1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay

129 444 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác phẩm này hầu hết là các bài báo được đăng trên các tạp chí, diễn đàn tranh luận khoa học giáo dục của Bộ Giáo dục hoặc của từng trường đại học, trong các hội thảo nghiên cứu khoa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI – 11 / 2012

Trang 3

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9

7 Kết cấu luận văn: 9

B PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ TRUNG QUỐC 11

1.1 Một số thuật ngữ cơ bản 11

1.2 Bối cảnh thế giới 17

1.2.1 Cơ sở lý luận và bối cảnh thực tiễn của các nước trên thế giới 17 1.2.2 Một số trường hợp điển hình thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học trên thế giới 19

1.3 Bối cảnh Trung Quốc 28

1.3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội 28

1.3.2 Thực trạng nền giáo dục đại học Trung Quốc 31

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP SWOT ĐỂ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRUNG QUỐC 38

2.1 Sơ lược về phương pháp phân tích SWOT 39

2.1.1 Khái niệm 39

2.1.2 Nguồn gốc của mô hình SWOT 39

2.1.3 Đặc điểm 40

2.1.4 Mục đích sử dụng 41

Trang 4

2.2 Áp dụng phương pháp SWOT để phân tích chính sách xã hội hóa

giáo dục đại học Trung Quốc 41

2.2.1 Điểm mạnh 41

2.2.2 Điểm yếu 60

2.2.3 Thời cơ 64

2.2.4 Thách thức 67

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 77

3.1 Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam nói chung và thực thi chính sách xã hội hóa giáo dục đại học nói riêng 79

3.1.1 Chất lượng giáo dục đại học còn thấp 79

3.1.2 Nguồn vốn của chính phủ giành cho giáo dục chưa cao 81

3.1.3 Mức thu học phí chưa đáp ứng được nhu cầu chi tiêu trong nhà trường……… 81

3.1.4 Quy mô giáo dục đại học ngoài công lập đã được mở rộng nhưng chất lượng còn chưa cao……… 81

3.1.5 Quản lý hành chính nhà nước trên tầm vĩ mô còn chồng chéo, phức tạp, bộc lộ nhiều bất cập……… 82

3.2 Bài học kinh nghiệm cho giáo dục đại học Việt Nam trên con đường thực hiện xã hội hóa 84

3.2.1 Thay đổi tư duy giáo dục đại học cho Việt Nam……… 83

3.2.2 Đa dạng hóa nguồn tài chính cho giáo dục đại học 87

3.2.3 Tăng học phí song song với việc đảm bảo chất lượng giáo dục 92 3.2.4 Giám sát chặt chẽ chất lượng giáo dục đại học 96

3.2.5 Đổi mới cơ chế quản lý hành chính bằng cách khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc giám sát hoạt động của nhà trường 104

3.2.6 Đảm bảo sự bình đẳng giữa trường công lập và dân lập 105

Trang 5

2

3.2.7 Mở rộng quyền tự chủ cho trường đại học 107 3.2.8 Đổi mới chế độ tiền lương cho giáo viên đủ để đảm bảo sự khuyến khích và yên tâm với nghề 109

C PHẦN KẾT LUẬN 112 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tỉ lệ lợi ích kinh tế mà giáo dục đại học mang lại cho cộng đồng và

cá nhân 15 Bảng 1.2: Phân loại tình hình kinh tế các quốc gia 16 Bảng 1.3: Tỉ lệ sinh viên đại học và sinh viên học tại trường dân lập tại một số quốc gia 26 Bảng 2.1: Xuất xứ kinh phí đầu tư cho giáo dục đại học của Trung Quốc từ

1994 đến 2000 43 Bảng 2.2 : Kinh phí cho giáo dục đại học Trung Quốc từ 1997 đến 2002 44 Bảng 3.1: Chi cho giáo dục và đào tạo 81 Bảng 3.2: Tỷ trọng chi tiêu trong tổng chi tiêu của giáo dục đại học Việt Nam 88 Bảng 3.3 : Số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam 92

Trang 7

to lớn mà hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật (lần thứ nhất vào khoảng thế kỷ XVIII khởi đầu ở Anh, lần thứ hai vào khoảng thập niên 40 thế kỷ XX khởi đầu ở

Mỹ rồi lan rộng ra toàn thế giới) đạt được đã làm thay đổi gần như hoàn toàn diện mạo của thế giới Như vậy, khoa học kỹ thuật là nhân tố chủ đạo của sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, đòi hỏi mỗi nước đều phải tập trung mọi nguồn lực vào phát triển nhân tố này Để có thể làm được điều này, chú trọng tới mở rộng quy

mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc cao là một trong những biện pháp quan trọng và hiệu quả hàng đầu

Giáo dục đại học hiện đại hiện là một trong những thành tích vĩ đại nhất của nền văn minh nhân loại Nó cung cấp cho thế hệ trẻ nguồn tri thức khoa học kỹ thuật chính xác và đầy đủ nhất, đồng thời truyền đạt những giá trị đạo đức tinh hoa nhất để con người hoàn thiện bản thân và nâng cao chất lượng cuộc sống của mình Đối với xã hội, giáo dục đại học có tầm quan trọng vô cùng to lớn Với tư cách là một trung tâm sáng tạo tri thức và bảo tồn văn hóa, đại học không chỉ đào tạo nguồn nhân lực và tạo ra tri thức mới đáp ứng cho những nhu cầu trước mắt của nền kinh

tế mà còn gìn giữ và lý giải những giá trị văn hóa truyền thống

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia rất coi trọng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Ở Việt Nam, Quốc Tử Giám được coi là trường đại học đầu tiên ra đời năm 1076, là trung tâm đào tạo nhân tài hàng đầu cho đất nước Ở Trung Quốc, trong bất cứ triều đại của các bậc minh quân nào, việc học tập và tổ chức thi cử để chọn nhân tài luôn là công việc trọng tâm của đất nước Khi bước vào đổi mới, do

sự thay đổi của bối cảnh thế giới theo hướng hội nhập toàn cầu hóa, do những đòi

Trang 8

2

hỏi cao hơn về chất lượng giáo dục mà cả hai nước đều đi theo con đường tiến hành cải cách giáo dục đại học theo hướng xã hội hóa Việt Nam là nước có xuất phát điểm thấp hơn đồng thời tiến hành xã hội hóa giáo dục đại học muộn hơn nên chắc chắn không thể tránh khỏi những bỡ ngỡ Do đó, người viết lựa chọn đề tài “Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ 1993 đến nay” nhằm tìm hiểu quá trình xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc

xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

Sở dĩ người viết lấy mốc năm 1993 là do từ khi bắt đầu thực hiện cải cách cho đến nay, giáo dục đại học Trung Quốc phát triển qua hai giai đoạn tương đối rõ ràng Giai đoạn 1: từ năm 1977 đến 1992, là giai đoạn khôi phục mạnh mẽ phương thức quản lý kế hoạch trong giáo dục đại học Trong giai đoạn này, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, bắt đầu thời kỳ quá độ từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thương phẩm nhưng về cơ bản vẫn thuộc kinh tế kế hoạch Phương hướng cải cách giáo dục đại học về cơ bản vẫn theo phương hướng nội bộ, tức là trọng điểm của cải cách là hồi phục và xây dựng tự thân giáo dục đại học Nhà nước

là cơ quan quản lý hành chính từ vĩ mô tới vi mô của giáo dục đại học, từ phương diện quản lý chung đến quản lý các hoạt động cụ thể tại trường học Do đó trên thực

tế đại học không có quyền tự chủ, tất cả kế hoạch học tập cũng như các hoạt động từ chiêu sinh, sắp xếp chuyên ngành, xây dựng cơ bản… đều thống nhất theo kế hoạch đào tạo của nhà nước Giai đoạn 2: từ 1993 đến nay, Trung Quốc thực hiện đổi mới

cả về lý luận chính trị và lý luận kinh tế được quy định trong Đại hội Đảng cộng sản lần thứ XIV tháng 10/1992 Theo đó, trong giai đoạn này, Trung Quốc thực hiện xây dựng bước đầu thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Đại hội cũng chỉ rõ:

"Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa chính là làm cho thị trường phát huy được vai trò mang tính cơ sở trong việc bố trí các nguồn lực dưới sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, khiến cho các hoạt động kinh tế tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị; thông qua chức năng của đòn bẩy giá cả và cơ chế cạnh tranh, phân phối các nguồn lực một cách hiệu quả, tạo ra động lực và sức ép cho doanh nghiệp, thực hiện chọn lọc tự nhiên, lợi dụng ưu điểm của thị trường phản ứng mau

Trang 9

3

lẹ với các tín hiệu kinh tế, thúc đẩy điều tiết kịp thời sản xuất và nhu cầu tiêu dùng" Cùng với thể chế kinh tế mở cửa, giai đoạn này đánh dấu sự phát triển vượt bậc của giáo dục đại học Bối cảnh giáo dục xuất hiện những yếu tố mới chưa từng có, mục tiêu chuyển từ thể chế kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa sang thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã bước đầu được thực hiện, từ cải cách kinh tế làm trọng tâm kéo theo các lĩnh vực khác cũng có sự thay đổi, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng cũng cảm nhận được áp lực của sự đổi thay này, cần phải cải cách

để theo kịp thời đại nên đã bắt đầu thực hiện cải cách từ bên trong ra bên ngoài Cải cách theo hướng xã hội hóa là một lựa chọn đúng đắn Biểu hiện của cải cách được thể hiện ở việc mở rộng quyền tự chủ cho trường học, các vấn đề như chiêu sinh, sắp xếp chuyên ngành, quản lý nội bộ giao cho nhà trường; luật giáo dục cũng có sự đổi mới Nhiều văn bản luật như “Luật giáo dục”, “luật giáo viên”, “luật giáo dục đại học” ra đời đã tạo nên một giới hạn pháp luật cho cải cách giáo dục đại học; thể chế quản lý giáo dục đại học cũng đạt được bước phát triển mới; đổi mới nhiều ngành học cũng như phương thức giảng dạy; tiến hành cải cách chế độ tuyển sinh

và thu học phí; thực hiện giáo dục thu học phí; mở rộng quy mô giáo dục đại học; phương châm chủ yếu là bằng mọi cách nâng cao chất lượng đào tạo nhân tài; cải cách giáo dục nhận được sự quan tâm chưa từng có đồng thời cũng đạt được thành quả to lớn; các phương diện quản lý như chế độ tài vụ, chế độ phân phối nhân sự, chế độ quản lý cán bộ… đều trong quá trình vừa tìm tòi vừa thực hiện

Từ thực tế trên có thể thấy giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay có bước đột phá mới từ cách thức quản lý, nội dung chương trình học và các vấn đề liên quan khác Đây là giai đoạn đầy khó khăn thách thức song đồng thời cũng ghi dấu những thành tựu đáng kể của giáo dục đại học Trung Quốc Do đó người viết lựa chọn tìm hiểu giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay để

có cái nhìn tổng quát nhất về toàn bộ tiến trình này

2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc (khu vực đại lục), đặc biệt là quá trình xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay

Trang 10

4

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những thành tựu và thách thức của quá trình xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc, từ đó, gợi mở một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn hiện vẫn còn đang gây tranh cãi về xã hội hóa giáo dục cũng như làm rõ một số vấn đề về tiến trình xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay, đặc biệt là vấn

đề hoạch định chính sách, giám sát và quản lý nhà nước, những thành tựu và thách thức Từ đó luận văn đưa ra một vài suy nghĩ cho việc thực thi chính sách này tại Việt Nam

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc tuy là một vấn đề tương đối mới mẻ nhưng đã có công trình viết về vấn đề này Tiêu biểu có thể kể đến:

- 陈文心。高等教育市场化应重视引导社会之使命。海南师范学院学报

nên coi trọng sứ mệnh dẫn đường cho xã hội, Báo của Học viện Sư phạm Hải Nam (Bản Khoa học xã hội), kỳ 5 năm 2006.)

