Có thể nói rằng, các Luật và Nghị định đều được công bố trên Công báo phiên bản tiếng Việt và tiếng Anh và các sách khác từ đầu những năm 1990 nhưng việc tiếp cận thông tin một cách đầy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN HƢ̃U TUẤN
VIỆC TIẾP CẬN THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA
NHÀ BÁO VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN HỮU TUẤN
VIỆC TIẾP CẬN THÔNG TIN TÀ I CHÍNH CỦA
NHÀ BÁO VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ
công trình nào khác
Tác giả Luận văn
Nguyễn Hữu Tuấn
Trang 4LờI CảM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Báo chí và Truyền thông,
đã dày công đào tạo, giúp đỡ em suốt thời gian học tại Tr-ờng
Đặc biệt, em xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Thanh Huyền - Phó Chủ nhiệm Khoa Báo chí và Truyền thông, Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này
Em cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới:
PGS.TS Đinh Văn H-ờng – Đại học Quốc gia Hà Nội
TS Đặng Đức Long – Ban Kinh tế Trung -ơng
PGS.TS Vũ Quang Hào – Tr-ờng Đại học KHXH&NV
TS D-ơng Văn Thắng – Tạp chí Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
TS Nguyễn Anh Tuấn – Báo Đầu t-
Hà Nội, ngày 29/10/2014 Nguyễn Hữu Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 15
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA NHÀ BÁO 15
1.1 Khái niệm tiếp cận thông tin 15
1.1.1 Tiếp câ ̣n thông tin dưới góc nhìn luâ ̣t pháp 15
1.1.2 Tiếp câ ̣n thông tin dưới góc nhìn báo chí 22
1.2 Tiếp câ ̣n thông tin tài chính 24
1.2.1 Văn ba ̉n quy đi ̣nh về tiếp câ ̣n thông tin nói chung 24
1.2.2 Quy đi ̣nh về tiếp câ ̣n và cung cấp thông tin tài chính hiện nay 27
1.2.3 Các dạng thông tin tài chính 31
1.3 Sư ̣ cần thiết và yêu cầu tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo 33
1.3.1 Sư ̣ cần thiết trong viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin tài chính 33
1.3.2 Quy tri ̀nh tiếp câ ̣n thông tin tài chính của nhà báo 35
1.4 Nguồn tin và việc sử dụng nguồn tin 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 40
THỰC TRẠNG VIỆC TIẾP CẬN THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA NHÀ BÁO HIỆN NAY 40
2.1 Nô ̣i dung thông tin về tài chính được nhà báo tiếp câ ̣n qua các báo điê ̣n tử từ tháng 1/2013 đến tháng 3/2014 40
2.1.1 Thông tin về la ̃i suất 40
2.1.2 Thông tin về nơ ̣ công 47
2.1.3 Thông tin về ty ̉ giá 52
2.1.4 Thông tin về chư ́ ng khoán 56
2.1.5 Thông tin về la ̣m phát 60
2.1.6 Nhâ ̣n xét chung về các nô ̣i dung thông tin tài chính được nhà báo tiếp câ ̣n qua báo điê ̣n tử 64
2.2 Ý kiến về việc tiếp câ ̣n thông tin tài chính của nhà báo và người cung cấp thông tin tài chính hiê ̣n nay 66
2.2.1 Quan điểm cu ̉ a nhà báo về tiếp câ ̣n thông tin tài chính 66
2.2.2 Quan điểm cu ̉ a người cung cấp thông tin tài chính 74
2.3 Đa ́ nh giá chung về ưu, nhươ ̣c điểm của viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin tài chính của nhà báo hiện nay 79
2.3.1 Ưu điểm 79
2.3.2 Nhược điểm 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 82
CHƯƠNG 3 83
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC TIẾP CẬN THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA NHÀ BÁO HIỆN NAY 83
Trang 63.1 Kiê ̣n toàn hê ̣ thống văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về cung cấp và tiếp câ ̣n
thông tin nói chung, cho nhà báo nói riêng 83
3.1.1 Văn ba ̉n pháp luâ ̣t nói chung 83
3.1.2 Văn ba ̉n pháp luâ ̣t về tài chính 87
3.2 Đối với cơ quan nhà nước 89
3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý về cung cấp thông tin 89
3.2.2 Công khai minh ba ̣ch thông tin trên Website 90
3.2.3 Bố tri ́ cán bô ̣ đầu mối phu ̣ trách cung cấp thông tin 90
3.2.4 Bổ nhiê ̣m người phát ngôn và tổ chức cung cấp thông tin 91
3.2.5 Quy định trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin 91
3.2.6 Thiết lập hệ cơ sở dữ liệu thông tin va ̀ kiê ̣n toàn cơ sở vâ ̣t chất 92
3.3 Nâng cao năng lư ̣c đô ̣i ngũ cán bô ̣ cung cấp thông tin và phát ngôn về tài chính 92
3.3.1 Nâng cao nhâ ̣n thức về việc cung cấp thông tin tài chính 93
3.3.2 Tăng cươ ̀ ng câ ̣p nhâ ̣t thông tin , văn ba ̉n quy pha ̣m pháp luâ ̣t về trách nhiê ̣m trả lời cung cấp thông tin tài chính cho báo chí 93
3.3.3 Nâng cao ky ̃ năng quan hê ̣ báo chí 94
3.4 Nâng cao năng lư ̣c tiếp câ ̣n thông tin tài chính của nhà báo 94
3.4.1 Câ ̣p nhâ ̣t kiến thức về pháp luâ ̣t 95
3.4.2 Đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiê ̣p vu ̣ báo chí 95
3.4.3 Tăng cươ ̀ ng kiến thức về tài chính 96
3.4.4 Duy tri ̀ mối quan hê ̣ tốt với người cung cấp thông tin tài chính 97
3.4.5 Nâng cao chất lươ ̣ng tuyển du ̣ng đầu vào 97
3.4.6 Xây dư ̣ng quy trình tiếp nhâ ̣n thông tin của tòa soa ̣n 98
3.5 Đưa nô ̣i dung về phương pháp tiếp câ ̣n thông tin vào các chương trình đào ta ̣o Báo chí 99
3.5.1 Đưa nô ̣i dung kinh tế tài chính và phư ơng pháp tiếp câ ̣n thông tin vào chương trình đào ta ̣o báo chí 99
3.5.2 Phối hơ ̣p trong công tác đào ta ̣o , bồi dươ ̃ng 100
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 102
PHẦN KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 114
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Quyền tiếp cận thông tin là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện các quyền con người và quyền công dân Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng đến quyền được thông tin của người dân, đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước (CQNN) phải công khai thông tin do mình nắm giữ Điều này được thể hiện bằng việc nhiều văn bản pháp luật về quyền được thông tin và trách nhiệm của các CQNN trong việc cung cấp thông tin do CQNN đang nắm giữ đã được ban hành
Vấn đề tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản của con người, được đề cập trong rất nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã ghi nhận và tham gia, trong
đó bao gồm Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng 2003, Đảm bảo quyền được thông tin cũng cũng đã được Đảng cộng sản Việt Nam đề ra trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận , tự do báo chí ; có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật” Tiếp đó, Điều 25 Hiến pháp 2013 sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992 cũng quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[35, tr.6] Có thể nói rằng, các Luật và Nghị định đều được công bố trên Công báo phiên bản tiếng Việt và tiếng Anh và các sách khác từ đầu những năm 1990 nhưng việc tiếp cận thông tin một cách đầy đủ của các cá nhân, công dân còn bị hạn chế
Đối với đội ngũ nhà báo hiện nay , quyền tiếp cận thông tin có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các chính sách, đặc biệt là các chính sách về tài chính Những thông tin về kinh tế tài chính như : lãi suất, nợ xấu, tăng trưởng GDP, thị trường tài chính , chứng khoán, bảo hiểm, đầu tư, lạm phát liên quan đến “đồng tiền bát gạo” cho đến những thông tin về nguồn lực của quốc gia, ngân sách, dự án,
nợ công ngày càng quan tro ̣ng và chiếm tỷ lê ̣ ngày càng cao trên các mă ̣t báo Đặc biê ̣t, thông tin tài chính được coi là thông tin cốt lõi , huyết mạch của thông tin kinh
Trang 8tế Trong khi đó, nền kinh tế đang hô ̣i nhâ ̣p ở m ức cao, người dân “ngâ ̣p lu ̣t” trong các dòng chảy thông tin đa chiều Do vâ ̣y, báo chí kinh tế tài chính hơn bao giờ hết cần đảm bảo tính chính xác , tính khách quan và hấp dẫn , nhằm đi ̣nh hướng thông tin, tạo dựng lòng tin cho độc giả và cũng là xây dựng tính chuyên nghiê ̣p , tạo vị trí vững chắc cho báo chí kinh tế tài chính Viê ̣t Nam với đô ̣c giả
Để phản ánh chính xác số liê ̣u , diễn biến và đưa ra những phân tích , dự báo thiết thực cho đô ̣c giả, đòi hỏi nhà báo phải có trình đô ̣ hiểu biết về kinh tế tài chính, phải hiểu được các khái niệm kỹ thuật của thị trường , nắm bắt được chu kỳ diễn biến của giá cả , thị trường tài chính , tín dụng và những khái ni ệm mới mẻ của thị trường Ngoài ra, nhà báo cũng cần phải liên tục cập nhật thông tin , nâng cao kiến thức kinh tế tài chính của mình và là mô ̣t chuyên gia trong lĩnh vực mà mình viết bài
Các cơ quan quản lý nhà nước phả i có cơ chế cung cấp thông tin , đă ̣c biê ̣t là thông tin về chính sách tài chính cho nhà báo, nhằm cung cấp và ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n
lơ ̣i cho nhà báo hoa ̣t đô ̣ng nghề nghiê ̣p hiê ̣u quả Trong khi đó , sự phát triển của công nghê ̣ thô ng tin và Internet khiến báo chí lao vào mô ̣t cuô ̣c ca ̣nh tranh gay gắt về tốc đô ̣ thông tin , dẫn đến quy trình đối chiếu , xác minh nguồn tin đặt dưới nhiều
áp lực, ảnh hưởng lớn đến tính chính xác của thông tin kinh tế tài ch ính, đến uy tín của cơ quan nắm giữ thông tin tài chính và uy tín của nhà báo Do đó, viê ̣c tiếp câ ̣n
và xử lý thông tin, đă ̣c biê ̣t là những thông tin chính thống là điều hết sức cần thiết
Viê ̣c thiếu thông tin cần thiết và đầ y đủ về lĩnh vực tài chính làm giảm đi hiệu quả của các tác phẩm báo chí Từ đó, ảnh hưởng đến việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính Tuy nhiên, hiện chưa có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu thực trạng và giải pháp của vấn đề tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo Do vậy,
nghiên cứu “Viê ̣c tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo Việt Nam hiện nay” và
đưa ra các giải pháp, khuyến nghị là việc làm hết sức cần thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 9Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, đánh giá thực trạng vấn đề tiếp cận và xử lý thông tin về lĩnh vực tài chính của đội ngũ nhà báo trong giai đoạn hiện nay Từ đó, phát hiện những vấn đề đang được đặt ra, thảo luận, kiến nghị và đưa ra giải pháp nhằm giúp nhà báo tiếp cận và xử lý thông tin về lĩnh vực tài chính đạt được hiệu quả tốt nhất Đồng thời, gơ ̣i mở hướng giải quyết vấn đề liên quan đối với các cơ quan nắm giữ thông tin tài chính Đề tài cũng là tài liê ̣u tham khảo cho viê ̣c đào ta ̣o, nghiên cứu về báo chí kinh tế và tài chính trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Một là, làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận tiếp cận thông tin nói chung,
thông tin về tài chính nói riêng
- Hai là, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề tiếp cận thông tin về
tài chính của nhà báo Việt Nam hiện nay
- Ba là, đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc
tiếp cận thông tin đối với các nhà báo thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng và giải pháp về việc tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo trong giai đoạn hiện nay Theo đó, đề tài hê ̣ thống hóa và phân tích chủ trương , chính sách pháp luật của Đảng , Nhà nước về tiếp cận thông tin của nhà báo nói chung, của lĩnh vực tài chính nói riêng
Bên cạnh đó, đề tài tiến hành khảo sát (bằng bảng hỏi ) đối với 02 đối tượng
là nhà báo viết về kinh tế tại các cơ quan báo chí thuộc các loại hình khác nhau ở Trung ương, địa phương và người cung cấp thông tin tài chính để làm rõ hơn vấn đề này Đề tài cũng tiến hành phỏng vấn sâu mô ̣t số nhà báo viết về kinh tế tài chính và người cung cấp thông tin tài chính để làm cơ sở đánh giá thêm kết quả khảo sát về thực tra ̣ng viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin tài chính hiê ̣n nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa các văn bản liên quan đến tiếp cận thông tin của Đảng , Nhà nước và lĩnh vực tài chính thời gian qua ; khảo sát khả
Trang 10năng tiếp cận thông tin , mức độ hài lòng của nhà báo về các nguồn cung cấp thông tin tài chính trong khi tác nghiệp với 52 nhà báo viết về kinh tế tài chính , có kinh nghiê ̣m từ 1 năm trở lên ; 45 người cung cấp thông tin tài chính Đồng thời, đề tài khảo sát nội dung về thông tin kinh tế tài chính trên 05 lĩnh vực như lãi suất, tỷ giá, chứng khoán, lạm phát, nợ công trên báo điê ̣n tử từ tháng 1/2013 đến 3/2014 để làm
rõ chất lươ ̣ng , số lượng thông tin và hướng tiếp câ ̣n thông tin về tài chính của nhà báo như thế nào?
