHv.1701, VHv.2025, VHv.158,
VHv.990/2
216 tr., 25.5 x 15 (Hạ)
VHv.2694
202 tr., 25.5 x 5 (Thu)
In:
1911
Trang 2422
VHv.1700 166 tr.,
31.5 x 18.5 (Thu)
Viết
VHv.988/4 VHv.1701 VHv.1909 VHv.2027
154 tr., 25.5 x 15
v
Ngạc Đình Phạm Quang Xán biên
tập
Văn xuôi
VHv 64: 100 tr., 24 x
15
In:
1908 VHv 2937: 100 tr., 27 x
về quốc hiệu, tên đất, giới hạn
Không ghi
Phạm Huy
Hổ biên tập, Đỗ Văn Tâm hiệu đính
Văn xuôi
Không ghi
Nguyễn Tái Tích biên tập
Văn xuôi
A.2609 302 tr.,
30 x 15,
Trang 25
23
Qua đây ta thấy, nhiều bộ sách bao gồm Bắc Sử, Nam sử, Thái Tây
sử đã được biên soạn theo các yêu cầu của cải lương giáo dục khoa cử nhằm mục đích phổ cập rộng rãi những kiến thức về lịch sử Việt Nam và thế giới cho người học Từ danh mục sách giáo khoa chữ Hán cho môn Sử trong thời kỳ cải lương giáo dục khoa cử mang tính chất quá độ, chuyển đổi, vừa có nét giống giáo dục khoa cử, vừa có nét giống giáo dục phổ thông hiện đại đó, chúng tôi sẽ đi vào phân tích tân ước Việt sử Hán văn như là một trong những nét tiêu biểu cho Việt sử đầu thế kỷ XX
1.2.Tân ước Việt sử những năm đầu thế kỷ XX
1.2.1 Tân ước Việt sử như một đòi hỏi
Như đã nêu ở trên, trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906-1919, môn Việt sử không chỉ được học ở hệ thống nhà trường 3 cấp
mà còn là môn thi trong thi Hương, thi Hội Tất nhiên, Việt sử được chú ý không chỉ vì theo những yêu cầu có tính chất nhà trường mà còn do những yêu cầu xã hội Các yêu cầu xã hội ở đây bao gồm yêu cầu biết Việt sử vì yêu nước, vì sự nghiệp cứu nước cũng như vì tính phổ thông, phổ cập, đại chúng mà văn hóa hiện đại đòi hỏi phải có Nếu văn hóa các thế kỷ trung đại là văn hóa thượng đẳng, tinh hoa, thì ở thời hiện đại, do phải thực hiện yêu cầu nâng cao dân trí cho nên văn hóa hiện đại lại mang tính phổ cập, đại chúng, phổ thông Bởi thế cho nên biết sử Việt và mở rộng số người biết sử Việt là một trong những yêu cầu của bước quá độ về văn hóa từ truyền thống sang hiện đại
Tình hình phổ biến thư tịch và mức độ biết chữ Hán ở nước ta ở thời Nguyễn mang những đặc trưng của văn hóa trung đại Các giá trị văn hóa cao, mang tính tinh hoa chỉ có những người biết chữ Hán mới hy vọng nắm được Những ghi chép dưới đây của Nguyễn Bá Học (1857-1921) ở bài
Thư tịch trên Phần chữ Nho//Nam Phong tạp chí số 54 cho ta thấy tình hình
Trang 2624
này “Những sách mà nước ta coi là quốc giáo gồm Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bắc Sử
Đó được gọi là Nội thư Còn như các sách thi văn, thuật số, chư tử, liệt truyện, tiểu thuyết thì được gọi là Ngoại thư Những sách này đều không phải là các sách mà sĩ tử coi là cần đọc Các sách pháp luật, kinh tế thì triều đình tàng trữ ở Quốc sử quán nơi kinh thành, nhân dân dẫu có muốn học cũng không thể động đến nó được Những trước thuật của các bậc danh gia đều được cất giữ ở trong nhà riêng, không đưa ra công bố với đời, vả lại sao chép cũng rất vất vả nên ít người được xem Còn các sách bán trên chợ thì toàn là ca dao quốc âm ghi chép những chuyện quái đản dâm tà Quốc nhân đã không có kiến thức để chọn, triều đình cũng không thực thi quyền kiểm duyệt, thảy mặc kệ cho người ta nghe bậy, nói bậy Xã hội mỗi ngày một trở nên hủ bại, phần nhiều là do sách vở tạp loạn”
