1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh Nhật Bản linh dị ký với Lĩnh Nam chích quái

124 527 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, do tác phẩm ra đời trong thời kỳ Phật giáo và văn hóa Trung Quốc được du nhập và phát triển rực rỡ ở Nhật Bản nên một số tác phẩm chí quái nổi tiếng như Sưu thần ký của Can

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƯƠNG ĐỨC HIẾU

SO SÁNH NHẬT BẢN LINH DỊ KÝ VỚI LĨNH NAM CHÍCH QUÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH HÁN NÔM

Hà Nội - 2012

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

DƯƠNG ĐỨC HIẾU

SO SÁNH NHẬT BẢN LINH DỊ KÝ VỚI LĨNH NAM CHÍCH QUÁI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm

Mã số 60 22 40

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Oanh

Hà Nội-2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG 12

Chương 1 SO SÁNH NHẬT BẢN LINH DỊ KÝ VỚI LĨNH NAM CHÍCH QUÁI VỀ THỂ TÀI CỐT TRUYỆN 12

1 Vài nét về Nhật Bản linh dị ký 12

2 Vài nét về Lĩnh Nam chích quái 15

3 Nghiên cứu thể tài của Linh dị ký so sánh với Lĩnh Nam chích quái 20

3.1 Một số điểm chung về thể loại, đề tài, kiểu truyện 20

3.2 Mô hình cấu trúc cốt truyện 24

3.2.1 Chữ “duyên” trong Linh dị ký và chữ “truyện” trong Lĩnh Nam chích quái 25

3.2.2 Hình thức bố cục cốt truyện 26

3.2.3 Về các bài thơ đồng dao, sấm ký 33

3.3 Hệ thống nhân vật 37

3.4 Motip kỳ ảo 48

3.4.1 Motip người chết sống lại 49

3.4.2 Thi thố pháp thuật 52

4 Tiểu kết 56

Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN TỰ HÁN TRONG NHẬT BẢN LINH DỊ KÝ SO SÁNH VỚI LĨNH NAM CHÍCH QUÁI 58

1 Một số vấn đề chung 58

1.1.Vài nét về sự du nhập và sử dụng chữ Hán ở Nhật Bản 58

1.1.1 Vài nét về sự du nhập chữ Hán ở Nhật Bản 58

1.1.2 Việc sử dụng chữ Hán ở Nhật Bản 59

Trang 4

1.2 Vài nét về việc du nhập và sử dụng chữ Hán ở Việt Nam 63

1.2.1 Vài nét về việc du nhập chữ Hán ở Việt Nam 63

1.2.2.Việc sử dụng chữ Hán ở Việt Nam 64

2 Một số đặc điểm ngôn ngữ văn tự Hán trong Linh dị ký so sánh với Lĩnh Nam chích quái 66

2.1 Hiện tượng đảo ngược trật tự từ và cú pháp Hán 68

2.1.1 Đảo ngược trật tự của danh từ 68

2.1.2 Hiện tượng đảo ngược trật tự cú pháp Hán 69

2.2 Hiện tượng “phá cách” khi dùng “tại và hữu” ở Linh dị ký 73

2.2.1 Hiện tượng dùng nhầm “tại” thành “hữu” và “hữu” thành “tại” 73

2.2.2 Một số thống kê cụ thể 75

3 Tiểu kết 85

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC .94

Trang 5

3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhật Bản Linh dị ký (Nihonryoiki) (Ghi chép những chuyện linh nghiệm, kỳ

lạ của Nhật Bản) tên thường gọi là Linh dị ký (Ryoiki) là tập truyện cổ setsuwa

(thuyết thoại) Phật giáo đầu tiên viết bằng chữ Hán của Nhật Bản, được biên soạn năm Enryaku thứ 6 (787) và hoàn thành vào năm Konin năm thứ 13 (822) Hầu

hết các truyện trong Linh dị ký được sưu tầm từ truyện cổ và truyền thuyết dân

gian Nhật Bản Bên cạnh đó, do tác phẩm ra đời trong thời kỳ Phật giáo và văn hóa Trung Quốc được du nhập và phát triển rực rỡ ở Nhật Bản nên một số tác

phẩm chí quái nổi tiếng như Sưu thần ký của Can Bảo thời nhà Tấn; một số tác phẩm truyền kỳ nổi tiếng đương thời nhà Đường như Nhâm Thị truyện … và truyện kể Phật giáo Trung Quốc như Minh báo ký, Kim cương bát nhã tập

nghiệm ký… được lưu hành rộng rãi ở Nhật Bản thời kỳ bấy giờ đã có ảnh hưởng

lớn đến Linh dị ký

Lĩnh Nam chích quái (LNCQ) là tập sách ghi chép truyện cổ tích và truyền

thuyết dân gian, viết bằng chữ Hán, xuất hiện từ thời Lý-Trần, tác giả tương truyền là Trần Thế Pháp LNCQ ra đời trong bối cảnh nước nhà mới giành được độc lập từ tay đế chế phương Bắc, việc sưu tầm một khối lượng lượng truyền thuyết dân gian có từ ngàn xưa là nhằm khẳng định bản lĩnh của dân tộc, của việc dựng nước và giữ nước trước nạn đồng hóa của phương Bắc Các truyện trong LNCQ hầu hết được sưu tầm từ truyện kể dân gian, chủ yếu có nguồn gốc ở nước

ta, song cũng giống với Linh dị ký, LNCQ cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa, văn

học Trung Quốc

Trang 6

4

Việc nghiên cứu so sánh Nhật Bản linh dị ký với Lĩnh Nam chích quái được

chúng tôi đặt ra xuất phát bắt đầu từ hai chữ Hán “linh dị” (1) xuất hiện ở truyện

Hồ tinh thần truyện, sách LNCQ Hai chữ Hán này gợi mở cho chúng tôi đi vào

tìm hiểu tính “linh dị”, hay yếu tố kì ảo được mô tả thế nào trong cốt truyện thần

kỳ của hai nước Đồng thời cũng muốn làm sáng tỏ tính dân tộc trong sự tiếp nhận, cải biến, lưu thông motip, cốt truyện, đề tài từ Trung Quốc ở Việt Nam và Nhật Bản Nó sẽ giúp bổ sung những tư liệu cần thiết cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc trong cộng đồng văn học khu vực

Ngoài ra, Linh dị ký và LNCQ đều là tác phẩm viết bằng chữ Hán Việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ văn tự Hán tác phẩm Linh dị ký sẽ giúp làm sáng tỏ phần

nào việc tiếp nhận, sử dụng chữ Hán ở mỗi nước và đó cũng là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài này

Đề tài này còn là cầu nối giúp đẩy mạnh hợp tác, giao lưu, trao đổi giữa các nhà nghiên cứu của Việt Nam với các nhà nghiên cứu trong khu vực nói riêng và thế giới nói chung Đề tài này ngoài việc cung cấp thông tin đa chiều về các hiện tượng đặc sắc trong nghiên cứu văn học ở các nước, còn giúp chúng ta tìm hiểu

rõ ràng hơn về cơ tầng chiều sâu văn hóa các nước, giúp nuôi dưỡng sinh hoạt văn hóa cho các thế hệ trẻ và đó là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài nói trên

2 Lịch sử vấn đề

Theo các nhà nghiên cứu, gần đây, việc nghiên cứu so sánh văn sánh văn học Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản đã đạt nhiều thành tựu đáng kể, song việc nghiên cứu so sánh các tác phẩm truyện cổ dân gian Việt Nam viết bằng chữ

Hán như Lĩnh Nam chích quái 嶺 南 摭 怪, Công dư tiệp ký 公 餘 捷 記 và Lan

1

Theo ý kiến của PGs.TS Phạm Văn Khoái, Trưởng bộ môn Hán Nôm, Khoa Văn học, Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 7

5

Trì kiến văn lục 蘭 池 見 聞 錄 với các tác phẩm chí quái của Trung Quốc như Sưu thần ký 搜 神 記, Dậu dương tạp trở 酉 陽 雜 俎, Thái Bình quảng ký 太 平

廣 記 cũng còn hạn chế, do thiếu nguồn tư liệu

Việc truy tìm nguồn gốc, xuất xứ cốt truyện ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc cũng được các nhà nghiên cứu trong nước tiến hành từ rất sớm Từ những

năm 60, tác giả Đinh Gia Khánh trong Lời giới thiệu sách dịch Lĩnh Nam chích

quái (2) đã cho biết, từ thời phong kiến, trong sách Kiến văn tiểu lục 見 聞 小 錄,

Lê Quý Đôn (1726-1784) đã chỉ rõ những ảnh hưởng của các truyện Trung Quốc

vào Lĩnh Nam chích quái Do khuôn khổ của Lời giới thiệu, tác giả mới dừng ở mức giới thiệu khái quát một số truyện trong Lĩnh Nam chích quái chịu ảnh

hưởng từ văn học Trung Quốc

Năm 1962, khi bàn về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, tác giả Trần Nghĩa (3)

cũng đi sâu phân tích những ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc vào

Truyện Rùa vàng, sách Lĩnh Nam chích quái Năm 1996, tác giả Kiều Thu Hoạch

đã so sánh típ truyện Truyện Trầu cau ở Trung Quốc với típ truyện cùng loại ở

Việt Nam (sách Lĩnh Nam chích quái) và một số nước Đông Nam Á (4)

Sau khi

đi sâu phân tích so sánh, tác giả đã nêu sự tương đồng và khác biệt qua truyện kể của các nước Theo ông, cho dù còn vài tình tiết khác biệt, nhưng chỗ tương đồng

2Lĩnh Nam chích quái Đinh Gia Khánh (chủ biên); Nguyễn Ngọc San biên khảo-giới thiệu In lần

thứ hai, có sửa chữa, bổ sung Nxb.Văn học Hà Nội 1990, tr.23.

3

Trần Nghĩa: Truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy phát triển qua các thời đại Nghiên cứu Văn

học, số 4/1962, tr.31-39

4

Kiều Thu Hoạch: so sánh típ Truyện Trầu cau ở Trung Quốc với típ truyện cùng loại ở Việt Nam

và Campuchia, bàn về tục ăn trầu và văn hóa quyển Trầu cau Đông Nam Á Tạp chí Văn học, số

4/2001, tr.41.

Trang 8

6

lớn nhất của kiểu truyện này là nhằm giải thích phong tục "ăn trầu", phong tục vốn có từ lâu đời ở hai nước Việt Nam và Trung Quốc

Năm 1999, dịch giả Nguyễn Thị Oanh trong phần dẫn luận "Nhật Bản linh

dị ký - tác giả và tác phẩm" trong tác phẩm dịch Nhật Bản linh dị ký của tác giả

Keikai, Nhật Bản, Nxb Văn học(5)

đã giới thiệu và đi sâu phân tích một số motip, cốt truyện tương đồng với truyện truyền kỳ và chí quái của Trung Quốc, các truyện ảnh hưởng từ truyện kể Phật giáo Trung Quốc và cũng đã chỉ ra sự khác nhau trong việc thay đổi cốt truyện cho phù hợp với phong tục tập quán của Nhật

Bản Trong mục Linh dị ký và truyện thần kỳ, truyền kỳ Việt Nam, tác giả cũng đã làm rõ một số motip tương đồng trong Linh dị ký với truyện cổ Việt Nam như: Motip người có sức khỏe (Lê Phụng Hiểu - Việt điện u linh); motip sinh nở kỳ lạ (Lạc Long Quân, Thánh Gióng - Lĩnh Nam chích quái); motip chống thần linh (Cường Bạo đại vương- Công dư tiệp ký); motip nhân vật xấu xí mà tài ba (Người kỳ dị - Sơn cư tạp thuật) Kiểu truyện "hồn người này, xác người kia" trong Linh dị ký cũng giống với truyện Trần Tử Lương của nước Ngô được thay cho Trần Tử Lương ở Miên Châu, trong sách Minh báo ký của Trương Công Cẩn thời nhà Đường và cũng giống với truyện Đế Thích trong Công dư tiệp ký của Vũ

Phương Đề, chép truyện Trương Ba, kể chuyện Trương Ba giỏi chơi cờ, được Đế Thích cho sống lại nhưng không còn thi thể phải nhập vào xác của anh hàng thịt, người mới chết Tuy nhiên, do khuôn khổ của bài giới thiệu tác phẩm, dịch giả cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu thể tài, cốt truyện của tác phẩm

Ngoài ra, một số bài nghiên cứu tuy không liên quan trực tiếp đến đề tài

nhưng lại là những gợi ý quan trọng cho đề tài, như: Đặc trưng thể loại và việc

5

Nhật Bản linh dị ký Nguyễn Thị Oanh dịch Nxb Văn học 1999

Trang 9

7

văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ của tác giả Trần

Thị An(6)

Về việc nghiên cứu ngôn ngữ văn tự Hán thời Lý-Trần, trước đó đã có một

số công trình nghiên cứu về Hán văn Lý-Trần có liên quan đến luận văn của

chúng tôi như công trình Ảnh hưởng Hán văn Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ

Nguyễn trung Ngạn (7)của GS Nguyễn Tài Cẩn; Hán văn Lý-Trần(8)

của PGs.TS Phạm Văn Khoái Công trình trực tiếp liên quan đến luận văn của chúng tôi là Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của TS Nguyễn Thị Oanh Đây là Luận án đầu tiên đã

đề cập đến một số đặc trưng ngôn ngữ văn tự Hán trong Lĩnh Nam chích quái, có

so sánh với Linh dị ký của Nhật Bản Tuy nhiên, do khuôn khổ của Luận án nên tác giả chưa đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ văn tự Hán trong Linh dị ký

Trở lên là một số bài viết và công trình (hiện thống kê chưa đầy đủ) liên quan đến đề tài nghiên cứu Các công trình trên đây của các nhà nghiên cứu trong nước thực sự là những gợi ý quan trọng giúp chúng tôi thực hiện tốt đề tài này + Tình hình nghiên cứu ngoài nước của đề tài

Nghiên cứu văn học so sánh ở Nhật Bản và Trung Quốc đã có bề dày lịch sử

và đạt nhiều thành tựu Trong cuốn Nhật Bản linh dị ký 日本霊異記, bản dịch từ

Hán văn Nhật Bản ra tiếng Nhật hiện đại do tác giả Nakada Norio thực hiện, Nxb

Shogakukan ấn hành năm 1975, phần so sánh Nhật Bản linh dị ký với truyện

truyện chí quái, truyền kỳ, Phật thoại của Trung Quốc, tuy chưa đi sâu phân tích chi tiết các motip, đề tài, cốt truyện, nhưng những vấn đề tác giả đặt ra trong tác

Trang 10

Kimiko (Đại học Waseda Nhật Bản), Nxb.Menseisha, 1985, cũng đã đi sâu phân

tích sự tương đồng về đề tài, cốt truyện, motip trong sách Nhật Bản linh dị ký với

truyện kể dân gian Trung Quốc, từ đó tìm ra những nét độc đáo của Nhật Bản trong trong việc tiếp nhận, cải biên đề tài, cốt truyện, motip từ Trung Quốc

Ở Trung Quốc, GS Lí Minh Kính (GS.Học viện ngoại ngữ, Đại học Nhân

Dân, Trung Quốc) trong bài viết: Trở lại các vấn đề Hán văn trong Linh dị ký, đã

đi sâu phân tích một số hiện tượng “phá cách”, “biến thể Hán văn”, “Hòa hóa Hán văn” mà các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chỉ ra, đồng thời tác giả còn nẩy ra thêm một số trường hợp khác(9)

Ở Đài Loan, công trình nghiên cứu so sánh Sưu thần ký với Lĩnh Nam chích

quái 搜 神 記 與 嶺 南 摭 怪 của tác giả Lâm Thúy Bình có thể coi là công trình

nghiên cứu so sánh song hành giữa hai tác phẩm truyện cổ dân gian của hai nước Việt Nam và Trung Quốc

Trên đây là một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài liên quan đến đề tài nghiên cứu (thống kê chưa đầy đủ) Các công trình nói trên là những gợi ý thiết thực để chúng tôi thực hiện đề tài nói trên

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các nhiệm vụ trên của đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

9

Tài liệu do PGS.TS Nguyễn Thị Oanh cung cấp.

Trang 11

9

(1) Phương pháp thống kê định lượng

(2) Phương pháp so sánh

(3) Phương pháp nghiên cứu liên ngành

(4) Phương pháp phân tích ngôn ngữ học

Ngoài ra, chúng tôi còn chú trọng việc nghiên cứu lý thuyết thể loại truyện

cổ (truyện cổ tích và truyền thuyết dân gian ) khi vận dụng vào thực tế tác phẩm Chúng tôi còn vận dụng thành tựu của lý luận văn học, trên cơ sở chú ý đến hướng nghiên cứu chất dân gian trong văn học viết qua việc phân tích so sánh đề tài, cốt truyện và motip giữa ba nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng:

Chúng tôi sử dụng các tác phẩm sau:

- Nhật Bản linh dị ký, do dịch giả Nguyễn Thị Oanh dịch, Nxb Văn học xuất

bản năm 1999 Chúng tôi sử dụng phần chữ Hán được in kèm theo tác phẩm

dịch này

- Lĩnh Nam chích quái, bản chữ Hán ký hiệu A.2194, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Chúng tôi còn mở rộng tham khảo một số tác phẩm như Thiền uyển tập

anh, Công dư tiệp ký, Lan Trì kiến văn lục… hiện đã được dịch và xuất bản

Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng một số truyện trong hai tác phẩm: Sưu

thần ký (bản dịch của nhóm phòng Lịch sử, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) để thấy

rõ hơn sự tiếp nhận cũng như cải biên truyện truyền ký, chí quái và truyện kể Phật giáo Trung Quốc

Phạm vi nghiên cứu:

Trang 12

10

Nhật Bản linh dị ký đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam từ năm 1999,

song cho đến nay chưa được đi sâu nghiên cứu, vì vậy chúng tôi sẽ đặt trọng tâm vào việc giới thiệu tác phẩm của Nhật Bản Do nội dung và thời điểm ra đời của

Nhật Bản linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái có nhiều khác biệt nên chúng tôi chỉ

tập trung phân tích thể tài, cốt truyện và một số mô típ, kiểu truyện thần kỳ

có tần suất xuất hiện cao được đưa vào sách Biểu tượng văn hóa thế giới để so

sánh và phân tích Do khuôn khổ Luận văn có hạn nên phần so sánh về ngôn ngữ

văn tự Hán chúng tôi cũng xin hạn chế so sánh ở một số thực từ, phó từ và hiện

tượng phá cách trong Linh dị ký so sánh với LNCQ

5 Đóng góp của luận văn

- Làm sáng tỏ một số về thể tài cốt truyện tác phẩm Nhật Bản linh dị ký

- Làm sáng tỏ những giá trị văn hóa đặc sắc của hai nước qua khảo sát

những nét tương đồng và dị biệt về mô típ, kiểu truyện giữa Nhật Bản Linh dị ký

và Lĩnh Nam chích quái

- Làm sáng tỏ một số đặc trưng ngôn ngữ văn tự Hán của Nhật Bản linh

dị ký và Lĩnh Nam chích quái

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn dự kiến sẽ bao gồm 2 chương:

Chương 1 So sánh Nhật Bản Linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái về thể tài,

cốt truyện

1 Vài nét về Nhật Bản linh dị ký

2 Vài nét về Lĩnh Nam chích quái

3 So sánh về mặt thể tài giữa Nhật Bản linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái

Trang 13

11

3.1 Một số điểm chung về thể tài, kiểu truyện

3.2 Mô hình cấu trúc cốt truyện

3.3 Hệ thống nhân vật

3.4 Motip kỳ ảo

4 Tiểu kết

Chương 2: So sánh Nhật Bản linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái qua một số

đặc điểm ngôn ngữ văn tự Hán

2.2 Hiện tƣợng “phá cách” khi dùng “tại và hữu” ở Linh dị ký

2.3 Hiện tƣợng dùng “tại” và “hữu” trong Lĩnh Nam chích quái

Trang 14

Nhật Bản Linh dị kí (Ghi chép những chuyện linh nghiệm, kỳ lạ của Nhật

Bản) Tên thường gọi là Linh dị kí, tên đầy đủ là Nhật Bản quốc hiện báo thiện ác

Linh dị kí (Ghi chép những chuyện linh nghiệm, kỳ lạ, báo ứng việc thiện, ác của

Nhật Bản) Nhật Bản linh dị kí (từ đây chúng tôi gọi là Linh dị kí) thuộc thể loại

setsuwa (thuyết thoại) (10)

, là một trong những tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng văn học cổ điển của Nhật Bản, phản ánh nhiều mặt của nền văn hóa Nhật Bản thời trung đại

Tác giả của Nhật Bản linh dị ký là Keikai, sư chùa Yakushi, ở phía Nam

Kinh đô Nara Không rõ về năm sinh, năm mất của ông Các nhà nghiên cứu đã

dựa vào các chi tiết có liên quan tới ông trong Linh dị ký (truyện 38, quyển Hạ)

có thể đoán ông sinh vào khoảng đầu năm thời Thiên hoàng Konin (770 - 781)

Các ghi chép trong Linh dị ký cũng giúp suy đoán tác giả đã viết cuốn sách trên

được biên soạn trong khoảng 35 năm, từ năm Enryaku (Diên Lịch) thứ 6 (787), hoàn thành năm Konin (Quang Nhân) thứ 13(822), và đấy cũng là thời gian ông chuyển từ tuổi tráng niên đến tuổi trung hoặc thượng thọ (từ 55 đến 75 tuổi)

10

Setsuwa : là cách gọi chung cho các truyện được kể theo một chủ đề nhất định Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong giới nghiên cứu Trong văn học Nhật Bản, người ta phân loại văn học tự sự thời Thượng đại (khoảng trước sau thời đại Nara, 71- 784) thành thần thoại, truyền thuyết, thuyết thoại Thuyết thoại, ngoài thần thoại và truyền thuyết còn được quan niệm là thể loại có dây mơ rễ má với văn

xuôi tự sự Xem thêm Nguyễn Thị Oanh: Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản Tạp chí Nghiên cứu Văn

học, số 10 (428), tr.89

Trang 15

13

Qua Linh dị ký người ta còn cho rằng ông thuộc dòng dõi Tomono

Miyatsuko, là những “quy hóa nhân”, tức người Triều Tiên hoặc Trung Quốc bị bắt đưa về Nhật qua các cuộc xâm lăng Triều Tiên của Nhật Bản Ông là vị sư tăng tự độ, có vợ con nhưng vẫn xuất gia tu hành Phật đạo Không rõ ông xuất gia năm nào, năm 795 ông vào trụ trì ở chùa Yakushi Ông sống ở huyện Nakusa, tỉnh Ki (nay thuộc tỉnh Wakayama) Do những cố gắng trong việc truyền giáo, năm 788 ông được ban danh hiệu “Truyền đăng trú vị”

Do sống trong một xã hội “bất ổn định, nhiều rối ren, xấu xa ô trọc… đã khiến những người tử tế dường như tuyệt vọng” (Tựa, quyển Hạ), nên Keikai cho rằng: “nếu việc thiện ác không chỉ ra rõ thì lấy gì làm bằng để sửa chữa lệch lạc

và phân biệt đúng sai”; “Nếu không cho thấy sự quả báo, làm sao cải tạo được ác tâm, tu hành theo đạo thiện” (Tựa, quyển Thượng) Vì thế ông ghi chép những truyện báo ứng, làm mọi người thấy rõ thuyết nhân quả báo ứng, “ác giả ác báo,

nhân giả nhân báo” , đó là ý đồ đầu tiên của tác giả khi tác giả biên soạn Linh dị

ký Trong lời Tựa, quyển Thượng, tác giả viết: “Ngày xưa, nhà Hán có Minh báo

ký, nước Đại Đường có Bát nhã nghiệm ký Vì sao phải cẩn trọng nâng niu với

các ghi chép của nước ngoài mà lại không tin những chuyện kỳ lạ của nước mình

Từ những việc tự mình nhìn thấy, không sao ngủ được, bình tâm xem xét, không

thể lặng im bèn tạm ghi những điều nghe được, đặt tên là Nhật Bản quốc hiện

báo thiện ác linh dị ký, làm thành 3 quyển Thượng, Trung, Hạ để lại cho đời

sau” Ghi chép những chuyện lạ của Nhật Bản cũng là mục đích biên soạn của tác giả

Linh dị kí gồm 3 quyển: Thượng, Trung, Hạ Quyển Thượng có 35 truyện;

quyển Trung có 42 truyện và quyển Hạ có 39 truyện, cả thảy có 116 truyện Đầu mỗi quyển là lời Tựa, sau phần lớn mỗi truyện là lời Tán, xen kẽ giữa các truyện

là các đoạn thơ, ca dao Nội dung tác phẩm đề cập đến hầu hết đến mọi mặt của đời sống xã hội “từ thời Thiên hoàng Yuyaku nửa thế kỷ thứ V đến đầu thời Thiên hoàng Saga đầu thế kỷ IX Các truyện xẩy ra trên địa bàn của 37 tỉnh… hai

Trang 16

14

phần ba trong số đó thuộc vùng kinnai (nay thuộc Kyoto, Osaka và Na ra) Có khoảng 200 nhân vật với đầy đủ các giai cấp từ quý tộc, tăng lữ cho đến thứ dân Nhiều nhất là các truyện từ cuối thời Nara (710-784) đến đầu thời Heian (794-1185) (11) Các đề tài như: truyện về các thiền sư, truyện về người có sức khỏe, truyện trả ơn của súc vật, các truyện báo ứng luân hồi, ở hiền gặp lành, làm ác phải chịu quả báo… có liên quan đến sự linh nghiệm của Phật Quan âm, Diệu kiến Bồ tát, Di lặc Bồ tát… đến sự biến hóa của kinh điển và tượng Phật Tất cả các truyện kỳ lạ linh nghiệm đều được dàn dựng gắn với hiện thực trên nền lịch

sử có thật, được tác giả sắp xếp theo trục thời gian từ thời Thiên hoàng Yuryaku (Hùng Lược) (478) cho đến hết thời Thiên hoàng Kanmu(Hằng Vũ) (781-806)

Linh dị kí là tác phẩm đầu tiên miêu tả cuộc sống chân thực của con người trên

nhiều mặt: đấu tranh chống thiên tai bảo vệ mùa màng, nương rẫy; đấu tranh giữa cái thiện và cái ác… Tác phẩm thực sự rung cảm lòng người bởi nét hiện thực sinh động, hấp dẫn bởi nội dung chất phác nhưng không kém phần kỳ vĩ, kỳ ảo của các sự tích Nó làm cho người ta tin theo những sự việc và các các tình tiết hoang đường trong truyện

Ra đời trong bối cảnh Phật giáo và văn hóa Trung quốc được du nhập và

phát triển rực rỡ ở Nhật Bản, Linh dị kí được coi như sản phẩm mang đậm dấu vết của thời kỳ này Các tác phẩm chí quái Trung Quốc đời Tấn như Sưu thần kí,

Trang 17

Từ Linh dị ký có thể dễ dàng nhận ra nét chúng với truyện cổ và truyền

thuyết dân gian thần kỳ của Việt Nam qua các motip như cây thiêng, sinh nở kỳ lạ… hay các kiểu truyện chống thần linh, nhân vật xấu xí mà tài ba, sống lại sau khi xuống âm phủ… Đây là tư liệu quí trong việc nghiên cứu so sánh các nước

có cùng ảnh hưởng văn hóa Hán như Triều Tiên và Việt Nam(13)

2 Vài nét về Lĩnh Nam chích quái

"Lĩnh Nam" chỉ miền đất ở phía nam Ngũ Lĩnh (tức năm dải núi ở Hoa Nam), nơi phát tích và sinh tụ của người Việt cổ xưa "Chích quái", tức nhặt nhạnh những chuyện lạ, chuyện "huyễn tưởng" tới mức ngòi bút chính sử đã lảng tránh không ghi chép Tựu trung lại, "Lĩnh Nam chích quái" là tập sách bao gồm những câu chuyện dã sử có tính chất dân gian sưu tầm được trên đất nước Việt nam thời cổ, "không đợi khắc vào đá, chạm vào gỗ mà đã gắn ghi trong lòng dân, bia truyền nơi miệng người, từ em bé đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều ham thích"

(Lĩnh Nam chích quái liệt truyện tự)

Theo Vũ Quỳnh, tác giả của Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (từ đây gọi là

là Lĩnh Nam chích quái) là những bậc "tài cao học rộng" đời Lý Trần; người nhuận sắc là các vị "bác nhã hiếu cổ đời nay" (Lĩnh Nam chích quái liệt truyện

tự) Vũ Quỳnh không kê cứu và liệt kê tên người soạn thảo, nhưng với 4 truyện:

13

Xem thêm bài giới thiệu: “Nhật Bản linh dị kí – tác giả và tác phẩm” đăng trong sách

Nhật Bản linh dị kí, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999

Trang 18

16

Lý Ông Trọng; Tản Viên; Long Nhãn Như Nguyệt; Tô Lịch, chúng ta có thể

nghĩ tới Lý Tế Xuyên, tác giả sách Việt điện u linh tập Hoặc liên quan tới sự tích

từ đời Hồng Bàng cho đến hết đời Triệu, cùng một nội dung, tính chất và thời

điểm với phần lớn truyện chép trong Lĩnh Nam chích quái, chúng ta cũng có thể nghĩ tới Hồ Tông Thốc, tác giả Việt Nam thế chí Vũ Quỳnh cũng không ghi rõ tên người nhuận sắc, nhưng Đặng Minh Khiêm trong Vịnh sử ký đã nêu tên Trần

Thế Pháp (có thể là người trước hoặc cùng cùng thời với Vũ Quỳnh) đã biên soạn, đúng ra là tập hợp và viết lại một số truyện dân gian được ghi rải rác trong

các sách cổ, làm thành cuốn Lĩnh Nam chích quái lục

Trên cơ sở tư liệu của những người đi trước, năm 1492, Vũ Quỳnh đã làm ra

sách Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gồm 2 quyển, 22 truyện và 1 bài tựa đề năm

Hồng Đức 23 (1492) Các truyện Vũ Quỳnh đưa vào sách, theo lời tựa, gồm có:

1 Hồng Bàng Thị truyện; 2 Dạ Thoa Vương truyện; 3 Bạch trĩ truyện; 4 Kim

quy truyện; 5 Tân lang truyện; 6 Tây qua truyện; 7 Chưng bính truyện; 8 Hà Ô Lôi truyện; 9 Đổng Thiên Vương truyện; 10 Lý Ông Trọng truyện; 11 Nhất Dạ Trạch truyện; 12 Việt Tỉnh truyện; 13 Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không truyện; 14 Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải truyện; 15 Ngư Tinh truyện; 16

Hồ Tinh truyện; 17 Long Nhãn, Như Nguyệt nhị thần truyện; 18 Tản Viên Sơn truyện; 19 Nam Chiếu truyện; 20 Man Lương truyện; 21 Tô Lịch truyện; 22 Mộc Tinh truyện

Sau đó một năm, năm 1493, Kiều Phú cũng hoàn thành một bản LNCQ khác

gồm 22 truyện (cũng vẫn là các truyện Vũ Quỳnh đã chọn) và 1 bài tựa Lần biên soạn này, Kiều Phú không theo lối “thuật nhi bất tác” mà tự mình sửa chữa những chỗ mà theo ông không đúng Chẳng hạn Kiều Phú cho rằng không thể nói thần Tản Viên là con trai Âu Cơ, Đổng Thiên Vương là con Long Quân thác thế,

Lý Ông trọng giả vờ đi tả mà chết (xem lời Tựa của Kiều Phú ở bản LNCQ,

A.1300) Bài tựa không nói rõ sách Kiều Phú chia thành mấy quyển Một số bản

Trang 19

17

Lĩnh Nam chích quái hiện có đã lấy bài Tựa của Kiều Phú làm bài Hậu tự cho

bản Vũ Quỳnh, đây hoàn toàn là một sự gán ghép vô căn cứ

Đến năm 1554, Đoàn Vĩnh Phúc đã chép thêm vào cuối bản Lĩnh Nam chích

quái liệt truyện của Vũ Quỳnh một số truyện nữa, thành Q.3, gọi là "Loại tục", và

viết một bài Hậu bạt Trong bài Hậu bạt, ông đã nói rõ: “sách Lĩnh Nam liệt

truyện không ghi tên tác giả, không biết do vị nho sinh thời nào soạn thảo Bản

hiện hành là của ông Trạch Ổ họ Vũ, người làng Mộ Trạch, một kẻ sĩ thời Hồng Đức, vang danh khoa hoạn, bác học hiếu cổ Ông chia sách thành 2 quyển, mở đầu bằng truyện Hồng Bàng và kết thúc bằng truyện Dạ Thoa, cả thảy 22 truyện Ông có soạn bài tựa đặt ở đầu cuốn liệt truyện Có thể nói đây là một bộ sách kỳ

vĩ Tuy vậy, có một số truyện như Sĩ Tiên, Sóc Vương; một số thần như Thạch Long, Bạch Hạc chưa được đưa vào sách, còn để sót những hạt châu đáng tiếc Ngu tôi vừa qua nhân công việc rỗi rảnh, có mượn một số sách mang về sao chép

để đọc Đối với cái hay của thánh hiền, tinh hoa sông núi, sự kiêu hùng của Trưng trinh nữ, sự linh ứng của Càn thánh phi, cùng các việc liên quan đến thế

giáo, tôi đều kê cứu thêm ở Sử ký của Triệu Công và tham khảo thêm ở sách Việt

điện u linh Lại tìm rộng ra để bổ sung bớt đi những chỗ rườm, làm cho câu

chuyện gọn ghẽ, gần với bộ mặt ban đầu của nó, rồi xếp tiếp sau tập 2, để gia đình tiện đọc"

Đây là một bài Hậu bạt quan trọng, nó cho thấy bản của họ Đoàn được biên soạn lại trên cơ sở bản Lĩnh Nam chích quái liệt truyện của Vũ Quỳnh, ngoài các

đặc điểm đã biết như gồm 22 truyện, 1 bài tựa, chia thành 2 quyển còn một chi

tiết rất đáng quan tâm nữa là sách được mở đầu bằng truyện Họ Hồng Bàng và kết thúc bằng truyện Dạ Thoa Bài Hậu bạt của Đoàn Vĩnh Phúc cũng nói rõ lý

do vì sao ông thêm Q.3 (Loại tục), cùng các nguồn tư liệu mà họ Đoàn đã dựa để làm phần bổ sung này

Sang thế kỷ 18, Vũ khâm Lân lại làm cái công việc mà Đoàn Vĩnh Phúc

trước đó đã làm: tục bổ cho LNCQ Theo đà ấy, cuốn sách có xu hướng trở nên

Trang 20

18

một tổng tập về các mẩu chuyện dân gian cổ thuộc nhiều thời đại, do những tay bút hữu danh hoặc vô danh ở các thế kỷ tiếp sau thực hiện

Cho đến nay, chúng ta được biết tất cả 15 bản LNCQ, trong đó có 9 bản hiện

tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang các ký hiệu A.33; A.750; A.1200; A.1300; A.1752; A.2107; A.2914; VHv.1266; VHv.1473; 1 bản hiện tàng trữ tại Viện Sử học, mang các ký hiệu HV.486; HV.531; 2 bản hiện tàng trữ tại Quốc gia Hà Nội, mang các ký hiệu R.6; R.1607; và 1 bản ở Thư viện Phạm

Quỳnh, kí hiệu H.42 Trong số các dị bản hiện còn, Lĩnh Nam chích quái A.2914

là bản đã đáp ứng được các tiêu chí theo giới thiệu của Lê Quý Đôn và Phan Huy

Chú và là bản sao sớm nhất, có thể từ thời Hậu Lê từ bản Lĩnh Nam chích quái

của họ Đoàn biên soạn vào năm 1554

Như trên đã trình bày, Lĩnh Nam chích quái là tập sách bao gồm những câu

chuyện dã sử có tính chất dân gian sưu tầm được trên đất nước Việt nam thời cổ Nếu lấy Long Biên (nay thuộc Hà Nội) làm trung tâm, chúng ta sẽ thấy ở phía

Đông Bắc có Truyện thần ngư tinh gắn với địa danh Bạch Long Vĩ (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh); Truyện hai vị thần Long Nhãn, Như Nguyệt; Truyện cổ Giếng

Việt (nay thuộc tỉnh Bắc Giang); ở phía tây có Truyện Núi Tản Viên (nay thuộc

Vĩnh Phúc); xuôi xuống phía nam có Truyện Dưa hấu gắn với địa danh Nga Sơn (nay thuộc Thanh Hóa), xuống nữa là Truyện cổ Nam Chiếu nói về miền đất

Thanh Nghệ và một số địa danh hải đảo ngoài khơi biển Đông Tập trung nhiều nhất là các truyện xẩy ra ở đất Thăng Long và các vùng phụ cận đất kinh kỳ xưa,

như Truyện thần Hồ tinh gắn với địa danh Hồ Tây; Truyện sông Tô Lịch, gắn với địa danh sông Tô Lịch; Truyện Lý Ông Trọng gắn với địa danh Thụy Hương, huyện Từ Liêm (Hà Nội); Truyện Đổng Thiên Vương gắn với địa danh làng Phù

Đổng (nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội); Truyện Đầm Nhất Dạ gắn với địa danh Châu Giang (nay thuộc tỉnh Hưng Yên)…

Các nhân vật trong truyện có sự đan xen khá phức tạp, từ nhân vật thần thoại-truyền thuyết (Lạc Long Quân; Đổng Thiên Vương; Sơn tinh Thủy tinh);

Trang 21

19

nhân vật huyền thoại-truyền thuyết như Đồng Tử - Tiên Dung đến các nhân vật lịch sử như Lý Ông Trọng; các nhà sư như: Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải; từ các nhân vật trong triều đình như Hà Ô Lôi, đến các nhân

vật đời thường như anh em Tân, Lang (Truyện cổ trầu cau)…

Các truyện của Lĩnh Nam chích quái tập trung vào các chủ đề chính như:

Truyện về các anh hùng dân tộc; Truyện về nguồn gốc địa danh; Truyện về phong tục; Truyện về tôn giáo và Truyện về bang giao Nhóm truyện về các anh hùng dân tộc mở rộng đến tận ông vua huyền thoại Kinh Dương Vương với một phả hệ phức tạp về thần linh, nhằm chứng minh nguồn gốc dân tộc có từ thời Viêm Đế Thần Nông; nhóm truyện về nguồn gốc địa danh kể về sự ra đời của các vùng đất cổ, như sự ra đời của Hồ Tây và tên gọi núi Bạch Long Vĩ; nhóm truyện phong tục đề cập đến các tục ăn hỏi, cưới xin, tang ma, tục thờ cúng tổ tiên của người Việt cổ, như tục ăn trầu, tục dâng bánh chưng, dưa hấu để cúng tổ tiên ; hay nhóm truyện về những mối quan hệ bang giao của nước Việt cổ với bên

ngoài, như Truyện cổ chim trĩ… Tất cả các truyện đều nhằm khẳng định nước

Việt là nước có lịch sử lâu đời, với phong tục tập quán tín ngưỡng riêng Việc thu

nhặt, ghi chép các câu truyện cổ vào Lĩnh Nam chích quái như biểu tượng về ý

thức tự cường của dân tộc, thể hiện sức sống mãnh liệt của dân tộc được hun đúc qua suốt hàng ngàn năm trước áp lực đồng hóa của phương Bắc lúc nào cũng kề bên

Cũng như các nước trong khu vực văn hóa Hán như Nhật Bản, Triều Tiên,

Hàn Quốc, Lĩnh Nam chích quái cũng chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc Trong lời Tựa, Vũ Quỳnh đã nhắc tới hai tác phẩm của Trung Quốc đó là Sưu

thần ký đời Tấn và U quái lục đời nhà Đường Khi nghiên cứu Lĩnh Nam chích quái các nhà nghiên cứu đi trước cũng đã chỉ ra các truyện có nguồn gốc từ các

sách của Trung Quốc như Truyện Rùa vàng ảnh hưởng của truyền thuyết đất Ba Thục kể chuyện rùa giúp người xây thành; Truyện Hồ tinh cũng thấy ở sách Thụy

ứng, sách Phong thần diễn nghĩa của Trung Quốc… Không chỉ ảnh hưởng về

Trang 22

20

mặt đề tài, kiểu truyện, các motip như sinh nở kỳ lạ, motip thờ đá; motip cây thiêng … cũng chịu ảnh hưởng từ một số tác phẩm nổi tiếng trong văn học cổ

điển Trung Quốc như Sưu thần ký, Thái bình quảng ký…Song, cũng giống với

các nước trong khu vực, người Việt cũng biết tiếp thu chọn lọc và sáng tạo để tạo

ra một bản sắc riêng biệt trong vườn hoa muôn sắc của văn học khu vực

3 Nghiên cứu thể tài của Linh dị ký so sánh với Lĩnh Nam chích quái

Thể tài chỉ kết cấu thơ văn hay nghệ thuật văn phong, tô sức từ ngữ; nó cũng

có nghĩa là dạng thức của văn học, chỉ sự phân loại các thể loại của văn học như thơ, tiểu thuyết, tản văn, kịch(14) Bách khoa danh phiến đã định nghĩa rõ ràng

hơn: “Thể tài tức chỉ tất cả các chủng loại và dạng thức của một tác phẩm nghệ thuật Nếu nói về lịch sử kết cấu nghệ thuật thì chúng đều có một hình thức ổn định Hình thức đó được nẩy sinh và phát triển theo hiện thực phản ánh nghệ thuật đa dạng và nhiệm vụ thẩm mỹ được nhà nghệ thuật nêu ra trong tác phẩm

đó Trong văn học cổ đại Trung Quốc, thể tài có nghĩa là nghệ thuật văn phong,

tu từ của tác phẩm thơ văn” (15) Nói tóm lại thể tài là nói về kết cấu và nghệ thuật của một tác phẩm văn học

3.1 Một số điểm chung về thể loại, đề tài, kiểu truyện

Linh dị ký là tác phẩm ghi chép truyện cổ và truyền thuyết dân gian của

Nhật Bản ra đời trong bối cảnh Phật giáo và văn hóa, văn học Trung Quốc du

nhập ồ ạt vào Nhật Bản Cũng như Sưu thần ký (Tìm tòi, ghi chép về các truyện thần kỳ), Nhật Bản linh dị ký (Ghi chép về các truyện linh dị của Nhật Bản) đã gợi cho ta đến tên một thể tài văn học Ở Nhật Bản, Linh dị ký được xếp vào thể

loại thuyết thoại (setsuwa), là thể loại ghi chép truyện kể và truyền thuyết dân gian, khác với monogatari, tiểu thuyết truyền kỳ Nhật Bản được coi là tiểu thuyết

hư cấu “Tuy được kể thành từng truyện, nhưng vẫn như trước, thuyết thoại chỉ

Trang 23

21

được coi là một thể loại tản văn mang tính "đoản thiên" và "sắp xếp các tình tiết câu chuyện" mà thôi Trong văn học Nhật Bản, thuyết thoại được dùng để gọi chung không hạn định cho loại hình truyện kể dân gian, truyện truyền miệng đã được văn bản hóa Cũng có nghĩa trong văn học Nhật bản, thuyết thoại được sử dụng một cách khá linh hoạt Trong lĩnh vực Dân tục học Nhật Bản, các nhà nghiên cứu ít dùng thuật ngữ thuyết thoại, nhưng đối với những truyện kể dân gian được định hình bằng chữ Hán, thì mọi người lại thường xuyên sử dụng thuật ngữ thuyết thoại Với nghĩa rộng, nó bao gồm cả, truyện kể Phật giáo, truyền thuyết dân gian, truyện cổ tích và truyện thế tục, trong đó có cả truyện cười, truyện châm biếm ” (16)

Linh dị ký vừa ghi chép truyện kể Phật giáo, vừa ghi chép truyền thuyết dân

gian, truyện cổ tích và truyện thế tục Tuy thuộc thể loại setsuwa theo cách phân

loại của Nhật Bản, nhưng cũng như Lĩnh Nam chích quái của Việt Nam, Linh dị

ký gần gũi với thể loại “truyện ký” Về thể loại truyện ký đã có nhiều công trình

nghiên cứu về vấn đề này và cho rằng “các nhà thư tịch học như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và các nhà văn học sử thế kỷ XX không tách ký khỏi “truyện” với học chỉ có cái gọi chung là Truyện ký” (17)

Nghiên cứu về “ký”, có nhà nghiên cứu còn đưa ra mấy tiêu chí để nhận dạng thể ký như: Tác phẩm văn xuôi ghi chép bằng chữ Hán; Tính chất cơ bản là ghi chép “xác thực, tái hiện những điều

“tai nghe mắt thấy”, không loại trừ cả những “hiện thực” ở dạng hoang đường kỳ ảo; Trừ một số ít trường hợp, còn phần lớn có dung lượng không lớn, nhân vật và cốt truyện không rõ rệt…” (18)

Tuy nhiên, cũng có sự phân biệt giữa “ký” và

“truyện” Theo Lịch sử văn hóa Trung Quốc thì “… Nhân sự tạp ký khác truyện,

Trang 24

22

trạng ở chỗ chú trọng ghi việc mà không thả người, chỉ ghi mặt nào đó, không cầu toàn diện” (19)

Đi sâu vào thể loại “truyện”, các nhà nghiên cứu cho rằng:

“Truyện là một chuỗi sự kiện xảy ra liên tiếp cho nhân vật trong không gian và thời gian, có mở đầu, có phát triển và có kết thúc” (20)

Một trong 3 yếu tố hình thành nên thể loại truyện gồm có cốt truyện, nhân vật và motip(21) Tuy nhiên, cốt truyện của truyện kể dân gian có những đặc trưng không giống với cốt truyện trong truyện ngắn hay tiểu thuyết cận, hiện đại Truyện dân gian thường sử dụng những công thức, nghệ thuật sẵn có trong kho tàng văn hóa dân gian như các kiểu

mở đầu, kết thúc và hàng loạt những motip nghệ thuật có sẵn, vì thế, dễ hiểu vì

sao truyện kể dân gian trên thế giới có nhiều nét gần gũi với nhau Linh dị ký tuy không có mối quan hệ trực tiếp với Lĩnh Nam chích quái và các tác phẩm truyền

kỳ, ghi chép truyện kể dân gian khác của Việt Nam như Truyền kỳ mạn lục, Công

dư tiệp ký, Kiến văn lục…, nhưng nhờ sử dụng cốt truyện dân gian nên có nhiều

điểm tương đồng Chúng tôi xin nêu một số đề tài, kiểu truyện tương đồng giữa

hai tác phẩm và giữa Linh dị ký với các tác phẩm khác của Việt Nam như sau

- Kiểu truyện về Nguồn gốc địa danh, như Truyện bắt thần sấm nói về địa danh gò Ikazuchi (tr.1, q.Thượng) trong Linh dị ký, có cùng kiểu truyện với

Truyện thần Hồ tinh (địa danh Hồ Tây); Truyện thần ngư tinh (địa danh Bạch

Long Vĩ); Truyện Đầm Một Đêm (địa danh Đầm Nhất Dạ) trong Lĩnh Nam chích

quái

- Truyện kể về Phong tục :

19

Đàm Gia Kiện (1993, chủ biên): Lịch sử văn hóa Trung Quốc Trương Chính, Thạch

Giang, Phan Văn Các dịch Nxb.KHXH Hà Nội

20

Tăng Kim Ngân: Cổ tích thần kỳ người Việt – Đặc điểm cấu tạo cốt truyện Nxb KHXH,

Hà Nội, 1994, tr.27

21

Trần Thị An: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn Hà Nội 2000, tr 158

Trang 25

23

+ Tục cầu đảo, xuất hiện trong các truyện sau đây: Truyện nhờ cầu nguyện

Quân Âm Bồ Tát được báo đền (tr.6, q.Thƣợng); Truyện gặp thời loạn lạc, kính tin Đức Quan Âm Bồ Tát được báo đền (tr.17, q.Thƣợng); Truyện quy y Tam Bảo, kính trọng các sư, nhờ tụng kinh nên được báo đền (tr 32, q.Thƣợng); Truyện giết bò làm lễ tế thần nơi khác, để chuộc lỗi lầm, lại làm việc phóng sinh, chịu sự quả báo việc thiện ác (tr.5, q.Trung)… trong Linh dị ký có cùng kiểu

truyện với Truyện Đổng Thiên Vương; Truyện Hai vị thần Long Nhãn Như

Nguyệt, trong Lĩnh Nam chích quái

+ Tục cúng thần dịch bệnh, xuất hiện ở các truyện: Truyện quỷ sứ của Diêm

Ma Vương nhận của đút tha cho người bị bắt (tr.24, q.Trung); Truyện quỷ sứ cung Diêm Ma Vương báo đền ơn được mời cơm (tr.25, q.Trung) trong Linh dị

ký, có thể so sánh với Truyện tướng Dạ xoa trong Truyền kỳ mạn lục

+ Tục cúng ông bà tổ tiên, xuất hiện ở các truyện Truyện chiếc đầu lâu bị

người và súc vật dẫm đạp được chuyển đi nơi khác linh ứng báo ơn (tr.12,

q.Thƣợng) trong Linh dị ký, có cùng kiểu truyện với Truyện cổ bánh chưng bánh

dầy; Truyện cổ dưa hấu)

+ Tục ở rể , xuất hiện ở Truyện cần mẫn quy y tín ngưỡng Phật Quan Âm,

cầu nguyện phúc lành được gặp may mắn ở đời (tr.31, q.Thƣợng), có thể so sánh

với Truyện cổ Rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái

- Truyện kể về nhân vật:

+ Truyện về các nhân vật lịch sử: nhƣ Truyện những biểu hiện khác thường

của Thánh đức Thái tử (tr.6, 4, q.Thƣợng) kể về Thái tử Shotoku; Truyện cậy ngôi vị cao đánh nhà sư địa vị thấp hèn bị quả báo tội chết ( tr.1, q.Trung ) kể về

Thái tử Nagayano Okimi, có thể so sánh với truyện Truyện Lý Ông Trọng trong

Trang 26

24

Lĩnh Nam chích quái và mục “Nhân vật” trong sách Công dư tiệp ký, và truyện

về các nhân vật trong Kiến văn lục…

+ Truyện về các nhà sư, như Truyện nhà sư siêng tụng niệm kinh Bát nhã

tâm được ứng nghiệm có chuyện lạ xuất hiện (tr.14, q.Thượng); Truyện Đại dức Gyogi phóng tuệ nhãn mắng đuổi cố gái khi thấy trên đầu cô ta bôi dầu lợn rừng

(tr.29, 30, q.Trung) … có thể so sánh với truyện Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh

Không; Nguyễn Giác Hải, Dương Không Lộ trong Lĩnh Nam chích quái

- Truyện về thần, ma quỉ:

+ Thoái trị ma quỷ : như Truyện bắt thần sấm (tr.3, q.Thượng) ; Truyện chú

bé có sức mạnh nhờ sự trả ơn của thần sấm (tr.3, q.Thượng) có thể so sánh với Truyện cổ rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái ; Truyện Cường Bạo Đại vương

trong Công dư tiệp ký, Truyện Đánh ma trong Kiến văn lục)…

Trở lên là một số đề tài, kiểu truyện có sự tương đồng giữa Linh dị ký và

Lĩnh Nam chích quái Có thể thấy Linh dị ký tuy không có mối quan hệ trực tiếp

với Lĩnh Nam chích quái và các tác phẩm truyện ký khác của Việt Nam song do

đều là tác phẩm ghi chép truyện cổ và truyền thuyết dân gian, lại chịu ảnh hưởng của truyện kể Phật giáo và văn học Trung Quốc nên có nhiều điểm tương đồng về

đề tài, kiểu truyện

3.2 Mô hình cấu trúc cốt truyện

Cốt truyện « Là hệ thống hoàn chỉnh các sự việc và hành động chính trong tác phẩm tự sự và kịch Cốt truyện hình thành từ những quan hệ phức tạp, chồng chéo giữa nhân vật và hoàn cảnh, nhân vật và nhân vật, vừa bộc lộ tính cách nhân vật, vừa phản ánh các mối quan hệ xã hội… » (22)

Thông thường, các tác phẩm ghi chép truyện dân gian giai đoạn đầu của dòng văn học mỗi nước thường chưa

22

Từ điển Văn học Nxb KHXH Hà nội 1983, Tập I, tr.161

Trang 27

25

chú ý đúng mức tới cốt truyện Linh dị ký cũng như vậy, tuy yếu tố hoang đường

kỳ ảo được sử dụng như là một biện pháp nghệ thuật chính, nhưng do ghi chép

“một cách khách quan”, “không hư cấu”, “hoàn toàn tự nhiên” từ câu chuyện trong dân gian nên nó có nhiều điểm tương đồng với thể loại ghi chép truyện cổ

và truyền thuyết dân gian Trung Quốc và Việt Nam Đặc điểm chung của thể tài này là các chuyện quái dị, hoang đường thường được ghi chép gắn với các sự kiện lịch sử có thật Các câu chuyện mà nó ghi chép đều mang ý nghĩa chứng sử, mượn hình tượng nghệ thuật trong văn học để phản ánh lịch sử

Linh dị ký có mô hình kết cấu cốt truyện như thế nào ? Nó có điểm chung và

riêng ra sao so với Lĩnh Nam chích quái ? chúng ta tiếp tục tìm hiểu vấn đề này

sinh con) (tr.2, q.Thượng) “Duyên” theo Hán ngữ đại từ điển có nghĩa là

“nguyên cớ, lý do” “Duyên” còn có nghĩa “nhân duyên”, là từ Phật giáo, với nghĩa là mọi sự vật hiện tượng khi sinh ra hoặc mất đi đều có nguyên nhân, đó là

“nhân”, còn những điều kiện phụ trợ thêm vào đó gọi là “duyên” (Hán ngữ đại

từ điển, tr.5707) Khác với chữ “truyện” trong Hồng bàng thị truyện, Ngư tinh thần truyện; Mộc tinh thần truyện… đã cho thấy ngay tính chất của tác phẩm

thuộc thể loại “truyện ký”, nhưng chữ “duyên” trong Linh dị ký thì không cho thấy điều đó Lẽ đương nhiên, chữ “ký” trong tên tác phẩm Nhật Bản linh dị ký

đã cho biết tác phẩm thuộc thể loại “truyện ký”, nhưng chữ “duyên” cuối cùng trong tên từng truyện đã không cho thấy tính chất thể loại tác phẩm Như trên đã

trình bày, mục đích và ý đồ biên soạn của tác giả Linh dị ký là ghi chép những

Trang 28

26

truyện báo ứng, làm mọi người thấy rõ thuyết nhân quả báo ứng, “ác giả ác báo, nhân giả nhân báo” theo thuyết của Phật giáo, vì thế dùng chữ “duyên” (duyên cớ) vừa chỉ ra nguyên nhân gây ra câu chuyện mà tác phẩm sưu tầm, ghi chép, vừa cho thấy ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo vào tác phẩm Nếu so với tên

truyện trong tác phẩm Sưu thần ký của Trung Quốc như “Vu Cát thỉnh vũ” (Vũ

Cát cầu mưa) (tr.14, q.1); “Đỗ Lan Hương dữ Trương Truyền” (Đỗ Lan Hương

và Trương Truyền) (tr.22, q.1)… cũng dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa Linh dị

ký với Sưu thần ký

3.2.2 Hình thức bố cục cốt truyện

Nội dung của Linh dị ký xoay xung quanh những đề tài chính như: truyện

linh dị của Thần, Phật, Phật tượng, kinh điển; truyện nhân quả báo ứng ; truyện kết hôn với động vật ; truyện chống lại thần linh ; truyện thi thố tài năng ; truyện nhân vật lịch sử …

Cũng như các truyện ký khác, bố cục truyện của Linh dị ký được chia làm 3

phần: Mở đầu – Diễn biến - Kết thúc

Phần Mở đầu với câu mào đầu chủ yếu nêu rõ thời gian, địa điểm, họ tên nhân vật… xẩy ra câu chuyện Khác với truyện cổ tích thường bắt đầu câu chuyện bằng: “Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ, có một cô gái,…”, đó là cách nói về thời gian, không gian vô định, nhân vật khái quát, thường chỉ một loại

người trong xã hội, Linh dị ký giống với Lĩnh Nam chích quái cũng bắt đầu câu

chuyện bằng không gian, thời gian và nhân vật cụ thể, được xác định Hầu hết các

truyện trong Linh dị ký đều có cách mở đầu theo công thức này Theo thống kê, ở

Linh dị ký chỉ có 5 truyện trên tổng số 116 truyện từ mào đầu là chữ “tích” (Ngày

xưa – tức không rõ về ngày tháng, năm xẩy ra sự kiện), số còn lại đều ghi rõ là

“Vào thời …”, “Ở… có người tên là….” Nếu so sánh với Sưu thần ký của Trung

Quốc chúng ta cũng thấy có nhiều điểm tương đồng

Trang 29

27

Bảng so sánh cách mào đầu của ba tác phẩm Linh dị ký, Lĩnh Nam chích

quái và Sưu thần ký

Sư tăng đại đức Jio của

chùa Gango ở kinh đô

người ở Rokujo, thuộc

phía trái kinh đô Nara

(Truyện do quỷ sứ của

Diêm Ma Vương nhận

của đút nên tha cho

(tr.24.q.Trung)

Cuối thời Hùng Vương,

có người ở Thụy Hương,

huyện Từ Liêm (Truyện

Lý Ông Trọng) (tr.1,

q.Trung)

Đoàn Ế tự là Nguyên Chương, người huyện Tân Đô, quận Quảng hán

(Bức phong thư của

Đoàn Ế)(tr.50, q.3)

Trang 30

28

Cách vào đầu câu chuyện được ghi như trên nhằm khẳng định “câu chuyện xẩy ra là có thật”, nhờ có tên người và địa điểm rõ ràng khiến người ta dễ tin theo

nội dung câu chuyện, kể cả tình tiết hoang đường Cốt truyện trong Linh dị ký

vừa dùng yếu tố hạt nhân “kỳ”, lại kết hợp với việc ghi chép rõ ràng về thời gian,

địa điểm để đạt được sự “chân thật” Lĩnh Nam chích quái cũng như vậy Trong lời Tựa, Vũ Quỳnh viết: “việc tuy kỳ dị nhưng không quái đản, tuy thần kỳ mà

không nhảm nhí, dẫu có phần hoang đường không nghiêm, nhưng tông tích

truyện có thể làm bằng cứ được” (Tựa Lĩnh Nam chích quái)

Cũng như các thể tài văn học khác, cốt truyện trong Linh dị ký đóng vai trò

rất quan trọng, nó hấp dẫn và lôi cuốn độc giả bằng đặc trưng riêng, đó là sử dụng cốt truyện dân gian đơn giản, các nhân vật không có diễn biến tâm lý phức tạp, chủ yếu lấy yếu tố « kỳ » làm chất liệu xây dựng nhân vật và cốt truyện Ở điểm này nó cũng giống với đặc trưng của chí quái của Trung Quốc, mà không thể tài văn học nào sử dụng công thức này

Ở phần Diễn biến, trong Linh dị ký, hầu hết diễn biến của truyện đều gắn với

hành động của nhân vật, xoay quanh nhân vật là các yếu tố kỳ ảo Ví dụ, truyện

kể về một người lấy cô gái xinh đẹp làm vợ, sau khi sinh con bị con chó trong nhà cắn phải hiện nguyên hình là con hồ ly chạy trốn (tr.2, q.Thượng) ; truyện chú bé con do thần Sấm sinh ra có thể chế ngự ma quỷ ở chùa Kango (tr.3, q.Thượng); truyện Thiền sư Gusai chuộc rùa được rùa cứu sống khi bị bọn cướp vứt xuống biển (tr.7, quyển Thượng); truyện Yoshimichi bị điếc nhờ thành tâm tụng kinh Phương Quảng hai tai trở nên nghe được (tr.8, q.Thượng)… ; Các truyện quái dị như người biến thành bò (tr.20, q.Thượng ; tr.9, q.Trung…) ; truyện bức tranh Phật bị ăn trộm hóa thành tiếng kêu của loài vật báo cho sư ni biết chỗ để tìm lại (tr.35, q.Thượng); truyện pho tượng đồng cất tiếng kêu rên báo cho người đi đường biết chỗ bọn trộm cắp cất giữ (tr.22, q.Trung)…

Trang 31

29

Tương tự như thế, các nhân vật trong Lĩnh Nam chích quái cũng được mô tả

gắn với yếu tố thần kỳ “linh dị”, như truyện chú bé lên ba tuổi, không biết nói, cười … sau khi nghe tin giặc sang xâm lược đã vụt hóa thành người khổng lồ,

dẫn đầu đoàn quân, đánh tan quân giặc (Truyện Đổng Thiên Vương) ; truyện

Thiền sư Minh Không nấu nồi cơm mấy trăm người đi thuyền ăn không hết

(Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không) ; truyện rùa vàng diệt ma quỷ, giúp vua An Dương Vương xây thành (Truyện cổ rùa vàng) ; truyện thần sông Tô Lịch đánh tan đạo bùa do Cao Biền yểm (Truyện Sông Tô Lịch) … Tuy nhiên, đứng trước nạn đồng hóa của phương Bắc lúc nào cũng kề bên, tác giả Lĩnh Nam

chích quái đã sưu tầm ghi chép truyện dân gian với mục đích nhằm khẳng định

Việt Nam là quốc gia có quốc thống dài lâu, cương vực, bờ cõi rõ ràng, phong tục tập quán có từ xa xưa … nên lẽ đương nhiên tác phẩm có nhiều điểm khác với

Linh dị ký Nhưng đi sâu vào nội dung cốt truyện, chúng ta sẽ thấy nhiều điểm

tương đồng trong việc sử dụng các motip dân gian Phần này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích ở các mục tiếp theo

Phần kết của các truyện trong Linh dị ký thường là lời nhận định, đánh giá,

ca ngợi những việc làm thiện, hoặc lời giáo huấn, răn đe những kẻ có tội, đặc biệt các việc liên quan thuyết « nhân quả báo ứng » của đạo Phật Trong khi đó, ở

phần kết các truyện trong Lĩnh nam chích quái lại không có lời bình luận của tác giả Đây là điểm khác biệt nhất so với Linh dị ký Tuy lời bình luận ở cuối mỗi truyện cũng đã thấy xuất hiện ở một số tác phẩm thời Trần như Việt điện u linh,

Nam ông mộng lục, cho dù mới dừng ở các câu ca ngợi với nội dung ngắn gọn

như : « Hai miếu ấy đến nay hương hỏa bất tuyệt, linh ứng đã rõ từ lâu » (Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế) (23)

; « Tuy các phi tần đời trước của nhà Trần cũng lắm người hiền đức nhưng người như phi này sinh sau mà gần như hơn hẳn

23

Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam Nxb Thế giới Hà Nội 1997 Tập I, tr.65

Trang 32

chuyện quái, sợ loạn chuyện thường, cho nên thánh hiền không nói Nhưng việc

Từ Thức lấy vợ tiên, cho là thực không ư ? Chưa hẳn là không ; cho là thực có

ư ? chưa hẳn là có Có không lờ mờ, câu chuyện tự hồ quái đản Nhưng có âm đức thì tất có dương báo, cũng là lẽ thường Những bậc quân tử sau này khi để mất đến sẽ liệu mà thêm bớt, bỏ chỗ quái mà để chỗ thường thì phỏng có gì mà hại » (25)

Ở Trung Quốc, trong các tác phẩm truyền kỳ thời nhà Đường, lời bình của tác giả được viết đã khá sâu sắc, nhưng trước đó cũng có thể tìm thấy một số bình

luận trích từ các sách nhằm răn dạy và giáo huấn… trong Sưu thần ký (chủ yếu

xuất hiện ở q.6, tuy nhiên số lượng rất ít) Xin xem bảng so sánh dưới đây :

Nhân quả báo ứng chẳng quả đã rõ ràng

Lẽ nào chúng ta lại nghĩ là chuyện không

có thật (Truyện do lấy trộm của con sau

biến thành con bò kỳ lạ) (tr.10, q.Thượng)

Dịch truyện của Kinh Phòng nói :

« Vua gian lận bổng lộc, không giữ chữ tín nên người hiền bỏ đi, cho nên có điềm quái gở mưa ra cỏ »

Trang 33

31

người có nhân Làm người không thể

không có lòng nhân hậu (Truyện do người

đàn ông không có lòng từ bi, lột da thỏ

sống bị quả báo) (tr.16, q.Thượng)

theo »(Chó gây họa trong nhà) (tr.135, q.6)

Vì vậy trong Thành thực luận viết rằng :

« Nếu vay mượn của người không trả, sẽ

biến thành các loại gia súc như chó, dê,

hươu, ngựa để trả lại nợ của kiếp trước »

là nói về chuyện này vậy (Truyện do vay

rượu sinh lợi của chùa không trả, chết

biến thành bò, làm trả nợ) (tr.32, q.Trung)

Kinh dịch nói : « Chim đốt tổ của

mình là điềm lữ khách ban đầu cười nói vui vẻ, sau lại khóc hu hu » Sau rốt cuộc gặp họa thay đổi triều đại

(Chim tự đốt tổ giết chim con)(tr.136, q.6)

Trong kiểu truyện về thiền sư, sách Linh dị ký còn xuất hiện các bài tán thay cho lời kết thúc truyện Có thể nêu một thí dụ : ở phần cuối của truyện : Truyện

một người chuyên cần học đạo Phật, hoằng dương Phật pháp, đem lại lợi ích cho mọi người, khi sắp mất xuất hiện điều kỳ lạ (tr 22, q.Thượng) có đoạn kể về

Pháp sư Dojo sang Trung Quốc học đạo Phật, trở thành đệ tử của Huyền Trang Tam Tạng Sau khi trở về nước ông hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng dân Trí tuệ của ông như một viên ngọc không vết xước, tri thức của ông sáng rọi như gương Khi ông gần mất, phòng của ông xuất hiện luồng ánh sáng chiếu rọi sáng

cả một phía cây thông trong sân chùa Khi ánh sáng đó bay về phương Tây cũng

là lúc Pháp sư qua đời Lời tán rằng : « Đại đức Do sho, Tên họ Funa, Rạng ngời đức hạnh, Đi xa cầu Phật, Bậc thánh phi phàm, Mất còn tỏa sáng »

Thông thường các bài tán tuy có độ dài, ngắn khác nhau, nhưng đều là những lời bàn luận, ca ngợi tôn vinh nhân vật, hoặc đúc kết lại những điều đã kể

Trang 34

32

về nhân vật thiền sư Truyện thấy quạ tà dâm, ghét thói đời bỏ đi tu đạo

Phật cũng có bài tán như sau : « Mẫu mực thay, Ông họ Chinu no Agatanushi,

Thấy chim quạ tà dâm, Chán đời xa trần tục, Trong giả dối phù hoa, Tấm thân luôn trong sạch, Chuyên cần tu đạo Phật, Nguyện cầu trí tuệ minh, Miền cực lạc vãng sinh, Thế giới này giải thoát Kỳ tú thay ẩn sĩ » (tr.2, q Trung)

So sánh với 4 truyện về thiền sư ở Lĩnh Nam chích quái đều không xuất hiện

lời tán ở phần kết thúc, nhưng lại thấy ở phần kết thúc đoạn truyện Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải có đoạn : « Xưa, ông cùng Không Lộ về

Hà Trạch, tìm về chùa của Không Lộ Thời Lý Nhân Tông thường cùng Đạo Huyền chân nhân vào ngồi hầu ở chùa Lương Thạch ở Liên Bồng Mộng Bỗng

có đôi tắc kè gọi nhau, đinh tai nhức óc Vua lệnh cho Huyền niệm chú, một con rơi xuống trước Vua cười bảo : « Còn một con để cho nhà sư » Nhà sư Giác Hải bền niệm chú, trong chốc lát con kia cũng rơi xuống nốt Vua lạ lắm bèn làm bài tán rằng : « Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo diệc huyền, Thần thông năng biến hóa, Nhất Phật nhất thần tiên (Tạm dịch : Giác Hải lòng như biển, Thông Huyền đạo lại huyền , Thần thông thêm biến hóa, Nhất Phật nhất thần tiên)

Kiểu truyện thiền sư trong Linh dị ký có cốt truyện khá đơn giản, nhưng tất

cả đều tuân theo một kết cấu khá hoàn chỉnh, có mở đầu (ở đâu, tên gì), diễn biến (tài năng, đức độ, công trạng, điều kỳ lạ) và kết luận (lời bình luận của tác giả),

trong khi đó kiểu truyện thiền sư trong Lĩnh Nam chích quái đã có xu hướng xâu

chuỗi, lắp ghép nhiều mảnh truyện dân gian thành một truyện, khiến cho truyện gồm nhiều mạch truyện, phát triển theo nhiều khuynh hướng mà mới nhìn qua không thể phân biệt được đâu là chất keo dán chìm được dùng để quy tụ các mảng về một hướng Người kể chuyện đã thể hiện một sự thâu nhặt rộng rãi các

Trang 35

33

truyện trong dân gian, mục đích cuối cùng là nhằm làm dày thêm công trạng và linh thiêng hóa nhân vật được tôn vinh

3.2.3 Về các bài thơ đồng dao, sấm ký

Trong Linh dị ký còn xuất hiện các bài thơ, đồng dao, ở thời kỳ này cũng được nâng lên thành phương thức diễn tả nội tâm nhân vật Khi viết Linh dị ký,

tác giả Keikai đã dựa vào nguồn sử liệu và dân ca được sáng tác trong dân gian

Ở Nhật Bản, ca dao xuất hiện rất sớm Nó ra đời gắn với nghi lễ cung đình, gắn

với lễ hội các miền quê và sinh hoạt thực tiễn của nhân dân lao động Trong Linh

dị ký nếu ở Truyện lấy vợ hồ sinh con (tr.2, q.Thượng) ; Truyện những biểu hiện khác thường của Thánh đức Thái tử (tr.4, q Thượng), tác giả dùng lời ca giầu

chất trữ tình, thì ở Truyện sư tăng có tri thức, tu hành đắc đạo được đâì thai trở

thành con của Thiên hoàng (tr.38, q.Hạ), tác giả sử dụng đồng dao có tính điềm

báo, sấm ký Những bài thơ, đồng dao này thường đều liên quan đến sự kiện chính trị - xã hội quan trong như những lời dự báo, dự đoán trước về vận mệnh của đất nước, về việc thay đổi ngôi, hoặc mang ý nghĩa phê phán xã hội, thể hiện nguyện vọng của nhân dân trước các sự kiện chính trị và nhân vật đương thời Chúng ta có thể điểm qua một vài bài và hoàn cảnh xuất hiện của chúng

Vào thời Thiên hoàng Somu trị vì thiên hạ ở ung Na ra Thiên hoàng muốn cho con mình là Abeno Kimemiki và Funadono Miko, cháu của Thiên hoàng Tenmu lên nối ngôi bèn ngời nakamaro giữ chức Đại nạp ngôn tới uống rượu rồi lệnh cho Nakamaro thề ràng sau khi Thiên hoàng băng hà phải đưa hai người trên nối ngôi Nakamaro giữ đúng lời hứa đưa Funadono Miko lên ngôi Lúc đó trong dân gian có lời ca rằng :

« Ôi, thân vương đã mất đi tuổi thanh xuân,

Thân vương bất hạnh sẽ còn để mất đi nữa

Trang 36

ta Bài hát đó là điềm báo trước thân vương này sẽ diệt vong

… Lại nói vào thời Thiên hoàng Sotoku trì vì đất nước ở cung Nara, người trong nước thường hát bài :