- 黄丹,王智武。教育券制度 我国高等教育市场化改革的思路。重庆社会

đường cải cách xã hội hóa giáo dục đại học nước ta Tạp chí Khoa học xã hội Trùng Khánh kỳ 2 năm 2006)

- 张凤辉,胡燕华。高等教育市场化思考。河北师范学院学报(社会科学

giáo dục đại học Báo của Học viện Sư phạm Hồ Bắc (Bản Khoa học xã hội, 1/2003)

Trang 11

5

- 杨明,余德龙。论中国民办高等教育经费筹措的市场化运作。教育发展

trong đầu tư kinh phí đối với giáo dục đại học dân lập Trung Quốc Nghiên cứu phát triển giáo dục, 2005

- 马和民,何芳。市场化与自主办学:高等教育变革的两面。高等教育研

Hai mặt trong cải cách giáo dục đại học Nghiên cứu giáo dục đại học 7/2006

- 张宏军。试论高等教育市场化筹资的资本方式。河南职业技术师范学院

vốn trong xã hội hóa giáo dục đại học Học viện chức nghiệp Khoa học kỹ thuật Hồ Bắc (Bản giáo dục chức nghiệp) kỳ 5/2006

- 刘凤辉。论高等教育市场化对我国农村社会的影响。理论研究 Lưu Phong Huy Luận về ảnh hưởng của xã hội hóa giáo dục đại học đối với xã hội nông thôn nước ta Tạp chí nghiên cứu lý luận

Các tác phẩm này hầu hết là các bài báo được đăng trên các tạp chí, diễn đàn tranh luận khoa học giáo dục của Bộ Giáo dục hoặc của từng trường đại học, trong các hội thảo nghiên cứu khoa học, mạng internet… Nội dung từng tác phẩm là phân tích một khía cạnh của vấn đề xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc và các nước trên thế giới như phương thức thu hút vốn trong xã hội hóa giáo dục đại hoc, xuất

xứ nguồn vốn của hệ thống giáo dục đại học dân lập Trung Quốc, ảnh hưởng của xã hội hóa giáo dục đại học đối với từng thành phần trong xã hội, cơ chế quản lý của chính phủ khi thực hiện xã hội hóa…, mà chưa có những đánh giá về tổng thể vấn đề Bên cạnh đó, còn phải kể đến tác giả Giang Hồng Chí (thuộc trường Đại học Giang Tô) với công trình luận văn “高等教育市场化及其对大学学科文化的影响”(Ảnh hưởng của xã hội hóa giáo dục đại học đối với văn hóa khoa học đại học)

Trang 12

6

bảo vệ ngày 05/7/2010 Công trình nghiên cứu những chuyển biến trong văn hóa khoa học đại học do chính sách xã hội hóa giáo dục đem lại Với phương pháp phân tích tài liệu và thực địa, tác giả Giang Hồng Chí cho rằng xã hội hóa giáo dục đại học làm thay đổi chủ thể của văn hóa khoa học cũng như một số những giá trị của học thuật, đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bất bình đẳng trong văn hóa khoa học đại học

Nếu Giang Hồng Chí tập trung vào thách thức mà xã hội hóa giáo dục đại học mang lại cho văn hóa khoa học thì nhóm tác giả Khổng Đông Mai và Khổng Luận Càn (thuộc Học viện giáo dục đại học Lan Châu) lại có cái nhìn khá toàn diện về tác động của xã hội hóa giáo dục đại học mang lại cho người thầy giáo – một chủ thể quan trọng của giáo dục trong công trình “论高等教育市场化对大学教师的影响” (Luận về ảnh hưởng của xã hội hóa giáo dục đại học đối với giáo viên đại học) Sử dụng phương pháp phát phiếu điều tra, thu thập tài liệu, hai tác giả cho rằng xã hội hóa thông qua những tính chất cơ bản của mình như tính cạnh tranh đã đem lại những chuyển biến lớn cho giáo viên về môi trường làm việc cũng như môi trường tâm lý Những thay đổi này bao hàm cả hai mặt tốt và xấu đối với giáo viên cũng như đối với giáo dục đại học

Tóm lại, tuy đây là một đề tài mới song lại có sức hấp dẫn lớn đối với giới khoa học Trung Quốc Với phương pháp nghiên cứu đa dạng, các nhà nghiên cứu đã phân tích khá sâu sắc về từng khía cạnh của vấn đề, từ đó, giúp độc giả có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về chính sách xã hội hóa giáo dục đại học

Ở Việt Nam, vấn đề xã hội hóa giáo dục nói chung và xã hội hóa giáo dục đại học nói riêng cũng thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu giáo dục đầu ngành cũng như những học giả tâm huyết Các tác giả tiêu biểu như GS Vũ Ngọc Hải, GS Lâm Quang Thiệp, GS Hoàng Tụy, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến Trong các bài của mình, những nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đầu ngành chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thực trạng, phương pháp kịch bản để tìm ra phương hướng phát triển cho giáo dục đại học Việt Nam Các tác phẩm có thể kể đến là:

Trang 13

7

- GS.VS Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 2002) Cuốn sách tập trung trình bày xu thế phát triển giáo dục trên thế giới, giới thiệu một số nét đặc trưng về cải cách giáo dục, kinh nghiệm quản lý giáo dục, nguồn kinh phí dành cho giáo dục của một số nước trên thế giới Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam

- GS Lâm Quang Thiệp, "Giải quyết bài toán quan hệ giữa Số lượng và Chất lượng của Giáo dục Đại học nước ta" Hội thảo “Đổi mới Giáo dục Đại học Việt Nam – Hội nhập và thác thức” – Hà Nội, 3/2004 Khi thực hiện xã hội hóa, số lượng trường đại học nước ta tăng lên đáng kể, kèm theo đó là việc kiểm soát chất lượng trở nên khó khăn hơn Trong nghiên cứu này, GS Lâm Quang Thiệp cho rằng vấn

đề mấu chốt của giáo dục đại học Việt Nam là bên cạnh việc mở nhiều trường phải siết chặt khâu quản lý chất lượng, tránh tình trạng trường mọc lên ồ ạt nhưng thiếu kiểm soát, dẫn đến hiện tượng lộn xộn trong giáo dục Giáo sư cũng đưa ra ý kiến cần giải quyết bài toán quan hệ giữa số lượng và chất lượng giáo dục đại học nước

ta bằng cách thắt chặt tiêu chuẩn thành lập trường, tập trung đổi mới để nâng cao chất lượng trường đại học

- TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến, Chiến lược hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam Kỷ yếu hội thảo Giáo dục So sánh lần thứ 3 năm 2009 do trường Đại học

Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Báo Tia sáng và Chương trình Fullbright đồng tổ chức Việc xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế

về giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng, là một nhiệm vụ cấp bách của Việt Nam sau khi gia nhập WTO Tuy nhiên, vấn đề này đến nay chưa được quan tâm đúng mức Bài viết này sử dụng phương pháp kịch bản, là phương pháp hiện đang được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về các tương lai của giáo dục, để đề xuất một tiếp cận thích hợp đối với vấn đề đặt ra Theo đó, căn cứ vào xu thế chuyển động trong phương thức cung ứng giáo dục xuyên biên giới và định hướng phát triển của giáo dục Việt Nam trong 10-15 năm tới, một chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục được đề xuất Đó là chiến lược với hai kịch bản đối lập nhau

Trang 14

8

nhưng được tạo điều kiện để chung sống bên nhau, bổ sung cho nhau: một kịch bản

là ưu tiên hợp tác quốc tế về giáo dục theo cơ chế phi thương mại, kịch bản kia là chủ động và tích cực tham gia thương mại dịch vụ giáo dục theo cơ chế thương mại

- TS Lê Quốc Hùng (Đại học Đông Đô), Xã hội hóa giáo dục đại học và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học ngoài công lập, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 167 tháng 3/2010 ngày 20/3/2010 Bài viết tập trung vào việc đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hệ ngoài công lập – một trong những thành phần quan trọng của giáo dục đại học, góp phần giải quyết nhiều vấn đề của

xã hội hóa giáo dục nhưng hiện nay chất lượng còn thấp, cơ sở vật chất yếu kém

- GS, TSKH Vũ Ngọc Hải, “Về quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội của các trường đại học nước ta” Bài viết đề cập đến một trong những vấn đề mà ngành giáo dục và đào tạo nước ta lúng túng trong những năm đổi mới, đó là vấn đề quản lý tập trung và phân cấp quản lý cho các cơ sở giáo dục đại học Trong đó, có vấn đề trao quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội cho các trường đại học Tuy nhiên, những

cố gắng nhằm chuyển quyền quản lý từ trung ương xuống cơ sở chưa được thể hiện nhiều trong các chính sách và cũng chưa đồng bộ

- GS Hoàng Tụy, Giáo dục đại học trước áp lực thương mại hóa, http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=5103

