Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đã có một số khóa luận tốt nghiệp, một số luận văn nghiên cứu về giáo dục đào tạo Việt Nam, về những góc độ tác động của báo chí đến lĩnh vực gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ƯNG SƠN CA
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ
CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
(KHẢO SÁT TRÊN MỘT SỐ TỜ BÁO IN TỪ NĂM 2002 ĐẾN 2004)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS DƯƠNG XUÂN SƠN
TP HỒ CHÍ MINH 11 2006
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 1 Giới thiệu chung về giáo dục đào tạo và vai trò của giáo dục đào tạo ở Việt Nam 7
1.1 Những thành tựu của giáo dục đào tạo 9
1.2 Hạn chế, yếu kém 12
1.3 Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 17
2 Giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam 22 3 Một số vấn đề liên quan đến Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay 26
3.1 Chất lượng giáo dục đại học 28
3.2 Xã hội hóa giáo dục đại học 33
3.3 Vấn đề thương mại hóa trong giáo dục 34
3.4 Vấn đề quyền tự chủ ở trường đại học 36
3.5 Đội ngũ nhà giáo, nhà nghiên cứu 37
3.6 Vấn đề ngân sách cho đào tạo và cơ sở vật chất 38
3.7Chương trình đào tạo còn bất cập 39
3.8 Phương pháp đào tạo, hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ học tập 40
3.9 Vấn đề quản lý, tổ chức đào tạo 42
Tiểu kết chương I 43
Trang 3CHƯƠNG II: THÔNG TIN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN BÁO CHÍ TRONG NHỮNG NĂM 2002 – 2004
1 Một số đặc điểm chung về nội dung thông tin giáo dục đại học
trên báo chí 45
2 Thông tin về tuyển sinh vào đại học 51
3 Thông tin các vấn nạn, tiêu cực trong giáo dục đại học 58
4 Thông tin những thành tựu, điển hình tích cực trong giáo dục đại học 66
5 Những ý kiến, góp ý để cải cách giáo dục đại học 69
Tiểu kết chương II 71
CHƯƠNG III: VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1 Tác động của báo chí đối với việc xây dựng các chính sách giáo dục đại học 73
2 Tác động của báo chí đối với công cuộc cải cách nền giáo dục đại học 76
3 Tác động của báo chí đối với người dạy và người học 80
3.1 Đối với các nhà quản lý giáo dục đại học 80
3.2Đối với những người làm công tác giảng dạy 83
3.3 Đối với những người học 84
4 Kiến nghị những định hướng cho thông tin giáo dục đại học trong thời gian tới 86
Tiểu kết chương III 94
KẾT LUẬN 97 PHẦN PHỤ LỤC
1 Mẫu phiếu điều tra xã hội học và tổng hợp kết quả sau khi điều tra
2 Ý kiến của một số nhà báo về vai trò của báo chí đối với các vấn
đề giáo dục
3 Một vài số liệu thống kê về giáo dục đại học Việt Nam từ 2000 đến 2005
4 Một số bài báo viết về giáo dục đại học
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Giáo dục đào tạo là vấn đề mà nhiều quốc gia trên thế giới coi trọng Bởi vì bất cứ quốc gia nào muốn phát triển cũng phải dựa vào nguồn lực chủ yếu là con người Xã hội ngày càng phát triển, những đòi hỏi về nguồn nhân lực ngày càng cao đặc biệt là những đòi hỏi về trình
độ và năng lực của nguồn nhân lực
Ở Việt Nam, Luật giáo dục khẳng định: “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Tổng bí thư Nông Đức Mạnh từng nhấn mạnh: “Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với việc đặt giáo dục là gốc cho đại kế trăm năm, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đòi hỏi ở chúng ta nhiều cố gắng lớn lao hơn nữa Giáo dục phải không ngừng phát triển theo hứơng chuẩn hoá, hiện đại hóa và xã hội hóa” Vấn đề giáo dục đào tạo Việt Nam trong thời gian gần đây nổi lên nhiều sự kiện và thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội Nhiều sự kiện trong lĩnh vực giáo dục đào tạo được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin và được xã hội quan tâm, theo dõi, bàn bạc cũng như đặt ra những yêu cầu giải quyết Có thể khẳng định chưa bao giờ giáo dục đào tạo nước ta có nhiều vấn đề được toàn xã hội quan tâm như thời gian 5 năm trở lại đây
Giáo dục đại học là một nội dung mà báo chí đặc biệt quan tâm trong quá trình thông tin về giáo dục đào tạo nói chung Ở thế kỷ XXI, GDĐH đang đứng trước những thách thức và đòi hỏi to lớn trên các bình diện: địa phương, quốc gia và quốc tế nhằm tiến tới xây dựng một nền giáo dục thích ứng với thế kỷ XXI, thích nghi với nền kinh tế trí thức và xã hội hiện đại
Trong Văn kiện báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta khẳng định “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những
Trang 6động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo chung của cả nước, GDĐH đóng vai trò hết sức quan trọng Là “ngưỡng cao cấp” để đội ngũ trí thức là những sinh viên tốt nghiệp – bắt đầu đóng góp sức mình có hiệu suất và hiệu quả cao cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nâng cao chất lượng giáo dục đại học là nhiệm vụ không chỉ của ngành giáo dục mà đó còn là công việc của nhiều người, nhiều ngành trong đó báo chí có một vai trò quan trọng Với nhiệm vụ thông tin kịp thời, chính xác những vấn đề liên quan đến GDĐH, báo chí cần định hướng và đóng góp những ý kiến, những giải pháp để công cuộc phát triển nền GDĐH Việt Nam xứng tầm phát triển
Báo chí có một nhiệm vụ quan trọng là phản ánh trung thực các vấn đề trong xã hội đồng thời thông qua việc phản ánh, định hướng và gợi ý cách giải quyết Xét riêng trong lĩnh vực GDĐH, báo chí trong thời gian qua đã tích cực hoàn thành nhiệm vụ này Những thông tin liên quan đến GDĐH được báo chí thông tin, phản ánh kịp thời Báo chí còn
là diễn đàn của toàn Đảng, toàn dân cùng xây dựng một nền GDĐH hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Bên cạnh đó, quá trình thông tin trong lĩnh vực GDĐH của báo chí vẫn còn những hạn chế cần rút kinh nghiệm, cần khắc phục
Đánh giá vai trò quan trọng của báo chí đối với vấn đề cải cách GDĐH ở Việt Nam là một việc làm cần thiết nhằm phát huy hơn vai trò của báo chí đồng thời rút được những kinh nghiệm, định hướng tốt hơn cho báo chí trong những thông tin về giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có một số khóa luận tốt nghiệp, một số luận văn nghiên cứu về giáo dục đào tạo Việt Nam, về những góc độ tác động của báo chí đến lĩnh vực giáo dục nói chung nhưng nghiên cứu về vai trò của báo chí đối với riêng vấn đề cải cách giáo dục đại học thì đây là công trình đầu tiên
Thực hiện đề tài này chúng tôi có kế thừa, rút kinh nghiệm từ các
đề tài đã nghiên cứu và tìm hiểu về thông tin giáo dục trên báo chí để có được những nhận xét tổng quát nhất Luận văn cũng mong có những đóng góp thiết thực và những kết quả nghiên cứu là mới mẻ tuy nhiên do thời gian và khả năng của người nghiên cứu có hạn nên chắc chắn không tránh những thiếu sót Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được những góp ý để kết quả công trình hòan thiện hơn và cũng mong sẽ có những người quan tâm đến thông tin giáo dục đại học trên báo chí tiếp tục nghiên cứu bổ sung để vấn đề có được cái nhìn tòan diện hơn
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
GDĐH Việt Nam có một tầm quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nước Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo dễ nhận thấy GDĐH
có vai trò đi đầu, hướng dẫn vì đó là nơi tiếp cận tri thức ở mức cao nhất,
là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước, cũng là nơi đào tạo nhà giáo cho các bậc học thấp hơn GDĐH có tác động càng mạnh mẽ hơn đối với sự phát triển xã hội loài người ở giai đọan hiện nay khi khoa học công nghệ tiến bộ vượt bậc, kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển
Trong thời gian vừa qua, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về GDĐH, nhìn chung các đánh giá thống nhất GDĐH hiện nay còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao
so với yêu cầu phát triển của đất nước Bên cạnh việc nhìn nhận thực tế yếu kém của GDĐH Việt Nam, không ít những đề xuất, những gợi ý
Trang 8nhằm cải tiến chất lượng cũng như xây dựng một nền giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước, không tụt hậu so với thế giới Báo chí là một kênh thông tin quan trọng Báo chí đã thực hiện tốt vai trò thông tin về thực trạng GDĐH đồng thời là diễn đàn để tòan xã hội cùng bàn bạc và tìm cách thay đổi, cải tiến GDĐH của chúng ta Tuy nhiên, báo chí cũng không tránh khỏi những hạn chế khi thông tin về GDĐH
