1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của toàn cầu hóa đối với nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc

105 530 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiêu biểu là các công trình: “Vấn đề tam nông ở Trung Quốc: Thực trạng và giải pháp” do GS.TS Đỗ Tiến Sâm làm chủ nhiệm 2008; Tìm hiểu những giải pháp giải quyết vấn đề: nông nghiệp, n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THI ̣ NGỌC ANH

“TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN TRUNG QUÓC”

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội-2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THI ̣ NGỌC ANH

“TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN TRUNG QUÓC”

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu á ho ̣c

Mã số: 60 31 50

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Tiến Sâm

Hà Nội-2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Lí do chọn đề tài 3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

Phương pháp nghiên cứu 6

Lịch sử nghiên cứu: 6

Bố cục của đề tài 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN TRUNG QUỐC TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO .11

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 11

1.1.1 Toàn cầu hóa là gì: 11

1.1.2 Khái niệm WTO : 12

1.1.3 Khái niệm nông nghiệp, nông thôn và nông dân 12

1.2 TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP , NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN TRUNG QUỐC TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO. 15

1.2.1. Nông nghiê ̣p Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO 15

1.2.1.1 Thực tra ̣ng nông nghiê ̣p Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO 15

1.2.1.2 Hạn chế của nông nghiệp Trung quốc trước khi gia nhập WTO 21

1.2.2. Nông thôn Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO .22

1.2.2.1 Thực tra ̣ng nông thôn Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO 22

1.2.2.2.Một số vấn đề tồn ta ̣i của nông thôn Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO……….31

1.2.3.Nông dân Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO 34

1.2.3.1 Tình hình nông dân Trung quốc trướ c khi gia nhâ ̣p WTO 34

1.2.3.2 Vấn đề nông dân công tại Trung quốc 37

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ WTO ĐẾN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VÀ ĐỐI SÁCH CỦA TRUNG QUÓC 40

2.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ WTO ĐẾN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TRUNG QUỐC 40

2.1.1 Tác động tích cực của toàn cầu hóa và WTO đến nông nghiệp , nông thôn Trung quốc 40

Trang 4

2.1.2 Những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và WTO đến nông nghiệp và

nông thôn Trung quốc 49

2.1.3 Ưu thế và thành tựu của Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO 55

2.2 NÔNG NGHIỆP , NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN SAU KHI GIA NHẬP WTO 59

2.2.1 Những thay đổi về mă ̣t chính sách 59

2.2.2 Nông nghiệp – nông thôn Trung quốc sau khi gia nhâ ̣p WTO 62

KẾT LUẬN 75

1 NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 75

2 KẾT LUẬN 77

PHỤ LỤC:

Văn kiê ̣n số 1

Báo cáo về nông nghiệp - nông thôn sau 10 năm gia nhập của đồng chí Hán Trương Phú và Ngưu Đôn

Trang 5

vâ ̣y viê ̣c nghiên cứu vấn đề nông nghiê ̣p và nông thôn là vấn đề quan tro ̣ng đối với các quốc gia xuất phát từ gốc nông nghiệp như Việt Nam và Trung quốc

Theo xu hướ ng phát triển của nền kinh tế toàn cầu , viê ̣c gia nhâ ̣p vào nền kinh tế thế giới , thìch nghi với những thay đổi của quá trính toàn cầu hóa sẽ là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới Với năm đă ̣c trưng nổi bâ ̣t nhất bao gồm: Sản xuất, mâ ̣u di ̣ch, đầu tư, tiền tê ̣ và sự nhất thể hóa kinh tế khu vực , toàn cầu hóa đã trở thành đă ̣c trưng nổi bâ ̣t nhất của của tiến tr ính phát triển kinh tế thế giới Với mô ̣t nước có quy mô lớn trên thế giới cả về mă ̣t diê ̣n tích và dân số , hơn thế la ̣i có tầm ảnh hưởng không nhỏ trên pha ̣m vi toàn cầu , thí việc Trung quốc chủ

đô ̣ng mở cửa gia nhâ ̣p vào quá trình toàn cầu hóa là mô ̣t trong những chiến lược , chình sách quan tro ̣ng của chính phủ Trung quốc Mô ̣t trong những mốc quan tro ̣ng đánh giá sự chủ đô ̣ng gia nhâ ̣p vào quá trình toàn cầu hóa này của Trung quốc đó chình là sự kiện Trung quốc gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 11/12/2001 WTO hoạt động với tính chất một diễn đàn cho các cuộc thương lượng mậu dịch đa phương, tím kiếm các giải pháp xử lý tranh chấp thương mại, giám sát các chình sách thương mại quốc gia và hợp tác với các thiết chế quốc tế

1

Trích từ: Thông tin những vấn đề lý luận, số 4 (2004), trang 29

Trang 6

khác liên quan tới hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu Với chức năng như trên thực tế trong thời gian tồn tại của mính WTO đã đóng góp đáng kể vào thúc đẩy tự

do hoá thương mại toàn cầu, đẩy nhanh hơn nữa quá trình toàn cầu hóa kinh tế Tình đến ngày 02/03/2013, WTO đã thu hút được 150 trên 203 quốc gia trên thế giới tham gia Với số lượng đông đảo thành viên cũng như chức năng và mu ̣c đích của mính, có thể nói việc gia nhập WTO giúp tất cả các quốc gia thành viên của WTO không những mở cánh cửa bước vào quá trình toàn cầu hóa về mă ̣t thương mại mà còn hòa mính vào quá trính toàn cầu hóa về mặt kinh tế - xu hướng đầu tiên và rõ rệt nhất trong quá trính toàn cầu hóa đang diễn ra tại nhiều phương diện trên toàn thế giới

Theo quy luâ ̣t chung đó , khi toàn bô ̣ nền kinh tế Trung quốc gia nhâ ̣p vào quá trính toàn cầu hóa , thí nền nông nghiệp và nông thôn Trung quốc cũng không ngoại lệ Mă ̣c dù, toàn cầu hóa đã đem đến không ìt lợi thế cho Trung quốc , nhưng bên ca ̣nh đó cũng mang la ̣i không ít khó khăn Trong đó, chịu ảnh hưởng về mặt tiêu cực nhiều hơn là mă ̣t tích cực phải nói đến tác đô ̣ng của toàn cầu hóa đến lĩnh vực nông nghiê ̣p và nông thôn – hai vấn đề đối nô ̣i khá nha ̣y cảm ta ̣i quốc gia hơn

mô ̣t tỉ dân này Nếu coi viê ̣c gia nhâ ̣p WTO như mốc mở cánh cửa cho Trung quốc hòa nhập vào toàn cầu hóa kinh tế, thí chúng ta có thể thấy rất rõ rằng, trước khi gia nhâ ̣p WTO, nông nghiệp Trung Quốc vẫn chưa đạt tới trính độ hiện đại hóa và bảo đảm sự phát triển bền vững, đồng thời tồn ta ̣i nhiều yếu điểm so với nền nông nghiê ̣p của các nước phát triển Ví vậy , nông nghiê ̣p là mô ̣t trong những vấn đề Trung quốc quan tâm lo lắng nhất trước khi gia nhâ ̣p WTO Sau khi gia nhâ ̣p, WTO không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiê ̣p mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nông thôn và nông dân Trung quốc, vốn là mô ̣t khu vực chiếm số lượng không nhỏ về nhân khẩu và số lao đô ̣ng trong tổng số dân cư của nước này Chình ví các lý do trên mà viê ̣c tìm hiểu tác đô ̣ng của viê ̣c gia nhâ ̣p WTO đến nền nông nghiê ̣p , nông thôn và nông dân Trung quốc trở thành mô ̣t vấn đề quan tro ̣ng và cấp bách của nước này nhằm đưa ra các giải pháp giải quyết , hạn chế yếu điểm và tăng sức cạnh tranh khi gia nhâ ̣p vào nền kinh tế toàn cầu

Trang 7

Tình từ ngày 11/12/2001 cho đến nay (năm 2012), trải qua hơn 10 năm gia nhâ ̣p tổ chức WTO , Trung quốc đã giải quyết tương đối tốt các vấn đề liên quan đến nông nghiệp , nông thôn và nông dân Trung quốc Nhờ đó nông nghiê ̣p , nông thôn, nông dân Trung quốc đã có những thành tựu nổi bâ ̣t , xóa bỏ được những lo ngại hoài nghi trước đó về sức cạnh tranh của nông nghiệp sau khi gia nhập WTO Tất nhiên bên ca ̣nh những thành tựu đa ̣t được , nông nghiê ̣p Trung quốc cũng còn tồn ta ̣i những vấn đề ha ̣n chế cần được giải quyết Bởi lẽ gia nhâ ̣p WTO luôn là con dao hai lưỡi, nó có thể mang lại cơ hội nhưng cũng đặt ra không ìt thách thức cho các nước thành viên

Chình ví mối dây liên hệ mật thiết giữa toàn cầu hóa kinh tế , cụ thể hơn là toàn cầu h óa về mặt thương mại với WTO, nên trong pha ̣m vi he ̣p của luâ ̣n văn , học viên muốn đưa ra một cách tiếp cận mới về tác động của toàn cầu hóa đến nông nghiê ̣p và nông thôn Trung quốc thông qua nghiên cứu những tác đô ̣ng và thay đổi trong nông nghiê ̣p, nông thôn Trung quốc trước – sau khi gia nhâ ̣p WTO Còn riêng đối với Viê ̣t Nam, do chúng ta đi sau Trung quốc trong tiến trình hô ̣i nhâ ̣p nền kinh tế toàn cầu Ví vậy, viê ̣c nghiên cứu về những tác đô ̣ng sau khi gia nhâ ̣p WTO đến nền nông nghiê ̣p , nông thôn và nông dân Trung quốc, sẽ giúp cho Việt Nam cách nhín tổng thể về ba vấn đề lớn của Trung quốc , từ đó rút ra những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m cho Viê ̣t Nam sau khi gia nhâ ̣p Ví lý do trên , học viên đã lựa chọn đề tài :

“Tác động của toàn cầu hóa đối với nông nghiê ̣p và nông thôn Trung quốc” làm

đề tài luận văn, đồng thời đi sâu phân tích những thay đổi trước và sau khi gia nhâ ̣p vào WTO của nông nghiệp, nông thôn Trung quốc để làm rõ vấn đề này

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác động của toàn cầu hóa đối với nông nghiê ̣p, nông thôn Trung quốc Tuy nhiên do bản thân vấn đề toàn cầu hóa là vấn đề có pha ̣m vi tương đối rô ̣ng , hơn thế đối với vấn đề này vẫn chưa đi đến những thống nhất cu ̣ thể về mă ̣t lý luâ ̣n Ví vậy, luâ ̣n văn chỉ đi sâu nghiên cứu tác

đô ̣ng của mô ̣t phần qu an tro ̣ng đồng thời có thể nhìn thấy cu ̣ thể , rõ ràng tại các

Trang 8

nước đó là toàn cầu hóa về mă ̣t kinh tế Trong đó, đi sâu nghiên cứu về vấn đề toàn cầu hóa về mă ̣t thương ma ̣i , hay cu ̣ thể hơn đó là tính hính nông nghiệp, nông thôn Trung quốc trong chă ̣ng đường 10 năm gia nhâ ̣p vào tổ chức Thương ma ̣i quốc tế WTO Bằng việc đi vào mô ̣t khía ca ̣nh cu ̣ thể của toàn cầu hóa , với giới ha ̣n thời gian cu ̣ thể, học viên hy vọng sẽ thông qua nội dung mang đến cách nhín tương đối khái quát về tác động của toàn cầu hóa về mă ̣t thương ma ̣i đối với vấn đề nông nghiê ̣p và nông dân ta ̣i Trung quốc Trong đó, đề tài sẽ đi sâu phân tìch những tác

đô ̣ng trực tiếp (vì dụ: thay đổi trong cơ cấu xuất nhâ ̣p khẩu sản phẩm nông nghiê ̣p , thay đổi về cơ cấu cây trồng ) cho đến những tác đô ̣ng gián tiếp dẫn đến viê ̣c nhà nước Trung quốc phải tâ ̣p trung đẩy ma ̣nh hơn nữa đầu tư cho khu vực nông

nghiê ̣p, nông thôn , cụ thể hơn nữa là người nông dân để tăng sức ca ̣nh tranh của nông nghiê ̣p Trung quốc trong quá trình hô ̣i nhâ ̣p Đồng thời thông qua đó giải quyết những hê ̣ lu ̣y về mă ̣t xã hô ̣i mang la ̣i sau khi gia nhâ ̣p vào nền kinh tế toàn

cầu đã và đang diễn ra ta ̣i khu vực nông nghiê ̣p, nông thôn

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp phân tìch và tổng hợp tài liệu, so sánh nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

Lịch sử nghiên cứu:

Viê ̣t Nam và Trung quốc là hai quốc gia có nền kinh tế gốc nông nghiệp Trong lịch sử cũng chứng minh , các cuộc cách mạng diễn ra tại Việt Nam và Trung quốc đều có sự đóng góp không nhỏ của tầng lớp nông dân Ví vậy, giải quyết tốt vấn đề nông nghiê ̣p, nông thôn và nông dân sẽ giải quyết tốt vấn đề lớn về đối nô ̣i Năm

2001 Trung quốc gia nhập vào tổ chức thương ma ̣i thế giới WTO, năm 2006 Viê ̣t Nam mớ i gia nhâ ̣p muô ̣n hơn so với Trung quốc 5 năm Có thể nói, gia nhâ ̣p vào tổ chức kinh tế thế giới WTO đánh dấu m ột mốc phát triển quan trọng đối với tất cả các nước thành viên Tại Viê ̣t Nam và Trung quốc – nơi nông nghiê ̣p còn đóng vai