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
bảng hỏi đối với 52 nhà báo viết về mảng thông tin tài chính trên báo chí để đánh giá về chủ trương , chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về vấn đề tiếp câ ̣n thông tin của nhà báo ; viê ̣c tiếp câ ̣n và xử lý thông tin tài chính của nhà báo ; chất lươ ̣ng và nô ̣i dung thông tin về tài chính trên báo chí hiê ̣n nay dưới góc nhìn của nhà báo Bên ca ̣nh đó, đề tài cũng tiến hành khảo sát 45 người cung cấp thông tin tài chính tại các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương
- Phỏng vấn sâu: Đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 02 nhóm đối tượng là
nhà báo và cán bộ phụ trách cung cấp thông tin tài chính ở các CQNN , mỗi nhóm
dự kiến gồm 2-3 phiếu Nội dung của phiếu câu hỏi phỏng vấn sâu sẽ tập trung vào đánh giá thực tra ̣ng, khó khăn của nhà báo trong việc tiếp cận thông tin về tài chính ; thực tra ̣ng , khó khăn đối với ng ười cung cấp thông tin ; vấn đề giải pháp của nhà báo, cán bộ truyền thông thuô ̣c CQNN về tài chính để tăng cường hiê ̣u quả tiếp câ ̣n thông tin tài chính
- Phân tích nội dung văn bản: Đề tài sẽ phân tích các nội dung thông tin tài
chính bao gồm chủ đề bài viết , số lượng bài viết , các hướng tiếp cận các nguồn tin cho bài viết, trên báo điê ̣n tử trong thời gian từ 1/2013 đến 3/2014 Từ đó, tìm hiểu
và đánh giá khả năng tiếp cận , xử lý thông tin, trình độ và kỹ năng chuyên môn của nhà báo viết về kinh tế tài chính như thế nào
Trang 11Ngoài những phương pháp trên , đề tài còn sử dụng phương pháp tổng hợp ,
so sánh, phân tích đối chiếu, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân loại để từ đó đi đến những kết luâ ̣n mang tính khoa học
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề tiếp cận thông tin đang thu hút được sự quan tâm của các nhà nhiên cứu, các nhà hoạch định chính sách Do vậy, nhiều công trình nghiên cứu và các bài báo khoa học về lĩnh vực tiếp cận thông tin cũng đã được công bố rộng rãi trên toàn quốc
- Xét trên góc độ nghiên cứu Luật pháp:
Vấn đề tiếp câ ̣n thông tin được đưa ra và tìm hiểu khá rõ dưới góc đô ̣ pháp luâ ̣t cả trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới, vấn đề tiếp cận thông tin xuất hiện lần đầu tiên năm 1776 tại Thụy Điển trong Luật về tự do báo chí Đến thế kỷ 20, sự
ra đời của Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội 1966, quyền tiếp cận thông tin mới được thừa nhận rộng rãi Vấn đề tiếp cận thông tin đã được xem xét, chú trọng và đã được hầu hết các nước trên thế giới cụ thể hóa bằng việc ban hành các Luật, Nghị định về Tự do thông tin như: Luật tự do thông tin, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Minh bạch và Tiếp cận thông tin Chính phủ, Luật Thông tin chính thức, Luật Minh bạch và tiếp cận thông tin Nhà nước, Nghị định về tiếp cận thông tin công, Nghị định về Tự do tiếp cận thông tin liên quan các cơ quan hành pháp,
Mă ̣c dù có những tên go ̣i khác nhau nhưng trên thực tế , không có sự khác biê ̣t nhiều về nô ̣i dung và pha ̣m vi điều chỉnh của Luâ ̣t Hầu hết các luâ ̣t đều xác
đi ̣nh quyền được thông tin với nô ̣i hàm rô ̣ng bao gồm quyền của cá nhân , công nhân đươ ̣c tiếp câ ̣n tất cả các thông tin đang được lưu giữ bởi cơ quan công quyền (cơ quan thuô ̣c nhánh hành pháp) Nhìn chung, quyền tiếp câ ̣n thông tin chỉ áp du ̣ng đối với thông tin có trong hồ sơ chính thức Tính đến năm 2010, đã có gần 90 nước ban hành Luật tiếp cận thông tin và 30 quốc gia khác cũng đang nỗ lực xem xét việc ban
Trang 12hành luật này [2, tr.536] Như vậy, cả Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị đều ghi nhận tự do thông tin là một quyền cơ bản của con người, trong đó đề cập khá rõ nội hàm của quyền này, bao gồm: tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt thông tin
Tại Việt Nam, vấn đề tiếp cận thông tin cũng đã được đề cập khá nhiều và rõ nét, trong đó có khoảng 4 - 6 cuốn sách đã đươ ̣c xuất bản và khoảng trên 20 bài báo nghiên cứu khoa ho ̣c được đăng tải trên các Báo và Ta ̣p chí chuyên ngành Theo đó, các tác giả đã đưa ra thực trạng , mô hình của vấn đề tiế p câ ̣n thông tin, lịch sử phát triển, đă ̣c điểm, lợi ích của vấn đề tiếp câ ̣n thông tin , hê ̣ thống các cơ quan , tổ chức thực hiê ̣n quyền tiếp câ ̣n thông tin Đặc biệt, nhiều tác giả còn đề câ ̣p đến khả năng
hơ ̣p thức hóa và th ông qua Luâ ̣t tiếp câ ̣n thông tin ta ̣i Viê ̣t Nam trong thời gian tới như thế nào
Ví dụ sách: Đồng chủ biên Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công
Giao, Trịnh Quốc Toản, Lã Khánh Tùng (2011), “Tiếp cận thông tin: Pháp luật và
thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam”, NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i ; Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1998), “Các văn kiện quốc tế về con người”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Wolfgang Benedek (2008), “Tìm hiểu về quyền
con người”,NXB Tư Pháp; Viện Nghiên cứu con người (2007), “Các văn kiện quốc
tế và Luật của một số nước về tiếp cận thông tin”, NXB Công an Nhân dân; Ngân
hàng thế giới (1998),“Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo về
tình hình phát triển thế giới 1997”,NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Về các bài nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các Báo và Tạp chí
chuyên ngành có một số công trình sau: Vũ Công Giao (2010), “Luật tiếp cận thông
tin: Mô ̣t số vấn đề lý luận , pháp lý và thực tiễn trên thế giới” , Tạp chí Khoa học ,
Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i , Luâ ̣t ho ̣c 26 (2010), tr 180-192; Hoàng Thị Ngân (2009),
“Nội dung quyền tiếp cận thông tin theo pháp luật một số nước”, Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 10/2009, tr 16-20; Thái Thị Tuyết Dung (2010), “Quá trình phát
triển của Quyền tiếp cận thông tin”, Tạp Chí Khoa học Pháp lý số 4/2010, tr.14-21
- Xét trên góc độ nghiên cứu giáo dục
Trang 13Tiếp câ ̣n thông tin xét trên góc đô ̣ này cũng đã có mô ̣t số đề tài và bài nghiên cứu khoa ho ̣c trong đó đề câ ̣p đến các h tiếp câ ̣n thông tin đối với cán bô ̣ giảng da ̣y
đa ̣i ho ̣c kinh tế để nâng cao chất lượng giảng da ̣y Ngoài ra, biê ̣n pháp rèn luyê ̣n kỹ năng tiếp câ ̣n thông tin trong ho ̣c tâ ̣p cũng đã được đề câ ̣p đến để nâng cao khả năng
tiếp câ ̣n và xử lý thông tin Ví dụ: “Một số vấn đề về cách tiếp cận thông tin đối với
cán bộ giảng dạy đại học kinh tế để nâng cao chất lượng giảng dạy” của tác giả Đỗ
Thanh Hà; Người xây dựng, Số 3/2001; “Biện pháp rèn luyện kỹ năng tiếp cận
thông tin trong học tập môn giáo dục học cho sinh viên Đại học Sư phạm” của tác
giả ThS Nguyễn Thị Kim Liên, Đại học Quảng Nam; Tạp chí Giáo dục số 249 (kỳ 1-11/2010)
- Xét trên góc độ nghiên cứu báo chí, truyền thông
Mă ̣c dù vấn đề tiếp câ ̣n thông tin đã được đề cập khá nhiều và trên nhiều góc
đô ̣ khác nhau , tuy nhiên xét trên góc đô ̣ báo chí truyền thông hiê ̣n chưa có nhiều
công trình nghiên cứu Ví dụ: “Cách tiếp cận và xử lý thông tin chứng khoán của
phóng viên kinh tế ở Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Minh Anh , K48, Chính quy ,
Khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn , Đại ho ̣c Quốc gia Hà
Nô ̣i; “Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khoán” của tác giả TS
Nguyễn Văn Vân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Tạp chí Khoa học Pháp Lý số 2/2010
Qua phần li ̣ch sử nghiên cứu đã được nêu trên cho thấy , vấn đề tiếp cận thông tin đươ ̣c đề câ ̣p ở nhiều lĩnh vực và đề tài này bước đầu đã được khai thác nhưng chủ yếu vẫn đề câ ̣p đến quyền tiếp câ ̣ n thông tin và xây dựng Luâ ̣t tiếp câ ̣n thông tin ta ̣i Viê ̣t Nam Trên thực tế, hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu về việc tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo, từ đó đưa ra những giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao quyền tiếp cận thông tin đối với các nhà báo như đề tài đã thực hiện
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Qua phần phân tích li ̣ch sử nghiên cứu vấn đề ở trên có thể thấy , đề tài về
Trang 14mới, không trùng lă ̣p với đề tài nào trên phương diê ̣n báo chí học và luâ ̣t ho ̣c Đề tài cũng góp phần vào việc nghiên cứu và đào tạo , kiến nghi ̣ về chủ trương chính sách trong vấn đề tiếp câ ̣n t hông tin tài chính hiê ̣n nay Nếu được thực hiện thành công, đề tài sẽ góp phần làm phong phú thêm kiến thức lý thuyết về phương thức tiếp cận thông tin nói chung, thông tin tài chính nói riêng, đặc biệt kết quả của đề tài còn là
cơ sở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về cách tiếp cận thông tin của nhà báo, một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng chuyên môn của nhà báo, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công chúng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho đội ngũ nhà báo, cơ quan quản lý báo chí , các cán bộ của cơ quan nắm giữ thông tin liên quan đến báo chí , giúp họ có thêm kiến thức cũng như cách nhìn nhận mới về cách tiếp cận thông tin tài chính trong tương lai
