1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010

112 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thần kỳ của kinh tế Hàn Quốc trong thời gian qua là nhờ kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện phúc lợi xã hội

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ LINH

ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI Ở HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ 1997 ĐẾN 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ LINH

TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI Ở HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ 1997 ĐẾN 2010

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Châu Á học

Mã số: 60 31 50

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOA HỮU LÂN

Hà nội -2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do lựa chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu 8

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

7 Kết cấu của luận văn 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÚC LỢI XÃ HỘI 14

1.1 Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế 14

1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 14

1.1.2 Các thước đo tăng trưởng kinh tế 14

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 16

1.1.4 Vai trò của tăng trưởng kinh tế 16

1.2 Lý luận chung về phúc lợi xã hội 17

1.2.1 Khái niệm phúc lợi xã hội 17

1.2.2 Các chỉ số liên quan đến nội hàm giải quyết của phúc lợi xã hội 20

1.2.3 Kết cấu chế độ phúc lợi xã hội 22

1.3 Tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi xã hội 24

1.3.1 Tăng trưởng kinh tế là cơ sở vật chất để thực hiện phúc lợi xã hội 24

1.3.2 Tăng trưởng kinh tế là điều kiện và tiền đề để phát triển và đa dạng hóa các hoạt động phúc lợi xã hội 26

1.3.3 Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện mở rộng sản xuất, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp và lạm phát 27

1.3.4 Một số hạn chế, tồn tại 28

1.4 Mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Trang 4

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐẾN PHÚC

LỢI XÃ HỘI CỦA HÀN QUỐC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 31

2.1 Khái quát quá trình tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc giai đoạn từ sau khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 đến năm 2010 31

2.2 Một số tác động chủ yếu của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn 1997 - 2010 39

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế là điều kiện quan trọng cải thiện mức sống và thu nhập bình quân đầu người 40

2.2.2 Tăng trưởng kinh tế góp phần giảm bất bình đẳng thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo, cân bằng giữa nông thôn và thành thị 41

2.2.3 Tăng trưởng kinh tế góp phần xây dựng hệ thống phúc lợi lao động và dịch vụ việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp 45

2.2.4 Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện môi trường giáo dục đào tạo và vấn đề nhà ở 51

2.2.5 Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng 56

2.3 Một số nhận xét về tác động của tăng trưởng kinh tế tới phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn 1997 - 2010 63

2.3.1 Mặt tích cực 63

2.3.2 Một số hạn chế còn tồn tại 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM THAM KHẢO CHO VIỆT NAM TỪ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI Ở HÀN QUỐC 76

3.1 Khái quát thực trạng gắn kết tăng trưởng kinh tế với thực hiện an sinh xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây 76

3.1.1 Tăng trưởng kinh tế 76

3.1.2 Một số chính sách thực hiện xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội 79

Trang 5

3.1.3 Tác động của tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện công bằng

xã hội, an sinh xã hội những năm gần đây 81

3.2 Một số bài học kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam từ thực tế của Hàn Quốc 91

3.2.1 Tập trung phát triển kinh tế, tăng nguồn vốn tích lũy làm cơ sở để giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội 92

3.2.2 Luôn đặt mục tiêu cân đối hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội 93

3.2.3 Tập trung xây dựng phong trào nông thôn mới nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn 94

3.2.4 Sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội và công tác xã hội hóa an sinh xã hội 95

3.2.5 Mở rộng mạng lưới an sinh xã hội 97

3.2.6 Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho tầng lớp thu nhập thấp 98

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kì và các năm

Bảng 2.2: Bảng thống kê tăng trưởng của 30 nước OECD (tháng 11/2009) Bảng 2.3 : Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của Hàn Quốc qua các năm

Bảng 2.4: Những thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người trong những năm gần đây

Bảng 2.5: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Hàn Quốc qua các năm

Bảng 2.6: Tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP của Hàn Quốc giai đoạn 1997-2010

Bảng 2.7: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế của Hàn Quốc năm 1997-2010

Bảng 2.8: Ngân sách phân chia theo các lĩnh vực chủ yếu (dự kiến năm 2010) Bảng 2.9: Hệ số GINI của Hàn Quốc qua một số năm

Bảng 2.10: Chỉ tiêu khoảng cách 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất ở một số nước trên thế giới

Bảng 2.11: Phân phối thu nhập của một số quốc gia trên thế giới năm 2002 Bảng 2.12: Số lao động có việc làm trong tổng lực lượng lao động của Hàn Quốc

Bảng 2.13: Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm của Hàn Quốc

Bảng 2.14: Số lượng cơ sở dịch vụ Y tế và phúc lợi xã hội

Bảng 2.15: Số người làm việc trong lĩnh vực dịch vụ Y tế và phúc lợi xã hội Bảng 2.16: Chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần

Bảng 2.17: Chi tiêu phúc lợi xã hội của một số nước thành viên OECD chủ yếu (2003)

Trang 7

Bảng 2.18: So sánh chi tiêu phúc lợi xã hội và chi tiêu phúc lợi xã hội thực năm 2005

Bảng 2.19: Khoảng cách giàu nghèo của Hàn Quốc qua các năm

Bảng 2.20: Xếp hạng công bằng xã hội của các nước OECD

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Bảng 3.2: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế Bảng 3.3: Thu nhập thực tế bình quân đầu người của Việt Nam

Bảng 3.4: Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam tính theo thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của hộ gia đình

Bảng 3.5: Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo trong tổng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam 2006-2009

Bảng 3.6: Hệ số GINI của Việt Nam (điểm từ 0 đến 1)

Bảng 3.7: Thu nhập bình quân một người một tháng và khoảng cách chênh lệch giàu nghèo của Việt Nam

Bảng 3.8: Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ

tuổi năm 2010

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Xu hướng phát triển chung của hầu hết các nền kinh tế thế giới hiện nay là tập trung phát triển kinh tế xã hội theo hướng ổn định và bền vững Muốn thực hiện được mục tiêu cơ bản này đòi hỏi các nước phải tập trung giải quyết được vấn đề cơ bản giữa tăng trưởng kinh tế với phúc lợi xã hội, công bằng xã hội (hay an sinh xã hội) Hai mục tiêu này có mối quan hệ và tác động mật thiết với nhau Tăng trưởng kinh tế là cơ sở tạo ra lực lượng của cải, vật chất cho xã hội, là điều kiện để thực hiện phúc lợi xã hội Phúc lợi xã hội sẽ tạo ra sự công bằng, bình đẳng xã hội và tạo sự ổn định xã hội, góp

phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững Thực tế cho thấy có

những quốc gia chỉ tập trung cho tăng trưởng kinh tế mà không chú ý tới vấn

đề phúc lợi xã hội dẫn đến một nền kinh tế không ổn định, tạo mâu thuẫn và bất bình đẳng xã hội, làm giảm hoặc phá vỡ các mục tiêu kinh tế

Thực tế đã chứng minh chỉ khi nào đạt được sự cân bằng, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội thì mới tạo nên sự phát triển ổn định, vững chắc và tiến tới một quốc gia thịnh vượng Tuy nhiên do nhiều nhân tố khác nhau tác động nên không phải ở tất cả các giai đoạn và tất cả các quốc gia đều có thể thực hiện được thành công hai mục tiêu nói trên

So sánh với nước ta trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế luôn gắn với công bằng xã hội, đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng hiện nay Phát biểu tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI năm

2011, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh ba nhiệm vụ then chốt trong giai đoạn 2011-2015 là: ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và thực hiện an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, tác động của tăng trưởng kinh tế đến an sinh xã hội ở