- Phạm Thị Ly (Trung tâm Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), Học phí đại học và vấn đề giải trình trách nhiệm, http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=632 Bài viết đề cập đến một vấn đề khá nóng khi thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học, đó là vấn đề học phí Trước đổi mới, Việt Nam thực hiện chế độ cử người đi học, đi học không mất tiền Nhưng khi gia nhập nền kinh tế thị trường, đặc biệt khi tiến hành xã hội hóa, chế độ này được thay thế bằng chế độ học phí Tác giả cho rằng để sinh viên có trách nhiệm với chính việc học của mình, chế độ học phí là chế độ phù hợp với quy luật tất yếu của thị trường Nhưng vấn đề là tăng học phí phải song song với nâng cao chất lượng Để thực hiện điều này, cần đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của chính phủ cũng như ý thức giải trình trách nhiệm của các ban ngành liên quan

Trang 15

9

Các bài viết đưa khá nhiều vấn đề lý luận về xã hội hóa giáo dục như bản chất

xã hội hóa giáo dục, tính tất yếu của xã hội hóa giáo dục, vai trò của xã hội hóa đối với sự phát triển của giáo dục và kinh tế… Nhìn chung, các tác giả khẳng định những thành tựu mà xã hội hóa mang lại cho giáo dục đại học Việt Nam song cũng cho rằng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam đang đi ngược lại những mục tiêu

mà chính phủ đặt ra, và ít nhiều đang đánh mất những giá trị nguyên bản tốt đẹp của

xã hội hóa giáo dục nói chung Từ đó các tác giả đưa ra nhiều phương pháp trên bình diện học thuật nhằm đổi mới căn bản và mạnh mẽ giáo dục đại học Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp nguồn tài liệu của Trung Quốc và Việt Nam, người viết hy vọng đưa ra những nét khái quát nhất về bối cảnh lịch sử, chính sách thực hiện và tác động của chính sách này tới xã hội của toàn bộ quá trình xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ 1993 đến nay Từ đó, người viết đưa ra một số kiến nghị - đặc biệt là những bài học trên bình diện thay đổi quan niệm tư tưởng đối với quá trình xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành Trung Quốc học

- Phương pháp phân tích SWOT (Trong khuôn khổ luận văn, do điều kiện không điều tra được trực tiếp nên tác giả sử dụng các tư liệu đã được công bố từ trước để phân tích theo phương pháp SWOT)

- Phương pháp nghiên cứu kịch bản

- Nguồn tư liệu chủ yếu là các văn kiện, văn bản luật, sách, tạp chí, mạng Internet, các bài viết từ mạng giáo dục Trung Quốc … , đặc biệt là nguồn tư liệu từ năm 1993 trở lại đây

7 Kết cấu luận văn: 3 phần

Phần mở đầu

Phần nội dung: gồm 3 chương:

Chương 1: Bối cảnh giáo dục Đại học thế giới và Trung Quốc

Chương 2: Áp dụng phương pháp SWOT để phân tích chính sách xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc

Trang 16

10

Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phần kết luận

Trang 17

11

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ TRUNG QUỐC

1.1 Một số thuật ngữ cơ bản

triển và đang phát triển Bản chất của xã hội hội hóa giáo dục là sự tham gia của xã hội vào giáo dục trên cả hai mặt tiếp nhận giáo dục và đóng góp vào sự phát triển giáo dục Xã hội hóa giáo dục chính là công cụ để tăng cơ hội tiếp cận với giáo dục cho mọi người, đóng góp thêm với ngân sách nhà nước để đầu tư mạnh vào giáo dục và thúc đẩy tiến trình tiến tới một xã hội học tập

Trên thế giới, nhiều nước không sử dụng thuật ngữ xã hội hóa giáo dục mà dùng nhiều thuật ngữ liên quan tới các nội dung ít nhiều khác nhau ở mỗi quốc gia

Phi tập trung hóa với hai nội dung: Phân quyền hạn và trách nhiệm từ trung

ương xuống địa phương, từ các cơ quan quản lý cấp trên xuống các cơ quan quản lý cấp dưới; Huy động sự tham gia của cộng đồng, của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quần chúng vào phát triển giáo dục

Giáo dục đại chúng - đưa học vấn đến cho mọi người Thập kỷ 90 được

UNESCO lấy làm “thập kỷ giáo dục cho mọi người” với mục tiêu phát triển giáo dục cơ sở, giáo dục thường xuyên Các mục tiêu này được cụ thể thành các tiêu chí như tỷ lệ trẻ em học mẫu giáo, tỷ lệ trẻ em học tiểu học, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ

lệ giáo viên đạt chuẩn…

Giáo dục suốt đời đề cập đến một quá trình học tập liên tục, trong đó mỗi

người đều có cơ hội để tiếp tục học tập có mục đích và liên tục để người học không

bị lạc hậu so với những biến đổi của xã hội và kỹ thuật nhằm phát triển tối đa tiềm lực cá nhân ở nhiều phương diện khác nhau Ở Mỹ, giáo dục suốt đời chỉ mọi cơ hội giáo dục từ tiểu học, trung học đến sau trung học do các cơ sở giáo dục công lập hoặc ngoài công lập tổ chức, trong đó người theo học bao gồm đủ mọi lứa tuổi tham gia nhằm nâng cao trình độ khoa học, nghề nghiệp, sử dụng thời gian nhàn rỗi để phát triển cá nhân Trong khối các nước OECD, giáo dục suốt đời bao gồm cả

Trang 18

12

những hoạt động giáo dục không chính quy, ngoài nhà trường, ở đó việc học tập là sản phẩm ngẫu nhiên của cuộc sống

Xã hội học tập: Báo cáo của “Hội đồng quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI

(UNESCO – Pari công bố tháng 4/1996) đã đưa ra triết lý giáo dục của thế kỷ XXI,

cụ thể là phải dựa trên bốn cột trụ, trên nền tảng: học suốt đời và hướng về “xã hội học tập[6,tr 93]

Giáo dục cộng đồng: Theo nghĩa rộng nhất của nó là nguyên tắc xuất phát

của mọi hoạt động giáo dục đáp ứng mọi lợi ích của cộng đồng và hướng vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống Giáo dục cộng đồng với nghĩa hẹp hơn chỉ toàn bộ các hoạt động xã hội, giải trí, văn hóa và giáo dục được tổ chức bên ngoài hệ nhà trường chính quy cho mọi người ở mọi lứa tuổi có dự định cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng

Công bằng xã hội trong giáo dục: Theo một số nghiên cứu giáo dục của

UNESCO, công bằng xã hội trong giáo dục liên quan đến việc tạo ra các cơ hội về giáo dục ngang nhau giữa mọi người Có hai khía cạnh liên quan đến quan điểm “về giáo dục ngang nhau giữa mọi người” Đó là sự bình đẳng để được tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục và bình đẳng trong khi tham gia vào quá trình đó Sự tham gia và tiếp cận với giáo dục liên quan tới những cơ hội ngang nhau trong việc học sinh (hay các công dân) được đến trường, có đủ điều kiện học tập Sự bình đẳng khi tham gia vào quá trình giáo dục liên quan tới việc tạo ra các cơ hội ngang nhau cho mọi công dân khi họ đã tham gia vào quá trình học tập, nghĩa là liên quan đến việc đối xử bình đẳng với học sinh khi các em được học tập tại các cơ sở đào tạo khác nhau cho dù công lập hay ngoài công lập Điều này cũng có nghĩa là nếu học sinh ở các điều kiện kinh tế, địa lý, chính trị, xã hội khác nhau thì các em phải có những chương trình giáo dục phù hợp, bao gồm cả hình thức, nội dung và phương pháp giáo dục Việc cung cấp các chương trình giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh cũng được hiểu là sự đối xử bình đẳng và công bằng trong giáo dục đối với học sinh

Trang 19

13

Về khái niệm “xã hội hóa giáo dục đại học”, các chuyên gia đã đưa ra nhiều

ý kiến Quan điểm tương đối phổ biến là: xã hội hóa giáo dục đại học là đưa cơ chế thị trường vào giáo dục đại học làm cho giáo dục đại học mang tính thị trường hóa Năm 1997, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD đưa ra khái niệm xã hội hóa

giáo dục đại học: “Xã hội hóa giáo dục đại học là đưa cơ chế thị trường vào giáo

dục đại học làm cho giáo dục đại học mang những đặc trưng của cơ chế thị trường như tính cạnh tranh, tính lựa chọn, tính giá cả…Nó loại bỏ nền công hữu hóa truyền thống và cũng loại bỏ tuyệt đối tư hữu hóa.”[28, tr 46]。Căn cứ vào định nghĩa trên có thể thấy xã hội hóa giáo dục đại học vừa không phải là tuyệt đối tư hữu hóa vừa không phải tuyệt đối công hữu hóa mà là một quá trình đi sâu vào cơ chế thị trường làm quá trình giáo dục ở bậc đại học mang những đặc trưng như tính cạnh tranh, tính tự chủ, tính thích nghi của cơ chế thị trường Kiểu giáo dục đại học này ngày càng bị ảnh hưởng và điều phối của thị trường Do vậy, giáo dục đại học cần phát triển theo xu hướng phát triển chung của kinh tế xã hội

Tại Trung Quốc, khái niệm xã hội hóa giáo dục bắt đầu xuất hiện năm 1985 trong “Quyết định cải cách chế độ giáo dục” của nhà nước Trung Quốc, với nội hàm

ý nghĩa là chuyển đổi từ chế độ nhà nước bao cấp toàn bộ về mặt tài chính sang chế

độ nhà nước và nhân dân cùng nhau đóng góp trong giáo dục

Học giả Trương Kim Phúc trong nghiên cứu “Xã hội hóa đại học: Động lực, ảnh hưởng và xu thế” đăng trên Tạp chí Học viện Sư phạm Ngọc Lâm – NXB Triết học xã hội 2001 cho rằng: Xã hội hóa giáo dục đại học là quá trình đưa các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường như cạnh tranh lành mạnh, trao đổi công bằng… vào hoạt động của giáo dục đại học, từ đó làm giáo dục đại học mở rộng quyền tự chủ, hạn chế sự can thiệp tương đối sâu sắc của chính phủ Giáo dục đại

Trang 20

chỉ cơ chế thị trường đi sâu vào lĩnh vực giáo dục, trong đó thị trường trở thành phương thức chủ yếu trong việc phân phối các tài nguyên giáo dục, thông qua cơ chế thị trường để điều tiết hành vi cung cầu giữa thị trường và giáo dục, từ đó đưa giáo dục đạt tới trạng thái cân bằng cung cầu Trên cơ sở cơ chế thị trường, trường học cũng giống như một doanh nghiệp mà trong đó sẽ đặt lợi nhuận làm mục đích cuối cùng, học sinh – người tiêu dùng và nhà trường phải tuân theo quy luật thị trường, căn cứ vào giá cả và quan hệ cung cầu mà tiến hành “giao dịch” Trong quá trình này, sự quản lý của nhà nước chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp, trường học ngày càng bộc lộ những đặc trưng của cơ chế thị trường như tính tự chủ, tự lợi, đa dạng hóa, quy phạm hóa…

