Trong những vấn đề lớn đó, nghiên cứu một mảng nhỏ của thời kỳ có liên quan và tác động trực tiếp đến lịch sử Việt Nam, ở một chừng mực sẽ có điều kiện thuận lợi, nhiều vấn đề có thể đượ
Trang 1đại học quốc gia hà nội
trường đại học khoa học x hội và nhân văn
Trang 2đại học quốc gia hà nội
trường đại học khoa học x hội và nhân văn
Trang 3lời cảm ơn
Trong suốt quá trình làm luận văn, tôi đ nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các thầy, cô, các nhà nghiên cứu, bạn đồng nghiệp, đặc biệt là các Thầy, Cô của Bộ môn Lịch sử Thế giới - Khoa Lịch sử Tôi xin cảm ơn sự cố vấn khoa học tận tình của PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ; chân thành tri ân sự chỉ dẫn
và giúp đỡ của các cán bộ thư viện Viện Sử học, EFEO, Viện Thông tin KHXH, thư việc Quốc gia, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, phòng tư liệu Khoa Lịch sử - trường ĐHKHXH&NV (ĐHQGHN), Trung tâm Văn hóa Pháp CFC - L'Espace; xin cảm ơn Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đ tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi theo học tại Trường
Lời cảm ơn cuối cùng tôi xin được gửi lên Thầy - PGS.TS Nguyễn Văn Kim, với tư cách là giáo viên hướng dẫn khoa học Mặc dù bận nhiều công việc, Thầy vẫn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và sửa chữa từng trang bản thảo từ đầu đến cuối Chủ đề mà tôi theo đuổi đ hoàn thành trong quá trình lao động miệt mài, nghiêm túc bên cạnh luôn có sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tâm của Thầy - PGS.TS Nguyễn Văn Kim!
Học viên
Trang 4lời cam đoan
Đề tài "Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa cuối thế
kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX" là một chủ đề khó Tư liệu còn lại không nhiều, tài liệu tham khảo phần nhiều chỉ dựa vào các tư liệu gốc (tư liệu trực tiếp) Hơn nữa, tôi chủ yếu sử dụng các tư liệu tiếng nước ngoài, đặc biệt là của người Pháp Trên cơ sở tổng hợp và phân tích cụ thể, khoa học những tư liệu trên, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận cần thiết trong việc thể hiện, gợi mở và chứng minh các luận điểm khoa học
Tôi xin cam đoan tất cả những điều viết trong luận văn là kiến thức của mình, luận văn không sao chép kết quả nghiên cứu của người khác mà không trích dẫn, chú thích cụ thể
Học viên
Trang 5c¸c Ch÷ viÕt t¾t
CIO La Compagnie FranÇaise des Indes Orientales - C«ng ty
§«ng Ên Ph¸p MEP La Société des Missions Étrangères de Paris - Héi truyÒn
gi¸o Ngo¹i quèc Paris EIC English East India Company - C«ng ty §«ng Ên Anh VOC Vereenigde Oost-Indische Compagnie - C«ng ty §«ng Ên
Hµ Lan BAVH Bulletin des Amis du Vieux Huª - TËp san Nh÷ng ng−êi
b¹n HuÕ x−a BEFEO Bulletin de l’Ðcole FranÇaise d’Extrªme-Orient - B¶n tin
tr−êng ViÔn §«ng B¸c cæ Ph¸p R.I Revue Indochinoise - T¹p chÝ §«ng D−¬ng
I.I.E.H Institut Indochinois pour l'Ðtude de l'homme - ViÖn §«ng
D−¬ng vÒ Nghiªn cøu con ng−êi
Trang 6Danh mục các hình, bảng, biểu trong luận văn
Trang
1 Bản đồ phân chia phạm vi kiểm soát của người Bồ Đào Nha theo
Hiệp định Tordésillas năm 1494 và một số đoạn trích của Hiệp
Trang 7mục lục
phần mở đầu
phần mở đầu Trang
bối cảnh chính trị, kinh tế - x hội của Pháp và Việt
Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVII
I Tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Pháp trong nửa đầu thế kỷ XVII 21
1 Chính sách mở rộng hải thương của Pháp và sự ra đời của Hội Truyền
giáo nước ngoài Paris (MEP) và Công ty Đông ấn Pháp (CIO)
21
2 Giáo sĩ Thừa sai, thương nhân Pháp trong việc xác lập vị thế giáo
phận và thâm nhập về kinh tế của Pháp ở Viễn Đông 33
II Bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVII 38
1.1 Sự phát triển của các ngành kinh tế và chính sách của chính
quá trình xâm nhập của pháp vào việt nam từ nửa sau
thế kỷ XVII đến những năm đầu thế kỷ XIX
I Quá trình xâm nhập vào Việt Nam của Pháp qua thương mại và truyền 62
Trang 8giáo từ nửa sau thế kỷ XVII đến nửa đầu XVIII
1.1.2 Các hoạt động buôn bán với Đàng Ngoài 63 1.2 Quá trình xâm nhập và xác lập giáo phận của Pháp 66
2.2 Những nỗ lực không thành của MEP và CIO về thương mại 75
2.2.2 Khả năng thương mại CIO, tình hình Đại Việt 77 2.3 Những thay đổi và tác động từ chính sách cởi mở đến các sắc
chỉ cấm đạo và hạn chế thương mại của giới cầm quyền Đại Việt 79 2.3.1 Những khó khăn qua ghi chép của người Pháp 79 2.3.2 Nước Pháp trong mối quan hệ phức hợp với các nước
2.3.3 Các lệnh cấm đạo, hạn chế thông thương 84
II Liên hệ Pháp - Việt trong nửa sau thế kỷ XVIII và những năm đầu thế kỷ XIX 91
1 Sự rút lui của những "thương nhân Pháp" cuối thập niên 60 thế kỷ XVIII 91
2 Bối cảnh chính trị, văn hóa - x hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII 95
2.1 Phong trào Tây Sơn 95
2.2 Tình hình văn hóa - x hội Việt Nam dưới thời Tây Sơn 97
2.3 Nguyễn ánh với giáo hội công giáo
102 3 Pigneau de Béhaine với kế hoạch chính trị và quân sự
107 3.1 Pigneau de Béhaine với Nguyễn ánh
107 3.2 Sự du nhập của kỹ thuật quân sự Pháp vào Việt Nam 111
III Tiểu kết
114
Hệ quả của quá trình xâm nhập của pháp vào
Việt nam
Trang 9I Hệ quả của quá trình xâm nhập về kinh tế 116
2 Kết quả của 100 năm buôn bán CIO - Đại Việt (1669-1769) 132
3 Sự can thiệp của M.E.P vào các hoạt động của CIO 135
II Sự thâm nhập của người Pháp vào đời sống chính trị, văn hóa - xã hội
Việt Nam
138
1 Vai trò của người Pháp trong đời sống tôn giáo Đại Việt 138
2 Vị thế của người Pháp dưới thời Nguyễn ánh và triều Gia Long 141
3 Nguyên nhân dẫn đến những xung đội văn hóa thời Nguyễn 148
3.1 Quan hệ giữa Thiên chúa giáo với các giá trị văn hóa phương
3.2 Chính sách đối với Viễn Đông của Pháp và sự mở rộng của
3.3 Những chuyển biến trong chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn
153
III Tiểu kết 157
Kết luận 159
tài liệu tham khảo 167
phụ lục 176
Trang 10phần mở đầu phần mở đầu
1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Những năm gần đây, cùng với xu hướng phát triển khoa học nói chung, đ xuất hiện này càng nhiều các công trình viết về những chuyển biến của đất nước trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa Để truyền tải những thành quả và kinh nghiệm nghiên cứu tiên tiến nhất trên thế giới giai đoạn hậu WTO, các cuốn sách nghiên cứu về kinh tế, chính trị ngày càng được biên soạn nhiều và đ phần nào chiếm được thị hiếu của độc giả Việt Nam Và trong xu thế hội nhập quốc tế mạnh
mẽ đó, những "khoảng trống" trong nhận thức và nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Việt Nam chắc chắn sẽ dần được làm sáng rõ và "lấp đầy" với sự tham gia ngày càng sâu, rộng của giới nghiên cứu trong nước và quốc tế
Khi đề cập đến lĩnh vực khoa học x hội và nhân văn, tác động của xu hướng trên mặc dù vẫn được nhìn nhận là ít hơn và thường gián tiếp, song tùy từng vấn đề mức độ ảnh hưởng lại có sự khác biệt nhất định Trong những vấn đề lớn đó, nghiên cứu một mảng nhỏ của thời kỳ có liên quan và tác động trực tiếp đến lịch sử Việt Nam, ở một chừng mực sẽ có điều kiện thuận lợi, nhiều vấn đề có thể được làm sáng tỏ, giải quyết thấu đáo trên cơ sở các nguồn tư liệu và phương pháp tiếp cận, nghiên cứu mới
Chúng tôi luôn nhìn nhận sự kiện lịch sử là một quá trình Quá trình đó là hệ quả của những tác nhân trực tiếp, gián tiếp hay chủ quan và khách quan Chúng tôi tôn trọng các công trình nghiên cứu lịch sử giải quyết các vấn đề trên cơ sở của những nguồn tư liệu thực sự thuyết phục, khách quan, tôn trọng lịch sử
Từ nhiều năm nay, trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam và khu vực vẫn còn một số vấn đề phức tạp hay chưa có sự đồng thuận, còn ít thể hiện quan điểm cá nhân Nhưng hiện nay, các nhà sử học có thể mạnh dạn đưa ra các quan điểm nghiên cứu riêng và phần nào tạo được không khí tranh luận để cùng đi đến sự thống nhất ở một số điểm nhất định Biểu thị cho khuynh hướng nghiên cứu đó là việc nhìn nhận lại các nhân vật lịch sử Việt Nam Đây thực sự là chiều hướng khách quan mà theo như cố GS Trần Quốc Vượng, lịch sử Việt Nam luôn phải
được suy nghĩ, nhìn nhận lại (Thinking and rethinking the history of Vietnam)
Liên tiếp trong các số của tạp chí Xưa và Nay [18] GS Trần Văn Giàu đ dành nhiều tâm lực phân tích nguyên nhân thất bại của vua quan nhà Nguyễn trước chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam Chủ đề này thực sự có ý nghĩa không chỉ trên phương diện lý luận, phương pháp luận mà còn giúp chúng ta nghiêm túc nhìn
Trang 11nhận lại quá khứ, các nhân vật lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo và luôn chịu tác động của lịch sử, cũng như con đường phát triển, cơ hội và thách thức của vận mệnh dân tộc trước xu thế mà như gần đây một số nhà nghiên cứu kinh tế thương mại Việt Nam vẫn coi là giai đoạn thứ hai của quá trình "Toàn cầu hóa" Trong đó, tác giả cũng để ngỏ nhiều vấn đề để các nhà nghiên cứu sau này có thể tập trung đi sâu giải quyết
Như chúng tôi đ trình bày ở trên, để có thể xem xét thấu đáo một vấn đề, ngoài việc đặt sự kiện đó trong bối cảnh lịch sử cụ thể, nhìn nhận nó dưới lăng kính hiện tồn, song cũng thật sự cần thiết nếu đặt chúng trong một quá trình phát triển liên tục khách quan; hay nói khác đi, nghiên cứu chúng trong sự phát sinh - phát triển trên cơ sở cố gắng phân tích nguyên nhân và nguồn gốc sâu xa của các sự kiện lịch sử Khi nghiên cứu sự thất bại của Việt Nam trước thực dân Pháp, thật cần thiết khi chúng ta nghiên cứu lại những liên hệ ban sơ, quá trình phát triển liên tục của hai nước để dẫn đến sự kiện 1858 Bên cạnh đó, công trình còn nghiên cứu quá trình từ thiết lập quan hệ kinh tế đến xâm lược của chủ nghĩa thực dân, từ các hoạt
động dân sự đến các hoạt động quân sự và chiến tranh xâm lược Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ nội dung, bản chất và mối liên hệ giữa hai giai đoạn đó cũng là một trong những nội dung chính của bản luận văn
Chúng tôi đánh giá cao việc phát hiện những điểm dị biệt nằm trong một tổng thể sự kiện tưởng chừng như bất biến, tất yếu Những chuyển biến về kinh tế
của Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế giai đoạn tiền thực dân (pre-colonial) cho
đến nay vẫn chưa thấy xuất hiện nhiều công trình chuyên khảo công phu Việt Nam trong giai đoạn đó là một hiện tượng phát triển dị biệt trong lịch sử dân tộc, là sự
đột khởi của nền kinh tế phong kiến phương Đông Đặc biệt, nhiều vấn đề ở Đàng Ngoài và Đàng Trong có thể được coi như những chuyển biến đầu tiên, tại đó lần
đầu tiên khuynh hướng quốc tế hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ được bộc diện hơn bao giờ hết
Trên cơ sở những định hướng nghiên cứu đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVII đến
đầu thế kỷ XIX làm chủ đề nghiên cứu của luận văn Thạc sĩ Mục đích luận văn dừng lại ở những đóng góp sau:
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu về hoạt động thương mại của Công ty Đông
ấn Pháp (La Compagnie Fran ầ aise des Indes Orientales, CIO) với Đại Việt từ nửa sau thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII của các nhà nghiên cứu người Pháp, các học
giả phương Tây Làm rõ những quan hệ, mối tương tác đặc biệt giữa MEP (La