Trang 9

nước ta còn nhiều tồn tại, hạn chế dẫn đến phát triển kinh tế xã hội chưa thật

sự ổn định, bền vững: tỷ lệ hộ nghèo và nguy cơ tái nghèo đang có xu hướng tăng, một số hạn chế, bất cập về vấn đề việc làm và các chính sách an sinh xã hội đang ảnh hưởng đến điều kiện sống và làm việc của một bộ phận không nhỏ người dân lao động

Hàn Quốc cũng là một quốc gia có nhiều điểm tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội và xuất phát điểm kinh tế cũng đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta Hơn nửa thế kỷ qua, Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng và trở thành một nước công nghiệp hiện đại, mức thu nhập bình quân cao và là một trong những “con Rồng Châu Á” Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thần kỳ của kinh tế Hàn Quốc trong thời gian qua là nhờ kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện phúc lợi xã hội Những tác động hiệu quả, tích cực từ tăng trưởng kinh tế đến việc thực hiện các vấn đề phúc lợi xã hội, trong đó, các yếu tố tăng trưởng kinh tế đã tạo tiền đề, cơ sở vật chất cơ bản để thực hiện mục tiêu và chính sách phúc lợi xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế Hàn Quốc phát triển

ổn định, bền vững và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao

Chính vì vậy, việc nghiên cứu các tác động tăng trưởng kinh tế đến thực hiện phúc lợi xã hội (an sinh xã hội) là một vấn đề quan trọng, cần thiết (cả về mặt lý luận và thực tiễn) đối với các nước trên thế giới nói chung, Việt Nam

nói riêng Là một học viên Châu Á học, tôi lựa chọn đề tài: “Tác động của tăng

trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010” Với tinh thần lấy ngoài phục vụ trong, từ thành công của Hàn

Quốc, hi vọng có thể tìm ra một số bài học kinh nghiệm có thể tham khảo cho Việt Nam trong việc gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện các vấn đề an sinh

xã hội, công bằng xã hội

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội là vấn đề quan trọng đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu Dưới các góc độ khác nhau, có những công trình nghiên cứu đi sâu phân tích các vấn đề

lý luận, có những công trình nghiên cứu về các tác động và ảnh hưởng của hai yếu tố này Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu đi sâu phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi xã hội và ngược lại trên các bình diện kinh tế, xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội…Trong các công trình này

có thể thấy tiêu biểu một số công trình nghiên cứu sau đây:

a Công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài:

- Công trình nghiên cứu: “한국의 사회복지정책과 경제성장: 사회복지제도의 긴요성과 그 효율성에 대하여 ” của học giả 이철우 (고려대학교 사회학과) (“Tăng trưởng kinh tế và chính sách phúc lợi xã hội của Hàn Quốc:

về tầm quan trọng và tính hiệu quả” của Lee Chol U - khoa xã hội học trường

ĐH Korea); công trình nghiên cứu “경제성장과 사회후생간의 관계” của học giả 강성 진 ( 고려대학교 경제학과 교수) (“Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội” của Kang Syong Jin - Giáo sư khoa Kinh tế ĐH Korea) Các công trình này đều nêu lên được các vấn đề cơ bản như: lý luận chung về tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội, mối quan hệ giữa hai mục tiêu trên; những biến đổi về phúc lợi xã hội của Hàn Quốc qua các giai đoạn từ sau năm 1953, quan hệ giữa phúc lợi xã hội với tăng trưởng và phân phối thu nhập…tuy nhiên chưa nêu rõ được những tác động, đặc biệt những tác động hiệu quả, tích cực từ tăng trưởng kinh tế đến thực hiện phúc lợi xã hội

để tạo nên sự phát triển thần kỳ, bền vững của kinh tế Hàn Quốc; các số liệu còn chưa cập nhật

b Công trình nghiên cứu của các học giả trong nước

Trang 11

- Công trình nghiên cứu “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: Lý

thuyết và thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đỗ Phú Trần Tình,

NXB Lao động, 2010: Công trình này đã căn bản giải quyết được các vấn đề

cơ bản như: nêu lên một số lý luận chung về tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội, kinh nghiệm của một số nước về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, thực trạng về các tác động của tăng trưởng kinh tế đối với việc thực hiện công bằng xã hội ở TP Hồ Chí Minh trong thời gian qua, từ đó đưa ra được những định hướng và giải pháp cơ bản

để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở TP

Hồ Chí Minh trong thời gian tới Tuy nhiên, công trình này cũng mới chỉ nêu lên một số bài học kinh nghiệm chung nhất của một số nước mà chưa có những phân tích cụ thể, đồng thời cũng mới là những nghiên cứu cục bộ của một tỉnh riêng lẻ, chưa có sự khái quát và tính ứng dụng trên phạm vi cả nước

- Công trình nghiên cứu “An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn” của PGS.TS Vũ Văn Phúc - Tổng biên tập Tạp chí Cộng

Sản: Công trình đã nêu được khái quát khái niệm an sinh xã hội và cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội; kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội và những thách thức đang đặt ra đối với quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống

an sinh xã hội ở Việt Nam; quan điểm, mục tiêu, yêu cầu và những giải pháp trọng tâm để đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội

- Công trình nghiên cứu “ Gắn kết tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội ở nước ta” của học giả Hoàng Đức Thân: Công trình đã

khái quát được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội; đồng thời nêu lên thực tiễn giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những định

Trang 12

hướng giải pháp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta giai đoạn 2011-2020

- Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam về chế

độ phúc lợi xã hội nói chung trên thế giới hay của các nước khác như Nhật

Bản đã xuất hiện khá nhiều như: công trình nghiên cứu “Tăng trưởng kinh

tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay”

của học giả Trần Thị Nhung - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á; “Một số vấn

đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản và Việt Nam” của học giả Dương Phú Hiệp,

Nguyễn Duy Dũng; “Phúc lợi xã hội trên thế giới: Quan niệm và phân loại”

của học giả Trần Hữu Quang …song các công trình nghiên cứu về chế độ phúc lợi xã hội của Hàn Quốc thì thực sự còn rất vắng bóng

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã đề cập một cách khá toàn diện và sâu sắc một số khía cạnh liên quan đến tăng trưởng kinh tế và thực hiện chế độ phúc lợi xã hội cả về lý luận và thực tiễn Trong đó, một số công trình đi sâu phân tích kết quả các chính sách xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam, tác động của tăng trưởng kinh tế đối với công bằng

xã hội và tác động của công bằng xã hội đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập một cách hệ thống nội hàm tăng trưởng kinh tế và thực hiện phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Vì vậy, công trình luận văn này trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu đã có, đi sâu hệ thống hóa và phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn 1997-2010, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Thứ nhất: Khái quát một số cơ sở lý luận chủ yếu về tăng trưởng kinh

tế và phúc lợi xã hội

Trang 13

Thứ hai: Phân tích các tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi

xã hội ở Hàn Quốc trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2010

Thứ ba: Trên cơ sở nghiên cứu thực tế tác động của tăng trưởng kinh tế

đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc rút ra một số bài học kinh nghiệm thực tiễn tham khảo và áp dụng đối với nước ta

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng nghiên cứu: Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận cơ bản

về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội, nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế đối với chính sách phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc, trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm tham khảo và áp dụng cho Việt Nam

- Về phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu vấn đề trên trong giai đoạn 1997-2010 (giai đoạn phục hồi khủng hoảng kinh tế của Hàn Quốc) Trong phạm vi của đề tài này, luận văn chỉ chủ yếu nghiên cứu và đề cập đến tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc, mà không đánh giá chiều ngược lại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện bài luận văn này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp sưu tầm, phân loại và xử lý tài liệu

 Phương pháp tổng hợp, phân tích và chứng minh

 Phương pháp phỏng vấn, xin ý kiến chuyên gia, nhà khoa học

 Phương pháp đồng qui, so sánh

 Phương pháp luận về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn bước đầu tập hợp tài liệu, phân tích một cách có hệ thống các tác động của tăng trưởng kinh tế đến thực hiện chế độ phúc lợi xã hội ở Hàn

Trang 14

Quốc trên các mặt của đời sống xã hội Đây là vấn đề mà rất nhiều giới nghiên cứu quan tâm Dưới tác động của tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, chất lượng cuộc sống được nâng cao như thế nào Thông qua tìm hiểu những mặt thành công và hạn chế của quá trình tác động này, chúng ta có liên hệ gì trong quá trình thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam

Trên cơ sở đó, luận văn đã có những đóng góp sau:

 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động tăng trưởng kinh tế đến

 Rút ra được một số bài học kinh nghiệm tham khảo và áp dụng đối với Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văn được

chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội Chương này tập trung trình bày khái quát cơ sở lý luận về

tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội; những tác động của tăng trưởng kinh

tế đến phúc lợi xã hội và mối quan hệ hài hòa giữa hai yếu tố trên

Chương 2: Tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi xã hội của Hàn Quốc từ năm 1997 đến năm 2010 Trong chương này, người viết tập

trung nêu lên những tác động của tăng trưởng kinh tế đến các mặt của hệ

Trang 15

thống phúc lợi xã hội của Hàn Quốc từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm

1997 đến năm 2010 và đánh giá các mặt thành công, hạn chế

Chương 3: Một số bài học kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam từ tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc Chương này tập trung nêu một vài nét về tác động của tăng trưởng

kinh tế đối với việc thực hiện công bằng xã hội, an sinh xã hội ở Việt Nam những năm gần đây và nêu lên các bài học kinh nghiệm có thể tham khảo

từ Hàn Quốc

Trang 16

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÚC LỢI XÃ HỘI

1.1 Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế

1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu tại mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn

Nếu tiếp cận trong ngắn hạn, thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định

Nếu tiếp cận trong dài hạn, thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng quy

mô sản lượng hay sự mở rộng sản lượng của một nền kinh tế qua các năm (sự

mở rộng của sản lượng tiềm năng)

Như vậy có thể định nghĩa chung nhất về tăng trưởng kinh tế như sau: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập thực tế hay sự gia tăng về quy mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh

sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng dùng để so sánh tương đối giữa các thời kỳ Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao

1.1.2 Các thước đo tăng trưởng kinh tế

Đo lường tăng trưởng kinh tế là một vấn đề được các quốc gia, các nhà kinh tế hết sức quan tâm Theo quan điểm của kinh tế học vĩ mô hiện đại ngày

Trang 17

nay, thước đo tăng trưởng kinh tế được xác định bao gồm hai tiêu chí chính sau:

- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product) là tổng giá

trị tính bằng tiền của những hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) là tổng giá

trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm)

Tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với năm trước

GNP và GDP là hai thước đo tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh

tế của một nước biểu hiện bằng giá cả Ngoài ra, nếu xác định theo hệ thống tài sản quốc gia (SNG) thì có thể thấy một số các tiêu chí khác như:

- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output): là tổng giá trị sản phẩm

vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

- Tổng thu nhập quốc dân (GNI - Gross National Income): là tổng giá

trị của những hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi yếu tố sản xuất của một nước trong một khoảng thời gian nhất định Giữa GNI và GNP là như nhau GNI là tiếp cận thu nhập còn GNP là tiếp cận ở góc độ sản phẩm

Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP, GNI còn được sử dụng

để đánh giá mức thu nhập bình quân đầu người Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh và là tiền đề

để nâng cao mức sống của dân cư

Trang 18

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế được chia thành hai loại chính:

- Các nhân tố kinh tế: là các nguồn lực mà sự biến đổi của nó trực tiếp

làm biến đổi sản lượng đầu ra, các nhân tố này còn gọi là các yếu tố sản xuất; các yếu tố này bao gồm vốn, lao động, đất đai tài nguyên, công nghệ và kỹ thuật

- Các nhân tố phi kinh tế: bao gồm các nguồn lực đầu vào không trực

tiếp mà gián tiếp ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế như: đặc điểm văn hóa -

xã hội, thể chế chính trị và quản lý nhà nước, nhân tố dân tộc

1.1.4 Vai trò của tăng trưởng kinh tế

Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội Trong

đó, tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội

Tăng trưởng kinh tế là điều kiện quan trọng đầu tiên và cơ bản nhất để khắc phục tình trạng đói nghèo của quốc gia, khắc phục sự lạc hậu, làm cho đời sống vật chất tinh thần của người dân ngày càng cải thiện, xóa bỏ dần các phong tục, tập quán lạc hậu

Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng GDP, tốc độ xuất khẩu; giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao mức sống của nhân dân, cải thiện các mặt an sinh xã hội như giáo dục, y tế, nhà ở…

Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất cho việc củng cố an ninh, quốc phòng, củng cố chính trị, tăng uy tín của nhà nước, làm tăng sự đồng thuận trong xã hội

Trang 19

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cũng có những mặt trái của nó Nếu trong quá trình tăng trưởng kinh tế quá chú trọng đến tốc độ tăng trưởng mà xem thường các vấn đề khác, thì dễ dẫn đến tình trạng tàn phá tài nguyên môi trường, phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, văn hóa xã hội không theo kịp phát triển kinh tế…

Chính vì vậy, chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (1996, UNDP - United Nationns Development Programme) đã liệt kê năm loại kinh

tế xấu, bao gồm [27,tr.12]:

- Tăng trưởng kinh tế không lương tâm: đó là tăng trưởng kinh tế mà thành quả của nó chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo ít được hưởng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng

- Tăng trưởng kinh tế không việc làm: đó là tăng trưởng kinh tế nhưng không mở rộng cơ hội tạo thêm việc làm, hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp với những công việc có năng suất thấp, trong khu vực nông nghiệp và khu vực không chính thức

- Tăng trưởng kinh tế không có tiếng nói: tức là tăng trưởng kinh tế không đi kèm với việc mở rộng nền dân chủ hay là việc trao đổi thêm quyền lực cho dân, dập tắt những đòi hỏi được tham gia nhiều hơn của cộng đồng vào các quyết sách liên quan đến đời sống xã hội

- Tăng trưởng kinh tế không gốc rễ: đó là tăng trưởng kinh tế khiến cho nền văn hóa, đời sống tinh thần của con người ngày càng khô héo

- Tăng trưởng kinh tế không có tương lai: tức là tăng trưởng kinh tế trong đó thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến

1.2 Lý luận chung về phúc lợi xã hội

1.2.1 Khái niệm phúc lợi xã hội

Để tạo nên sự phát triển ổn định và bền vững, hầu hết các quốc gia hiện nay đều quan tâm đến việc giải quyết và kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa hai chính sách cơ bản là chính sách kinh tế và chính sách xã hội Nền tảng của

Trang 20

chính sách kinh tế ở đây chính là tăng trưởng kinh tế, còn chính sách xã hội chính là các vấn đề về công bằng xã hội, an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội Nội hàm của ba khái niệm này về cơ bản có nhiều nét tương đồng với nhau

Công bằng xã hội được hiểu là sự bình đẳng trong cơ hội việc làm, cơ hội về buôn bán và đầu tư; nghĩa là bình đẳng trong việc tiếp cận những cơ hội mà với cố gắng và năng lực sẵn có, con người có thể đạt được một mức sống cao hơn hiện nay [16,tr.175-176] Như vậy, khi công bằng xã hội được thực hiện, mọi tầng lớp dân cư đều được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển kinh tế và đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển Công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện quan trọng nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

An sinh xã hội là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi hiện nay, theo nghĩa tiếng Anh là Social Security Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong công ước quốc tế số 102, an sinh xã hội là "sự bảo

vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con" [28,tr.13]

Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) quan niệm “An sinh xã hội là một

hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân”[30,tr.8] Tuy nội hàm của an sinh xã hội có thể hiểu khác nhau, song các quan niệm đều thống nhất với nhau về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp

bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác Chính sách an sinh

Trang 21

xã hội là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức

năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm đời sống và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội [30,tr.7]

Thuật ngữ phúc lợi xã hội được dịch từ tiếng Anh là Social Welfare, đó

là những biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm khắc phục những “thất bại”, khiếm khuyết của thị trường Bản chất của phúc lợi xã hội là các biện pháp giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội, đảm bảo cho các thành viên trong

xã hội đều có thể thụ hưởng những cái “chung” của xã hội Một mặt phải làm cho cái “bánh” của xã hội to ra; mặt khác phải “chia” cái “bánh” đó hợp lý [28,tr.13]

Như vậy khái niệm công bằng xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội khá tương đồng với nhau nhưng cũng có sự khác biệt Công bằng xã hội có phạm vi rộng lớn và bao trùm nhất, là yếu tố tác động trực tiếp đến lợi ích của chủ thể hoạt động, kích thích tính năng động, sáng tạo và nhiệt tình của mọi thành viên trong xã hội; nếu như mục tiêu của an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập thì mục tiêu của phúc lợi xã hội là giảm bớt sự bất công bằng xã hội Tuy nhiên, giữa công bằng xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội có cùng một mục tiêu hướng đến là một xã hội hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người Trong đó, có thể hiểu phúc lợi xã hội là một bộ phận của an sinh xã hội phân phối lại không theo lao động

Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội không chỉ là bảo vệ quyền của mỗi người dân như đã nêu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (“Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có mức sống tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế, dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau,

tàn tật, góa phụ, tuổi già hoặc các trường hợp bất khả kháng khác” - Được

Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217

Trang 22

(III), ngày 10/12/1948), mà còn là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia

trong quá trình phát triển Tuy nhiên, mức độ, quy mô, phạm vi an sinh xã hội

và phúc lợi xã hội của các nước có sự khác nhau

1.2.2 Các chỉ số liên quan đến nội hàm giải quyết của phúc lợi xã hội

Để tạo ra một xã hội công bằng, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế phát triển ổn định và bền vững, các nước đang áp dụng và thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng đến ba chỉ số cơ bản: HPI, HDI, GINI Nội hàm cụ thể của ba chỉ số cơ bản này được cụ thể hóa như sau:

- Chỉ số người nghèo khổ (Human Poverty Index - HPI)

HPI = ( P31 + P32 + P33 ) / 3 Trong đó :

P1 : tỷ lệ dân số không kỳ vọng sống quá 40 tuổi

P2 : tỷ lệ người lớn không biết chữ

P3 : được tính bằng trung bình cộng 3 chỉ số gồm tỷ lệ suy sinh dưỡng, tỷ lệ không tiếp cận dịch vụ y tế, tỷ lệ các hộ không tiếp cận phương tiện vệ sinh bảo đảm

- Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI)

Không phải lúc nào thu nhập cũng là thước đo tốt nhất phản ánh những

gì hình thành nên cuộc sống con người Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc, phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng (bao gồm sự tự do về kinh tế, chính trị, xã hội) để con người có được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền con người Do đó, một thước đo tóm lược tình trạng phúc lợi của con người được Liên Hợp Quốc dùng là chỉ số phát triển con người - HDI HDI là một chỉ số tổng hợp đo lường thành tựu trung bình ở một quốc gia về ba phương diện cơ bản của phát triển con người: một cuộc đời khỏe mạnh và lâu dài, tiếp cận tới tri thức; và mức sống hợp lý

Trang 23

HDI = (IA + IE + IIN)/3

IA : chỉ số đo tuổi thọ

IE : chỉ số đo tri thức giáo dục (đo bằng chỉ số tổng hợp giữa tỷ lệ biết chữ của người lớn-trọng số 2/3- và tỷ lệ nhập học cấp giáo dục-trọng số 1/3)

IIN: chỉ số đo mức sống

Nhu cầu cơ bản của con người là nhu cầu về dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, môi trường Các chỉ tiêu này chính là kết quả của việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân

- Tình trạng bất bình đẳng thu nhập thông qua đường cong Lorenz và

hệ số GINI

Phúc lợi xã hội ngoài việc phản ánh nhu cầu cơ bản của con người còn phản ánh tình trạng bất bình đẳng về thu nhập thông qua đường cong Lorenz

và hệ số Gini

* Đường cong Lorenz

Conrad Lorenz - nhà thống kê người Mỹ năm 1905 đã xây dựng biểu

đồ biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm dân số khác nhau và tỷ lệ thu nhập nhận được khác nhau Trục hoành thể hiện tỷ lệ % cộng dồn của dân số Trục tung thể hiện % cộng dồn của thu nhập mà mỗi phần trăm dân số nhận được

Đường cong Lorenz cho thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm dân số

và tỷ lệ phần trăm trong tổng thu nhập nhận được trong một khoảng thời gian nhất định Khoảng cách giữa đường 45 và đường cong Lorenz cho biết mức

độ bất bình đẳng trong thu nhập

Trang 24

* Hệ số Gini

Đường Lorenz thể hiện bằng hình vẽ, không lượng hóa mức độ cụ thể của tình trạng bất bình đẳng Vì thế, hệ số Gini là thước đo được sử dụng rộng rãi hiện nay, có giá trị từ 0 (hoàn toàn bình đẳng) đến 1 (hoàn toàn bất bình đẳng), hoặc là từ 0% đến 100% nếu tính theo phần trăm Một quốc gia có hệ số Gini càng gần 0 thì nền kinh tế càng bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, còn ngược lại hệ số này càng gần 100 thì càng bất bình đẳng Là một yếu tố thể hiện một cách sơ lược, hệ số Gini thường có giá trị trong khoảng từ 30- 45% hoặc

“phạm vi bất bình đẳng hiệu quả” có thể là phù hợp cho tăng trưởng cao, nhưng

sẽ là không thích hợp nếu hệ số này dưới 30% hoặc trên 45%

* Ngoài ra, để đánh giá tình trạng bất bình đẳng về thu nhập còn có thể dùng một số thước đo khác như: hệ số giãn cách Chỉ tiêu này được xác định bởi mức chênh lệch thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao nhất với 20% dân số có thu nhập thấp nhất Hệ số chênh lệch (giãn cách) càng lớn thì tình hình bất bình đẳng càng cao

1.2.3 Kết cấu chế độ phúc lợi xã hội

Chế độ phúc lợi xã hội gồm ba trụ cột: Bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội

và dịch vụ phúc lợi xã hội

Trang 25

- Bảo hiểm xã hội (bao gồm cả bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp):

Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là những bộ phận quan trọng nhất trong chế độ phúc lợi xã hội, còn gọi là trụ cột chính của phúc lợi xã hội Phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Theo quy định tại Điều 3, Luật bảo hiểm xã hội Việt Nam: “Bảo hiểm

xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [17]

- Cứu trợ xã hội:

Cứu trợ xã hội được hiểu là cơ chế trợ giúp của nhà nước thông qua tái phân phối thu nhập quốc dân đối với các thành viên trong xã hội gặp phải thiên tai hoặc vấn đề kinh tế, xã hội mà không duy trì được mức sống tối thiểu, chủ yếu bao gồm chế độ bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân thành thị, cứu trợ thiên tai, cứu trợ khó khăn, cứu trợ thất nghiệp, cứu trợ tai nạn lao động, cứu trợ chữa bệnh Cứu trợ xã hội là tuyến phòng thủ cuối cùng của mạng lưới an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm ở cấp độ thấp nhất [18,tr.34]

Ở Việt Nam, Điều 1 Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 9/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội ghi rõ: “Nghị định này quy định một

số chính sách và chế độ cứu trợ xã hội nhằm hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất, tinh thần cho người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật nặng, người gặp rủi ro

do thiên tai và những lý do bất khả kháng khác mà bản thân họ và người thân của họ không thể tự khắc phục được”

Trang 26

- Dịch vụ phúc lợi xã hội:

Dịch vụ phúc lợi xã hội là hình thức trợ cấp xã hội mang tính kinh tế và mang tính xã hội với hình thức trợ cấp hiện vật và các dịch vụ xã hội như: các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở công cộng dành cho người già, người khuyết tật; các viện dưỡng lão, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người già, người tàn tật; các trường học cho trẻ khuyết tật, lắp đặt các thiết bị phục vụ người khuyết tật ở những nơi công cộng…

Dịch vụ xã hội có thể bao gồm những dịch vụ y tế, phòng ngừa y tế (vệ sinh phòng dịch, y tế dự phòng…), phòng ngừa tai nạn, dịch vụ đối với người tàn tật (phục hồi chức năng, cung cấp bộ phận giả…), dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, thực hiện tái thích ứng nghề… Tùy thuộc vào sự phát triển của kinh

tế cũng như nhu cầu của xã hội trong từng thời kỳ mà dịch vụ xã hội phát triển ở những loại nào nhưng hầu như quốc gia nào cũng quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ y tế để đảm bảo cho rủi ro ốm đau lên hàng đầu

1.3 Tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi xã hội

Tăng trưởng kinh tế có vai trò hết sức quan trọng để thực hiện phúc lợi

xã hội bởi tăng trưởng kinh tế tạo ra nguồn vốn, làm tăng tích lũy và ngân sách, từ đó tạo tiền đề vật chất để nhà nước và xã hội thực hiện các chương trình, mục tiêu của phúc lợi xã hội

Để phân tích sâu hơn, có thể đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế đối với thực hiện phúc lợi xã hội trong một số khía cạnh chủ yếu sau đây:

1.3.1 Tăng trưởng kinh tế là cơ sở vật chất để thực hiện phúc lợi xã hội

Tăng trưởng kinh tế là vấn đề cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia Bởi thế, chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình cho sự tăng trưởng kinh tế, coi đó là cái gốc, là nền tảng để giải quyết mọi vấn đề khác Trên cơ sở giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế tạo ra nhiều của cải làm tiền đề vật chất, người ta mới có thể giải quyết hàng loạt

Trang 27

vấn đề khác như cân bằng ngân sách, đầu tư chiều sâu, phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, chống lại các loại tội phạm, đảm bảo ngân sách cho quốc phòng, an ninh

Tăng trưởng kinh tế được coi là động lực vật chất, vừa là điều kiện, vừa

là tiền đề để thực hiện phúc lợi xã hội Chỉ khi tăng trưởng kinh tế đạt đến một trình độ nhất định thì mới tạo ra nguồn của cải vật chất, tạo nguồn ngân sách, nguồn tích lũy cũng như cơ sở hạ tầng và từ đó mới có điều kiện đầu tư cho phúc lợi xã hội Một nền kinh tế tăng trưởng thấp thì khó có điều kiện để thực hiện tốt các vấn đề xã hội như ở nền kinh tế phát triển cao hơn Một nước nghèo thì các điều kiện vật chất thường hạn chế nên phải coi tăng trưởng kinh tế là điều kiện, là cơ sở để giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt

là phúc lợi xã hội

Từ kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển cho thấy, hiệu quả xã hội từ tăng trưởng kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh từ những ngành kinh tế có giá trị gia tăng thấp sang các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, nhờ đó đã cải thiện đáng kể tổng sản phẩm quốc nội (GDP), làm tăng thu nhập bình quân đầu người Khi kinh tế phát triển cũng đồng nghĩa với việc nguồn chi cho phát triển con người ngày càng tăng (giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội…), giảm tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo, tăng nguồn kinh phí cho các chính sách bảo hiểm xã hội và các chính sách an sinh xã hội khác…

Không thể có phúc lợi xã hội và công bằng xã hội trong nền kinh tế ở trình độ phát triển thấp kém (suy thoái, thiếu hụt, khủng hoảng ) và người dân còn nhiều vấn đề phải lo toan về những nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc sống (như ăn, mặc, ở, đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) Nếu không có tăng trưởng

Trang 28

kinh tế thì không thể có phúc lợi xã hội lâu dài và vì vậy không thể phát triển bền vững được

1.3.2 Tăng trưởng kinh tế là điều kiện và tiền đề để phát triển và đa dạng hóa các hoạt động phúc lợi xã hội

Kinh tế phát triển sẽ nâng cao đời sống từng cá nhân và toàn xã hội, tạo điều kiện cho cá nhân tích cực tham gia vào các hoạt động phúc lợi xã hội Kinh tế phát triển, nhà nước sẽ có nhiều nguồn thu để thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội Chính phủ các nước thường dành một tỷ lệ nhất định của GNP để chi cho phúc lợi xã hội nên thu nhập quốc dân càng lớn thì khả năng ngân sách chi cho phúc lợi xã hội càng lớn Nói cách khác, sự quan tâm

và mức chi phí dành cho phúc lợi xã hội tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế

Phúc lợi không chỉ thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người mà còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập

và chăm lo sức khoẻ,… Tăng trưởng kinh tế cao sẽ đem lại nhiều lợi ích như tiền lương, phúc lợi, giáo dục, y tế, cơ hội việc làm cho người dân Nhờ tăng trưởng kinh tế nhà nước mới có điều kiện xây dựng những cơ sở phúc lợi như trại dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, cơ sở phúc lợi giành cho người tàn tật, khu vui chơi giải trí, các bệnh viện mới và hiện đại, mở mang hệ thống giáo dục, y tế…

Nhờ có tăng trưởng kinh tế mới có điều kiện để xây dựng hoàn chỉnh

hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo việc làm, chăm sóc sức khỏe, văn hóa - thông tin, thể dục thể thao; xây dựng hệ thống an sinh xã hội

đa dạng: phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, hướng tới xuất khẩu lao động trình độ cao; tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương; phân phối thu nhập xã hội công bằng, hợp lý

để tạo được động lực phát triển mạnh, góp phần phòng chống tiêu cực, tệ nạn

Trang 29

xã hội; tăng nguồn lực đầu tư của nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội

và thực hiện các mục tiêu xã hội

Trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, Nhà nước có điều kiện tăng đầu tư nâng cao mức và chất lượng chăm sóc sức khỏe cơ bản cho toàn dân, quan tâm nhiều hơn nữa cho các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa, hộ nghèo; đồng thời khuyến khích phát triển đa dạng, các dịch vụ y tế ngoài công lập

1.3.3 Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện mở rộng sản xuất, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp và lạm phát

Tăng trưởng kinh tế tạo khả năng tăng thu ngân sách nhà nước và tăng thu nhập dân cư Nhờ có tăng trưởng kinh tế, Nhà nước và nhân dân mới có tích lũy để tăng chi đầu tư phát triển trên các lĩnh vực chủ yếu như cơ sở hạ tầng, giao thông, giáo dục, nghề nghiệp, y tế, đồng thời mở rộng sản xuất…nhằm tạo ra nhiều cơ hội việc làm và giúp người dân ngày càng phát triển toàn diện hơn cả về thể chất, tinh thần, trình độ dân trí, trình độ tay nghề Lực lượng lao động qua đào tạo cũng ngày càng tăng từ đó tạo điều kiện cho người lao động chuyển từ việc làm có thu nhập thấp sang việc làm có thu nhập cao hơn, chuyển từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang những việc làm

có năng suất cao hơn trong khu vực sản xuất công nghiệp hay dịch vụ Như vậy, tăng trưởng kinh tế không những góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ

lệ thất nghiệp mà còn tạo cơ hội cho người lao động tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống

Mặt khác, tăng trưởng kinh tế cũng tạo điều kiện nâng cao tích lũy, tạo điều kiện ổn định hệ thống tài chính - tiền tệ, ổn định sản xuất và tiêu dùng, cân đối cung - cầu theo quy luật điều tiết của thị trường Chính vì thế, tăng trưởng kinh tế là nhân tố quan trọng để duy trì nền kinh tế phát triển ổn định

và giảm thiểu lạm phát

Trang 30

Tăng trưởng kinh tế nóng với mục đích hướng đến tối đa hóa lợi nhuận

sẽ dẫn đến những hạn chế đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng xã hội cũng như các chính sách liên quan đến bình đẳng xã hội, tạo ra môi trường kinh tế -

xã hội mất ổn định Sự tăng trưởng quá mức nhanh chóng vì những động cơ

có lợi ích cục bộ trước mắt đã đưa đến sự khai thác bừa bãi không chỉ ở phạm

vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tế, khiến các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ và môi trường sinh thái bị phá hủy nặng nề Phát triển đưa lại những giá trị mới song nó cũng phá hủy và hạ thấp một số giá trị truyền thống tốt đẹp, đồng thời xuất hiện tệ nạn tham nhũng

Như vậy, một chính sách kinh tế tốt là một chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong công bằng, không làm gia tăng quá đáng mức độ chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư, tăng trưởng phải gắn với xóa đói giảm nghèo bền vững; bảo đảm cho mọi người, nhất là người nghèo, nhóm xã hội yếu thế đều có cơ hội được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế thông qua các biện pháp gián tiếp như đầu tư cho giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường Tại Đông Nam Á, chỉ quốc gia nào xây dựng và thực hiện thành công

cả hai chính sách kinh tế và chính sách xã hội mới đạt được sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ

1.4 Mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội

“Tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội”

là hai mục tiêu mà mọi quốc gia trên thế giới luôn hướng tới nhằm tạo nên sự phát triển ổn định, bền vững Cho đến nay đã có những nghiên cứu về tác

Trang 31

động tích cực và tiêu cực của hai mục tiêu trên Chính sách kinh tế trở thành một trong những phương tiện trọng tâm để nâng cao phúc lợi của người dân

và chính sách phúc lợi xã hội trở thành nền tảng của kinh tế thực hiện vai trò

là tổ chức hạt nhân của hòa hợp xã hội Chế độ phúc lợi xã hội với việc cải thiện những hậu quả xấu do tăng trưởng kinh tế gây ra thì không những kích thích tăng trưởng kinh tế mà còn trở thành nền tảng của tăng trưởng kinh tế Nếu chế độ phúc lợi xã hội càng tốt sẽ càng nâng cao tính hiệu quả xã hội và xây dựng hệ thống xã hội ổn định

Kinh nghiệm các nước cho thấy nếu quá quan tâm đến tăng trưởng mà

ít chú ý đến công bằng xã hội sẽ dẫn đến bất ổn xã hội và tăng trưởng không thể bền vững, ngược lại, nếu quá đề cao công bằng xã hội sẽ không có động lực để thúc đẩy tăng trưởng Sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để giải quyết vấn đề xã hội Không thể có phúc lợi xã hội và công bằng xã hội trên cơ sở một nền kinh tế kém phát triển, cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững trong một xã hội mà con người ốm yếu

về thể chất, trình độ dân trí thấp và một bộ phận đáng kể lực lượng lao động chưa được đào tạo, thất nghiệp, đói nghèo

Như vậy chế độ phúc lợi xã hội và chính sách kinh tế phải tương trợ lẫn nhau và phải đạt được sự hài hòa và cân bằng Bởi vì chính sách phúc lợi xã hội thực hiện mục đích là ổn định và đảm bảo cuộc sống kinh tế của cá nhân người dân và đó cũng là mục đích mà chính sách kinh tế đang theo đuổi thông qua phân phối và tiêu dùng Chỉ khi tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội được theo đuổi đồng thời và đạt được sự hài hòa mới có thể tiến tới một quốc gia thịnh vượng và bền vững

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Để tạo được sự phát triển kinh tế ổn định và bền vững thì tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội là hai mục tiêu mà mọi quốc gia trên thế giới luôn hướng tới Trong chương 1, luận văn đã trình bày tổng quát lý luận chung về tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội bao gồm các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội, an sinh xã hội; các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh

tế và các chỉ số liên quan đến nội hàm giải quyết của phúc lợi xã hội; phân tích các tác động của tăng trưởng kinh tế đến việc thực hiện các mục tiêu, chính sách phúc lợi xã hội

Đây cũng chính là những cơ sở để phân tích, đánh giá các tác động của tăng trưởng kinh tế đối với việc thực hiện phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc; từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể tham khảo và áp dụng cho Việt Nam trong quá trình kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, an sinh

xã hội trong các phần tiếp theo của luận văn

Trang 33

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

ĐẾN PHÚC LỢI XÃ HỘI CỦA HÀN QUỐC

tế gián đoạn và sự phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ nước ngoài

Nhưng từ năm 1962 nhờ thực hiện nghiêm túc các chiến lược phát triển kinh tế, sau chưa đầy bốn thập kỉ, Hàn Quốc đã trở thành một trong những nước có nền kinh tế phát triển vượt bậc, đạt được những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kì về kinh tế của Hàn Quốc như là “Huyền thoại sông Hàn” Cuối thế kỉ XX, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại Từ 1962 đến 2005, tổng thu nhập quốc dân (GNP) của Hàn Quốc tăng từ 2,3 tỷ USD lên 786,8 tỷ USD GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007 Đó là một quá trình phi thường đã nhanh chóng giúp cải tạo nền kinh tế Hàn Quốc, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của đất nước

Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính Châu Á bùng nổ năm 1997 tại Thái Lan đã ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn ở nhiều nước châu Á, trong đó có những quốc gia được coi là “những con rồng Châu Á” như Singapo, Hàn Quốc

Trang 34

Sau một thời gian dài tăng trưởng nóng, nền kinh tế phát triển nhanh, nhưng khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ đã tác động mạnh đến toàn bộ nền kinh tế Hàn Quốc Trước hết là sự phá giá mạnh của đồng won và sự chao đảo dữ dội trên thị trường chứng khoán đưa cuộc khủng hoảng tài chính

- tiền tệ ở Hàn Quốc vào tình trạng tồi tệ nhất kể từ ba thập kỷ qua, kéo theo

sự sụp đổ toàn diện của nền kinh tế Hàn Quốc Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế năm 1997 chỉ đạt 5,5% so với 7,1% của năm 1996 và 8,9% của năm 1995, là mức thấp nhất kể từ năm 1970 Năm 1998, tăng trưởng GDP thực tế ở mức

âm 5,8% [16,tr.78] Sự phá sản của hàng loạt các công ty lớn, vừa và nhỏ ở Hàn Quốc trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, cùng với lệnh đóng cửa

14 ngân hàng không có khả năng thanh toán là đòn giáng nặng nề đối với nền kinh tế Hàn Quốc vốn quen với tỷ lệ tăng trưởng cao và sự bành trướng kinh