7 Kết cấu đề tài
Kết cấu của đề tài gồm 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n chung về vấn đề tiếp câ ̣n thông tin tài chính của
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA NHÀ BÁO 1.1 Khái niệm tiếp cận thông tin
Khái niê ̣m “thông tin” được bắt nguồn từ chữ Latinh informetio, gốc của từ tiếng Anh information Hiê ̣n nay, khi khoa ho ̣c và công nghê ̣ phát triển đến trình đô ̣
cao, trong các lĩnh vực khoa ho ̣c , thuâ ̣t ngữ “thông tin” cũng có những cá ch hiểu khác nhau khi sử dụng đến nó
Theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học của NXB Đà Nẵng (năm 2002), “thông tin với nghĩa động từ là truyền tin cho nhau để biết; với nghĩa danh từ
là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi” Theo Philippe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “Bùng nổ truyền thông”, khái niệm thông tin có hai hướng nghĩa: Một là, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome); Hai là, mói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng
Theo cuốn “Cơ sở lý luâ ̣n báo chí truyền thông” , NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà
Nô ̣i năm 2011 của nhóm tác giả Đinh Văn Hường , Dương Xuân Sơn , Trần Quang, trong báo chí, “thông tin được dùng để nói về chất liê ̣u ngôn ngữ sống , sự miêu tả, câu chuyện kể, bằng chứ ng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của thực tại” “Thông tin” là cách go ̣i truyền thống trong nghề báo , theo nghĩa chính xác nhất của từ này thì đó là “thông tin sự kiện”
Luật của các nước sử dụng rất khác nhau về thuật ngữ để miêu tả cá nhân, công dân có quyền được tiếp cận thông tin công (rights to access public information) Một số nước sử dụng quyền được tiếp cận các hồ sơ, tài liệu chính thức hoặc các files, dữ liệu văn bản, như Anbani, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Hungari, Nhật Bản Ngược lại một số nước khác thường sử dụng quyền được thông tin (rights to information), như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ… Cũng có một số nước sử dụng là luật tự do thông tin (freedom of information) như Vương quốc Anh, Israel, Iceland, Látvia, Nauy, Mỹ… Trên thực tế , không có sự khác nhau nhiều về nội dung và
Trang 16phạm vi điều chỉnh, hầu hết các luật đều xác định quyền được thông tin với nội hàm rộng bao gồm tất cả các thông tin đang được lưu giữ bởi CQNN Một số nước như Thụy Điển, Anbani, Kôsôvô, Newzeland… sử dụng thuật ngữ tiếp cận tài liệu chính thức, không bao gồm các tài liệu đang trong quá trình chuẩn bị hoặc dự thảo không được sử dụng để ban hành quyết định cuối cùng Nhìn chung, quyền tiếp cận thông tin chỉ áp dụng đối với thông tin có trong hồ sơ chính thức
Việc tiếp câ ̣n thông tin được xem như là mô ̣t trong những quyền cơ bản của con người và được Hiến pháp nhiều nước ghi nhâ ̣n như mô ̣t quyền dân sự , chính trị
hơ ̣p pháp của con người Sự phát triển của quyền tiế p câ ̣n thông tin được thế giới xem như đồng nghĩa với dân chủ và công bằng xã hô ̣i Tuy nhiên, viê ̣c thực hiê ̣n quyền này ta ̣i các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau Đã có những quốc gia có sự phát triển ma ̣nh mẽ, cũng có những quốc gia còn trì trệ , thụ động Tuy nhiên, khi tình trạng “bí mật” thông tin vẫn tồn tại và phát triển , dẫn đến tham nhũng, bất bình đẳng xã hô ̣i, thì việc tiếp cận thông tin đã trở thành một nhu cầu bức thiết trong xã
hô ̣i ngày nay
Mă ̣c dù quyền tiếp câ ̣n thông tin xuất hiê ̣n đã hơn 200 năm nhưng chỉ phát triển ma ̣nh trong những năm gần đây và ngày càng được thừa nhâ ̣n trong nhiều văn kiê ̣n pháp lý quốc gia Đây không chỉ là quyền cơ b ản của con người trong xã hội hiê ̣n đa ̣i, mà còn là công cụ quan trọng của Nhà nước trong hoạt động quản lý xã
hô ̣i nhằm đảm bảo tính hiê ̣u quả , minh ba ̣ch và góp phần tôn tro ̣ng các quyền của con người
a) Trên thế giớ i
Trên thế giớ i , việc tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người, đây không phải là khái niệm mới, mà đã xuất hiện trong Thời kỳ Ánh sáng vào thế kỷ 18 Chính trong Đạo Luật Tự do báo chí của Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1776 đã thiết lập nguyên tắc các hồ sơ của Chính phủ phải công khai cho công chúng và trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quan Chính phủ Trong Điều 11 của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng xác lập nguyên tắc: “Việc tự do trao đổi về tư
Trang 17tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người; mọi công dân có thể phát ngôn, viết hay tiến hành in ấn một cách tự do, nhưng phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng quyền tự do đó”[8, tr.15] Tương tự, các nguyên tắc này cũng được quy định trong Tuyên ngôn của Hà Lan vào năm 1795 Như vậy, khái niệm quyền tiếp cận thông tin đã được quy định khá sớm, nếu so sánh với sự phát triển các quyền khác của con người Tuy nhiên, quyền tiếp cận thông tin công thời điểm
đó mới chỉ được quy định trong phạm vi một vài quốc gia
Đến thế kỷ 20, quyền tiếp cận thông tin chỉ trở thành mối quan tâm trên phạm vi quốc tế sau khi Liên hợp quốc (LHQ) ra đời Trong phiên họp thứ nhất, Đại hội đồng LHQ đã thông qua Nghị quyết số 59 quy định: tự do thông tin là quyền con người cơ bản và là nền tảng của tất cả các tự do khác Tiếp đó, bản Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người được thông qua vào năm 1948 đã liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ bản của cá nhân, trong đó có quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các Chính phủ trong việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền này Quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và trong một số công ước quốc tế khác như Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường năm 1998, Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003
Ở cấp độ khu vực và quốc gia, quyền tiếp cận thông tin được quy định cu ̣ thể trong pháp luâ ̣t của từng quốc gia theo những cách khác nhau , nhưng nhìn chung
nô ̣i hàm của quyền tiếp câ ̣n thông tin vẫn đảm bảo tính khả thi Trong Công ước Nhân quyền Châu Âu (ECHR), Công ước Nhân quyền Châu Mỹ (ACHR) và trong Chương trình hành động chống tham nhũng dành cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đươ ̣c ký kết vào ngày 30/11/2001 tại Tokyo (Nhâ ̣t Bản), cũng đã quy định rõ về tiếp cận thông tin: bảo đảm rằng công chúng và các phương tiện truyền thông được tự do tiếp nhận và phổ biến thông tin về các vấn đề tham nhũng một cách phù hợp với pháp luật trong nước [1, tr.30]
Trang 18Ban đầu, khối các nước trong cô ̣ng đồng Châu Âu (EU) mă ̣c dù chưa có mô ̣t văn bản quy đi ̣nh riêng về quyền tiếp câ ̣n thông tin nhưng các văn bản chung cũng đã có những điều luâ ̣t cu ̣ thể quy đi ̣nh về quyền được thông tin , quyền tiếp cận thông tin như: Điều 1 của Công ước EU; điều 255 Công ước EC, 2001 Sau đó, năm
2002, Ủy ban Bộ trưởng của Hội đồng Châu Âu thông qua Nghị quyết thừa nhận tầm quan tro ̣ng của tiếp câ ̣n thông tin và kêu go ̣i các quốc gia thông qua pháp luâ ̣t trong nước đảm bảo tiếp câ ̣n thông tin Tháng 11/2008, Hô ̣i đồng Châu Âu thông qua mô ̣t điều ước ràng buô ̣c pháp lý về tiếp câ ̣n thông tin , Công ước về Tiếp câ ̣n tài liê ̣u chính thức Tại Châu Mỹ , Công ước Nhân quyền của Châu Mỹ (American Convention on Human rights ) ban hành ta ̣i San José , Costa Rica, ngày 22/11/1969,
có hiệu lực thi hành ngày 18/07/1978 ghi nhâ ̣n: “Tự do thông tin được hiểu như là quyền cơ bản của con người , quyền này quan tro ̣ng đối với mô ̣t xã hô ̣i tự do tương tự như quyền tự do thể hiê ̣n” Điều 13 của Công ước Nhân quyền Châu Mỹ cũng quy đi ̣nh “Mọi người được có cơ hội bình đẳng để tiếp nhận , tìm kiếm và phổ biến thông tin bằng mọi hình thức tuyên truyền mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào”
Lược khảo các quy định liên quan đến quyền tiếp cận thông tin cho thấy, quyền tiếp cận thông tin hay quyền tự do thông tin có phạm vi rộng, liên quan chặt chẽ với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí Điều 19, Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền năm 1948 quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp , và tự
do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào và không có biên giới” Tổ chức nhân quyền quốc tế NGO , ARTICLE 19, tổ chức thực hiê ̣n chiế n di ̣ch toàn cầu về tự do ngôn luâ ̣n đã mô tả thông tin như là
“khí ôxy của chế đô ̣ dân chủ”
Điều 19, khoản 2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật
Trang 19hoặc thông qua mọi phương tiện thông tin đại chúng khác, tuỳ theo sự lựa chọn của họ” Như vậy, cả Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị đều ghi nhận tự do thông tin là một quyền cơ bản của con người, trong đó đề cập khá rõ nội hàm của quyền này, bao gồm: tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, quyền tự do giữ quan điểm không có sự
can thiệp Tóm lại, quyền tiếp cận thông tin có nội dung rộng và để thực hiện quyền