« Đường dốc Yamabe thẳng đến cung Fujiwara,

Hãy đừng đi mạnh chân, dù đó là đường đồi,

Vì có tên cao quý gọi là Yamabe

Sau đó quả thật vào ngày 15, tháng 4, năm Teno thứ nhất (781), Yamabeno Miko tức Thiên hoàng Kanmu lên ngôi Có thể biết bài hát đó là điềm báo trước

sự kiện nói trên

Thực tế, các bài đồng dao sấm ký trong Linh dị ký tuy xuất hiện ít, nhưng

cũng là một bộ phận quan trọng của tác phẩm Nó gắn với một thời kỳ mà các truyện dân gian thường được đặt trong không khí của huyền thoại, một không gian văn hóa đậm chất tâm linh Lý giải sự có mặt của các bài đồng dao sấm ký

trong Linh dị ký cũng cần thiết mở rộng tìm hiểu vấn đề này ở Trung Quốc thời

cổ đại Các nhà nghiên cứu cho rằng « sấm ký », « phù sấm » « dao sấm »… đều thuộc sấm vĩ, một học thuyết hóa kinh học, thần học ra đời từ thời kỳ Lưỡng Hán

« Sấm là những lời nói bí ẩn, giả thác lời nói của thần tiên hay thánh nhân để dự

Trang 37

35

báo việc lành dữ, tiên liệu về việc chính sự » Trước thời Hán ở nước Yên, Tề có phương sĩ rất giỏi làm « sấm ngữ » Vào thời Tần Thủy Hoàng có phương sĩ Lư Sinh ra biển cầu tiên, mang về sách « Đồ lục », trong sách có ghi lời sấm dự báo

« Kẻ làm mất nhà Tần chính họ Hồ » Sách Sử ký còn có cả mục « Tần sấm » (26)

Trong Sưu thần ký cũng xuất hiện các bài thơ đồng dao, sấm ký Có thể nêu

một ví dụ : « Cuối thời Hán Linh đế, ở kinh thành lưu truyền bài ca dao noi :

« Hầu chẳng ra hầu, Vương chẳng ra vương, Xe ngựa ngàn vạn, Đều đến Bắc mang » Vào năm thứ 6 niên hiệu Trung Bình, Lại hầu (tức Thiếu đế Lưu Biện) lên ngôi thiên tử Bấy giờ hán Hiến đế còn chưa phong tước nên bị bọn Trung thượng thị Đoàn Khuê bắt đi Các công khanh bá quan triều đình đều đi theo sau,

đến bờ sông Hoàng Hà mới được trở về » (Bài ca dao trong kinh thành) (tr.165,

q.6) Theo các nhà nghiên cứu, đồng dao, sấm ký tuy chưa phải là đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết chí quái, song cũng có thể thấy, trong xã hội có nhiều chuyện

quái dị như xã hội của Sưu thần ký thì việc sử dụng các bài sấm bí ẩn chủ yếu để

« hư hư thực thực một hiện tượng xã hội »

Khác với thơ sấm ký Trung Quốc viết bằng chữ Hán, các bài thơ đồng dao

trong Linh dị ký tuy được viết bằng chữ Hán nhưng là chữ Hán ghi âm tiếng

Nhật, tác giả phải chua thêm chữ katakana để biểu thị các trợ từ trong tiếng Nhật

và đọc chúng bằng tiếng Nhật

Ở Việt Nam, trong sách Thiền uyển tập anh và Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ

nhà Lê, xuất hiện khá nhiều bài thơ sấm ký Ông Nguyễn Đổng Chi trong sách

Việt Nam cổ văn học sử đã dành cả mục 5 : Vỡ tổ sấm ký để phân tích về hiện

26

Sấm vĩ ở Trung Quốc Tài liệu mạng http://baike.baidu.com/view/18439.htm

Trang 38

36

tượng này(27) Nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung có bài Thơ sấm thời Lý (28)để bình luận về vấn đề sấm ký và những vấn đề liên quan

Xưa nay, khi nghiên cứu về sấm ký, các nhà nghiên cứu trong nước dường

như không ai nhắc tới Lĩnh Nam chích quái Lĩnh Nam chích quái là tác phẩm ghi

chép truyện dân gian, thuộc thể loại « truyện ký », liệu tác phẩm có tuân theo những đặc trưng của thể loại này không ? Tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi thấy tuy không có thơ « sấm » đoán về sự lên ngôi của nhà Lý như trong một số tác phẩm nói trên, song bài thơ « Nam quốc sơn hà Nam đế cư » có thể coi là bài thơ

« sấm » Bài thơ thác lời thần để dự báo về sự thất bại thảm hại của quân Tống

xâm lược Bài thơ có nhiều dị bản, song bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái,

A.2914 có thể do Thiền sư Khuông Việt sáng tác để cổ vũ tinh thần của quân dân nước Việt và làm lung lay ý chí chiến đấu của quân thù Bài thơ như sau :

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư,

Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,

Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ

(Sông núi nước Nam vua Nam ở,

Hoàng thiên đã định ở sách trời,

Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm,

Sẽ gặp cuồng phong quét tả tơi) (29)

Nguyễn Thị Oanh: Tìm tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà Thông báo Hán Nôm học năm

2008 Viện Nghiên cứu Hán Nôm 2009, tr.776-793

Trang 39

37

Bài thơ nói đến quyền độc lập tự chủ của nước ta, trước hết là từ trong

“thiên thư”, do trời và thần công nhân Nền độc lập và chủ quyền đó đã được trời

và thần xác lập thì nó sẽ tồn tại một cách vững chắc, bất khả xâm phạm “Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ” (Sẽ gặp cuồng phong quét tả tơi) là câu dự báo, bất kể

kẻ nào làm phương hại đến nền độc lập tự chủ đó sẽ bị trời và thần trừng trị Chưa cần nhờ đến sức mạnh của con người, chỉ với sức mạnh của thần linh, của hồn thiêng sông núi thì bọn ngoại xâm đã phải thảm bại “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là điều kiện để dân tộc ta làm nên những chiến công lừng lẫy trước các cuộc xâm lăng của đế chế phương Bắc Để nhấn mạnh sự trợ giúp cả thần linh trong việc “điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định số phận cho muôn loài”, người xưa đã đặt chữ “thiên” lên đầu coi là điều kiện tiên quyết Đứng trước thế giới bí ẩn của thế giới tự nhiên, con người thời cổ đại thường đặt niềm tin vào những giá trị mà họ cho là thiêng liêng Đồng dao, sấm ký thường ra đời trong không gian huyền thoại và đậm chất tâm linh như thế

3.3 Hệ thống nhân vật

Ngoài cốt truyện, nhân vật là yếu tố thứ hai quan trọng để hình thành nên

thể loại “truyện” Linh dị ký cũng như các tác phẩm ghi chép truyện dân gian giai đoạn đầu ở các nước như Lĩnh Nam chích quái, Sưu thần ký đều cập tới tất cả các

loại người trong xã hội, từ quý tộc trong triều đình, tăng lữ cho đến người dân nơi thôn dã Nhiều nhất vẫn là truyện về những người bình thường do việc thiện, ác mà được báo đáp hoặc phải chịu quả báo theo tín ngưỡng đức Phật Tuy nhiên, các nhân vật mới chỉ được miêu tả về hành trạng, vẻ bên ngoài, hành động việc làm

mà chưa được chú trọng vào việc miêu tả nội tâm hay diễn biến tâm lý Do được xây dựng gắn với yếu tố “kỳ” nên phần lớn các nhân vật này đều có những hành động, việc làm kỳ dị khác với người thường hoặc có những đặc điểm khác thường

Trang 40

38

Trong mục này, chúng tôi đi sâu phân tích hệ thống nhân vật thần kỳ trong

Linh dị ký, so sánh với Lĩnh Nam chích quái và Sưu thần ký để tìm ra những điểm

chung, riêng trong việc xây dựng nhân vật thần kỳ ở ba nước Trong thể loại

setsuwa nói chung và trong Linh dị ký nói riêng, nhân vật tuy chưa được xây

dựng bằng cách chú trọng khắc hoạ tính cách, tâm lý, mà chủ yếu xuất hiện đi liền với những hiện tượng kỳ quái, hoặc liên quan đến những sự việc hoang đường kỳ ảo Yếu tố hoang đường kỳ ảo được sử dụng như một phương thức nghệ

thuật chính làm nên đặc trưng và cũng chính là yếu tố bất biến của Linh dị ký Trong Linh dị ký nhân vật chủ yếu là con người nhưng mang yếu tố kỳ quái Nhân vật trong Linh dị ký không phải là những con người khổng lồ, được xây

dựng bằng nét hoang đường kỳ ảo, hào hùng kỳ vĩ như nhân vật trong thần thoại,

mà giản dị, gần gũi với đời thường, cho dù các yếu tố có tính chất thần kỳ được tác giả khoác thêm nhằm làm cho truyện thêm ly kỳ hấp dẫn, nhân vật được đề cao Tuy không có hành động kỳ vĩ với những thân thể đồ sộ , vũ khí khổng lồ nhưng các nhân vật vẫn mang dáng dấp anh hùng của thần thoại qua mô típ sinh nở thần

kỳ với các yếu tố kỳ ảo

Chúng tôi xin lần lượt phân tích một số cách xây dựng nhân vật thần kỳ như sau

3.3.1 Nhân vật chống thần linh

3.3.1.1 Nhân vật “bắt thần sấm” hay “đánh lui thần sấm”

Truyện bắt thần sấm (tr.1, q.Thượng) kể về nhân vật Sugaru thuộc dòng họ

Chisakobe là cận thần tâm phúc hộ vệ cho Thiên hoàng Yuryaku Khi thiên hoàng

ái ân với hoàng hậu cung điện daian, trong không trung bỗng vang lên tiếng sấm Thiên hoàng sợ hãi bèn lệnh cho Sugaru đi bắt thần Sấm Sugaru phụng mệnh ra

đi, khi đi đến pho Morokoshi ông lớn tiếng gọi thần sấm Khi quay trở về, ông đã

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  so  sánh  cách  mào  đầu  của  ba  tác phẩm  Linh  dị  ký,  Lĩnh  Nam  chích  quái và Sưu thần ký - So sánh Nhật Bản linh dị ký với Lĩnh Nam chích quái
ng so sánh cách mào đầu của ba tác phẩm Linh dị ký, Lĩnh Nam chích quái và Sưu thần ký (Trang 29)
Bảng thống kờ trường hợp ô tại ằ và ô hữu ằ trong Linh dị ký và Lĩnh Nam - So sánh Nhật Bản linh dị ký với Lĩnh Nam chích quái
Bảng th ống kờ trường hợp ô tại ằ và ô hữu ằ trong Linh dị ký và Lĩnh Nam (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w