Sociộtộ des Missions ẫtrangốres de Paris, Hội Truyền giáo Ngoại quốc Paris, còn
Trang 12có tên khác là Hội Thừa sai Paris) với toàn bộ hoạt động của Công ty Đông ấn Pháp trong suốt quá trình giao thương với Đại Việt
- Phân tích sự chuyển biến về kinh tế, chính trị căn bản trong 3 thập kỷ cuối thế kỷ XVIII đặc biệt dưới 3 triều đại của Pháp: Louis XV (cq: 1715 - 1774), Louis XVI (cq: 1774-1791) và Napoléon Bonaparte (Napoléon đệ nhất, cq: 1804-1815);
và tình hình Đại Việt trong bối cảnh nội chiến: dưới thời Tây Sơn, Nguyễn ánh (cho đến trước năm 1802) và thời Gia Long đầu triều Minh Mạng (giai đoạn từ năm
1802 đến 1820)
- Đánh giá lại vai trò của các giáo sĩ Thừa sai người Pháp dưới danh nghĩa các "thương nhân" của CIO; các nhân vật lịch sử Alexandre de Rhodes, Franỗois Pallu, Lambert de la Motte, Pigneau de Béhaine, Nguyễn ánh được nhìn nhận như sản phẩm của thời đại, cũng như của quá trình tiếp xúc lịch sử lâu dài giữa Pháp và Việt Nam Đồng thời, căn nguyên của những xung đột văn hóa dưới triều Nguyễn sau này đều bắt nguồn từ những thay đổi căn bản và ràng buộc từ những chuyển biến thời kỳ này
- Tất cả những tác nhân từ liên hệ về thương mại, những cuộc điều tra tỉ mỉ phải chăng chỉ thuần túy mang "tính chất thương mại", các cuộc tiếp xúc lịch sử giữa Pháp - Việt giai đoạn cuối thế kỷ XVIII có vai trò quan trọng cho quá trình can thiệp ngày càng sâu của các giáo sĩ Pháp, cũng như tạo cho thực dân Pháp có
được những hiểu biết cần thiết trong quá trình chuẩn bị xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về cơ bản, chúng tôi chia ra hai mảng tập trung nghiên cứu: văn hóa, chính trị và kinh tế thương mại
2.1 Về văn hóa, chính trị: trong công trình nghiên cứu tiếng nước ngoài, trước hết phải kế đến những tập du lý, hồi ký của thương nhân và giáo sĩ phương Tây như Ch.Borri [6]; Alexandre de Rhodes [57],[58]; J.B Tavernier [63]; W.Dampier [10]; John White [82]; John Barrow [2] Hầu hết các tập sách đó là những mô tả khá chi tiết về hầu hết mọi mặt đời sống của cư dân Đại Việt thế kỷ XVII Những ghi chép và phác họa đó đều có một điểm chung thể hiện thái độ tích cực về tiềm năng đất nước, con người Đại Việt Nhiều du ký, hồi ký cho thấy rõ cái nhìn trực quan sinh động, nhưng cũng bộc lộ trí tò mò, giản đơn khi phân tích, nhận thức về một xứ sở phương Đông kỳ thú dưới lăng kính của người Tây phương Thế kỷ sau đặc biệt xuất hiện các ghi chép của người Pháp, với nhiều mục đích khác nhau, đề cập trực tiếp đến nhiều vấn đề lớn trên phạm vi tương đối rộng [4] Thời kỳ này, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến báo cáo của các giáo sĩ Trên thực tế, đó
Trang 13chỉ là "mémoires" hay nhật ký song, qua đó cho chúng ta thấy diễn tiến và mức độ quan tâm đến tình hình Việt Nam thế kỷ XVIII đến đầu XIX của người phương Tây Hơn nữa, đây chắn chắn là tư liệu hữu ích khi nghiên cứu giai đoạn từ giữa thế
hình chính trị và tôn giáo của ta thời Tây Sơn dưới tên ẫtat actuel-Du Tonkin de la
Cochinchine et des royammes de Camboge, Laos et Lac Tho (Traduit d'après les relations originales de ce voyageur) [4], ký sự xuất bản ở Paris, năm 1812 Tuy nhiên, tập sách đó chỉ dừng lại là những ký sự về tình hình x hội Đàng Trong với một sự so sánh bước đầu về khu vực Mặt khác, cuốn ký sự đó cho thấy bối cảnh,
đời sống chính trị phong phú của Việt Nam dưới tác động của cuộc nội chiến khốc liệt trong lịch sử Việt Nam
Đến cuối thế kỷ này, năm 1885, có một công trình nghiên cứu nổi tiếng xuất
hiện ở Paris có tên La Cochinchine religieuse [123] của linh mục Louvet Được
dịch ra tiếng Việt với nhan đề "Xứ Nam Kỳ mộ đạo", công trình gồm 2 tập (tập 1, 1550-1779, tập 2, 1800-1884) Đây là một chuyên khảo hết sức công phu, trình bày hầu như trọn vẹn tình hình đời sống tôn giáo Đàng Trong cho tới trước khi thực dân
Pháp chính thức biến khu vực này thành Nam và Trung Kỳ thuộc Indochine
Fran ầ aise Đặc biệt, lần đầu tiên công trình đưa vào các quan điểm từ nhiều phía, trên cơ sở cách nhìn cá nhân nhưng trên nền tài liệu khoa học, có sức thuyết phục cao Thời gian này cũng ghi nhận một công trình đồ sộ về lịch sử của MEP từ khi thành lập [118] của A Launay Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến thời điểm cuối thế kỷ XIX về những hoạt động của MEP ở Viễn Đông nói chung
Đặc biệt ghi nhận lần đầu tiên những tư liệu gốc (tư liệu trực tiếp) được tập hợp trong một bộ sách được coi như bách khoa thư về MEP
Phải cho đến đầu thế kỷ XX các công trình chuyên khảo về Việt Nam mới bắt đầu được nhà nghiên cứu sưu tầm, công bố Mở đầu trong số đó là tập đại thành của A Launay trên cơ sở của công trình đồ sộ về MEP ở trên đ ra đời 3 cụm công
trình nổi tiếng liên quan trực tiếp đến Việt Nam: Les missionnaires Fran ầ aise au Tonkin [119] xuất bản ở Paris năm 1900; 3 tập của Histoire de la mission de
Cochinchine 1658 - 1823 [120] và Histoire de la mission du Tonkin [121] xuất bản
ở Paris năm 1924 và 1927 Đây là những tập tư liệu gốc hết sức phong phú và có
Trang 14giá trị khi nghiên cứu về những liên hệ về tôn giáo Pháp - Việt giai đoạn tiền thực dân Đây chính là nguồn cảm hứng và là kho tư liệu cho hầu hết các công trình nghiên cứu về sau này của học giả trong và ngoài nước Làm việc với tinh thần khoa học nghiêm túc, cẩn trọng, các công trình của A Launay là một tập hợp tư liệu rút ra từ những báo cáo, ghi chép, hồi ký, lệnh dụ dưới mọi hình thức: nháp, viết tay, tốc ký, công văn, công hàm, thư từ, lệnh dụ được tập hợp lại, hệ thống hóa trên cơ sở chỉ dẫn khoa học Đây là những nguồn tư liệu trực tiếp để tiếp cận lịch sử Việt Nam giai đoạn từ khi Pháp chính thức bước chân lên lnh thổ nước ta
Công trình nghiên cứu của Charles Maybon [130] mặc dù đề cập đến những vấn đề lịch sử Việt Nam trên một diện tương đối rộng nhưng trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu trước, C Maybon đ khá thành công khi phác họa ở mức khái quát quá trình thâm nhập về tôn giáo của các giáo sĩ Tòa thánh nói chung và sau này là MEP nói riêng Hơn nữa, phần đề cập đến tình hình tôn giáo Việt Nam dưới tác động của mối quan hệ tương tác Pigneau de Béhaine và Nguyễn ánh là thành công của C Maybon với những đánh giá khá sâu sắc trên cơ sở tư liệu của A Launay cũng như kết quả nghiên cứu được đăng trên các tập san như BSEI, BAVH,
RI, BEFEO, kho lưu trữ Pháp, Pondichéry
Thập kỷ 50 của thế kỷ XX, xuất hiện ngày càng nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này, trong đó chúng tôi lưu ý đến bốn công trình của Jean Chesneaux,
Contribution à l'histoire de la nation Vietnamienne [101], Le Vietnam, Histoire et
civilisation [113] của Lê Thành Khôi, 2 tập nghiên cứu của Georges Taboulet, La
geste Franỗaise en Indochine [136] và Joseph Buttinger, The Smaller Dragon - A
Political History of Vietnam [89] Thuộc trường phái A Launay, hai tập tư liệu của Taboulet đ đề cập hầu hết những liên hệ của Việt Nam với Pháp trong khoảng gần
4 thế kỷ Điểm đặc biệt của G Taboulet là tư liệu đó được xử lý trên một diện rộng, sắp sếp theo chủ đề theo diễn biến thời cuộc chính trị của Việt Nam Đây cũng là nguồn tư liệu gốc hết sức quý giá cho các nhà nghiên cứu trên mọi phương diện Hai tác phẩm còn lại nhìn chung đều phản ánh lịch sử Việt Nam nói chung, những nghiên cứu thể hiện quan điểm rõ ràng hơn quan điểm cá nhân về lịch sử Việt Nam
từ khởi thủy cho đến đầu thế kỷ XIX Do tính chất thông sử đó nên giai đoạn lịch
sử mà chúng tôi đang nghiên cứu chỉ được trình bày sơ lược, các nhận định thường
được dẫn lại từ A Launay hay C Maybon
Những thập kỷ cuối thế kỷ XX, một số công trình nghiên cứu đ ra đời dưới ngòi bút của các sử gia nổi tiếng như Lê Thành Khôi [114], Nguyễn Thành Nh [131], Nguyễn Thế Anh [83], Alain Forest [106] Những tác phẩm trên là những cuốn sách thông sử Việt Nam công phu, cũng như các luận văn trình bày sâu sắc dựa
Trang 15trên những nhận định khoa học mang tính chất tổng kết Với Les missionnaires
Fran ầ ais au Tonkin et au Siam (XVII ốme -XVIII ốme siốcles), Alain Forest đ xuất bản
bộ 3 công trình nghiên cứu so sánh Việt Nam và Siam trong giai đoạn truyền giáo giai đoạn thế kỷ XVII Đây là công trình đồ sộ và so sánh điển hình về tình hình xâm nhập, xác lập về địa vị tôn giáo của MEP trên đất Việt Nam và Siam (Thái Lan) Trong những năm gần đây, với nhiều tác phẩm có giá trị khác, chúng tôi lưu ý đến
nghiên cứu của Frộdộric Mantienne, Les relations politiques et commerciales entre
la France et la pộninsule Indochinoise (XVII e siốcle) [127] dưới khía cạnh quan hệ
chính trị (les relations politiques)
Đề cập đến tình hình văn hóa, x hội Việt Nam giai đoạn này không thể không kể đến các luận văn được đăng tải trên BEFEO, BAVH, RI Trong số những tác giả của BAVH như M Gaudart, P Huard, H Cosserat , Léopold Cadière với trên dưới 250 công trình nghiên cứu [24] về văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng Việt Nam đ xác định vị trí học giả trên lĩnh vực Việt Nam học Riêng đối với mảng đề tài liên quan, chúng tôi sơ bộ thống kê được hơn 10 luận văn đang tải chủ yếu trên BAVH Đây là những nguồn tư liệu thành văn rất có giá trị thể hiện phong cách nghiên cứu thuộc "Trường phái EFEO" nổi danh một thời
Đối với mảng sách tiếng Việt, chúng tôi rất coi trọng đến những bộ chính sử của Việt Nam như Đại Việt sử ký toàn thư, Phủ biên tạp lục, Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục Trên cơ sở đối chiếu so sánh chính sử, với vốn ngoại ngữ tinh thông, công trình nghiên cứu của Linh mục, nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng [23], Hồng Lam [43], Trương Bá Cần [8], Phan Khoang [33], Phan Phát Huồn [25] là những công trình đặc biệt giá trị, giúp chúng ta nhận diện gần như trọn vẹn đời sống tôn giáo và mối liên hệ về tôn giáo trong một thời kỳ dài từ khởi nguyên Chúng tôi đánh giá cao ba tác phẩm, một là Việt - Nam giáo - sử của Phan Phát Huồn, là một linh mục, khó tránh được những chủ quan nhưng tác giả đ cố gắng thể hiện vấn đề dưới ngòi bút chân thực, khách quan, tôn trọng lịch sử, đặc biệt là sự thành công của tác giả về mặt tư liệu Chứng minh một luận thuyết hay vấn đề khoa học, nhận định sự kiện, phê phán sử liệu dưới những dẫn chứng tư liệu khách quan là việc làm tối ưu khi nhận diện chân giá trị lịch sử Hai là công trình nghiên cứu về Công giáo Đàng Trong của Trương Bá Cần Đây là tập sách gần như trọn vẹn nhất tập trung vào tình hình Công giáo thời Giám mục Adran tại Đàng Trong trong 28 năm Cuối cùng là công trình Việt - Pháp bang giao sử lược [32] của Phan Khoang mang tính chất lược sử quan hệ trên cơ sở đó hình thành bộ Việt sử xứ Đàng Trong [33] mà không ít sử gia đ đánh giá cao và trích dẫn
Trang 16Theo dòng quan điểm như vậy, tập sách của Nguyễn Văn Kiệm: Góp phần tìm hiểu một số vấn đề Cận đại Việt Nam [38] là sự tập hợp các bài nghiên cứu chuyên sâu về mảng đề tài tôn giáo, xác lập vị thế hàng đầu trên lĩnh vực nghiên cứu quan hệ Việt - Pháp dưới góc độ tôn giáo Công trình Sự du nhập của đạo Thiên chúa ở Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX [37] của Nguyễn Văn Kiệm là nguồn tham khảo quý giá đối với bất kỳ ai nghiên cứu về vấn đề tôn giáo Việt Nam giai đoạn trước Pháp thuộc