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn đem lại cái nhìn tổng quát về thực trạng GDĐH Việt Nam và nội dung những thông tin liên quan đến GDĐH trên báo chí trong thời gian qua Thông qua đó, khắc họa rõ nét vai trò của báo chí trong công cuộc cải cách nền GDĐH nước nhà Đề tài cũng sẽ đề xuất những kiến nghị đối với các cơ quan báo chí nhằm giúp báo chí định hướng tốt hơn thông tin liên quan đến GDĐH trong tương lai
4 Phạm vi nghiên cứu:
Hiện nay, hầu hết các cơ quan báo chí đều dành những chuyên mục nhất định cho vấn đề giáo dục Trong đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát chính thông tin giáo dục đại học trên một số tờ báo in từ 2002 –
2004 Những tờ báo chúng tôi chọn khảo sát gồm: Báo Sài gòn giải
phóng, Báo Thanh Niên, Báo Tuổi trẻ, Báo Giáo dục và Thời đại, Báo Người lao động, Khuyến học và Dân trí và tạp chí Tia sáng.Chọn thời
điểm 2002 – 2004 để khảo sát
Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm đến những thông tin GDĐH trên các báo trong thời gian từ 2004 đến 2006 để đảm bảo tính liên tục, xuyên suốt cũng như tính thời sự của vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 9Luận văn dựa trên những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí để nghiên cứu vai trò cải cách GDĐH của báo chí
Bên cạnh đó, để hòan thành công trình nghiên cứu này chúng tôi cũng sử dụng những phương pháp như: sưu tầm, thống kê, phân tích, phân loại, so sánh, tổng hợp và điều tra xã hội học Từ những phương pháp trên, chúng tôi viết luận văn
Để có những quyết sách quan trọng về tình hình GDĐH, các cơ quan ban ngành phải nghiên cứu, tham khảo các nước phát triển, dựa vào thực tế trong nước đồng thời tham khảo ý kiến của nhân dân Trong nhiều năm qua, GDĐH đã có những bước phát triển về quy mô, chất lượng, đa dạng các loại hình đào tạo và cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên so GDĐH trong khu vực và trên thế giới, GDĐH nước ta còn nhiều bất cập Đã đến lúc chúng ta cần canh tân nền GDĐH Vai trò quan trọng nhất của báo chí là không chỉ thông tin
về tình hình GDĐH báo chí còn phải dự báo, định hướng và đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng một nền GDĐH tiến bộ, hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong quá trình hội nhập với thế giới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương nội dung và phần phụ lục
Chương I: Thực trạng Giáo dục đại học Việt Nam
Chương này đề cập đến các nội dung như tổng quan về Giáo dục đào tạo Việt Nam và vai trò của giáo dục đào tạo; Giáo dục đại học trong
hệ thống giáo dục đào tạo và những vấn đề liên quan đến giáo dục đại học Việt Nam hiện nay Phần này nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan
về giáo dục đại học làm cơ sở cho những phân tích, lý giải về thông tin giáo dục đại học xuất hiện trên báo chí trong chương sau
Trang 10Chương II: Thông tin giáo dục đại học trên báo chí trong những năm 2002 – 2004
Chương này đi sâu vào những đặc điểm chung của thông tin giáo dục đại học trên báo chí Chúng tôi cũng đã có sự phân chia những thông tin giáo dục đại học trên báo chí theo một số nội dung chính để dễ phân tích như: các thông tin về tuyển sinh; các thông tin liên quan đến vấn nạn, tiêu cực; thông tin về những thành tựu, những điển hình tích cực và những ý kiến, đề xuất, góp ý nhằm cải cách giáo dục đại học Việt Nam
Chương III: Vai trò của báo chí đối với vấn đề cải cách giáo dục đại học
Chương này chúng tôi chủ yếu dựa vào kết quả điều tra xã hội học Đồng thời chúng tôi căn cứ trên những cải tiến chủ trương, chính sách giáo dục đại học do tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng để khẳng định những tác động cũng như vai trò của báo chí đối với vấn đề cải cách giáo dục đại học trong những năm vừa qua Một nội dung quan trọng khác trong chương này là đề xuất, định hướng trong thời gian sắp tới nhằm nâng cao hơn hiệu quả thông tin, tuyên truyền của báo chí đối với các vấn đề liên quan đến giáo dục đại học nước nhà
Phần phụ lục với những nội dung sau:
- Mẫu phiếu điều tra xã hội học và tổng hợp kết quả sau khi điều tra
- Ý kiến của một số nhà báo về vai trò của báo chí đối với các vấn
Trang 11CHƯƠNG I:
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
1 Giới thiệu chung về giáo dục đào tạo và vai trò của giáo dục đào tạo ở Việt Nam
Luật giáo dục Việt Nam khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân” Giáo dục đào tạo có ý nghĩa quan trọng không chỉ riêng với Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào cũng vậy, muốn đất nước phát triển thì phải dựa vào nguồn lực chủ yếu
là con người
Các tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và nhiệm vụ phát triển giáo dục trong thời kỳ đầy mạnh CNH – HĐH đã được xác định trong các văn kiện của Đảng như sau:
* Về mục tiêu:
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
*Về quan điểm chỉ đạo:
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng an ninh
Trang 12Như vậy, có thể nhận thấy giáo dục đào tạo có vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước GD – ĐT cùng với khoa học công nghệ chính là nhân tố hàng đầu quyết định tăng trưởng kinh tế
và phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển Quan tâm đến giáo dục chính là quan tâm đến tương lai của đất nước Phát triển sự nghiệp giáo dục là góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho công cuộc CNH – HĐH ở nước ta
Giáo dục còn là con đường để mọi người lĩnh hội tri thức Tri thức
là hành trang cần thiết đối với mỗi con người khi bước vào đời Vì vậy,
GD - ĐT có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con người Giáo dục còn giúp con người phát triển toàn diện, không chỉ có tri thức
mà còn sức khoẻ, đạo đức, thẩm mỹ và nghề nghiệp Thông qua giáo dục con người dần hình thành nhân cách, phẩm chất và năng lực Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng viết: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do
giáo dục mà nên” Môi trường giáo dục cũng là nơi phát hiện và bồi
dưỡng tài năng của mỗi con người Chính trong môi trường giáo dục các
cá nhân có thể phát huy tư duy, tính sáng tạo, sự chủ động trong tiếp thu kiến thức và trong nhiều lĩnh vực khác
Giáo dục còn là thước đo trình độ dân trí, mức sống của người dân Tuy Việt Nam vẫn còn là nước nông nghiệp nghèo, lạc hậu nhưng người dân Việt Nam lại được đánh giá là có mức sống cao nhờ vào tỷ lệ gần 94% dân cư từ 15 tuổi trở lên biết chữ Nhờ vào những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực khác của xã hội mà chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) những năm gần đây có nhiều tiến bộ đáng kể: từ 0.456 – xếp 121 – tăng lên 0,682 – xếp 101/174 nước So với chỉ số phát triển kinh tế (GDP/người) HDI vượt lên 19 bậc
Trang 13Khi nói về vai trò của giáo dục đào tạo, chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
người” Sự nghiệp trồng người là sự nghiệp hàng đầu, là quá trình lâu
dài và đòi hỏi phải có sự chung sức của toàn xã hội CNH – HĐH là con đường duy nhất đưa đất nước chúng ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu Để thực hiện tốt công cuộc này không có gì hữu hiệu hơn là đầu tư phát triển con người Cách đầu tư quan trọng nhất là đẩy mạnh phát triển GD – ĐT
Theo Luật Giáo dục hiện hành (Quốc hội thông qua tháng 6/2005)
hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay gồm:
- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo
- Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
- Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
- Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ
Trong quá trình hội nhập cùng thế giới, Việt Nam đang từng bước chuyển mình, xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh hơn Sự biến đổi nào cũng bao hàm nhiều khó khăn và thử thách Sự biến đổi trong lĩnh vực GD - ĐT lại càng tạo ra nhiều thách thức lớn cho Đảng, Nhà nước cũng như toàn xã hội Với những nỗ lực, cố gắng của nhiều nơi, nhiều cấp GD - ĐT nước ta có nhiều khởi sắc nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém cần được giải quyết triệt để hơn