Xã hội hóa giáo dục có 3 đặc trưng chính:

Đặc trưng 1 Tính tự chủ của các trường đại học, chính phủ giao quyền tự chủ hoàn toàn cho các trường đại học để các trường tự căn cứ vào đặc điểm và ưu thế của trường mình mà tự đề ra các phương hướng phát triển

Đặc trưng 2 Thay đổi phương thức thu hút vốn Trước đây chính phủ là chủ thể cung cấp vốn duy nhất, hiện nay chính phủ phối hợp với các tổ chức xã hội cùng nhau tạo vốn cho các trường

受政府对其的严格管制和过度干预,具有较大的自主权,以便能积极地面对市场,麻木社会的要

Trang 21

Mô hình khái quát về “xã hội hóa giáo dục”

Những người theo đuổi quan điểm xã hội hóa giáo dục cho rằng: giáo dục đại học không giống giáo dục nghĩa vụ hay giáo dục công cộng mà là một ngành thuộc ngành nghề thứ ba (ngành dịch vụ) tức là giáo dục đại học phải lựa chọn con đường mang lại lợi ích kinh tế cho cả cộng đồng và cá nhân

Bảng 1.1: Tỉ lệ lợi ích kinh tế mà giáo dục đại học mang lại cho cộng đồng và cá nhân

Trang 22

16

Bình quân thế giới 10,9 18,1

*Các quốc gia không phải thành viên OECD

Nguồn: Psachaopoulos (1994), “Returns to Investment in Education: A Global Update” World

Xã hội hóa giáo dục đại học bao gồm nhiều phương diện, trong đó luận văn tập trung vào phương diện toàn dân cùng thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính đối với giáo dục đại học

Từ cải cách mở cửa đến nay, giáo dục Trung Quốc có thể chia làm 2 giai đoạn phát triển rõ rệt Giai đoạn 1 từ 1977 – 1992 là giai đoạn nền giáo dục bắt đầu bước sang thời kỳ quá độ từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường nhưng về cơ bản vẫn phụ thuộc vào nền kinh tế kế hoạch Giai đoạn 2 từ 1993 – nay, giáo dục

Trang 23

17

đại học bước sang một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới Ở thời kỳ này, bối cảnh

xã hội có sự thay đổi chưa từng có, các mục tiêu của thể chế kinh tế thị trường được thiết lập, đặt ra những cơ hội và thách thức mới cho các lĩnh vực, trong đó có giáo dục, do đó giáo dục cần phải có sự đổi mới theo hướng thị trường hóa Để mở đường cho giáo dục phát triển, trong “Luật giáo dục”, “Luật giáo dục đại học” đã cho phép tiến hành thị trường hóa giáo dục, cải cách chế độ tuyển sinh và thu học phí, mở nhiều trường “công lập” và “dân lập” Trong khuôn khổ luận văn, người viết tập trung vào giai đoạn xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ 1993 đến nay

có trách nhiệm đối với việc học của mình Cần phải thay đổi tình hình này mà con đường duy nhất là tiến hành xã hội hóa Cụ thể đối với lĩnh vực giáo dục đại học, ông cho rằng bất luận là trường công hay trường tư đều phải tiến hành thu học phí

từ học sinh để học sinh có trách nhiệm hơn với việc học của mình Nhân vật thứ hai cần nhắc đến là F.A.Hayek Ông cho rằng cần đưa nguyên tắc cạnh tranh của thị

Trang 24

18

trường vào giáo dục Ông nhận thấy bất bình đẳng là hiện tượng phổ biến của xã hội Cái ông cổ vũ là sự bình đẳng thị trường, tức là quyền lợi đạt được sau khi cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Ông đưa ra ý kiến chính phủ không nên giúp đỡ tuyệt đối các trường đại học khi thực hiện chế độ cử người đi học mà hãy để thị trường tự phát triển nhu cầu đó Ông chỉ ra trong một xã hội, đặc biệt trong giáo dục, nếu chính phủ chỉ cần đầu tư một số vốn có giới hạn song lại thu được lợi nhuận nhiều nhất thì nên đầu tư vào ngành đó Lý luận này đã gây được sự chú ý của nhiều người nhưng trong một thời gian dài không được xã hội tiếp nhận Mãi đến những năm 80 của thế kỷ trước, cùng với sự thay đổi của tình hình thế giới, cách nghĩ này mới có ảnh hưởng to lớn tới các nước phương Tây

1.2.1.2 Bối cảnh kinh tế

Trước thế kỷ XIX, giáo dục đại học chưa được coi trọng trong xã hội, nó chỉ

là một bộ phận bên lề Nhưng đến thế kỷ XX, vị thế của giáo dục đại học càng ngày càng được nâng cao trong xã hội, thậm chí là trung tâm được cả xã hội quan tâm Chức năng của giáo dục đại học lúc bấy giờ không chỉ là “dạy học” và “nghiên cứu”

mà còn là “phục vụ” Do đó, giáo dục đại học đã trở thành một ngành đa chức năng,

đa phương hướng và ngày càng phát triển một cách phồn thịnh Trong thời kỳ nền kinh tế tri thức, giáo dục đại học trở thành một nền tảng quan trọng để các nước nâng cao tiềm lực quốc gia và tính cạnh tranh với quốc tế Giáo dục đại học để thực hiện được vai trò to lớn như vậy đã chọn con đường xã hội hóa, tư hữu hóa, nâng cao tính “phục vụ” của mình

Hơn nữa, từ những năm 50 đến những năm 70 của thế kỷ XX là thời kỳ phát triển đỉnh cao về kinh tế của các nước phương Tây Cùng với sự phát triển mạnh mẽ này, những ngành mang tính phúc lợi công cộng như giáo dục, y tế đều được bao cấp bởi nhà nước Đến giữa những năm 70, khi nền kinh tế của các nước này chững lại, quan điểm này ít nhiều bị thay đổi Nhiều nước vừa tìm cách cắt giảm nguồn vốn cho giáo dục vừa ra sức tìm phương thức thu hút vốn mới cho giáo dục Chính trong bối cảnh như vậy, xã hội hóa giáo dục mới được nhìn nhận như một con đường đúng đắn để đổi mới giáo dục nói chung, và giáo dục đại học nói riêng

Trang 25

19

Nhìn từ góc độ lịch sử và hiện tại để phân tích, xã hội hóa giáo dục đại học

là một xu thế tất yếu của xã hội Ở các nước phương Tây phát triển, rất nhiều trường đại học đã trải qua quá trình xã hội hóa Ngay khi kinh tế tư bản được xác lập, các trường đại học dần dần bước vào quỹ đạo của thị trường bằng việc đào tạo nhiều nhân tài để cung cấp cho thị trường Những năm 70 của thế kỷ XX, khi bối cảnh nền kinh tế thế giới không mấy sáng sủa do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh

tế diễn ra trên toàn cầu, nền tài chính của các nước bị đe dọa nghiêm trọng thì chính phủ các nước đã phải tìm những đối sách để vừa đối phó với tình hình này vừa duy trì được sự phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như giáo dục nói riêng Trước tình hình như vậy, xã hội hóa giáo dục trở thành sự lựa chọn đúng đắn

1.2.1.3 Bối cảnh giáo dục

Trong điều kiện nền kinh tế thế giới bị bao phủ bởi một gam màu xám như vậy, giáo dục đại học đã tìm ra một lối thoát, đó là sự xuất hiện của các trường đại học dân lập Có thể nói, trường đại học dân lập ban đầu tuy chỉ mọc lên rải rác song

đã đóng vai trò như những chấm màu tươi sáng hơn trong bức tranh ảm đạm So sánh hệ thống trường công lập và dân lập ở nước ngoài có thể thấy hệ thống trường công lập có phần kém cỏi, được thể hiện: số vốn của trường công lập ít hơn trường dân lập, nguyên nhân là do trường dân lập xây dựng được một cơ chế thu hút vốn hợp lý; chất lượng trường công lập không bằng trường dân lập, do trường dân lập đã tìm hiểu được nhu cầu thực tế của xã hội và xây dựng kế hoạch học tập hợp lý; môi trường giáo dục của trường công lập không bằng trường dân lập, nguyên nhân là trường dân lập chú trọng tới phương thức quản lý, càng chú trọng tới tính tích cực của giáo viên cũng như chế ước hành vi không quy phạm của học sinh

Từ những so sánh trên, nhiều học giả cho rằng điểm mấu chốt dẫn tới thành công của hệ thống trường dân lập là do phương thức cạnh tranh bình đẳng mà con đường xã hội hóa giáo dục mang lại

1.2.2 Một số trường hợp điển hình thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học trên thế giới

Trang 26

20

1.2.2.1 Nước Mỹ

Các nhà kinh tế học Mỹ đưa ra quan điểm: ở nửa sau thế kỷ XIX, giáo dục hoàn toàn nằm trong tay nhà nước nên không có tính cạnh tranh gây lãng phí tài nguyên và hiệu quả thấp, nhà trường không có trách nhiệm với học sinh, học sinh không có trách nhiệm với việc học của mình Do đó cần phải cải cách theo một con đường mới nhằm nâng cao hiệu quả cho giáo dục đại học

Đến cuối thế kỷ XIX, mầm mống xã hội hóa giáo dục đại học đã xuất hiện ở

Mỹ Chính phủ đã đề xuất ý kiến các trường đại học công lập phải chú trọng tới tính độc lập của mình nhằm đáp ứng sự thay đổi của xã hội

kỷ XX Năm 1986, trong một phần Quyết sách của Hiệp hội Thống đốc Bang toàn

quốc có thông báo: “Trên cơ sở lý luận về cách chọn trường mà học, trường học

bất luận là trường công lập hay tư thục đều có quyền cạnh tranh tự do trên thị trường giáo dục, đặt mục tiêu vì học sinh lên hàng đầu, phụ huynh có quyền căn cứ vào chất lượng giáo dục của từng trường mà lựa chọn trường học cho con mình Về mặt lý thuyết, phương pháp “tự chọn trường mà học” buộc phụ huynh phải có trách nhiệm hơn đối với việc học tập của con em mình, đồng thời thông qua cạnh tranh cũng mang lại sự phát triển nhất định đối với giáo dục” [29, 54]

Kế hoạch “tự chọn

trường mà học” nhận được sự ủng hộ tích cực của tổng thống Reagan và sau là tổng thống Bush Tháng 4/1988, Minnesota trở thành bang đầu tiên thực hiện kế hoạch