Thư tịch là thế, còn số người thông văn tự theo đúng nghĩa của từ này cũng không nhiều Nguyễn Bá Học viết: “Theo thông lệ giáo dục của các nước, trẻ em 8 tuổi thì vào tiểu học, dậy dỗ bằng các sách giáo khoa có tri thức phổ thông Sau 3 năm tốt nghiệp, lại tuỳ theo tư cách thiên hướng mà phân chia vào các trường học chuyên môn Bởi vậy họ không những học được nghề nghiệp mà còn đọc thông viết thạo Lúc ấy có thể gọi là những quốc nhân có giáo dục Người dân nước ta vào tuổi đồng ấu không ai không đi học Đại khái nếu gặp bất kỳ một ai trong làng mà hỏi rằng hồi nhỏ có đi học không (trừ người tàn tật), chẳng ai không nói lúc nhỏ tôi đi học 3 năm 4 năm, ít nhất cũng 2 năm Nếu hỏi rằng có còn đọc được không thì không ai dám thừa nhận mình có thể thông văn tự Đại khái là vì cái gọi
là 3 năm, 4 năm đọc sách thì chỉ là các sách Tam Tự Kinh, Tứ Tự Kinh,
Ngũ Ngôn Thi, Tứ Thư, Sử Thư, văn lý cao xa từ nghĩa uyên bác, đều là
những thứ trẻ con không thể hiểu được Cho nên mặc dù có công 3,4 năm đọc sách nhưng vẫn không có học vấn hữu dụng cho đời Còn những nhà
Trang 2725
mà con em họ biết lễ nghĩa, phải, trái thì đều do tập quán gia đình rèn nên chứ không phải do giáo dục đồng mông tạo nên Đại khái ngày ở trường dạy trẻ, thầy đồ dạy cho trẻ biết làm các vế đối 3 chữ, 5 chữ, đối thơ, đối phú Đến khi trò hơi lớn tuổi thì tập làm văn sách đơn vị, làm văn 2 vế, biết làm được là thôi Do cha mẹ học trò cũng chỉ cần như thế, để sau này vào khoa trường thì cử Còn như cái người xưa gọi là „sái tảo, ứng đối‟ của tiểu học xưa, đâu có giảng cứu đến bao giờ” (Phần chữ Nho //Nam Phong tạp chí, số 54)
Nữ giới trong nền học vấn ấy không được tham dự Nguyễn Bá Học
viết tiếp về Nữ học như sau: “Ngược đãi phụ nữ là cái tục thường thấy ở các
nước châu Á Cho nên không cho phụ nữ đi học Họ sợ rằng phụ nữ mà biết chút nghĩa lý thì không cam chịu sự chi phối điều khiển của nam giới nữa Chỉ
có những nhà thuộc hàng danh giá mới dạy qua nghĩa lý cho con gái như các
thiên Minh tâm, Nữ tắc Còn nếu thấy con gái hiểu biết văn tự thì cho là điều
không may Việc dạy chữ cho phụ nữ bị xem là dạy dâm” (…)
“Phụ nữ nước ta thực chiếm số lớn trong những người theo tôn giáo Trong giới bán buôn, phụ nữ cũng chiếm đa số Có đến 9 nhà trong 10 nhà, phụ
nữ nắm quyền gia chánh Còn như các việc công nông, lao động vất vả, phụ nữ còn cực khổ hơn cả nam giới Đối với gia đình, phụ nữ là người mẹ hiền, là vợ yêu không ai dám phạm tới Còn như đối với lễ pháp thì phụ nữ hoàn toàn không biết đến quyền tự do Số lượng phụ nữ nhiều như thế mà viêc học không biết đọc chữ đinh, không được giáo dục về nghĩa lý thì có thể gọi xã hội này là xã hội được chăng? Cho nên nếu nói không được đề cao việc học của phụ nữ thì khiến cho xã hội hủ bại” (Phần chữ Nho//Nam Phong Tạp chí,