1.1 Những thành tựu của GD - ĐT
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước
1975 đến nay, mặc dù nước ta còn nghèo, từng bước xây dựng và phục hồi đất nước sau chiến tranh nhưng GD - ĐT đã đạt được những thành
Trang 14tựu quan trọng Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp trên cả nước Quy mô giáo dục tăng nhanh, bước đầu đáp ứng được nhu cầu học tập của toàn xã hội Hầu hết các xã trong cả nước, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo đều có trường tiểu học Phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trung học cơ sở và hầu hết các huyện đều có trường trung học phổ thông Các tỉnh và nhiều huyện đồng bào dân tộc còn có hệ thống các trường dân tộc nội trú Cả nước hiện nay có gần 250 trường nội trú và có hơn 100 trường bán trú Đây là một trong những tín hiệu cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện chủ trương đẩy mạnh công tác giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong GD – ĐT Đồng thời, hệ thống trường học rộng khắp
cả nước đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mọi công dân, tạo điều kiện giúp mọi người dân đều được hưởng lợi ích từ nền giáo dục của nước ta
Số lượng học sinh sinh viên cả nước tăng cao đảm bảo ngăn chặn
sự giảm sút quy mô và có bước tăng trưởng khá Công cuộc xóa mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học đã được triển khai trong toàn quốc Số học viên các lớp xóa mù chữ, sau xóa mù và bổ túc văn hóa nước ta hiện nay trên 600.000 người Chúng ta đang tiến hành từng bước việc phổ cập trung học cơ sở Hiện nay Việt Nam có gần 94% dân số biết đọc, biết viết, số năm đi học trung bình của mỗi người là 7,3 Đây là một tỷ lệ cao
so với các nước trong khu vực và trên thế giới Điều này cho thấy trình
độ dân trí của nước ta ngày càng được nâng cao Nếu so với hơn 80% dân số mù chữ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, thì đây là một kết quả to lớn, thể hiện sự cố gắng của toàn Đảng, toàn dân ta Đây cũng là một thắng lợi quan trọng của nhân dân cả nước trong công cuộc đẩy lùi giặc dốt
Hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay đã bao gồm đủ các cấp học, bậc học, ngành học và phương thức giáo dục Ngoài hệ thống
Trang 15các trường công lập còn có hệ thống các trường ngoài công lập bao gồm: bán công, tư thực và dân lập từ mầm non tới đại học Phương thức giáo dục bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy Bên cạnh
hệ thống các trường lớp chính quy, ở tất cả các địa phương đều phát triển
hệ thống các trung tâm, các cơ sở giáo dục không chính quy thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên cho mọi người, đáp ứng nhu cầu được học, được đào tạo đa dạng của người học từ xoá mù chữ, nâng cao trình
độ kiến thức cho đến học nghề, học ngoại ngữ và tin học
Về quy mô của GDĐH nói riêng số lượng sinh viên tăng lên đáng
kể Đã có những cố gắng điều chỉnh cơ cấu trình độ đào tạo nhằm khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các bậc đào tạo Số lượng các cơ sở giáo dục CĐ – ĐH tăng lên ở các vùng Tây Bắc, đồng bằng Sông Cửu Long Những nỗ lực đa dạng hóa về loại hình đã khắc phục một bước sự bất hợp lý về mạng lưới Tuy nhiên quy mô phát triển giáo dục đại học hiện nay vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu học đại học quá lớn trong
cả nước Yêu cầu phát triển quy mô đại học, cao đẳng theo vùng miền, theo cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực chưa được thực hiện một cách chủ động và có tầm chiến lược Chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực trình
độ cao của thị trường lao động
Bên cạnh những thành tựu, nền GD - ĐT của chúng ta vẫn còn tồn đọng khá nhiều hạn chế, những bất cập cả về quy mô, cơ cấu đặc biệt là
về chất lượng và hiệu quả
Vấn đề của giáo dục VN hiện nay là chưa có những tiêu chí vừa khái quát vừa cụ thể và mang tính hệ thống Chúng ta thiếu thông tin từ thế giới Đôi khi chúng ta chỉ cần thu thập thông tin một cách hình thức
mà không đi sâu tìm hiểu nội bộ của một nước để xem ở đó nền giáo dục hiệu quả đến đâu Đảng đề ra chủ trương GDĐT là quốc sách hàng đầu
Trang 16điều này rất đúng nhưng việc cụ thể hóa đừong lốn này thì chúng ta còn nhiều thiếu sót
Mặc dù chúng ta có chiến lược phát triển giáo dục nhưng cái thiếu sót cơ bản trong nền giáo dục hiện nay là thiếu lý luận, thiếu cơ sở khoa học để tiến hành đổi mới giáo dục Không phải GDĐT chỉ có một chiến lược chung là đủ mà chiến lược đó cũng phải dựa trên cơ sở khoa học Mỗi bậc học phải có mục tiêu riêng với những tiêu chí cụ thể về trí, đức, thể, mỹ Mục tiêu chung là đào tạo con người đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH và hội nhập kinh tế Có thể chúng ta làm rồi nhưng chưa hoàn chỉnh, thống nhất và khoa học nên thỉnh thoảng lại đổi cái này, đổi cái kia khiến cho nền GDĐT thiếu ổn định Chính vì chúng ta chưa có cơ sở
lý luận nên việc tiến hành đổi mới vẫn chắp vá và không toàn diện.1
Thực trạng đáng buồn của GD - ĐT Việt Nam là trong những năm qua chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, thực hiện sự nghiệp CNH – HĐH theo định hướng XHCN
Hiện nay cả nước vẫn còn khoảng 6% dân số mù chữ Hiện tượng tái mù chữ, nhất là đối với người dân vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số đang ngày càng phổ biến Trong số những người biết chữ thì còn khá đông những người chỉ mới dừng lại ở trình độ biết đọc, biết viết chứ chưa có trình độ cấp học nào, chưa qua trường lớp đào tạo bài bản
mà chỉ là thông qua các lớp học xóa mù chữ ngắn hạn, lớp học tình thương… Đây là một hiện tượng đáng báo động và không có lợi trong việc nâng cao trình độ dân trí nước ta Việc phổ cập tiểu học vẫn chưa thực sự đều khắp trên cả nước Tỷ lệ lao động qua đào tạo chưa đạt tới 20% cũng không phải là một kết quả có thể hài lòng được Nền kinh tế quốc dân vẫn còn thiếu nhiều lao động và cán bộ có tay nghề, trình độ nghiệp vụ cao
1 Phỏng vấn GS.Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, báo GD&TĐ số 88, ngày 22/07/2004
Trang 17Cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng của đội ngũ học sinh, sinh viên các trường đại học và chuyên nghiệp chưa hợp lí Thực tế cho thấy nhiều ngành nghề cần thiết cho sự phát triển của đất nước lại có quá ít học sinh, sinh viên theo học như: quan hệ quốc tế, giáo dục học, sư phạm… Đa phần học sinh, sinh viên chọn những ngành nghề dễ tìm được việc làm và có thu nhập cao như: công nghệ thông tin, kinh tế, bưu chính viễn thông… Việc công tác trái ngành nghề được đào tạo cũng ngày một phổ biến Báo Sài gòn giải phóng ngày 29/02/2003 đã đưa ra một con số khiến không ít người phải nhìn
lại: chỉ có 30% sinh viên tốt nghiệp làm việc đúng ngành nghề. 2
Giáo dục chuyên nghiệp nhất là đào tạo công nhân kỹ thuật có lúc suy giảm mạnh Mất cân đối lớn về cơ cấu trình độ trong đội ngũ lao động ở nhiều ngành sản xuất Quy mô đào tạo các nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé và chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của nghề Trình độ
và thiết bị đào tạo còn quá lạc hậu, thô sơ Phần lớn đào tạo chỉ thông qua lý thuyết, ít thực hành và ứng dụng nên học sinh, sinh viên không có
cơ hội thử thách tay nghề trước khi ra trường Chính vì vậy, đội ngũ lao động này khó đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công cuộc CNH – HĐH
Chất lượng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo cũng là vấn đề đáng bàn và được cả xã hội quan tâm Mặc dù đã có nhiều cố gắng nâng cấp, củng cố nhưng chất lượng và hiệu quả giáo dục vẫn còn ở mức thấp Trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học, trình độ ngọai ngữ và thể lực của đa số học sinh, sinh viên ngày nay còn yếu Thông qua các cuộc thi, nhiểu học sinh, sinh viên tỏ ra lúng túng trong những câu hỏi phổ thông, đời thường, những câu hỏi mang kiến thức xã hội Điều này phản ánh một thực tế yếu kém của nền giáo dục nước ta là đào tạo xa rời thực tế, chưa gắn với sử dụng, thiên về lí