này, cá nhân có quyền tự do tìm kiếm, tự do tiếp nhận và tự do phổ biến thông tin
Ba nội dung trên chính là những nội dung cốt lõi của quyền tiếp cận thông tin, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo cho cá nhân,
công dân được thực hiện quyền này
Hiê ̣n luâ ̣t pháp của các quốc gia sử du ̣ng nhiều thuâ ̣t ngữ khác nhau để mô tả quyền của cá nhân được tự do tiếp câ ̣n thông tin Các đạo luật điển hình trước đây thường viê ̣n dẫn quyền tiếp câ ̣n các văn bản , biên bản, tài liệu chính thức hoặc các hồ sơ trong khi các đa ̣o luâ ̣t gần đây thường sử du ̣ng th uâ ̣t ngữ quyền về thông tin Trong thực tế , không có nhiều sự khác biê ̣t khi mà các đa ̣o luâ ̣t nhìn chung đi ̣nh nghĩa quyền tiếp cận thông tin một cách rộng nhất Ngoài ra còn có khái niệm “tự
do thông tin” đề câ ̣p quyền của cô ng dân tiếp câ ̣n tự do với các thông tin của Nhà nước
Như vâ ̣y, các nước trên thế giới dù khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế hay sự khác biệt về văn hoá trong pháp luật quốc gia đều có quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân Đặc biệt, những năm cuối cùng của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, một cuộc cách mạng về quyền tự do thông tin đã bùng nổ Hiê ̣n ngày càng nhiều quốc gia công nhận tầm quan trọng của tiếp cận thông tin với tư cách là một quyền của con người và cũng là một quyền quan trọng trong việc nâng cao khả năng điều hành và tăng cường tính minh bạch
và phòng, chống tham nhũng trong các hoạt động của Chính phủ Nếu như năm
1990 chỉ có 13 nước ban hành Luật tự do thông tin/tiếp cận thông tin, đến năm 2010
đã có gần 90 nước ban hành luật này [2, tr.536] Rõ ràng, vấn đề tiếp cận thông tin
Trang 20đã được xem xét, chú trọng và đã được hầu hết các nước trên thế giới cụ thể hóa bằng việc ban hành các Luật, Nghị định về Tự do thông tin
b) Tại Việt Nam
Tại Việt Nam , quyền được thông tin của con người được ghi nhận trong hai công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia là Tuyên bố nhân quyền thế giới năm
1948 và Hiệp ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Các quyền này tiếp tục được khẳng định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển; Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường
Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sau đó ghi rõ: "Công dân có quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật" [34] Tiếp đó, Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi bổ sung , trong đó Điều 25 cũng quy định : “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
tiếp cận thông tin cũng đã được quy định ở văn bản gốc có tính pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để phù hợp với tình hình mới cũng như đảm bảo quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước và quyền con người nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng có mối quan hệ tác động qua lại rất mật thiết Quyền được thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân Thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước
phạm vi các vấn đề CQNN có trách nhiệm công khai thông tin đã được quy định
Trang 21trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và theo cách liệt kê danh mục những vấn đề cần công khai, ngay tại chính các văn bản pháp luật chuyên ngành Ví dụ như: Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và Nghị định 79/2003/NĐ-
CP ngày 07/07/2003 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở
xã, Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại các CQNN ở địa phương; Pháp lệnh Dân chủ cơ sở năm 2007, Luật Kế toán năm 2003 quy định công khai báo cáo tài chính; Luật Kiểm toán năm 2005 quy định: Công khai báo cáo kiểm toán năm và báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán; Nghị định số 90/2006 ngày 13/9/2006 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và hiện nay là Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 4/8 tại kỳ họp thứ nhất và có hiệu lực kể từ ngày công bố (17/8/2007) Báo cáo hàng năm về kết quả công tác đấu tranh chống tham nhũng cũng phải được công khai (Điều 33) Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 (Điều 6); Luật bảo
vệ môi trường năm 2005 (Điều 104); Luật Đấu thầu năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Điều 5); Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 2004; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 (Điều 9); Luật Năng lượng nguyên
tử năm 2008 (Điều 57); Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Điều 54)
động hơn nữa trong việc cung cấp thông tin, cần khẩn trương chấn chỉnh việc cung cấp thông tin cho báo chí Chính phủ quy định rõ cơ chế, trách nhiệm của các CQNN trong việc cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, những thông tin cần thiết theo quy định cho báo chí và cho xã hội Về thông tin miễn trừ tiếp cận, các văn bản pháp luật chuyên ngành khi đưa ra danh mục các thông tin mà CQNN có trách nhiệm công bố, kèm theo đó quy định nguyên tắc chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức phải công khai hoạt động của mình, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước
Trang 22Những quy đi ̣nh trên đây về viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin của công dân và nghĩa vu ̣ của CQNN về cung cấp thông tin trong một số lĩnh vực và phạm vi địa bàn áp dụng cũng khá rõ Tuy nhiên , viê ̣c thực h iê ̣n các quy đi ̣nh nói trên còn rất ha ̣n chế vì trong tất cả các văn bản pháp luâ ̣t nói trên hầu như rất ít chế tài quy đi ̣nh về vấn đề xử pha ̣t viê ̣c không cung cấp thông tin và những quy đi ̣nh nói trên nằm rải rác trong các văn bản pháp luâ ̣t khác nhau và thiếu tính hê ̣ thống nên vẫn chưa có mô ̣t cơ chế hữu hiê ̣u để đảm bảo cho công dân được thực hiê ̣n mô ̣t cách đầy đủ quyền tiếp câ ̣n thông tin
Quyền tự do ngôn luâ ̣n , tự do báo chí đóng vai trò rất quan tro ̣ng trong viê ̣c đảm bảo quyền tiếp câ ̣n thông tin , là diễn đàn , tiếng nói của mo ̣i tầng lớp trong xã
hô ̣i Xét về mặt lịch sử , các quyền tự do ngôn luận , tự do báo ch í, tự do xuất bản đươ ̣c pháp luâ ̣t quy đi ̣nh từ khá sớm , có thể thấy trong Hiến pháp năm 1946, hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam
Điều 2 Luâ ̣t Báo chí sửa đổi bổ sung năm 1999 đã quy đi ̣nh : “Nhà nước ta ̣o điều kiê ̣n thu ận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí , quyền tự do ngôn luâ ̣n trên báo chí” [37] Luật cũng quy đi ̣nh trách nhiê ̣m của báo chí là đăng , phát sóng tác phẩm , ý kiến của công dân Điều 7 của Luật Báo chí quy định v iê ̣c cung cấp thông tin cho báo chí vừa là quyền , vừa là nghĩa vu ̣ của các cơ quan và công chức nhà nước Điều 8 quy đi ̣nh người đứng đầu cơ quan báo chí có quyền yêu cầu các tổ chức, người có chức vu ̣ trả lời vấn đề mà công dân nêu ra trên báo chí
Cùng với đó , theo Điều 4 Luâ ̣t Báo chí năm 1989, công dân có quyền được thông tin qua báo chí về mo ̣i mă ̣t của tình hình đất nước và thế giới ; tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chi ̣u sự kiểm duyê ̣t của tổ chức , cá nhân nào và chịu trách nhiê ̣m trước pháp luâ ̣t về nô ̣i dung thông tin ; phát biểu ý kiến về tình hình đất nước
và thế giới ; tham gia xây dựng và thực hiê ̣n đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý phê bình, kiến nghi ̣, khiếu na ̣i, tố cáo trên báo chí với các tổ chức Đảng, CQNN, tổ chức xã hô ̣i và thành viên của các tổ chức đó
Trang 23Cụ thể hóa Luật Báo chí , Chính phủ đã ban hành Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 quy đi ̣nh chi tiết viê ̣c thi hành Luâ ̣t Báo chí Theo nghi ̣ đi ̣nh này , nhà báo có quyền đến cơ quan , tổ chức để thu thâ ̣p thông tin, tra cứu tài liê ̣u , làm nghiê ̣p vu ̣ báo chí; được thực hiê ̣n các hoa ̣t đô ̣ng nghiê ̣p vu ̣ ta ̣i các kỳ ho ̣p Quốc hô ̣i , HĐND các cấp, các đại hội và hội nghị công khai , các cuộc mít tinh, đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước, ; được hoa ̣t đô ̣ng nghiê ̣p vu ̣ lấy tin , chụp ảnh, quay phim, ghi âm ta ̣i các phiên tòa xét xử công khai
Hiện nay, công dân chủ yếu thực hiện quyền tiếp cận thông tin thông qua các
cơ quan báo chí; qua sóng phát thanh của mạng lưới đài phát sóng trong cả nước; qua hình ảnh của hệ thống đài truyền hình từ Trung ương đến địa phương; thông tin qua mạng internet; Thông tấn xã Việt Nam,… Ngoài hệ thống thông tin, báo chí, truyền thông trong nước, người dân còn được tiếp cận với hàng chục hãng thông tấn, báo chí và kênh truyền hình nước ngoài, như Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN và nhiều báo, tạp chí quốc tế lớn khác”
Bên ca ̣nh đó , báo chí đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin Vai trò này trước hết thể hiện ở chỗ, báo chí là một kênh đăng tải các thông tin do Nhà nước nắm giữ Thực tế đã cho thấy, thúc đẩy việc tiếp cận thông tin do các CQNN nắm giữ sẽ hiệu quả hơn việc cung cấp thông tin thụ động nhằm đáp ứng người yêu cầu [56] Cách tiếp cận này ngày càng được thừa nhận là một trong những biện pháp quan trọng nhất để thúc đẩy việc tiếp cận thông tin do các CQNN nắm giữ Trong đó, không thể thiếu báo chí với tầm lan tỏa rộng khắp của mình, nhất là với sự ra đời của báo mạng Chính vì thế, pháp luật nhiều nước trên thế giới quy định CQNN phải có nghĩa vụ công bố các thông tin trên báo chí Bên cạnh việc thông tin cho công chúng, các cơ quan báo chí còn đóng vai trò là cầu nối