Trang 9

trò khá quan trọng trong nền kinh tế đất nước thí việc gia nhập WTO sẽ tác động như thế nào đến đời sống nông dân , nông thôn và nông nghiê ̣p là vấn đề trăn trở không chỉ riêng của Đảng và chí nh phủ Đây còn là đề tài thu hút được sự quan tâm không nhỏ của giới nghiên cứu , đánh giá Ví vậy có thể nói , đề tài viết về nông nghiê ̣p, nông thôn và nông dân trước và sau khi gia nhâ ̣p không phải là mô ̣t đề tài mới Thâ ̣m chí còn là mô ̣t vấn đề nóng, thu hút đông đảo sự quan tâm của giới ho ̣c thuâ ̣t Trung quốc, quốc tế cũng như Viê ̣t Nam

Về mă ̣t chính phủ , nhân di ̣p kỷ niê ̣m tròn 10 năm Trung quốc gia nhâ ̣p vào tổ chức thương ma ̣i thế giới WTO , Trung quốc đã tổ chức: “Diễn đàn cao cấp 10 năm Trung quốc gia nhâ ̣p Tổ chức thương ma ̣i thế giới„ với quy mô lớn nhất trong vòng

10 năm qua Tại diễn đàn , bài diễn văn của chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào đã có những đánh giá khái quát quan tro ̣ng về tình hình Trung quốc sau 10 năm gia nhâ ̣p Cùng với các hoạt động kỷ niệm, mô ̣t loạt các chuyên đề, bài báo đăng tải tại Trung quốc, Viê ̣t Nam và thế giới đã cung cấp cho người đo ̣c cái nhìn tương đối tổn g quát và toàn diện về sự thay đổi của Trung quốc sau khi gia nhâ ̣p tổ chức thương ma ̣i thế giới WTO Trang http://www.chinanews.com/cj/z/WTO10/index.shtml có thể coi như mô ̣t chuyên đề như thế Trong số đó có hai bản báo cáo đi sâu về vấn đề nông nghiê ̣p, nông dân Đó là: Bản báo cáo của đồng chì Hán Trương Phú – Bô ̣ trưởng

bô ̣ nông nghiê ̣p Trung quốc (2012), báo cáo trước quốc vụ viện Trung quốc về: 入世十年与中国农业发展 (Tạm dịch : Nông nghiê ̣p Trung quốc phát triển sau 10 năm gia nhập WTO ) và bản báo cáo của đồng chì Ngưu Đôn - Phó Bộ trưởng bộ

nông nghiê ̣p Trung quốc (2012), báo cáo trước Quốc vụ viện Trung quốc về: 中国农业入世十周年回顾与展望 (Tạm dịch: Nông nghiê ̣p Trung quốc nhìn lại sau 10 năm gia nhập WTO và triển vọng ) Hai bản báo cáo đã đưa ra đánh giá khái quát

cùng những con số cụ thể về tính hính phát triển nông nghiệp của Trung quốc sau

10 năm gia nhập , như: “Tổng giá tri ̣ giao di ̣ch nông sản Trung quốc tăng gấp 3.4 lần từ 27,94 tỉ USD năm 2001 lên thành 121,99 tỉ USD vào năm 2010 Trong đó, tổng giá tri ̣ nhâ ̣p khẩu nông sản tăng từ 11,85 tỉ USD lên thành 72,57 tỉ USD, tăng 2,1 lần Mườ i tháng đầu năm nay , tổng giá tri ̣ xuất nhâ ̣p khẩu nông sản của Trung

Trang 10

quốc đa ̣t 123 tỉ USD, đã vượt qua tổng giá tri ̣ xuất nhâ ̣p khẩu nông sản của cả năm trước, tăng lên 29% so với cùng kỳ năm ngoái Dự kiến, trong năm nay sẽ vượt lên mức 140 tỉ USD „ (Trìch nguồn: Tạm dịch bài phát biểu của đồng chì Hán Trương Phú) Thông qua các tư liê ̣u tham khảo trên có thể nói Trung quốc đã xử lý khá tốt vấn đề nông nghiê ̣p – nông thôn và nông dân sau khi gia nhâ ̣p WTO

Nhằm ho ̣c hỏi kinh nghiê ̣m nước ba ̣n , hạn chế những sai lầm , yếu kém, bên phìa Việt Nam cũng có một loạt những hoạt động và hội thảo kèm theo có liên quan đến vấn đề nông nghiệp , nông thôn, nông dân trước và sau gia nhâ ̣p Mô ̣t trong những hô ̣i thảo có tín h chuyên sâu về vấn đề này là hô ̣i thảo ngày 24-25 tháng 9 năm 2007 tại Hà Nội và ngày 27-28 tháng 9 tại thành phố Hồ Chí Minh, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam cùng Chương trính hỗ trợ kĩ thuật sau WTO của Chính phủ tổ chức Đây là hô ̣i thảo khoa học mang tính quốc tế, chủ yếu đề cập nội dung:

Trung Quốc 5 năm sau gia nhập WTO và chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam Tại

hô ̣i thảo, các chuyên gia Trung quốc đã trình bầy cá c bài viết thông qua 5 phiên chuyên đề Trong đó, bài viết của TS Trình Quốc Cường (Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện) trình bày về nông nghiệp Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO đã cung cấp nhưng thông tin chi tiết và có giá tri ̣ về tính hính nông nghiệp Trung quốc sau khi gia nhâ ̣p WTO Ngoài bài tham luận của TS Trính Quốc Cường, mô ̣t loa ̣t các bài tham luâ ̣n có giá tri ̣ khác đã được Viê ̣n nghiên cứu Trung quốc dịch và biên tập , xuất bản Thông qua nô ̣i dung các bài tham luâ ̣n người đo ̣c có thể tím hiểu nhiều vấn đề khác nhau của nền kinh tế Trung quốc trước và sau khi gia nhâ ̣p WTO Thâ ̣m chí còn có thể biết được chính sách, tác động cụ thể từ những

vì dụ thực tế sinh động tại các địa phương điển hính của Trung quốc Riêng với vấn

đề nông nghiệp, nông thôn, các học giả Trung quốc đã đem đến nhiều bài tham luâ ̣n có giá trị tham khảo cao về nông nghi ệp, nông thôn Trung quốc cả trước và sau khi gia nhâ ̣p Đồng thời cũng đi sâu chi tiết vào các chế độ , chình sách vì dụ như chình sách bảo hiểm y tế – xã hội dành cho người nông dân

Về mă ̣t xuất bản , phìa Việt Nam đã có cá c công trình nghiên cứu , đề tài trong nước có giá tri ̣ Các tác phẩm này đã đ ược in thành sách , có ảnh hưởng lớn trong

Trang 11

giới nghiên cứu Tiêu biểu là các công trình: “Vấn đề tam nông ở Trung Quốc: Thực trạng và giải pháp” do GS.TS Đỗ Tiến Sâm làm chủ nhiệm (2008); Tìm hiểu những giải pháp giải quyết vấn đề: nông nghiệp, nông thôn và nông dân Trung Quốc hiện nay của ThS Bùi Thị Thanh Hương, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1, 2007; Một số vấn đề về hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc

do TS Nguyễn Minh Hằng chủ biên (2003); Nông dân Trung Quốc: Thực trạng bất đối xứng so với người dân thành thị của TS Hoàng Thế Anh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 1 năm 2008

Do đề tài : “Tác động của toàn cầu hóa đối với nông nghiê ̣p và nông thôn Trung quốc” là một vấn đề tương đối khó , phạm vi bao hàm tương đối rộ ng Ví

vâ ̣y, khi tiến hành thu thâ ̣p tài liệu hoàn thành luận văn , ngoài những tài liệu kể trên, còn cần phải tím hiểu một lo ạt các tài liệu liên quan đến việc điều chỉnh chình sách kinh tế và những chình sách riêng đối với vấn đề tam nông trước và sau khi gia nhâ ̣p Các tài liệu liên quan đến các nội dung như : vấn đề bán phá giá trong nông nghiê ̣p, khái niệm về WTO , các quy tắc của tổ chức cũng là nguồn cung cấp thông tin hữu ích cho đề tài Về phần này, có thể tham khảo các nguồn như : từ điển mở wikipedia, các tác phẩm xuất bản của Phòng thương mại và công ng hiê ̣p Viê ̣t Nam, cơ quan kiểm toán Hoa Kỳ

Bên ca ̣nh tài liê ̣u mang tính khái niê ̣m và tổng quát , những nghiên cứu chuyên sâu như: George C S Lin (2011) Đề tài: Xây dựng không gian đô thị hóa ở Trung

Quốc: chuyển dạng trên cơ sở đô thị mới và lấy đất làm trung tâm; Thương vụ Viê ̣t

Nam (2011) Báo cáo về : Sản xuất nông nghiệp của Trung quốc; Tư ̀ Vĩ - Chuyển

dịch sức lao động dư thừa ở nông thôn và vấn đề viê ̣c làm của nông dân Trung quốc Bản dịch Viện nghiên cứu Trung quốc; Phạm Quang Diệu – Trung tâm thông

tin, Bộ nông nghiê ̣p và PTNT Đề tài: Nông nghiê ̣p, nông thôn Trung quốc trong

bối cảnh hội nhập WTO và bài học với nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam đã đem la ̣i những số

liê ̣u, thông tin chi tiết, cụ thể và khá mới về sự biến đổi của nông nghiệp , nông thôn, nông dân Trung quốc trướ c và sau khi gia nhâ ̣p WTO

Bên ca ̣nh những nguồn tài liê ̣u chính thống, thí mô ̣t loa ̣t các dữ liê ̣u cung cấp từ

Trang 12

các bài báo mạng, báo giấy, các bài viết trên các chuyên trang của bộ nông nghiệp ; các tác phẩm phi chình thống cũng là những tài liệu mang lại cái nhín mới , câ ̣p nhâ ̣t số liê ̣u mới ch o vấn đề nông nghiê ̣p , nông thôn và nông dân Ngoài ra , tuy chiếm mô ̣t phần nhỏ không nhiều , nhưng các luâ ̣n văn có liên quan đến vấn đề nông nghiê ̣p , nông thôn cũng là nguồn dữ liê ̣u bổ sung giúp chúng ta có cái nhìn hoàn thiện hơn về nông nghiê ̣p, nông thôn và nông dân sau gia nhâ ̣p

Có thể nói , tài liệu nghiên cứu về vấn đề nông nghiệp nông thôn và nông dân khá đa dạng , phong phú về mă ̣t đề tài ; sâu sắc về mă ̣t nô ̣i dung ; chi tiết về mă ̣t số liê ̣u Những tài liệu đó không chỉ trở thành lượng tài liệu có giá trị tham khảo cao với luâ ̣n văn mà còn giúp người đo ̣c biết thêm nhiều hiểu biết sâu hơn nữa về vấn

đề nông nghiệp , nông thôn và nông dân Thông qua quá trình sàng lo ̣c , xắp xếp và phân tích dữ liê ̣u sẽ đưa ra mô ̣t phần nào đó sự tác đô ̣ng của toàn cầu hóa lên nông nghiê ̣p, nông thôn và nông dân Trung quốc sau khi gia nhâ ̣p WTO

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và Kết luận, đề tài gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về nông nghiệp – nông thôn và nông dân Trung Quốc trước khi gia nhập WTO

Chương 2: Tác động của việc gia nhập WTO đến nông nghiệp – nông thôn – nông dân và đối sách của Trung quốc

Chương 3: Nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm

Trong quá trình thực hiê ̣n luâ ̣n văn sẽ không tránh được khỏi những thiếu sót, ví vậy người viết mong được tiếp nhận thêm nhiều ý kiến đóng góp Nhân di ̣p này, học viên cám ơn sự hướng dẫn nhiê ̣t tình của thầy hướng dẫ n cũng như các cán bộ bên Viê ̣n nghiên cứu Trung quốc đã cung cấp tài liê ̣u để hoàn thành luận văn này

Trang 13

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VÀ NÔNG

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

1.1.1 Toàn cầu hóa là gì:

Thuật ngữ Toàn cầu hoá xuất hiện vào những năm 1950, với sự phổ biến

các phương tiện vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi thương mại; và được chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 của thế kỷ 20 Về mă ̣t khái niê ̣m ,

cụm từ Toàn cầu hóa theo như đi ̣nh nghĩa của ủy ban Châu Âu năm 1997 là: “Toàn

cầu hóa có thể được đi ̣nh nghĩa như là mô ̣t quá trính mà thông qua đó thi ̣ trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau „ Với

đi ̣nh nghĩa này có thể hiểu , cụm từ Toàn cầu hóa dùng để miêu tả các thay đổi

trong xã hô ̣i và trong n ền kinh tế th ế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v trên quy mô toàn cầu

Nếu hiểu theo nghĩa he ̣p về mă ̣t kinh tế , khái niệm “Toàn c ầu hóa kinh tế” hay “thương ma ̣i tự do” đươ ̣c hiểu như là sự gia tăng v ề quan hệ giữa các thành viên của một ngành công nghiệp ở các khu vực khác nhau trên thế giới (toàn cầu hoá một nền kinh tế) ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia trong phạm vi kinh tế Còn

khái niệm toàn cầu hóa theo nghĩa rộng là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa

các quốc gia và các cá nhân Sự phụ thuộc qua lại có thể xảy ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, công nghê ̣, môi trường, văn hóa, xã hội Ở phương diện này, khái niệm toàn cầu hóa nhiều khi được dùng để nói đ ến vai trò mờ nhạt của ý niệm nhà nước và biên giới quố c gia Khi đó, có thể hiểu Toàn cầu hóa như việc hướng tới xây dựng mô ̣t “ngôi làng toàn cầu” và mô ̣t “nền văn minh toàn cầu”

Trang 14

Ở đây , chúng ta chỉ xem xét sự tác độ ng của “Toàn cầu hóa đến nông nghiê ̣p, nông thôn và nông dân Trung quốc” theo nghĩa he ̣p , đó là sự tác đô ̣ng của toàn cầu hóa kinh tế , cụ thể hơn là toàn cầu hóa thương mại Trong đó đi sâu phân tìch vào tác động sau khi Trung quốc chình thức gia nhập vào tổ chức thương ma ̣i thế giới WTO, mở ra mô ̣t cánh cửa mới vào quá trình hô ̣i nhâ ̣p nền kinh tế toàn cầu

