1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9

168 971 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhanh chóng chỉ đạo vấn đề này, ngày 25/3/2008, Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các báo, đài đưa tin khách quan, chính xác góp phần cho người dân hiểu rõ chủ trương c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ

HÀ NỘI - 2009

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 5

MỞ ĐẦU 6

1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11

6 Phương pháp luận nghiên cứu 11

7 Kết cấu luận văn 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN TTCK TRÊN TRUYỀN HÌNH 12

1.1 Một số vấn đề về thông tin, tuyên truyền 12

1.1.1 Khái niệm tuyên truyền 12

1.1.2 Khái niệm thông tin 14

1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin, tuyên truyền của báo chí 17

1.2 TTCK và phân loại thông tin về TTCK 20

1.2.1 Lịch sử ra đời TTCK 20

1.2.2 Chức năng TTCK đối với nền kinh tế 22

1.2.3 Phân loại thông tin trên TTCK 24

1.3 Yêu cầu về việc tuyên truyền TTCK trên truyền hình 25

1.3.1 Đối tượng tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình 25

1.3.2 Một số yêu cầu tuyên truyền về TTCK trên truyền hình 28

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ TTCK TRÊN

TRUYỀN HÌNH 31

2.1 Lịch sử ra đời của truyền hình về tài chính 31

2.1.1 Truyền hình về tài chính trên thế giới 31

2.1.2 Truyền hình chứng khoán ở Việt Nam 41

2.1.2.1 Kênh VTV1 41

2.1.2.2 Kênh InfoTV (VCTV9) 43

2.1.2.3 Đài truyền hình kỹ thuật số VTC 44

2.1.2.4 Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (HanoiTV) 45

2.1.2.5 Đài phát thanh và truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (HTV9) 46

2.2 Nội dung tuyên truyền của các chương trình về TTCK trên truyền hình 47

2.2.1 Truyền hình góp phần phổ biến kiến thức về TTCK đến nhà đầu tư 47

2.2.2 Truyền hình góp phần tuyên truyền những chính sách của nhà nước, cơ quan quản lý tới công chúng 50

2.2.3 Tuyên truyền thông tin về diễn biến thị trường 54

2.2.3.1 Tuyên truyền thông tin phiên giao dịch 54

2.2.3.2 Tuyên truyền những thông tin khác về TTCK (thông tin doanh nghiệp, thông tin quốc tế…) 57

2.3 Đặc thù hình thức việc tuyên truyền TTCK trên truyền hình 60

2.3.1 Chia nhỏ màn hình 60

2.3.2 Sử dụng ngôn ngữ phi văn tự 66

2.3.3 Mầu sắc chủ đạo là mầu xanh và mầu vàng 68

2.3.4 Sử dụng nhiều MC trong một chương trình 68

2.3.5 Nhạc nền sôi động 70

2.3.6 Ba thể loại chủ yếu là tin, phóng sự và phỏng vấn 70

2.4 Nhận xét, đánh giá chung về các chương trình tuyên truyền về TTCK trên truyền hình Việt Nam 70

Trang 5

2.4 1 Một vài nhận xét về chất lượng tuyên truyền 71

2.4.1.1 Tính chính xác 71

2.4.1.2 Tính cập nhật 74

2.4.1.3 Tính định hướng 76

2.4.2 Thực trạng tỷ lệ người xem trên các chương trình tiêu biểu 77

2.4.3 Ưu-nhược điểm của các chương trình tuyên truyền về TTCK trên truyền hình 79

2.4.3.1 Ưu điểm 79

2.4.3.2 Nhược điểm 81

Chương 3: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN VỀ TTCK TRÊN TRUYỀN HÌNH 84

3.1 Sự phát triển của TTCK đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền 84

3.2 Định hướng phát triển chương trình tuyên truyền về TTCK trên truyền hình 87

3.2.1 Nắm vững chỉ đạo tuyên truyền về TTTCK 87

3.2.2 Kết hợp nhiều biện pháp trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền về TTCK 89

3.2.3 Vận dụng sáng tạo kinh nghiệm truyền hình tài chính thế giới 91

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền TTCK trên truyền hình 94

3.3.1 Đối với độ ngũ thực hiện chương trình 94

3.3.2 Đối với lãnh đạo các Đài truyền hình 97

3.3.3 Đối với cơ quan quản lý thị trường 98

3.3.4 Đối với các doanh nghiệp 99

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê lịch phát sóng, thời lượng các chương trình truyên truyền về

TTCK trên VTV1, VTC, InfoTV, HanoiTV và HTV9

Bảng 2.2: Mô hình hóa mẫu màn hình chia nhỏ nhất hiện nay

Bảng 2.3: Mẫu màn hình Bản tin thị trường 24h -VTV1

Bảng 2.4:Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (sáng) - VTV1

Bảng 2.5: Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (tối)- VTV1

Bảng 2.6 : Tỷ lệ người xem Bản tin Việt Nam và các chỉ số (tối) -VTV1

Bảng 2.7: Tỷ lệ người xem Bản tin Việt Nam và các chỉ số (trưa) - VTV1

Trang 8

Minh bạch hóa thông tin hiện đang được coi là vấn đề hết sức bức xúc của TTCK Việt Nam với 9 năm non trẻ so với ý thức thông tin hàng trăm năm của TTCK trên thế giới Vì thế hiện nay những kênh thông tin về TTCK từ các nguồn chính thống từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và đặc biệt từ các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng đang khá đa dạng để đáp ứng nhu cầu này

Nhanh chóng chỉ đạo vấn đề này, ngày 25/3/2008, Thủ tướng giao Bộ Thông tin

và Truyền thông chỉ đạo các báo, đài đưa tin khách quan, chính xác góp phần cho người dân hiểu rõ chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển TTCK theo công văn số1909/VPCP-KTTH V/v các biện pháp ổn định TTCK

Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng đã phê duyệt “Đề án

phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” thì

truyền thông cho thị trường này là vấn đề bức thiết đặt ra với các loại hình báo chí nói chung và truyền hình nói riêng Theo đề án này, TTCK sẽ là thành phần chủ đạo để đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính Việt Nam Đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam sẽ phát triển tương đương thị trường các nước trong khu vực

Theo tiến sĩ Vương Quân Hoàng, Nghiên cứu viên cao cấp Bộ môn Tài chính, Trung tâm Emile Bernheim, ĐHTH Bruxelles thì các quyết định tốt trong đầu tư ngày nay còn được gọi là: Các quyết định đầy đủ thông tin, nguyên văn tiếng Anh: "Well-informed decisions." Các phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 9

với lợi thế của mình đã làm được gì và phải làm gì cho các nhà đầu tư, cho TTCK, thị trường vốn và cho cả nên kinh tế thì không thể chần chừ hay không quy chuẩn

Với hàng loạt các kênh truyền hình như hiện nay việc tuyên truyền về TTCK càng cần phải lưu tâm và thể hiện sao cho chất lượng chương trình xứng đáng với số lượng chương trình đang có và sẽ còn phát triển mạnh trong tương lai

Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển và biến động của thị trường, các phương tiện truyền thông đại chúng cũng tăng cường thông tin về TTCK Riêng về truyền hình hiện trên hầu hết các kênh từ VTV1, HanoiTV, HTV, truyền hình kỹ thuật số VTC, truyền hình cáp Việt Nam đều có những chương trình riêng biệt tuyên truyền về TTCK

Tuy nhiên, nói về thông tin chứng khoán trên các phương tiện thông tin đại chúng, dù nhiều về số lượng (ngoài hệ thống chương trình về chứng khoán trên các kênh VTV1, HanoiTV, HTV thì có hẳn 2 kênh riêng biệt về tài chính là VTC8 và InfoTV (VCTV9) nhưng nội dung vẫn chưa sâu, chưa kỹ và chưa thực

sự sát với đối tượng tuyên truyền Nhiều thông tin, nhiều chương trình dẫn đến

sự trùng lập và ít bản sắc của các chương trình về chứng khoán trên các kênh khác nhau

Thứ hai, tuy cùng thông tin về TTCK nhưng các bản tin trên truyền hình

cũng có những đặc thù, khu biệt với báo in, báo điện tử hay phát thanh Vì vậy làm rõ đặc thù này cũng là cách để các nhà làm truyền hình có thể tuyên truyền tốt hơn về TTCK

Trước nhu cầu “thông tin chứng khoán” và nâng cao chất lượng của các

chương trình truyền hình tác giả xin lựa chọn đề tài: Tuyên truyền về thị

trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1,

InfoTV, HaNoiTV và HTV9)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về TTCK đã có mầm

Trang 10

mống từ đầu thập kỷ 90 Từ khi Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thành lập theo nghị định 75/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2006 thì những thông tin mang tính chất tuyên truyền về lĩnh vực này thực sự được quan tâm và bắt đầu triển khai chủ động

Hiện theo thống kê trong nước hiện nay có khoảng 200 đầu sách nghiên cứu về TTCK Tiêu biểu, ngay từ năm 1991, các tác giả Đặng Quốc Tuyến,

Trịnh Trọng Nghĩa, Đặng Thị Luận đã biên soạn cuốn “Chứng khoán và TTCK :

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới” (Viện Khoa học Tài chính - Bộ Tài

chính xuất bản) Nội dung cuốn sách về TTCK và lịch sử phát triển; các khái niệm cơ bản về TTCK; kinh nghiệm hoạt động TTCK ở các nước kinh tế phát triển; vai trò của TTCK ở các nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và điều lệ chứng khoán ở Liên Xô

Sang năm 1993, tác giả Nguyễn Ngọc Minh dịch cuốn “Những kiến thức cơ

bản về chứng khoán và môi giới chứng khoán” của Học viện Tài chính Nữu ước

(Mỹ) (Nhà xuất bản thế giới xuất bản)

Sang năm 1994, sách về chứng khoán được xuất bản nhiều hơn, tác giả

Nguyễn Công Nghiệp xuất bản cuốn “TTCK : Trò chơi và những thủ pháp làm

giàu” Một số nội dung chính của tác phẩm là đôi nét về đặc điểm của TTCK

Những thủ đoạn, bí quyết làm giàu của những kẻ tham gia trò chơi chứng khoán, luật chơi của trò chơi này

Và đây cũng là cuốn sách đầu tiên chỉ những ứng dụng, bí quyết trong TTCK với quan niệm về “trò chơi chứng khoán”

Về luận án, hiện tại Thư viện quốc gia có lưu chiểu khoảng 50 luận án

nghiên cứu về TTCK Sớm nhất, năm 1995, tác giả Lê Thị Tuyết Hoa nghiên

cứu về “Các giải pháp nhằm thực hiện các điều kiện hình thành TTCK tại Việt

Nam” Tác phẩm nghiên cứu lý luận TTCK và thực trạng kinh tế - xã hội Việt

Nam về kinh tế - con người, pháp lý để tìm và đưa ra những kiến nghị về các giải pháp thực hiện các điều kiện hình thành TTCK ở VIệt Nam

Trang 11

Cùng năm, tác giả Lê Hoàng Nga hoàn thành đề tài “Thiết lập cơ chế hoạt

động của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên TTCK” Nội dung chính là về

TTCK và vai trò của hệ thống ngân hàng trên TTCK Thực trạng và cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng trên TTCK Cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên TTCK

Như vậy, tuy sách, luận án hay các tài liệu bài viết về TTCK khá nhiều nhưng cho đến nay những tác phẩm đó nghiên cứu thị trường chủ yếu dưới góc

độ tài chính

Ở trong nước, về thông tin TTCK trên báo chí có một số công trình:

- Khóa luận "TTCK qua Báo chí" của Đoàn Mai Anh K40, sinh viên khoa

báo chí trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

- Khóa luận “Thông tin chứng khoán trên Báo chí Việt Nam” của sinh viên

Phạm Thị Hằng K47 hệ tại chức khoa báo chí trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

- Khóa luận “Thông tin chứng khoán trên báo chí Việt Nam” của Phạm

Thị Thuỷ (K47 Hà Nội hệ tại chức) khoa báo chí trường Đại học khoa học xã hội

và nhân văn

- Khóa luận “Cách tiếp cận và xử lý thông tin chứng khoán của phóng viên

kinh tế ở Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Minh Anh, K48 chính quy khoa báo chí

trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

- Luận văn “Thông tin tuyên truyền về chứng khoán và TTCK (Khảo sát tạp

chí chứng khoán từ 1997-2003)” của tác giả Nguyễn Cao Cầm, Học viện Báo chí

và tuyên truyền, người hướng dẫn TS Phạm Tất Thắng, năm 2004

Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả đã lược dịch một số tác

phẩm của một số tác giả nước ngoài, tiêu biểu là “Media firms: structures,

operations and performances”, nhà xuất bản Lawrence Erlbaum Associates,

năm 2002, biên soạn Robert G.Picard, Trường kinh tế và quản trị kinh doanh

Turku, Phần Lan và “The options course: High Profit & Low Stress Trading

Methods” Nhà xuất bản Wigley, tái bản lần 2 năm 2005 của tác giả George

Trang 12

A.Fontanills

Việc tiếp cận với các tài liệu gốc này vẫn mang tính hạn chế nhưng cũng đủ

để minh chứng cho việc phát triển khá mạnh những tác phẩm nghiên cứu về vấn

đề này trên thế giới

Như vậy, ở nhiều khía cạnh khác nhau bước đầu mảng đề tài này đã được khai thác Tuy nhiên trên thực tế hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu trên về việc tuyên truyền về TTCK trên truyền hình và từ đó đưa ra những giải pháp thực tiễn là nâng cao chất lượng chương trình như ở luận văn thực hiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao việc tuyên truyền về TTCK trên truyền hình trong thời gian tới

- Nhiệm vụ:

Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về TTCK và tuyên

truyền về TTCK trên truyền hình

Thứ hai, đánh giá thực trạng hoạt động tuyên truyền về TTCK trên cơ sở

khảo sát các chương trình trên một số kênh truyền hình

Thứ ba, đề ra giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động của thông tin

tuyên truyền về TTCK trên truyền hình

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng: Khảo sát việc tuyên truyền về TTCK trên một số kênh VTV1,

HanoiTV và HTV9, truyền hình kỹ thuật số VTC và InfoTV (VCTV9- truyền hình cáp Việt Nam)

Cụ thể, tập trung vào một số chương trình:

- Việt Nam và các chỉ số; Bản tin tài chính; Chứng khoán cuối tuần (VTV1)

- Bữa sáng doanh nhân, Hàn thử biểu, Tâm chấn (VTC8)

- Bản tin trước giờ mở cửa, Bản tin chứng khoán Info, Sàn chứng khoán Info (InfoTV)

Trang 13

- Bản tin chứng khoán và đầu tư (HanoiTV)

- Bản tin kinh tế tài chính 24H (HTV9)

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chung về các chương trình tuyên truyền

về TTCK trên truyền hình từ năm 2006 và tập trung khảo sát sâu vào một số chương trình cụ thể (trên cách kênh VTV1, VTC, InfoTV, HanoiTV và HTV9)

từ tháng 7/2007 và đặc biệt từ quý III/2009 (tháng 8,9,10) đến nay

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Đề tài đặt nhiệm vụ và nghiên cứu cơ sở lý luận cho việc tuyên

truyền về TTCK như nghiên cứu tâm lý đối tượng tuyên truyền, cách phân loại thông tin trên thị trường tài chính và rút ra những yêu cầu về chất lượng khi tuyên truyền về TTCK trên truyền hình Kết quả nghiên cứu của đề tài là đóng góp những cơ sở lý thuyết chung nhất vào hoạt động tuyên truyền về TTCK trên truyền hình

Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là đóng góp tích cực,

đem lại cái nhìn toàn cảnh về những chương trình truyền hình về TTCK hiện nay trên các kênh khảo sát tiêu biểu đã được chọn lọc đại diện cho hầu hết việc tuyên truyền về TTCK trên truyền hình

Từ những kết luận cụ thể đề tài đưa ra những kiến nghị để nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền về một lĩnh vực đặc thù như TTCK trên truyền hình cho các đối tượng (đối tượng được tuyên truyền (các doanh nghiệp); cơ quan quản lý thị trường và bản thân những người làm chương trình)

6 Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài dựa trên phương pháp tiếp cận hệ thống nguyên lý tuyên truyền của Đảng Xuất phát từ phân tích và tổng hợp hoạt động thực tiễn rút ra những vấn đề mang tính quy luật cho nên đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp và logic Phương pháp khái quát hoá cũng được sử dụng để hỗ trợ

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu,kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được

Trang 14

kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyên truyền TTCK trên truyền hình

Chương 2: Thực trạng tuyên truyền về TTCK trên truyền hình

Chương 3: Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả tuyên truyền về thị trường

chứng khoán trên truyền hình

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN TTCK TRÊN

TRUYỀN HÌNH

1.1 Một số vấn đề về thông tin, tuyên truyền

1.1.1 Khái niệm tuyên truyền

Theo Plêkhanốp thì Tuyên truyền là truyển bá ý kiến nhiều người cho ít người) Theo PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, Tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá

Trang 15

trong quần chúng nhân dân những tư tưởng nền tảng, những quan điểm chính yếu của hệ tư tưởng của chế độ, nhằm hình thành một bức tranh đặc trưng về thế giới về lịch sử vận động của xã hội

Ở nghĩa rộng, tuyên truyền được hiểu là toàn bộ các hình thức hoạt động của công tác tư tưởng, vận động quần chúng nhân dân Ở một nghĩa hẹp hơn “Tất cả các hoạt động nhằm truyền bá một tri thức, một ý niệm cụ thể nào đó”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: Đế quốc Mỹ không những chiến tranh xâm lược bằng quan dự, chúng còn chiến tranh bằng tuyên truyền, rằng Tuyên truyền là một thứ vũ khí sắc bén cho địch chống lại ta Chính vì vậy Hồ Chủ tịch yêu cầu: Chúng ta phải đánh thắng địch về tuyên truyền cũng như Bộ đội ta đánh thắng địch về mặt quân sự

Trong tác phẩm “Làm gì”, Lê Nin đã đưa ra một hình dung rõ ràng về nội dung khái niệm tuyên truyền “ Người tuyên truyền phải nói nhiều ý, mang đến cho công chúng những tri thức sâu sắc có tính bản chất Trên cơ ở đó tác động vào thế giới quan của con người, vào quá trình hình thành những quan niệm niềm tin và ý chí của mỗi thành viên trong xã hội” Người đã yêu cầu: Tờ báo là người tuyên truyền, cổ động và tổ chức tập thể”

Hoạt động tuyên truyền của báo chí chúng ta có nhiệm vụ truyền bá, giải thích cho toàn xã hội những quan điểm đường lối, chính sách quyết định cả Đảng, Nhà nước ta, là sự vận dụng sáng tạo, cụ thể học thuyết Mác-Lê Nin viết vào việc xác định đường hướng, vận dụng và giải quyết các nhiệm vụ cách mạng việt Nam Nội dung tuyên truyền hệ tư tưởng Mác-Lê Nin và tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, hòa quyện đan xen làm tiền đề cho nhau Yêu cầu đặt ra đối với việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là phân tích lý giải các cơ sở khoa học, thực tiễn một cách thuyết phục, hướng dẫn các khả năng thực hiện, làm cho quần chúng nhân dân hiểu biết, tin tưởng và tự giác chấp hành tạo ra các điều kiện tinh thần tư tưởng cho các cuộc vận động xã hội rộng lớn nhằm giải quyết các nhiệm vụ xây dựng và

Trang 16

phát triển kinh tế-xã hội Phương hướng quan trọng hàng đầu của hoạt động tuyên tryền trên báo chí là hình thành các quan điểm khái quát về thời đại Trên

cở sở phương pháp luận khoa học, báo chí phân tích, đánh giá nhận định tính chất khuynh hướng vận động các mâu thuẫn cơ bản của từng khu vục và thế giới, từng lĩnh vực hoạt động và toàn bộ đời sống xã hội, mối quan hệ, tác động giữa các quốc gia, các khu vực, các giai cấp và lực lượng xã hội Bằng sự tổng kết, đánh giá đó báo chí hình thành trong công chúng nhân dân những quan điểm cơ bản về thời đại và thế giới thực Đó là một tiền đề quan trọng cho việc củng cố lý tưởng và định hướng xây dựng chế độ mới Những tri thức đó đồng thời là điều kiện cho quần chúng xem xét, đánh gia đúng đắn các hiện tượng, sự kiện đang diễn ra xung quanh và định hướng hoạt động của họ một cách hợp lý

Về bản chất, hành động tuyên truyền nhằm hình thành nền tảng cho ý thức

xã hội, bộ phận duy lý của đời sống tinh thần con người Hoạt động tuyên truyền với nội dung chủ yếu là tập trung sự quan tâm vào dư luận xã hội-bộ phận linh động dễ biến đổi nhất của ý thức xã hội

1.1.2 Khái niệm thông tin

Theo Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách "Bùng nổ truyền

động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome), thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý

tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức

Theo quan điểm của triết học, thông tin là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất Nội dung của thông tin chính

là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiện tượng được

bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với sự vật khác

1

Philipppe Breton, Serge Proulx (1996), Bùng nổ truyền thông, Nxb Văn hoá - Thôngtin, Hà Nội

Trang 17

Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Những dấu ấn để lại chính là những thông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác Phản ánh của vật chất là phản ánh thông tin, không có thông tin chung chung mà thông tin là thông tin về sự vật này đối với sự vật khác

Theo Từ điển tiếng Việt thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin cho

nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi

Như vậy, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó chính là nội

dung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện thông báo, báo tin

Cách hiểu này phù hợp với khái niệm thông tin nêu trong phần mở đầu

“Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” ban hành kèm theo Quyết định

số 219/2005/QĐ - TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ: "Thông tin

được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội"

Đặc biệt, Chiến lược phát triển thông tin đã nêu lên một luận điểm quan

trọng về vai trò của thông tin trong đời sống xã hội: Sự chênh lệch về trình độ phát triển thông tin giữa các nước là một đặc điểm về quy mô và trình độ phát triển trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ Nước nào không vượt qua được những thách thức về thông tin, nước đó mất cơ hội phát triển và có nguy cơ mất khả năng tự chủ Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả

Thông tin báo chí

Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại, báo chí là một hiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của

2

NXB Đà Nẵng (2002), Trung tâm Từ điển học.

Trang 18

con người Thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Theo các nhà nghiên cứu, lần đầu tiên thông tin được con người chú ý về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những năm 20 - 30

của thế kỷ XX Và từ đây, "Thông tin chính là những cái mới khác với những

điều đã biết" 3

Thông tin là chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội

Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được

Như vậy, thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa:

Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực

cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người

Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng

Trong hoạt động báo chí, thông tin là mục đích chủ yếu Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chủ yếu chữ viết (báo in); thông tin chủ yếu bằng tiếng nói (phát thanh); thông tin chủ yếu bằng hình ảnh (truyền hình); thông tin trên mạng internet (đa phương tiện)

3

Lê Thị Duy Hoa (1999), Tạp chí Triết học, số 01 (107), tháng 2/1999

Trang 19

Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ "thông tin" có nhiều dạng khác nhau: có khi chỉ là cái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn; có khi là một chương trình phát thanh, truyền hình Ngay cả các tiêu đề, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo đều chứa đựng thông tin

Thuật ngữ "Thông tin" trong hoạt động báo chí còn có có cách hiểu rộng hơn, chúng còn được hiểu như một danh từ tập hợp Chúng ta có thể gọi toàn bộ tác phẩm, hay hệ thống những tin tức là thông tin

Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và đánh giá cao vai trò của thông tin Đây không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, cung cấp tri thức, là một trong những công cụ giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành đất nước mà còn là nơi để phản hồi những thông tin từ nhân dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hoá trong đời sống xã hội Thông tin thực sự là công cụ cung cấp tri thức, dự báo sự phát triển đồng thời cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển Đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao nên nhu cầu thông tin của nhân dân đòi hỏi ngày càng cao hơn

1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin, tuyên truyền của báo chí

Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật Chất lượng theo quan điểm của Triết học Mác - Lênin, là hai mặt có mối quan hệ biện chứng của mỗi sự vật, hiện tượng Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sự vật và hiện tượng khác Lượng là tính quy định của sự vật và hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển của nó, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó Quá trình thay đổi về lượng tạo điều kiện cho chất đổi và ngược lại, khi chất mới ra đời, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba quy luật cơ

Trang 20

bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này nói lên cách thức của sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng

Trong hoạt động báo chí, nhận thức về chất lượng thông tin song song với nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí Muốn có nhận thức đúng đắn về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động của báo chí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạt động thực tiễn của một nền báo chí Sự định hướng rõ ràng sẽ trang bị cho nhà báo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hiệu quả để thực hiện chức năng của báo chí

Một hướng quan trọng trong cách tiếp cận thông tin báo chí là mỗi chương trình, mỗi tác phẩm phải được xem xét kỹ lưỡng trong hệ thống những mối quan

hệ giữa báo chí và công chúng Tác phẩm báo chí là điểm trung gian trong mối quan hệ: Nhà báo - Tác phẩm - Công chúng Tác phẩm báo chí khi được đăng tải, phát sóng, mới chỉ dừng lại ở thông tin tiềm năng, vì thông tin đó chưa chắc

đã được công chúng tiếp nhận Người làm báo phải tìm mọi cách biến thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực Tính chất thực tiễn của thông tin là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của thông tin cao hay thấp, tức là có mang đến cho công chúng những thông tin phù hợp với nhu cầu của họ không và có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực không

Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng

thông tin, cũng như khả năng tuyên truyền đó là tính độc đáo, tính đại chúng và

tính hợp thời (đúng lúc)

- Tính độc đáo của thông tin, là cái mới mà công chúng chưa biết Nhưng

cái mới không phải là cái duy nhất thể hiện tính độc đáo Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, có thể tái hiện thông tin cũ đã bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới Tuy nhiên, những thông tin được nhắc lại sẽ vô bổ, thậm chí có hại khi cái mới, cái độc đáo bị chìm đi trong một loạt cái cũ; khi cái cũ không đóng vai trò bổ sung mà lại cản trở việc

Trang 21

nhận thức cái mới

- Tính đại chúng (dễ hiểu) giúp cho công chúng nhận thức nội dung tác

phẩm tương ứng với ý đồ tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (chữ viết, lời nói, hình ảnh…) và cách viết, cách thể hiện phải được công chúng nhận thức đầy

đủ Nếu không thực hiện được nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng là công chúng không hiểu được tác phẩm

- Tính hợp thời (đúng lúc) đòi hỏi tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc, đáp

ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn, tạo sự hứng thú, hấp dẫn công chúng Lượng thông tin còn phụ thuộc vào tính thời điểm của nó Trong thời đại ngày nay, lượng thông tin phụ thuộc một cách quyết định vào tính kịp thời, đúng lúc, nhanh nhạy Báo chí làm được những điều trên sẽ làm tăng giá trị của thông tin, nếu thông tin chậm, hiệu quả sẽ ngược lại và lượng của nó sẽ bằng không

Tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao đã được các cơ quan

quản lý nhà nước quy định cụ thể, đó là: "Những tác phẩm mang lại hiệu quả

thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước" 4

Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cũng chỉ ra rằng, tác phẩm báo chí là một chỉnh thể, bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau tạo nên chất lượng tác phẩm báo chí Tác phẩm báo chí còn được hiểu rộng hơn, đó là cả trang báo, số báo, tờ báo, chuyên mục, chương trình phát thanh, truyền hình Do đó tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí phải coi trọng cả hai yếu tố nội dung và

4

Thông tư số 17/2007/TTLT/BVHTT - BTC ngày 14/6/2007 của Liên bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao ở Trung ương và địa phương giai đoạn 2006 - 2010

Trang 22

hình thức thông tin

Hoạt động báo chí là hoạt động có ý thức và mục đích của con người, bởi vậy yêu cầu về tính hiệu quả báo chí phải được đặt lên hàng đầu Hiệu quả báo chí là việc vận dụng các quy luật, các nguyên tắc, hình thức, phương thức hoạt động báo chí giúp cho nó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đạt mục đích đặt ra Để báo chí hoạt động hiệu quả, trước hết nội dung thông tin phải phong phú, mang lại cho công chúng một lượng thông tin mới, phản ánh đúng, kịp thời, đi vào những vấn đề thiết thực nhất mà công chúng đang quan tâm hoặc đang thiếu thông tin, phải thỏa mãn nhu cầu mỹ cảm, tác động sâu sắc đến tình cảm và suy nghĩ của đối tượng Về hình thức, thông tin báo chí phải được chuyển tải bằng các hình thức tác phẩm và phương pháp thể hiện thuyết phục, dễ hiểu Nó không chỉ làm cho công chúng thích thú mà còn khơi gợi được sự suy nghĩ theo hướng đúng

Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, TTCK đươc hiểu một cách chung nhất, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán ,trao đổi các chứng khoán

- các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia Việc mua bán trao đổi này được thưc hiện theo những quy tắc nhất định

TTCK không phải ngay từ đầu đã có những giao dịch toàn cầu phức tạp như hiện nay

Cho đến năm 1531, định chế đầu tiên hao hao như một sở giao dịch mới ra đời tại Antwerp, Bỉ Tuy vậy, ở TTCK đầu tiên này không hề có cổ phiếu

Thay vì mua bán cổ phiếu công ty (những thứ khi ấy còn chưa tồn tại),

Trang 23

người môi giới và cho vay tập trung lại đây để giao dịch các món nợ của công ty, chính phủ và thậm chí cả cá nhân

Mọi chuyện thay đổi vào những năm 1600, khi cả Anh, Pháp và Hà Lan đều cử hạm đội đến Đông Ấn Do ít nhà thám hiểm trang trải đủ cho một chuyến hải thương, các công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập để huy động tiền từ nhà đầu tư, những người này sẽ được chia lợi nhuận đoàn tương ứng với phần vốn góp

Hình thức tổ chức kinh doanh này cũng đòi hỏi phải được quản lý rủi ro Theo báo Imperial Gazetteer của Ấn Độ, các chuyến hải hành đầu tiên của Anh đến Ấn Độ Dương không thành công, tàu đắm còn tài sản cá nhân của những người đi huy động vốn bị chủ nợ tịch thu

Điều đó khiến một nhóm thương nhân London lập nên một công ty vào tháng 9/1599, giới hạn trách nhiệm của mỗi thành viên theo số tiền họ đầu tư Nếu chuyến hải hành thất bại, luật pháp chỉ có thể tịch biên số tiền trên

Nữ hoàng Anh cho phép nhóm thương nhân này hoạt động trong vòng 15 năm, và đặt tên cho công ty là “Thống đốc và nhóm thương nhân London giao thương với Đông Ấn” (hay đơn giản là “Công ty Đông Ấn”)

Hình thức trách nhiệm hữu hạn đã phát huy tác dụng tốt, cho đến năm

1609, vua James I đã cho phép nhiều công ty thương nghiệp nữa hoạt động và thúc đẩy giao thương tại các quốc gia Châu Âu có bờ biển khác

Công ty Đông Ấn Hà Lan là công ty đầu tiên cho phép người ngoài mua cổ phiếu ghi danh theo một tỷ lệ nhất định Họ cũng là công ty đầu tiên phát hành

cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng qua Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam năm 1602

Ở Việt Nam, để thực hiện đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế bền vững và chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển

Trang 24

Vì vậy, việc xây dựng TTCK ở Việt Nam đã trở thành nhu cầu bức xúc và cấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung, dài hạn ở trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển kinh tế thông qua chứng khoán nợ và chứng khoán vốn

Thêm vào đó, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước với sự hình thành và phát triển của TTCK sẽ tạo môi trường ngày càng công khai và lành mạnh hơn

Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định

48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và TTCK cùng với Quyết định thành lập hai (02) Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

Sự ra đời của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000

Tại Hà Nội, thì do chưa hội đủ các yếu tố nên mãi đến tháng 3/2005, sàn giao dịch mới được khai trương

Về mặt khái niệm, TTCK là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất

Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch

TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận

1.2.2 Chức năng TTCK đối với nền kinh tế

Huy động vốn đầu tƣ cho nền kinh tế

Trang 25

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần

mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các

cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau

về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu

tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền

Trang 26

kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài

ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh

tế

Với những chức năng như vậy, qua 9 năm hoạt động, TTCK đóng góp vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Báo chí là công cụ “tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể” đã chọn TTCK làm đối tượng để tuyên truyền

1.2.3 Phân loại thông tin trên TTCK

Thị trường tài chính thành ba bộ phận: Thứ nhất, thị trường vốn: nhằm huy động vốn dài hạn mà chủ yếu là thông qua TTCK; Thứ hai, thị trường tiền tệ: thị trường vốn ngắn hạn; Thứ ba, thị trường hối đoái

Hiện nay, tuyên truyền về TTCK thường được các nhà làm truyền hình lồng ghép trong hệ thống thông tin về thị trường tài chính Lý do của việc này có thể do sự khó phân định rạch ròi về các thị trường vì có sự tác động qua lại và tương hỗ lẫn nhau

Theo khảo sát và kinh nghiệm từ các chuyên gia từ Dow Jones Thông tin kinh tế chia làm 3 loại: Tin tài nguyên, tin chứng khoán và tin tiền

Tin tài nguyên (tin hàng hóa): Bao gồm tin tài nguyên thiên nhiên, nhiên

liệu khoáng sản, đất đai; và hưởng lợi từ điều kiện tự nhiên (lúa gạo, nông sản, cao su….)

Tin chứng khoán: Tin liên quan đến doanh nghiệp, hoạt động của doanh

nghiệp cổ phần, tin kinh tế vĩ mô, xuất nhập khẩu…chính sách ảnh hưởng đến doanh nghiệp, huy động vốn của doanh nghiệp…

Các loại tin còn lại không thuộc 2 nhóm trên được gọi là tin tiền: tin đầu tư

cơ sở hạ tầng, công du, điều tiết giá cả, tin bão lụt…

Trong hệ thống này tin tài nguyên được xem là tin quan trọng nhất Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng, khả năng phản ứng của thị trường là chậm Tin chứng

Trang 27

khoán là tin có mức độ ảnh hưởng, phản ứng tức thời nhanh nhất

Trước đây nhóm tin tài nguyên dường như ít được ai quan tâm ( kể cả những nhà đầu tư tham gia trong các tổ chức, định chế tài chính), nó chỉ phục vụ doanh nghiệp tham gia khai thác tài nguyên là chính Tuy nhiên từ sau khủng hoảng, và sự nỗ lực của các tổ chức, giới đầu tư chú ý nhiều hơn loại tin này và

nó sức ảnh hưởng khá mạnh đến TTCK Việt Nam

Về tin tiền như chuyến công du của các quan chức được báo chí, truyền hình đưa tin trong các chương trình thời sự Thực tế cần nhìn sâu hơn ở những thông tin này để phân tích tìm ra lợi ích đạt được

Những thông tin như bão lụt, thiên tai, tưởng chừng như tin xã hội tuy nhiên đây cũng là tin kinh tế nếu chúng ta khai thác ở gốc độ tài chính Ví dụ: Hạn hán, nhà máy thủy điện không thể phát điện, gây thiệt hại và tài chính cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tham gia trên TTCK – giá chứng khoán sẽ phản ánh ảnh hưởng này có thể ngay lập tức ( khi nhà đầu tư hiểu rõ) hoặc khi có BCTC niên độ (sau một thời gian) do đó bị lãng quên

Cách chia thông tin này là cơ sở cho những người làm truyền hình về TTCK có những nhận thức rõ ràng và khu biệt thông tin về TTCK để phục vụ mục đích tuyên truyền Ngoài ra, để hiểu thị trường tài chính và thông tin các loại có thể tương tác qua lại với nhau và đặt chúng trong mối quan hệ phù hợp để tuyên truyền

1.3 Yêu cầu về việc tuyên truyền TTCK trên truyền hình

1.3.1 Đối tượng tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình

Trước khi bàn về tuyên truyền về TTCK thì cần khẳng định rõ, đối tượng tuyên truyền về TTCK trên các loại phương tiện truyền thông đại chúng là công chúng của nó (với truyền hình là khán giả truyền hình), cụ thể xác định là các nhà đầu tư trên thị trường, các chủ doanh nghiệp và cả các cơ quan quản lý thị

Trang 28

trường

Riêng với các nhà đầu tư, một đòi hỏi của thị trường là các nhà đầu tư phải

có một trình độ văn hóa, tư duy, cũng như một đầu óc phán đoán nhạy bén với các “thông số” trên thị trường Nhưng ít ai biết được “văn hóa truyền thống” dân tộc, đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và khả năng “làm kinh tế” của họ Các nhà đầu tư đã vô tình “ứng dụng”các đặc trưng văn hóa “nông nghiệp-làng xã” vào hoạt động kinh doanh của mình Từ đó, đã hình thành cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh,hình thành nên những kiểu kinh doanh “ổn định” và “đặc thù” chính họ

Thay vì đem lại những lợi ích,ưu điểm cho nhà đầu tư chứng khoán,thì

“văn hóa truyền thống” lại có quá nhiều điểm không phù hợp với việc “kinh doanh chứng khoán” hiện nay

Những yếu tố văn hóa truyền thống tác động đến nhà đầu tư trên thị trường

- Tính cộng đồng: như ta biết tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên

trong làng xã với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác.Con người trong xã hội nông nghiệp thường chú trọng đến các mối quan hệ Từ đó, dẫn đến việc thủ tiêu vai trò cá nhân, làm cho người Việt Nam thiếu hụt những cá tính mạnh mẽ, mỗi con người chưa thực sự phát triển với tư cách là một chủ thể tự chủ, môi trường xã hội mang đậm tính cộng đồng không thể khuyến khích cao

độ những động lực và lợi ích, tài năng sáng tạo của cá nhân Trong khi thời đại nhiều thách thức như bây giờ, người chiến thắng là những nhà doanh nhân can đảm với những khát khao cháy bổng và một đầu óc phán đoán cực nhạy, những người biết tạo cho mình một văn hóa kinh doanh mới, một văn hóa mang tính cá nhân cao độ, không còn quá lệ thuộc vào các mối “quan hệ nông nghiệp” như trước

- Tính đồng nhất: nhân vật trung tâm trong nền văn hoá truyền thống chủ

yếu là con người nông thôn,với các tính cách hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể,chịu

Trang 29

ảnh hưởng tư tưởng “kéo theo” một cách khá mạnh mẽ từ tập thể : nước trôi thì bèo trôi, nước nổi thì thuyền nổi… đó là một tư tưởng cầu an Từ đó, đã hình thành nên tâm lí “ăn theo”trong việc kinh doanh cũng như TTCK Chứ chưa phải

là con người kinh doanh, nhà doanh nghiệp, những người làm ăn thật sự để tạo

ra sự giàu có về kinh tế cho bản thân mình và cho xã hội

- Tính tự trị : con người Việt Nam trong nền văn hóa nông nghiệp làng xã

có tính tự trị khá cao, những người một làng thì chỉ biết có làng đó, đôi khi cả cuộc đời họ cũng không bao giờ bước chân ra khỏi “lũy tre” làng với cuộc sống

và các mối quan hệ ổn định,nên người Việt Nam thường có lối suy nghĩ đơn giản,tùy tiện manh mún, phân tán, thiếu hệ thống… kém tính hợp tác, ỷ vào khả năng xoay sở của mình, không nhìn xa trông rộng Đây chính là những tối kị trên thường trường Chính những điều này đã làm cho các nhà đầu tư chứng khoán gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt và phân tích, tìm hiểu các “thông số”

để đưa ra chính sách đầu tư hơp lí nhất để thu lợi nhuận cao Chính những yếu kém về tâm lí mà nhà đầu tư thường gặp nhiều khó khăn trong việc quyết định

kịp thời, từ đó dẫn đến hậu quả khó lường

Từ những hạn chế của nền “văn hóa truyền thống” làm nảy sinh tâm lý về

số phận Phản ánh một tâm thế thiếu tự tin hay bất an nào đó,vì cảm thấy không

an toàn trong một môi trường rủi ro, cảm thấy bất lực không làm chủ được cuộc sống Từ đó, xuất hiện xu hướng cục bộ, trong khi yêu cầu của xã hội hiện đại cần sự hợp tác theo quan hệ chức năng, thích dựa vào quen biết Trong khi, nếu cái gì cũng dựa vào sự vất vả chạy chọt thì chắc chắn xã hội không thể vận hành một cách lành mạnh được huống gì trong “kinh doanh TTCK”, là một nơi với nhiều “thông số” phức tạp

Nói vậy, nhưng không phải nền văn hóa nông nghiệp truyền thống lại không đem đến những lợi ích cho người chơi chứng khoán,nhờ vào tính cộng đồng mà người chơi ở Việt Nam thường có tâm lí hỗ trợ lẫn nhau, nên thị trường không bị một số cá nhân “lũng đoạn” chi phối, như một số nước có nền văn hóa

Trang 30

du mục Mặt khác nhờ vào tính tự trị mà thị trường trong nước thường ổn định hơn so với thị trường thế giới (dù bị thị trường thế giới tác động tới cũng không nhỏ)

1.3.2 Một số yêu cầu tuyên truyền về TTCK trên truyền hình

Theo tiến sĩ Vương Quân Hoàng, Nghiên cứu viên cao cấp Bộ môn Tài chính, Trung tâm Emile Bernheim, ĐHTH Bruxelles thì Các quyết định tốt trong đầu tư ngày nay còn được gọi là: Các quyết định đầy đủ thông tin, nguyên văn tiếng Anh: "Well-informed decisions."

Tuyên truyền về TTCK là hoạt động thu thập, xử lý và nghiên cứu, bổ sung

để phổ biến, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và công bố các kết quả nghiên cứu khoa học về chứng khoán và thị trường chứng khóa đã đạt được góp phần đẩy nhanh quá trình tiến lên một nền kinh tế hiện đại ở nước ta TTCK là kênh lưu thông vốn lớn là giải pháp của Chính Phủ huy động vốn để hỗ trợ thực hiện phát triển các chương trình kinh tế-xã hội Thông qua việc thông tin tuyên truyền về thị trường này báo chí góp phần trong sự phát triển lành mạnh của thị trường cũng như nền kinh tế

Bằng kinh nghiệm thực tiễn và tham khảo các ý kiến các nhà quản lý, chuyên gia trong TTCK thì tuyên truyền về TTCK phải đáp ứng các yêu cầu:

Thứ nhất, làm rõ cho nhà đầu tư những kiến thức chung về thị trường và

các cách thức để đầu tư

Thứ hai, truyền các thông điệp từ nhà quản lý thị trường, các quy định pháp lý

về thị trường cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp tham gia thị trường

Thứ ba, đưa thông tin về TTCK hàng ngày và những vấn đề nóng diễn ra

xung quanh thị trường

TTCK là thị trường của thông tin và niềm tin Điều đó khiến cho việc tuyên truyền về thị trường này trở nên càng ngày càng quan trọng với xu hướng xuất hiện những kênh truyền hình chuyên biệt Truyền thông ngày càng quan trọng do

đó là phương pháp hữu hiệu tác động vào tâm lý và cảm xúc xã hội, trong đó có rất nhiều doanh nhân, người làm chuyên môn và các nhà đầu tư

Trang 31

Từ khi ra đời cho đến nay thị trường đã có 9 năm hoạt động và sự phát triển của việc truyền thông về thị trường cũng cho thấy sự quan trọng của thị trường này và vấn đề truyền thông trong thị trường này Với 9 năm phát triển, nhà đầu

tư của TTCK không còn “non nớt” như những ngày đầu, vì vậy việc truyền thông cho thị trường này đòi hỏi phải có sự sâu rộng đặc biệt

Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng

thông tin, cũng như khả năng tuyên truyền đó là tính độc đáo, tính đại chúng và

Trang 32

Về lý thuyết, tuyên truyền về TTCK phải đáp ứng các yêu cầu:

Thứ nhất, làm rõ cho nhà đầu tư những kiến thức chung về thị trường và

các cách thức để đầu tư

Thứ hai, truyền các thông điệp từ nhà quản lý thị trường, các quy định pháp lý

về thị trường cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp tham gia thị trường

Thứ ba, đưa thông tin về TTCK hàng ngày và những vấn đề nóng diễn ra

xung quanh thị trường

Theo khảo sát và kinh nghiệm từ các chuyên gia từ Dow Jones thông tin

kinh tế chia làm 3 loại: Tin tài nguyên, tin chứng khoán và tin tiền

Đối với lĩnh vực tuyên truyền đặc thù như TTCK, thì việc tuyên truyền trên

truyền hình sẽ phải đáp ứng 3 tiêu chí: tính cập nhật, tính chính xác và tính định

hướng

Trên cơ sở những lý luận chung về tuyên truyền cũng như những tiêu chí cụ thể để tuyên truyền về TTCK sẽ là cơ sở để tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng tuyên truyền về TTCK trên truyền hình Việt Nam hiện nay

Chương 2

Trang 33

THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ TTCK TRÊN

TRUYỀN HÌNH

2.1 Lịch sử ra đời của truyền hình về tài chính

2.1.1 Truyền hình về tài chính trên thế giới

Theo “Media firms: structures, operations and performances, nhà xuất bản Lawrence Erlbaum Associates” nhà xuất bản Lawrence Erlbaum Associates, năm

2002, Biên soạn Robert G.Picard, Trường kinh tế và quản trị kinh doanh Turku, Phần Lan thì lịch sử báo chí kinh tế trong thế kỷ 20 là những thông tin hấp dẫn và cũng là câu chuyện về bài học thành công trong quản lý Những doanh nghiệp như Dow Jones, Financial Times Group, Bloomberg, Nikkei hay Reuters đã có những đóng góp quan trọng và trở thành mô hình quốc tế cho sự phát triển và vận động của báo chí kinh tế

Cũng như vậy, tất cả các nước phát triển đều có một hệ thống phương tiện thông tin truyền thông lành mạnh cạnh tranh với sức hút ngày càng tăng từ phía các phương tiện truyền thông còn lại, dù mới và không mới Các phương tiện truyền thông như vậy cũng đã có đóng góp vào nền kinh tế thế giới

Tuy nhiên, để có được kết quả này là cả một quá trình lâu dài Trong nhiều năm, chủ đề liên quan tới “những môn khoa học buồn thảm” đã chiếm một phần lớn thời lượng và tần suất xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Chỉ có một số ít sản phẩm được coi là thực sự có chất lượng

Cũng giống như những gì diễn ra trong 25 năm cuối cùng của thế kỷ 20, sự phát triển của tư bản tài chính trong nửa cuối thế kỷ 19 đã trực tiếp thu hút nhiều

sự chú ý đối với giới thương mại và giới tài chính

Trong một vài năm, tiền thân trực tiếp của những tờ báo kinh tế hàng đầu hiện nay được ra đời Vào năm 1965, tờ II Sole được thành lập ở Italia; đến năm

1867, tiền thân của tờ Nihon Keizai Shimbung là Chugai Bukka Shimp cũng được ra mắt tại Nhật Bản

Trang 34

Thập kỷ tiếp theo chứng kiến sự ra đời của của tờ Financial News (1884) và Financial Times (1888) tại London, tờ Wall Street Journal (1889) tại New York Những tờ báo này đã trở thành nhóm nhật báo kinh tế, cùng với tờ The Economist (1843) – được coi như tờ báo đứng đầu - đã phát hành từ giữa thế kỷ

19 và tồn tại cho tới ngày nay

Cũng tương tự, kể từ sau đó, những cơ quan thông tấn như hiện nay được thành lập - dẫn đầu là Reuters – và giành được sự thu hút đặc biệt nhờ nội dung thông tin tài chính

Bên cạnh đó, số lượng các tờ báo xuất bản định kỳ cũng tiếp tục tăng nhanh trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, đặc biệt là sự xuất hiện của những tạp chí kinh tế Sự ra đời của Forbes (1917), Bussiness Week (1929) và Fortune (1930) – “Ba ông lớn” trong làng báo Mỹ - từng được coi là biểu tượng của quản

lý dễ dãi trong những năm 1920 Những tờ báo này cũng đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ phụ thuộc vào Phố Wall khi Sở giao dịch New York sụp đổ

Cũng phải mất nhiều năm, khi những tập đoàn truyền thông đầu tiên chuyên về kinh tế tài chính được thành lập, đã tiếp quản những tờ báo kinh tế và

cố gắng đưa những ấn phẩm xuất hiện trên thị trường Điển hình có Dow Jones, dưới sự điều hành của tổng biên tập Clarence Barron và Tập đoàn Financial Times do Brendan Bracken điều hành

Khủng hoảng tài chính 1929 và thập kỷ Đại suy thoái đã đặt dấu chấm kết thúc đối với một chương cũ và mở ra một chương mới trong lịch sử báo chí Lúc đó, các tờ báo kinh tế nói chung đều không thể truyền tải hết mức độ quan trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử đúng tầm và đúng mức Điều này đã cho ra đời những bài báo có chất lượng nghèo nàn, nội dung của báo chí kinh tế trở nên nhạt nhẽo

Tuy nhiên thập kỷ 30 đã đưa tin kinh tế và tài chính trở thành nền tảng và tiêu điểm quan trọng trong nền kinh tế nhờ sự nổi lên của những tin tức có tầm ảnh hưởng thực sự Đây là những năm vàng của những tờ tạp chí thiên về phân

Trang 35

tích như The Economist và Fortune

Đây cũng là những những năm chuyển giao của nhật báo như Financial News và Walll Street Journal Những tờ nhật báo sau này bắt đầu được tái cơ cấu như những tờ báo kinh tế đúng nghĩa, phá bỏ sự phụ thuộc quá mức vào Phố Wall và những tin tức diễn ra tại New York

Chiến tranh thế giới II kết thúc đặt ra yêu cầu tái xây dựng lại ngành báo chí tại những nền kinh tế lớn của phương Tây trong những thập kỷ 50 và 60 Nằm trong số ít những tờ báo có ảnh hưởng đến thị trường, Wall Street Journal được lựa chọn trở thành thành tờ nhật báo quốc gia đầu đầu tiên Tờ này cũng leo lên vị hàng đầu trong việc phát hành và cạnh tranh với những tờ báo lớn khác như New York Times hay Washington Post

Hai tờ Financial Times và Financial News cũng hợp nhất thành tờ Financial Times như hiện nay vào năm 1945 Sau đó, nhiều tờ báo kinh tế mới được ra đời như tờ Handelsblatt (1946) ở Đức, tờ 24 Ore (1946) và sau này là tờ II Sole (1965) ở Italia

Việc tái cơ cấu cũng được diễn ra tại những tờ báo lâu năm kỳ cựu như tờ Les Echos (thành lập năm 1098 với tư cách ban đầu là tuần báo) tại Pháp, và tờ Nihon Keizia Shimbun của Nhật - được hợp nhất với 4 tờ báo khác vào năm 1945

Việc tái cơ cấu đã tạo nền tảng cơ bản cho sự hình thành vững chắc của những tập toàn tin tức chuyên sâu sâu về kinh tế trong giai đoạn bùng nổ ở thập

kỷ 60

Điều này cũng do sự hờ hững đối với thông tin kinh tế của những phương tiện truyền thông mới như phát thanh và truyền hình Đó cũng là thời điểm phương Tây vẫn còn đang ưa chuộng lý thuyết Keynes

Báo chí kinh tế ngày càng phát triển mạnh trong thập kỷ 70 sau sự sụp đổ

và khủng hoảng dầu mỏ những năm 1934

5

Hệ thống Bretton Woods - Năm 1944, các nước phương Tây đã thành lập ra một hệ thống Bretton Woods - lấy đồng USD làm chủ đạo, sau chiến tranh thế giới II với nhiệm vụ là lập lại trật tự thế giới mới

Trang 36

Như nhà kinh tế Paul Krugman nhận định “vào năm 1973, sự thần kỳ của nền kinh tế đã biết mất”

Sự tồn tại song song giữa lạm phát leo thang và thất nghiệp tăng ngày càng lên đến mức đỉnh điểm đã khiến đời sống của công chúng bình thường rơi vào cảnh khó khăn Do vậy, kinh tế trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu

Cuộc khủng hoảng dầu mỏ diễn ra ngày sau đó cùng với làn sóng kinh tế tân tự do với hai đại biểu là chủ nghĩa của Thatcher và chính sách kinh tế của Reagan đã đặt dấu chấm hết cho sự sụp đổ của bức tường Berlin

Bên cạnh đó, rất nhiều thách thức kinh tế được đặt ra do kết quả của quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày ngày càng mạnh mẽ và sự hợp nhất của kinh tế tài chính trên thế giới – nơi nền kinh tế tri thức cùng tồn tại với nền kinh tế đói nghèo Những vấn đề liên quan đến kinh tế tài chính cùng nhau xuất hiện ngày càng nhiều trong 25 năm cuối thế kỷ 20

Do không thể cùng hoạt động, phần những phương tiền truyền thông đại chúng đều muốn thể hiện và luôn nhấn mạnh vai trò dẫn dắt mới đối với lĩnh vực kinh tế và tài chính

Kể từ những năm 1970, những tờ báo in chuyên về tài chính đã phải đương đầu với những đối thủ cạnh tranh mới – vốn từng rất khó khăn để tồn tại trước đó Những tờ nhật báo có chất lượng – thậm chí nổi tiếng, những kênh truyền hình tổng hợp, các đài phát thanh đều cố thỏa mãn nhu cầu thông tin ngày càng tăng của công chúng

Ngoài ra, còn có một cuộc bùng nổ những ấn phẩm mới trong ngành báo in vào giữa thập kỷ 80 Italia, Tây Ban Nha và thậm chí là tại Mỹ đều xuất hiện tờ

Hệ thống quản lý tiền tệ Bretton Woods đề ra luật cho quan hệ thương mại và tài chính trên thế giới Hệ thống này là ví dụ đầu tiên về một trật tự tài chính được thỏa thuận ổn thỏa để quản lý quan hệ tiền tệ giữa các nước Chế độ Bretton Woods quy định một ounce vàng có giá 35 đôla Chế độ này tồn tại trong vòng gần 30 năm sau đó sụp đổ (1945-1971)

Trang 37

báo kinh tế mới – nhân tố mới tăng thêm sự thách thức đối với vị thế vững chắc của những tờ báo kỳ cựu – với những thành công khác nhau

Trong lúc đó, những tên tuổi lớn bắt đầu cuộc đua trở thành những những thương hiệu có tầm ảnh hưởng thực sự trên toàn cầu, ít nhất cũng là phạm vi quốc tế Điều này là do đã khai thác tối đa thông tin tại thị trường nước và nhờ

sự hình thành của những luật chơi mới trong ngành

Dow Jones với tờ Wall Street Journal, Pearson cùng với Financial Times và những tờ báo quốc gia khác, hay Nikkei với hệ thông thông tin kinh tế xung quanh Nihon Keizai Shimbun đã trở thành ba ông lớn trên thị trường nhật báo kinh tế

Về phần mình, những cái tên như The Economist, Business Week, Forbes và Fortune cũng tìm được vị thế vững chắc trong làng tạp chí thế giới

Sự phát triển của sản phẩm báo in truyền thống trong việc đưa tin kinh tế tài chính cùng tồn tại với tất cả mọi phương tiện truyền thông khác Tuy nhiên, đến thập kỷ 90 đã xuất hiện những đối thủ cạnh tranh mới: kênh truyền hình chuyên sâu về kinh tế và Internet

Sự phát triển của phương tiện truyền thông mới trong việc đưa tin kinh tế tài chính

Mặc dù đã trải qua một số cuộc khủng hoảng, nhưng không nghi ngờ gì khi nói rằng thập kỷ 90 của thế kỷ trước có thể được coi là một “thập kỷ phi thường” của những quan điểm kinh tế Đây cũng là thập kỷ đáng nhớ với bước chuyển từ quan điểm về công nghệ, đi đầu là công nghệ thông tin, đến việc phát triển thành cuộc cách mạng kỹ thuật số và Internet

Trong một số trường hợp, thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 cũng đươc coi là thập kỷ của thị trường tự do, của “chủ nghĩa tư bản đang thắng thế” – dựa trên sự tăng trưởng thần kỳ của những “công dân đầu tư” – và toàn cầu hóa – đi đầu là khối doanh nghiệp và ngành tài chính

Tất cả những lý lẽ này đã mở ra cánh cửa bước vào thiên niên kỷ mới ở thời điểm thông tin kinh tế, tài chính trỗi dậy chưa từng thấy, được kích thích nhờ

Trang 38

những thách thức của nền kinh tế mới ,và được yêu thích nhờ sự say mê thông tin – vốn được phát huy nhờ công nghệ thông tin

Sự kết hợp giữa tất cả những xu hướng trong thế giới truyền thông, hay nói cách khác là sự chuyển hướng từ quan điểm kinh tế và quan điểm công nghệ đã chịu trách nhiệm đối với sự phát triển nở rộ của thông tin kinh tế, tài chính trong lĩnh vực phát thanh truyền hình và báo điện tử

Vai trò dẫn dắt mới đã cụ thể hóa sự nổi lên của những kênh truyền hình chuyên sâu về kinh tế tài chính so với những phương tiện truyền thông khác, cùng với sự hỗ trợ không thể thiếu của Internet trong vài trò cung cấp nội dung thông tin

Những kênh truyền hình kinh tế tài chính

Sự nổi lên của những kênh truyền hình đầu tiên chuyên sâu về tin tức kinh

tế tài chính bắt đầu hình thành vào thập kỷ 80 Kênh truyền hình quan trọng đầu tiên trong lĩnh vực này tại Mỹ là Financial News Network (FNN)

Được thành lập vào năm 1981, với chương trình đầu tiên kéo dài 5 giờ đồng hồ và phát trên băng tần UHF Đến năm 1988, nhờ thành công của FNN đã

mở lối cho sự ra đời kênh truyền hình CNBC, và đến năm 1989 CNBC bắt đầu được phát sóng

CNBC có nhiều chương trình khác nhau, nội dung ít tập trung vào thế giới tài chính hơn đối so với thủ cạnh tranh CNBC thuộc quyền kiểm soát của NBC (sở hữu 50%) – chịu trách nhiệm sản xuất chương trình – và Cable Systems Corp (50%) – chịu trách nhiệm phân phối Ngay sau 6 tháng đầu tiên được phát sóng, kênh truyền hình này đã nhanh chóng có ảnh hưởng đến đến thị trường với 13 triệu thuê bao đăng ký

Sự xuất hiện của CNBC đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động của CNN khi ngày càng thu hút thêm nhiều khán giả quan tâm đến kinh tế tài chính Điều này khiến ông chủ Ted Turner của CNN cố gắng giành quyền kiểm soát FNN nhưng không

Trang 39

Cuối cùng, cuộc cạnh tranh giữa hai kênh truyền hình chuyên sâu về tài chính đã kết thúc CNBC mua lại FNN và tiếp tục củng cố để trở thành một kênh thông tin kinh tế Kể từ đó, CNBC ngày càng mở rộng có thêm nhiều dự án quốc

tế, đặc biệt là kể từ giữa những năm 1990

Song song với hoạt động tại Mỹ, những dự án kênh truyền hình chuyên sâu ngắn hạn được mở ra tại châu Âu để phục vụ giới doanh nhân ở lục địa cũ

Kênh truyền hình European Business Channel chính là lời trả đáp đối với ảnh hưởng của việc ra mắt kênh CNN International vào năm 1985, cũng là câu trả lời về thành công của nội dung thông tin kinh tế

Đến năm 1991, kênh truyền hình Bussiness News Network tại châu Á cũng

là câu trả lời đối với ảnh hưởng vượt tầm quốc gia của CNN đến đối tượng khán giả là doanh nhân

Trong bất kỳ trường hợp nào, những thứ mới xuất hiện hay những kinh nghiệm ban đầu thường không đánh giá đúng đánh giá cao Tương tự như vậy, tầm quan trọng của những kênh truyền hình tài chính cũng đã không được nhận thấy cho đến những năm sau thập kỷ 90, ngay cả trong phạm vi quốc gia lẫn thị trường quốc tế

Sau khi FNN được mua lại vào năm 1991, CNBC tiếp tục là kênh truyền hình hình kinh tế hàng đầu tại Mỹ và duy trì được vị trí này cho đến giữa những năm 1990 Đối thủ cạnh tranh thực sự đầu tiên chính là kênh truyền hình Bloomberg, ra mắt vào năm 1994

Tuy nhiên, thách thức thực sự của CNBC xuất hiện vào năm 1995, khi CNN ra mắt kênh truyền hình riêng chuyên sâu về tài chính, CNNfn Dĩ nhiên ba kênh này cũng mở rộng sự cạnh tranh trên cả Internet, nơi mỗi kênh đều sử dụng rất tốt đặc quyền thương hiệu của mình

Đặc biệt là từ đầu năm 1997, TTCK bùng nổ cùng với lĩnh vực kinh doanh Internet lên cơn sốt, cả ba kênh truyền hình tài chính đều trở nên rất quen thuộc với nhà đầu tư Một ngày trong tháng 10 cùng năm, khi chỉ số công nghiệp Dow

Trang 40

Jones giảm 554 điểm Khán giả của CNBC vượt qua mức 1 triệu người, con số đánh dấu bước ngoặt của truyền hình tài chính

Vào cuối thập kỷ, CNBC trở thành một hiện tượng truyền hình không thể bàn cãi khi khi phát sóng toàn thời gian cùng với lượng khán giả là 70 triệu hộ gia đình tại Mỹ Trong khi đó, con số khán giả của CNNfn chỉ dừng ở 12 triệu

hộ gia đình và Bloomberg là 10 triệu hộ gia đình Cùng lúc, có khoảng 7 triệu người cùng xem CNBC

Mặc dù kinh nghiệm của Bắc Mỹ không phù hợp với châu Âu và châu Á nhưng lại có một ảnh hưởng quyết định đến những dự án tương tự được ra mắt sau này Hơn nữa, những kênh truyền hình lớn của Bắc Mỹ đã sớm vượt qua biên giới quốc gia để trở thành những kênh truyền hình quốc tế Sự phát triển của việc chuyển giao công nghệ, đặc biệt là thông qua vệ tinh là một trong những yếu tố tạo điều kiện quan trọng cho sự phát triển này

Trong nửa đầu thập kỷ 90, một vài kênh truyền hình chung của châu Âu đã vượt lên để giành sự thu hút của giới doanh nhân Một số kênh truyền hình tổng hợp của châu Âu đã cùng với CNN đã trở thành kênh truyền hình tiên phong có hoạt động vượt ra ngoài phạm vi quốc gia Những kênh truyền hình khác cũng tiếp nối mô hình kênh truyền hình chuyên sâu về thông tin kinh tế tài chính giống như các đồng sự ở Bắc Mỹ Dẫn đầu trong số đó là hai kênh Euronews và BBC World

Nhờ sự thành công của những kênh truyền hình kinh tế tại Bắc Mỹ, kênh truyền hình đầu tiên hoàn toàn chuyên sâu về kinh tế của châu Âu – kênh European Bussiness News - được ra mắt vào tháng 1/1995 Đây là dự án của Dow Jones tại châu Âu, cũng tương tự như kênh truyền hình tài chính tại châu Á Tại London, trong cùng năm, Bloomberg cũng thông báo khởi động European Bloomberg Television

CNBC châu Âu bắt đầu được phát sóng vào đầu năm sau đó Trong trường hợp của CNBC là nhờ NBC đã có kinh nghiệm trong việc lên sản xuất và lên kế

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.la.Iuropxkia (2005), Báo chí truyền hình (Tập 1,2), Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền hình
Tác giả: A.la.Iuropxkia
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2005
2. Hoàng Anh (2003), Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin (2002), Tổng kết 4 năm thực hiện Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị khoá VIII , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 4 năm thực hiện Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị khoá VIII
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
4. Nguyễn Cao Cầm (2004), Thông tin tuyên truyền về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Luận văn thạc sĩ báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin tuyên truyền về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Nguyễn Cao Cầm
Năm: 2004
5. Hồng Chương (1995), Báo chí Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí Việt Nam
Tác giả: Hồng Chương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1995
6. Cẩm nang công tác tư tưởng, lý luận chính trị và báo chí trước yêu cầu mới, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang công tác tư tưởng, lý luận chính trị và báo chí trước yêu cầu mới
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
9. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
Năm: 2002
10. Nguyễn Văn Dững, Hoàng Anh (biên dịch) (1998), Nhà báo - bí quyết kỹ năng nghề nghiệp, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo - bí quyết kỹ năng nghề nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, Hoàng Anh (biên dịch)
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1998
11. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2006), Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên)
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Hà Minh Đức (chủ biên) (1994), Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 1, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1994
14. Hà Minh Đức (chủ biên) (1996), Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 2, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1996
15. Hà Minh Đức (2000), Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
16. Nguyễn Duy Gia (2003), Thị trường chứng khoán Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Gia
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
17. Vũ Quang Hào (2004), Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển, Nxb Lý luận Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2004
21. Đinh Văn Hường (2006), Các thể loại báo chí thông tấn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
22. Đinh Văn Hường (2004), Tổ chức và hoạt động của tòa soạn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của tòa soạn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
23. Nguyễn Bá Kỷ (2005), Dạng thức nói trên truyền hình, LATS Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạng thức nói trên truyền hình
Tác giả: Nguyễn Bá Kỷ
Năm: 2005
24. Trần Lâm (1995), Truyền hình Việt Nam, một phần tư thế kỷ, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình Việt Nam, một phần tư thế kỷ
Tác giả: Trần Lâm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
25. Võ Thanh Long - Nguyễn Quang Hải (2007), Tìm hiểu về Luật Chứng khoán, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về Luật Chứng khoán
Tác giả: Võ Thanh Long - Nguyễn Quang Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê lịch phát sóng, thời lượng các chương trình tuyên  truyền về TTCK trên VTV1, VTC, InfoTV, HanoiTV và HTV9 - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Bảng 2.1 Thống kê lịch phát sóng, thời lượng các chương trình tuyên truyền về TTCK trên VTV1, VTC, InfoTV, HanoiTV và HTV9 (Trang 49)
Bảng 2.2: Mô hình hóa mẫu màn hình chia nhỏ nhất hiện nay - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Bảng 2.2 Mô hình hóa mẫu màn hình chia nhỏ nhất hiện nay (Trang 65)
Bảng 2.3: Mẫu màn hình Bản tin thị trường 24h - VTV1 - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Bảng 2.3 Mẫu màn hình Bản tin thị trường 24h - VTV1 (Trang 66)
Bảng 2.4: Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (sáng) - VTV1 - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Bảng 2.4 Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (sáng) - VTV1 (Trang 79)
Bảng 2.5: Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (tối) -VTV1 - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Bảng 2.5 Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (tối) -VTV1 (Trang 80)
Bảng 2.6: Tỷ lệ người xem Bản tin Việt Nam và các chỉ số (tối) - VTV1 - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Bảng 2.6 Tỷ lệ người xem Bản tin Việt Nam và các chỉ số (tối) - VTV1 (Trang 81)
Hình gạt chính 30s  VTR - - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Hình g ạt chính 30s VTR - (Trang 121)
Bảng ngoại tệ  VTR - - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Bảng ngo ại tệ VTR - (Trang 129)
Hình gạt chính 30s  VTR - - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
Hình g ạt chính 30s VTR - (Trang 135)
BẢNG SỐ LIỆU TỶ LỆ NGƯỜI XEM CỦA CHƯƠNG TRÌNH - Tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC, VTV1, INFOTV, HanoiTV và HTV9
BẢNG SỐ LIỆU TỶ LỆ NGƯỜI XEM CỦA CHƯƠNG TRÌNH (Trang 145)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w