để đưa yêu cầu cung cấp thông tin của công chúng tới các CQNN và chuyển tiếp câu trả lời của các CQNN tới công chúng
Rõ ràng , quyền t ự do ngôn luận , tự do báo chí đóng vai trò rất quan tro ̣ng trong viê ̣c bảo đảm quyền tiếp câ ̣n thông tin Thông qua báo chí , nhà báo và người dân đươ ̣c bày tỏ quan điểm, nguyê ̣n vo ̣ng với Đảng, Nhà nước Đồng thời, cũng qua
Trang 24báo chí , Nhà nước cung cấp đường lối , chủ trương chính sách của mình đến các tầng lớp trong xã hô ̣i Do đó, viê ̣c tiếp câ ̣n, tiếp nhâ ̣n và xử lý thông tin là mô ̣t trong những bước quan tr ọng trong hoạt động tác nghiệp của nhà báo , góp phần làm cho tác phẩm báo chí có chất lượng và mang đến cho công chúng có cái nhìn toàn diện hơn về mô ̣t vấn đề nào đó
Ở Việt Nam , quyền tiếp cận thông tin đã được thể hiện trong Hiến pháp
1992, Hiến pháp 2013 sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992 và trong một số văn bản pháp luật khác Tuy nhiên, viê ̣c quy đi ̣nh quyền tiếp câ ̣n thông tin nói chung hiê ̣n la ̣i nằm “rải rác” ở nhiều các văn bản khác nhau Cụ thể như:
Pháp lệnh dân chủ ở xã , phường, thị trấn năm 2007 tại điều 5 liê ̣t kê 11 lĩnh vực chính quyền đi ̣a phương phải công khai cho dân biết, bao gồm liên quan đến: kế hoạch phát triển kinh tế xã hội , dự án, công trình đầu tư , nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n cán
bô ̣ công chức của cấp xã; viê ̣c quản lý và sử du ̣ng các loa ̣i quỹ, chủ trương kế hoạch cho nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất,
Luâ ̣t Kế toán năm 2003 quy đi ̣nh nô ̣i dung công khai báo cáo tài chính của đơn vi ̣ kế toán thuô ̣c hoa ̣t đô ̣ng thu , chi nhân sách nhà nước , cơ quan hành chính , đơn vi ̣ sự nghiê ̣p , tổ chức có sử du ̣ng kinh phí ngân sá ch nhà nước và đơn vi ̣ sự nghiê ̣p không sử du ̣ng kinh phí ngân sách nhà nước
Luâ ̣t Kiểm toán 2005 quy đi ̣nh: Công khai báo cáo kiểm toán năm và báo cáo kết quả thực hiê ̣n kết luâ ̣n , kiến nghi ̣ kiểm toán (Điều 58) Báo cáo kiể m toán của Kiểm toán Nhà nước sau khi trình Quốc hô ̣i được công bố công khai theo quy đi ̣nh của pháp luật Điều 59 của Luật quy định : công khai báo cáo kiểm toán của cuô ̣c kiểm toán Báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán sau khi phát hành được công bố công khai cùng với báo cáo tài chính theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t Ngân sách nhà nước và Luâ ̣t Kế toán
Trên lĩnh vực nhà ở , Nghị định số 90/2006 ngày 13/9/2006 quy đi ̣nh chi tiết hướng dẫn Luâ ̣t Nhà ở nă m 2005 có quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ
Trang 25đa ̣o các cơ quan chức năng thuô ̣c thẩm quyền công bố công khai danh mu ̣c các dự
án phát triển nhà ở thương mại
Luâ ̣t Phòng , chống tham nhũng năm 2005 quy đi ̣nh nô ̣i dung nguyên tắ c công khai, minh bạch ta ̣i Điều 11: Chính sách, pháp luật và việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật phải được công khai , minh ba ̣ch bảo đảm công bằng , dân chủ
Cơ quan tổ chức , đơn vi ̣ phải công khai hoa ̣t đô ̣ng của mình , trừ những nô ̣i dung thuô ̣c bí mâ ̣t của nhà nước và những nô ̣i dung khác theo quy đi ̣nh của Chính phủ Từ điều 13 đến điều 30 quy đi ̣nh 18 nô ̣i dung các lĩnh vực , cơ quan, tổ chức thực hiê ̣n chức năng , nhiê ̣m vu ̣ công quyền phải côn g khai như: : Công khai minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản (Điều 13); Công khai minh bạch trong quản lý dự án đầu tư xây dựng (Điều 14); Công khai và minh bạch về ngân sách nhà nước (Điều 15); Công khai minh bạch việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân (Điều 16); Công khai minh bạch việc quản lý sử dụng các khoản viện trợ, hỗ trợ; Công khai minh bạch trong việc quản lý doanh nghiệp của Nhà nước (Điều 18) Công khai minh bạch trong cổ phần hoá doanh nghiệp của Nhà nước (Điều 19); Báo cáo kiểm toán việc sử dụng ngân sách , tài sản của Nhà nước phải được công khai (Điều 20); Công khai minh bạch trong quản lý và sử dụng đất (Điều 21); Công khai minh bạch trong quản lý và sử dụng nhà ở (Điều 22) Bên cạnh đó còn các quy định khá c cũng cần phải công khai như : giáo dục , vực y tế (Điều 24), khoa học công nghệ (Điều 25); thể dục thể thao (Điều 26), Điều 31 và
thông tin của cơ quan tổ chức, cá nhân và thời gian của người có trách nhiệm cung cấp thông tin khi có yêu cầu
Luâ ̣t Thực hành tiết kiê ̣m chống lãng phí năm 2005 tại Điều 6 quy đi ̣nh các lĩnh vực công khai bao gồm phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước ; tài sản và kế hoạch mua sắm , sử du ̣ng tài sản trong cơ quan , tổ chức sử du ̣ng ngân sách nhà nước
Luâ ̣t Bảo vê ̣ môi trường năm 2005 tại điều 104 quy đi ̣nh công khai thông tin , dữ liê ̣u về môi trường bao gồm : báo cáo đánh giá tác động môi trườ ng, quyết đi ̣nh
Trang 26phê duyê ̣t báo cáo đánh giá tác đô ̣ng môi trường và kế hoa ̣ch thực hiê ̣n các yêu cầu
môi trường đã đăng ký
Luâ ̣t ban hành văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t của HĐND , UBND năm 2004 tại Điều 8 có quy định văn bản quy phạm pháp luật của HĐND , UBND tỉnh, thành phố trực thuô ̣c Trung ương phải được đăng Công báo cấp tỉnh Luâ ̣t Ban hành văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t phải được đăng Công báo , văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t không đăng Công báo thì không có hiê ̣u lực thi hành , trừ trường hợp văn bản có nô ̣i dung thuô ̣c bí mâ ̣t nhà nước
Ngoài các văn bản pháp luật trên , các văn bản sau cũng đã quy định về ng hĩa
Luật Báo chí năm 1989; Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003; Luâ ̣t Năng lươ ̣ng nguyên tử năm 2008; Luâ ̣t Cư trú năm 2006; Luâ ̣t Điê ̣n lực năm 2004; Luâ ̣t Đất đa i 2003; Luâ ̣t Xây dựng năm 2003; Luâ ̣t Công nghê ̣ thông tin ; Luâ ̣t Dươ ̣c năm 2004,
Nhằm tiếp tu ̣c bảo đảm tính công khai minh ba ̣ch trên lĩnh vực quy hoa ̣ch và phát triển kinh tế xã hội , ngày 13/9/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký ba n hành Nghị định số 92/2006 yêu cầu Bô ̣ trưởng , Thủ trưởng cơ quan ngang bộ , cơ quan thuô ̣c Chính phủ , Chủ tịch UBND tỉnh có trách nhiệm công khai quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội cả nước , các vùng, các tỉnh, các huyện , các ngành, lĩnh vực dể mọi công dân , doanh nghiê ̣p, nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận nghiên cứu và khai thác Trước đó, Nghị định số 104/NĐ-CP ngày 23/3/2004 của Chính phủy về Công báo nước CHXHCN Viê ̣t Nam cũng quy đi ̣nh các văn bả n phải đăng trên công báo ở Trung ương
Nhu cầu về thông tin được coi là một nhu cầu bức thiết hàng ngày của người dân, giải quyết tốt vấn đề thông tin sẽ góp phần đắc lực trong việc tạo sự đồng thuận
và ổn định xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ về công nghệ thông tin hiện nay, thông tin có thể được tiếp cận từ nhiều nguồn khác nhau và do đó việc xác định đâu là nguồn thông tin chính thống
Trang 27rất khó khăn Nhận thức được điều này, trong thời gian qua, Nhà nước đã rất chú trọng đến quyền được tiếp cận thông tin của người dân, đến trách nhiệm của CQNN phải công khai thông tin do mình nắm giữ Thông qua các quy định pháp luật, chủ trương "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đã từng bước đi vào cuộc sống
Thông tin tài chính là một hệ thống cập nhật thông tin và phân tích số liệu về nhiều lĩnh vực khác nhau như: chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, kinh tế đầu
tư, bảo hiểm, hoạt động của các doanh nghiệp Theo TS Nguyễn Thế Kỷ, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, thông tin tài chính là cốt lõi, huyết mạch của thông tin kinh tế
Tiếp cận thông tin tài chính cũng chính là khả năng vận dụng, nhận và sử dụng thông tin về lĩnh vực tài chính Viê ̣c thiếu thông tin cần thiết và đầy đủ về lĩnh vực tài chính làm giảm đi hiệu quả của các tác phẩm báo chí , từ đó, ảnh hưởng đến việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính
Thời gian qua, quyền được tiếp câ ̣n thông tin của người dân cũng dành được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước Sự quan đó được thể hiê ̣n rõ trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và các văn bả n pháp luâ ̣t của Nhà nước , đă ̣c biê ̣t là những văn bản quy đi ̣nh về viê ̣c tiếp câ ̣n và cung cấp thông tin tài chính trong giai đoa ̣n vừa qua
Đầu tiên , quy đi ̣nh về viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin tài chính được đề câ ̣p nhiều nhất trong b ộ Luật Phòng , chống tham nhũng năm 2005, trong đó quy định : “Cơ quan tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ nội dung thuộc bí mật Nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ” [43] Hình thức công khai theo quy định của Luật này bao gồm công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; niêm yết tại trụ sở của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa lên trang thông tin điện tử; cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trang 28Đặc biệt, các lĩnh vực cần phải được công khai đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lĩnh vực tài chính như : Viê ̣c mua sắm công và xây dựng cơ bản; Quản lý dự án đầu tư xây dựng; Công khai và minh bạch về ngân sách nhà nước; Việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân; Việc quản lý sử dụng các khoản viện trợ, hỗ trợ; Trong việc quản lý doanh nghiệp của Nhà nước; Cổ phần hoá doanh nghiệp của Nhà nước ; Báo cáo kiểm toán việc sử dụng ngân sách , tài sản của Nhà nước; Quản lý và sử dụng đất và nhà ở Bên ca ̣nh đó còn các quy đi ̣nh khác cũng cần phải công khai như : giáo dục, vực y tế, khoa học công nghệ, thể dục thể thao,
Bên ca ̣nh đó , còn có những văn bản quy định về việc tiếp cận và cung cấp thông tin tài chính cho công dân nói chung và báo chí nói riêng Có những văn bản quy đi ̣nh chung cho các bô ̣, ban, ngành, nhưng cũng có những văn b ản quy định cụ thể cho từng bô ̣, ngành, từng lĩnh vực, điển hình như:
Quyết đi ̣nh 77/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/5/2007 quy
đi ̣nh và ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin báo chí ;
quy đi ̣nh và ban hành kèm theo Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (sửa đổi bổ sung Quyết đi ̣nh 77/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007);
Quyết định 1390/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/9/2008 ban hành kèm theo “Quy chế phối hợp cung cấp thông tin cho báo chí giữa một số bộ ;
Nghị quyết 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ về viê ̣c đưa thông tin đầy đủ, kịp thời về chính sách đặc biệt là về lĩnh vực tài chính, tiền tệ và giá cả;
Công văn số 2357/VPCP-KTTH của Văn phòng Chính phủ ngày 09/4/2010 về việc thông tin tuyên truyền về các chính sách tài chính, tiền tệ và chứng khoán;
Công văn số 5488/BTC-VP ngày 4/5/2010 của Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí cùng tăng cường phối hợp nhiều hơn và chủ động hơn nữa trong công tác thông tin, tuyên truyền;
Trang 29Công văn số 7568/VPCP-TH ngày 27/10/2011 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường cung c ấp thông tin chính thống cho báo chí
Đối với ngành Tài chính , sau khi Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, quy định về chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành, ngày 29/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1390/QĐ-TTg, kèm theo “Quy chế phối hợp cung cấp thông tin cho báo chí giữa Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” nhằm cung cấp mô ̣t cách ki ̣p thời , chính xác các thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, các chủ trương , giải pháp của Chính phủ về kiềm chế lạm phát , ổn định kinh tế vĩ mô , bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững
Theo Quy chế này, thông tin do Bô ̣ Tài chính cung cấp cho báo chí luôn đảm bảo tính chính thống, kịp thời, chính xác và công khai, minh bạch nhằm giải thích cho dư luận trong và ngoài nước, ổn định và tạo lòng tin của nhà đầu tư và nhân dân, phù hợp với lợi ích chung của đất nước Cùng với đó , Bộ Tài chính đã thực hiện tốt việc cung cấp thông tin định kỳ bằng các hình thức: tổ chức họp báo, cung cấp thông tin trên mạng điện tử, bằng văn bản hoặc báo cáo tại giao ban báo chí hàng tháng, hàng quý Đồng thời, thực hiện hiệu quả trong việc phản hồi thông tin không chính xác trên báo chí bằng cách cung cấp thông tin chính thống và đã giúp
cơ quan báo chí phản hồi, cải chính thông tin với thông tin không chính xác
Riêng về lĩnh vực tài chính tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan thực hiện việc thu thập, thiết lập hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, thường xuyên trao đổi, thông tin chính thức cho các tổ chức tài chính quốc tế và cộng đồng quốc tế về tình hình kinh tế Việt Nam, những thuận lợi, khó khăn, những chính sách kinh tế và giải pháp điều hành chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ để tránh hiểu sai và đưa tin không chính xác về hình hình kinh tế - xã hội Việt Nam
Trang 30Trong Nghị quyết 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ có ghi rõ : “Báo chí phải đưa thông tin đầy đủ , kịp thời về các chủ trương, chính sách, đặc biệt là về lĩnh vực tài chính, tiền tệ và giá cả, nghiêm cấm việc đưa thông tin sai lệch, thiếu chính xác gây bất ổn thị trường, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống
Nhằm thực hiê ̣n và thi hành Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ mô ̣t cách hiê ̣u quả , ngày 24/11/2011, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký ban hành Quyết định số 2845/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế
Theo Điều 3 của quy chế , Bộ Tài chính và các đơn vị thuộc Bộ Tài chính tổ chức cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý cho Cổng Thông tin Điện tử của Bộ Tài chính và các cơ quan thông tấn báo chí theo quy định hiện hành[14]
Một số điểm cơ bản đáng lưu ý trong nội dung Quy chế là làm rõ trách nhiệm của “Người phát ngôn”, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc phối hợp cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn báo chí ở Trung ương và địa phương trong
trực thuộc Bộ khi thấy cần thiết phải thông tin trên báo chí về các sự kiện, vấn đề quan trọng, gây tác động lớn trong xã hội thuộc phạm vi quản lý của các đơn vị cần kịp thời chủ động trong việc cung cấp thông tin cho báo chí nhằm định hướng dư luận xã hội, qua đó tạo sự đồng thuận của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, giúp ngành Tài chính hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Đặc biệt, khi cơ quan báo chí hoặc cơ quan chỉ đạo, quản lý nhà nước về báo chí có yêu cầu phát ngôn hoặc cung cấp thông tin về các sự kiện, vấn đề, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của của Bộ Tài chính được nêu trên báo chí
Để tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp và thực hiện tốt yêu cầu của Văn phòng Chính phủ tại Công văn số 2357/VPCP-KTTH ngày 09/4/2010, Bộ Tài chính
đã ban hành Công văn số 5488/BTC-VP đề nghị các cơ quan thông tấn , báo chí
Trang 31cùng tăng cường phối hợp và chủ động hơn nữa trong công tác thông tin , tuyên truyền về các chính sách tài chính, tiền tệ và chứng khoán giúp cho công tác thông tin, truyền thông về các chính sách tài chính, tiền tệ và chứng khoán nhanh nhạy, chính xác và hiệu quả hơn
Như vâ ̣y, có thể thấy, văn bản pháp luâ ̣t quy đi ̣nh về viê ̣c cung cấp thông tin tài chính của các cơ quan quản lý nhà nước v ề tài chính khá đầy đủ , rõ ràng Do
vâ ̣y, viê ̣c tuyên truyền chủ trương chính sách về lĩnh vực tài chính đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của cơ quan quản lý cũng như nhu cầu ngày càng cao của công chúng về lĩnh vực tài chính
1.2.3 Các dạng thông tin tài chính
Như chúng ta đã biết , khái niệm thông tin cũng rất nhiều quan điểm khác nhau, do vậy da ̣ng thông tin và nguồn thông tin trên báo chí cũng rất phong phú và
đa da ̣ng Ngay cả thông tin tà i chính đối với đời sống kinh tế xã hô ̣i nói chung và báo chí nói riêng , chúng ta cũng có thể phân loại thông tin tài chính dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Ví dụ:
Thông tin tài chính dựa trên tiêu chí hê ̣ thống tài chính : Bao gồm các thông
tin tài chính về tài chính công (gồm ngân sách nhà nước và các quỹ ngoài ngân sách); thông tin tài chính doanh nghiê ̣p ; thông tin về thi ̣ trường tài chính (bao gồm thị trường tiền tệ , thị trường vốn ); thông tin về tài chính quốc tế ; thông tin về tài chính hộ gia đình , cá nhân; thông tin tài chính của các tổ chức xã hô ̣i ; thông tin tài chính của các tài chính trung gian (bao hồm tín du ̣ng, bảo hiểm) và các thành tố cấu thành hệ thống tài chính này có quan hệ mật thiết với nhau , hỗ trơ ̣ nhau và thúc đẩy sự phát triển của hê ̣ thống thông tin tài chính
Dựa trên các tiêu chí liên quan đến ngành , lĩnh vực: Phần thông tin này chủ
yếu đưa những thông tin liên quan đến các ngành , lĩnh vực cụ thể như : thông tin về lãi suất, thông tin tiền tê ̣ , chứng khoán, lạm phát, chi tiêu chính phủ , nợ công, nợ xấu của ngân hàng, Đối với những thông tin tài chính loại này thường được đề cập
và phổ biến khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay , từ phát thanh, truyền hình, đến các loại báo in, báo điện tử,
Trang 32Dựa trên tiêu chí các tổ chức /cơ quan cung cấp thông tin tài chính : Đó là
những thông tin về lĩnh vực tài chính mà được các tổ chức , cá nhân hoặc cơ quan quản lý nhà nước cung cấp cho báo chí hoặc người dân Cụ thể là thông tin tài chính của Quốc gia , của nhà nước , của địa phương , của doanh nghiệp , của cá nhân được đăng tải trên các phương tiê ̣n thông tin đa ̣i chúng
Dựa trên mức độ công khai : Trong hê ̣ thống thông tin tài chính hiê ̣n nay có
thể phân loa ̣i, dạng thông tin dựa vào mức độ công khai minh bạch thông tin Trong
mô ̣t cơ quan, tổ chức, doanh nghiê ̣p hay cá nhân , có những thông tin tài chính mà chỉ được công bố trong nội bộ cơ quan Bên ca ̣nh đó, có những thông tin của các cơ quan, tổ chứ c đều đươ ̣c công bố rõ ràng , minh ba ̣ch như doanh thu , lơ ̣i nhuâ ̣n, tổng tài sản,
Dựa trên tiêu chí đi ̣nh dạng văn bản : Hiê ̣n nay cùng với xu hướng phát triển
và yêu cầu chung của nền kinh tế cũng như mức độ hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ , đă ̣c biệt là internet thì thông tin tài chính cũng đươ ̣c trình bày , phổ biến dưới nhiều đi ̣nh da ̣ng văn bản khác nhau Có thể thấy , thông tin tài chính hiê ̣n nay được công bố dưới văn bản cứng (in, ấn, báo giấy, tạp chí, ) nhưng cũng có những thông tin tài chính được công bố dưới da ̣ng văn bản mềm (thông cáo báo chí về tính hình hoa ̣t đô ̣ng , tài chính của doanh nghiệp , tổ chức, cá nhân ) gửi qua email hoă ̣c thông tin tài chính cũng được công bố rô ̣ng r ãi trên các phương tiê ̣n thông tin đa ̣i chúng qua Website của các cơ quan , tổ chức, cá nhân
Dựa trên tiêu chí về hệ thống luật pháp và quản lý của nhà nước về tài
chính: Tính đến thời điểm hiện tại, với bối cảnh và điều kiện thực tiễn ở Việt Nam
thì hệ thống luật pháp được đánh giá là tương đối đầy đủ để hệ thống tài chính hoạt động Hiện đã có Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các Tổ
chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán
Dựa trên tiêu chí các côn g cụ tài chính: Thông tin tài chính dựa trên tiêu chí
này chủ yếu là những thông tin về các loại công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường như: các khoản cho vay của các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác ; trái
Trang 33phiếu chính phủ; trái phiếu kho bạc ; trái phiếu đô thị , trái phiếu công ty ; chứng chỉ tiền gửi; cổ phiếu, hợp đồng mua la ̣i chứng khoán,
Như vâ ̣y, có rất nhiều cách phân loại về thông tin tài chính trong giai đoạn hiê ̣n nay dựa trên các tiêu chí , công cu ̣ khác nhau Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của các thông tin tài chính vẫn là hướng đến công chúng , hướ ng đến người tiêu
chính trong từng giai đoạn cụ thể Thông tin tài chính trên báo chí phải đảm bảo đươ ̣c tính đa ̣i chúng , khách quan Do vâ ̣y, tác giả chọn cách phân loại thông tin tài chính theo lĩnh vực gồm lãi suất , tỷ giá, chứng khoán, lạm phát và nợ công để khảo sát thực tiễn trên báo điện tử ở Việt Nam trong phần tiếp theo của luận văn
Với chức năng không chỉ là thông tin mà báo chí còn phải làm nhiệm vụ định hướng dư luâ ̣n xã hô ̣i Với vai trò rất nha ̣y cảm của tài chính , thông tin tài chính có sức ma ̣nh lan tỏa rất sâu rô ̣ng , do vâ ̣y viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin tài chính là viê ̣c làm hết sức cần thiết
Cùng với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc
tế, thông tin kinh tế - tài chính ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trên tất cả các loại hình báo chí Báo chí viế t về thông tin kinh tế - tài chính hiện đang có những bước phát triển mạnh mẽ để khẳng định đúng tầm vóc , vị thế của mình, cũng như đáp ứng nhu cầu xã hội Báo chí lĩnh vực kinh tế - tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các diễn đàn cũng như khởi xướng các chương trình để góp phần xây dựng một nền tài chính quốc gia lành mạnh , phổ cập kiến thức tài chính , xây dựng một nền văn hoá tài chính đến với từng người dân, với mo ̣i tầng lớp xã hô ̣i
Nếu những năm đầu đổi mới , chỉ có mô ̣t và i tờ báo , trang thông tin thuộc lĩnh vực kinh tế , đến nay số lượng các cơ quan báo chí kinh tế chuyên ngành cũng như các trang thông tin kinh tế của các báo không chuyên ngành đã xuất hiện ngày càng nhiều Ví dụ: Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Tài chính Việt Nam, Thời báo Ngân hàng, Báo Đầu tư, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp, Báo Công thương, Thời
Trang 34báo Kinh tế Sài gòn, Báo Kinh tế Nông thôn, Tài chính - Đầu tư … cùng với các chương trình phát thanh, truyền hình chuyên biệt về kinh tế, tài chính như: VITV,
giờ…TS Nguyễn Thế Kỷ , Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương nhâ ̣n đi ̣nh rằng ,
“thông tin tài chính là cốt lõi, huyết mạch của thông tin kinh tế”[65] Nếu theo dõi nghị trường, các kỳ họp Quốc hội , các phiên họp của Chính phủ , các cuộc họp của Ban chấp hành Trung ương, sẽ thấy ngay vai trò của báo chí kinh tế - tài chính, đă ̣c biê ̣t là rất nhiều thông tin , chủ trương, chính sách đã được các nhà lãnh đạo quản lý tiếp thu, xử lý và cập nhật từ báo chí
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhấn mạnh : "Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính và tiền tệ, bảo đảm tính ổn định và sự phát triển bền vững của nền tài chính quốc gia" Như vâ ̣y, rõ ràng tài chính là một lĩnh vực rất nhạy cảm , nếu không có đối sách hợp lý và giải quyết kịp thời các vấn đề về tài chính nảy sinh thì hậu quả sẽ rất nặng nề, thậm chí
có thể gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế Theo đó, an ninh kinh tế, tài chính, tiền tệ là nền tảng và là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chiến lược an ninh quốc gia, đòi hỏi thông tin về những lĩnh vực trên phải công khai , minh ba ̣ch, thông tin chính thống và thống nhất trên toàn quốc , tránh gây ản h hưởng đến tâm lý của người dân, của các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư của thị trường tài chính và
hê ̣ thống ngân hàng
Trong khi đó , báo chí có trách nhiệm chuyển tải một cách nhanh chóng những sự thay đổi, biến chuyển trên thế giới trên cơ sở sử dụng những thiết bị công nghệ hiện đại để đưa những thông tin đa dạng , trong đó có cả những vấn đề về kinh
tế - tài chính Với chức năng không chỉ là thông tin mà báo chí còn phải làm nhiệm vụ định hướng dư luâ ̣n xã hô ̣i Do vâ ̣y, với một bài viết, chính nhà báo là những người cập nhật thông tin, giúp tạo ra những phản ứng trách nhiệm, tạo ra những quyết định chính xác, thông minh của mỗi người và cho toàn xã hội…
Bên ca ̣nh đó , hiê ̣n nền kinh tế đang hô ̣i nhâ ̣p ở mức c ao, người dân “ngâ ̣p lụt” trong các dòng chảy thông tin đa chiều Do vâ ̣y, báo chí kinh tế - tài chính cần
Trang 35đi ̣nh hướng thông tin , tạo dựng lòng tin cho độc giả và cũng là xây dựng tính chuyên nghiê ̣p, tạo vị trí vững chắc cho bá o chí kinh tế - tài chính với độc giả Tại Toạ đàm quốc tế với chủ đề “Mô hình báo chí kinh tế ở Việt Nam và Đức: diện mạo thông tin kinh tế trên báo chí truyền thông” do Khoa Báo chí và Truyền thông (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội ) kết hợp với Viện Konrad Adenauer Stiftung (Đức) tổ chức ngày 29/05/2013, TS Đặng Đức Long (Phó Tổng biên tập Thời báo Tài chính ) cho rằng , vấn đề chất lượng thông tin và tính chuyên nghiệp trong tác nghiệp của nhà báo viết về kinh tế tài chí nh cần phải đươ ̣c chú tro ̣ng, đă ̣c biê ̣t là ba đặc tính quan trọng nhất cần được đảm bảo của thông tin báo chí kinh tế - tài chính là “tính chính xác, phổ thông và khách quan”
Như đã nêu ở trên, mặc dù đã có một số văn bản quy định về công bố thông tin trong một số lĩnh vực nhưng một trong những khiếm khuyết đáng kể của hệ thống pháp luật hiện nay là thiếu quy định cụ thể về quy trình cũng như hình thức tiếp câ ̣n thông tin khi nhà báo có nhu cầu tiếp cận , tìm hiểu thông tin Thực tế, hiê ̣n chưa có văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t nào quy đi ̣nh cu ̣ thể về quy trình tiếp câ ̣n
thông tin tài chính của nhà báo , nhưng nền tảng cơ bản nhất để nhà báo có thể tiếp
câ ̣n thông tin tài chính vẫn là dựa trên những quyền cơ bản được quy đi ̣nh trong Hiến pháp, Luâ ̣t Báo chí , các quy định về việc tiếp cận thông tin và quy chế cung cấp thông tin cho báo chí hiê ̣n hành
Có thể nói , quy trình tiếp c ận thông tin tài chính của nhà báo hiện nay bao gồm những công viê ̣c sau:
Đề nghi ̣ cung cấp thông tin : Đối với thông tin về lĩnh vực kinh tế tài chính ,
nhà báo có thể yêu cầu cơ quan , tổ chức, cá nhân cung cấp những thông tin m à cơ quan hoă ̣c tổ chức , cá nhân đó phụ trách , phải công khai rộng rãi nhưng chưa được công khai hoă ̣c những thông tin đó không thuộc bí mật nhà nước Trên cơ sở đó , người cung cấp thông tin hay người phát ngôn sẽ trả lời hoă ̣c yêu cầu c ác đơn vị chức năng trả lời và cung cấp thông tin về lĩnh vực đã yêu cầu Trong mô ̣t số trường
Trang 36hơ ̣p khác, nhà báo có thể liên hệ trực tiếp với Phòng Báo chí để đặt vấn đề tiếp cận nguồn thông tin hoă ̣c yêu cầu cung cấp thông tin
Cách thức đề nghị cung cấp thông tin tài chính : Hiê ̣n nhà báo có nhiều cách
để tiếp cận hoặc đề nghị cung cấp thông tin tài chính
Một là, nhà báo có thể tiếp cận nguồn thông tin tài chính từ các chuyên gia
kinh tế tài chính , từ các cơ quan quản lý nhà nước , doanh nghiê ̣p , hiê ̣p hô ̣i kinh doanh, thông cáo báo chí hoă ̣c báo điê ̣n tử để lấy thông tin phu ̣c vu ̣ cho tác phẩm của mình
Hai là, nhà báo cũng có thể tiếp cận thông tin tài chí nh bằng cách yêu cầu