số 54)
Còn về Học hiệu thì ông viết: “Ở kinh có Quốc Tử giám, ở ngoài các tỉnh trấn có các học nha như Đốc học, Huấn đạo, Giáo thụ Đó là những học
Trang 28Còn về Việt sử chữ Hán trong nền giáo dục khoa cử ấy xin được trích
dẫn ra ở đây một đoạn trong bài tựa của sách An Nam sơ học sử lược để thấy
tình hình cụ thể “Chao ôi, lạ thay! Sinh ở nước Nam [thì] làm người của nước Nam, nhưng ít có [người] hiểu biết lịch sử nước Nam, nhớ đến những
sự kiện của nước Nam” (…) ““Cái mà người nước Nam được đọc [đều] là Bắc sử, [chỉ] ghi chép lại những chuyện của nước Bắc Riêng đến như ngay trong nước, điều thiết yếu nhất là những điển cố trong sử, tất cả tựa như vẫn còn mơ hồ khi nghiên cứu nó” Ta vừa nghe thì nghi ngờ, sau đó để ý đến điều ấy thấy là đúng, lời lẽ đó không cần phải chỉnh sửa lại thêm nữa”1
Việt sử có nhiều bộ quốc sử mang tính chất “toàn thư”, “thông giám”,
“cương mục”, “tôn chính thống”, được Quốc Sử viện, Quốc Sử quán nhà nước khâm định tổ chức biên soạn một cách qui mô, được khắc in để ““彙
歷朝之事跡公萬世之鑒衡” Vựng lịch triều chi sự tích Công vạn thế chi
giám hành – Gom sự tích của các triều Làm cán cân, gương soi chung cho
muôn đời” nhưng chủ yếu chỉ để “tàng ư Quốc Sử quán” Khắc phục tình hình trên có thể có nhiều cách, trong đó trước hết cần “tân ước”, “lược biên”, “toát yếu” những bộ quốc sử có tính tập đại thành “Tân ước” vì thế
đã trở thành yêu cầu và đồng thời cũng là sự lựa chọn trước tiên
1
Vũ Văn Ngân, Loại hình văn bản sách giáo khoa lịch sử cho hệ ấu học đầu thế kỷ XX-Qua
nghiên cứu văn bản "An Nam sơ học sử lược", Luận văn Thạc sĩ ngành Hán Nôm, 2010
Trang 2927
1.2.2 Nguồn sử cho tân ước Việt sử
Nguồn các bộ sử cho tân ước Việt sử là các bộ quốc sử có tính chất tập đại thành, khâm định do Quốc Sử viện, Quốc Sử quán thực hiện hoặc
do cá nhân những bậc kì tài, bách khoa thư biên soạn Dưới đây chúng tôi xin dẫn danh mục các bộ sử đó do Vũ Văn Ngân lập ra trong luận văn thạc
sĩ Hán Nôm bảo vệ năm 2010 như sau:
1 Đại Việt sử ký toàn thư: 大越史紀全書
Là bộ sử lớn chép các sự kiện lịch sử nước Việt Nam (Quốc sử) qua các thời đại từ Kinh Dương Vương đến thời Lê trung hưng năm 1675 Cuốn sử này được khắc in toàn
bộ và công bố lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông,(tức là năm 1697)và là cuốn sử Việt Nam cổ nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, do nhiều sử gia từ thời nhà Trần và nhà Hậu Lê soạn thảo ra Cuốn sách được Ngô Sĩ Liên, một nhà sử học thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) viết với sự tham khảo
và sao chép lại một phần từ các cuốn Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu thời nhà Trần và Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên (thời nhà Lê nhưng trước Ngô Sĩ Liên) và
được các nhà sử học khác như Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy v.v hiệu chỉnh và bổ sung thêm sau này Tên gọi chính thức của cuốn sách này do Ngô Sĩ Liên đặt
2 Đại Việt thông giám: 大越通鋻
Năm 1510, Lê Tương Dực sai quan Binh bộ Thượng thư là Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Đại Việt thông giám hay Việt giám thông khảo Đại Việt thông giám được chia thành Ngoại kỷ chép từ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô, Bản kỷ
từ Đinh Tiên Hoàng đến đầu thời Lê Thái Tổ Vua còn sai Lê Tung soạn bài tổng luận
về bộ sử ấy
3 Đại Việt thông giám tổng luận: 大越通鋻縂論
Lê Tung soạn dưới thời Lê Tương Dực (1509-1516)
4 An Nam chí lược: 安南志略
Trang 3028
Là 1 bộ sử Việt Nam, do soạn giả Lê Tắc biên soạn năm 1335 Sách chủ yếu ghi chép
về các văn bản, thư từ ngoại giao trao đổi giữa nhà Nguyên với nhà Trần cũng như phong tục, tập quán của người dân Giao Chỉ
5 Đại Việt sử lược:大越史略
Là cuốn sử biên niên viết bằng chữ Hán, khuyết danh, được biên soạn vào thời Trần
Bản còn hiện nay được lưu giữ trong Tứ khố toàn thư 四庫全書 của Trung Quốc, còn
có tên là Việt sử lược 越史略, ghi chép từ Triệu Đà đến hết thời Lý Quyển thượng Quốc sơ diên cách (những thay đổi của đất nước buổi ban đầu) đến 12 sứ quân; quyển trung và quyển hạ là Nguyễn kỉ (tức kỉ nhà Lý) Cuốn sách có niên kỉ nhà Trần Có đoạn chép sơ lược, có đoạn chép khá chi tiết, sinh động Đại Việt sử lược là bộ sử biên niên
sớm nhất còn được lưu truyền đến nay
6 Lam Sơn thực lục: 藍山實錄
Sách ghi chép tóm tắt quá trình khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418 – 1427) Nguyên bản bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi viết, Lê Lợi đề tựa và
kí là Lam Sơn động chủ Tuy người đời sau có sửa chữa, thêm bớt, Lam Sơn thực lục
vẫn là tài liệu có giá trị lịch sử chân thực
7 Việt giám vịnh sử thi tập:越鋻 詠史詩集
Đặng Minh Khiêm là danh thần đời Lê Thánh Tông Ông còn để lại mấy tác phẩm giá
trị: Việt giám vịnh sử thi tập đề tựa năm Canh Thìn 1520, Thi lục 123 bài, Thi tuyển thời
Lê Chiêu Tông (1516 – 1526)
8 Đại Việt thông sử: 大越通史
Được Lê Quý Đôn soạn vào năm 1758
9 Lịch triều Hiến chương loại chí 歷朝憲章類志
Là bộ bách khoa toàn thư của Việt Nam về phép tắc các triều đại, chép theo thể phân
loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809 – 1819) Lịch triều hiến chương loại chí ghi chép dữ liệu lịch sử từ thời Hồng Bàng đến Lê mạt, chia làm 10 phần: Phần 1- Ðịa
dư chí (từ quyển 1 đến quyển 5): chép về địa lý và lịch sử địa lý Việt Nam trải qua các triều đại và phong thổ từng vùng Phần 2 - Nhân vật chí (từ quyển 6 đến quyển 12):
Trang 3129
chép về tiểu sử và tiểu truyện của các đế vương, những bậc hiền tài, danh tướng, danh
nho, những người tiết nghĩa của Việt Nam Phần 3 - Quan cức chí (từ quyển 13 đến
quyển 19): chép về danh hiệu, chức vụ, phẩm tước, lương bổng và cách tuyển cử quan
lại dưới các triều đại Phần 4 - Lễ nghi chí (từ quyển 20 đến quyển 25): chép về các điển
lễ thuộc về triều nghi, tế tự, tông miếu, khánh hạ, quốc tang, tấn tôn, sách phong Phần 5
- Khoa mục chí (từ quyển 26 đến quyển 28): chép về phép tắc các chương trình thi cử (thi Hương, thi Hội, thi Ðình) Phần 6 - Quốc dụng chí (từ quyển 29 đến quyển 32):
chép về các phép dinh điền (hộ khẩu), các ngạch thuế, các phép thu thuế, chế độ ruộng
đất, tiền tệ Phần 7 - Hình luật chí (từ quyển 33 đến quyển 38): chép về luật lệ và hình phạt Phần 8 - Binh chế chí (từ quyển 39 đến quyển 41): chép về việc tuyển lính, cách luyện tập, cách tổ chức quân đội Phần 9 - Văn tịch chí (từ quyển 42 đến quyển 45): chép về sách vở do người Việt sáng tác, trải qua các triều đại Phần 10 - Bang giao chí
(từ quyển 45 đến quyển 49): chép về việc bang giao các đời, nghi lễ đón tiếp sứ thần các
nước
10 Liệt thánh thực lục tiền biên, chính biên: 列聖實錄前編, 正編
Còn có tên là Đại Nam thực lục 大南實錄, ghi chép các sự kiện từ khi chúa Nguyễn
Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến đời vua Khải Định (1925), do Quốc sử quán triều
Nguyễn biên soạn Phần đầu của Đại Nam thực lục gọi là Tiền biên (Đại Nam thực lục tiền biên) hay Liệt thánh thực lục tiền biên, ghi chép các sự kiện lịch sử của 9 chúa
Nguyễn Đàng Trong, từ Nguyễn Hoàng (1558) đến hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần
(1777) Đại Nam thực lục chính biên là phần thứ hai viết về triều đại các vua nhà Nguyễn, nhưng là phần chủ yếu của bộ biên niên sử viết bằng chữ Hán Đại Nam Thực lục Đại Nam Thực lục chính biên ghi chép các sự kiện lịch sử từ khi Nguyễn Ánh làm
chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887), và sau này được viết thêm đến đời vua Khải
Định (1925) Cả hai phần Tiền biên và Chính biên của bộ sử Đại Nam thực lục được
soạn bắt đầu từ năm 1821 (năm Minh Mạng thứ hai), sau 88 năm, đến năm 1909 mới cơ
bản hoàn thành (gồm toàn bộ phần Tiền biên và 6 kỷ đầu phần Chính biên) Đại Nam Thực lục Chính biên được phân thành 8 phần (kỷ)
11 Khâm định Việt sử thông giám cương mục: 欽定越史通鋻綱目
Trang 3230
Quốc sử quán triều Nguyễn soạn năm 1856 - 1881 Nội dung bao gồm: Tiền biên: Trải
từ thời Hồng Bàng cho đến hết năm 967, khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân
Chính biên: Từ năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi cho đến năm 1789, khi hết thời nhà
Hậu Lê (đời Lê Chiêu Thống)
1.2.3 Những nội dung chủ yếu của “ước” và "tân ước" Việt sử
1.2.3.1 Ý nghĩa từ vựng của cách gọi “ước” và "tân ước"
Phức thể "tân ước 新約" gồm 2 nội dung Một là “ước” Hai là “tân”
"Ước 約" theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có khi là động từ có
nghĩa là "rút gọn"; có khi là tính từ có nghĩa là "tiết kiệm, đơn giản"; có khi
là phó từ nó có nghĩa "ước lược – rút gọn" “Ước” trong tân ước Việt sử những năm đầu thế kỉ XX được dùng như một động từ với ý nghĩa là “rút gọn” để chỉ một phương thức biên soạn Việt sử cho những mục đích cụ thể như phổ thông, quảng bá những tri thức về Việt sử bằng chữ Hán Phương thức “rút gọn” như thế vốn thường được sử dụng trong biên soạn Việt sử truyền thống Tất nhiên, chúng ta thường thấy “lược” trở thành trung tâm
ngữ trong phức thể tên gọi của nhiều bộ Việt sử như An Nam chí lược, Việt
sử lược Bên cạnh phương thức “ước”, “lược”, “ước lược”, còn có các
phương thức khác mà cách làm và giá trị mang lại của chúng có nhiều điểm giống với “ước”, “lược”, “ước lược” trên đây như : “tiết yếu”, “toát yếu”,
1.2.3.2 Các thuật ngữ và thao tác của " ước"
Trang 33- Các đơn vị chất lượng cho sự “ước” là sự đo đếm “ước” về mặt chất lượng, mang tính định tính, thể hiện các phẩm chất liên quan đến bút pháp, thể tài; quan điểm, lời bàn (luận, tổng luận); tinh thần luận và tổng luận; tính chất ngụ bao biếm, biện thiện ác của sử bút; tôn chính thống, tôn thống nhất; giám và thông giám; quốc sử và gia sử (sử của từng triều đại); đối tượng và mục đích mà sản phẩm “ước” hướng vào
- Mọi sự đong đếm trên đây đều được tiến hành theo các tương ứng, tương quan theo cấu trúc (cơ cấu) văn bản
Như vậy, “ước” của sử nói chung, Việt sử nói riêng là một khái niệm mang nội hàm và ngoại diên khá rộng và phức tạp Ở luận văn này, vấn đề
“ước” và “tân ước” của Việt sử chỉ giới hạn ở mức độ và phạm vi các vấn
đề như sau:
- Mục đích của “tân ước” thể hiện qua Tự (lời tựa) và Tam tắc (Ba nguyên tắc của tân ước)
Trang 3432
- Tính chất và sự thể hiện của tân ước: Giữ nguyên kết cấu theo lối biên niên; Giữ nguyên kết cấu theo cương mục; Ước lược về dung lượng, khối lượng; Ước lược cả cương và cả mục; Đổi mới nội dung “thông giám” theo “đạo cương thường” sang định hướng nội dung “thông giám” theo tinh thần “quốc dân”, “quốc gia”, “quốc hồn”; chuyển tính chất “cái học đế vương” của sử sang “cái học quốc dân” của sử
Từ sự định hướng trên về một số nội dung có liên qua đến “tân ước”
Việt sử nói chung, chúng tôi sẽ đi sâu vào giới thiệu và phân tích Việt sử
tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編 của Hoàng Đạo Thành như là một
trường hợp cụ thể có tính tiêu biểu cho cách thức tân ước Việt sử những năm đầu thế kỉ XX
1.3 Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編 của Hoàng Đạo
Thành
1.3.1 Tác gia Hán Nôm Hoàng Đạo Thành
Theo ghi chép của Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp
– Tập 1, tr.486 “Hoàng Đạo Thành 黄道成 có tên cũ là Cung Đạo Thành, hiệu Cúc Lữ 菊侶, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì (nay thuộc ngoại thành Hà Nội) Không rõ ông sinh và mất năm nào” Theo Đào Nguyên
Phổ, Hoàng Đạo Thành mất năm 1908, khi phong trào Duy Tân kết thúc
Hoàng Đạo Thành là một sử gia Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX và là một chí sĩ hoạt động trong Phong trào Duy tân
Trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Trần Văn Giáp, tập 1 (Thư viện
Quốc gia xuất bản), tr.255-256 có ghi “Năm Kiến Phúc thứ I (1884) ông
Trang 3533
đậu cử nhân, làm quan đến đồng tri phủ, xin cáo về Khi về, cùng Đào Nguyên Phổ và các chí sĩ khác hoạt động trong Phong trào Duy tân
Tác phẩm
Ông nổi tiếng có tài và có nhiều tác phẩm văn thơ
Đại Nam hành nghĩa liệt nữ truyện
Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編
Việt sử tứ tự (Tập này có bài đề tựa và sự duyệt chính của Tảo
Bi-Đào Nguyên Phổ, Mai Viên-Đoàn Triển và Gia Xuyên-Đỗ Văn Tâm, vào năm Bính Ngọ 1906)
Tác phẩm nổi bật nhất của ông là bộ Việt sử tân ước toàn biên 越 史
新 約 全 編 (2 quyển) do ông biên soạn là một bộ lược sử Việt Nam, soạn cho các học sinh tiểu học học Việt sử tân ước toàn biên 越 史 新 約 全 編
chép theo niên kỷ từ đời nọ đến đời kia, chỉ chép các sự việc lớn, gọn và rõ,
có thể gọi là đầy đủ Sách chép từ Hùng vương đến hết triều Lê (q.2, tờ 43)
Sau đó phụ bài Tây Sơn thủy mạt khảo (q Sách làm vào hồi đầu thế kỷ XIX,
hồi phong trào Duy Tân mới chớm nở, nên lối viết nửa mới nửa cũ
1.3.2 Văn bản "Việt sử Tân ước toàn biên"越史新約全編
Về vấn đề văn bản của Việt sử tân ước toàn biên (Đại Việt sử ước)越 史新約全編 được chúng tôi tiến hành khảo sát tại Kho sách Hán Nôm -
Viện Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam thu được kết quả như sau:
Theo Di sản Hán Nôm- Thư mục đề yếu, Việt sử tân ước toàn biên -
越史新約全編 gồm 2 quyển, do Hoàng Đạo Thành 黃道成 soạn; sách in ván gỗ, giấy bản thường (khổ 28x15,5), tổng cộng 116 tờ, mỗi tờ 2 trang,
Trang 3628 x 15,5 Án Hiên
Thái, Bính Ngọ (1906)
28 x 15,5 Quan Văn Q Thƣợng
Trang 3735
Mão (1927)
Với văn bản mang kí hiệu VHv.132/1-2, chúng tôi khảo sát được phần bìa văn bản chữ hơi mờ, thiếu tờ bạt, chữ in khá đẹp và rõ Cuối bài
tựa có thêm dòng Thưởng thụ cửu phẩm Văn giai Đại Áng Nguyễn Hoan
phụng kiểm 赏授九品文階大盎阮驩奉檢 Phần đầu chú mờ và có thêm
bớt so với bản VHv.996/1-2, VHv.997/1-2, VHv.998/1-2 Tuy nhiên nội dung không thay đổi
Với văn bản A.1057 có thêm lời bạt chữ đá thảo Nội dung về cơ bản giống văn bản VHv.996/1-2, tuy nhiên chữ in mờ nhạt khó đọc, và dấu chấm son quá dày, chèn lên chữ và rối Nhiều phần cước chú quá mờ đến nỗi không nhận được mặt chữ (tr.81b)
Những văn bản còn lại như VHv.4036 hay VHv.993/2 đều thiếu một trong hai quyển Thượng hoặc quyển Hạ, không đủ cơ sở để tiến hành khảo sát
Do vậy, thông qua việc khảo sát đối chiếu các văn bản Việt sử tân
ước toàn biên (Đại Việt sử ước) chúng tôi chọn văn bản mang kí hiệu
VHv.996/1-2 (trùng bản VHv.997/1-2), hiện đang lưu trữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm được chúng tôi xem là văn bản đầy đủ và rõ ràng nhất, là văn bản cơ sở để tiến hành nghiên cứu Văn bản mang kí hiệu VHv.996/1-2 là bản in, cả quyển có 116 tờ (132 trang), mỗi trang đầy đủ có
8 dòng, mỗi dòng đầy đủ có 21 chữ (không phải 22 chữ như bộ Di sản giới
thiệu), đọc từ trên xuống dưới, từ phải qua trái Sách được chia thành 2 quyển, quyển thượng và quyển hạ Quyển thượng có 63 tờ, quyển hạ có 50
tờ, mỗi tờ đều in hai mặt, sách có khổ 28x15,5
Trang 3836
Ngoài ra, trong kho sách Hán Nôm chúng tôi còn khảo sát được văn
bản Việt sử tân ước toàn biên được chép trong Nam sử tổng luận Kí hiệu
VHv.159 (1 bản viết, 78tr., 29x16) từ tr.36 đến tr.78 Văn bản chép tay,
hình thức chữ đá thảo, trang đầu cũng chép Việt sử tân ước toàn biên越史新約全編, Thành Thái Bính Ngọ成泰丙午, trọng đông tân thuyên仲東新
鐫, nội dung có thể coi là đầy đủ Tuy nhiên phần đầu chú (chú giản lược)
có nhiều sai khác so với các văn bản khác, cước chú có một số chỗ không
có
Đây là bộ sách được duyệt làm sách giáo khoa cho bậc Tiểu học trong chương trình cải lương giáo dục 1906, tất cả các văn bản trên đây đều được trình bày theo thể loại văn xuôi
Khi tiến hành khảo sát Dự án số hóa kho tàng thư tịch cổ văn hiến
Hán Nôm của Thư viện Quốc gia được kết quả:
Văn bản Việt sử tân ước toàn biên hiện có 2 bản in, tương ứng với
28 x 16 Án Hiên
Q Thượng, không có bài tiểu chí
2 R.1418 104 tr
Thành Thái, Bính Ngọ (1906)
Trang 3937
Trùng bản: quyển Thượng: R.576, R.1417, R.198; quyển Hạ: R.214 Bản in của Quan Văn Đường 觀文堂 năm Thành Thái Bính Ngọ (1906) 成泰丙午: R.499, R.1414, R.1415, R.2020, R.2026
Về tác giả, qua việc khảo sát tất cả các bản in được biết tác giả của
Việt sử tân ước toàn biên là Hoàng Đạo Thành 黃道成 (Cúc Lữ -菊侶)
biên toản (biên soạn), do Đào Nguyên Phổ 陶元溥 (Tảo Bi 藻陂) viết,
Đoàn Triển 段展 (Mai Viên 梅園) duyệt; Đỗ Văn Tâm 杜闻心 (Gia Xuyên 家川) duyệt và sửa lại
Về niên đại, ngay trang bìa của văn bản đã ghi Thành Thái Bính Ngọ
trọng đông tân thuyên (sách sử mới, in vào tháng trọng đông năm Bính
Ngọ niên hiệu Thành Thái- tức năm 1906)
1.3.3 Kết cấu của Việt sử tân ước toàn biên
Việt sử tân ước toàn biên gồm 2 quyển Thượng và Hạ
Quyển Thượng từ tr.1a đến tr.63a, nội dung bao gồm:
- 1 lời bạt tr.1b
- Lời tựa (Đại Việt sử ước tự 大越史約序) tr.2a-5b
- Ba điều tự chí (Tự chí tam tắc 自志三則) tr.6a-7a
- Niên kỷ các triều đại (Lịch đại kỷ niên 歷代紀年) tr.8a-10b
- Nội dung (Hùng Vương 雄王- Bình Định Vương 平定王) tr.11a-63a
Quyển Hạ từ tr.64a-116b, bao gồm:
- Lê kỷ 黎紀- Lê Mẫn Tông 黎愍宗: tr.64a-106b
Trang 4038
- Tây Sơn thủy mạt khảo 西山始末攷: tr.107a-116b
Việt sử tân ước toàn biên là bộ lược sử Việt Nam, làm cho các học
sinh học lớp Tiểu học Tờ mặt sách đề rõ: Việt sử tân ước toàn biên 越史 新約全編; phía trên bên phải: Thành Thái Bính Ngọ trọng đông tân tuyên
成泰丙午仲冬新鐫 (in năm Thành Thái Bính Ngọ (1906)); phía trái bên
dưới: Cúc Lữ Hoàng phó tầm, Quan Văn tàng bản 菊侶黃付撏觀文藏板
(Cúc Lữ họ Hoàng cho khắc in, nhà Quan văn chứa ván in)
Sau tờ mặt có ghi lại lời của tác giả về việc lựa chọn bản in (tiểu chí, tr.1b), cho biết sách này là bản đã sửa chữa và khắc lại, đã trình phủ Thống
sứ duyệt, cho phép đem bán “此書編成 經交印工 將活本刷印矣 第舛謬
甚多 不足當諸儒生寓目 茲本已再详閱檢正 即交印工 將新本删並呈
貴府座官聽將施行 金縷 黃道成 謹識 Thử thư biên thành, kinh giao ấn
công, tương hoạt bản loát ấn hĩ Đệ suyễn mậu thậm đa, bất túc đương chư nho sinh ngụ mục Tư bản dĩ tái tường duyệt kiểm chính, tức giao ấn công Tương tân bản san khắc tịnh trình Quý phủ tòa quan thính tương thi hành Kim Lũ Hoàng Đạo Thành Cẩn chí - Sách này làm xong, đã cho thợ in
đem soát bản để in, nhưng sai sót rất nhiều, không đáng cho các nho sinh tham khảo Bản này sau khi đã được kiểm duyệt hiệu chính lại, lập tức cho thợ in khắc in Đã đem bản mới trình lên Quý phủ tòa quan cho phép thi
hành (Ấn) Kim Lũ, Hoàng Đạo Thành, cẩn chí”