“tự chọn trường mà học” Năm 1990, hai nhà giáo dục nổi tiếng của Mỹ là

John.E.Chubb và Terry M Moe đã xuất bản cuốn sách “Chính trị, thị trường và

trường học Mỹ”, trong đó chỉ ra cơ sở của kế hoạch “tự chọn trường mà học” là

phải có một cơ chế thị trường đúng nghĩa nhằm giải phóng cách thức quản lý trường học theo kiểu trước đây Từ thập niên 90 trở lại đây, hàng loạt các trường tư thục đã

ra đời Điều này chứng tỏ một điều là các yếu tố thị trường đã được chấp nhận và ngày càng len lỏi sâu vào giáo dục đại học

Điểm đặc trưng của xã hội hóa giáo dục đại học ở Mỹ là: vào thập niên 90 đã xuất hiện một phương thức quản lý mới đối với trường học, đó là “quản lý tư đối

Trang 27

21

với trường công”, mà thực chất là sự xuất hiện của các công ty quản lý làm nhiệm

vụ kinh doanh trường học, trường học sẽ là đơn vị mang lại lợi nhuận cho công ty

Ở Mỹ, những năm 90 đã xuất hiện rất nhiều các công ty – trường học như vậy, điển hình như Merrill Lynch co; Edu Ventures LLC, Knowledge Universe… Trong đó, thu nhập của công ty Merrill Lynch co năm 1998 là 700 tỉ USD, năm 2000 là 1000

tỉ USD, công ty Edu Ventures LLC năm 1998 là 820 tỉ USD, tăng 25% so với năm

nguồn kinh phí thu được cho giáo dục đại học tăng lên theo từng năm, đã góp phần giải quyết gánh nặng tài chính cho giáo dục mà chính phủ không thể đảm đương được Chính phủ Mỹ cũng phải thừa nhận “Nhờ có con đường xã hội hóa mà giáo dục đại học Mỹ đã hoàn thành mục tiêu đề ra, đó là giải quyết vấn đề ai trả tiền cho giáo dục đại học Xã hội hóa giáo dục đại học giúp cân bằng hóa lượng tiền mà chính phủ và người dân phải bỏ ra để được đi học

Quá trình xã hội hóa giáo dục đại học làm tiền đề cho sự ra đời của nhiều trường dân lập ở Mỹ Vấn đề đặt ra là khi hàng loạt trường dân lập ra đời như vậy thì vị trí của các trường công lập sẽ như thế nào Mỹ cũng giống như các nước phát triển phương Tây trước đây đều thực hiện chính sách bao cấp hoàn toàn về tài chính đối với các trường đại học để nhằm giảm bớt học phí cho sinh viên, nhưng chính sách này đã làm giảm sức cạnh tranh của các trường Trong vòng hơn 10 năm, chi phí cho giáo dục đại học đã vượt xa số vốn thu được nhưng học phí thu từ sinh viên vẫn rất thấp, nguyên nhân chủ yếu là các trường công lập này phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn từ chính phủ Nhưng khi nguồn vốn này bị chính phủ cắt giảm theo từng năm, người Mỹ đã nhanh chóng tìm được giải pháp thay thế, đó là lợi dụng yếu tố thị trường, đưa giáo dục đại học chuyển hướng sang xã hội hóa Quá trình này diễn ra nhanh đến mức năm 1997, trong số 4096 trường đại học trên khắp nước

Mỹ, thì “tuyệt đại đa số các trường đều thừa nhận đã gia nhập vào cơ chế thị trường” [21, tr 78]

Trên thực tế, các chuyên gia nghiên cứu giáo dục Mỹ cũng không thể hiểu tại sao xu hướng xã hội hóa giáo dục lại xuất hiện và lan nhanh đến thế Họ

cho rằng: “20 năm trước, khi nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố thị trường đối với

các trường công lập ở Mỹ, chúng tôi cho rằng nhìn từ góc độ tính chất của các

Trang 28

22

trường công lập mà nói, yếu tố thị trường không thể tấn công mạnh mẽ vào các trường này Nhưng tình hình hiện nay đã chứng minh nhận định của chúng tôi đã không hoàn toàn đúng” [29, tr 55]

Bên cạnh Mỹ, ở các nước như Anh, Úc…cũng xuất hiện xu hướng “tự do thị trường”, nguyên nhân cũng là do tình hình kinh tế có phần khó khăn những năm cuối thế kỷ XX tại các nước này

Tại các nước châu Âu, ở mỗi nước đều có những biểu hiện xã hội hóa giáo dục đại học khác nhau Các biểu hiện này về cơ bản được thể hiện ở việc các yếu tố

“tư lập” xuất hiện khá sớm trong các trường công lập, ở Pháp là sự độc lập trong cách quản lý, ở các nước khác là sự độc lập trong quản lý tài chính

1.2.2.2 Nước Anh

Đối với nước Anh mà nói, trong vòng 20 năm từ năm 1979 là thời kỳ cải cách xã hội hóa giáo dục mạnh mẽ và gặt hái được nhiều thành công to lớn Khi chính phủ Thatcher lên cầm quyền đã thực hiện cải cách xã hội hóa giáo dục, một năm sau, chi phí mà chính phủ chi ra cho giáo dục đại học giảm xuống 15%

Những năm 80 của thế kỷ XX được gọi là thời đại Thatcher Chiến lược đầu tiên

mà chính phủ Thatcher ở Anh áp dụng khi thực hiện cải cách xã hội hóa giáo dục đại học là giảm mức đầu tư vào giáo dục, thực hiện đa dạng hóa nguồn đầu tư, thiết lập cơ chế thị trường Chiến lược này gồm có hai chính sách, thứ nhất là giảm nguồn viện trợ đối với lưu học sinh không thuộc các nước châu Âu, thứ hai giảm 15% nguồn vốn của chính phủ giành cho giáo dục Đặc biệt khi áp dụng chính sách thứ hai buộc ngành giáo dục phải tìm đường đi cho mình như thành lập các công ty giáo dục, viện khoa học, kế hoạch đào tạo nghiên cứu sinh và các bộ phận giáo dục khác nhằm thu hút đông đảo sinh viên để thu hút nguồn vốn (Advanced Further Education Pool)

Người Anh gọi quá trình xã hội hóa giáo dục là “cuộc cách mạng Thatcher” Ngày 6/8/1987, trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, phu nhân Thatcher cho rằng:

“Nếu không tiến hành tư hữu hóa đối với toàn bộ các trường học trên toàn nước Anh thì cách mạng Thatcher đã không thể thành công” Đối với cuộc vận động tư hữu hóa, người Anh thường tự hào mà nói rằng “cách mạng Thatcher đã mang lại lợi ích to lớn

Trang 29

23

cho nền kinh tế tài chính, nhưng điều quan trọng hơn là đã làm thay đổi tư duy của chính phủ về việc phân phối tài chính cho giáo dục” Người Anh tin rằng, từ giờ đến 400 năm sau, con người vẫn phải nhắc tới cách mạng Thatcher bởi nó thay đổi sâu sắc phương thức quản lý của chính phủ và đã tạo một bước ngoặt cho phát triển giáo dục [22, tr 85]

Năm 1988, chính phủ Anh thông qua “Luật cải cách giáo dục” và năm 1992 là

“Luật cải cách giáo dục đại học” càng thể hiện rõ hơn yêu cầu phải chuyển sang thể chế thị trường hóa trong giáo dục Sau hơn 10 năm, kết quả được các chuyên gia của trường Đại học Luân Đôn đánh giá: “ Tóm lại, xã hội hóa giáo dục đã mang lại lợi ích to lớn cho học sinh cũng như những thành phần khác trong xã hội Cụ thể, trước tiên, chi phí cho giáo dục giảm xuống, hiện nay đã giảm 40% so với những năm 80, hơn nữa, những trường có chất lượng cao ngày càng tăng lên, thu hút được nhiều sinh viên Bên cạnh đó, trình độ nghiên cứu học thuật cũng được nâng cao [22, tr 85]

Nói về những thành tựu của mình, người Anh thường rất khiêm tốn Họ cho rằng “Trình độ xã hội hóa giáo dục đại học ở Anh chưa phải là tốt nhất, đó chỉ là một bộ phận nhỏ góp phần cấu thành nên tổng thể ngành phục vụ lợi ích công cộng (ngành giáo dục) của toàn thế giới” Điều quan trọng nhất khi thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học là phải xây dựng được một thị trường tự do

1.2.2.3 Nước Úc

Kế đến phải kể đến ÚC Quá trình xã hội hóa giáo dục ở Úc có phần khác biệt so với các nước khác Ở Úc, thời kỳ giáo dục đại học phát triển thịnh vượng là những năm 1965 – 1975, số lượng trường đại học từ 7 lên tới 17 (những năm 90 là 36)[22, tr 86] Trong thời gian này, nguồn kinh phí cho giáo dục chủ yếu là do chính phủ, đầu tư của tư nhân còn hạn chế Lúc đó, người Úc tin tưởng rằng chính phủ sẽ đảm đương được vai trò nâng cao chất lượng giáo dục đại học Nhưng trên thực tế, chính phủ không thể đảm đương được do không thể nâng lương cho giáo viên nên không khích lệ được giáo viên nghiên cứu và giảng dạy Khi đó có một phương pháp, đó là đưa các yếu tố dân lập vào các trường công lập theo cách của người Anh

đã làm Sau khoảng 20 năm thực hiện chính sách này, tình hình giáo dục đại học nước Úc đã có sự chuyển biến Một mặt là quy mô giáo dục đại học đã được mở

Trang 30

24

rộng, số lượng học sinh nhập học đại học gia tăng; mặt khác nguồn vốn mà chính

những năm 80, chính phủ Úc đã chính thức thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục đại học để thúc đẩy lĩnh vực này phát triển Điều đáng nói ở đây là cái được gọi

là xã hội hóa giáo dục đại học thực chất là tư hữu hóa, người tiêu dùng phải trả tiền, tính phục vụ cộng đồng và tính cạnh tranh… Đến cuối năm 1987, trong văn kiện thuộc Sách xanh “Báo cáo chính sách về giáo dục đại học” của chính phủ liên bang

và Sách trắng “Báo cáo chính sách về giáo dục đại học” có chỉ ra cụ thể: thứ nhất,

hệ đại học bắt đầu thực hiện chính sách thu học phí, năm 1997, mức học phí mà hệ đại học Úc thu được cao nhất trong OECD Thứ hai, chính phủ cổ vũ cho các nhà tư bản tư nhân đầu tư vào giáo dục, cổ vũ giáo dục dân lập, đến nay, trường dân lập chiếm khoảng 30% các trường đại học trên cả nước Thứ ba, từ năm 1987 trở đi, việc thu hút lưu học sinh nước ngoài đến học tập trong nước trở thành một ngành công nghiệp xuất khẩu trọng điểm thu ngoại tệ Trước đó, từ năm 1986 trở về trước, nước Úc chỉ có khoảng 500 lưu học sinh mà lại do chính phủ tài trợ học phí Trong Sách xanh về giáo dục năm 1987 của Úc có viết: “Nguồn thu từ lưu học sinh là một nguồn thu quan trọng cho giáo dục đại học” Từ năm 1990 trở lại đây, chính phủ đã giảm bớt sự quản chế của mình đối với lưu học sinh mà giao quyền này cho các trường, các trường tự đặt ra quy chế tuyển sinh, tự đặt ra mức thu học phí Thứ tư,

do sự tác động của cơ chế xã hội hóa giáo dục, sự bao cấp của chính phủ đối với giáo dục đại học giảm xuống Nếu năm 1983, nguồn kinh phí của giáo dục đại học