1.1.2 Khái niệm WTO:

WTO có tên đầy đủ là Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade

Organization) Tổ chức này được thành lập và hoạt động từ 1/1/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minh bạch Tổ

chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi Hiệp định chung

về Thương mại và Thuế quan - GATT 1947 (chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá)

và là kết quả trực tiếp của Vòng đàm phán Uruguay (bao trùm các lĩnh vực thương

mại hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư).2

1.1.3 Khái niệm nông nghiê ̣p , nông thôn

Tại các quốc gia khác , ba khái niê ̣m nông nghiê ̣p , nông thôn và nông dân thường được tách ra , nhưng riêng ta ̣i Trung quốc , ba khái niê ̣m này được gô ̣p la ̣i gọi tắt thành “Tam nông” Và cũng xuất phát từ Trung quốc, khái niệm “tam nô ng” thay thế cho nông nghiê ̣p , nông dân và nông thôn được sử du ̣ng trong các tài liê ̣u liên quan đến vấn đề này ta ̣i Viê ̣t Nam Về mô ̣t khía ca ̣nh nào đó , khi gô ̣p ba khái niê ̣m la ̣i với nhau thành mô ̣t tên chung sẽ giúp rút ngắn tên g ọi ba khái niệm, đồng thời cũng khiến người đo ̣c dễ nhâ ̣n biết tên go ̣i “Tam nông” là tên go ̣i tắt của nông nghiê ̣p, nông dân và nông thôn Ngoài việc tiện lợi khi sử dụng , khái niệm “Tam nông” đươ ̣c các ho ̣c giả dùng mô ̣t phần có thể còn do mô ̣t lý do khác Đó là khi go ̣i

gô ̣p thành “Tam nông” bản thân nó đã thể hiê ̣n mối liên kết chă ̣t chẽ , thậm chí nhiều khi khó phân biê ̣t ra ̣ch ròi giữa ba pha ̣m trù : nông nghiê ̣p, nông dân và nông

2

Theo “Hệ thống ngắn gọn về WTO và các cam kết gia nhập của Việt Nam” do Phòng thương mại và công nghiệp Việt

Trang 15

thôn Bở i nói đến nông nghiê ̣p người ta sẽ nghĩ đến nông dân và nông thôn , nói đến nông dân sẽ không thể tách ho ̣ ra khỏi nông nghiê ̣p và nơi ho ̣ sinh sống , cũng như nói đến nông thôn không ai lại không đề cập thêm , nghĩ đến nông ngh iê ̣p và nông dân Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn có những định nghĩa riêng để phân biệt chúng với nhau Trong đó:

Theo định nghĩa về mă ̣t kinh tế, Nông nghiệp là một khái niệm chỉ ngành nghề hay sản nghiệp, đối lập với nó là công nghiệp, dịch vụ ở đây, nông nghiệp là tên gọi chung của những ngành lấy đất đai, mặt nước, đồng cỏ làm tư liệu sản xuất chủ yếu Nông nghiệp có hai đặc điểm khác với các ngành nghề khác: Một là, quá trình sản xuất của nó chịu sự chi phối của tài nguyên thiên nhiên; hai là, sản nghiệp

có sự ngắt quãng theo dây chuyền, nông nghiệp chỉ là khâu sản xuất trung gian, còn các khâu trước và sau sản xuất không thuộc phạm trù nông nghiệp Nó là sản nghiệp cơ sở (nền tảng) của các sản nghiệp thứ hai (công nghiệp), sản nghiệp thứ

ba (dịch vụ); là sản nghiệp đầu tiên cho sự sinh tồn của cư dân, là sản nghiệp chính của nông dân3 Nông nghiệp cũng được chia ra làm: Nông nghiê ̣p thuần nông (nông nghiê ̣p sinh nhai ) và nông nghiệp chuyên sâu Như vâ ̣y, nông nghiê ̣p là mô ̣t pha ̣m trù chủ yếu để chỉ ngành nghề hay sản nghiệp Do nông nghiê ̣p chủ yếu dựa vào thiên nhiên để sản xuất , nên nông nghiệp chi ̣u sự chi phố i của tài nguyên thiên nhiên và làm nền tảng cho các ngành kinh tế khác

Nếu nông nghiê ̣p là khái niê ̣m c hủ yếu chỉ về ngành nghề thí nông thôn lại là khái niệm nghiêng về sự phân định về mặt lãnh thổ “Nông thôn đươ ̣c hiểu là là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn.”4 Đối

lâ ̣p với khái niê ̣m nông thôn là thành thi ̣

Theo Đại từ điển tiếng Viê ̣t : “Nông dân là người sống bằng nghề làm ruô ̣ng”, một khái niệm nói về thân phận hay nghề nghiệp Riêng ở Trung quốc, khái niê ̣m nông dân la ̣i gắn liền với hô ̣ khẩu Những người được gọi là “nông dân” là những quần thể lấy hô ̣ khẩu của bố me ̣ làm tiêu chí phân biê ̣t Và theo đó , khái

3Đỗ Tiến Sâm, 2008 Vấn đề tam nông ở Trung Quốc - Thực trạng và giải pháp.

4

Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT

Trang 16

niê ̣m nông dân không bao gồm những người lao đô ̣ng nông nghiê ̣p tuy cư trú ở nông thôn nhưng la ̣i làm các nghề trồng tro ̣t, chăn nuôi

Tại các nước phương Tây, nông nghiê ̣p – nông thôn – nông dân đươ ̣c tách ra nghiên cứu mô ̣t cách riêng rẽ Ví vậy, ở các nước phương Tây không có khái niệm về “Tam nông” và lý luâ ̣n về “Tam nông” Có thể nói khái niệm “Tam nông ” là khái niệm riêng của Trung quốc, “là sự khái quát các cách nhín khác nhau đối với một vấn đề đồng nhất, là ba hình thức biểu hiện khác nhau của cùng một vấn đề”5 Theo Giáo sư Lục Học Nghệ , khái niệm này bắt đầu manh nha khi Trung quốc tiến hành cải cách mở cửa, chuyển đổi mô hình kinh tế từ kinh tế kế hoạch truyền thống sang kinh tế thị trường XHCN Trong quá trình chuyển đổi , sự chênh lê ̣nh giữa nông thôn với thành thi ̣ , mối liên hê ̣ phức ta ̣p giữa nông nghiê ̣p và công nghiê ̣ p cùng một loạt các vấn đề khác đã đưa nông nghiệp , nông thôn và nông dân trở thành ba vấn đề cần được giải quyết cùng một lúc , không thể đơn thuần giải quyết riêng rẽ mô ̣t vấn đề Chình ví vậy, khi nghiên cứu về nông nghi ệp, phải nghiên cứu

cả nông thôn và nông dân Khoảng năm 1988, 1989 bắt đầu có những bài viết nghiên cứu tổng hợp cả ba vấn đề này và ngày càng nhiều hơn Cuối cù ng chính các nhà báo đã khái quát cả ba vấn đề trên thành k hái niệm chung với tên gọi tắt là

“Tam nông” Nhưng mãi đến tâ ̣n những cu ối những năm 1990 và đầu những năm

2000 các cơ quan hoạch định chình sách ở Trung quốc mới tiếp nhận khái niệm này Đồng thời khái niệm đó cũng được xã hội đồ ng thuận, sử du ̣ng cho đến ngày nay Tuy nhiên, bên cạnh những ý kiến ủng hô ̣ , vẫn có những ý kiến cho rằng nên tách riêng rẽ cả ba khái niệm , không gô ̣p la ̣i thành mô ̣t để nghiên cứu Cho dù có nhiều ý kiến trái chiều khác nhau, nhưng không thể không phủ nhâ ̣n mối quan hê ̣ chă ̣t chẽ và tác đô ̣ng qua la ̣i giữa nông nghiê ̣p – nông thôn – nông dân Khi nghiên cứu tác đô ̣ng của việc gia nhập WTO đến mô ̣t trong ba vấn đề kể trên thì người nghiên cứu vẫn phải xem xét trong mối quan hê ̣ với các hai vấn đề còn la ̣i Ví vậy, trong quá trình nghiên cứu , nông dân vẫn được đă ̣t trong tổng thể các vấn đề liên quan đến nông thôn để nghiên cứu chứ không nghiên cứu mô ̣t cách ra ̣ch ròi và đơn

5

Trang 17

thuần các vấn đề chỉ liên quan đến hai khái niê ̣m nông nghiê ̣p – nông dân

Làn sóng WTO đã đổ vào Trung quốc, cuốn theo những thay đ ổi lớn trong nông nghiê ̣p , kéo theo đó sẽ là những thay đổi tại khu vực nông thôn và tác động trực tiếp đến người nông dân Nhưng những tác đô ̣ng của nó không phải là tác đô ̣ng chỉ trước và ngay sau khi gia nhập Trên thực tế những tác đô ̣ng và thay đ ổi đó là

mô ̣t quá trình phát triển kéo dài trong tiến trình bi ̣ đô ̣ng và chủ đô ̣ng gia nhâ ̣p vào toàn cầu hóa về mặt kinh tế của Trung quốc Sự tác đô ̣ng của toàn cầu hóa kinh tế đã bắt đầu từ sau khi kết thúc chiến tranh la ̣nh Tuy nhiên, trước và sau khi gia nhâ ̣p WTO – mốc đánh dấu sự mở cửa chủ đô ̣ng và hoàn toàn của Trung quốc vào nền kinh tế toàn cầu , thí những vấn đề , những tác đô ̣ng mới được thể hiê ̣n rõ nét cũng như đươ ̣c nghiên cứ u nhiều cu ̣ thể hơn bao giờ hết Ví vậy, nghiên cứu tác đô ̣ng của WTO trong mối quan hệ tổng thể giữa cả ba vấn đề , đó cũng chính là nghiên cứu những tác đô ̣ng của quá trình toàn cầu hóa đến nông nghiê ̣p – nông thôn Trung quốc Đó cũng chính là mục đìch mà luâ ̣n văn muốn nghiên cứu và giải quyết

QUỐC TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO

1.2.1 Nông nghiê ̣p Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO

1.2.1.1 Thư ̣c tra ̣ng nông nghiê ̣p Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO

Trung quốc cũng như nhiều quốc gia châu Á khác đều là các nước có văn hóa gốc nông nghiệp , là xã hội nông nghiệp và nền sản xuất cổ truyền cũng là nền sản xuất nông nghiệp Chình ví vậy , tình chất nông nghiê ̣p nông thôn thể hiê ̣n rõ nét trong nền văn hóa của các nước phương Đông nói chung và Trung quốc nói riêng Đồng thời nông nghiệp cũng có tầm ảnh hưởng lớn tại các nước này Hơn thế nữa, Trung quốc còn là một trong những nước có chế đô ̣ phong kiến tồn ta ̣i lâu đời nhất ta ̣i châu Á, và đi kèm với chế độ phong kiến là nền sản xuất nông nghiệp thâm

Trang 18

căn cố đế từ lâu đời Cũng chình do sự tồn ta ̣i mô ̣t thời gian dài trong chế đô ̣ ph ong kiến, mà nền nông nghiệp Trung quốc bên ca ̣nh những thành tựu rực rỡ đã đa ̣t đươ ̣c, cũng có những mặt yếu kém , lạc hậu hơn so với nhiều nước khác trên thế giới

Những cải cách của Đă ̣ng Tiểu Bình đã mang la ̣i sự thay đ ổi to lớn cho nền kinh tế Trung quốc Quá trính công nghiệp hóa , đô thị hóa diễn ra khá ma ̣nh ta ̣i Trung quốc đã góp phần đưa Trung quốc từ nước “thuần nông” đi lên theo con đường hiê ̣n đa ̣i hóa Nhưng đă ̣c điểm đầu tiên chúng ta có thể dễ dàng nhâ ̣n thấy đó là, nông nghiê ̣p vẫn chiếm mô ̣t vi ̣ trí khá quan tro ̣ng trong nền kinh tế quốc dân của Trung quốc, đồng thời cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của không ít ho ̣c giả và chình quyền Trung quốc khi gia nhâ ̣p WTO

Vào năm 2001, thời điểm trước khi gia nhâ ̣p WTO , đóng góp của nền nông nghiê ̣p Trung quốc vào tổng thu nhập quốc dân trong ha i năm 1978 và 1980 là 28.1% và 30.1% Đồng thời, trong hai năm này số lao đô ̣ng tham gia vào hoa ̣t đô ̣ng sản xuất nông nghiệp chiếm 70.5% (năm 1978) và 68.7% (năm 1980) Về mă ̣t dân số nông dân chiếm 82.1% (năm1978) và 80.6% (năm 1980) trong tổng dân số Trung quốc (xem bảng 1.1) – mô ̣t con số tương đối cao trong giai đoa ̣n này Từ đó có thể thấy, nông nghiê ̣p không những đóng góp mô ̣t phần không nhỏ vào tổng thu nhâ ̣p quốc dân, mà còn thu hút một lượng lớn lao độn g và dân số Nếu theo con số kể trên, có thể nói Trung quốc ngay sát trước mốc gia nhâ ̣p vào nền kinh tế toàn cầu hóa, vẫn là mô ̣t nước “thuần nông” Ví vậy , chỉ cần những tác động nhỏ tới nền nông nghiê ̣p nước này, nó cũng đủ để ảnh hưởng đến mô ̣t bô ̣ phâ ̣n lớn cư dân cũng như nền kinh tế Trung quốc Điều đó càng thể hiê ̣n rõ hơn nữa tầm quan tro ̣ng của vấn đề nông nghiê ̣p , nông thôn và nông dân trước thềm gia nhâ ̣p vào nền kinh tế toàn cầu

Bảng 1.1: Nông nghiệp trong kết cấu kinh tế Trung Quốc (%)

Trang 19

Nguồn: Niên giám thống kê Trung Quốc

Tuy nhiên, nền nông nghiệp Trung quốc có phải là nền nông nghiê ̣p có sức cạnh tranh lớn và là động lực thúc đẩy nền kinh tế Trung quốc trên bàn cờ kinh tế thế giới hay không, đó la ̣i là vấn đề khác mà chúng ta sẽ bàn tiếp sau ngay đây

Không thể phủ nhâ ̣n được rằng, sau 20 năm cải cách và mở cửa, ngành nông nghiệp Trung Quốc đã có những bước phát triển mạnh theo hướng đa dạng hoá ngành nghề và nâng cao năng suất lao động thông qua việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như những hình thức quản lí và kinh doanh mới (khoán sản phẩm, phát triển các xí nghiệp hương trấn…) Tốc độ tăng trưởng sau cải cách của nông nghiệp nước này khá ổn định , đă ̣c biê ̣t trong giai đoa ̣n đầu của thờ i kỳ cải cách (1978-1984), tốc đô ̣ tăng trưởng trong nông nghiê ̣p đa ̣t mức cao ở mức 7.1% (xem bảng 1.2) Tuy vậy, cùng với tốc độ phát triển chóng mặt của ngành công nghiê ̣p và di ̣ch vu ̣ (luôn duy trì ở mức hơn 8% sau cải cách ), trên thực tế ở Trung Quốc, nông nghiệp vẫn chưa thực sự được chú trọng đúng mức Tốc độ phát triển đó hoàn toàn không tương xứng với mô ̣t nền kinh tế chiếm tỉ tro ̣ng tới hơn 70% lao

đô ̣ng cùng hơn 80% dân số của nước này

Bảng 1.2 : Tỷ lệ tăng trưởng của các ngành kinh tế chủ chốt Trung Quốc thời

kỳ 1970 -2000 (đơn vị : % hàng năm)

Trước cải cách (1970-1978)

Thời kỳ cải cách 1979-1984 1985-1995 1996-2000

Trang 20

14 tỷ USD, chi cho nghiên cứu và phát triển nông nghiệp mới chiếm 0,9 % ngân sách Nhà nước (trong khi đó công nghiệp nhận 55%)6

Năm 2002, mốc một năm sau khi gia nhâ ̣p WTO, nhà nước đầu tư 580 tỷ NDT (70 tỷ USD) trong ngành giáo dục, nông thôn chỉ nhận được 23% trong khi nông dân còn chiếm tớ i 61% dân số Trong năm 2004, nông nghiệp chỉ đóng góp 15% cho GDP trong khi công nghiệp

và dịch vụ đóng góp 53% và 32% So với năm 1978, tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp cho GDP giảm đi gần phân nửa (28%) Cán cân thương mại nông nghiệp cũng bị thâm hụt đến 4,6 tỷ USD trong năm 2004 (28 tỷ nhập khẩu, 23,4 tỷ xuất khẩu)7

Có thể nói rằng, tốc độ tăng trưởng châ ̣m của nông nghiê ̣p và những yếu kém của nó đã lộ rõ điểm yếu và bất lợi của nền nông nghiệp Trung quốc trong những năm đầu hòa nhâ ̣p vào nền kinh tế toàn cầu Đó cũng là điều được dự đoán trước cho nền nông nghiê ̣p Trung quốc

Trung quốc là một nước có dân số đông , nhưng diện tích đất phu ̣c vu ̣ cho nông nghiê ̣p la ̣i ít so với dân số Hơn thế, trong mô ̣t thời gian dài , do chính sách kinh tế ưu tiên phát triển công nghiê ̣p và l ấy nông nghiệp nuôi công nghiệp đã khiến cho diê ̣n tích đất canh tác vốn ít ỏi của nước này phải chia sẻ mô ̣t phần không nhỏ cho quá trính công nghiệp hóa và đô thị hóa Theo nhà nghiên cứu Vương Thục Trinh trong tác phẩm : “Cơ sở kinh tế xã hội đặc thù của hiện đại hoá nông

6

Theo Báo Quốc tế

7

Trang 21

nghiệp Trung Quốc”, và tác giả Bạch Dược Thế trong bài viết : “Phân tìch việc lựa chọn con đường hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc”, Nxb Khoa học xã hội Trung Quốc, 2004 đã viết: Nếu tình theo đầu người thì hiện nay diê ̣n tích đất trồng trọt bính quân theo đầu người tại Trung quốc chỉ có 0,08 ha, không bằng 1/2 mức trung bình của thế giới Một số tỉnh ven biển Trung Quốc, diện tìch đất trồng trọt tình theo đầu người chỉ chưa đầy 0,04 ha, dưới tuyến cảnh cáo 0,053 ha theo quy định của Liên Hợp Quốc Tình theo đầu người, lượng nước trên mặt đất là 2.700 m3, không bằng 1/10 mức bình quân của thế giới, diện tìch đồng cỏ chỉ bằng 1/2 mức bình quân thế giới Đất trồng trọt của Trung Quốc có tới 2/3 là loại có sản lượng trung bình hoặc thấp, độ màu mỡ nhìn chung vào loại kém so với thế giới

Trong khi diê ̣n tích đất canh tác bình quân theo đầu người vốn đã thấp , thí diê ̣n tích đất này ngày càng bi ̣ thu he ̣p do quá trình công nghiê ̣ p hóa và đô thi ̣ hóa chóng mặt tại Trung quốc Vào thời kỳ chuyển đổi kinh tế , đất nông nghiê ̣p đã đươ ̣c trưng thu để phát triển đô thi ̣ và dùng cho các dự án phi nông nghiê ̣p Theo thống kê, trong cả nước có 5500 khu khai phát các cấp các loại, chiếm tới 35.000 km2 đất, vượt diện tích tỉnh Hải Nam, trong đó có nhiều khu khoanh lại, bỏ hoá không sử dụng Do việc đất nông nghiê ̣p bi ̣ đem sử du ̣ng cho mu ̣c đích khác dẫn đến tính trạng tại Trung Qu ốc hiện có 40 triệu nông dân bị mất ruộng đất.8

Số người này ở trong tình tra ̣ng được go ̣i mô ̣t cách vắn tắt là “bốn không” : Không ruô ̣ng đất, không viê ̣c làm, không vốn liếng , không an sinh xã hô ̣i Đây là một con số không nhỏ , trở thành một vấn đề nóng và phức tạp của Trung quốc Thêm vào đó, dân số Trung quốc không ngừng tăng , đă ̣c biê ̣t là dân số sống ta ̣i nông thôn Trong “Báo cáo về tính hính đất và nước” do Viện Khoa học xã hội Trung Quốc thực hiê ̣n đã dự đoán, những năm 20 – 30 của thế kỷ 21, số dân Trung Quốc sẽ lên đến 1,5 tỷ người, lúc đó diện tìch đất canh tác bính quân theo đầu người sẽ giảm xuống chỉ còn 0,08 ha, nước chỉ có 1.800 m3 Theo giáo sư Lu ̣c Ho ̣c Nghê ̣ , năm

1997, Cục đất đai nhà nước đã xác định tổng số đất canh tác của Trung Quốc là 1,95 tỷ mẫu Năm 2004 còn 1,84 tỷ mẫu Các nhà lãnh đạo Trung quốc vẫn từ ng tự

8 “Vấn đề tam nông của Trung Quốc- Nhìn lại và triển vọng”, Nxb Khoa học xã hội Trung Quốc 2004.

Trang 22

hào rằng Trung Quốc dùng 7% đất đai, nuôi sống được 22% dân số, nhưng từ thống

kê tư liê ̣u của các trang báo quốc tế cho thấy: Trong năm 2004, Trung quốc có 130 triệu hec-ta đất đai trồng trọt trong đó có 101,6 triệu dành cho ngũ cốc và 108 triệu hec-ta không trồng trọt Phần đất trồng trọt còn lại (28,4 triệu hec-ta) dành cho rau cải, cây có dầu, bông, mìa vv…9 Tuy lượng dân số sống ở nông thôn chiếm tới 80% dân số cả nước (theo bảng 1), nhưng la ̣i ha ̣n chế về mă ̣t trình đô ̣ sản xuất , nên càng tăng thêm gánh nă ̣ng cho nông nghiê ̣p Trung quốc

Nông nghiệp Trung Quốc vừa bị chia nhỏ lại vừa kém cơ giới hoá, gồm có

200 triệu hộ đa số là gia đình Bình quân, mỗi hộ chiếm một mẫu Trung Hoa (bằng 1/15 hec-ta hay 666 thước vuông) Về mặt năng suất, năng suất nông nghiê ̣p Trung quốc còn rất kém không đạt đến 5 tấn/hec-ta, kém hẳn hơn 10 lần so với các nước

Âu - Mỹ Vì vậy, người nông dân Trung Quốc chỉ nuôi được từ 3 đến 4 người so với 65 người ở Đức, 75 người ở Hoa Kỳ và 160 người ở Đan Mạch.10 Mặc dù bài báo kể trên chỉ đề cập đến một số con số cơ bản , nhưng nó cũng cung cấp cho chúng ta một vì dụ thực tế thể hiện rõ những bất lợi về mặt diện tìch canh tác cũng như năng suất so của nông nghiệp Trung quốc so với các nước khác trên thế giới

Có thể nói với diện tìch đất canh tác hạn hẹp, dân số khu vực nông thôn và lao đô ̣ng tham gia vào nông nghiê ̣p đông , thêm vào đó là năng suất không cao ; trước khi nghĩ đến viê ̣c có thể cạnh tranh với nền nông nghiệp các nước tiên tiến khác thí việc làm thế nà o để sản xuất đủ lương thực nuôi sống ngay chính nông dân Trung quốc chình là vấn đề Chình phủ Trung quốc phải suy nghĩ đầu tiên

Hơn thế, để đạt được tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp , về mă ̣t chính sách, Chình phủ Trung quốc đã thực thi nhiều chính sách bảo hô ̣ cho nền nông nghiê ̣p nước này Sau khi gia nhâ ̣p WTO , các chình sách bảo hộ theo lộ trính cũng phải dần dần được dỡ bỏ khiến cho nông nghiệp Trung quốc mất đi mô ̣t chỗ dựa , cũng như tăng thêm áp lực cho nền nông nghiê ̣p nước này sau khi gia nhâ ̣p

9

Theo Peskin-Info số 8-2006

10

Trang 23

1.2.1.2 Hạn chế của nông nghiệp Trung quốc trươ ́ c khi gia nhâ ̣p WTO

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu , nhưng nông nghiệp Trung quốc vẫn còn tồn tại không ìt vấn đề Chình vì vâ ̣y , nó đã trở thành vấn đề thu hút sự qua n tâm lo lắng của C hình phủ Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p vào tổ chức WTO Bản thân ông Chu Dung Cơ – Thủ tướng Quốc vụ viện Trung quốc vào thời điểm đó cũng đã thừa nhận cho rằng, gia nhâ ̣p WTO , điều khiến ông lo lăng nhất là nông nghiê ̣p Những ha ̣n chế của nông nghiê ̣p Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO thể hiê ̣n ở những điểm như sau:

Thứ nhất, giá cả nhiều loại sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc cao hơn

so với giá trung bình của thế giới do chi phí sản xuất cao, cơ sở hạ tầng yếu kém Kể từ đầu những năm 1990, giá cả các hàng nông sản Trung Quốc liên tục tăng với tốc độ khoảng 10%/năm , khiến giá cả nhiều sản phẩm như tiểu mạch, ngô, đậu, bông…đều cao hơn giá thế giới 20% đến 70% Nhìn chung chỉ có thịt lợn, hoa quả, thuốc lá là tương đối có ưu thế, nhiều loại nông sản còn lại của Trung Quốc thiếu sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế11

Thứ hai, sau một thời gian dài có tác động tích cực tới việc tạo công ăn việc

làm và tăng thu nhập cho nông dân, các xí nghiê ̣p hương trấn với quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ và máy móc lạc hậu, năng suất thấp đang dần trở nên kém hiệu quả, gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường cũng như tạo gánh nặng đối với ngân sách địa phương

Thứ ba, hàng nông sản trong nước khó tiêu thụ, thu nhập của nông dân tăng

chậm Tỷ lệ tăng thu nhập ròng của nông dân nước này đã giảm từ 9% năm 1996 xuống còn 4,3% năm 1998 và 2,1% năm 2000 Sự giảm sút trong thu nhập kéo theo

sự giảm sút trong chi tiêu, kể cả chi tiêu cho sản xuất lẫn cho tiêu dùng Điều này

có ảnh hưởng tiêu cực đến việc mở rộng thị trường nội địa, đến sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường thế giới và đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế

11

Theo Thông tấn xã Việt Nam (2006) , Tin kinh tế quốc tế (17/9/2006)

Trang 24

Thứ tư, do chịu tác động mạnh từ quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hoá, nên tài nguyên nông nghiệp Trung quốc ngày càng khan hiếm, môi trường nông nghiệp ô nhiễm nặng nề…

Hạn chế điểm yếu, phát huy thế mạnh để nền nông nghiệp thìch ứng tốt với những thay đổi sau khi gia nhâ ̣p WTO là vấn đề Trung quốc phải giải quyết

1.2.2 Nông thôn Trung quốc trươ ́ c khi gia nhâ ̣p WTO

1.2.2.1 Thư ̣c tra ̣ng nông thôn Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO

Khi nói về nền nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam , mọi người thường lấy hình ảnh lũy tre làng và cổng làng để thể hiê ̣n sự tách biê ̣t và khép kín của nông thôn với bên ngoài Nhờ vâ ̣y, nông thôn Viê ̣t Nam mới giữ được nhiều né t cổ truyền và ít thay đổi so với các khu vực khác Tuy nhiên nông thôn Trung quốc lại không thể lấy những hính ảnh như vậy để so sánh Trung quốc là một nước rộng lớn có diện tìch lớn thứ 4 thế giới sau Nga, Canada và Hoa Kỳ Đi ̣a hình Trung quốc cũng khá phức tạp, chủ yếu chia ra làm hai nửa với hai dạng địa hính khác nhau : Phìa Đông vùng duyên hải chủ yếu là các vùng bình nguyên phì nhiêu , đồi núi, các sa mạc và thảo nguyên cùng các khu v ực cận nhiệt đới Nửa phía Tây là các cao nguyên và các khối núi Do đi ̣a hình rô ̣ng lớn và phức ta ̣p như vâ ̣y nên Trung quốc có điều kiện phát triển cả trồng trọt và chăn nuôi Nhưng cũng chính sự cách biê ̣t về đi ̣a hình đó cũng dẫn đến sự khác biệt khá rõ rệt giữa các vùng nông thôn thuộc các khu vực khác nhau của Trung quốc Hơn nữa, do diê ̣n tích quá lớn , trính độ phát triển giữa các vùng miền chênh l ệch nhau cũng khá lớn Thêm vào đó là chình sách khoanh vùng phát triển của Trung quốc càng làm cho sự chênh lệch giữa các vùng nông thôn trở nên rõ nét hơn bao giờ hết Hay nói cách khác , nông thôn Trung quốc có

“đă ̣c trưng phát triển nông thôn theo vùng”

Hiê ̣n tại Trung quốc có ba khu vực với trính độ phát triển khác nhau , cụ thể chia ra làm : miền Đông, miền Tây, miền Trung Trong đó phát triển nhất là m iền đông Đây là vùng duyên hải, giàu có nhất Trung quốc Ở đây quá tập trung phát

Trang 25

triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và các khu đô thị lớn.Việc phát triển miền Đông Trung Quốc được ưu tiên đầu tư thực hiện vào đầu thời kỳ cải cách những năm 70 và đến tận những năm 90 của thế kỉ 20 Miền Tây là vùng nghèo nàn và lạc hậu nhất Trung Quốc Đầu những năm 90 thế kỉ 20, để giảm bớt khoảng cách vùng, Trung Quốc đưa ra chiến lược đại khai phá miền Tây Miền Trung là vùng có mức

độ phát triển trung bình ở Trung Quốc, có điều kiện sản xuất nông nghiệp Miền Trung được tập trung đầu tư những năm đầu thế kỉ 21, tuy nhiên đây là vùng vẫn còn rất lạc hậu, nhiều địa phương vẫn còn nghèo khổ như giai đoạn đầu cải cách Chình do sự khác biệt này giữa các vùng miền , nên trong chính sách phát triển nông thôn, Chình phủ Trung quốc cũng đưa ra cá c chính sách phát triển khác nhau Đối với khu vực miền Đông trong những năm 80 và 90 của thế kỷ 20, Trung quốc

tâ ̣p trung vào phát triển ma ̣nh cơ sở ha ̣ tầng , xóa đói giảm nghèo Những vùng này chủ yếu chuyển dịch ma ̣nh từ sả n xuất nông nghiê ̣p sang các sản nghiê ̣p phi nông nghiê ̣p, đồng thời đẩy ma ̣nh phát triển thương ma ̣i với quy mô cả trong và ngoài nước Do vâ ̣y, nông thôn ở đây có nhiều bước chuyển mình , thay da đổi thi ̣t so với các khu vực khác Đồng thời với quá trình đô thi ̣ hóa, công nghiê ̣p hóa, ngành di ̣ch vụ cũng tăng khá mạnh ở khu vực này Về hình thức kinh doanh , miền Đông chủ yếu đẩy ma ̣nh phát tri ển ma ̣ng lưới các doanh nghiê ̣p nhỏ , kinh doanh hô ̣ gia đình ,

ưu tiên phát triển doanh nghiê ̣p đầu rồng Đồng thời nhà nước cũng hỗ trợ các công

ty xuất khẩu ta ̣o đầu ra cho sản phẩm Về sản phẩm, nông nghiê ̣p vùng này không chú trọng vào sản xuất rau và hoa quả mà đẩy mạnh nuôi tr ồng, đánh bắt hải sản Nhưng chính tốc đô ̣ phát triển chóng mă ̣t của khu vực miền Đông đã khiến cho nông thôn ở khu vực này chi ̣u nhiều hê ̣ lu ̣y Thời kỳ đầu cải cách, do sử du ̣ng công nghê ̣ la ̣c hậu, thiếu ý thức bảo vê ̣ môi trường nên nhiều vùng nông thôn bi ̣ ô nhiễm

nă ̣ng nề Ngoài ra do viê ̣c cắt giảm đất nông nghiê ̣p mô ̣t cách nghiêm tro ̣ng phu ̣c vu ̣ cho quá trình đô thi ̣ hóa nông thôn , nên nông thôn khu vực này bi ̣ biến đổi ma ̣nh

mẽ, bản sắc văn hóa và không gian văn hó a nông thôn bi ̣ lung lay Số lươ ̣ng cư dân sống ở nông thôn rơi vào tình tra ̣ng “b ốn không” (không đất đai, không việc làm, không vốn liếng, không an sinh xã hội) tương đối nhiều Chình ví vậy, đối vớ i nông

Trang 26

dân quá trình công nghiê ̣p hóa và hiê ̣n đa ̣i hóa không mang la ̣i điều hay , ngược la ̣i còn đem lại nhi ều điều dở Sự phân cách giầu nghèo trong vùng , thâ ̣m chí ngay trong khu vực nông thôn ở miền Đông cũng trở nên rõ nét hơn bao giờ hết

Nếu khu vực miền Đông là bứ c tranh của sự chuyển mình ma ̣nh mẽ , đi liền với nó là sự xâm chiếm của đô thi ̣ và nông nghiê ̣p dần b ị bóp chẹt, thí miền Tây lại là bức tranh ảm đạm v ề mô ̣t khu vực nghèo nàn nhất Trung quốc Khi nhận ra sự chênh lê ̣ch quá lớn giữa miền Đông và miền Tây , Chình phủ Trung quốc đã đưa ra chình sách “khai phá miền Tây” Trong đó , tâ ̣p trung đầu tư vốn mở rô ̣ng giao thông, cơ sở ha ̣ tầng dân sinh , hạ tầng sản xuất…Khu vực này đư ợc ưu tiên tâ ̣p trung cho sản x uất nông nghiê ̣p , thâ ̣m chí còn lâ ̣p cho riêng nơi này các cơ quan chuyên trách về nông nghiê ̣p Nông nghiê ̣p mi ền Tây cũng chỉ tâ ̣p trung vào trồng trọt và chăn nuôi Do trang thiết bi ̣ phu ̣c vu ̣ nông nghiê ̣p của khu vực này còn khá lạc hâ ̣u, nên Trung quốc chủ yếu tâ ̣p trung đầu tư cho đổi mới công nghê ̣ Bên ca ̣nh đó, Nhà nước còn đưa ra các chính sách khuyến khích thu hút nhân tài về miền Tây làm việc bằng các chế đô ̣ ưu đãi khác nhau Bên ca ̣nh đó , Nhà nước cũng đ ầu tư vào sản xuất phi nông nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động , chủ yếu là các ngành khai thác , xây dựng v v Những chính sách nêu trên đã thổi m ột làn gió mới cho khu vực nông thôn miền Tây Tuy nhiên, khu vực này cũng không thể giảm mức chênh lệch so với miền Đông trong một sớm một chiều Điều đáng chú ý là chính ở nơi ít bi ̣ quá trình đô thi ̣ hóa và công nghiê ̣p hóa đu ̣ng tới này , không gian nông nghiê ̣p và văn hóa nông nghiê ̣p vẫn còn giữ vữn g Tuy nhiên, do tiếp cận với thông tin mới của người dân miền Tây khá ha ̣n chế , thâ ̣m chí ho ̣ ít giao lưu và thu thập thông tin từ bên ngoài Điều đó sẽ tạo thành mô ̣t rào cản cho công cuô ̣c gia nhâ ̣p vào tiến trính toàn cầu hóa của Trung quốc trong lĩnh vực nông nghiê ̣p , nông thôn và nông dân

Khu vực cuối cùng luận văn đề câ ̣p đến là khu vực miền Trung Khu vực này có mức phát triển cao hơn miền Tây nhưng l ại thấp hơn nhiều so với miền Đông Khi phát hiê ̣n ra sự chênh lê ̣ch ngày càng lớn giữa các vùng miền, Chình phủ Trung quốc bắt đầu chú ý tâ ̣p trung đầu tư vào khu vực miền Trung và miền Tây Một

Trang 27

trong những chính sách quan tro ̣ng tác đô ̣ng đến khu vực miền Trung là chính sá ch

“kế hoa ̣ch miền Trung tr ỗi dậy” (中部崛起计划) đươ ̣c Thủ tướng Ôn Gia Bảo đưa

ra vào năm 2004 Chình sách này được thực hiện lần thứ nhất trong kế hoa ̣ch 5 năm lần thứ 11, tâ ̣p trung chủ yếu vào các nô ̣i dung sau : Dựa trên các nền tảng vốn có, nâng cao đa da ̣ng hóa sản nghiê ̣p kinh tế , thúc tiến quá trính công nghiệp hóa và mở rô ̣ng thi ̣ trấn ; đẩy ma ̣nh nông nghiê ̣p theo hướng hiê ̣n đa ̣i hóa , đă ̣c biê ̣t là xây dưng khoanh vùng sản xuất lương thực , đẩy ma ̣nh xây dự ng cơ sở ha ̣ tầng nông nghiê ̣p, tăng khả năng sản xuất nông nghiê ̣p, đẩy ma ̣nh quá trình gia công sản phẩm nông nghiê ̣p Đồng thời bên cạnh đó cũng thúc đẩy xây dựng cơ bản cho ngành khai thác than, trạm điện, đẩy ma ̣nh quá trình điều tiết cơ cấu các sản phẩm có ưu thế như gang thép, hóa chất công nghiệp, kim loa ̣i mầu, vâ ̣t liê ̣u xây dựng, đưa khu vực miền Trung thành khu vực cung cấp nguyên liê ̣u chất lượng cao Ngoài ra chình sách còn ưu tiên phát triể n ngành sản xuất kỹ thuâ ̣t cao và ngành chế ta ̣o cho khu vực miền Trung Đồng thời đưa ra kế hoạch đầu tư ưu tiên vào cơ sở hạ tầng giao thông thuâ ̣n tiê ̣n cho viê ̣c đi la ̣i và vâ ̣n chuyển , hoàn thiện thể chế thị trường tại khu vực này Mục đìch chình của việc phát tri ển miền Trung chủ yếu nhằm ta ̣o thành cầu nối giữa miền Đông và miền Trung Sau khi thực hiê ̣n nó s ẽ đem la ̣i mô ̣t

bô ̣ mă ̣t nông thôn mới cho khu vực này Có thể nói , nông thôn miền Trung l à sự dung hòa hình ảnh của nông thôn miền Tây và nông thôn miền Đông Tuy tốc đô ̣ phát triển và đời sống có cao hơn miền Tây nhưng nhín chung mi ền Trung vẫn thấp và tồn tại nhiều vấn đề

Như phần trên đã đề câ ̣p , trong mô ̣t thời gian dài Chính phủ Trung quốc tâ ̣p trung vào phát triển các khu công nghiê ̣p và đô thi ̣ ; chình ví vậy tại nông thôn Trung quốc, quá trính đô thị hóa diễn ra khá mạnh , và rõ nét hơn nhiều quốc gia khác

Tác giả George C.S.Lin khi nghiên cứu về xây dựng không gian đô thi ̣ hóa của Trung quốc đã chỉ ra rằng : Năm 2000, Trung quốc đã tiến hành cuô ̣c điều tra dân số, kết quả cho thấy “m ột dạng tăng tốc độ đô thị hóa ở một quy mô và tốc độ chưa từng có tại quốc gia này và không giống với bất kỳ nơi nào trên trái đất”

Trang 28

Cuộc điều tra đã xác định tổng dân số đô thị là 456 triệu người và mức độ đô thị hóa đạt mức 36%, con số này được cho là “gần sát với thực tế” Cũng theo nhà nghiên cứu này, “tốc độ tăng dân số thành thị của Trung Quốc gần như là gấp ba và mức độ đô thị hóa gần gấp đôi.” Trong khi đó , trong vòng 30 năm cải cách tính từ năm 1987 trở đi mức độ đô thị hóa chỉ tăng nh ẹ từ 11% lên 18%, thí việc mức độ

đô thi ̣ hóa tăng lên đến tâ ̣n 36% đây là mô ̣t con số đáng giâ ̣t mình ta ̣i quốc gia này Hơn thế mốc năm 2000 cũng là mốc trước khi Trung Qu ốc gia nhâ ̣p chính thức vào WTO Ngoài ra điểm khác biê ̣t giữa nông thôn Trung quốc với nông thôn các nước khác là sự biến đổi của mô ̣t bô ̣ phâ ̣n lớn khu vực nông thôn trở thành thành thi ̣, kéo theo đó là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n không nhỏ cư dân nông thôn thành cư dân thành thi ̣ Sức hút của các thành phố cùng với một số chình sách thúc đẩy luồng di cư từ nông thôn ra thành phố đã khiến cho Trung quốc xuất hiê ̣n mô ̣t khái niê ̣m khá mới là

“nông thôn trống”- mô ̣t hiê ̣n tươ ̣ng khá thú vi ̣ mà luận văn sẽ đề câ ̣p đến trong phần sau

Trong chính sách phát triển của Chính phủ Trung quốc, chình sách phát triển theo vùng mi ền được thể hiê ̣n khá rõ nét Riêng đối với các thành phố lớn , nhằm tăng sức ca ̣nh tranh và thế ma ̣nh cho các thành phố lớn trong công cuô ̣c toàn cầu hóa, Chình phủ Trung quốc kể từ năm 1990 đã áp du ̣ng chiến lược “l ấy đất đai làm trung tâm” trong quá trính “tạo ra không gian” và “xúc tiến không gian” phát triển cho khu vực đô thi ̣ Trong đó, đô thi ̣ lấy phát tri ển các thành phố làm trung tâm , đồng thời mở rộng ra ngoài hệ thống đường vành đai và lập các khu công nghệ và kinh tế tại các khu vực ngoại ô thành phố Cùng với sự mở rộng của các đô thị , đặc biê ̣t là các thành phố lớn , mô ̣t phần lớn đất canh tác nông nghiê ̣p đã tr ở thành đất phi nông nghiê ̣p phu ̣c v ụ cho nhu cầu mở rộng diện tìch c ảu các khu đô thi ̣ Thêm vào đó , Chình phủ Trung quốc đã tâ ̣p trung thúc đẩy quá trình công nghiê ̣p hóa nông nghiệp và hiện đa ̣i hóa nông thôn Kéo theo đó , mô ̣t bô ̣ phâ ̣n dân cư nông thôn sẽ giầu lê n, họ bắt đầu chuyển dịch khu vực sinh sống t ừ nông thôn ra thành thị, nếu không chuyển ra thành thi ̣ thì ho ̣ la ̣i chuyển đến các th ị trấn nhỏ ngay ta ̣i khu vực nông thôn Khi số nông dân càng giầu lên , thí các th ị trấn nhỏ này cà ng

Trang 29

đươ ̣c mở rô ̣ng ra và phát triển , thúc đẩy nhanh quá trính đô thị hóa nông thôn v ốn đang diễn ra ma ̣nh mẽ ở đất nước này Tuy nhiên, quá trính công nghiệp hóa nông thôn và hiê ̣n đa ̣i hóa nông thôn la ̣i dẫn đến mô ̣t hê ̣ lu ̣y , đó là đất canh tác ta ̣i nông thôn bi ̣ đẩy sang dùng cho mu ̣c đích phi nông nghiê ̣p , tuy không tâ ̣p trung nhưng lại rải rác tại các khu vực nông thôn , góp phần mở rộng các diện tìch đất xây dựng các khu công nghiệp và các th ị trấn nhỏ vốn là nền tảng đ ể hính thành nên các khu

đô thi ̣ về sau Thêm vào đó , Chính phủ kể từ giữa những năm 1980 đã tách quyền

sử dụng đất khỏi quyền sở hữu đất, cho phép được chuyển giao hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất Trong khi đó đất phu ̣c vu ̣ cho mu ̣c đìch nông nghiê ̣p l ại

đa số thuô ̣c tài sản sở hữu của tâ ̣p thể , dễ chuyển nhượng Chình ví vậy mới có trường hợp, nhằm giảm chi phí và sinh lời , viê ̣c tái phát triển đô thị trong nội thành đươ ̣c thay thế bằng mở rộng ra phìa ngoài đô thị, vào đất trồng trọt tại các khu vực ngoại thành , đẩy mạnh nhanh hơn nữa s ự xâm lấn liên tục của đất đô thị vào đất nông thôn Điều đó đồng nghĩa với viê ̣c tăng nhanh quá trình đô thi ̣ hóa nông thôn ,

đã đưa mô ̣t phần không nhỏ khu vực nông thôn trở thành đô thi ̣ Tất nhiên quá trình này cũng sẽ kéo theo sự giầu lên đáng kể của một bộ phận nông dân Đồng thời nói việc mở rô ̣ng các khu công nghiê ̣p , điều đó sẽ thu hút mô ̣t lươ ̣ng lớn nông dân bỏ đồng ruô ̣n g bỏ làng xóm ra làm các công viê ̣c không liên quan đến nông nghiê ̣p

Cô ̣ng thêm bô ̣ phâ ̣n nông dân giầu lên , họ cũng rời bỏ làng có ngôi nhà cũ để định

cư ở ngoài làng, xây nhà mới lớn hơn xâm lấn đất nông nghiê ̣p ở gần làng Hoă ̣c họ

sẽ chuyển đến ở ta ̣i các khu phố đang ăn dần đất nông nghiê ̣p Chình sự di cư đó đã tạo ra “các làng r ỗng” – nghĩa là các làng có đất không được tận dụng, mô ̣t hiê ̣n tươ ̣ng đáng chú ý ở nông thôn Trung quốc Hiê ̣n tươ ̣ng trên đây cũng l à một hính ảnh thể hiện rất rõ nét quá trính đô thị hóa đang diễn ra khá mạnh mẽ tại khu vực nông thôn nước này

Như trên đã phân tích, sự chênh lê ̣ch giữa các vùng mi ền và quá trình đô thi ̣ hóa mạnh mẽ là một đặc điểm nổi bâ ̣t của nông thôn Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO Chình sự chênh lệch và việc tập trung vào công nghiệp trong một thời gian dài đã dẫn đến một hệ lụy khác , đó chính là sự yếu kém của nền nông nghiê ̣p và sự

Trang 30

ngăn cách giầu nghèo giữa hai khu vực nông thôn và thành thi ̣ ngày càng n ổi bật hơn

Trong những năm đầu cải cách, các chính sách cải cách thể chế kinh tế nông thôn và tự do hoá thị trường nông sản đã thúc đẩy kinh tế nông thôn đi lên, thu nhập nông dân tăng, đói nghèo giảm Tuy nhiên, kể từ giữa thập kỷ 1980, những chính sách tập trung đầu tư vào các khu vực đô thị, đặc biệt ở các tỉnh ven biển phìa Đông đã làm cho các nguồn lực chảy vào khu vực nông nghiệp giảm, đầu tư thấp, giá cánh kéo sản phẩm công nghiệp-nông nghiệp có xu hướng doãng ra, có lợi cho khu vực đô thị và sản xuất công nghiệp Hệ số đầu tư vào nông nghiệp của Trung Quốc chỉ có 0,44 trong khi mức trung bình của các nước đang phát triển là 0,65 và mức của các nước phát triển là 3,5 Ông Đinh Lý, Trưởng ban Chính sách thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc cho rằng: "Giá nông sản thấp kéo dài, hiệu quả của các doanh nghiệp hương trấn giảm, thu nhập nông dân trì trệ là những vấn đề bức xúc nhất đặt ra đối với chính sách nông nghiệp của Trung Quốc" Thập kỷ

1990, trong khi kinh tế đô thị tăng vọt thì kinh tế nông thôn lại trì trệ, làm khoét thêm hố sâu ngăn cách nông thôn-thành thị, bất bính đẳng thu nhập giữa nông thôn

và thành thị tăng lên, biến Trung Quốc thành một bức tranh tương phản giữa các đô thị ở miền Đông hiện đại, phát triển mạnh, mức sống cao với các vùng nông thôn ở miền Tây nghèo khổ, mức sống thấp, ngày càng tụt hậu Có người ví một cách hình ảnh rằng, đời sống tại các đô thị miền Đông không khác gí Châu Âu, còn đời sống các vùng nông thôn lạc hậu ở miền Tây lại chẳng khác gì Châu Phi Ở một số vùng nông thôn, đặc biệt là khu vực phía Tây, sản xuất trì trệ, thuế khóa đóng góp nặng

nề, nạn tham nhũng hối lộ lan tràn, thu nhập thực tế nhiều vùng giảm xuống, đói nghèo tăng Theo báo Minxin ư ớc tính, nạn tham nhũng ở Trung Quốc tiêu tốn hàng năm 4,7% GDP, khoảng 4,3 tỷ USD, trong đó 30% do các DNNN trốn thuế,

và 30% do chi tiêu lãng phí của công

Trung Quốc đưa ra số liệu về thu nhập khu vực nông thôn là 250 USD/người/năm và tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói là 6% Tuy nhiên trên thực tình trạng xấu hơn nhiều Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (NHTG) có đến

Trang 31

120 triệu dân Trung Quốc thu nhập thấp hơn 1 USD/ngày Như vậy, theo tiêu chuẩn của NHTG tỷ lệ đói nghèo của Trung Quốc sẽ là 10% Theo báo Zhongguo Gaige (Trung Quốc cải cách) ước tính, hiện nay Trung Quốc có đến 600 triệu dân nông thôn chỉ sống dựa vào thuần nông với thu nhập chỉ có 80 USD/người/năm

Do đời sống nông thôn yếu kém, thêm vào đó là sự xâm lấn của thành thi ̣ và các khu công nghiệp , dẫn đến viê ̣c nông dân bi ̣ mất đất canh tác ; nên hiê ̣n tượng nông dân bỏ làng ra đi làm công cũng trở thành mô ̣t vấn đề nhức nhối của nông

thôn Trung quốc Từ cuối thập kỷ 1980 đến thập kỷ 1990, ước tình có hơn 120 triệu nông dân phải bỏ làng đi ra các thành phố tìm việc Lư Tuyết Nghĩa một chuyên gia nghiên cứu ở Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho rằng: "Ngày nay, nông dân vẫn bị đẩy ra ngoài lề và vẫn nghèo đói Những vấn đề mấu chốt của Trung Quốc vẫn nằm ở khu vực nông thôn và người nông dân Khó khăn của người nông dân không còn là câu chuyện về đất đai nữa, mà là nạn thất nghiệp" Theo thống kê của Trung Quốc, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 3,5-4% Tuy nhiên, nếu tình đến những đợt sa thải công nhân do cải tổ cơ cấu khu vực kinh tế Nhà nước thời gian gần đây và số người làm việc không lương thí tỷ lệ thất nghiệp trên thực tế cao hơn nhiều so với

số liệu công bố chính thức Ước tính tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị khoảng 15% Những vùng Đông-Bắc, Tây-Bắc và Tây miền Trung do thừa kế một nền công nghiệp nặng từ thời trước nên khi cải tổ cơ cấu diễn ra đã đẩy thất nghiệp lên mức rất cao Tỷ lệ thất nghiệp có thể lên tới 30%, 40%, thậm chí 50% Ở những vùng miền Tây do thất nghiệp cao nên đã dẫn đến tình trạng tội phạm tăng mạnh, căng thẳng xã hội lên mức báo động Tuy nhiên chính quyền địa phương đã tiến hành đàm phán, xoa dịu những thành phần phản kháng Nhưng về lâu dài, cách quản lý bằng sự mặc cả như vậy sẽ không thể ngăn nổi những xung đột xã hội có thể xảy

ra.12 Cũng theo số liệu thống kê của Thông tấn xã , đến cuối thập kỷ 1990, dân số các thành thị, không kể 120 triệu nông dân di cư, chiếm 20% tổng dân số của Trung Quốc, tạo ra 40% của cải, nhưng tiêu dùng đến 60% Dân số nông thôn (kể cả những người di cư và dân cư các thành phố nhỏ) chiếm 80% tổng dân số, tạo ra 60%

12

Theo thông tấn xã Việt Nam, báo ra ngày 12.11.2001

Trang 32

của cải, và tiêu dùng 40% Năm 1994, trong khi 20% tầng lớp dân cư giàu nhất của Trung Quốc sở hữu 50,2% của cải cả nước còn 20% dân cư nghèo nhất chỉ sở hữu 4,3% Trong khi cùng năm đó ở Mỹ, 20% dân số giàu nhất sở hữu 44,3% tài sản trong khi 20% nghèo nhất sở hữu 4,6% Như vậy chỉ trong vòng 20 năm cải cách, phân hoá giàu nghèo của Trung Quốc cao hơn cả Mỹ, một nước đại tư bản hạng nhất thế giới có hơn ba trăm năm để tích tụ tài sản cho tầng lớp giàu

Khi nghiên cứu về nông thôn Trung quốc , các xì nghiệp hương trấn luôn đươ ̣c coi như mô ̣t tiêu điểm ta ̣o nên sự thay da đổi thi ̣t ta ̣i nông thôn nước

này.Chình phủ Trung quốc cũng đã coi việc phát triển các xì nghiệp hương trấn như

mô ̣t chính sách vực dâ ̣y nông thôn , giảm sự chênh lệch giầu nghèo giữa nô ng thôn và thành thị Nhưng sau mô ̣t thời gian hoa ̣t đô ̣ng , mô hình này đã bô ̣c lô ̣ nhiều yếu điểm và có d ấu hiệu đi xuống Điều đó góp phần t ạo nên tình trạng khó khăn hơn cho viê ̣c giải quyết v ấn đề thu nhâ ̣p và viê ̣c làm cho người n ông dân ta ̣i nông thôn Trung quốc Trong suốt hai thập kỷ qua, sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiê ̣p hương trấn đã thu hút một lực lượng lao động nông thôn khổng lồ, là động lực chình giúp tăng thu nhập cho khu vực nông thôn, giảm sức ép đáng kể di cư lao động nông thôn ra thành thị, thực hiện thành công chiến lược "ly nông bất ly hương" Theo nhà nghiên cứu Đ ỗ Ngọc Toàn đã viết trong “T ạp chí khoa học công nghệ môi trường 5/1999”: Tình đến cuối thập kỷ 1990, các doanh nghiệp hương trấn đóng góp 50% giá trị sản lượng toàn nền kinh tế và thu hút 28,4% lao động nông thôn Tuy nhiên thời gian gần đây các doanh nghiệp này có nhiều dấu hiệu bất

ổn, sản xuất ồ ạt đã làm cung vượt cầu, nợ chồng chất, gây ô nhiễm môi trường Từ năm 1997, Trung Quốc đã phải ra lệnh đóng cửa 62 ngàn doanh nghiệp công nghiệp nhỏ do không đủ tiêu chuẩn an toàn, gây ô nhiễm Tuy nhiên do chạy theo lợi nhuận nên các doanh nghiệp trên vẫn tồn tại Hiện nay có đến 50.000 doanh nghiê ̣p hương trấn đang trên bờ vực phá sản Tổng số nợ của các doanh nghiệp này lên đến 25 tỷ USD Ở tỉnh Hồ Nam, 90% các doanh nghiê ̣p hương trấn rơi vào tính trạng nợ nần, tổng số là 1 tỷ USD Tỉnh An Huy có số nợ là 750 triệu USD do sản xuất công nghiệp dư thừa, số nợ này chủ yếu là của các doanh nghiệp Hương trấn

Trang 33

Theo “China reform monitor Số 393 26/7/2001, Deqiang H 2001” đã chỉ rõ, trong năm 2001 ước tính giá một số mặt hàng công nghiệp tiêu dùng của Trung Quốc như

vô tuyến, máy điều hoà, xe máy, tủ lạnh…giảm hơn 50% Do các doanh nghiệp hương trấn có vai trò quan trọng trong tạo việc làm và thu nhập, tiêu thụ đầu ra nông sản, nên những khó khăn của doanh nghiệp hương trấn sẽ ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp và nông thôn và càng ta ̣o ra nhiều khó khăn thử thách hơn cho nông nghiệp nông thôn trong quá trính hội nhập

1.2.2.2 Mô ̣t số vấn đề tồn ta ̣i của nông thôn Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p

WTO

Thực tế cho thấy rằng , nông thôn Trung Quốc sau khi cải cách m ở cửa bắt đầu từ năm 1978 đã có bước phát triển lớn Nhưng trước khi gia nhâ ̣p vào WTO , nông thôn Trung quốc vẫn đang còn tồn ta ̣i nhiều vấn đề Nếu giải quyết tốt các vấn

đề đó nó sẽ mang lại một sức mạnh mới cho Trung quốc nói chung, nông thôn nói riêng sau khi gia nhâ ̣p

Như phần trên đã phân tìch, mă ̣c dù quá trình đô thi ̣ hóa diễn ra khá ma ̣nh ta ̣i khu vực nông thôn , nhưng mô ̣t phần lớn dân số và lao đô ̣ng Trung quốc vẫn sống

tâ ̣p trung chủ yếu ta ̣i khu vực này Toàn cầu hóa đư ợc vì như cuô ̣c chơi , muốn giành phần thắng, bản thân nước tham gia phải mạnh Muốn quốc gia mạnh thì bản thân nền kinh tế nước đó phải ma ̣nh Nước muốn ma ̣nh, phải dựa vào dân , nếu đời sống nông thôn đươ ̣c cải thiê ̣n , đời sống nông dân được nâng lên , đó sẽ thành mô ̣t

đô ̣ng lực lớn cho Trung quốc khi gia nhâ ̣p vào cuô ̣c chơi chung toàn cầu hóa Lý thuyết là như vâ ̣y , trên thực tế la ̣i hoàn toàn khác Công cuô ̣c cải cách kinh tế ta ̣i Trung quốc đã giành được nhiều thành tựu , mang la ̣i thay đổi lớn cho mô ̣t bô ̣ phâ ̣n

cư dân nông thôn và đô thi ̣ Tuy nhiên, trên thực tế , đa số nông dân và nông thôn Trung quốc vẫn chưa đươ ̣c hưởng đúng mức những lợi ích từ công cuô ̣c cải cách đó Điểm đầu tiên có thể nhâ ̣n thấy , đó chính là sự chênh lê ̣ch lớn giữa nông thôn với thành thi ̣, thể hiê ̣n qua sự chênh lê ̣ch về thu nhâ ̣p; chênh lê ̣ch về mức tiêu dùng; chênh lê ̣ch về y tế giáo du ̣c ; chênh lê ̣ch về cơ sở ha ̣ tầng Hơn thế nữa, ngay trong

Trang 34

khu vực nông thôn , sự phân hóa ma ̣nh mẽ của mô ̣t bô ̣ phâ ̣n nông dân giầu hơn và

bô ̣ phâ ̣n nông dân nghèo hơn đang kéo rô ̣ng thêm ra sự bất bình đẳng trong xã hô ̣i và sự mất cân bằng trong quá trính phát triển kinh tế xã hội tại Trung quốc

Sự chênh lê ̣ch lớn trong phân phối lợi ích , dẫn đến sự bất bình đẳng xã hô ̣i , đồng thời ta ̣o ra sự phát triển không cân đối , nảy sinh thêm nhiều vấn đề xã hội phát sinh ngay tại nông thôn Trung quốc Theo số liệu khảo sát năm 2006, được Phó Viện trưởng Trần Quang Kim trích dẫn, hệ số Gini (một chỉ báo chất lượng phát triển) áp dụng với hộ gia đính nông thôn nước này đạt mức 0,64, với việc các

hộ giàu (chiếm tổng số 20%) kiếm được gấp 41,5 lần thu nhập của các hộ nghèo nhất (chiếm 20%) Cũng trong nghiên cứu của Kim , ông đã chỉ ra rằng , có khoảng 15% học sinh Trung quốc chưa học hết 9 năm giáo du ̣c phổ thông bắt buô ̣c , đa số học sinh này sống tại khu vực nông thôn Chình sự ngèo đói , châ ̣m phát triển và phân cách giầu nghèo khá lớn giữa nông thôn và thành thi ̣ đã ta ̣o ra hê ̣ lu ̣y là những người sống ở nông thôn bỏ làng xóm ra thành thi ̣, trở thành vấn đề xã hô ̣i nhức nhối cần giải quyết Hơn nữa, do tâ ̣p trung chủ yếu vào phá t triển khu vực thành thi ̣ và công nghiê ̣p nên trong mô ̣t thời gian dài , Trung quốc đã áp du ̣ng chính sách lấy nông nghiê ̣p nuôi công nghiê ̣p qua viê ̣c trung thu thuế và ruô ̣ng đất Chình việc đó càng làm tăng thêm gánh nặng cho nông dân Các cuộc chống đối cá nhân cũng như tâ ̣p thể liên quan đến thuế nông nghiê ̣p và trưng thu ruô ̣ng đất đã thành vấn đề

đă ̣t ra buô ̣c Trung quốc phải có những chình sách cụ thể giải quyết trước khi nó trở thành vấn đề nội bô ̣ lớn Nông thôn Trung quốc đã chỉ ra cho các nhà lãnh đa ̣o thấy rằng, hướng đi tiếp theo của nư ớc này là hướng đến sự phát triển hài hòa và tâ ̣p trung vào sự cân bằng xã hô ̣i hơn là hiê ̣u quả kinh tế đơn thuần

Do mô ̣t phầ n lớn khu vực nông thôn chưa được quan tâm đúng mức , thêm vào đó là chình sách quản lý theo hộ khẩu , càng tạo ra sự phân biê ̣t giữa người dân có « hô ̣ khẩu nông thôn » và « người dân có hô ̣ khẩu thành phố » Thâ ̣m chí ở mô ̣t số nơi còn có danh sách công viê ̣c dành riêng cho dân từ nông thôn lên Người lao

đô ̣ng xuất phát từ nông thôn cũng không được đảm bảo đầy đủ các quyền lợi lao

đô ̣ng vốn có Đồng thời do nghèo đói , kéo theo các tệ nạn xã hội cũng phát triển

Trang 35

Thêm vào đó, họ rất khó có cơ hội đổi đời , ví với hộ khẩu nông thôn , cánh cửa vay tình dụng gần như khép lại Cùng với đó là sự thiếu thốn về cơ sở vâ ̣t chất , giáo dục, y tế…khiến cho bản thân nông dân và khu vực nông thôn khó tiếp câ ̣n được với những cái mới và tiên tiến Sự la ̣c hâ ̣u trong phát triển kinh tế kéo theo sự la ̣c

hâ ̣u trong nhâ ̣n thức và tiếp câ ̣n cái mới

Sự phát triển yếu kém của khu vực nông thôn còn đưa đến một hậu quả khác

là không mở rộng thị trường nội địa và hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước

vì tiêu thụ nội địa không cao Một giáo sư của Viện phát triển nông thôn thuộc Đại học nhân dân Bắc Kinh đã làm một so sánh khá thú vị Ông nói: "Tăng trưởng kinh

tế phải do 3 con ngựa (cỗ xe tam mã) kéo là đầu tư, xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Ở Trung Quốc, 2 con ngựa đầu rất mạnh, nhưng con ngựa thứ ba là con… lừa″ Ông muốn nói 750 triệu nông dân chiếm 58% dân số nhưng hiện nay chỉ đóng góp 32,9% bán sỉ đồ tiêu dùng ; so với 67,6% năm 1978 và 53,2% năm 1990 Vì nông thôn nghèo, nông dân ở trong tình trạng khó khăn nên sức mua của họ không thể kéo tiêu thụ lên cao13 Theo thống kê chính thức, tiêu thụ nội địa trong năm 2005 chỉ chiếm 39% của GDP so với 46% năm 1995 Trong khi đó , nông thôn và nông dân lại là khu vực chiếm phần không nhỏ về diện tìch và dân số của Trung quốc Do

vâ ̣y, nâng cao đời sống nông dân và cải thiê ̣n tình tra ̣ng nông thôn không những giải quyết được những vấn đ ề phát sinh về mặt nội bộ, mà còn tăng sức tiêu thụ nội

đi ̣a – mô ̣t nhân tố ảnh hưởng khá lớn trong viê ̣c tăng sức ca ̣nh tranh của Trung quốc khi gia nhâ ̣p vào nền kinh tế toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa lại đại diện cho cái mới , tiến bô ̣ và rô ̣ng mở Nếu nông thôn Trung quốc không đươ ̣c nâng cao lên đủ tầm , viê ̣c đưa nông thôn Trung quốc hòa nhâ ̣p vào môi trường WTO vẫn là mô ̣t vấn đề khó khăn , đầy thách thức Nên trước khi tham gia vào WTO , viê ̣c làm lớn mạnh nông thôn , nông nghiê ̣p Trung quốc là mục tiêu không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội tại đất nước hơn một tỉ dân này

13

Theo báo Le Monde 5-6/3/06

Trang 36

1.2.3 Nông dân Trung quốc trươ ́ c khi gia nhâ ̣p WTO

1.2.3.1 Tình hình nông dân Trung quốc trươ ́ c khi gia nhập WTO

Đối với một quốc gia , dân tô ̣c, con người luôn là nhân tố quan tro ̣ng quyết

đi ̣nh đến sự phát triển và đi lên của mô ̣t xã hô ̣i Mô ̣t khu vực nông thôn muốn gi ầu mạnh, và một nền nông nghiệp muốn phát triển thí phải xem t ới nhân tố đầu tiên là người nông dân sống ở khu vực đó làm nông nghiê ̣p như thế nào

Quay trở la ̣i với bảng số 1 (phần đầu luâ ̣n văn) về tỉ lê ̣ dân số và lao đô ̣ng ta ̣i vùng nông thôn , chúng ta đã thấy vào năm 1978 nông dân tới chiếm 82,1% dân số và 70,5% lao đô ̣ng của nước này Đến năm 2000 con số này có giảm nhưng vẫn giữ ở mức 63,8% dân số và 50% lao đô ̣ng Điều này cho thấy , ở tất cả các quốc gia châu Á xuất phát điểm đều là nông nghiê ̣p Theo đó, trước khi gia nhâ ̣p WTO, nông dân vẫn chiếm mô ̣t tỉ lê ̣ lớn trong dân số và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế Trung quốc Tuy nhiên, về mă ̣t thu nhâ ̣p và các chế đô ̣ đãi ngô ̣ khác , nông dân lại là những người phải chi ̣u nhiề u thiê ̣t thòi, đồng thời có sự phân bi ệt lớn giữa hai khái niê ̣m : cư dân thành thi ̣ và cư dân nông thôn ta ̣i đất nước này

Năm 2001, thờ i gian Trung Qu ốc chuẩn bi ̣ gia nhâ ̣p vào tổ chức WTO , hai

vợ chồng ký giả Trần Quế Đệ và Ngô Xuân Đào đã gây chấn đô ̣ng dư luâ ̣n khi ho ̣ đưa ra tác phẩm viết sau khi khảo sát tình hình nông thôn ở tỉnh An Huy – mô ̣t tỉnh chuyên sản xuất nông nghiê ̣p lớn ở Trung quốc Trong cuốn sách đó ho ̣ đã đưa ra

mô ̣t kết luâ ̣n rằng: "Nông dân ngày nay bị áp bức còn nặng nề hơn cả thời kỳ Quốc dân Đảng và quân phiệt Nhật thống trị" Trong quyển sách của mình , hai tác giả đã miêu tả rằng nông dân phải chi ̣u nhi ều loại thuế phí ở địa phương mà ìt người thực

sự nghĩ đến Xin kể ra vài thí dụ: Người nông dân muốn kết hôn phải nộp tất cả 14 loại thuế (bao gồm: thuế đăng ký, thuế giấy chứng nhận, thuế giới thiệu (môi giới), thuế công chứng, thuế kiểm tra, thuế bảo đảm sức khoẻ, thuế giết lợn, thuế bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch…) Về sinh đẻ có kế hoạch, nếu "lỡ dại" có nhiều con thì phải nộp thuế "sinh đẻ ngoài kế hoạch", hoặc vì lý do phải lên huyện tỉnh thì phải nộp thuế "đẻ không đúng chỗ" Khác với người thành thị, người nông dân muốn có

Trang 37

nhiều con trai để nối dõi tông đường và thay thế họ sản xuất khi tuổi về già Họ đã

vi phạm chính sách một con của Nhà nước Ở huyện Tuy Khê thuộc tỉnh An Huy,

có tới 100000 trẻ con "đẻ lậu", cán bộ địa phương nhờ thu « thuế thu đẻ lậu » trở nên giàu xụ vì phải trả bằng tiền mặt Một thí dụ khác cười ra nước mắt là khi Luật bảo vệ môi trường được ban hành, có địa phương coi khói thổi cơm từ bếp của nông dân là "ô nhiễm môi trường" Nếu nông dân tỏ vẻ bất mãn thì bị thêm "thuế thái độ"

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh nhanh tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá khiến đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp Hiện tượng này cũng làm cho nông dân chao đảo Theo tờ Libération ngày 25-7-2006 đã viết rằng: Trong 10 năm qua, đất đai của 60 triệu nông dân, theo một báo cáo chính thức, bị trưng dụng và 3 triệu nông dân hàng năm còn phải bị mất đất trong vòng 5 năm tới Chỉ riêng giữa năm

1999 và 2003, có 7,6 triệu hec-ta đất đai trồng trọt bị thất thoát Kết quả là tiêu thụ ngũ cốc trên đầu người của người Trung Quốc trong những năm gần đây giảm so với 1998 Mức thu nhập của họ cũng bị người thành thị bỏ xa Giữa các vùng nông thôn cũng có những khoảng cách lợi tức lớn Chẳng hạn, nông dân ba tỉnh giàu nhất (Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân) có thu nhập bình quân cao gấp 3,9 lần so với thu nhập nông dân của ba tỉnh nghèo nhất (Tây Tạng, Cam Túc, Quý Châu) : 7000 NDT/năm so với 1800 NDT/năm Với thu nhập 1800NDT/năm (225 USD), người nông dân nghèo không có đến 1 USD/ngày, mức tối thiểu theo qui định quốc tế Còn theo tờ Le Monde ngày 8-9-2004 thí: Tỷ lệ người thất nghiệp ở thành thị, theo chính quyền, là 4,2% Trong năm 2005, có tới 200 triệu người ở nông thôn lên thành phố tìm kế mưu sinh mặc dù chế độ hộ khẩu ra đời năm 1958 cấm người nông dân không được sống ở thành phố Con số này chỉ có 30 triệu trong năm 1986 và người ta dự đoán nó sẽ lên đến 500 triệu trong năm 2020 Còn theo báo Talawas ngày 25-2-2005 thí trong n ăm 2000, thuế đầu người nông dân là 146 NDT/năm trong khi thuế đầu người thành thị chỉ có 37 NDT, nhiều hơn tận 3,9 lần

Như tài liê ̣u trên cho thấy , nông dân không chỉ chi ̣u nhiều thiê ̣t thòi về

mă ̣t vâ ̣t chất, mà về mặt địa vị và đối xử xã hội cũng có nhiều khác biệt Điều quan

Trang 38

trọng hơn là, cuô ̣c sống của nông dân khi đem ra so sánh với thành thi ̣ đã thể hiê ̣n sự bất bình đẳng rõ nét giữa hai giới Thâ ̣m chí sự bất bình đẳng đó còn tồn ta ̣i ngay trong chính những người nông dân Sự bất bình đẳng t rong xã hô ̣i thì nước nào cũng có , nhưng sự mất cân đối mô ̣t cách rõ rê ̣t và khá lớn như ta ̣i Trung quốc thí không phải nước nào cũng có Hơn thế điều đó không chỉ xảy ra đ ối với mô ̣t bô ̣ phâ ̣n nhỏ cư dân , mà xảy ra với một bô ̣ phâ ̣n lớn Một khi nó liên quan đến nhiều người, thí những hệ lụy kéo theo đó cũng sẽ không nhỏ , yêu cầu Trung quốc phải đưa ra các chính sách hợp lý hơn để giải quyết vấn đề

Tại Trung quốc, do áp du ̣ng ch ình sách quản lý dân số theo hộ tịch , nên những người mang hô ̣ ti ̣ch nông dân cũng chi ̣u nhiều thiê ̣t thòi trong xã hô ̣i Khi nông dân bi ̣ mất đất , họ phải đi làm thuê ở các khu công nghiệp hoặc ra thành phố Tại một số nơi , sự phân biê ̣t giữa hô ̣ khẩu nông dân và thành phố còn thể hiê ̣n rõ nét đến mức , có hẳn danh sách công việc dành cho người nông dân ra thành phố tím việc Lực lươ ̣ng lao đô ̣ng này cũng không được trả giá cao cùng v ới việc được đảm bảo các quyền lợi lao động khác Thâ ̣m chí dù đã thoát ly khỏi nông thôn, đi ̣nh

cư ta ̣i thành phố và làm các công viê ̣c không liên quan đến nông nghiê ̣p thì người mang hô ̣ khẩu nông thôn cũng khó có thể nh ập hô ̣ khẩu thành phố Do mang hô ̣ khẩu nông thôn nên viê ̣c thăng chức cũng như tiếp câ ̣n các quyền lợi đãi ngô ̣ tốt hơn khác cũng khó khăn hơn nhiều so với người mang hô ̣ khẩu thành thi ̣

Theo một thống kê chính thức Tân Hoa xã đăng tải ngày 3-3-2006, phân nửa làng xã ở Trung Quốc không có đường ống nước vào nhà, hơn 60% nông hộ không có cầu xí hiện đại, 150 triệu nông hộ có vấn đề tiếp tế về khí đốt trong khi gia cư của 70 triệu nông dân cần được cải thiện Họ cũng không có bảo hiểm xã hội

và chế độ hưu trì Đó là những số liê ̣u thực có đươ ̣c về tình tra ̣ng nông thôn – môi trường sống của nông dân sau 4 năm gia nhâ ̣p WTO Sau bốn năm gia nhâ ̣p WTO , tính hính nông thôn vẫn đang còn r ất khác xa so với thành thi ̣ , điều đó cho thấy nông thôn vẫn chưa được hưởng nhiều từ viê ̣c gia nhâ ̣p vào nền kinh tế toàn cầu hóa Hơn nữa, đó là hiê ̣n tra ̣ng điều tra được sau khi Trung quốc đã áp du ̣ng nhiều chình sách thúc đẩy nông nghiệp khiến cho nông thôn và nông dân Trung quốc đã

Trang 39

khá hơn trước rất nhiều, nhưng thực tế vẫn còn nhiều khó khăn Điều đó càng phản ánh được một sự thật rằng: Sau khi gia nhâ ̣p WTO đời sống của ho ̣ đã như vâ ̣y , thí trước khi gia nhâ ̣p WTO cuô ̣c sống của ho ̣ còn khổ hơn rất nhiều Điều này đã được phản ánh rõ nét ở phần trên Mô ̣t nền nông nghiê ̣p còn ha ̣n chế, mô ̣t nông thôn cách

xa thành thi ̣, như vậy thì nông dân khổ sở là điều không thể tránh khỏi

Theo giáo sư Lu ̣c Ho ̣c Nghê ̣, có thể tổng kết đặc điểm nông dân Trung quốc thành bốn điểm : “Nông dân đông” ; “Nông dân quá nghèo” ; “ Phân hóa nông dân quá rõ nét” và “Nông dân yếu thế” Điều này thể hiê ̣n số lươ ̣ng , chất lươ ̣ng và vi ̣ thế xã hô ̣i cũng như sự phân hóa xã hô ̣i của người nông dân Trung quốc trước khi gia nhâ ̣p WTO

1.2.3.2 Vấn đề nông dân công ta ̣i Trung quốc

Trong mo ̣i cuô ̣c cách ma ̣ng , con người luôn đóng vai trò quan tro ̣ng trong việc tạo ra m ọi sự thay đổi Nếu phân tích về nông nghiê ̣p, nông thôn và nông dân Trung quốc mà không chỉ ra những thế mạnh xuất phát từ con người , thí sự thay đổi ta ̣i khu vực này tưởng chừng như khó có thể thực hiê ̣n được Bởi lẽ, chình sách và đường lối của Chình phủ chỉ là biện pháp đưa ra , còn người thực hiện chình là nhân dân Dân áp du ̣ng mô ̣t cách có hiê ̣u quả thì kết quả mang la ̣i mới cao Áp dụng có hiệu quả hay không , phải kể đến nhân tố con người Dù chúng ta có nhín nhâ ̣n như thế n ào, thí bên cạnh những điểm yếu , nông dân Trung quốc cũng có những điểm ma ̣nh Thêm vào đó , lực lượng lao đô ̣ng di dân từ nông thôn ra thành thị cùng lực lượng nông dân công tại Trung quốc, đang là bô ̣ phâ ̣n tiếp xúc gần nhất với sự thay đổi sau gia nhâ ̣p kinh tế toàn cầu Chình bộ phận này, đã và đang mang lại một nguồn thu nhập không nhỏ cho khu vực nông thôn

Có thể nói sự xuất hiện của thành phần nông dân làm công nhân đã khi ến cho có người go ̣i « tam nông » thành mô ̣t khái niê ̣m khác là “tứ nông” , đây là sản phẩm của quá trình công nghiê ̣p hóa , đô thi ̣ hóa diễn ra khá ma ̣nh ta ̣i Trung quốc Họ đầu tiên là những người có hộ khẩu là nông dân , là một quần thể đặc thù có quy

mô lớn xuất hiện trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa ở Trung

Trang 40

Quốc Nông dân làm công nhân là những người lao động có hộ khẩu là nông dân ở nông thôn, nhưng lại làm việc trong thành phố hoặc trong những lĩnh vực phi nông nghiệp Trong đó có một bộ phận sống và làm việc lâu năm tại thành phố , thâ ̣m chí mua nhà và đi ̣nh cư trong thành phố , thị trấn Chình ví vậy , bô ̣ phâ ̣n này được hưởng môi trường sống, lối sống và văn hóa đô thi ̣ Có thể nói, họ đã trở thành một

bô ̣ phâ ̣n của cư dân thành thi ̣, nhưng vẫn mang hô ̣ khẩu nông dân Sự khác biê ̣t này là điều duy nhất phân biệt họ với các cư dân thành thị khác , đồng thời đưa ho ̣ trở thành một bộ phận của thành phần “tứ nông” ngoài các khái niệm “tam nông” mà chúng ta đã nói ở trên Với vai trò là công nhân và cư dân thành phố , thị trấn, họ đã đóng góp mô ̣t phần không nhỏ vào quá trình công nghiê ̣p hóa , hiện đa ̣i hóa ta ̣i Trung quốc Thâ ̣m chí bô ̣ phâ ̣n cư dân này còn mang chính tiền ho ̣ kiếm được đưa về nông thôn , góp phần tăng thêm thu thập không nhỏ cho người nông dân , xây dựng nông thôn , khiến cho khoảng cách thành thi ̣ và nông thôn nhờ đó được thu hẹp lại Theo Lý Bồi Lâm và Lý Vĩ thí : Mỗi năm nông dân làm công nhân tạo ra

1000 – 2000 NDT cho kinh tế của thành phố, tăng thêm thu nhập cho nông thôn là

500 – 600 tỷ NDT Theo tính toán của Cục thống kê thành phố Bắc Kinh, sự đóng góp sức lao động của nông dân làm công nhân chiếm 83% ngành xây dựng, 29% ngành chế tạo của thành phố này Còn theo tác giả Lục Học Nghệ : các tỉnh như Tứ Xuyên, An Huy, Hà Nam, Giang Tây, Hồ Nam, mỗi năm nông dân ra ngoài làm công nhân gửi tiền về quê nhà khoảng 10 – 20 tỷ NDT Đó quả là con số không nhỏ, thể hiê ̣n đươ ̣c vai trò to lớn của lực lượng lao đô ̣ng này đối với sự thay đổi của cuô ̣c sống nông thôn , nông dân và thành thi ̣ Mô ̣t nét đáng chú ý trong quá trình hính thành nên thành phần này, đó là sự góp mă ̣t của các xì nghiệp hương trấn theo chình sách “rời nông không rời thôn” hay còn được các nhà nghiên cứu gọi là “con đường đô thị hóa kiểu Trung Quốc” Viê ̣c cho ra đời hàng loa ̣t xí nghiê ̣p hương trấn đã kéo theo sự xuất hiê ̣n của các ông chủ bà chủ nông dân , họ là một bộ phận nông dân nhờ các xí nghiê ̣p này mà giầu lên nhanh chóng Quan tro ̣ng hơn, các xì nghiệp này đã thu hút một bộ phận không nhỏ các lao động tham gia vào, đưa ho ̣ từ những người nông dân trở thành những người công nhân Khi trở nên giầu có , họ có xu

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Kara M. Reynolds* And Yan Su American University . Dumping on Agriculture:Case Studies in ntidumping Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dumping on Agriculture: Case Studies in Antidumping
Tác giả: Kara M. Reynolds, Yan Su
Nhà XB: American University
3. Hán Trương Phú – Bô ̣ trưởng bô ̣ nông nghiê ̣p Trung quốc (2012). Báo cáo trước quốc vu ̣ viê ̣n Trung quốc về: 入世十年与中国农业发展 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 入世十年与中国农业发展
Tác giả: Hán Trương Phú
Nhà XB: Bô ̣ trưởng bô ̣ nông nghiê ̣p Trung quốc
Năm: 2012
4. Lý Đan Hồng (2000).“ 入世 ” 后如何发展我国农业 . Tạpchì Quản lý kinh tế và lý luâ ̣n kinh tế Số 1 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"入世"”
Tác giả: Lý Đan Hồng
Năm: 2000
6. Trịnh Quốc Cường (2000). WTO 框架下的中国农业 . http://www.cnki.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO 框架下的中国农业
Tác giả: Trịnh Quốc Cường
Năm: 2000
5. Ngưu Đôn - Phó Bộ trưởng bộ nông nghiệp Trung quốc (2012). Báo cáo trước Quốc vu ̣ viê ̣n Trung quốc về: 中国农业入世十周年回顾与展望 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Chuyển đổi cơ cấu nông nghiê ̣p - Tác động của toàn cầu hóa đối với nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc
Bảng 2.1 Chuyển đổi cơ cấu nông nghiê ̣p (Trang 59)
Bảng  2.3:  Kim nga ̣ch xuất khẩu mô ̣t số - Tác động của toàn cầu hóa đối với nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc
ng 2.3: Kim nga ̣ch xuất khẩu mô ̣t số (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w