2 Lê Linh, Bao giờ hết cảnh người tìm việc, việc lại tìm người? Báo SGGP, ngày 28/02/2003
Trang 18thuyết suông, sách vở kinh điển Nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp đi làm, khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống còn rất hạn chế Nhiều cơ quan, xí nghiệp đã phải tái đào tạo nghiệp vụ cho các đối tượng lao động vừa được tuyển dụng Một thực tế khác là có một số lượng sinh viên ra trường chưa có khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng trong ngành nghề và công nghệ Hậu quả là họ không thể theo kịp, trở thành lạc hậu, mất dần ý chí tiến thủ hoặc phải chuyển sang ngành nghề khác
Việc suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, không có chí tiến thủ… đang trở thành những hiện tượng đáng báo động trong học sinh, sinh viên Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục đang có chiều hướng gia tăng Thời gian qua, các vấn nạn trong giáo dục trở nên công khai và tăng nhanh mặc dù các cơ quan chức năng đã tìm mọi cách ngăn chặn Việc dạy thêm, học thêm tràn lan với những tiêu cực đằng sau là làm mất thời gian và tiền bạc của học sinh, sinh viên, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tòan diện, nhất là tạo những suy nghĩ lệch lạc về giáo dục đối với thế hệ trẻ Đồng thời vấn nạn này cũng làm giảm đi sự tôn kính người thầy, làm mờ nhạt dần quan hệ thầy, trò và truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta
Việc mua bán điểm, mua bán bằng cấp cũng không phải khó bắt gặp Hiện tượng thi thuê gia tăng với nhiều biến tướng tinh vi Nhiều trường tăng quy mô tuyển sinh vượt quá quy mô đào tạo, mở nhiều lớp tại chức ở các địa phương mà không thực hiện đúng quy chế, đúng chương trình, không đảm bảo chất lượng đào tạo
Cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục Việt Nam vẫn còn thô sơ và lạc hậu Nhiều ngôi trường xây không đảm bảo chất lượng khiến thầy trò vừa học vừa lo sợ Trang thiết bị giảng dạy nghèo nàn,chỉ mang tính
Trang 19tượng trưng, thậm chí có trường không hề có bất cứ một dụng cụ hỗ trợ giảng dạy nào
Một thực trạng đáng báo động khác là đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của GD – ĐT trong giai đoạn mới.Ở nhiều nơi giáo viên có khi không hề được đào tạo qua ngành sư phạm, hoặc giảng dạy vượt cấp đã được đào tạo Ở bậc đại học, tỉ lệ giảng viên có trình độ sau đại học còn rất thấp Năm học 2002 – 2003, bậc đại học cả nước chỉ có 16 047 giảng viên có trình độ sau đại học (chiếm khoảng 41,6%) Tình trạng hụt hẫng thiếu người dạy thay thế cho thế hệ giáo viên sắp cao tuổi cũng là một vấn đề nan giải Chưa kể đến một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý, giáo viên còn thiếu gương mẫu về đạo đức và lối sống Điều này có ảnh hưởng không nhỏ không chỉ chất lượng giảng dạy mà còn làm xấu hình ảnh người thầy trong mắt học trò và gây mất lòng tin của nguời dân đối với nền giáo dục nước nhà
Nguyên nhân của những yếu kém nói trên có thể kể đến trước hết
là do công tác quản lí GD - ĐT ở nước ta còn nhiều hạn chế và bất cập Những năm gần đây có nhiều chủ trương về đổi mới giáo dục nhưng nhiều chủ trương chưa được nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo trước khi áp dụng, việc tổ chức thực hiện lại có nhiều thiếu sót như chỉnh lí sách giáo khoa, tăng học phí, tổ chức các kỳ thi…Việc quản lí chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục chưa được quan tâm đúng mức nhưng vẫn
cứ tiến hành mở rộng quy mô đào tạo và phát triển nhiều loại hình GD –
ĐT
Công tác thanh tra giáo dục cũng có nhiều thiếu sót, thiếu những biện pháp hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo Đối với việc thanh tra, một vài nơi chỉ làm cho có và bị lấp liếm hoặc chậm phát hiện, thiếu nghiêm túc trong xử lí và khắc phục các biểu hiện trong GD -
ĐT Bên cạnh đó, cơ chế quản lí của ngành giáo dục còn nhiều điểm chưa hợp lí Vẫn còn tình trạng ôm đồm sự vụ, vừa buông lỏng, chưa
Trang 20thực hiện tốt sự quản lí thống nhất, tình trạng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” không phải là hiếm trong lĩnh vực này Việc giữ vững kỷ cương trong công tác giáo dục chưa được thực hiện triệt để, đồng thời chưa phát huy được quyền chủ động của địa phương và nhà trường
Nội dung GD - ĐT vừa thừa lại vừa thiếu, nhiều phần không gắn với thực tiễn hoặc quá sơ lược Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, nhân cách cũng như việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thể chất, thẩm mỹ bị xem nhẹ Giáo dục chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn với gia đình và xã hội Hoạt động giáo dục chưa gắn bó mật thiết với các họat động sản xuất và nghiên cứu khoa học Gia đình cũng như các tổ chức xã hội chưa phát huy vai trò mới trong giáo dục, nhất là về chính trị, đạo đức, đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội và các biểu hiện tiêu cực trong nhà trường do cơ chế thị trường mang lại
Hiện nay, nền GD - ĐT nước ta đang đứng trước thử thách lớn với mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh quy mô cả về chất và lượng, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế Đây là mâu thuẫn chung của quá trình phát triển Những thiếu sót chủ quan, những yếu kém về quản lí đã làm cho mâu thuẫn đó ngày càng gay gắt Những khó khăn trên đòi hỏi phải được giải quyết một cách triệt
để để tạo động lực cho nền GD - ĐT nước ta phát triển Việc giải quyết các vấn đề ấy không thể một sớm một chiều, cũng không phải là nhiệm
vụ của riêng một tổ chức, cá nhân nào Đó là nhiệm vụ chung của cả dân tộc, và cần một quá trình lâu dài, kiên trì, không ngừng phấn đấu Giải quyết những vấn đề trên không chỉ giúp nền GD - ĐT nước ta phát triển
mà còn khẳng định được năng lực của những người đứng đầu ngành cũng như sức mạnh của dân tộc ta trong thời đại mới
Trang 211.3 Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010
Trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Đảng và thực hiện Luật giáo dục (1998), Chính phủ đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển giai đoạn 2001 – 2010 với tư tưởng chủ đạo là: “ khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực; tiếp tục đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ; tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục; phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chấn hưng đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững, chóng sánh vai cùng các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”
Mục tiêu chung:
- Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của các nước trên thế giới, phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, của từng vùng, từng địa phương, hướng tới một xã hội học tập Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực só với các nước phát triển trong khu vực
- Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trong nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở
- Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục các cấp, bậc học và trình độ đào tạo, phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới quản lý giáo dục, tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực
để phát triển giáo dục
Trang 22Hội nghị lần 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX, tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về giáo dục đã nhấn mạnh vào các nhiệm vụ sau:
Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, tạo chuyển biến
cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục tư tưởng – chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống cho người học
Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên
cơ sở đảm bảo chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yếu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đào tạo với sử dụng
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, có chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo
và các đối tượng chính sách xã hội Ưu tiên phát triển giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số