Ngoài ra, các nước như Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hà Lan, tuy tình hình mỗi nước có khác nhau nhưng từ nửa sau những năm 80 về cơ bản đều thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học, dần dần giảm hẳn sự phụ thuộc tài chính vào chính phủ

1.2.2.4 NướcNhật Bản:

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ kiên quyết thực hiện chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng tư lập, số lượng sinh viên của các trường tư lập này chiếm khoảng 59,7% năm 1955, đến năm 1996 là khoảng 73,2%

Trang 31

25

Vấn đề xã hội hóa giáo dục đại học cũng chính là vấn đề cải cách nền giáo dục quốc lập Không giống như những trường công lập ở châu Âu không thu học phí, trường quốc lập ở Nhật Bản đều thu học phí nhưng mức thu này thấp hơn nhiều so với trường tư lập Khi thực hiện cơ chế xã hội hóa giáo dục, học phí trường quốc lập tăng dần, đến hiện nay, “chênh lệch mức học phí giữa trường công lập và dân lập đã được thu hẹp” Theo như nghiên cứu, năm 1975, mức học phí của trường dân lập cao gấp 5 lần so với trường công lập, đến năm 1993 chỉ còn cao hơn 1,5 lần Nói cách khác, học phí đại học quốc lập Nhật Bản những năm 90 tăng 10 lần so với 20 năm trước đó, nhưng học phí đại học tư lập chỉ tăng chưa đến 3 lần[22, tr.87]

1.2.2.5 Nước Tây Ban Nha:

Khi chưa thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học, trường đại học tư lập rất ít, chỉ có 4 trường, còn hệ thống trường quốc lập hoàn toàn dựa vào chính phủ Kết quả sau hơn 10 năm cải cách theo hướng xã hội hóa giáo dục là “Cơ chế thị trường

đã thay đổi toàn diện bộ mặt giáo dục đại học” Không những nguồn tài chính của nhà trường, nguồn lương cho giáo viên, nguồn chi cho công tác nghiên cứu đều tăng

mà nguồn hỗ trợ cho sinh viên cũng tăng Xã hội hóa giáo dục đại học thổi một luồng gió tươi mới tới cả chính phủ và những người làm công tác giáo dục

1.2.2.6 Nước Hà Lan:

Mặc dù là một đất nước giàu có thuộc Bắc Âu, nguồn phúc lợi của chính phủ luôn dồi dào nhưng từ năm 1985 trở đi, Bộ Giáo dục và Khoa học Hà Lan kiên quyết thực hiện đưa yếu tố thị trường vào giáo dục Mục tiêu của chính phủ là giải quyết vấn đề không có hiệu quả của nền giáo dục phi thị trường Cho đến nay, về cơ bản vấn đề này vẫn đang được giải quyết, người dân Hà Lan đã có sự phân biệt rõ ràng hơn về hai khái niệm “phi thị trường” và “thị trường không hiệu quả”

1.2.2.7 Nước Chi Lê:

Từ năm 1980 cũng đã thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học Chính phủ áp dụng một loạt các biện pháp như: giảm sự quản chế của chính phủ đối với đại học;

cổ vũ sự phát triển của giáo dục tư thục; áp dụng mức thu học phí khác nhau đối với các trường dựa trên những tiêu chí nhất định nhằm tăng sức cạnh tranh giữa các trường này; cổ vũ các trường tự tìm nguồn vốn bên ngoài Kết quả là đã giảm đáng

Trang 32

26

kể nguồn chi của chính phủ cho giáo dục Cùng lúc đó, chính phủ lại áp dụng một loạt các biện pháp khác nhằm cải cách quan hệ giữa trường học và chính phủ để xây dựng một “thị trường chuẩn” Chính phủ là người mua sản phẩm chứ không chỉ là người chi tiền đơn thuần

Tóm lại, đối với các quốc gia này, như một chuyên gia về đại học người Tây

Ban Nha đã từng nói: “Chúng ta có thể thấy, mặc dù bước đi không nhanh nhưng

yếu tố thị trường đã ngày càng có sức ảnh hưởng to lớn đối với đời sống giáo dục đại học” [22, tr.88]

Trong xu thế sản nghiệp hóa giáo dục toàn cầu, đặc trưng quan trọng nhất tại các nước đang phát triển là phát triển giáo dục tư lập Các chuyên gia nghiên cứu chính sách giáo dục và chuyên gia kinh tế giáo dục nổi tiếng thế giới cho rằng “đó

là toàn cầu hóa giáo dục sản nghiệp” Chủ tịch Quỹ Tiền tệ quốc tế cho rằng:

“Chúng ta đã xóa bỏ cách thức đầu tư kiểu cũ và bắt đầu thực hiện những biện pháp đầu tư mới cho giáo dục, đó là thúc đẩy giáo dục tư lập” [22,tr 81]

Như chúng ta đã biết, hệ thống trường tư lập đã bắt đầu xuất hiện ở các nước đang phát triển vào khoảng 20 năm nửa sau thế kỷ 20, thậm chí phát triển với quy

mô lớn và tốc độ nhanh Hệ thống trường này xuất hiện không chỉ mang lại sự công bằng trong giáo dục mà còn tạo điều kiện để tiến hành tốt xã hội hóa giáo dục Tại Nga, Rumani, chính phủ mới tích cực ủng hộ trường tư lập trong những năm gần đây nhưng hệ thống trường này đã phát triển rất nhanh Số lượng sinh viên tại các trường tư lập ở Matxcova cũng xấp xỉ với ở Anh Ở Indonexia, số lượng sinh viên tại các trường tư lập chiếm 94% [29,tr.55]

Bảng 1.3: Tỉ lệ sinh viên đại học và sinh viên học tại trường dân lập

tại một số quốc gia

Trang 33

Thứ nhất: Ở các nước này, càng thu hẹp chi tiêu công cộng càng tốt Để giảm

bớt nguồn chi này không thể không tìm những nguồn thu mới cho giáo dục Như vậy, việc lựa chọn nguồn đầu tư của tư nhân cho giáo dục là một hướng đi tất yếu

Thứ hai: Việc nâng cao tính phục vụ cộng đồng của ngành giáo dục là rất cần

thiết, nhưng nếu một mình chính phủ không thể đứng ra đảm trách nhiệm vụ này

Tư nhân hóa giáo dục đại học với những ưu điểm vượt trội của nó đã góp phần khắc phục những phần còn thiếu mà chính phủ chưa hoàn thành

Tóm lại, từ các nước phát triển như Mỹ, Nhật đến các nước đang phát triển như Ấn Độ, Nga… đều đi theo một con đường cải cách mới trong giáo dục Trong

một Bản tin Chào buổi sáng của Đài truyền hình trung ương Anh quốc có nói “Bộ

Giáo dục Anh quốc đang học tập Mỹ, học phí học đại học 3 năm gần 7 vạn USD”

Bộ trưởng Bộ giáo dục Nga trong bài phát biểu tại một Hội thảo khoa học về giáo

dục cũng phải công nhận rằng: “Lợi nhuận của nền giáo dục thu học phí thuộc về

giáo dục công lập chứ không phải giáo dục tư lập” Nguyên nhân của tình hình này

là “Tất cả các nước bất luận là nước phát triển hay đang phát triển đều cần giảm

mức chi công” [29,tr.54] Mặt khác, nhu cầu chi cho giáo dục đại học ngày càng tăng

đã gây khó khăn cho chính phủ các nước Do đó, vấn đề đặt ra cho các nước là phải

đa dạng hóa nguồn đầu tư để tăng nguồn thu cho giáo dục đại học nhưng vẫn giảm chi phí cho chính phủ Từ những năm 90 trở lại đây, ở các nước OECD, dù nguồn thu của các nước này có khác nhau nhưng cơ bản có 4 nguồn là: ngân sách của chính phủ, học phí thu từ sinh viên, quyên góp của các tổ chức, nguồn vay bên

Trang 34

28

ngoài Sự hiện diện của 4 nguồn thu này chứng tỏ xã hội hóa đã len sâu vào giáo dục đại học các nước này

1.3 Bối cảnh Trung Quốc

1.3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội

Từ sau khi thành lập nước đến trước khi cải cách năm 1978, Trung Quốc cũng giống như các nước xã hội chủ nghĩa khác thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch Nền kinh tế kế hoạch tập trung là nền kinh tế trong đó chính phủ đóng vai trò quyết định trong việc phân phối, sản xuất, tiêu thụ của toàn bộ nền kinh tế Chính phủ sẽ quyết định mặt hàng nào cần sản xuất, sản lượng và giá cả Kinh tế tư nhân về hình thức là không tồn tại Đây là mô hình kinh tế đối lập với kinh tế thị trường, nơi mà thị trường tự do đóng vai trò điều tiết giá cả, sản xuất của nền kinh tế