người cung cấp thông tin trả lời trực tiếp bằng lời nói qua điê ̣n thoa ̣i hoă ̣c trả lời trực tiếp ta ̣i tru ̣ sở cơ quan
Ba là, nhà báo cũng tiếp cận thông tin bằng cách đọc , xem, nghe, ghi chép,
sao chép, chụp, trích dẫn nội dung của hồ sơ , tài liệu hoặc qua mạng điện tử và một số hình thức hợp pháp khác
Bốn là, mô ̣t cách thức tiếp câ ̣n nguồn thông tin nữa là nhà báo có thể tiếp câ ̣n
những thông tin tài chính dưới da ̣ng văn bản cứng , đã được in ra hoă ̣c các văn bản mềm khác mà được gửi qua đường email, website, facebook,
Thời hạn đề nghi ̣ cung cấp thông tin tài chính: Nhà báo cũng có thể vận dụng
những quy đi ̣nh trong Luâ ̣t Báo chí , những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t trong viê ̣c cung cấp thông tin cho báo chí hoă ̣c Điều 3 của Nghị định số 51/2002/NĐ-CP quy đi ̣nh chi tiết thi hành Luâ ̣t Báo chí, Luâ ̣t sửa đổi bổ sung mô ̣t số điều của Luâ ̣t Báo chí để yêu cầu cơ quan , tổ chức thông báo kết quả và cung cấp thông tin cho nhà báo theo đúng thời gian mà pháp luâ ̣t đã quy đi ̣nh Cụ thể, khi cơ quan nhà nước , tổ chức Đảng, tổ chức xã hô ̣i và người có chức vu ̣ nhâ ̣n được ý kiến , kiến nghi ̣, phê bình, khiếu na ̣i của tổ chức, công dân, tố cáo của công dân do cơ quan báo chí chuyển đến hoă ̣c đăng, phát trên báo chí , trong thời ha ̣n 30 ngày, kể từ ngày nhâ ̣n được hoă ̣c từ ngày báo chí đăng , phát thì người đứng đầu tổ chức , người có chức vu ̣ phải thông báo cho cơ quan báo chí kết quả hoặc biện pháp giải quyết
Trang 37Như vậy, có nhiều cách để tiếp cận thông tin tài chính và nhà báo cần sử dụng linh hoạt, phối kết hợp, sáng tạo các phương pháp này để thực hiện nhiệm vụ của mình
1.4 Nguồn tin và việc sử dụng nguồn tin
Nguồn tin đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một nền báo chí nói chung, với các nhà báo nói riêng Hoạt động chính của nhà báo có thể coi như một vòng xoay quanh việc tìm kiếm, thiết lập, duy trì và phát triển các nguồn tin, để từ đó khai thác các thông tin phục vụ đông đảo công chúng
Nhiệm vụ của nhà báo là phải thu thập các thông tin về các sự kiện, vấn đề, quá trình hay một nhân vật nào đó để cung cấp cho công chúng của mình Nhà báo cần nhiều phương pháp để thu thập thông tin về hàng trăm, hàng ngàn sự kiện mà
họ không thể tận mắt chứng kiến Vì thế, khi ai đó hoặc điều gì đó giúp cung cấp cho nhà báo một thông tin, thì đó chính là nguồn tin Như vậy, nguồn tin có thể là người, các tài liệu, phim, băng lưu trữ, thư, sách, trang website , là bất cứ thứ gì giúp nhà báo tạo ra các câu chuyện, tin tức của mình [24]
Tiếp cận từ góc nhìn luật pháp về hoạt động cung cấp thông tin cho báo chí của cá nhân hay tổ chức, vấn đề nguồn tin của báo chí được điều chỉnh theo các văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Báo chí 1989; Luật Báo chí sửa đổi 1999; Luật Phòng chống tham nhũng; Nghị định 51/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Nghị định 159/2015/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí xuất bản; Nghị định 90/2013/NĐ-CP quy định trách nhiệm giải trình của CQNN trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Quyết định 25/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí Các văn bản nói trên đã tạo hành lang pháp lý căn bản để giúp nhà báo xác định các nguồn tin trong hoạt động tác nghiệp của mình cũng như có công cụ để điều chỉnh hành vi của mình trong quá trình tương tác với nguồn tin đó
Tiếp cận từ góc nhìn tác nghiệp báo chí, theo cẩm nâng trực tuyến dành cho các nhà báo chuyên nghiệp đươc tổ chức UNESCO hỗ trợ xuất bản trên trang
Trang 38thenewsmanual.net, có nhiều loại nguồn tin cho nhà báo nhưng có thể khái quát và chia thành 4 nhóm chính là nhà báo ; nhân vật, nhân chứng; các văn bản; công chúng Tuy nhiên, theo cuốn "News Reporting and Writing" của Melvin Mencher, một trong những giáo trình chính trong các khóa đào tạo nhà báo chuyên nghiệp trong các trường đại học trên thế giới hiện nay cho rằng, có 2 nguồn tin chủ yếu đó
là "người" và "vật"
Người gồm những người có chức năng nhiệm vụ , quyền hạn đối với sự kiện,
sự việc (cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội, đoàn thể, ) hoặc có liên quan đến sự việc (nhân chứng, người quen biết nhân vật , ) Vâ ̣t là các tài liệu được lưu trữ, các tài liệu tham khảo, văn bản, báo cáo điểm báo, thông tin trên mạng internet
và sự quan sát trực tiếp của nhà báo Thông tin này trong nhiều trường hợp có thể đáng tin cậy hơn các nguồn tin là con người nhưng vẫn không đảm bảo hoàn toàn chính xác và khách quan bởi nó có thể được ngụy tạo, hoặc tiết lộ ra ngoài bởi một mục đích nào đó của người cung cấp, hoặc đơn giản là sự quan sát chủ quan của nhà báo vẫn có thể phiến diện
Như vậy, có khá nhiều cách phân loại nguồn tin của nhà báo, nhưng một trong những nguyên tắc chung thống nhất của nhà báo khi khai thác thông tin là phải luôn kiểm chứng nguồn tin thật kỹ lưỡng bởi nguồn tin có vai trò vô cùng quan trọng đối với huyết mạch hay sự sống còn của hoạt động báo chí Bên cạnh đó, việc tạo dựng, nuôi dưỡng, phát triển để khai thác nguồn tin luôn là một trong những nhiệm vụ mà bất cứ nhà báo hay tòa soạn báo chí nào cũng phải lưu tâm
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả luận văn đã nêu ra cơ sở lý luận chung về vấn đề tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay Trong đó, luâ ̣n văn đã đề câ ̣p đến nguồn tin và viê ̣c sử du ̣ng nguồn tin , khái niệm tiếp cận thông tin , tiếp câ ̣n thông tin tài chính, sự cần thiết và yêu cầu đối với viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin tài chính của nhà báo
Trong phần khái niê ̣m tiếp câ ̣n thông tin, tác giả luận văn đã đưa ra khái niệm tiếp câ ̣n thông tin dưới hai góc đô ̣ là tiếp câ ̣n thông tin dưới góc nhìn luâ ̣t pháp và tiếp câ ̣n thông tin dưới góc nhìn báo chí Dưới góc nhìn luâ ̣t pháp , viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin đươ ̣c xem như là mô ̣t trong những quyền cơ bản của con người và được hiến pháp nhiều nước trên thế giới ghi nhâ ̣n như mô ̣t quyền dân sự , chính trị hợp pháp của con người Trên thế giới, quyền tiếp câ ̣n thông tin có nô ̣i dung rô ̣ng và để thực hiê ̣n quyền này , cá nhân có quyền tự do tìm kiếm thông tin , tự do tiếp nhâ ̣n thông tin và tự do phổ biến thông tin Tại Việt Nam, quyền đươ ̣c thông tin cũng đã đươ ̣c ghi nhâ ̣n trong văn bản “gốc” là hiến pháp Dưới góc nhìn báo chí , viê ̣c tiếp
câ ̣n, tiếp nhâ ̣n và xử lý thông tin là mô ̣t trong những bước quan trọng trong hoạt
đô ̣ng tác nghiê ̣p của nhà báo
Đối với báo chí, vấn đề chất lươ ̣ng thông tin và tính chuyên nghiê ̣p trong tác nghiê ̣p của nhà báo viết về kinh tế tài chính cần phải được đă ̣c biê ̣t chú tro ̣ng bởi an ninh kinh tế tài chính, tiền tệ là nền tảng và là cơ sở quan tro ̣ng cho viê ̣c hoa ̣ch đi ̣nh chiến lươ ̣c an ninh quốc gia , đòi hỏi thông tin về những lĩnh vực trên phải công khai, minh bạch tránh những “cú sốc” gây ảnh hưởng đến sự phát tr iển kinh tế tài chính trong nước Đây sẽ là cơ sở lý luâ ̣n chung để tác giả luâ ̣n văn thực hiê ̣n khảo sát và đánh giá thực trạng việc tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo hiện nay trong chương tiếp theo
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC TIẾP CẬN THÔNG TIN TÀI CHÍNH
CỦA NHÀ BÁO HIỆN NAY
điê ̣n tử từ tháng 1/2013 đến tháng 3/2014
Nội dung thông tin về tài chính được tác giả khảo sát, thống kê phân loại theo
5 chủ đề, bao gồm: lãi suất, tỷ giá, chứng khoán, lạm phát, nợ công với tổng số là
85 tin, bài trên một số báo điện tử Phương thức mà tác giả sử dụng là dùng công cụ tìm kiếm google để lọc những thông tin tài chính theo những từ khóa trên, sau đó bấm vào đường link để tìm đến những bài được đăng tải trên báo điện tử, phù hợp với nội dung và phạm vi thời gian được khảo sát
Với thông tin về lãi suất, tác giả nhận thấy đây là thông tin được đăng tải tương đối nhiều, phổ biến trên các báo điện tử với 26 tin, bài chiếm 30% nội dung thông tin tài chính mà tác giả khảo sát Hình thức được trình bày khá đẹp, dễ đọc và hầu hết đều có hình ảnh minh họa hấp dẫn trong khi thể loại được thể hiện chủ yếu
là dưới dạng bài, rất ít dạng tin Hướng tiếp cận nguồn tin của bài viết về lĩnh vực này được chia thành:
Tiếp cận thông tin từ chuyên gia
Đứng trên cương vị người gửi , trong bài phỏng vấn của tác giả Vũ Hạnh , Báo VOV online ngày 18/03/2014 với chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho thấy, nếu ha ̣ lãi suất thì người gửi sẽ chi ̣u thiê ̣t Ông Hiếu đưa ra tính toán của mình: Việc giảm 1% của lãi suất huy động đối với nhiều người là thiệt hại lớn Những người có số tiền nhỏ khoảng vài triệu đồng thì số tiền hụt đi không đáng kể, nhưng nếu họ có số tiền lớn khoảng 1 tỷ đồng thì tính ra mỗi tháng họ chịu thiệt 900.000 đồng/tháng, người nào có số tiền gửi khoảng 10 tỷ thì số tiền thiệt là 9 triệu đồng/tháng
Trên góc đô ̣ kinh doanh, viê ̣c các ngân hàng đua nhau phá rào lãi suất có khiến các ngân hàng bị thua thiệt hay không ?, với bài viết “Bí ẩn sau cuộc đua phá đáy lãi