Sau những năm cơ cấu lại bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997-1998, nền kinh tế Hàn Quốc đã phục hồi và trên đà vững mạnh trở lại Tăng trưởng kinh

tế của Hàn Quốc được phản ánh qua sự gia tăng không ngừng của GDP, cơ cấu kinh tế thay đổi về căn bản, chất lượng tăng trưởng được gắn liền với tốc

độ tăng trưởng kinh tế Những vấn đề về môi trường, phúc lợi xã hội cũng được quan tâm ngay từ những thời kì đầu tiên của quá trình phát triển kinh tế

Trang 35

Bảng 2.1: Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kì và các năm (%)

Thời kỳ

1995-1999

2000-2005 2006* 2007* 2008* 2009* 2010** Tốc độ

và tiếp tục phát triển Tốc độ tăng GDP năm 1999 đã đạt mức 2% và năm

2000 đạt 7,2%

Năm 2007, GDP của Hàn Quốc đạt mức tăng trưởng 5,1% Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tốc độ tăng GDP đã tụt xuống 2,3% vào năm 2008 và năm 2009 tiếp đó lại giảm xuống 0,3% trong khi tốc

độ tăng trưởng bình quân trung bình của OECD là - 3,5%

Bảng 2.2: Bảng thống kê tăng trưởng của 30 nước OECD

4 nước (Thụy

Sỹ, Na Uy,

Hy Lạp, Newzeland)

8 nước (Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha )

15 nước (Anh, Nhật, Đức )

-3,5%

Theo Yonhapnews [37]

Trang 36

Như vậy mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc giảm mạnh xong Hàn Quốc vẫn là một trong ba nước thành viên của OECD có tốc độ tăng trưởng kinh tế dương

Theo báo cáo của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK) tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thường niên của Hàn Quốc năm 2010 đạt 6,1% [49] Đây là mức cao nhất trong vòng 8 năm trở lại đây tại nước này (kể từ sau năm 2002) Đây là một sự tăng trưởng nổi bật bởi trong năm 2009, GDP của Hàn Quốc chỉ tăng 0,2% Trước đó, mức tăng trưởng lớn nhất mà Hàn Quốc đạt

được là 7,2% vào năm 2002 Hàn Quốc được đánh giá là một trong những

quốc gia có tốc độ hồi phục khủng hoảng khá rõ ràng so với các nước phát triển trên thế giới

Nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quy mô GDP của Hàn Quốc tăng lên nhanh chóng Năm 1998, do tỷ giá hối đoái biến động, tổng thu nhập quốc dân giảm mạnh xuống còn 340,4 tỷ USD nhưng con số này năm 2002 đã tăng trở lại và đạt mức trước khủng hoảng kinh tế [6,tr.73] Năm 2006, tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của Hàn Quốc đạt khoảng 951,7 tỷ USD

Năm 2009, mặc dù GDP của Hàn Quốc chỉ đạt 832,5 tỷ USD do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, giảm so với mức 931,4 tỷ USD năm

2008, nhưng nước này vẫn đứng thứ 15 trên thế giới về quy mô kinh tế theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) Đây là năm thứ hai liên tiếp Hàn Quốc duy trì được vị trí này Theo Bộ Kế hoạch và Tài chính Hàn Quốc, GDP năm 2010 của Hàn Quốc đạt khoảng 1.140 nghìn tỷ won, tương đương hơn 1.100 tỷ USD, cao nhất trong vòng 3 năm kể từ sau cuộc khủng hoảng năm 2008

Trang 37

Bảng 2.3 : Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của Hàn Quốc

qua các năm

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010

Về thứ hạng GDP toàn cầu năm 2010, Hàn Quốc cạnh tranh với Australia và Mexico ở vị trí thứ 13 Đây là một thành tựu nổi bật bởi Hàn Quốc đã từng là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới vào những năm 1950 Việc phục hồi trở lại ngưỡng 1.000 tỷ USD vào năm 2010 chứng

tỏ tiềm năng của nền kinh tế Hàn Quốc

b Thu nhập bình quân đầu người

Hàn Quốc lần đầu tiên đạt mức thu nhập bình quân đầu người 10.000 USD vào năm 1995 Nhưng chỉ 2 năm sau đó, khủng hoảng tiền tệ xuất phát

từ châu Á đã làm rung chuyển thị trường tài chính toàn cầu, khiến tỷ giá hối đoái của Hàn Quốc tăng chóng mặt, đẩy thu nhập bình quân đầu người rơi xuống còn 6.000 USD Sau đó, tuy tình hình có được cải thiện nhưng đến năm 2008, khủng hoảng tài chính lại phát sinh khiến nền kinh tế thế giới một lần nữa rơi xuống dốc và Hàn Quốc cũng không phải ngoại lệ Thị trường tài chính bất ổn, việc thu hồi vốn khó khăn và nhiều yếu tố khác khiến tỷ giá hối đoái tăng cao và thu nhập bình quân đầu người giảm xuống còn khoảng 19.000 USD năm 2008, 17.000 USD vào năm 2009 Nhưng đến năm 2010, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc đã được khôi phục trở lại mức trên 20.000 USD Thu nhập bình quân đầu người là chỉ số tổng hợp biểu thị mức sống, sức mua của người dân một nước, là một trong những chỉ số kinh

tế quan trọng nhất Nói như thế để thấy được ý nghĩa lớn lao khi Hàn Quốc đạt được thành tích này

Trang 38

Bảng 2.4: Những thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người trong

Chiến lược phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu được tổng thống Park Chung Hee đưa ra trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1967- 1971) Từ đó đến nay kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc liên tục tăng từ 284,42 tỷ USD năm 2005 lên 422,01 tỷ USD năm 2008, tăng 48,4% và năm 2010 đạt 466,4

tỷ USD, tăng 64% so với năm 2005 Kim ngạch nhập khẩu cũng tăng nhanh

từ 261,24 tỷ USD năm 2005 lên 425,2 tỷ USD năm 2010, tăng 62,8%

Trang 39

Bảng 2.5: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Hàn Quốc qua các năm

Đơn vị: Tỷ USD

Xuất khẩu 284,42 325,47 371,49 422,01 361,61 466,4 Nhập khẩu 261,24 309,38 356,85 435,28 322,84 425,2

Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu của Ngân hàng Phát triển Châu Á

http://world.kbs.co.kr/vietnamese/news/news_Ec_detail.htm?No=15803

Năm 2007 mức xuất khẩu của Hàn Quốc đứng thứ 11 trên thế giới Các khu vực chủ yếu mà Hàn Quốc xuất khẩu là Trung Quốc 22%; Mỹ 12,3%; Nhật Bản 7% Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là điện thoại di động, tàu biển, chất bán dẫn…

Động lực chính thúc đẩy nền kinh tế của Hàn Quốc hiện nay vẫn là lĩnh vực xuất khẩu Năm 2010, xuất khẩu của Hàn Quốc đã đạt mức thặng dư cao

kỷ lục là 41,2 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 466,4 tỷ USD (tăng gấp ba lần chỉ trong mười năm kể từ khi đạt 150,4 tỷ USD vào năm 2001) và kim ngạch nhập khẩu đạt 425,2 tỷ USD Như vậy, Hàn Quốc đã lập kỷ lục thặng dư thương mại hai năm liên tiếp Con số này của năm 2009 là khoảng 39

tỷ USD Với kết quả này, hiện Hàn Quốc được xếp là nước xuất khẩu lớn thứ bảy trên thế giới, tăng hai bậc so với năm 2009 [49] Thành tích xuất khẩu ấn tượng này là một minh chứng về sự phục hồi nhanh của nền kinh tế Hàn Quốc

Tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ so với tổng sản phẩm trong nước của Hàn Quốc cũng liên tục tăng: năm 1997 kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc là 34,7% GDP thì đến năm 2008 đã tăng lên 53,0% GDP và năm 2010 đạt 52,4% GDP

Trang 40

Bảng 2.6: Tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP của Hàn Quốc

d Sự thay đổi cơ cấu kinh tế

Chất lượng tăng trưởng kinh tế ổn định của Hàn Quốc cũng được phản ánh qua cơ cấu kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản kể từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á

Nổi bật nhất là tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 5,4% năm 1997 xuống còn 3,3% vào năm 2005, 2,7% năm 2008 và đến năm 2010 chỉ còn 2,6% Tỷ trọng ngành công nghiệp đã giảm từ 43,1% năm 1997 xuống còn 37,7% vào năm 2005, 36,5% năm 2008 và 39,3% năm 2010 Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ, từ 51,5% năm 1997 lên 59,0% năm 2005, 60,8% năm 2008 và 58,1% năm 2010

Bảng 2.7: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế của

Hàn Quốc giai đoạn 1997-2010

Đơn vị: % Năm 1997* 2001* 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nông nghiệp 5,4 4,4 3,3 3,2 2,9 2,7 2,6 2,6 Công nghiệp 43,1 41,4 37,7 37,2 37,1 36,5 36,5 39,3 Dịch vụ 51,5 54,2 59,0 59,7 60,0 60,8 60,9 58,1

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010; (*) World Development Indicators Database, April 2003

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình - Phạm Quý Long (2000), Hàn Quốc trên đường phát triển, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc trên đường phát triển
Tác giả: Ngô Xuân Bình - Phạm Quý Long
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2000
2. Ngô Xuân Bình (2002), Cải cách giáo dục ở Hàn Quốc, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách giáo dục ở Hàn Quốc
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
3. Byung - Nak Song, Ban nghiên cứu Hàn Quốc học (2002), Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy
Tác giả: Byung - Nak Song, Ban nghiên cứu Hàn Quốc học
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
4. Ngô Xuân Bình (2006), Giải quyết các vấn đề xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế - kinh nghiệm Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4 (64) 6 - 2006, tr.5-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Năm: 2006
5. Trần Xuân Cầu - Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Xuân Cầu - Mai Quốc Chánh
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
6. Cơ quan thông tin hải ngoại Hàn Quốc (2006), Hàn Quốc đất nước - Con người, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc đất nước - Con người
Tác giả: Cơ quan thông tin hải ngoại Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
33. Hà Anh, Thứ hạng của các nước OECD về công bằng xã hội, link: http://tamnhin.net/ThegioiVietNam/8596/Thu-hang-cua-cac-nuoc-OECD-ve-cong-bang-xa-hoi.html, ngày cập nhật 10/2/2011 Link
34. Nguyễn Hữu Dũng - TS.Viện khoa học Lao động và Xã hội, Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chính sách an sinhxã hội ở nước ta, link:http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=17134728&news_ID=9642342 , Cập nhật 09/06/2008 Link
36. Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam (2007), Roh Moo-hyun cam kết sẽ tăng cường chi tiêu cho phúc lợi xã hội, link:http://hanquocngaynay.com/news_detail.php?id_g_new=4&id_new=1648, ngày cập nhật 01/05/2007 Link
38. Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam (2008), Hỗ trợ phí sinh hoạt cho những gia đình bị phá sản, link:http://hanquocngaynay.com/news_detail.php?id_g_new=4&id_new=3409, ngày cập nhật 15/12/2008 Link
39. Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, Ngân sách 2010: Tỷ lệ dành cho chi phí phúc lợi cao nhất từ trước đến nay, http://hanquocngaynay.com/pcrm_detail.php?key=311 Link
40. Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, Tăng trưởng kinh tế, http://hanquocngaynay.com/about_content.php?x=5&y=1&z=1 Link
41. Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, Hàn Quốc đứng thứ 15 bảng xếp hạng các quốc gia đáng sống nhất trên thế giới do Tạp chí Newsweekbầu chọn (Mỹ), link:http://hanquocngaynay.com/news_detail.php?id_g_new=4&id_new=5007, ngày cập nhật 17/08/2010 Link
42. Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, Hàn Quốc có tốc độ giảm tỷ lệ thất nghiệp nhanh nhất OECD, link:http://www.hanquocngaynay.com/news_detail.php?id_g_new=2&id_new=4452, ngày cập nhật 17/09/2009 Link
43. Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, Năng lực cạnh tranh quốc gia của Hàn Quốc đứng thứ 23, tăng liên tục trong 3 năm, link:http://hanquocngaynay.com/news_detail.php?id_g_new=2&id_new=5280, ngày cập nhật 19/05/2011 Link
45. Gia Hân, Kinh nghiệm xây dựng và quản lý nhà ở công cộng của Hàn Quốc, link:http://xaydungbg.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1166:kinh-nghim-xay-dng-va-qun-ly-nha--cong-cng-ca-han-quc&catid=88:so-tay-nha-quan-ly&Itemid=11 Link
47. Đức Huy, Phát triển nông thôn - từ điểm nhìn Hàn Quốc: Du lịch làng ‘cứu” nông thôn, link:http://sanvatbavi.com.vn/detail.asp?id=701&cate_id=35&parent_id=24, ngày cập nhật 23/07/2009 Link
49. Kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng mạnh nhất trong vòng 8 năm, Báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, link:http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/www.cpv.org.vn/Kinh-te-Han-Quoc-tang-truong-manh-nhat-trong-vong-8-nam/5621242.epi, ngày cập nhật 26/01/2011 Link
51. Yonhapnews, Lương tối thiểu tăng 2,75% vào năm sau, link: http://m.korea.net/vietnamese/NewsFocus/Society/view?pageIndex=16&articleId=93318, ngày cập nhật 30/06/2009 Link
52. K.CH, Hàn Quốc: Cơ hội học tập miễn phí cho trẻ nông thôn, link: http://chuyentrang.tuoitre.vn/Vieclam/Index.aspx?ArticleID=84893&ChannelID=2, ngày cập nhật 22/06/2005 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kì và các năm (%) - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.1 Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kì và các năm (%) (Trang 35)
Bảng 2.4: Những thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người trong - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.4 Những thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người trong (Trang 38)
Bảng 2.5: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Hàn Quốc qua các năm - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.5 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Hàn Quốc qua các năm (Trang 39)
Bảng 2.7: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế của - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.7 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế của (Trang 40)
Bảng 2.9: Hệ số GINI của Hàn Quốc qua một số năm - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.9 Hệ số GINI của Hàn Quốc qua một số năm (Trang 44)
Bảng 2.11: Phân phối thu nhập của một số quốc gia trên thế giới - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.11 Phân phối thu nhập của một số quốc gia trên thế giới (Trang 45)
Bảng 2.12: Số lao động có việc làm trong tổng lực lượng lao động - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.12 Số lao động có việc làm trong tổng lực lượng lao động (Trang 49)
Bảng 2.14: Số lượng cơ sở dịch vụ Y tế và phúc lợi xã hội - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.14 Số lượng cơ sở dịch vụ Y tế và phúc lợi xã hội (Trang 59)
Bảng 2.16: Chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần năm - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.16 Chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần năm (Trang 67)
Bảng 2.19: Khoảng cách giàu nghèo của Hàn Quốc qua các năm - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.19 Khoảng cách giàu nghèo của Hàn Quốc qua các năm (Trang 75)
Bảng 2.20: Xếp hạng công bằng xã hội của các nước OECD năm 2010 - Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với vấn đề phúc lợi xã hội ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1997 đến 2010
Bảng 2.20 Xếp hạng công bằng xã hội của các nước OECD năm 2010 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w