Mục tiêu phát triển giáo dục đại học và sau đại học:
- Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế xã hội của thời kỳ CNH – HĐH, nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng giáo dục đại học qua việc đa dạng hóa chương trình đào tạo trên cơ sở xây dựng một hệ thống liên thông phù hợp với cơ cấu nguồn nhân lực cả về trình độ, ngành nghề cũng như vùng miền Tăng cường năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác
- Từng bước mở rộng quy mô giáo dục đại học để đáp ứng nhu cầu nhân lực có trình độ cao của các ngành kinh tế – xã hội và nhu cầu học tập, nâng cao trình độ học vấn của các tầng lớp nhân dân Phát triển
Trang 23các trường cao đẳng cộng đồng và xây dựng mô hình đại học ngắn hạn
để tạo cơ hội cho nhiều người học đại học, cao đẳng Tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học, trường dạy nghề có chất lượng, một số ngành mũi nhọn đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực Tăng quy mô tuyển sinh đại học với tỷ lệ 10%/năm trong các năm tới Nâng tỷ
lệ sinh viên trên 1 vạn dân từ 125 trong năm học 2003 – 2004 lên 200 vào năm 2010 Tăng quy mô đào tạo thạc sỹ hàng năm lên 38000, nghiên cứu sinh lên 15.000 vào năm 2010
Chất lượng giáo dục đại học
* Về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống:
Trong những năm gần đây tư tưởng, đạo đức của sinh viên có chuyển biến tiến bộ Niềm tin của sinh viên vào đảng và sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo ngày càng được củng cố Số đông sinh viên có lòng tự tôn dân tộc, giữ được truyền thống, phong cách dân tộc, có ý chí, quyết tâm tham gia đẩy lùi đói nghèo, tụt hậu, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh Tỷ lệ sinh viên được kết nạp Đảng ngày càng cao Năm học 1998 – 1999 có 681 sinh viên được kết nạp Đảng thì năm học 2002 – 2003 số sinh viên được kết nạp Đảng tăng lên đến 1047
Đa số sinh viên nước ta có lối sống lành mạnh, hiện tượng sinh viên vi phạm đạo đức, luập pháp ở nhiều trường so với trước đã giảm hẳn Tính tích cực xã hội của sinh viên ngày càng rõ nét Có khoảng 70% sinh viên tham gia các phong trào tình nguyện tại chỗ, từ 5 đến 10% sinh viên tham gia các đội tình nguyện Đặc biệt có trên 90% sinh viên tham gia phong trào giáo dục an toàn giao thông, pháp luật, phòng chống AIDS và ma túy Các hoạt động tình nguyện tương thân tương ái, lá lành đùm là rách được sinh viên tích cực tham gia và đạt được hiệu quả giáo dục có ý nghĩa xã hội sâu sắc Sinh viên còn tích cực tham gia các hoạt
Trang 24động thể dục thể thao, phong trào xây dựng đời sống văn hóa trong nhà trường
* Về kiến thức kỹ năng:
Do trong mấy năm gần đây, nhiều trường ĐH, CĐ thực hiện những biện pháp có hiệu quả để nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, cập nhật chương trình đào tạo cũng như tăng cường cơ sở vật chất, thiết
bị dạy học nên chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng đã có sự cải thiện bước đầu Sinh viên được tiếp cận với một số lĩnh vực kiến thức hiện đại thuộc ngành nghề được đào tạo, có thêm điều kiện để từng bước làm chủ công nghệ thông tin và ngoại ngữ, phục vụ cho học tập và làm việc sau này Trình độ kiến thức và kỹ năng một bộ phận sinh viên ở các khoa, lớp kỹ sư đặc biệt là cử nhân tài năng của một số trường đại học được nâng lên rõ rệt… Chất lượng đào tạo của một số trường Đại học lớn, có truyền thống được giữ vững
- Kết quả khảo sát của Hội đồng Quốc gia giáo dục thực hiện năm
2002 cho thấy:
Đối với cán bộ có trình độ tiến sĩ
+ Về chuyên môn: có 71% thuộc loại tốt, 25% thuộc loại khá, 4% thuộc loại trung bình
+ Về tinh thần trách nhiệm: có 75% thuộc loại tốt, 22% loại khá và 3% thuộc loại trung bình
Đối với cán bộ có trình độ đại học
+ Về chuyên môn: có 57% thuộc loại tốt, 29% thuộc loại khá, 11% thuộc loại trung bình và 3% loại yếu
Trang 25+ Về tinh thần trách nhiệm: có 64% thuộc loại tốt, 26% loại khá và 8% thuộc loại trung bình và 2% loại yếu
Đối với cán bộ có trình độ cao đẳng
+ Về chuyên môn: có 49% thuộc loại tốt, 41% thuộc loại khá, 8% thuộc loại trung bình và 2% loại kém
+ Về tinh thần trách nhiệm: có 76% thuộc loại tốt,18% loại khá và 6% thuộc loại trung bình và yếu
Như vậy nhìn chung về trình độ chuyên môn thì đa số người học sau khi tốt nghiệp đại học và các trình độ sau đại học đã đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ được giao và có tinh thần trách nhiệm trong công việc
Những yếu kém khuyết điểm:
- Một bộ phận sinh viên còn mơ hồ về lý tưởng cách mạng, ngại tham gia các hoạt động xã hội, đoàn thể thờ ơ với chính trị, với tình hình chung của đất nước, ý chí phấn đấu thấp Nhiều sinh viên chưa tích cực học tập và rèn luyện, thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử,
vi phạm nội quy, quy chế, sống thực dụng đua đòi thậm chí vi phạm pháp luật Tệ nạn xã hội nhất là ma túy, cờ bạc rượu chè trong sinh viên tuy có giảm song vẫn còn rất đáng lo lắng, tình hình mê tín dị đoan có chiều hướng tăng lên
- Chất lượng đào tạo đại học:
Có sự phân tầng rõ rệt giữa các hệ chính quy và không chính quy, giữa các trường công lập trọng điểm so với một số trường công lập dịa phương và các trường dân lập Trong khi ở phổ thông đa số học sinh đặc biệt là ở các đô thị phải học tập căng thẳng thì ở đại học nhiều sinh viên lười học dẫn đến tình trạng phần lớn sinh viên học tập chỉ ở mức trung bình Việc thi cử, kiểm tra, đánh giá còn nhiều biểu hiện thiếu nghiêm túc, không trung thực Điểm thi các học phần và thi tốt nghiệp thường rất
Trang 26cao song chưa phản ánh được đúng chất lượng đào tạo Hiện tượng mua bằng, bán điểm vẫn tiếp tục tồn tại Nhìn chung, sinh viên còn yếu về khả năng tự học, tự nghiên cứu Số sinh viên đã tốt nghiệp cũng bộc lộ
sự thiếu hụt về kiến thức hiện đại, kỹ năng thực hành, khả năng giao tiếp, hợp tác trong công việc Trình độ ngoại ngữ, hiểu biết về công nghệ hiện đại của đa số sinh viên còn có khoảng cách khá xa so với yêu cầu hội nhập quốc tế Chất lượng đào tạo sinh viên tại chức, từ xa còn rất thấp, đây là điểm yếu nhất về chất lượng đào tạo giáo dục đại học hiện nay Tỷ
lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học còn nhỏ bé và chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên còn thấp
- Chất lượng đào tạo sau đại học:
Về đào tạo cao học trừ một số ít ngành, còn đối với đa số các ngành thì nội dung và chương trình đào tạo chưa được mở rộng thực sự hoặc chưa vượt hẳn so với nội dung đào tạo các chuyên ngành tương ứng
ở đại học Điều kiện cần thiết để nghiên cứu khoa học của học viên cao học rất thiếu (người hướng dẫn, tài liệu tham khảo, yêu cầu thực hành thí nghiệm…) Chất lượng đào tạo cao học nói chung còn hạn chế
Về đào tạo tiến sĩ, một số ít nghiên cứu sinh có luận án tiến sĩ đạt chất lượng cao, góp phần giải quyết một số vấn đề trong khoa học cơ bản, công nghệ, sản xuất, quản lý, kinh tế và xã hội Nhiều luận án chưa cập nhật trình độ phát triển khoa học công nghệ, chưa phục vụ thiết thực các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và phát triển khoa học ở nước ta
2 Giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam
Số lao động có trình độ đại học trong xã hội ngày một tăng cao Số sinh viên trên 1 vạn dân năm 2000 là 118 Giáo dục Sau đại học cũng đào tạo được lực lượng đáng kể cán bộ có trình độ cao mà trước đây chủ yếu vẫn dựa vào nguồn đào tạo từ nước ngoài Như vậy có thể thấy rằng GDĐH Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào
Trang 27tạo đội ngũ lao động có trình độ cao, đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng Đặc biệt, đội ngũ này có khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước trên thế giới Các công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên, cán bộ ngày nay có tính ứng dụng vào thực tiễn cao và có những tác động lớn đối với xã hội
Như chúng ta biết, GDĐH Việt Nam giống như các hệ thống đại học trên thế giới, đã trải qua nhiều thay đổi lớn, toàn diện và nhanh chóng Các thay đổi đó bắt đầu từ cuộc cải tổ giáo dục đại học năm
1987, khi cơ chế thị trường được giới thiệu vào xã hội Việt Nam Với sự