Mặc dù viết về giai đoạn từ năm 1857 đến 1914, song công trình vốn phát triển từ luận án Tiến sĩ Quốc gia đệ nhất của Đại học Paris danh giá (năm 1969) tên
ban đầu là Christianisme et colonialiste au Vietnam, 1857 - 1914, sau đó xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1990 tại Mỹ Les missionnaires et la politique coloniale
fran ầ aise au Vietnam, 1857 - 1914, đầu năm 2003 công trình này đ được ra mắt bạn
đọc Việt Nam nhan đề Giáo sĩ Thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857 - 1914) [65], là nền lý luận cho bất kỳ nhà sử học nào nghiên cứu về mối liên hệ giữa chính sách thuộc địa với công cuộc truyền giáo Cùng với đó, công trình nghiên cứu của Tạ Chí Đại Trường [70], [71], Yoshiharu TsuboЇ [72] đ góp thêm vào việc nghiên cứu bối cảnh chính trị, x hội, quân sự trước và trong quá trình xâm lược thực dân Pháp ở Việt Nam
Cuộc Hội thảo về Một số vấn đề lịch sử Đạo Thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam [76] diễn ra cuối thập niên 80 thế kỷ XX đ tập hợp hầu hết các nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng trong nước Vấn đề về quan hệ văn hóa Việt - Pháp cũng chiếm được sự thu hút đặc biệt của Hội thảo Trên cơ sở các luận văn, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo cũng đ tập hợp lại xuất bản cuốn Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam [64] đề cập đến kết quả nghiên cứu về tôn giáo nhân kỷ niệm 5 tạp chí năm ra số đầu tiên Trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử có thể điểm qua được một số luận văn như của Trương Hữu Quýnh [55], Bùi Hạnh Cẩn [7]
Bên cạnh đó, những luận văn khoa học đ được đăng tải nhiều trên các tạp chí quốc tế của nhiều nhà nghiên cứu, trong số đó có thể kể đến những chuyên gia nổi tiếng như Trần Văn Đoàn [14], Trần Văn Toàn [67], Roland Jacques Mặt khác, các bộ thông sử của Pháp [85], [122] hay vấn đề truyền giáo của Pháp nói chung [132] cũng được chúng tôi vận dụng trên cơ sở của phương pháp so sánh và tổng hợp
2.2 Về kinh tế thương mại qua công trình nghiên cứu tiếng nước ngoài: Các
công trình rất đáng tham khảo của A Launay và G Taboulet, công trình Histoire
moderne du Pays d’Annam (1592-1820) [130] của Ch.Maybon có thể nói là cuốn chuyên khảo đầu tiên và có lẽ là duy nhất về quan hệ thương mại Việt - Pháp giai
Trang 17đoạn cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII W.M Buch có công bố công trình về hoạt động thương mại của Công ty Đông ấn Hà Lan (VOC) với Đông Dương [88], cùng những nghiên cứu sau này về VOC [74], Công ty Đông ấn Anh (EIC) [73], cộng với công trình của Ch.Maybon ở trên, bộ ba Công ty Đông ấn nổi tiếng đ phần nào được nhận diện tương đối đầy đủ, qua đó dựng lên bức tranh ngoại thương Việt Nam với các nước phương Tây thế kỷ XVI -XVIII Có thể phần nào chắt lọc những thông tin liên quan trong các bộ thông sử Việt Nam của Lê Thành Khôi, Jean Chesneaux Chúng tôi thấy cũng cần thiết tham khảo công trình nghiên cứu của Nguyễn Thành Nh [131] và đặc biệt công trình của Mantienne tập trung khảo cứu kinh tế của Pháp với bản đảo Đông Dương chủ yếu là Siam và Đại Việt trong thế kỷ XVII Đây là công trình nghiên cứu về hoạt động thương mại Pháp - Việt gần đây nhất và là kết quả nghiên cứu của Mantienne trên cơ sở tư liệu của A Launay, C Maybon và đặc biệt từ kho lưu trữ của MEP dưới dạng file code M.E của kho lưu trữ hải ngoại Aix-en-Provence
Trên tạp chí BEFEO, BAVH, RI, một số luận văn cũng đề cập đến quá trình giao thương Pháp -Việt, song với tính chất hạn chế của hoạt động này, có thể nói
đây là vấn đề khó vì thiếu thốn tư liệu nên hầu hết các công trình đó chỉ dừng lại ở việc mô tả quá trình thiết lập quan hệ buôn bán giữa CIO với Đại Việt trong bối cảnh thương mại nhằm phục vụ cho công cuộc truyền giáo được thuận lợi
Về tài liệu tiếng Việt, chính do thiếu thốn tư liệu nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về giao thương Việt - Pháp thế kỷ XVII-XVIII Các công trình của PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ về Thăng Long - Hà Nội [27], Nguyễn Thế Anh về kinh
tế - x hội Việt Nam dưới các vua Nguyễn [1], Li Tana về kinh tế Đàng Trong [62]
và Thành Thế Vỹ với cuốn Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX [81] là những nguồn tham khảo rất quan trọng ban đầu có thể nhận dạng khái lược giao thương giữa hai nước trong hệ thống ngoại thương Việt Nam thời kỳ này Trong các bộ thông sử [44], [48], [69], chúng tôi có thể khai thác được qua những nhận định chung về tình hình giao thương của Đại Việt Công trình của Phan Khoang chuyên về xứ Đàng Trong và cuốn Việt-Pháp bang giao sử lược đ giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình định hướng tư liệu, cũng như qua các công trình nghiên cứu về tôn giáo đ trình bày ở trên Song tất cả vẫn còn tương đối mới mẻ
đối với người nghiên cứu khi tập trung trình bày về giao thương Việt - Pháp thế kỷ XVII-XVIII
Tóm lại, nêu qua lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi muốn được chia sẻ hai
điểm: Thứ nhất, còn quá nhiều tư liệu có thể tiếp cận được tại nước ngoài (nhất là kho Lưu trữ MEP tại Pháp) khi nghiên cứu về Việt Nam thế kỷ XVI-XVII-XVIII,
Trang 18cũng như các công trình nghiên cứu của học giả quốc tế; thứ hai, vẫn còn nhiều
"khoảng trống" về nhận thức lịch sử, do vậy rất cần thiết có những đề tài nghiên cứu cụ thể, nghiên cứu trường hợp, chuyên sâu để nhận diện sâu sắc hơn trên một nền thông sử chung
3 phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại trong việc sưa tầm, phân tích quá trình xâm nhập thông qua thương mại và tôn giáo Về phạm vi thời gian, đề tài nghiên cứu quá trình xâm nhập của Pháp từ thập niên 60 thế kỷ XVII đến hết thời
kỳ trị vì của Gia Long Hoàng đế - năm 1820 Một điểm nữa chúng tôi xin được lưu
ý là vấn đề quốc hiệu Tên gọi Đại Việt trong lịch sử Việt Nam (thời Hồ có tên là
Đại Ngu) được bắt đầu từ thời nhà Lý trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê (Lê sơ), Mạc, qua giai đoạn Nam - Bắc triều, Đàng Ngoài - Đàng Trong (có thể gọi theo tên triều đại cai trị ở mỗi xứ) kéo dài cho đến năm 1804 - năm chính thức Gia Long đổi tên thành Việt Nam, và năm 1838 Minh Mệnh đổi tên nước thành Đại Nam (hay
Đại Việt Nam) Tên này kéo dài cho đến khi chính thức chấm dứt chế độ phong kiến ở nước ta vào năm 1945 Nội dung luận văn liên quan trực tiếp đến 3 thế kỷ XVI-XVII-XVIII và 20 năm đầu thế kỷ XIX, việc sử dụng các thuật ngữ như "Đại Việt", "Việt Nam" thậm chí là "Annam" (như một số tài liệu nước ngoài viết về giai đoạn này) đều nhằm chỉ tính chính xác của thời đoạn đó Với tên "Đại Việt", trong bài chúng tôi sử dụng để biểu đạt chính xác nước Việt Nam trong thế kỷ 3 thế kỷ trên Khi sử dụng tên "Việt Nam", chúng tôi thường có chú thêm niên đại (năm, thập kỷ, thế kỷ) hay ít nhiều thông tin để độc giả nhận biết Việt Nam trong các thế kỷ đang nghiên cứu Do vậy, tên đề tài của luận văn mà chúng tôi sử dụng mang ý nghĩa như đ trình bày ở trên
Qua phân tích và lý giải thực tiễn lịch sử trên đ phần nào cho thấy toàn bộ diễn tiến, đặc trưng trong từng giai đoạn phát triển của quan hệ Việt - Pháp từ giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX Đây là một trong những tiền đề điều kiện quan trọng góp phần lý giải về sự thâm nhập, xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam
4 phương pháp nghiên cứu
Qua nhận diện lịch sử nghiên cứu vấn đề, với chủ đề trên, phương pháp lịch
sử được coi như phương pháp nghiên cứu chủ đạo Xuất phát từ việc nghiên cứu giai đoạn theo những lát cắt lịch sử, đặt sự kiện trong tổng thể khu vực, thế giới
đồng đại để đối chiếu, nhận xét, do vậy phương pháp so sánh và tiếp cận khu vực cũng được chúng tôi rất chú ý vận dụng Mặt khác, phương pháp so sánh có ý nghĩa
Trang 19rất lớn khi nhận định về những đặc điểm dị biệt của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII Đây là thời kỳ nền ngoại thương Việt Nam mở rộng, giao lưu quốc tế được tăng cường, cũng như các liên hệ quốc tế đa phương diễn ra phong phú, đa dạng Khi so sánh với những nước lận cận theo cách tiếp cận đồng đại mới thấy hết được
XVI-đặc trưng của Việt Nam trong bối cảnh Đông á thế kỷ XVII-XVIII
Dự nhập mạnh mẽ vào nền thương mại biển Đông thế kỷ XVII, trên cơ sở phân tích các số liệu dựa trên phương pháp thống kê, luận văn đ cố gắng phác họa lại bức tranh kinh tế Việt Nam giao thương với Pháp trong vòng một thế kỷ buôn bán Mặt khác, với việc định rõ tính chất và quá trình xâm nhập của MEP vào Việt Nam, để có thể đưa ra những nhận định tổng quát, lập luận khoa học phải được dựa trên những căn cứ logic khoa học, do vậy phương pháp logic được chúng tôi coi trọng khi đánh giá về những chuyển biến của lịch sử Việt Nam ở từng giai đoạn phát triển Chúng tôi rất lưu ý đến việc tiếp cận liên ngành sử học, dân tộc học, tôn giáo
điều đó giúp người viết có thể nhận diện tương đối đầy đủ về một vấn đề lịch sử với những quan điểm liên ngành
5 bố cục luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh chính trị, kinh tế - x hội của Pháp và Việt Nam giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XVII
Nội dung trình bày khái quát tình hình kinh tế - x hội, bối cảnh chính trị và
đời sống văn hóa của Pháp và Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVII Với những điểm nhấn trong một số chi tiết, luận văn muốn lưu ý và tạo mạch logic cho những luận
điểm sẽ được trình bày và chứng minh ở các chương tiếp sau
Chương II: Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XVII đến những năm đầu thế kỷ XIX
Tập trung trực tiếp phân tích quá trình xâm nhập của Pháp thông qua CIO (cuối thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII), MEP (đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX)
Chương III : Hệ quả của quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam
Trên cơ sở phân tích trong hai chương đầu, chương này người viết đề cập
đến hệ quả của những liên hệ, những cuộc tiếp xúc lịch sử giữa Pháp và Việt Nam,
từ đó nhấn mạnh đến quá trình xâm nhập ngày càng sâu vào đời sống văn hóa - x hội Việt Nam của Pháp
* Trong suốt quá trình làm luận văn, người viết đ nhận được rất nhiều sự ủng
hộ, giúp đỡ to lớn của các thầy, cô, các nhà nghiên cứu, bạn đồng nghiệp; đặc biệt
Trang 20là các thầy, cô của Bộ môn Lịch sử Thế giới - Khoa Lịch sử Luận văn có thể hình thành trước hết người viết xin được gửi lời tri ân chân thành đến PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ Với tầm tri thức của mình, PGS.TS đ chỉ dẫn cho người viết nhiều nguồn tư liệu quý, gợi mở hướng tiếp cận; đặc biệt PGS còn dành thời gian để tôi có thể bộc bạch và trao đổi những vấn đề khoa học về một số nhận định còn rất nhiều chủ quan của người viết
Những tư liệu mà tôi có thể tra cứu và tiếp cận được không thể thiếu sự chỉ dẫn và giúp đỡ của các cán bộ thư viện Viện Sử học, EFEO, Viện Thông tin KHXH, thư việc Quốc gia, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, phòng tư liệu Khoa Lịch
sử - Trường ĐHKHXH&NV (ĐHQGHN), Trung tâm Văn hóa Pháp CFC - L'Espace Research Group of Asian Trade History đ trợ giúp tôi rất nhiều khi tôi gặp khó khăn trong quá trình lấy tư liệu và kỹ thuật vi tính
*
Đề tài Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX là một vấn đề nghiên cứu khó Năng lực nghiên cứu của người viết có hạn, còn nhiều hạn chế, dù đ rất cẩn trọng, nghiêm túc, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Chúng tôi chân thành mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các nhà nghiên cứu
Hà Nội, mùa Đông tháng 12 năm 2006 Người viết
Nguyễn mạnh dũng
Trang 21Chương I
Chương I
bối cảnh chính trị, kinh tế
bối cảnh chính trị, kinh tế xã hội của Pháp xã hội của Pháp
và Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVII
và Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVII
ừ đầu thế kỷ XV, nền kinh tế phong kiến châu Âu đang đi vào giai
đoạn suy yếu, bắt đầu có những biểu hiện manh nha của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà đại diện là các thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực Lúc này, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang đòi hỏi một sự "tích luỹ nguyên thủy tư bản" - nguyên liệu mới và vươn tới những vùng đất giàu tài nguyên, hàng hóa quý, hiếm Đặc biệt trong quá trình đó, việc đạt được lợi nhuận cao nhất, nhanh chóng xác lập địa vị chính trị và tôn giáo của giai cấp tư sản và sự định hình của nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa là những đòi hỏi bức thiết đối với các nước Tây Âu thời kỳ này
Từ cuối thế kỷ XV, các cuộc phát kiến địa lý lớn đ mở ra một chương mới cho lịch sử nhân loại Có thể nói, biến chuyển đó đ góp phần kết thúc nhanh nền kinh tế phong kiến ở châu Âu Sự tham gia nhanh và mạnh mẽ của hai nước tiên phong Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đ đưa họ lên vị trí cường quốc hải thương Các
Conquistadores (Nhà chinh phục) đa phần xuất thân từ giai cấp quý tộc đ sa sút, chính họ và các thương nhân đ hăm hở đi tìm thị trường mới giàu có Tuy nhiên, chắc chắn sẽ là thiếu sót nếu không kể đến sự có mặt đông đảo và thường xuyên của các giáo sĩ thuộc nhiều dòng tu lớn của Kitô giáo (như dòng Augustin, Dominicain, Franciscain (Francisco), Jésuites hay nhỏ hơn như dòng: Capucins, Barnabites, Oratoire, Carmélites, Lazaistes ) ở phương Tây trên những thương
đoàn sang phương Đông với sứ mệnh truyền bá đạo Thiên chúa Ngoài việc thực thi
sứ mệng thiêng liêng truyền giáo (hay còn gọi là động cơ tôn giáo) thì sự có mặt của những giáo sĩ trên những chiếc thương thuyền có thể được giải thích: 1 Xuất phát từ lợi ích kinh tế của những giáo phận; 2 Sự có mặt của những thầy tu với niềm tin tôn giáo, với những bất trắc đầy hiểm nguy luôn rình rập trên lộ trình gian nan nhiều lúc mông lung, phiêu lưu đ là nguồn động viên tinh thần và linh hồn bất
an cho các thủy thủ đoàn [37, 12-15]
Cuối thế kỷ XV, có một sự kiện quan trọng diễn ra trên thế giới Theo đó, năm 1494, cùng với quá trình phát kiến những vùng đất mới, dưới sự thúc ép của Giáo hoàng Alexandre VI, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đ cùng nhau ký một bản Hiệp định nhằm phân chia phạm vị lnh thổ giữa hai nước - Hiệp định Tordesillas
T
Trang 22(Tordésillas) Theo đó, Giáo hoàng Alexandre VI đ chia những vùng đất mà hai nước mới khai phá được thành 2 phần: phía Tây cho Tây Ban Nha và phía Đông cho người Bồ Đào Nha [PL 2.19] Đối với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Giáo hoàng giao phó cho nhiệm vụ gây dựng và phát triển Hội thánh tại những vùng đất mới Nhiệm vụ này được gọi là "padroado" (bảo trợ) Đương nhiên, các nước Pháp, Anh, Hà Lan phản ứng mạnh mẽ Hiệp định này bởi vì những nước đó bị thiệt hại rất lớn về nguồn lợi thu được từ Tân Thế giới
Dưới đây là một vài đoạn trích của Hiệp định Tordésillas
Ferdinand et Isabelle, par la grõce de Dieu, Roi et Reine de Castille, de Lộon, d'Aragon, de Sicile, de Grenade, de Tolốde,
de Galice [ ] Ainsi, son altesse, le sộrộnissime Roi de Portugal, notre frốre bien aimộ, nous a dộpờchộ ses ambassadeurs et mandataires [ ] afin d'ộtablir, de prendre acte et de se mettre d'accord avec nous [ ] sur ce qui appartient à l'un et à l'autre de l'ocộan qu'il reste encore à dộcouvrir
Leurs altesses souhaitent [ ] que l'on trace et que l'on ộtablisse sur ledit ocộan une frontiốre ou une ligne droite, de pụle à pụle, à savoir, du pụle arctique au pụle antarctique, qui soit situộe du nord au sud [ ] à trois cent soixante-dix lieues des ợles du Cap-Vert vers le ponant [ ]; tout ce qui jusqu'alors a ộtộ dộcouvert ou à l'avenir sera dộcouvert par le Roi de Portugal et ses navires, ợles et continent, depuis ladite ligne telle qu'ộtablie ci-dessus, en se dirigeant vers le levant [ ] appartiendra au Roi de Portugal et à ses successeurs [ ] Et ainsi, tout
ce qui, ợles et continent [ ], est dộjà dộcouvert ou viendra à ờtre dộcouvert par les Roi et Reine de Castille et d'Aragon [ ], depuis ladite ligne [ ] en allant vers le couchant [ ] appartiendra auxdits Roi et Reine de Castille [ ]
Như vậy theo Hiệp định Tordésillas, hầu hết các cùng đất Đông ấn đều
thuộc phạm vi quản hạt của người Bồ
Trên bình diện thế giới, thế kỷ XV-XVI cũng được coi là thế kỷ của những cuộc phát kiến địa lý vĩ đại Đây là lúc mà phương Tây nhận thức về một phương
Đông "thiên đường" (paradise) ngày càng đầy đủ và trực tiếp hơn Chủ nghĩa tư
bản đang được xác lập và tìm đường đến nhiều châu lục để săn lùng nguyên liệu, thị trường và thuộc địa, ra sức xâm chiếm thuộc địa, tìm khu vực để lập ảnh hưởng kinh tế Và, từ sự bành trướng về thương mại và kinh tế đến cuộc đô hộ về chính trị con đường này không quá xa với họ Trong qua trình đó, nói như Marx và Engels:
xu thế lịch sử đang buộc tất cả các dân tộc phải theo phương thức sản xuất tư bản
Phạm vi kiểm soát của người Bồ Đào Nha theo
Hiệp định Tordésillas năm 1494
Trang 23nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải thành tư sản; nông thôn phụ thuộc vào thành thị, dân tộc nông dân phải phụ thuộc và dân tộc tư sản, phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây Ngay từ đầu, nhà nước và tư nhân châu Âu đ bỏ ra nhiều tiền nội quốc cũng như chiến lợi phẩm thu về từ sau các chuyến thám hiểm để thành lập và tài trợ cho
các giáo đoàn (missions) đi truyền đạo ở vùng đất mới chiếm, mở trường học,
chủng viện [37, 12-15]
Như chúng tôi đ trình bày, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là hai nước châu
Âu đầu tiên có mặt ở phương Đông Năm 1498, Bồ Đào Nha đ đến được ấn Độ và
sự kiện này được coi là mốc đặc biệt quan trọng mở đường cho quá trình xâm nhập vào các xứ Đông ấn Năm 1505, người Bồ đến Ceylon Năm 1510, họ đ đặt được thương điếm ở Goa Chỉ một năm sau (năm 1511), Bồ Đào Nha đ xâm chiếm Malacca và đặt những cơ sở thương mại đầu tiên ở ấn Độ và vùng Đông ấn Năm
1514, thuyền buôn Bồ Đào Nha đ đến Trung Hoa và đ đặt được cơ sở ở Macao và dùng địa bàn này để chiếm lĩnh thị trường Đông Bắc á Trong vòng 30 năm sau đó, người Bồ Đào Nha vẫn chưa đến được Nhật Bản Sau nhiều nỗ lực, mi đến năm
1543, ba thương nhân Bồ Đào Nha là Antonio da Mota, Francisco Zeimeto và Antonio Peixoto trên đường từ Ayutthaya (Siam) đến Trung Hoa đ bị bo thổi giạt vào Tanegashima, một đảo nhỏ ở miền Nam Kyushu và đặt mối quan hệ đầu tiên với Nhật Bản Mặc dù là một đảo quốc xa xôi, tương đối tách biệt với lục địa châu
á nhưng Nhật Bản vẫn không nằm ngoài đối tượng xâm thực của các nước phương Tây1 Năm 1557, Bồ Đào Nha chiếm Macao
Thời kỳ này cũng ghi nhận sự xuất hiện của những nhân tố mới, bộc lộ mạnh mẽ và tiên khởi trong lĩnh vực kinh tế Theo đó, với việc ra đời nhiều thành thị đồng thời xuất hiện nhiều tầng lớp thị dân mới Giới thương nhân tỏ ra hết sức năng động, chuyển hàng từ các nước phương Đông sang vùng Cận Đông qua Ai Cập, Bắc Phi đến thị trường châu Âu rộng lớn Địa Trung Hải cho đến trước khi có các phát kiến địa lý trở thành khu vực hải thương sôi động nhất thế giới, góp phần tạo dựng một thời kỳ "văn minh Địa Trung Hải" nổi tiếng Sự lớn mạnh của tầng
1 Giáo sĩ Bồ Đào Nha là những người đầu tiên đầu tiên truyền bá đạo Thiên chúa (Christianize) vào Nhật Bản Năm 1549, giáo đoàn (Hội Jésus, Societas Jésus) Bồ do Francis Xavier (1506 - 1552) phụ trách được thiết lập ở Kyushu và hoạt động của họ diễn ra rất thuận lợi cho tới khi những giáo sĩ dòng Dominicain Tây Ban Nha đổ bộ đến đây năm 1585 Cuộc chiến tranh giành giữa người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bắt đầu
và tiếp diễn cho tới khi Tướng quân Toyotomi Hedeyoshi (1542-1598) ra lệnh trục xuất các giáo sĩ Thiên chúa khỏi Nhật Bản từ năm 1587 Giáo sĩ hai nước bắt đầu quan tâm đến các quốc gia xung quanh: người Tây Ban Nha dòng Dominicain tiến về Philippines, còn giáo sĩ dòng Tên người Bồ đặt sự ưu tiên đến Việt Nam [89, 250], [41, 76-129]
Trang 24lớp thị dân ngày càng đòi hỏi một sự độc lập và có địa vị chính trị và x hội, thậm chí cả trong đời sống tôn giáo Đến thế kỷ XV, cùng với sự diệt vong của kinh tế lnh địa, hình thành nhà nước phong kiến tập quyền, phần đông dân chúng ở nhiều nước Tây Âu đ không còn là những nông nô gắn chặt với mảnh ruộng và miếng
đất của lành chúa Tầng lớp tư sản thành thị trên đà phát triển và đang trong quá trình xác lập địa vị của một giai cấp đông đảo trong x hội
Mặc dù chậm chân hơn hai nước thực dân đầu tiên là Bồ Đào Nhà và Tây Ban Nha trên con đường tiến sang phương Đông, nhưng nước Hà Lan thành lập năm 1581 đ nhanh chóng bắt nhịp với tuyến liên vận thương mại Đông - Tây, tạo
điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng Hà Lan đặc biệt chú trọng tới lĩnh vực sản xuất phục vụ cho thương mại đường biển và quốc gia này tích cực, chủ động dấn thân vào vòng xoáy kinh tế lúc đó Cho đến
đầu thế kỷ XVII, người Hà Lan đ lập được thương điếm ở Ceylan (Srilanka), Siam, Nhật Bản, Nam Dương (hay Indonesia) Không lâu sau đó, với ưu thế áp đảo, Hà Lan trở thành cường quốc hành hải đứng hàng đầu thế giới với biểu tượng là Công
ty Đông ấn Hà Lan (VOC - Vereenigde Oost - Indische Compagnie thành lập năm
1602) hùng mạnh Bên cạnh đó, là một nước cũng sớm hơn Pháp trong quá trình
bành trướng sang phương Đông, năm 1600 Công ty Đông ấn Anh (East India
Company - EIC) thành lập và trong quá trình hoạt động luôn cạnh tranh gay gắt với người Hà Lan, Bồ Đào Nha và với cả các nước phương Đông
Trên bình diện khu vực Đông Bắc á, Đông Nam á, từ thế kỷ XVII, các quốc gia phương Đông cổ truyền bắt đầu có nhiều thay đổi Đây là thời kỳ các vương quốc phong kiến Đông á có những biến động chính trị lớn Tất nhiên, sự sa sút của từng nước là không cùng thời điểm và mức độ cũng khác nhau Mỗi một vương triều đều đ tận dụng các tiềm năng trong x hội mình nhưng không còn đủ sức thực hiện những đòi hỏi thay đổi nền kinh tế - x hội đang trở nên trì trệ và bị tiêu hao vì những cuộc chiến tranh nhằm xác định lnh thổ và quyền lực Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây được đánh dấu bằng cuộc tấn công của người Bồ Đào Nha vào vương quốc Malacca đ dẫn tới sự suy sụp của các quốc gia này Các nước phương Tây chiếm lĩnh nhanh chóng cả về mặt chính trị và lnh thổ trong khu vực (khi Anh, Hà Lan và cả người Pháp chiếm được Philippine từ cuối năm 1757, Indonesia trở thành thuộc địa của Anh năm 1811 và của Hà Lan năm 1816 ) Tại biển Đông, tuyến buôn bán Bắc - Nam (khởi phát từ Nhật Bản qua các thương cảng của Trung Quốc, Formosa, Đại Việt và điểm đến Nam Dương) hình thành một nhánh của Con đường tơ lụa trên biển hợp cùng với tuyến đường Đông -
Trang 25Tây (khởi phát từ châu Âu theo hai con đường biển qua ấn Độ Dương qua Đông Nam á điểm đến Đông Bắc á; trên đất liền qua các nước ả Rập, Trung Quốc) Trong tuyến thương mại biển đó, các thương bến của Việt Nam chiếm một mắt xích quan trọng Tại thời điểm này, các thương cảng của Việt Nam như Hội An, Phố Hiến trở thành những cảng quốc tế với tần suất luân chuyển sôi động cùng mặt hàng phong phú được các thương nhân châu Âu tìm đến trao đổi
Tóm lại, nếu nhìn nhận lịch sử Trung đại châu Âu kéo dài 12 thế kỷ (từ thế
kỷ V - XVII), giai đoạn thế kỷ XI-XV là giai đoạn phát triển cao nhất của chế độ phong kiến châu Âu và đ thể hiện được những đặc tính tiêu biểu nhất Từ thế kỷ
XI, nền kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển dẫn đến sự ra đời của thành thị và các tầng lớp x hội mới là thị dân Giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII là giai đoạn tan r của chế độ phong kiến Bên cạnh sự phát triển trội vượt của nền kinh tế và quan hệ hàng hóa, tầng lớp thị dân ngày càng khẳng định được sự lớn mạnh và dần hình thành một giai cấp tư sản thành thị Không lâu sau, cùng với những biến đổi nhanh chóng của văn hóa - tư tưởng, những cuộc phát kiến địa lý và xâm thực mạnh mẽ đ làm tan r hoàn toàn của chế độ phong kiến Tây Âu truyền thống [52, 5-6]
Trong khi đó, mặc dù có những thay đổi chậm chạp, nhiều quốc gia phương
Đông vào thế kỷ XV vẫn đang đạt đến sự phát triển cao của chế độ phong kiến Các cuộc phát kiến địa lý đầu thế kỷ XVI đ báo hiệu cho một quá trình du nhập mạnh mẽ, cuốn phương Đông vào trong quỹ đạo phát triển chung của thế giới Quá trình thâm nhập ngày càng sâu và liên tục của các nước phương Tây đ khiến cho những hạn chế của nền kinh tế phương Đông ngày càng bộc diện rõ nét, hay nói cách khác nó đ phá vỡ mối quan hệ kinh tế truyền thống trong nội bộ cũng như giữa các quốc gia trong khu vực Tuy nhiên, như một số nhà nghiên cứu cho rằng cho đến giữa thế kỷ XVII thì về cơ bản các nước phương Đông đang đứng trước một quá trình xâm thực của chủ nghĩa phương Tây, trước sự lựa chọn phát triển, cùng những ứng đối bắt đầu rất riêng biệt ở các quốc gia này [52, 5-6] Trên thực
tế, cho đến giữa thế kỷ này, mặc dù đq xuất hiện mầm mống của một nền sản xuất mới tiến bộ nhưng các nước phương Đông lại đang ở vào thời kỳ phát triển cao của một mô thức kinh tế - xq hội phong kiến Một số nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, thậm chí cho đến thế kỷ XIX một số nước phương Đông vẫn đạt đến đỉnh cao của hệ thống phong kiến truyền thống và nhu cầu cải cách nội sinh vẫn chưa thực
sự xuất hiện [13, 373-386] Nhưng "tất cả những đề kháng đó dù có khác biệt nhưng cũng không thể không tính đến hai nhân tố đặc biệt quan trọng và thường
Trang 26trực của các nhà cầm quyền ở đây là: động thái với nền kinh tế tư bản - đại diện cho một nền sản xuất tiến bộ hiện tồn và Thiên chúa giáo - (ngoài yếu tố tôn giáo còn đại diện cho tri thức văn hóa tiến tiến và nền văn minh phương Tây đang đạt cao độ); một bên là lợi ích dân tộc, mặt khác là nhu cầu phát triển đất nước" [52, 5-6]
I Tình hình chính trị, kinh tế - x hội của Pháp giai đoạn nửa
Bối cảnh chính trị của châu Âu lúc này đ khác nhiều so với thời điểm đầu
thế kỷ XVII Đế quốc Thổ (Ottoman) đ không còn là mối đe dọa cho nền hòa bình
châu Âu Sức mạnh của Tây Ban Nha từ những thập niên 40 của thế kỷ XVII đ đi vào thoái trào Thể chế chính trị kết hợp giữa thần quyền và vương quyền nằm trong tay nhà vua, hệ quả khác đ làm hạn chế tính năng động của các vương quốc ngoại biên Cuộc nổi dậy của dân chúng trong nước và ở xứ Catalogne cũng đ làm cho
Bồ Đào Nha suy yếu và gặp rất nhiều khó khăn để phát triển kinh tế Hơn nữa, không như các nước châu Âu, nhà vua Bồ lại không giao hoạt động thương mại "ở ấn Độ cho những công ty độc quyền, mà quyền quản lý cũng như lợi nhuận lại do nhà vua
Trang 27nắm giữ", cùng với đó "họ cũng không tìm cách cư trú và không thành lập cơ sở buôn bán Viễn Đông" [136, 81-83]
Thêm nữa, hai vương quyền Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thống nhất làm một từ năm 1580 đến năm 1640; nhưng vẫn còn một số bộ phận tại chính quốc, các thuộc địa hải ngoại nằm ngoài sự hợp nhất đó, thậm chí nhiều khi quyền lợi mỗi nước lại có sự tương phản Dưới triều vua Philippe IV (cq: 1621 - 1665) Tây Ban Nha, người Bồ gặp rất nhiều khó khăn và phần lớn vùng quản hạt của họ trong đó
có Viễn Đông nằm đều nằm dưới sự cai quản của Philippe IV Năm 1649, cuộc đảo chính đưa Jean IV de Bragance lên ngôi; và Bồ Đào Nha dần khôi phục lại phạm vi
ảnh hưởng trước đây Thêm nữa, họ lại liên kết với người Pháp về phe mình và chấp nhận cho các nhà truyền giáo người Pháp đến các vùng đất thuộc quyền Bồ Đào Nha sau năm 1655 Những biến cố chính trị, tôn giáo đq vô hình chung đq giúp cho người Pháp có điều kiện thuận lợi trước khi chính thức được Giáo hoàng giao quyền quản hạt hoạt động truyền giáo ở Viễn Đông vào năm 1658
Đối với Hà Lan, các cuộc nổi dậy ở phía Bắc đất nước đ tạm dừng nhưng cũng gây ảnh hướng đáng kể đến tình hình kinh tế Mặc dù vậy phải thừa nhận rằng, cho đến thập niên cuối của thế kỷ XVII, Hà Lan vẫn là nước có tiềm lực kinh
tế lớn nhất thế giới Sức mạnh đó một phần dựa trên nền tảng sản xuất của những công trường có quy mô lớn, tập trung, nhưng quan trọng nhất vẫn là nguồn lợi khổng lồ thu được từ hải thương Sau khi người Hà Lan chiếm được nhiều thuộc địa
từ tay người Tây Ban Nha, VOC đ lấn lướt và chiếm thế thượng phong trên biển,
độc quyền khai thác từ năm 1621 ở Tân Thế giới (America) Hàng hóa được phân
đi khắp nơi Đoàn thương thuyền của Hà Lan hiện diện đến 3/4 trong tổng số các thuyền buôn của châu Âu Amsterdam, với khả năng luân chuyển vốn vay, là thương cảng lớn nhất và có uy thế tài chính lớn nhất Âu châu lúc đó [122, 29]
Lợi thế từ nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XIV và XV, thủ công nghiệp phường hội ở thành thị Đức đ thay thế nền kinh tế nông thôn phong kiến có tính chất địa phương, nó sản xuất cho những khu vực rộng lớn hơn và thậm chí cho cả những thị trường xa xôi hơn Từ cuối thế kỷ XV, ngoại thương Đức bắt
đầu suy tàn nhanh chóng trước sự cạnh tranh của người Anh và người Hà Lan, nhưng con đường thương mại lớn từ ấn Độ lên phía Bắc - bất chấp những phát kiến của Vasco da Gama - vẫn tiếp tục đi qua Đức; và Augsburg, như trước đây, vẫn là kho hàng lớn chứa tơ lụa Italia, gia vị ấn Độ và hầu hết những sản phẩm của các nước phương Đông Những thành thị như Augsburg và Nurnberg, là trung tâm của
sự giàu có và sự xa hoa khá lớn Sự phát triển của nền sản xuất trong nước Đức vẫn
Trang 28không theo kịp sự phát triển của nền sản xuất của các nước khác Nông nghiệp Đức lạc hậu rất nhiều so với Anh và Hà Lan; công nghiệp Đức thua xa công nghiệp Italia, Flandre và Anh, còn trong lĩnh vực thương nghiệp hàng hải thì người Anh và nhất là người Hà Lan đ bắt đầu đánh bại người Đức, nơi dân cư vẫn còn rất thưa thớt Như đánh giá của F Engels "nền văn minh ở Đức chỉ tồn tại ở từng nơi, tập trung xung quanh một số trung tâm công nghiệp và thương nghiệp cá biệt; lợi ích của ngay cả những trung tâm đó cũng rất khác nhau, và chỉ họa hoằn lắm mới có
điểm giống nhau "1
Trong thời kỳ này, ở châu Âu xuất hiện một trào lưu trên lĩnh vực kinh tế là
Chủ nghĩa trọng thương "mercantilisme" Nhìn một cách tổng quan, Chủ nghĩa
trọng thương hình thành và phát triển mạnh ở châu Âu, nhất là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỷ XV Tiêu biểu cho học thuyết này là các tác giả Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert, Thomas Mrm, Josias Child, James Steawart Luận điểm cơ bản của học thuyết này chú trọng những vấn đề cơ bản như: - Mỗi quốc gia muốn đạt được
sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ; - Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ thì con đường chủ yếu phải phát triển ngoại thương Thuyết trọng thương nhấn mạnh trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu (tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu); - Lợi nhuận thương mại theo chủ nghĩa trọng thương là kết quả của một sự trao đổi không ngang giá và lường gạt Điều đó có nghĩa là trong đó phải có một bên thua và một bên được; -
Đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều khiển kinh tế thông qua các chính sách bảo hộ, điều hướng và gia tăng hiệu năng của nền kinh tế trong nước Những học giả theo học thuyết này kêu gọi nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh tế bằng cách lập hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch, miễn thuế nhập khẩu cho các loại nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, cấm bán ra nước ngoài những sản phẩm thiên nhiên như sắt, thép, sợi, lông cừu… Đề xuất triều đình nâng đỡ hoạt động xuất khẩu như thực hiện tài trợ xuất khẩu, duy trì hạn ngạch và đánh thuế nhập khẩu cao
1 Theo Engels: Không một thành thị nào ở Đức có thể trở thành trung tâm công nghiệp và thương nghiệp cho cả nước, giống như Luân-đôn Toàn bộ sự giao dịch trong nội địa hầu như chỉ hoàn toàn giới hạn trong ngành vận tải ven biển, đường sông, và vài con đường thương mại lớn từ Augsburg và Nurnberg qua Koln đi Hà-lan và qua Erfurt đi lên phía bắc Chỉ có giai cấp quý tộc là tiếp xúc với những giới rộng ri hơn và với những nhu cầu mới Đông đảo nông dân thì không bao giờ vượt ra khỏi phạm vi những quan hệ địa phương gần nhất, và khỏi cái chân trời địa phương chật hẹp gắn liền với những quan hệ đó ở Đức, chỉ có sự tập hợp những lợi ích theo tỉnh, xung quanh những trung tâm thuần túy dịa phương, và do đó, đến sự phân tán về chính trị; sự phân tán này ít lâu sau lại được xác lập một cách đặc biệt vững chắc do nước Đức bị loại ra khỏi nền thương mại thế giới Chính quyền của đế chế, không còn nhận thức được địa vị của chính mình nữa, đ nghiêng ngả một cách bất lực giữa các thành phần khác nhau cấu thành đế chế, do đó ngày càng mất uy quyền [75, 186-200]
Trang 29đối với nhập khẩu hàng tiêu dùng để bảo đảm duy trì xuất siêu trong ngoại thương;
- Lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất nên để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường cần hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất Tuy nhiên, những yếu tố cơ bản về năng suất lao động và công nghệ không được đề cập như là các nhân tố cơ bản để tăng sức cạnh tranh trong sản phẩm trên thị trường quốc tế
Chủ nghĩa này được đánh giá ở nhiều khía cạnh tích cực khác như về phương diện ngoại thương: Sớm đánh giá tầm quan trọng của thương mại, đặc biệt
là ngoại thương; Sớm nhận rõ vai trò quan trọng của nhà nước trong việc trực tiếp tham gia vào điều tiết hoạt đông kinh tế x hội thông qua các công cụ bảo hộ mậu dịch… Bên cạnh đó, đối với quá trình bành trướng của phương Tây thì rõ ràng học thuyết này đ kéo theo hàng loạt các cuộc viễn chinh xâm lược các thuộc địa của các nước tư bản châu Âu ở thời kỳ đó nhằm thực hiện phương châm “dân tộc này làm giàu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc kia”1
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nước Pháp cho đến giữa thế kỷ XVII vẫn
đang trong quá trình chuyển hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa với một chủ trương lớn nhất là trọng thương với hai trợ lực chính là: tích luỹ tài chính, xuất khẩu công nghệ phẩm Sự ổn định về chính trị và tôn giáo từ thời Henri IV (cq: 1589 - 1610), trở đi càng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngoại thương và thuộc địa Từ năm 1626 đến 1661, Đức Hồng y Richelieu đ cho lập gần 20 công ty thương mại lớn [38, 21-23] Tiếp nối sự mở rộng có từ thời A.J.P Richelieu, khi J.B Colbert nắm quyền về tài chính (1665), công cuộc bành trướng được đẩy mạnh hơn nữa Các xưởng thủ công nghiệp phát triển mạnh, các công ty mặc dù có ít hơn so với thời trước những số vốn do đó lại nhiều và được kiểm soát chặt chẽ hơn
Một điều cần lưu ý trong dấu ấn lịch sử nước Pháp thời kỳ này là nước Pháp dưới thời cầm quyền của vua Louis XIV2 người còn được gọi là "Vua mặt trời, Le
1
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đánh giá về điểm hạn chế của học thuyết này Theo đó, nó chưa giải thích được bản chất bên trong của hoạt động thương mại quốc tế Thực tiễn cho thấy mỗi quốc gia để đạt được sự thịnh vượng không phải chỉ bằng cách hy sinh lợi ích của quốc gia khác Để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường không phải chỉ cần hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất mà phải chú ý đến tăng năng suất lao động và cải tiến kỹ thuật
2 Louis XIV sinh ngày 5 tháng 9 năm 1638 tại St-Germain-en-Laye, là con trai của vua Louis XIII và Hoàng hậu Anne nước áo Vua Louis XIV làm vua nước Pháp trong 72 năm, đây là vương triều dài nhất trong lịch
sử châu Âu Nhà vua còn được gọi là “Đại vương Louis” (Great Monarch), "Louis Vĩ đại" (Louis the Great) hay "Vua Mặt trời" (le Roi-Soleil hay Sun King) Kế nghiệp vua cha khi mới 4 tuổi, khi đó Hoàng thái hậu
Anne đóng vai trò nhiếp chính trong các hoạt động của triều đình Trong thời kỳ trị vì, bên cạnh Louis XIV luôn có những cận thần tài ba, trong đó nổi bật lên vai trò của Hồng y Mazarin - người trợ tá đắc lực của Thái hậu Anne (và người tiếp nối của Hồng y Richelieu, tên thật là Armand Jean du Plessis) và Đại thần
Trang 30Roi-Soleil" Từ khi vua Louis XIV lên ngai vàng vào năm 1651 tới cuộc Cách
mạng Pháp năm 1789 được gọi là thời đại quân chủ tuyệt đối (the age of
absolutism)1 Ngay từ đầu thế kỷ XVI, các nước châu Âu có khuynh hướng tăng cường sức mạnh quốc gia Các quân vương của thế kỷ XVI đ nhận ra rằng đạo Tin Lành đòi hỏi chủ quyền tách ra khỏi tầm kiểm soát của giáo hoàng và của giới quý
tộc Sau các biến động vì cuộc Chiến tranh 30 năm (la guerre de Trente ans, 1618 -
1648), giới cầm quyền nhận thức rằng chỉ có sự hòa hợp x hội và chính trị khi có một chính quyền trung ương tập trung và hùng mạnh, khi dân chúng chấp nhận bổn phận của họ là phải vâng lời các nhà cai trị theo thiên mệnh Vì vậy, vua Louis XIV
đ tìm cách nắm quyền lực và muốn điều khiển nước Pháp trở nên một cường quốc thịnh vượng của châu Âu
Đối với giới quý tộc Pháp, vua Louis XIV đ tước bỏ quyền hành chính trị
và tăng thêm uy tín x hội cho họ Cũng như tại nước Nga dưới triều đại của Nữ
hoàng Catherine II (Catherine the Great - Catherine vĩ đại, sinh năm 1729, cq:
1762 - 1796), giới quý tộc bị tước đi quyền chính trị và hành chính; còn tại nước
áo vào cuối thế kỷ XVIII, Hoàng đế Joseph II (cq: 1765 - 1790) đ không cho giới quý tộc được miễn đóng thuế và cố tình xóa bỏ sự ngăn cách giữa giới quý tộc và giới bình dân Sự đấu tranh giành quyền lực giữa nhà vua và giới quý tộc đ thể hiện bằng các tranh chấp giữa các quyền lợi địa phương và quyền lực trung ương Giới quý tộc bị tước đoạt dần quyền cai trị tại các tỉnh, họ mất dần quyền cảnh sát
và quyền thu thuế
Trong khi nhà vua Pháp thi hành chế độ quân chủ tuyệt đối để tập trung quyền lực và thống nhất đất nước, một số nhà lý thuyết châu Âu lúc đó cũng đ lên tiếng ủng hộ chủ trương này Luật sư người Pháp Jean Bodin (1530-1596) là người chứng kiến vụ tàn sát nhân ngày Thánh Bartholomew tại Paris vào năm 1572 [PL 2.7], đ đề nghị một kế hoạch hòng giải quyết các vụ rối loạn chính trị Theo đó,
ông cho rằng người dân không được chống đối quốc gia bởi vì công việc duy trì trật
tự được coi là quan trọng nhất Bodin cho rằng quốc vương có quyền lực cao nhất, tuyệt đối nhất và vĩnh cửu nhất để ban bố luật lệ cho các công dân mà không cần
Jean - Baptiste Colbert Dưới triều đại của Louis XIV, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nước Pháp đứng đầu châu Âu về văn chương, nghệ thuật, chiến tranh và quản lý đất nước
1 Trong một chuyên khảo nằm trong bộ thông sử của Pháp, cuốn "La naissance dramatique de l'absolutisme,
1598 - 1661" của Yves-Marie Bercé [85, 8] đ trình bày khá cụ thể quá trình ra đời của chính thể chuyên chính
ở Pháp Trong Lời mở đầu, tác giả viết: "Thời kỳ 1598-1661 là điểm mấu chốt trong số phận chính trị (destin
politique) của Pháp ý chí còn mông lung và mang tính chất kinh nghiệm của nhà vua và các vị đại thần của mình và sự bó buộc của cuộc chiến 30 năm, tất cả vì đó đq khai sinh ra một Nhà nước thuế vụ (état fiscal?), một hình ảnh của chế độ quân chủ đang được tập trung hóa, đang là sự trông chờ của chính thể chuyên chế"
Trang 31biết người dân có chấp nhận hay không Bảo vệ vương quyền còn có giám mục J Bossuet Được đánh giá là nhà tư tưởng lớn dưới thời Louis XIV, Bossuet đ lý luận rằng “mọi sức mạnh và mọi sự hoàn hảo đều tập trung vào Thượng đế” cũng như vào "cá nhân của nhà vua" Nhà vua không phải trả lời ai cả ngoài Thượng đế và nhà vua ở trên mọi người dân cũng như Thượng đế ở trên nhà vua, "Quốc gia tức là trẫm" Quan điểm của Jean Bossuet là lời xác nhận rõ ràng và thái cực nhất của lý thuyết "thiên mệnh" của quân vương, trong khi đó vào thế kỷ XVIII, người dân thường còn tin tưởng một cách dị đoan rằng nhà vua do bàn tay linh thiêng có thể chữa khỏi bệnh tật bằng cách sờ tay vào người bệnh!
Vua Louis XIV cũng tìm cách thống nhất tôn giáo Những người theo Quiétisme (thuyết tĩnh mịch, dòng tu kín) chủ trương ẩn tu và theo đạo Jansénisme (đạo lý khắc khổ) tin tưởng định mệnh, bị yêu cầu bỏ đạo, hoặc bị nhốt tù hay phải
ra đi biệt xứ Sắc dân Huguenots theo đạo Tin Lành bị tước bỏ quyền lợi, bị đàn áp, nhà thờ và trường học của họ bị phá hủy, giới tu sĩ phải đi sống lưu vong Những người tị nạn tôn giáo đ chạy sang các nước Anh, Hà Lan, qua các miền theo đạo Tin Lành của nước Đức hay di cư sang Tân thế giới mặc dù họ là những người có nghề nghiệp chuyên môn góp công vào sự thịnh vượng của đất nước
Song song với các hoạt động củng cố quyền lực vào tay đó, Louis XIV cũng rất chú trọng đến tình hình kinh tế đặc việt là hoạt động thương mại Trên cơ sở Hội đồng do Louis XIV thành lập gồm 4 ban phụ trách, trong đó 3 ban đầu phụ trách đại sự (thường do người Hoàng tộc đảm nhiệm), các vấn đề về ngoại giao và tài chính do đích thân Louis nắm giữ tất cả; còn lại là ban thứ 4 do Hội đồng Nhà
nước cơ mật (Conseil d'ẫtat privé) do vị quan chưởng ấn (hay thủ tướng) điều hành
[122, 40] Kinh qua các vị trí từ chức thư ký Nhà nước, đến Tổng kiểm tài chính
(Contrụleur gộnộral des finances) năm 1662, rồi cương vị cao nhất là Thủ tướng,
Colbert phải đối mặt với những khó khăn to lớn trong nước (như cách gọi nạn đói
là La famine de l'Avốrement), thuế má "bất thường, extraordinaire" và "thông thường, ordinaire" thể hiện ở thuế trực thu (direct) và thuế gián thu (indirect) biến
thái với nhiều cấp độ Như một số nhà nghiên cứu đánh giá, dưới thời kỳ lnh đạo của mình, trong nhiều năm Colbert đ cân bằng cán cân thu - chi và giải tỏa một vài sức ép khác lên triều đình1
1 Những cố gắng đó được thể hiện bằng được kết quả: từ 1661 -1671, ngân sách nhà nước tăng gấp đôi; từ năm 1662, thu vượt cao hơn chi hàng năm cho tới 1672, trừ năm 1668 [122, 64-65]
Trang 32Trong bối cảnh đó, đồng hành với việc cho ra đời các công ty thương mại, Pháp cũng tích cực thành lập các hội truyền giáo, trong đó những công ty thương mại có ý nghĩa như một trợ lực quan trọng cho các hoạt động truyền giáo hải ngoại
Tình hình tôn giáo và sự ra đời của MEP
Đạo Thiên chúa (Catholicisme) hay đạo Gia Tô (ngày nay với tên gọi chính
thức là Công giáo) chịu sự lnh đạo và chi phối chặt chẽ của tòa thánh Vatican La M, đứng đầu là Giáo hoàng, có uy quyền với mọi tín đồ Thiên chúa trên toàn thế giới Từ thế kỷ XVI, để chống lại sự tấn công của giáo phái cải cách Tin Lành
(Protestantisme, một trong ba phái của đạo Kitô hay Cơ đốc - Christianisme) và để
lấy lại uy tín của giáo hội đ bị nhiều tai tiếng, tòa thánh La M đ khởi xướng
phong trào Phản Cải cách (Contre - Rộformes)1
Phong trào cải cách bùng nổ tại nhiều nơi ở châu Âu, nhưng diễn ra mạnh
mẽ tại Đức Như chúng tôi đ trình bày về tình hình nước Đức, cuộc cải cách đ gây ra sự phân hóa trầm trọng giữa các vương hầu đang cai trị các phần lnh thổ nước này Tuy nhiên, nguyên nhân của sự bùng nổ này có thể giải thích là một quá trình biến động diễn ra trong suốt hai thế kỷ XV, XVI trước đó tại Tây Âu Phong
trào Phục hưng nhân văn (Renaissance de l'humanitộ), những cuộc tranh luận sôi
nổi được tiến hành tại các viện đại học bàn đến các vấn đề như bản chất của giáo hội, nguồn gốc và giới hạn của thẩm quyền dành cho giáo hoàng, các công đồng và các vương hầu
Sau khi giáo hoàng quyết định trục xuất Martin Luther (1483 -1546) và lên
án cuộc cải cách, các tác phẩm của Jean Calvin (1509 - 1564) tạo nên nhiều ảnh hưởng trong việc thiết lập một sự đồng thuận tương đối giữa các nhóm cải cách khác nhau tại các nước châu Âu Việc Anh giáo tách rời khỏi La M dưới thời trị vì của Henry VIII, khởi đầu từ năm 1529 và hoàn tất vào năm 1536, đem Vương quốc Anh đồng hành với cuộc cải cách Dù vậy, những thay đổi tại Anh được tiến hành
dè dặt hơn các nơi khác ở Âu châu và người Anh chọn con đường trung dung giữa cựu giáo và tân giáo
1 Contre - Rộformes là phong trào hình thành từ năm 1545, bắt nguồn từ Le Concile de Trente (chúng tôi đ
trình bày ở dưới đây) Cuộc Phản cải cách do Tòa thánh La M tiến hành nhằm chống lại khuynh hướng cải cách đang diễn ra mạnh mẽ ở châu Âu với hai đại diện tiêu biểu của trào lưu đó là Martin Luther (người
Đức) và Jean Calvin (người gốc Pháp) Cuộc đấu tranh chống lại xu hướng này, Tòa thánh Rôma đ được sự
trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân như Tòa án Dị giáo (Le Tribunal d'Inquisition, được tái lập năm 1542), Charles Quint, Philippe II, Marie Tudor… Đặc biệt là sự thành lập của La Compagnie de Jộsus năm 1540…
Trang 33Trong bối cảnh đó, cùng với phong trào Phản Cải cách đang lan rộng ở châu
Âu, nhiều giáo đoàn đ được thành lập và cử những giáo sĩ có đầy tâm huyết, đức tin, năng lực và đặc biệt sẵn sàng tử vì đạo đi khắp nơi trên thế giới truyền đạo với sứ mệnh "chinh phục các tâm hồn", "xây dựng một đế quốc rộng lớn của chúa Trời"1
Năm 1540, giáo đoàn dòng Tên (Compagnie de Jộsus hay Sociộtộ des Jộsuites) được
thành lập tại Lisbone (Bồ Đào Nha) dưới sự bảo trợ tích cực của Bồ Đào Nha và các thương nhân Bồ2 Giáo đoàn dòng Tên do Ignace de Loyola hoạt động chủ yếu ở các nước châu á (Nhật Bản, Trung Quốc và các nước Đông Nam á) Từ đại bản doanh
là Ma Cao (Trung Quốc), các giáo sĩ Bồ Đào Nha đ độc quyền tiến hành truyền đạo
ở khắp các xứ Viễn Đông
Trong trào lưu của công cuộc cải cách đó, nước Pháp xuất hiện Hội nghị giám mục Trente (1545-1653)3 Cuộc cải cách tôn giáo diễn ra suốt từ cuối thế kỷ
XVI đến nửa đầu thế kỷ XVII được biết đến "kỷ nguyên của các vị thánh" (siốcle
des saints) cũng đ đưa đến những chuyển biến chính trị - tôn giáo sâu sắc Sự
đối đầu của hai phái cải cách và phái chống lại đó làm cho tình hình nước Pháp rất phức tạp và có nhu cầu giải quyết những mâu thuẫn đó Việc chuyển các vấn đề còn tồn tại đó ra bên ngoài trong đó có cả vấn đề tôn giáo là một sự lựa chọn khá hiệu quả của giới cầm quyền thành Paris Mỗi một thời kỳ đều có sự khác nhau trong quá trình "chinh phục tinh thần" của cư dân nơi đây [127; 21, 22]
Như một lý thuyết kinh điển, các giáo sĩ của đoàn truyền giáo là những người "tiên khu" cho công cuộc thực dân Chúng ta đều biết đến Francis Xavier, giáo sĩ dòng Tên của Bồ Đào Nha đ mở đường cho nước này thâm nhập vào Viễn
Đông Các giáo sĩ có mặt trong thương đoàn và đoàn truyền giáo về sau thường
được coi như là "cái cớ" cho các nước thực dân xâm lược vũ trang các nước mà họ
đến buôn bán và truyền giáo Tuyệt đại đa số giáo sĩ tham gia vào giáo đoàn đều là
1 Đoạn này chúng tôi có sử dụng tư liệu chưa công bố của PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ về quan hệ của Thăng Long - Hà Nội với người phương Tây thế kỷ XVII, XVIII, nửa đầu XIX
2 Ngày 27-9-1540, Đức Giáo Hoàng Phaolô III chính thức công bố trọng sắc Regimini Militantis Ecclesiae phê chuẩn Đoàn Giêsu như một dòng tu mới trong Hội thánh, sau đó được bổ sung thêm bằng trọng sắc Exposcit Debitum năm 1550 của Đức Giuliô III Đây chính là cơ sở hình thành dòng Tên
3 Le Concile de Trente (1545-1563) về cơ bản là cuộc đấu tranh giữa Thiên chúa giáo và đạo Tin Lành; về cá
nhân là cuộc đối đầu giữa Charles Quint người tán thành cần phải có một Hội nghị giám mục và Fran ầ ois đệ nhất phản đối tiến hành Hội nghị vì lo sợ Charles Quint sẽ là một Charlemagne mới Tuy nhiên, Hội nghị cũng được giáo hoàng Paul III đồng ý triệu tập mặc dù phía Fran ầ ois I er và những người Tin Lành Đức trì
hon Kết quả của La Concile de Trente có ý nghĩa quan trọng với việc dẫn tới cuộc cải cách trong hàng
giáo sĩ: cấm kiêm nhiệm, cấm lĩnh một chức có bổng khi chưa đến mười bốn tuổi, không thể phong giáo sĩ khi chưa đủ hai mươi nhăm tuổi Hội nghị cũng minh định những điểm chính của giáo lý, chủ yếu dựa vào thần học kinh viện: Kinh thánh và Đạo thống [11, 105-108]
Trang 34người bản quốc Dưới sự trợ giúp đắc lực của nhà nước và thương nhân, trong các hoạt động của những đoàn này, lợi ích của đạo, lợi ích quốc gia gắn bó hết sức chặt chẽ1
Từ thế kỷ XV, do sự hỗ trợ đắc lực về kinh tế, Bồ Đào Nha đ đóng góp vào việc bảo vệ Giáo hội nên đ được Giáo hoàng La M biệt đi và được độc quyền truyền giáo ở Viễn Đông Lợi dụng khả năng tài chính hùng mạnh và những đặc quyền tôn giáo, ngoài việc trấn áp bất cứ giáo sĩ nước ngoài nào đến "vùng cấm",
họ nhiều lần cũng lấn át quyền hành của Giáo hoàng Vì vậy, Giáo hoàng có ý muốn hạn chế quyền lực của Giáo hội Bồ Đào Nha
Cho đến giữa thế kỷ XVII, cán cân thương mại quốc tế đ có nhiều thay đổi, lực lượng kinh tế của Bồ Đào Nha suy giảm, hoạt động truyền giáo cũng gặp nhiều khó khăn Tại Viễn Đông, nhiều giáo sĩ không mang quốc tịch Bồ Đào Nha đ nhận thấy rõ hạn chế truyền giáo của người Bồ nên đ đề nghị Giáo hoàng La M
có sự bảo trợ mới Là một giáo sĩ có rất nhiều kinh nghiệm hoạt động ở Viễn Đông, Alexandre de Rhodes (1593 - 1660) đ được cử về La M với 2 mục đích: bổ sung
đội ngũ giáo sĩ và tìm tài trợ Năm 1649, A de Rhodes đến La M, gặp Tổng hội truyền giáo đề nghị cử đến Đại Việt các giám mục của Toà thành mà không lệ thuộc vào giáo hội Bồ Đào Nha Tuy nhiên, do sự phản ứng của người Bồ, Giáo hoàng Innoncent X chưa thể ban hành quyết định A de Rhodes đ nhiều lần đề nghị Giáo hoàng nhưng ý định không thành Một điều cần nói thêm, trong đề nghị thay thế của A de Rhodes, ở đây là dùng người Pháp hay chọn giám mục người Pháp vào vị trí hiện có của người Bồ Đào Nha Về phía La M cũng phải thận trọng tính toán phản ứng của người Bồ và khả năng của người Pháp Còn về phía Pháp thì
họ đánh giá rất cao A de Rhodes và "Cha A de Rhodes đ không những hy sinh lợi ích của người Bồ mà còn cả lợi ích của dòng mình nữa" [38, 29]
Trên thực tế, không phải hoàn toàn do A de Rhodes vì là người Pháp nên đ
đề nghị dành lợi ích cho đất nước mình Nước Pháp lúc đó sau một thời gian tập trung mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài thì nền kinh tế đ có bước phát triển mạnh,
là nước theo đạo Thiên Chúa duy nhất có thể thay người Bồ làm chỗ dựa cho Giáo hội La M, có thể trợ giúp vật chất cho các giáo sĩ đang truyền giáo ở phương
Đông
1 Đánh giá về những giáo sĩ dòng Tên xuất hiện ở Viễn Đông như Trung Quốc, chúng tôi xin lưu ý đến nghiên cứu của GS Trần Văn Đoàn, ông nhấn mạnh đến việc "bản vị hóa" [hòa nhập vào x hội bản địa] trong hoạt động truyền giảng, cũng như những nỗ lực hết mình dựa trên tầm tri thức cao của bản thân các giáo sĩ dòng Tên Do vậy, giai đoạn đầu về cơ bản xuất hiện hiện tượng "khoan dung (khoan hồng) - Toleration hay Tolerence" và sự hòa hợp tôn giáo [14]
Trang 35Năm 1655, Giáo hoàng Innocent X (cq: 1644-1655) qua đời, Alexandre VII (cq: 1655-1667) lên thay, các giáo sĩ Pháp có nhắc lại đề nghị cũ, Giáo hoàng mới cũng chưa chấp nhận Tháng 5-1657, có 5 giáo sĩ người Pháp đi bộ sang La M xin Alexandre VII cho phép được truyền đạo song cũng không thành Cuối cùng năm sau (1658), họ phải nhờ đến sự giúp đỡ của Lambert de la Motte (Pierre Lambert de
la Motte, sau còn được gọi là Giám mục Bérythe, 1624 - 1679), một giáo sĩ có uy tín
ở La M, Giáo hoàng Alexandre VII đ chấp nhận với điều kiện họ trang trải mọi chi phí trên đường sang Viễn Đông1 Ba giáo sĩ người Pháp Franầois F Pallu (hay Giám mục Héliopolis, 1626 - 1684), Lambert và Ignace Cotolendi (còn được gọi là Giám mục Métellopolis, 1629 - 1662) được phong chức Giám mục các địa phận: F Pallu cai quản Đàng Ngoài, Lào và một số tỉnh của Trung Quốc; Lambert de la Motte cai quản Đàng Trong và một số tỉnh Trung Quốc; Cotolendi cai quản Nam Kinh, Bắc Kinh, Sơn Tây, Thiểm Tây, Sơn Đông, Triều Tiên và Tartarie Họ có toàn quyền ở các địa phận trên và các giáo sĩ quốc tịch khác (kể cả người Bồ Đào Nha) cũng phải phục tùng các giám mục người Pháp Người Bồ Đào Nha đ phản ứng dữ dội và đưa
ra nhiều lời đe dọa đối với phía Pháp Vì vậy, Giáo hội La M phải ra chỉ thị trong đó yêu cầu người Pháp khi đi qua các địa phận của người Bồ phải hết sức bí mật và nhiều đoạn đường không được đi qua nhằm tránh xung đột trực tiếp với họ Để có thể có kinh phí lên đường và hoạt động ở Viễn Đông, ngoài sự ủng hộ nhiệt tình của vua Louis XIV, các quý tộc, thương nhân , F Pallu đ lập công ty vốn huy
động từ các quý tộc và ký kết với công ty nhà nước để thành lập công ty thương mại lớn, nhưng kế hoạch đó đ không thành [86], [122] Các Thế diện Tông tòa này đ phải đi bộ sang Viễn Đông Giữa đường Cotolendi bị chết, chỉ còn Lambert
de la Motte sang Siam năm 1662, F Pallu đến năm 1664
Trong lúc Lambert và F Pallu sang Viễn Đông, công việc của các tu sĩ ở Pháp là xây dựng nhà dòng để đào tạo giáo sĩ Thừa sai Tháng 7 - 1663, Louis XIV
ký công thư cho phép được thành lập một chủng viện để đào tạo các giáo sĩ Thừa sai cho Viễn Đông Tháng 10, chủng viện của Hội Thừa sai Paris (Hội truyền giáo nước ngoài Paris - La Sociộtộ des Missions ẫtrangốres de Paris, gọi tắt là MEP) được thành lập Năm sau (1664), Hội được nhà nước và Giáo hội công nhận Nhiệm vụ của Hội này là đào tạo giáo sĩ Thừa sai, truyền đạo và phát triển thế lực của Pháp sang phương Đông2 Ngoài ý nghĩa trên thì sự ra đời của MEP đ tạo điều kiện hết
1 Ngoài vai trò của A.de Rhodes, cũng như Lambert, cũng cần phải nhấn mạnh ảnh hưởng đáng kể của Phu nhân D'Aiguillon, xem Ch.Maybon [130, 42-43]
2 Sau này, trong bản điều trần của MEP trước Quốc hội Pháp năm 1790 đại ý khẳng định như sau: 1 MEP là
tổ chức duy nhất của hội các thầy tu thế tục gồm toàn người Pháp có sứ mạng mang ánh sáng của đức tin và
Trang 36sức thuận lợi cho việc đẩy nhanh giai đoạn chuyển hóa sang tư bản chủ nghĩa của nền kinh tế Pháp Do vậy, trước, trong và sau khi thành lập, việc MEP luôn nhận
được sự ủng hộ tích cực từ phía chính quyền và thương nhân Pháp là điều hoàn toàn
dễ hiểu Đồng thời theo tính toán của giới cầm quyền Pháp, để giúp MEP có thể thuận lợi khi thâm nhập vào vùng đất Viễn Đông - những quốc gia "tà giáo", hay
"barbarians" việc xúc tiến thành lập ngay một công ty thương mại với đặc quyền lớn hơn tất cả các công ty hoạt động kém hiệu quả và nhỏ lẻ trước đó đ nhận được sự
đồng thuận cao của triều đình và vị Tổng kiểm tài chính J.B Colbert
Những chuyển biến về kinh tế Pháp và sự thành lập CIO
Xuất phát từ tư tưởng "trọng thương" và dựa trên cơ sở nền chính trị phát
triển theo khuynh hướng "tập quyền, perspective centralisatrice" của Louis XIV
hay J.B Colbert, trong đường lối của mình, F Pallu nhấn mạnh đến "sự vinh quang của nước Pháp là sứ mệnh truyền giáo và lợi ích buôn bán" Và trên thực tế sau này, F Pallu luôn gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động thương mại với truyền giáo, tương hỗ và không tách rời nhau Trong thời gian được giao phụ trách CIO, F Pallu rất tích cực trong các hoạt động mở rộng hoạt động thương mại với Đại Việt Trong nhiều trường hợp chính sự "tích cực" nhiều khi thái quá đó nên một số dự định của
ông bị thất bại một phần cũng do nguyên nhân từ chính phía ông - một giáo sĩ Thừa sai và cũng là một thương nhân
Tuy nhiên trước J.B Colbert, đường hướng mở rộng thương mại biển và bành trướng về kinh tế của Pháp đ hình thành từ thời A.J.P Richelieu Bước vào Hội đồng tháng 4 năm 1624, và đến tháng 8, A.J.P Richelieu chính thức được bầu
là người đứng đầu của Hội đồng này Như nhiều học giả nhận xét A.J.P Richelieu
là người "khai sinh ra một mô hình nước nước Pháp bành trướng ra hải ngoại" hay nói cách khác trong những năm tháng cầm quyền của Richelieu, nước Pháp đ có những mở rộng và phát triển cao vươn ra các khu vực khác trên thế giới và chính thời kỳ này nước Pháp thật sự hội nhập vào một guồng quay của quá trình xâm thực
kinh tế Năm 1624, ông cho thành lập Hội đồng Hàng hải (Conseil de Marine) (mà
như đánh giá của D Dessert: "nó tập hợp lợi ích vào một hội đồng hành chính của Hội quân sự và khai phá đường biển A.J.P Richelieu, hơn là một Tổ chức Nhà nước" [122, 128] với nhiệm vụ ban đầu là kết hợp lại giữa đi biển và thương mại (đó chính là cơ sở ban đầu của Bộ Hải quân và Thuộc địa sau này) Tháng 3 năm
phát huy ảnh hưởng của Pháp đến các nước phương Đông; 2 Tạo điều kiện cho việc buôn bán giữa Pháp với các xứ phương Đông; 3 Tin tưởng nhà nước sẽ che chở đặc biệt với Hội và sẽ làm hết mình vì sự chở che
đó Chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở chương III [38, 33], [37, 57]
Trang 371626, ông cho thành lập "Grand Maitre du commerce", đồng thời bi bỏ các chức
vị đô đốc ở Pháp, Guyenne, Levant, Bretagne cũng như tướng của các chiến thuyền
Ông cũng trình bày trước Hội đồng quý tộc một chương trình kinh tế - một phần quan trọng của vấn đề hải thương: cướp biển, gây phiền nhiễu và chế độ bảo hộ thuế quan đối với hầu hếu các nước châu Âu láng giềng Chương trình hành động
đó được cụ thể hóa năm 1629 bằng một sắc dụ của vua còn gọi là luật Michau
(Code Michau) trong đó nhằm đưa nước Pháp hội nhập sâu hơn vào hoạt động
thương mại quốc tế Ông khuyến khích cho việc thành lập các công ty thương mại giống như các công ty của Hà Lan và Anh quốc Có lẽ đây là lần đầu tiên dưới thời A.J.P Richelieu, nước Pháp đ tiến hành một loạt các hoạt động nhằm tăng cường thương mại biển (trong đó có cả hoạt động hàng hải, chiến tranh và thương mại)
Đó là tiền đề quan trọng cho Pháp thâm nhập ngày càng sâu hơn dưới thời Colbert sau này [127, 25]
Trở lại vấn đề yêu cầu phát triển kinh tế, nhất là hoạt động hàng hải thời này, trong khi uy thế của Hà Lan trong lĩnh vực kinh tế biển gần như tuyệt đối, Pháp cũng như một số nước khác vẫn đứng ra làm trung gian buôn bán, sau khi lên nắm quyền về tài chính (1665) được một thời gian, J B Colbert đ rất chú trọng tăng cường thành lập các công ty thương mại với những đặc quyền và ân huệ lớn Trên cơ sở thành lập các công ty thương mại chủ yếu hoạt động ở Tân Thế giới,
Đại Tây Dương, tháng 8 năm 1664 (một năm sau khi thành lập Hội Truyền giáo
nước ngoài Paris - MEP), Công ty Đông ấn Pháp (La Compagnie Fran ầ aise des Indes Orientales, CIO) được thành lập dựa theo mô hình của Công ty Đông ấn Anh (EIC, lập năm 1600) và VOC1
Để thu hút tài chính, công ty khuyến khích "tất cả mọi người với những điều kiện và năng lực vốn có nào" và giới quý tộc tham gia hùn vốn [86]
Năm 1668, CIO thành lập thương điếm ở Surate, sau đó lập ở Pondichéry (ấn Độ) năm 1674 Tham vọng đặt "tất cả hòn đảo thuộc Pháp được đặt dưới sự chỉ huy của CIO", cùng lúc Colbert cũng thành lập Công ty phương Bắc năm 1669 nhằm vào thị trường các nước vùng Bantích, và Công ty Levant điểm đến là Đông
Địa Trung Hải Theo đuổi đuộc chiến tranh với Hà Lan trong những năm của thập
1
Trước đó, một số công ty thương mại đ được thành lập: năm 1611 thành lập Công ty về Đông ấn Pháp
(Compagnie Fran ầ aise pour des Indes orientales), Công ty Đông ấn (hay Công ty Malacca, thành lập năm 1615), Công ty Morbihan do Richelieu lập năm 1626 Về tên gọi Công ty Đông ấn Pháp (CIO) trong một
số sách viết sau năm 1664 có dùng Công ty Pháp (Compagnie Fran ầ aise ) hay Công ty ấn Độ (Compagnie
des Indes ) đều nhằm chỉ CIO Còn Công ty Tây ấn Pháp (Compagnie des Indes Occidentales) cũng được
thành lập vào năm 1664 nhưng chỉ 10 năm sau (1674) đ phải giải thể chỉ còn lại CIO
Trang 38kỷ 70 thế kỷ XVII đ khiến cho tình hình kinh tế Pháp gặp nhiều khó khăn, nhất là vua Louis XIV đ phải bi bỏ điều khoản (về thuế quan) của Hiệp ước Nimègue năm 1678 Hệ quả là Công ty phương Bắc không có khả năng cạnh tranh với Hà Lan ở Bantích và phải giải thể năm 1684; năm 1690 Công ty Levant cũng tan r Chỉ có CIO đứng vững nhờ vai trò tích cực của Franầois Martin Năm 1674, F Martin đ kiên quyết giữ thương điếm Pondichéry khỏi sự thôn tính của người Hà Lan Năm 1682, một sắc lệnh cho phép CIO được tự do hoàn toàn trong hoạt động
buôn bán với các xứ vùng ấn Độ (aux Indes, bao gồm cả ấn Độ lẫn các nước Nam
á và Đông Nam á)
Những nỗ lực rất lớn đó, nhìn một cách tổng thể, Pháp không thể so sánh với vị thế kinh tế hàng hải của người Hà Lan và người Anh, điều này càng được bộc
lộ rõ sau khi J.B Colbert mất năm 1683 Bên cạnh đó, một số sản phẩm hàng hóa trên thị trường của người Anh và Hà Lan vẫn có chất lượng cao hơn so với sản phẩm của Pháp Mặc dù sau cuộc chiến tranh với Pháp, và vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt của người Anh nhưng về thương mại thì người Hà Lan vẫn là "những người độc hành trên biển" nhờ vào giá cả cạnh tranh, thương thuyền của VOC1 và khả năng tài chính hùng mạnh2
2 Giáo sĩ Thừa sai, thương nhân Pháp trong việc xác lập vị thế giáo phận và thâm nhập về kinh tế của Pháp ở Viễn Đông
Là một giáo sĩ dòng Tên, A de Rhodes đ có công rất lớn trong cuộc vận
động tòa thánh La M trao quyền quản hạt các địa phận Viễn Đông cho giáo hội Pháp Có mặt ở Đại Việt từ năm 1624 (Đàng Trong từ tháng 1 năm 1625 đến tháng
7 năm 1626; Đàng Ngoài năm 1627 đến năm 1645), A de Rhodes đ có những tri thức khá sâu rộng về vùng đất nằm giữa ấn Độ và Trung Quốc Công cuộc truyền giáo ở đây, đến trước khi Rhodes bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Đại Việt, theo đánh giá của ông là rất khả quan Trong khoảng thời gian đó, theo ước tính của ông thì
Đàng Ngoài có khoảng 82.000 tín đồ Thiên chúa giáo, và năm 1650 ước tính là khoảng 350.000 tín đồ [127, 34] Thêm nữa, khi từ Ma Cao về Pháp năm 1653, sau quá trình vận động không mệt mỏi nhằm đưa người Pháp thay chân người Bồ Đào Nha ở Viễn Đông, cũng như với danh tiếng của mình, A de Rhodes được đón tiếp
1 Đến năm 1670 (9 năm sau khi lập các công xưởng đóng tàu), thương đoàn của Pháp chỉ chở được 80.000 tấn, trong khi trọng tải của Anh là 100.000 tấn, còn Hà Lan là 600.000 tấn [122, 84]
2 Tuy nhiên, phải công nhận rằng bên cạnh đó, việc thành lập cơ sở ở Batavia đóng một vai trò rất quan trong trên con đường thương mại của Hà Lan từ châu Âu qua các thương điếm ở ấn Độ Dương (Malacca, Colombo, Cochin) trên những con thuyền chất đầy hàng hóa về Amsterdam Còn Bombay (ấn Độ) trở thành một “tổng hành dinh” của EIC, rồi các cơ sở ở Bắc Mỹ, Jamaica [122, 84]
Trang 39nồng nhiệt Năm 1650, ông công bố tác phẩm: "Quan hệ của các Hội truyền giáo" viết và tái bản bằng tiếng Italia, rồi sau đó được dịch sang tiếng Pháp Và trong đó các đoàn truyền giáo ở Đông Dương cũng gây được sự chú ý Từ đây, ông tham gia tích cực giúp giáo hội Pháp trong công cuộc vận động tòa thánh Roma
Cuộc vận động Toà thánh Vatican tìm một quốc gia khác thay quyền
padroado (bảo trợ) của Bồ Đào Nha ở Viễn Đông gặp nhiều khó khăn vì bị nước này phản đối dữ dội và Toà thánh La M phải do dự Với những nỗ lực không mệt mỏi của người Pháp nên năm 1658, Giáo hoàng đ đồng ý và cử 3 giáo sĩ Pháp làm
Thế diện Tông toà (Vicaire apostolique) ở Viễn Đông Bện cạnh đó, do vấp phải sự
phản đối quyết liệt từ phía giáo sĩ Bồ Đào Nha, Giáo hoàng cũng không quên chỉ thị cho các giám mục Pháp phải hết sức cẩn trọng, ứng phó khôn ngoan và mềm dẻo "phải giữ bí mật với họ ngay cả khi đ đến ấn Độ, đồng thời phải giữ trọn hòa hảo với họ trong mọi việc" Phản ứng mạnh mẽ đầu tiên của phía Bồ Đào Nha
là không cho đi nhờ thuyền, F Pallu và Lambert đ phải đi bộ hàng năm ròng từ Pháp tới Đông Dương Đương nhiên, các sử gia về truyền giáo nói chung đánh giá rất cao sự kiện lịch sử này và họ coi đó là mốc đánh dấu sự hiện diện của người Pháp ở Viễn Đông [38, 16-17]
Năm 1664, F Pallu cùng 9 giáo sĩ khác tới thủ đô Ayutthaya của Siam (Thái Lan) Trước khi F Pallu khởi hành, Lambert de la Motte đ đến đây trước, tại đây hai giáo sĩ đ tổ chức cuộc họp với các giáo sĩ thừa sai Pháp tổ chức họ thành giáo
đoàn, đề ra một quy chế nghiêm ngặt Một chủng viện cũng được lập ra nhằm thu nhận chủng sinh người Việt và người Hoa (hay chính là nơi đào tạo các linh mục bản xứ) F Pallu cũng định ra cho các giáo sĩ Pháp phương hướng ứng xử hòa nh với giáo sĩ người Bồ Đào Nha Năm 1670, trên đường trở lại Thái Lan, thuyền của
F Pallu bị bo trôi dạt vào Philippine và bị người Tây Ban Nha bắt đưa về thủ đô Madrid Sau khi được tha bổng, F Pallu sang Roma và xin cho Lambert de la Motte phụ trách một số địa phận mà mình đang cai quản trước kia, đồng thời xin lnh chức giám mục địa phận Phúc Kiến và Tổng quản toàn Trung Quốc
Nếu như F Pallu chưa một lần nào đặt chân đến Việt Nam, Lambert trong hầu hết những năm tháng truyền giáo ở hải ngoại địa bàn thường xuyên lui tới của
ông là Đàng Trong, sau này thêm cả Đàng Ngoài và một số tỉnh của Trung Quốc Không phải dễ dàng gì giáo sĩ người Pháp này có thể hoạt động mà không vấp phải
sự phản đối của giáo sĩ dòng Tên Nằm trong mục đích chung khuyếch trương vai trò của người Pháp ở đây, các hoạt động của những giáo sĩ này tỏ ra khá bài bản,
Trang 40thường có sự thăm dò trước và trong quá trình truyền giảng thường đưa ra những quy chế cụ thể, nghiêm ngặt về đào tạo, hệ thống phân cấp [37, PL]
Riêng đối với hoạt động của người Pháp ở Việt Nam, ngay sau khi được Giáo hoàng La M phân định phạm vi quản hạt, những năm 1663, 1664 F Pallu và Lambert de la Motte lên đường sang Viễn Đông Trạm dừng chân đầu tiên là Siam
và qua đó lên kế hoạch vào Đại Việt Như chúng tôi đ trình bày, F Pallu mặc dù
được phân công đến địa phận Đàng Ngoài nhưng cho đến khi qua đời vẫn chưa một lần đặt chân đến đây Một năm sau khi dừng chân ở thủ đô Ayutthaya (Siam), theo
kế hoạch ông sẽ sang Đàng Ngoài Nhưng do khó khăn nên năm 1665 ông đ phải
cử thừa sai F Deydier ra Bắc làm Cố chính điều hành việc đạo, còn tự mình về Roma xin Giáo hoàng xác định quyền hành của giám mục Pháp đối với các giáo sĩ thừa sai thuộc các quốc tịch khác nhau Năm 1670, theo kế hoạch qua Siam rồi đến
Đáng Ngoài nhưng thuyền bị đắm trên đường nên phải dừng lại Năm 1681, trên chức vụ mới, F Pallu trở lại Viễn Đông và cử Lefèbre và Geffrard đem lễ vật và thư của vua Pháp Louis XIV dâng lên nhà vua ở Đàng Ngoài Nội dung bức thư gồm hai điểm: Kinh tế: xin phép cho Công ty Đông ấn được lập thương điếm; Truyền đạo: cho phép De Bourges và F Deydier được tự do truyền đạo, giáo dân
được tự do theo đạo và mong nhà vua cải giáo [37, 57-58]
So với F Pallu chưa lần nào đặt chân lên lnh thổ Việt Nam, Lambert de la Motte có thuận lợi hơn khi ngay từ đầu đ có mặt tại Đàng Trong Năm 1664, để có thể thuận lợi vào Đàng Trong, Lambert de la Motte đ cử Chevreuil đi tiền trạm mang theo thư uỷ nhiệm, tiền và một thông ngôn người Nhật đến Hải Phố (Faifo - Hội An) rồi lên Huế Nhân buổi lễ do các giáo sĩ dòng Tên tổ chức, tại đây Chevreuil đ chính thức tuyên bố mình chính là giám mục chính thức của địa phận Cùng với sự phản ứng của giáo sĩ dòng Tên, rồi lệnh cấm đạo của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (cq: 1648-1687), Chevreuil và những giáo sĩ đó đều bị trục xuất Năm sau, bất chấp lệnh cấm đạo, Chevreuil cùng Hainques vẫn đến Đàng Trong Dừng chân tại địa phận thuộc Bà Rịa, sau đó hai giáo sĩ ngược lên miền Trung Năm 1670, cả Hainques và Brindeau, hai giám mục lúc đó đều qua đời "tại Phố Mới - Quảng Ngi Anh em Công giáo rất lấy làm thương tiếc các ngài Nản lòng, hai vị linh mục Việt Nam Joseph Trang và Luc Bền chạy qua Thái Lan gặp
Đức cha Lambert de la Motte và trong một thời gian địa phận miền Nam lại không
có linh mục" [25, 146-147]
Sau khi nhận lời ủy thác của F Pallu, Lambert de la Motte trở ra kinh lý
Đàng Ngoài Nhưng trước đó, Lambert de la Motte đ cử F Deydier giả làm lái