Đặc điểm của nền kinh tế kế hoạch tập trung là chủ thể phân phối các nguồn lực là nhà nước theo một quy trình đã được lập trình sẵn, không cần chú trọng tới hiệu quả Từ khi thành lập nước tới trước thập kỷ 90, cơ chế này là phương thức phân phối nguồn lực duy nhất Chính phủ trực tiếp phân phối nguồn lực tới các ngành nghề Chính phủ đặt ra các chỉ tiêu không có tính khả thi mà không quan tâm tới kết quả đạt được Điều này làm lãng phí nghiêm trọng tới nguồn vốn của quốc gia Bởi vì nguồn vốn mà chính phủ nắm trong tay là có hạn Trong thể chế kinh tế

kế hoạch, tất cả các địa phương, ban ngành đều tranh nhau để đạt được sự phân phối nguồn vốn đó Hậu quả là: địa phương lợi dụng mối quan hệ hợp pháp hay phi pháp với nhà nước nhằm thu hút vốn dẫn đến tình trạng suy đồi đạo đức trong bộ máy chính quyền, xã hội bất công, hơn nữa lợi dụng đặc điểm của kinh tế kế hoạch là thông tin thường nhiễu hay khuếch đại thông tin để thu hút vốn dẫn đến bệnh thành tích gây nguy hại cho xã hội Do đó trong một thời gian dài tạo nên sự rối ren và đã kìm hãm sự phát triển của xã hội Đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, chính phủ cũng nắm toàn quyền quản lý từ việc tổ chức chiêu sinh, tổ chức các ngành nghề đào tạo, chế độ cử người đi học…, dẫn tới sự trì trệ và lạc hậu

về chất lượng của giáo dục đại học Trung Quốc so với các nước khác

Trang 35

29

Năm 1978, nhận thấy thể chế kinh tế kế hoạch mang lại nhiều rào cản cho quá trình phát triển kinh tế xã hội, Trung Quốc tiến hành cải cách trên mọi phương diện, đặc điểm cơ bản là thay đổi thể chế kinh tế kế hoạch bằng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thể chế kinh tế thị trường dần được xác lập kéo theo trình độ thị trường hóa trong lĩnh vực kinh tế ngày càng cao đã trở thành điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành xã hội hóa giáo dục Điều này được thể hiện ở:

Trước tiên, sự xác lập thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đòi hỏi thể chế giáo dục cũng phải có sự thay đổi thích hợp, tức là giáo dục cũng phải theo hướng thị trường Thể chế giáo dục cần phải theo hướng thực tiễn, thay đổi phương

thức học lấy thành tích, thúc đẩy tính sáng tạo và tính thực tế của nhân tài

Chức năng của Chính phủ thay đổi Ngày 6/1/2004, Thủ tướng Ôn Gia Bảo

từng nói: Thúc đẩy mối quan hệ giữa chính phủ và doanh nghiệp, chính phủ và thị trường, chính phủ và xã hội, phát huy hơn nữa vai trò cơ bản của thị trường trong việc phân phối các nguồn lực Giảm bớt vai trò của chính phủ Đặc biệt cải cách sâu sắc cơ chế đầu tư, phải căn cứ vào nguyên tắc ai đầu tư thì người ấy có quyền quyết định, quyền thu lợi nhuận, xác lập địa vị chủ thể của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư Như vậy có thể thấy chức năng của chính phủ đã có sự thay đổi Nếu trước cải cách, chính phủ nắm vai trò quản lý độc tôn mọi ngành nghề từ thấp tới cao, từ trong ra ngoài thì hiện nay chính phủ chỉ giữ vai trò điều hành chung, còn thị trường

tự điều chỉnh, xã hội quản lý trực tiếp và lấy phục vụ cộng đồng làm mục tiêu Tức

là tất cả các thành phần trong xã hội đều tham gia vào quá trình phát triển giáo dục, vai trò của chính phủ giảm bớt Từ đó yếu tố thị trường mới có cơ hội thâm nhập vào giáo dục

Điều chỉnh kết cấu kinh tế Trung Quốc đang trong quá trình điều chỉnh kết

cấu kinh tế nên cần một đội ngũ quản lý giỏi, lao động trình độ cao Trong thời gian

kế hoạch năm năm lần 10, Quảng Châu cần 10 vạn kỹ sư, nhưng hiện tại chưa đủ

8000, trong đó kỹ sư chất lượng cao chưa đủ 300 Đến cuối năm 2000, trong 80 doanh nghiệp ở Quảng Châu, 19,2% kỹ sư trình độ đại học, sơ cấp 47,4%, trung cấp 33,4%, công nhân kỹ thuật có trình độ học vấn dưới THPT chiếm 72,3% Tại Hàng Châu, nhân viên kỹ thuật cao cấp cũng thiếu nghiêm trọng Công nhân trình độ sơ

Trang 36

30

cấp và trung cấp chiếm tới 9 phần, nhân viên kỹ thuật cao cấp chiếm 3,23%, trong

đó trình độ kỹ sư và trên kỹ sư là 1,49% và 0,21% Điều này cho thấy cần có sự

Đặc biệt từ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, nền kinh tế xã hội đã có bước phát triển vượt bậc về mặt kỹ thuật, thông tin, đưa các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn, các phương diện kinh tế, xã hội… của Trung Quốc gia nhập sâu sắc hơn vào thế giới Đối với phương diện giáo dục đại học, WTO có ảnh hưởng to lớn, thể hiện ở các mặt:

Một là ảnh hưởng trực tiếp Các trường đại học có uy tín trên thế giới đưa sinh viên Trung Quốc ưu tú ra nước ngoài học tập; hoặc sinh viên nước ngoài đến Trung Quốc học tập Điều này tạo nên tính năng động và sự kết nối rộng rãi cho nền giáo dục đại học Trung Quốc

Hai là ảnh hưởng gián tiếp Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, cùng với sự gia nhập của nền kinh tế trong nước vào quốc tế, kết cấu các ngành nghề khác trong

xã hội cũng có sự điều chỉnh đáng kể, đòi hỏi phương hướng giáo dục đại học cũng cần có sự điều chỉnh để kịp thời đáp ứng nhu cầu mới của xã hội

Hơn nữa, trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày một sôi động và biến đổi không ngừng như vậy, nếu con người không được trang bị đủ kiến thức và năng lực thì không những không thể tìm được một công việc thích hợp mà còn gặp phải rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Để giải quyết vấn đề này, giáo dục đại học phải có

sự điều chỉnh theo một hướng đi khác phù hợp hơn, đó là không chỉ thay đổi về mặt quy mô mà quan trọng hơn là cần thay đổi về mặt tính chất để đáp ứng nhu cầu đào tạo con người Xã hội hóa là sự lựa chọn đúng đắn

Ngoài ra, do ảnh hưởng ngày càng sâu sắc của sự phát triển kinh tế xã hội và

sự cải cách thể chế kinh tế, giáo dục đã dần trở thành một ngành nghề độc lập, ngày càng phát triển với nhiều thành phần đa dạng Đặc biệt là các loại giáo dục dân doanh (bao gồm dân bàn dân làm, tư doanh và hợp doanh) Các thành phần này can thiệp từ giáo dục mẫu giáo đến giáo dục đại học và đã thực sự trở thành một trong những thế mạnh của giáo dục Do nhu cầu từ thực tế, chính phủ cần phải có vai trò

Trang 37

31

thúc đẩy tích cực đối với thị trường hóa giáo dục và phải có những chính sách ủng

hộ nhằm phù hợp với nhu cầu khách quan

Đối với Trung Quốc, tình hình đất nước càng đòi hỏi phải tích cực phát triển giáo dục xã hội hóa Có ý kiến cho rằng: “Trung Quốc là nước nghèo nhưng làm giáo dục lớn” Trên thực tế, nhận định này chỉ đúng một phần, phần còn lại có lẽ

nhận định trên, một mặt có thể thấy mức đầu tư của chính phủ Trung Quốc giành cho giáo dục trong những năm cuối thế kỷ XX vẫn chưa đạt được mức trung bình của thế giới 4%, mặt khác bản thân giáo dục đại học vẫn chưa thoát khỏi cái bóng phụ thuộc vào chính phủ nên ngày càng nghèo Do đó, giáo dục đại học cần thiết phải đa dạng hóa nguồn thu hút vốn bằng cách xã hội hóa giáo dục đại học Thực chất của xã hội hóa giáo dục đại học là đưa giáo dục đại học đi theo thể chế nền kinh tế thị trường nhằm làm cho tất cả các thành phần trong xã hội từ chính phủ tới

cá nhân, gia đình, doanh nghiệp… đều có trách nhiệm với giáo dục đại học

1.3.2 Thực trạng nền giáo dục đại học Trung Quốc

Trung Quốc vốn là một dân tộc có truyền thống hiếu học từ lâu đời Khổng Tử - bậc thầy vĩ đại của nhân loại luôn đề cao vai trò của giáo dục đối với con người “nhân bất học, bất tri lý” Các bậc hiền triết sau này như Mạnh Tử, Tuân Tử cũng đều cho rằng chỉ có giáo dục mới giúp con người tránh xa cái ác, hướng tới cái thiện

Tuy nhiên, cuộc đại cách mạng văn hóa bắt đầu từ năm 1966 diễn ra trong hơn

10 năm với những chính sách sai lầm như đóng cửa trường học, đưa sinh viên về nông thôn đã gây cản trở cho sự phát triển của giáo dục

Về giáo dục đại học, một trong những thành phần quan trọng của hệ thống giáo dục, diện mạo cũng không mấy sáng sủa

1.3.2.1 Nguồn kinh phí đầu tư cho giáo dục đại học thấp

Giữa thế kỷ XX, nền giáo dục đại học nước ta bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng với quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử Số lượng sinh viên nhập học đại học lớn và ngày càng tăng, nguồn tài chính mà chính phủ phải phụ trách

Trang 38

32

ngày càng nhiều Nhưng nền kinh tế kế hoạch với năng suất thấp khiến chính phủ không thể đảm đương được nguồn tài chính này Năm 1993, chính phủ Trung Quốc ban bố “Cương yếu cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc” quy định: kinh phí đầu tư cho giáo dục mỗi năm chiếm 4% GDP của năm đó Nhưng trên thực tế, kinh phí cho giáo dục năm 1993 là 2,54%, năm 1996 là 2,46%, năm 1997 là 2,50%, năm

1998 là 2,55%, năm 1999 là 2,79%, trong khi đó các nước Na uy là 6,8%, Mỹ 5,8%,

tư cho giáo dục còn ít, chưa đạt được mức trung bình của thế giới là 4%

Theo nguồn số liệu khác, kinh phí của quốc gia dành cho giáo dục thiếu trầm trọng, kinh phí cho giáo dục công cộng không chỉ thấp hơn mức bình quân của các quốc gia phát triển mà còn thấp hơn cả mức bình quân của các quốc gia đang phát triển Theo điều tra, năm 1980 và 1995, kinh phí cho giáo dục công cộng ở các quốc gia phát triển chiếm 4,4% và 5,2% GNP, ở các quốc gia đang phát triển là 3,9% và 4,6%, trong khi ở Trung Quốc chỉ là 2,5% và 2,37%, [21, tr.76] và mức này không ngừng bị thu hẹp buộc chính phủ phải tìm ra biện pháp tăng nguồn vốn cho giáo dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển Thu hút nguồn vốn cá nhân vào phát triển giáo dục là một trong những con đường tất yếu