mở rộng đào tạo của các trường đại học, tăng số lượng lớp học và số lượng sinh viên các khóa học, quy mô đào tạo ở các trường đại học Việt Nam ngày càng mở rộng đến nỗi khó có thể kiểm soát được chất lượng giáo dục, dẫn đến tình trạng yếu kém về chất lượng như hiện nay Nhìn một cách khách quan, từ sau đổi mới, GDĐH Việt Nam có những thay đổi tích cực từ hình thức đến nội dung đào tạo và nghiên cứu Tuy nhiên, nếu so với trình độ phát triển của GDĐH thế giới thì khoảng cách giữa
họ và ta còn khá rộng
GDĐH Việt Nam hiện nay đang bị đánh giá là tụt hậu so với ĐH của nhiều nước phát triển Sự tụt hậu này được xem xét ở nhiểu góc độ như: quan niệm, về đầu tư, về chính sách, chương trình, tổ chức, quản lý…Trong thế kỷ XXI, các quốc gia trên thế giới sẽ có cuộc đua tranh về trí tuệ GD - ĐT, đặc biệt là GDĐH phải đi trước và phục vụ đắc lực cho
sự phát triển kinh tế, xã hội GDĐH nước ta hiện nay cần phải đặt ra những mục tiêu:
- Đáp ứng nguồn nhân lực có trí tuệ cho sự phát triển kinh tế, xã hội, cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, đảm bảo cho dân tộc ta tiến
Trang 28kịp trình độ phát triển ngày càng cao của thế giới, tiếp thu kịp những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
- Sáng tạo ra lực khoa học mới thông qua công tác nghiên cứu
- Đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân về một nền GDĐH cho số đông, mở đường tiến thân cho các thành viên trong xã hội, tạo nên sự bình đẳng xã hội về giáo dục
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, GDĐH có một vai trò quan trọng Vai trò đó thể hiện ở chỗ GDĐH phải tiên phong trong tiến trình này bởi vì vai trò của GDĐH là đào tạo ra nhân lực tri thức và bồi dưỡng tài năng trình độ cao Chất lượng đào tạo nghiên cứu khoa học và triển khai, ứng dụng của trường ĐH có tác động ngày càng lớn tới sự phát triển của đất nước
GDĐH quốc tế đang thay đổi sâu sắc thông qua những cuộc cải cách, đổi mới GDĐH ở nhiều nước, nhiều khu vực, trên quy mô toàn cầu Đó là cơ hội tốt để GDĐH Việt Nam có thể tiếp cận nhanh chóng với những xu thế mới, ý tưởng và tri thức mới, tiếp thu kinh nghiệm hay của GDĐH thế giới, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn nền GDĐH Việt Nam
Quá trình 15 năm đổi mới GDĐH vừa qua cho chúng ta những bài học và kinh nghiệm quý báu về đổi mới tư duy và hành động, đã thu được nhiều thành tựu ban đầu và tạo nên những tiềm năng mới cần được khai thác và phát huy có hiệu quả
Đồng thời GDĐH nước ta cũng đang đối mặt và phải vượt qua nhiều thách thức, trong đó có những thách thức chung cho GDĐH thế giới mà chúng ta có thể học tập kinh nghiệm giải quyết của các nước Ví
dụ như chuyển dần từ đại học tinh hoa sang đại học đại chúng và đại học phổ cập, dùng công nghệ mới để tạo mầm mống cho một cuộc cách mạng giáo dục… Đồng thời lại có những thách thức riêng của GDĐH Việt Nam mà chúng ta cần tập trung tìm bước đi phù hợp
Trang 29Đó là cần sớm thu hẹp khoảng cách với những nền GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, trong điều kiện nước ta còn nhiều khó khăn về kinh tế, công nghệ, quản lý và đầu tư cho giáo dục còn thấp Cần phân tích sâu sắc những cơ hội và thách thức này, phát huy những kết quả ban đầu, những tiềm năng sáng tạo, tận dụng lợi thế đi sau để sớm tìm được hệ thống những giải pháp đổi mới có hiệu quả
Sự đổi mới có tính chất như một cuộc cách mạng, vì nó bắt đầu trước hết từ những đổi mới cơ bản về quan niệm, về triết lý đối với giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng Từ 1991 đến nay, cùng với quá trình đổi mới về cơ chế của nền kinh tế, GDĐH VN đã có một bước phát triển khá ấn tượng trong suốt thập niên 90 và tạo ra một khuôn mặt mới của GDĐH Việt Nam Đáng kể nhất là GDĐH đã chuyển từ GD tinh hoa sang GD đại chúng; hệ thống GDĐH đã được đa dạng hóa với việc cho phép mở các trường ngoài công lập, lập trường ĐH mở, liên kết với nước ngoài tại VN và GDĐH không còn được xem là một phúc lợi công miễn phí, được hoàn toàn bao cấp bởi nhà nước Tuy nhiên hiện nay GDĐH đang đứng trước những vấn đề gay cấn, kìm hãm sự phát triển vì vậy cần có một chương trình hành động thống nhất để đổi mới cơ bản GDĐH với tính chất là hành động của toàn dân, kể cả việc cải cách triết
lý GDĐH, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, điều không thể tránh khỏi với VN
Có ý kiến cho rằng bảy cách biệt của ĐHVN với thế giới đó là:
- Chức năng của GDĐH VN vẫn chỉ chú trọng đến việc dạy nghề nghiệp là chính trong khi thế giới hướng đến học ĐH không chỉ để làm việc mà còn để biết, để sống và để làm người
- Quan niệm của Việt Nam vẫn chưa coi GDĐH là dịch vụ công là một thứ hàng hóa trong khi thế giới đã coi GDĐH không thực sự là một hàng hóa công mà là lợi ích cá nhân
Trang 30- Cơ cấu tổ chức của chúng ta đầu to đuôi nhỏ trong khi thế giới đầu nhỏ đuôi to
- Chất lượng, kiểm định và đánh giá hiện ở Việt Nam chưa có nên chưa thể nhận ra được khoảng cách về chất lượng giữa GDĐH Việt Nam với GDĐH thế giới
- Chính sách công về giáo dục ĐH vẫn chưa cụ thể 3
3 Một số vấn đề liên quan đến giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
Trên thế giới GDĐH trong thế kỷ XXI gặp rất nhiều thách thức
Tại Hội nghị thế giới về GDĐH trong thế kỷ XXI “Tầm nhìn và hành
động”, Tổng giám đốc UNESCO đã nói “GDĐH trong thế kỷ XXI phải
được xem là một bộ phận của một đề án tổng thể về giáo dục thường xuyên cho mọi người, nó phải trở thành một lực lượng linh hoạt cho đề
án tổng thể đó, trở thành một nơi bao quát mọi vấn đề” 4
Trước hết, phải khẳng định rằng từ sau đổi mới 1986 đến nay, GDĐH Việt Nam đã có những thành tựu to lớn GDĐH cơ bản hoàn thành nhiệm vụ cung cấp được nguồn nhân lực khoa học công nghệ cho phát triển kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, so với GDĐH của nhiều nước trên thế giới thì chúng ta còn một khoảng cách khá xa từ cấu trúc tổ chức đại học, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, quản lý đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, hoạt động quốc tế…Để hội nhập được với nền GDĐH trong khu vực và trên thế giới, GDĐH Việt Nam cần phải vượt qua nhiều trở ngại và thách thức
Đa số các nhận định về GDĐH ở nước ta hiện nay cho rằng: GDĐH chưa đáp ứng được kỳ vọng của xã hội cũng như chưa phát triển đúng tiềm năng của nó Tình trạng kém chất lượng của GDĐH ở Việt Nam hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân Một trong những nguyên
3
Báo GD&TĐ, số 77 ngày 26/06/2004
4 Báo GD&TĐ, số 44 ngày 12/04/2003
Trang 31nhân đó là hoàn cảnh lịch sử Trong suốt thế kỷ XX, Việt Nam hầu như chua bao giờ có điều kiện thuận lợi để phát triển các trường đại học chất lượng cao Ngày nay vấn đề trực tiếp nhất của GDĐH bắt nguồn từ cơ chế quản lý các trường đại học có tính tập trung và xơ cứng Các trường đại học ở Việt Nam hầu như không có quyền tự chủ Nội dung chương trình về cơ bản được áp đặt từ trên xuống, vì vậy các trường gần như không thể, hay không có động cơ cải tiến và đa dạng hóa chương trình Cũng tương tự như vậy, các cuộc tuyển sinh và yêu cầu tốt nghiệp được
áp đặt từ bên trên Ở cấp độ thể chế, hệ thống quản lý giáo dục đại học vốn không thân thiện với những sáng kiến mới là một lực cản đối với các trường đại học ở Việt Nam Nói chung, việc đề bạt giảng viên không căn
cứ vào năng lực và tài năng Lương thấp buộc nhiều giảng viên phải chạy việc thêm ở ngoài, do vậy giảm động cơ và khả năng đầu tư thời gian cho các hoạt động phát triển chương trình và chuyên môn
GDĐH chúng ta hiện nay đang đứng trước yêu cầu to lớn là phải phát triển nguồn nhân lực có học vấn, có khả năng lao động ở một trình
độ mới, cao hơn trước đây rất nhiều Nguồn lao động ấy phải phù hợp với nhu cầu ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại vào mọi lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội Ngòai ra còn phải phù hợp với xu hướng gia tăng hàm lượng chất xám trong các sản phẩm với sự đòi hỏi mới về tính năng động và sáng tạo trong lao động
GDĐH không chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo ban đầu, có chất lượng mà còn phải hết sức chú trọng nhiệm vụ đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên những người đã được đào tạo ban đầu, giúp họ nâng cao trình độ theo sự phát triển của khoa học công nghệ
Luật giáo dục nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục đại học và sau đại học là đào tạo người học có phẩm chất, chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp
Trang 32tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc
Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên ngành…tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới Đào tạo trình độ đại học phải đảm bảo cho sinh viên những kiến thức khoa học
cơ bản và chuyên ngành tương đối hoàn chỉnh, có phương pháp làm việc khoa học, có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn
Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm và ứng dụng.”5
3.1 Chất lƣợng giáo dục đại học
Đây là vấn đề được quan tâm nhất hiện nay Nguyên Phó chủ tịch
nước Nguyễn Thị Bình khẳng định “Đặc điểm lớn của GDĐH là đào
tạo nhân lực trình độ cao theo những lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, đồng thời phái tiến hành nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ cho nên tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm xã hội của các trường ĐH rất cao Chất lượng GDĐH phải trở thành lẽ sống, uy tín
và danh dự của chính nhà trường”
Bàn về vấn đề chất lượng GDĐH tại các diễn đàn, hội thảo, thông tin trên báo chí trong những năm vừa qua diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi Những ý kiến liên quan đến chất lượng giáo dục rất khác nhau thậm chí trái ngược nhau, nhưng không phải không có lý Có người bi quan với chất lượng giáo dục và cho rằng không thể sửa chữa chắp vá
mà phải làm lại từ móng Có người lại so với những năm 50 – 60 của thế
kỷ truớc và cho rằng thời ấy chất lượng giáo dục tốt hơn bây giờ Theo
5 Luật giáo dục, Điều 34,
Trang 33GS.TS Nguyễn Đức Chính “Nguyên nhân sâu xa nhất của những ý kiến khác nhau đó là vì chúng ta chưa xác định đúng bản chất của giáo dục hay nói cách khác là chưa xác định đúng vị trí của giáo dục trong cơ cấu
xã hội Việt Nam Và hệ quả là chúng ta chưa có cơ chế để phát triển theo đúng quy luật của nó”.6
Trong bài phỏng vấn GS.Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng do báo GD&TĐ thực hiện, GS Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng khẳng định: “ GDĐT của chúng ta trước hết phải khẳng định là thời gian vừa qua có nhiều thành tựu Trước đổi mới và sau đổi mới chúng ta đã có nền giáo dục đào tạo được hàng triệu con người, trong đó có đào tạo từ công nhân kỹ thuật, đến công chức, viên chức và giáo sư, tiến sĩ, phục vụ rất nhiều ngành kinh tế, xã hội của đất nước Chính họ đã đưa đất nước tiến nhanh
và đạt những thành tựu của công cuộc đổi mới Những thành tựu đó phải
là kết quả của GDĐT chứ? Nhiều người cứ phủ nhận rằng nền GDĐT của chúng ta bệnh hoạn, chẳng có thành tựu gì hoặc tồn tại nhiều khuyết, nhược điểm Tôi cho rằng cách nhìn như vậy là thiếu khách quan Dù thế nào đi nữa thì giáo dục cũng đã đào tạo được một đội ngũ phục vụ cho chế độ này Chúng ta đạt chuẩn phổ cập tiểu học – xóa mù chữ và đang tiến tới phổ cập THCS Đây là thành tựu của nền giáo dục chúng ta HS phổ thông của chúng ta khi tốt nghiệp, ra nước ngòai học, kể cả những người tốt nghiệp ĐH trong nước ra nước ngoài đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ, nhiều người học xuất sắc Nhìn chung HSSV Việt Nam ra nước ngoài là học giỏi, thông minh Vậy đây không phải là kết quả của nền giáo dục chúng ta thì là gì?”7
Đã có nhiều hội thảo bàn về chất lượng giáo dục đào tạo của chúng ta nói chung và chất lượng GDĐH nói riêng Trong thời gian từ
2002 – 2004 có nhiều hội thảo do các đơn vị tổ chức với những quy mô
Trang 34khác nhau bàn đến chất lượng giáo dục Tiêu biểu nhất có lẽ là hội thảo
“Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng GDĐH” do Báo GD&TĐ phối hợp cùng Trường ĐH Sư phạm TP HCM tổ chức tháng 11/ 2004 hay hội thảo “Làm gì để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo”, Bộ GD&ĐT phối hợp báo Nhân Dân tổ chức ngày 23/12/2003 với sự tham gia của nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhà giáo có uy tín trong cả nước Trong khi nền tảng kinh tế - xã hội có bước phát triển lớn, lĩnh vực
GD - ĐT ở nước ta cũng đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận Chỉ số con người (HDI) vượt trội so với GDP chứng tỏ Đảng và Nhà nước ta lụôn chú trọng đầu tư phát triển cho lĩnh vực quan trọng là giáo dục.Tuy nhiên, trước yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, của quá trình chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, trước xu thế toàn cầu hóa, GD - ĐT nước ta đang đối mặt với những thách thức lớn Thách thức lớn nhất hiện nay là vấn đề chất lượng GD – ĐT
Có rất nhiều ý kiến tranh luận về cách hiểu chất lượng giáo dục hiện nay Trong điều kiện nước ta hiện nay, cách hiểu phù hợp hơn cả là,
đó là “chất lượng là sự đáp ứng mục tiêu”, thế nhưng mục tiêu của giáo dục được ghi trong những văn bản chính thức hiện nay của nhà nước thì dường như chưa thực sự đạt được mức độ tường minh cần thiết, chưa được diễn đạt bằng các tiêu chí có thể đo lường được
GS.TS Nguyễn Đức Chính cũng khẳng định rằng: “Giáo dục của chúng ta chưa có mục tiêu hay nói cách khác là chưa có chuẩn và mỗi người đánh giá giáo dục theo chuẩn riêng mình Có thể tham khảo bằng
Trang 35Nền giáo dục của nước ta chưa thoát khỏi mô hình truyền thống của một nền giáo dục ứng thí, trong đó mục tiêu chủ yếu của người đi học là để đi thi Người đi học đáng ra phải thấm nhuần mục tiêu: học để biết, học để làm, học để hòa nhập cộng đồng và để tự khẳng định mình… còn thi cử chỉ là một khâu nhỏ trong học tập để có thể đánh giá sự thu hoạch của người học chứ không phải là mục đích cuối cùng Thế nhưng nhìn vào không khí học tập của ta hiện nay, hầu như toàn bộ nỗ lực của thầy và trò đều tập trung chủ yếu vào việc thi cử. 9
Khi GDĐH bùng nổ, tất cả các nước cũng như ở Việt Nam đều có vấn đề về chất lượng Nhưng chưa tìm thấy tài liệu nào trên thế giới nêu lên giải pháp chiến lược là hạn chế việc mở rộng quy mô để củng cố chất lượng Có lẽ đây là vấn đề sống còn của từng trường ĐH Khi chuyển nền giáo dục đại học từ „tinh hoa” sang “đại chúng” và nâng cao tỷ lệ
Tư tưởng Hồ Chí Minh
- “Ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
- “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”
- “Con người mới XHCN, phục vụ CNH – HĐH đất nước”
- “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
- Giáo dục là quốc sách hàng đầu
Định hướng cho giáo dục Các văn kiện đại hội Đảng, Nghị quyết TW 2, nghị quyết TW 4
Định hướng cho giáo dục
Mục tiêu (hệ mục tiêu)
Luật giáo dục Nghị quyết 40 của QH khóa X về đổi mới chương trình GD Nghị quyết 41 QH Khóa X về phổ cập
Chưa có
Trang 36sinh viên trong độ tuổi, chất lượng bình quân của cả nền đại học như có giảm xuống là điều đương nhiên Tuy nhiên, đáng tiếc một phần là do những chủ quan không đáng có của nền GDĐH Việt Nam Ví dụ: không sớm tổ chức phân tầng, đổi mới chương trình đào tạo và đề một số trường ĐH, một số chương trình có chất lượng đầu vào thấp vẫn học theo chương trình truyền thống, vì vậy nảy sinh vấn đề không thích hợp
và hiệu quả đào tạo là rất thấp Hoặc trong một thời gian tương đối dài ta
đã buông lỏng quản lý GDĐH , như đưa nội dung phát triển năng lực xã hội vào chương trình đào tạo nhằm tạo ra vốn xã hội…Cuối cùng một yếu tốt không nhỏ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đó là chi phí đào tạo không tăng tương ứng với mức tăng quy mô, vì vậy chi phí đào tạo trung bình giảm đáng kể, do đó, chúng ta đã phải đánh đổi giữa chi phí đào tạo và chất lượng đào tạo.10
Chất lượng GDĐH là một phạm trù mang tính lịch sử - cụ thể, là vấn đề phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: phẩm chất
và năng lực của người thầy, mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình,, giáo trình, điều kiện phục vụ dạy và học, nội dung và hình thức thi cử,, các chính sách, các định chế xã hội đối với giáo dục…Trong các yếu tố
trên, yếu tố quan trọng nhất, nền tảng nhất là mục tiêu giáo dục Bởi vì
mục tiêu giáo dục quy định chương trình, giáo trình, quy định phương pháp, phương tiện giáo dục, quy định nội dung và hình thức thi cử…Mục tiêu giáo dục không phải được xác lập một cách chủ quan, tùy tiện mà là
do thực tiễn xã hội quy định nhằm thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Ngày nay, trong xu thế tòan cầu hóa, mỗi quốc gia muốn hội nhập tốt để có thể cạnh tranh và phát triển thì trình độ khoa học và công nghệ phải ngang tầm với khu vực và thế giới Do đó, chất lượng giáo dục đại học muốn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
10
GS Phạm Phụ, Hội thảo “Làm gì để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo”, Bộ GD&ĐT phối hợp báo Nhân Dân tổ chức ngày 32/12/2003
Trang 37của đất nước thì cũng phải ngang với cái tầm ấy Chúng ta không chủ quan, ảo tưởng, không đòi hỏi chất lượng GDĐH Việt Nam ngày một ngày hai Nhưng cũng không phải vì thế mà chúng ta không mạnh dạn đặt ra mục tiêu phải nâng cao chất lượng GDĐH ngang tầm khu vực và trên thế giới
Mục tiêu giáo dục có thể đặt ra nhiều yêu cầu, song những yêu cầu
cơ bản nhất trong mục tiêu giáo dục đại học nước ta hiện nay là phải đào tạo người học:
- Có phẩm chất chính trị đạo đức tốt
- Có trình độ tri thức hiện đại
- Có kỹ năng vận dụng tri thức, kỹ năng thực hành giỏi
- Có năng lực sáng tạo cao 11
3.2 Xã hội hóa giáo dục đại học
Theo TS Trần Đăng Thao “Chúng ta cần phải đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tiệt để khai thác mọi thế mạnh và tiềm năng để phát tiển GDĐH Nếu nhìn và hiểu theo nghĩa rộng thì xã hội hóa giáo dục vừa là động lực vừa là chìa khóa vạn năng giúp chúng ta làm giáo dục”.12
Khơi dậy nguồn lực trong nhân dân đầu tư cho giáo dục là vấn đề
rất cần thiết và có phần cấp bách Theo GS Trần Hồng Quân: “Cái
chúng ta cần hiện nay là thêm động lực nội tại cho ngành giáo dục chứ không phải cần thị trường giáo dục” 13 Trong tình hình nước ta sắp bước vào thị trường lao động mở Bên cạnh đó nền kinh tế tri thức cũng cận
kề Vì vậy cần có cơ chế hợp lý để có thể huy động tiềm lực trong nhân dân
11 TS Nguyễn Chương Nhiếp, Chất lượng giáo dục đại học Việt Nam nhìn từ góc độ triết học
12 TS Trần Đăng Thao, Vì một nền giáo dục đại học đổi mới, tiên tiến, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH – HĐH của Tổ quốc, Báo cáo hội thảo khoa học “ Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng
GDĐH”
13 Báo GD&ĐT, số 151, ngày 16.12.2004
Trang 38PGS.TS Trần Thị Tâm Đan cũng cho rằng: “Tôi cũng lưu ý rằng trong thời gian qua với sự đóng góp của dân thông qua chính sách xã hội hóa, đã giúp cho giáo dục có một nguồn lực khá lớn Vấn đề đặt ra là chúng ta phải tổ chức quản lý thế nào để cho có hiệu quả”.14
Một khía cạnh khác của xã hội hóa mà nhiều người quan tâm đó chính là sự hỗ trợ của nhà nước cho các trường ngoài công lập Hiện nay, vấn đề bức xúc của các trường dân lập là không có đất để xây trường, trong khi đó việc cấp đất cho các dự án lại rất nhiều có khi dùng không hết Nhà nước cần phải có sự hỗ trợ cho các trường dân lập nếu đã xem công lập hay dân lập đều bình đẳng như nhau
Có một thực tế cần phải thừa nhận đó là nền giáo dục nước ta đang vận hành trong nền kinh tế thị trường Dù ít, dù nhiều nền kinh tế thị trường vẫn đang tác động và sẽ ngày càng tác động, can thiệp sâu vào mọi mặt của đời sống giáo dục, ảnh hưởng và chi phối những họat động giáo dục Các sản phẩm đào tạo ở bậc đại học hiện nay, sau tốt nghiệp sẽ phục vụ trực tiếp cho nền kinh tế thị trường GDĐH chỉ có thể phát triển tốt nhất và đáp ứng tốt nhất cho kinh tế, một khi nó biết tìm ra mối quan
hệ tương tác và dung hợp với nền kinh tế ấy
3.3 Vấn đề thương mại hóa trong giáo dục
Trong bài phát biểu về giáo dục cũng như trong bản kiến nghị gửi Chính phủ, GS Hoàng Tụy đã đề cập đến vấn đề xã hội hóa và thị trường hóa giáo dục rằng: “Gần đây, khi chúng ta thực hiện chủ trương
xã hội hóa giáo dục, nhiều người hiểu không thấu đáo vấn đề này nên tích cực hưởng ứng việc coi giáo dục là hàng hóa”15 Ông cho rằng đây
là điều sai lầm và nguy hiểm vô cùng vì trên thế giới, các nước phát triển đều không coi giáo dục là hàng hóa
14
Báo GD&TĐ, số 124, ngày 14.10.2004
15 Báo GD&TĐ, số 151, ngày 16.12.2004
Trang 39Theo GS Phạm Phụ, chúng ta cần phải thị trường hóa dịch vụ GDĐH vì ba lý do sau Trước hết, khi nền GDĐH chuyển sang giáo dục cho số đông, một áp lực ngày càng lớn đã đè lên ngân sách nhà nước Từ
đó, đầu tư từ ngân sách nhà nước tính trên đầu sinh viên đã có xu thế giảm liên tục trong những thập niên vừa qua Vì vậy, một mặt xã hội yêu cầu đại học phải được vận hành có hiệu quả hơn, mặt khác các trường
ĐH phải tăng thu từ các nguồn thu khác ngoài ngân sách nhà nước, trong
đó có học phí và mở rộng một số hoạt động có tính chất kinh doanh Thứ hai là ảnh hưởng của trường phái kinh tế học “tân tự do” (Neoliberalism) Lập luận tóm tắt của trường phái này là: Xã hội hiện đại rất đa dạng và phức tạp, việc ra quyết định và điều khiển tập trung là kém hiệu quả Để có hiệu quả cần phải chuyển việc cung cấp trực tiếp các dịch vụ xã hội, trong đó có Giáo dục từ chính phủ sang thị trường Thứ ba là ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa Toàn cầu hóa thực chất là việc tự do hóa thương mại, tự do di chuyển các luồng vốn và tự do di dân Và trong thương mại quốc tế có thương mại dịch vụ giáo dục Cho
dù vẫn còn rất nhiều tranh cãi về ảnh hưởng của trường phái “Tân tự do” cũng như ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với dịch vụ GDĐH, nhiều người vẫn cho rằng, sức ép về thương mại hóa GDĐH đối với các nước đang phát triển là điều gần như không thể tránh khỏi.16
Nói về vấn đề thương mại hóa giáo dục vẫn có những ý kiến dè dặt và cẩn trọng Trong bài phỏng vấn GS.Viện sĩ Phạm Minh Hạc, ông cho rằng: “Đánh giá giáo dục không phải để tôn vinh hay đả phá mà nhằm động viên giáo giới, học sinh, sinh viên cùng nhân dân chung sức thúc đẩy GDĐT đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Phải coi việc đầu tư cho giáo dục là đầu tư vào tài sản quốc gia vì sự phát triển của dân tộc chứ không phải chỉ quan hệ tiền – hàng theo cơ chế thị trường Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Định
16 Phạm Phụ, Dịch vụ GDĐH và cơ chế thị trường, Tạp chí Tia Sáng, số 6, ngày 20.07.2005
Trang 40hướng XHCN được xác định bằng nhiều thứ, trong đó có yếu tố văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, xây dựng con người XHCN Vì vậy làm kinh tế thị trường nhưng không thể biến trường thành thị trường được Trường là trường chứ trường không thể là chợ Tất nhiên, nhà giáo, CB quản lý làm công ăn lương đều mong muốn lương cao, những nhà giáo dạy ở trường dân lập nguồn thu chủ yếu dựa vào đóng góp của người học Tuy nhiên, tuyệt đối không bao giờ coi đó là người bán chữ Đây là việc đem chữ nghĩa, đạo lý để đào tạo nên con người cho cả dân tộc tạo nên một thế hệ tiếp nối để phát triển đất nước, đào tạo “thế hệ cách mạng cho đời sau” như Bác Hồ đã di chúc lại.”17
3.4 Vấn đề quyền tự chủ ở trường đại học
Một trong những vấn đề trong đào tạo được nhiều người quan tâm
đó chính là phân cấp và giao quyền cho trường ĐH Tuy nhiên tìm ra giải pháp cho vấn đề này là điều không đơn giản Lâu nay, các trường
ĐH ở nước ta thực chất chỉ làm công việc đào tạo còn những việc khác thì phần lớn đã có các cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý Nhà nước lo Giải quyết vấn đề giao quyền tự chủ cho các trường thì cần xác định giao những gì, giao đến đâu và cơ chế quản lý sẽ phải thay đổi như thế nào cho phù hợp? Các trường ĐH hiện nay đang rất cần tự chủ về tài chính,
tự chủ về tổ chức nhân sự và tự chủ trong đào tạo Giao quyền tự chủ cho các trường ĐH sẽ tác động lớn đến hệ thống giáo dục cả nước Nếu những rào cản trong quản lý giáo dục hiện nay được dỡ bỏ thì sẽ xuất hiện “cú hích mạnh” đối với các trường đại học trong việc nâng cao chất lượng Tất nhiên việc đó phải đi đôi với việc thay đổi cả cơ chế quản lí hiện hành
17 Báo GD&TĐ , số 91, ngày 29/07/2004