Mặt khác, nguồn tiền hàng năm mà giáo dục cần là trên 2 vạn nhân dân tệ, có khi còn vượt quá 3 vạn Số tiền này vượt quá trình độ phát triển kinh tế của nước ta, đồng thời vượt xa thu nhập của người dân đòi hỏi cần có một hệ thống trường dân lập mà người dân tham gia cùng đóng góp với nhà nước

Do đó, chính phủ đã dần đưa giáo dục đại học theo phương hướng xã hội hóa Chính phủ dần cải cách nền giáo dục đại học dưới thể chế kinh tế kế hoạch, để giáo dục đại học đi theo phương hướng thị trường

1.3.2.2 Quy mô giáo dục nhỏ

Trong “Kế hoạch chấn hưng giáo dục hướng tới thế kỷ 21”, Bộ Giáo dục Trung Quốc chỉ ra mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục đại học quốc gia là đến năm 2010 tỉ lệ sinh viên đại học đạt 15% so với số học sinh đi học

Trang 39

33

Sau khi đất nước thành lập, giáo dục đại học Trung Quốc có những bước phát triển lớn, đặc biệt là trong những năm gần đây khiến giáo dục đại học Trung Quốc đạt được một quy mô nhất định Tuy nhiên nếu so sánh với tốc độ phát triển của nền kinh tế xã hội Trung Quốc và nhu cầu nhân tài phục vụ cho đất nước thì vẫn còn những khoảng cách tương đối xa

Năm 2000, Trung Quốc tiến hành khảo sát và thu thập được số liệu: sinh viên đại học chính quy 11000000 người, chiếm khoảng 11,7% số lượng học sinh đi học, nghiên cứu sinh 290000 người So với năm 1995, số lượng sinh viên đại học tăng gấp đôi Nhưng nếu so sánh với các nước phát triển phương Tây là 45%, các nước

1.3.2.3 Chất lượng giáo dục đại học chưa làm hài lòng người dân

Giáo dục đại học không chỉ quy mô nhỏ mà chất lượng còn chưa cao Từ sau khi thành lập đất nước, do trong một thời gian dài chịu ảnh hưởng của khuynh hướng “tả” và sự bó buộc của thể chế kinh tế kế hoạch nên nền giáo dục đại học Trung Quốc lâm vào tình cảnh lạc hậu, trì trệ cả về nội dung, lý luận, tư tưởng, mục đích, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng giáo dục đại học, đặc biệt là chất lượng giáo dục nhân tài khiến nhân dân chưa hài lòng Các cơ quan ban ngành có liên quan tỉnh Quảng Đông tiến hành điều tra bằng phương pháp phỏng vấn đối với đối tượng là sinh viên, kết quả đạt được: tỉ lệ hài lòng với chất lượng đào tạo là 2,7%; tỉ lệ chưa hài lòng đạt 77% Báo Giáo dục Trung Quốc đăng tải kết quả điều tra 12 398 học sinh trên khắp cả nước, cho thấy 79% học sinh cho rằng những kiến thức được học không phục vụ gì cho bản thân, 77% học sinh cho rằng kiến thức được học quá lạc hậu so với xã hội, 80% học sinh chưa hài lòng với nội dung kiến thức được học[21, tr.76]

Chất lượng giáo dục đại học chưa cao thể hiện ở 2 mặt:

Phương thức đào tạo và nội dung giáo dục lạc hậu Nền giáo dục đại học

của Trung Quốc có lịch sử trên dưới 100 năm nhưng phương thức đào tạo học sinh hầu như không có gì thay đổi, vẫn chủ yếu là thỉnh giảng, giáo viên giảng bài, học

Trang 40

34

sinh nghe và chép, giáo viên là hệ tư tưởng, chân lý của sinh viên, sinh viên tiếp thu một cách thụ động, không có sự lựa chọn kiến thức và phương pháp tiếp thu Phương pháp này ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính năng động, tính sáng tạo của

sinh viên Với phương pháp học này, nội dung học tập lạc hậu là điều tất nhiên

Năng lực thực tiễn, tính sáng tạo của sinh viên còn yếu Giáo dục đại học cần

đào tạo ra những sinh viên có nhiều tố chất và năng lực, trong đó đặc biệt phải có đặc tính: tư tưởng tự do và tinh thần sáng tạo Không có tư tưởng tự do tức là không

có ý thức bình đẳng, dân chủ, pháp luật, không có tinh thần sáng tạo thì không thể phát triển Giáo dục đại học Trung Quốc thiếu cả 2 điểm này Trong điều kiện xã

hội ngày càng cạnh tranh khốc liệt, nền giáo dục như vậy chưa thể đáp ứng được xã hội

1.3.2.4 Thể chế quản lý giáo dục đại học không phù hợp

Quản lý theo kiểu tập trung Thể chế quản lý giáo dục đại học hiện nay là một

thể chế quản lý tập trung cao độ, nó lũng đoạn tuyệt đối hệ thống giáo dục Một là lũng đoạn toàn bộ tài nguyên giáo dục Các loại tài nguyên này không chỉ bao gồm nguồn vốn, đất đai, tài sản vật chất mà nhà nước giành cho giáo dục mà còn bao gồm các loại tài nguyên vô hình như hệ thống chính sách Hai là lũng đoạn toàn bộ nguồn vốn tiêu dùng trong giáo dục Thực hiện thể chế này, nhà nước không chỉ quản lý chung mà còn tham gia toàn bộ vào từng quá trình và tầng lớp của giáo dục

đại học

Lãnh đạo theo kiểu phân cấp Dưới thể chế quản lý tập trung cao độ, quản lý

giáo dục đại học được thực hiện theo từng cấp, trong đó các trường đại học là một

cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan cấp trên Người thực chất nắm quyền ở các trường đại học là chính phủ chứ không phải hiệu trưởng các trường Khi chính phủ không nắm được tình hình thực chất ở trường đại học thì những chính sách đưa ra sẽ không phù hợp, chỉ mang tính chất hành chính hóa, văn kiện và mang nặng lý thuyết

1.3.2.5 Hậu quả của thể chế quản lý giáo dục hiện hành

Làm mất quyền tự chủ của các trường đại học Thể chế quản lý giáo dục đại

học hiện nay làm các trường mất đi quyền tự chủ, thực chất chỉ là một đơn vị phục

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2008), Giáo dục và Đào tạo Chìa khóa của sự phát triển, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Đào tạo Chìa khóa của sự phát triển
Tác giả: Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2008
3. Nguyễn Văn Căn (2006) Quá trình cải cách giáo dục ở CHND Trung Hoa thời kì 1978 – 2003, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình cải cách giáo dục ở CHND Trung Hoa thời kì 1978 – 2003
4. Nguyễn Trọng Độ, Ngô Tự Lập, Một mô hình đa dạng hóa giáo dục đại học Việt Nam, Kinh nghiệm liên kết quốc tế và tự chủ tài chính của khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội thảo quốc tế “Đóng góp của khoa học xã hội - nhân văn trong phát triển kinh tế - xã hội”, tr. 29-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một mô hình đa dạng hóa giáo dục đại học Việt Nam, Kinh nghiệm liên kết quốc tế và tự chủ tài chính của khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội thảo quốc tế “Đóng góp của khoa học xã hội - nhân văn trong phát triển kinh tế - xã hội”
5. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lâm, Nghiêm Đình Vỹ (2002),Giáo dục thế giới đi vào thế kỉ 21, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỉ 21
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lâm, Nghiêm Đình Vỹ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Đào Hữu Hòa (2008), Đổi mới giáo dục đại học là tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu “gắn đào tạo với nhu cầu xã hội”, Tạp chí Khoa học công nghệ - Đại học Đà Nẵng, số 2(28), tr. 135-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: gắn đào tạo với nhu cầu xã hội
Tác giả: Đào Hữu Hòa
Năm: 2008
7. Trương Giang Long (2004), Đào tạo nguồn nhân lực qua kinh nghiệm phát triển giáo dục ở một số nước, Tạp chí Cộng sản, số 13 tháng 7), tr. 13-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đào tạo nguồn nhân lực qua kinh nghiệm phát triển giáo dục ở một số nước
Tác giả: Trương Giang Long
Năm: 2004
8. TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến(2009), Chiến lược hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo Giáo dục So sánh lần thứ 3 năm 2009 do trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Báo Tia sáng và Chương trình Fullbright đồng tổ chứcTài liệu tiếng Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến
Năm: 2009
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Báo cáo tổng kết năm học 2008-2009 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2009-2010 khối các trường đại học, cao đẳng, Hội nghị ngày 25/8/2009, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tỉ lệ lợi ích kinh tế mà giáo dục đại học mang lại cho cộng đồng và cá nhân - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 1.1 Tỉ lệ lợi ích kinh tế mà giáo dục đại học mang lại cho cộng đồng và cá nhân (Trang 21)
Bảng 1.2: Phân loại tình hình kinh tế các quốc gia  Tên quốc gia  Thu nhập bình - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 1.2 Phân loại tình hình kinh tế các quốc gia Tên quốc gia Thu nhập bình (Trang 22)
Bảng 1.3: Tỉ lệ sinh viên đại học và sinh viên học tại trường dân lập   tại một số quốc gia - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 1.3 Tỉ lệ sinh viên đại học và sinh viên học tại trường dân lập tại một số quốc gia (Trang 32)
Bảng 2.2 : Kinh phí cho giáo dục đại học Trung Quốc từ 1997 đến 2002 - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 2.2 Kinh phí cho giáo dục đại học Trung Quốc từ 1997 đến 2002 (Trang 50)
Bảng  3.2: Tỷ trọng chi tiêu trong tổng chi tiêu của giáo dục đại học Việt Nam - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
ng 3.2: Tỷ trọng chi tiêu trong tổng chi tiêu của giáo dục đại học Việt Nam (Trang 94)
Bảng 3.3 : Số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 3.3 Số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam (Trang 98)
Bảng 1: Số sinh viên đại học và học viên cao học Trung Quốc từ 1990 đến 2009 - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 1 Số sinh viên đại học và học viên cao học Trung Quốc từ 1990 đến 2009 (Trang 125)
Bảng 3: Tỉ lệ đầu tƣ vào giáo dục của chính phủ Trung Quốc và các thành  phần khác trong xã hội - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 3 Tỉ lệ đầu tƣ vào giáo dục của chính phủ Trung Quốc và các thành phần khác trong xã hội (Trang 126)
Bảng 4: Mức thu học phí của một số trường đại học tư ở Việt Nam   năm học 2009-2010 - Xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay
Bảng 4 Mức thu học phí của một số trường đại học tư ở Việt Nam năm học 2009-2010 (Trang 127)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm