Trong bối cảnh đó, việc Trung Quốc và ASEAN thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai bên và tạo thuận lợi cho các mối quan hệ khác
Trang 15 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
CHƯƠNG1: TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO, THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC
1.1 Các mốc đánh dấu quan hệ Trung Quốc - ASEAN
trước khi Trung Quốc gia nhập WTO
12
1.2 Trung Quốc gia nhập WTO, thời cơ cho thương mại ASEAN 14
1.2.1 Trung Quốc gia nhập WTO mang đến cho các nước ASEAN
một thị trường rộng lớn
14
1.2.2 Trung Quốc gia nhập WTO tác động lớn đến kết cấu kinh tế của các
nước ASEAN, đồng thời khiến cho các nền kinh tế này có hiệu quả hơn
15
1.3 Trung Quốc gia nhập WTO, thách thức đối với thương mại các
nước ASEAN
17
1.3.1 Giảm thị phần xuất khẩu trên trường quốc tế 17
1.3.2 Gia tăng cạnh tranh với nội địa các nước ASEAN 19
1.3.3 Cạnh tranh trong việc thu hút FDI hướng đến xuất khẩu 20
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC - ASEAN
TỪ KHI TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY
22
2.1.1 Hiệp định khung hợp tác toàn diện -
Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN
22
Trang 22.1.1.3 Hiệp định thương mại hàng hóa 39
2.1.2 Tổ chức các hội chợ triển lãm Trung Quốc – ASEAN thường niên 49
CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
TRUNG QUỐC - ASEAN VÀ LIÊN HỆ VIỆT NAM
66
3.1 Các biện pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN 66
3.1.2 Thúc đẩy chuyên môn hoá những mặt hàng thuộc lợi thế của mỗi nước 66
3.1.3 Khai thác và phát huy khả năng bổ sung lẫn nhau trong một số ngành kinh tế của hai bên
67
3.1.4 Tìm kiếm những thị trường ngách trong thị trường của nhau và phát triển những ngành kinh tế đáp ứng thị trường ngách đó
68
3.1.5 Giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ, chủ quyền lãnh thổ 69
3.2 Triển vọng quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN 70
3.3 Cơ hội và thách thức đối với thương mại Việt Nam trong bối cảnh quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN
73
3.3.2 Những thách thức đối với thương mại Việt Nam 76
3.3.3 Kim ngạch xuất nhập khẩuViệt Nam với ASEAN và Trung Quốc 79
3.3.4 Các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để hội nhập 82
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACFTA ASEAN-China Free Trade
Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN-Trung Quốc
ASEAN Association of South-East
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á ASEAN6
Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singpapore, Thailand
6 nước thành viên cũ của ASEAN
ASEAN4
(CLMV)
Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam
4 nước thành viên mới của ASEAN
EHP Early Harvest Program Chương trình Thu Hoạch Sớm
FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư nước ngoài
HSL Highly Sensitive List Danh mục Nhạy cảm cao
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trung Quốc và các nước ASEAN là láng giềng gần gũi, có lịch sử giao lưu từ lâu đời Từ những năm 60 của thế kỉ XX đến khi chính thức thiết lập quan hệ năm 1991 cho đến nay, uan hệ song phương đ trải ua nhiều
ch ng đường phát tri n
Trong quan hệ kinh tế, Trung Quốc cần ASEAN và ASEAN cũng cần Trung Quốc Sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2001, quan hệ song phương là quan hệ đối tác láng giềng thân thiện và tin cậy lẫn nhau, trong đó uan hệ kinh tế là lĩnh vực phát tri n vượt bậc Mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa các nước ASEAN với Trung Quốc càng gắn bó thì các nước này càng uan tâm đến tác động của Trung Quốc khi gia nhập WTO Sau khi là thành viên WTO, Trung Quốc đ tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN, sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều chính sách, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu mới cho phù hợp với uy định của WTO; đồng thời Trung Quốc cũng dành cho các nước ASEAN được hưởng ngay lập tức và đầy đủ ưu đ i tối huệ quốc MFN về thuế quan theo chuẩn mực WTO
mà Trung Quốc đ cam kết Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức cho các nước ASEAN trong tiến trình hội nhập, phát tri n Trung Quốc gia nhập WTO sẽ có những tác động tích cực và tiêu cực đối với thương mại các nước ASEAN
Hiện nay, thương mại toàn cầu đang suy giảm: châu Âu khủng hoảng
nợ công, châu Phi và Trung Đông còn nội chiến không th trở thành đi m tăng trưởng kinh tế, kinh tế Mỹ đang phục hồi nhưng chưa đột phá, đồng thời
Mỹ chuy n trọng tâm ngoại giao từ phương Tây sang châu Á - Thái Bình Dương Trong khi đó, Trung Quốc đang trỗi dậy, trở thành đi m nóng của kinh tế thế giới, Trung Quốc ngày càng đẩy nhanh tốc độ và mở rộng không gian hợp tác kinh tế - thương mại với các quốc gia châu Á đ tranh thủ tối đa
Trang 6ưu thế của đối tác và nâng cao vị thế kinh tế thương mại của mình trong khu vực Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định sự ủng hộ của họ đối với các nỗ lực làm sâu sắc hơn hội nhập khu vực của ASEAN Đây là điều kiện tốt đ Trung Quốc và các nước ASEAN xích lại gần nhau hơn, đ c biệt
là trong hợp tác kinh tế - thương mại
Trong bối cảnh đó, việc Trung Quốc và ASEAN thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai bên và tạo thuận lợi cho các mối quan hệ khác giữa Trung Quốc và các thành viên ASEAN trong những năm tới, sẽ tạo ra "vùng nổi kinh tế mới" thúc đẩy kinh tế châu Á và kinh tế thế giới phục hồi và phát tri n Từ đây, quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN bước sang trang sử mới, năng động hơn, thử thách hơn
Vì những ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu "Quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay"
Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, đ c biệt là từ sau việc Trung Quốc - ASEAN ký hiệp định thành lập Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, nhiều nghiên cứu đ được công bố, đưa ra những đánh giá về tác động và vị thế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đối với nền kinh tế thế giới nói chung và về kinh tế thương mại giữa Trung Quốc với các nước ASEAN nói riêng Trung Quốc và ASEAN ký kết Hiệp định khung về hợp tác
Trang 7kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc và Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN được hình thành, đánh dấu một mốc son mới trong quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN Từ đây, các học giả trong và ngoài nước đ có nhiều nghiên cứu sâu hơn về tình hình quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN
- Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề quan hệ thương mại luôn được coi trọng Việc tìm hi u sự phát tri n của các nền kinh tế thế giới là yêu cầu cấp thiết, nhằm đúc rút kinh nghiệm cho quá trình phát tri n của nền kinh tế Việt Nam Trên tinh thần ấy, k từ khi Trung Quốc gia nhập
WTO, nhiều học giả Việt Nam đ uan tâm nghiên cứu về quan hệ thương
mại giữa Trung Quốc với các nước láng giềng ASEAN Tập trung phản ánh
về thời cơ, thách thức và nhiều khía cạnh khác sau khi Trung Quốc gia nhập WTO có các công trình tiêu bi u như:
"Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO): thời cơ
và thách thức" do TSKH.Võ Đại Lược chủ biên (2004) Công trình đ nêu lên
tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với trong nước Trung Quốc
và thế giới, trong đó có ASEAN, đưa ra các khuyến nghị đối với Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO
"Gia nhập WTO: Trung Quốc làm gì và được gì?" do PGS.TS
Nguyễn Kim Bảo chủ biên (2006) Công trình đ cho thấy việc Trung Quốc gia nhập WTO mang lại quyền lợi và lợi ích kinh tế cho Trung Quốc, đ tạo điều kiện phát tri n rất lớn cho thương mại quốc tế của Trung Quốc, trong đó
có thương mại với các nước ASEAN
Trong kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế tổ chức tại Hải Phòng năm
2006 với chủ đề: "Phát triển hai hành lang một vành đai kinh tế Việt - Trung
trong khuôn khổ hợp tác ASEAN - Trung Quốc", các học giả đ có nhiều bài
phân tích liên uan đến quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN, như,
PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ với bài "15 năm quan hệ ASEAN - Trung Quốc:
Trang 8Nhìn lại và triển vọng" đ nêu lên những thành tựu hợp tác giữa hai bên sau
15 năm thiết lập quan hệ, đánh giá tri n vọng và biện pháp đ thúc đẩy quan
hệ ASEAN - Trung Quốc; Ths.Lê Tuấn Thanh với bài "Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN - Trung Quốc và tác động tới quan hệ Việt - Trung"
Ngoài ra còn có rất nhiều bài nghiên cứu được đăng tải trên các tạp
chí chuyên ngành như: "Tiến triển trong chương trình"Thu hoạch sớm" Trung
Quốc - ASEAN" của Nguyễn Hà, " Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: Thuận lợi và thách thức" của Hà Huy, "Một số yếu tố thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế khu vực của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO" của
Nguyễn Hồng Nhung, "Khai thác lợi ích thương mại từ chương trình "Thu
hoạch sớm" của khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc" của TS.Trịnh
Thủy, TSKH Võ Đại Lược với "Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung
Quốc: hướng phát triển và các vấn đề", Phạm Hồng Yến với "Quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN trong bối cảnh hình thành Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) và triển vọng", "FTA song phương của các nước ASEAN và tác động đến cộng đồng kinh tế ASEAN và cộng đồng ASEAN” của PGS.TS.Hoàng Thị Thanh Nhàn,
Nhìn chung, các tác giả đ đánh giá được cơ hội và thách thức của các nước ASEAN sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, và tình hình quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN Đ c biệt, k từ khi Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN được thành lập, quan hệ thương mại hai bên xoay quanh khu mậu dịch tự do trong khuôn khổ hợp tác toàn diện, các nước ASEAN sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, song cũng không ít những thách thức vì phải cạnh tranh khốc liệt hơn
- Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Việc Trung Quốc gia nhập WTO có ảnh hưởng rất lớn đến cục diện thế giới Trung Quốc ký kết hiệp định Khu mậu dịch thương mại tự do với các nước ASEAN cũng gây sự chú ý của đông đảo học giả không chỉ ở Trung Quốc, bởi Khu mậu dịch thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc hình thành sẽ là khu mậu
Trang 9dịch thương mại tự do lớn thứ ba trên thế giới với 1,9 tỷ người tiêu dùng
Cuốn sách "Asean - China trade relations: 15 years of development and
prospects : = Quan hệ thương mại Asean - Trung Quốc: 15 năm phát triển và triển vọng" tập hợp các bài nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu thuộc
các nước ASEAN và Trung Quốc, phân tích sự phát tri n của quan hệ thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc trong 15 năm sau hợp tác phát tri n
Trong kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế tổ chức tại Hải Phòng năm
2006 với chủ đề: "Phát triển hai hành lang một vành đai kinh tế Việt - Trung
trong khuôn khổ hợp tác ASEAN - Trung Quốc", tác giả Hứa Ninh Ninh
(Trung Quốc) với bài "Tổng kết 15 năm hợp tác kinh tế và thương mại giữa
Trung Quốc và ASEAN" đ phân tích những thành tựu đáng chú ý trong hợp
tác kinh tế và thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc 15 năm phát tri n ;
Cổ Ti u Tùng (Trung Quốc) với "Xây dựng "Một trục hai cánh" - cục diện
mới trong hợp tác khu vực Trung Quốc - ASEAN" cho rằng xây dựng "Một
trục hai cánh sẽ thúc đẩy hợp tác toàn diện khu vực Trung Quốc - ASEAN;
GS.Sompop Manarungan (Thái Lan) trong bài "Mậu dịch hoa quả của Trung
Quốc - Thái Lan trong chương trình thu hoạch sớm" đ cho thấy sau khi có
chương trình thu hoạch sớm, hoa quả xuất khẩu từ Thái Lan sang Trung Quốc
và ngược lại đều tăng đáng k
Hầu Thiết San và Tống Nham với "Phân tích chỉ số tương quan
thương mại Trung Quốc - ASEAN", phân tích xu hướng quan hệ thương mại
giữa ASEAN và Trung Quốc giai đoạn ngay sau khi Trung Quốc gia nhập WTO Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi trung Quốc gia nhập WTO, thương mại hai bên có xu hướng tăng Đ c biệt sau khi thành lập CAFTA, không gian thương mại được mở rộng, theo dự báo, thương mại song phương tăng bình uân 20%/năm trong khoảng 20 năm tới, tăng trưởng kinh tế của ASEAN sẽ tăng thêm bình uân 1% mỗi năm, Trung Quốc là 0.3% (1) Do đó, việc thành lập CAFTA là có lợi cho cả Trung Quốc và các nước ASEAN
Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết, nghiên cứu được đăng tải trên
Trang 10các trang mạng của Trung Quốc và các nước khác
Các bài viết đều đ chỉ ra được quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN ngày càng ch t chẽ, kim ngạch thương mại không ngừng gia tăng,
đ c biệt là từ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, trao đổi thương mại giữa Trung Quốc - ASEAN có tính bổ sung cho nhau, đồng thời cũng có cạnh tranh gay gắt Vì vậy, đây vừa là cơ hội vừa là thách thức cho thương mại các nước ASEAN
3 Cách tiếp cận
Đ t quan hệ thương mại Trung Quốc – ASEAN trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới làm cơ sở tiếp cận Từ đó luận văn tập trung phân tích ảnh hưởng của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO tới quan hệ thương mại Trung Quốc – ASEAN và mối quan hệ thương mại Trung Quốc – ASEAN Đồng thời, dựa trên Hiệp định khung khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN (CAFTA), Luận văn phân tích các yếu tố về cơ hội và thách thức đối với thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là tình hình quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay, trong đó tập trung vào tình hình quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN từ khi Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN được ký kết
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là Thương mại Trung Quốc – ASEAN từ khi Trung Quốc gia nhập WTO (2001) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Luận văn nghiên cứu theo phương pháp thống kê, so sánh, quy nạp, diễn dịch, phân tích và tổng hợp tư liệu
- Nguồn tư liệu Luận văn tham khảo là các văn kiện chính thống, các Hiệp định, các nghiên cứu đi trước đ được công bố trong sách, báo, tạp chí, các trang web v.v của các nước ASEAN, Trung Quốc, v.v
Trang 12CHƯƠNG 1 TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO, THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI CÁC NƯỚC ASEAN
1.1 Các mốc đánh dấu quan hệ Trung Quốc - ASEAN
trước khi Trung Quốc gia nhập WTO
Trung Quốc và các nước ASEAN là láng giềng gần gũi của nhau, hai bên có lịch sử giao lưu lâu đời Từ khi ASEAN thành lập tháng 8-1 67 đến năm 1 1 Trung Quốc và ASEAN chính thức thiết lập uan hệ, uan hệ song phương đ trải ua ch ng đường phát tri n từ đối lập, hoài nghi đến uan hệ đối tác chiến lược, đối thoại và hợp tác lấy bình đẳng, láng giềng hữu nghị, tin cậy lẫn nhau làm nền tảng
Tháng 7-1 1, ộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền K Tham đ
dự lễ khai mạc Hội nghị ộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 24, có cuộc
g p không chính thức lần đầu tiên với ngoại trưởng các nước ASEAN
Tháng 9-1993, nhận lời mời của Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường ia Triền, Tổng thư ký ASEAN đ dẫn đoàn đại bi u ASEAN thăm
ắc Kinh Hai bên đ thảo luận về tăng cường uan hệ kinh tế-thương mại và hợp tác khoa học-kỹ thuật, đạt được nhận thức chung rộng r i Trung Quốc trở thành đối tác đối thoại của ASEAN
Tháng 7-1 4, Trung Quốc và ASEAN đồng ý tổ chức thương lượng chính trị uan chức cấp cao Ngày 25-7-1 4, Trung Quốc tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ nhất với tư cách là đối tác thương lượng của ASEAN
Năm 1 6, Trung Quốc lần đầu tiên tham gia Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 2 và Hội nghị ASEAN với các nước đối thoại diễn ra tại ia-các-ta với tư cách là đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN Trung Quốc và ASEAN đ thành lập y ban hợp tác liên hợp Trung Quốc - ASEAN, hỗ trợ uản lý uan hệ đối thoại, và tháng 2-1 7 thành lập cơ chế hội nghị tại ắc Kinh Ngoài ra, hai bên còn thành lập Quỹ hợp tác Trung Quốc - ASEAN đ ủng hộ hai bên phát tri n hợp tác
Trang 13Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ Châu năm 1 7 là bước ngo t uan trọng trong uan hệ đối tác Trung Quốc - ASEAN Trung Quốc đ khắc phục khó khăn, không phá giá đồng Nhân dân tệ và viện trợ cho các nước ASEAN bị tác động của cuộc khủng hoảng ASEAN bắt đầu ghi nhận và tin tưởng rằng: nền kinh tế Trung Quốc ngày càng lớn mạnh là cực k uan trọng đối với Đông Nam , Trung Quốc s n sàng viện trợ cho ASEAN trong giờ phút then chốt
Tháng 12-1 7, ASEAN đưa ra sáng kiến tổ chức Hội nghị các nhà
l nh đạo ASEAN với ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc "10 3" và cuộc g p không chính thức giữa l nh đạo Trung Quốc và ASEAN Từ đó,
l nh đạo Trung Quốc và ASEAN đ xây dựng cơ chế hội nghị cấp cao thường niên L nh đạo hai bên đ ra tuyên bố chung, tuyên bố xây dựng uan hệ đối tác láng giềng hữu nghị, tin cậy hướng tới thế kỷ 21, đ chỉ rõ phương hướng phát tri n của uan hệ song phương
Dưới sự chỉ đạo của Tuyên bố chung, uan hệ chính trị song phương được nâng cấp nhanh chóng Từ năm 1998 - 2000, Trung Quốc và 10 nước ASEAN đ lần lượt ký các văn kiện khung uan hệ song phương và Chương trình hợp tác
Năm 2001, l nh đạo hai bên xác định nông nghiệp, viễn thông - thông tin, phát tri n nguồn nhân lực, đầu tư lẫn nhau và khai thác lưu vực sông ê-công là 5 lĩnh vực hợp tác trọng đi m trong đầu thế kỷ mới C ng năm, Trung Quốc đề xuất ý tưởng xây dựng Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN trong vòng 10 năm(2)
Những mốc lịch sử trên làm nền tảng cho sự phát tri n các mối quan
hệ Trung Quốc - ASEAN trong tương lai nói chung và uan hệ thương mại nói riêng Trên cơ sở quan hệ chính trị được củng cố và tăng cường, quan hệ thương mại cũng được phát tri n
Trang 141.2 Trung Quốc gia nhập WTO, thời cơ cho thương mại ASEAN
1.2.1 Trung Quốc gia nhập WTO mang đến cho
các nước ASEAN một thị trường rộng lớn
Trung Quốc tham gia tổ chức thương mại thế giới sẽ mở rộng cấp độ
tự do hoá đầu tư và mậu dịch, mang đến cho các nước ASEAN cơ hội lớn thâm nhập thị trường, chủ yếu như:
Thứ nhất, nhờ cắt giảm thuế quan và dần dần sử dụng chính sách phi
thuế uan, tăng khả năng xuất khẩu cho các nước ASEAN Sản phẩm nông nghiệp, qua nhiều lần điều chỉnh mức thuế bình quân, mức thuế đ giảm từ
4 2% năm 1 2 xuống còn 10% năm 2005 Theo “Hiệp định sản phẩm thông tin kỹ thuật”, tất cả thiết bị IT, máy vi tính và các phụ kiện máy vi tính tiến hành thuế 0% từ năm 2003, đến năm 2005, tất cả các sản phẩm thông tin kỹ thuật đều giảm thuế đến 0% Ngoài ra, trong đàm phán WTO với ASEAN, Trung Quốc đ cam kết mở cửa toàn diện Theo thoả thuận, mức thuế uan cơ bản của các sản phẩm ASEAN trong vòng 5 năm giảm 34-47%, giảm nhanh hơn mức tổng th Theo thoả thuận sau khi gia nhập WTO, xuất khẩu của các nước ASEAN và vùng lãnh thổ và Trung Quốc sẽ tăng trưởng 10% mỗi năm
Do đó đến năm 2005 Trung Quốc nhập khẩu các sản phẩm và dịch vụ của các nước ASEAN tăng trưởng đến 35.5 triệu USD, cản trở mậu dịch hai bên sẽ giảm đi rất nhiều Sản phẩm xuất khẩu của ASEAN vào thị trường Trung Quốc sẽ mở rộng, như sản phẩm nông nghiệp, tài nguyên và điện tử(3)
Cùng với việc Trung Quốc gia nhập WTO và thực hiện cam kết mở cửa với các nước ASEAN cũ, thị phần của các nước ASEAN ở Trung Quốc
sẽ được tăng lên rất nhiều Đa số các nước ASEAN kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, đ c biệt là phụ thuộc xuất khẩu các sản phẩm điện tử vào thị trường Mỹ Sản phẩm điện tử xuất khẩu của Singapore chiếm 64% tổng xuất khẩu, Malaysia là 58%, Thái Lan và Philippin chiếm 61%, một số quốc gia có 50% trở lên phụ thuộc xuất khẩu linh kiện điện tử vào Mỹ Tự do hóa thương mại Trung Quốc sẽ mang đến cho sản phẩm điện tử của các nước ASEAN cơ
Trang 15hội xuất khẩu chưa từng có Cùng với tự do hóa thương mại và đầu tư, lợi ích lớn nhất thuộc về các nước đang phát tri n, trong đó có các thành viên mới của ASEAN Các thành viên mới của ASEAN có cơ hội xuất khẩu các sản phẩm có liên uan đến tài nguyên chuyên sâu như sản phẩm năng lượng, lâm nghiệp, thủy sản, nông nghiệp, v.v, có th chiếm thị phần khá lớn ở Trung Quốc
Thứ hai, Trung Quốc gia nhập WTO sẽ tự do ngành tiền tệ, dịch vụ,
điện tín, tăng khả năng thâm nhập vào thị trường thương mại dịch vụ cho các nước ASEAN Tự do dịch vụ tiền tệ gồm ngân hàng, bảo hi m, chứng khoán, quản lý tiền m t, mở rộng ngành dịch vụ trên các m t như bán buôn, bán lẻ, dịch vụ hậu mãi, sửa chữa, bảo dưỡng và vận chuy n; trên lĩnh vực điện tín, tiếp nhận thoả thuận gia nhập WTO về thông tin cơ sở, sẽ cung cấp bất cứ dịch vụ thông tin cơ sở nào thông qua bất cứ kỹ thuật nào trong vòng 2-6 năm Điều này mang lại cơ hội phát tri n lớn cho mậu dịch dịch vụ các nước ASEAN Bởi vì dịch vụ là lĩnh vực Trung Quốc tương đối yếu, kim ngạch mậu dịch dịch vụ với các nước ASEAN cũng hạn chế Tham gia vào WTO trên nền tảng mở rộng lĩnh vực dịch vụ, thêm một bước mở rộng cơ hội cho các nước ASEAN gia nhập vào ngành thương mại dịch vụ của Trung Quốc
1.2.2 Sau khi gia nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế
Trung Quốc sẽ tác động lớn đến kết cấu kinh tế của các nước ASEAN, đồng thời khiến cho các nền kinh tế này có hiệu quả hơn
Nhìn từ góc độ tĩnh, lực lượng kinh tế Trung Quốc đang h ng hậu, năm 2000, tổng sản xuất quốc nội Trung Quốc đạt 1,080 triệu USD, trong khi
đó DP của các nước ASEAN chỉ đạt 57.38 triệu USD Đồng thời trong 20 năm trở lại đây, cho d các nước Đông Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế nửa cuối những năm 0, kinh tế Trung Quốc vẫn luôn giữ tốc độ tăng trưởng cao 7- %, trong khi đó nền kinh tế các nước ASEAN vẫn khó phục hồi tốc độ tăng trưởng vốn có k từ khi khủng hoảng kinh tế Ngoài ra, do kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ cao, thu nhập bình uân đầu người cũng dần được nâng lên Năm 1 1 bình uân đầu người chỉ có 342 USD, đến năm
Trang 162000 đ đạt 855 USD Nếu kinh tế Trung Quốc tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng cao như hiện nay thì trong 7-8 năm tới, thu nhập của người dân còn được cải thiện Ngoài ra, thu nhập của người dân nâng cao đồng nghĩa với yêu cầu về chất lượng sản phẩm và lao động cũng cần được nâng cao, bao gồm cả yêu cầu về các dịch vụ mậu dịch như du lịch, đầu tư, giáo dục, đào tạo, v.v., giúp cho ngành dịch vụ của ASEAN phát tri n
Nhìn từ góc độ động, sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Trung Quốc sẽ hoạt động có hiệu quả hơn, ước tính tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn mức độ tăng trưởng trước đây từ 0,9-2%, có lợi cho nền kinh tế các nước ASEAN như:
Thứ nhất, sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, kinh tế
Trung Quốc phát tri n với tốc độ cao sẽ sản sinh ra nhu cầu lớn đối với các sản phẩm của ASEAN Trung Quốc trở thành thành viên của WTO, làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường mậu dịch thế giới, đ c biệt gia tăng đáng k lượng nhập khẩu hàng nông nghiệp Đến năm 2005 do sự phát tri n của nền kinh tế Trung Quốc, mở rộng nhu cầu thị trường, làm tăng 48% xuất khẩu từ ASEAN vào Trung Quốc, đồng thời GDP các quốc gia ASEAN cũng tăng 22
tỷ USD Tài nguyên tập trung của các nước ASEAN vẫn có ưu thế như nông, lâm, thủy sản Theo thống kê, nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp từ năm 2000 đến 2009 tăng khoảng 1.5 tỷ USD, trong đó ngũ cốc tăng 2 triệu tấn, sản phẩm dầu tăng 2.5 triệu tấn Ngoài ra, cùng với việc gia nhập WTO, thu nhập tăng cao, nhu cầu mở rộng, sẽ gia tăng nhu cầu về hàng cao cấp, phụ kiện, thủy hải sản, hoa quả nhiệt đới, rau, dầu thực vật, hoa tươi, v.v Thông ua xuất khẩu những sản phẩm này, các nước ASEAN có th thu được rất nhiều ngoại hối, các nước lấy xuất khẩu sản phẩm điện tử là chủ đạo như Xingapo, Philippin, alaysia đ sớm hình thành ưu thế xuất khẩu Các nước có sản phẩm điện tử, linh phụ kiện xe hơi vẫn có tiềm năng và chiếm ưu thế cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc và quốc tế Trước xu thế phát tri n công nghệ thông tin ở Trung Quốc đang gia tăng, các nhà chế tạo sản phẩm điện tử
có th tìm thấy nhu cầu lớn tiềm ẩn tại thị trường này(4)
Trang 17Thứ hai, sau khi gia nhập WTO, cùng với sự mở rộng thương nghiệp,
Trung Quốc sẽ thực hiện đầu tư nhiều hơn vào ASEAN
Thứ ba, thị trường mở rộng, thương mại và thu nhập của Trung Quốc
tăng cao thúc đẩy thương mại dịch vụ các nước ASEAN phát tri n
Như vậy, Trung Quốc gia nhậpWTO sẽ có lợi cho thương mại các nước ASEAN
1.3 Trung Quốc gia nhậpWTO, thách thức
đối với thương mại các nước ASEAN
Trung Quốc gia nhập WTO ngoài mang lại lợi ích cho các nước ASEAN nhưng cũng đem đến không ít thách thức cho các nước này Riêng về thương mại đã thấy những thách thức ban đầu
1.3.1 Thứ nhất, giảm thị phần xuất khẩu trên trường quốc tế
Gia nhập WTO, kinh tế Trung Quốc thêm cơ hội phát tri n, đ c biệt ngành công nghiệp Trung Quốc có điều kiện phát tri n mạnh Sức mạnh công nghiệp của Trung Quốc tác động đến các nước ASEAN đ có một trình độ phát tri n tương đối cao như Thái Lan, Malaysia, Philíppin và Indonesia khá
rõ nét Các nước này hiện nay đang đứng trước thách thức về sự thâm nhập của Trung Quốc tại các thị trường lớn như Liên minh châu Âu EU, Nhật Bản
và Mỹ
Đ dễ phân tích, ta chia hàng công nghiệp thành năm nhóm Nhóm A
là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn, như vải vóc, quần áo, giày dép, dụng cụ lữ hành, dụng cụ du lịch, v.v Nhóm B là những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa dùng nhiều nguyên liệu nông lâm thuỷ sản như thực phẩm gia công các loại, đồ uống, v.v Nhóm C là những ngành có hàm lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản như thép, hoá dầu Nhóm D là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau, như đồ điện gia dụng, xe máy, máy bơm nước và các loại máy móc khác, bộ phận điện tử, linh kiện điện tử, v.v Nhóm E là những ngành
Trang 18công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như máy tính, xe hơi, máy công cụ, các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp, v.v
Trên thị trường thế giới, so với các nước phát tri n trong ASEAN (Singapo, Malaysia, Thái Lan), Trung Quốc đang cạnh tranh mạnh trong các
m t hàng thuộc nhóm A Những ngành thuộc nhóm B thì ASEAN còn giữ được lợi thế so sánh Về nhóm C, cả Trung Quốc và ASEAN đều không xuất khẩu, chủ yếu sản xuất cho thị trường trong nước và nhìn chung còn kém hiệu suất Về nhóm E, cả Trung Quốc và ASEAN còn yếu và đây là lĩnh vực đáng chú ý trong giai đoạn tới, liên uan đến khả năng phát tri n của các nước này Nhóm D là lĩnh vực đang diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và các nước phát tri n trong ASEAN Nhìn chung, ASEAN còn chiếm ưu thế, phần lớn là nhờ họ đ tích cực tiếp nhận FDI của Nhật Bản từ nửa sau thập niên
1 80, ua đó củng cố được những cơ sở sản xuất và xuất khẩu Tuy nhiên, Trung Quốc cũng ngày càng chiếm được vị trí trong lĩnh vực này
Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO (tháng 11-2001), hàng công nghiệp Trung Quốc thâm nhập dễ dàng hơn vào thị trường nước ngoài vì các nước không còn đối xử phân biệt giữa hàng Trung Quốc với hàng nhập khẩu
từ nước khác Đ c biệt là Mỹ, thị trường lớn nhất của Trung Quốc, năm 2003 chiếm 21% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này, ngay trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, tháng 9-2000 đ đồng ý cho Trung Quốc vĩnh viễn hưởng quy chế tối huệ quốc (từ tháng 7-1998 gọi là quan hệ thương mại bình thường - normal trade relations) Trung Quốc cũng đ dễ dàng tiếp cận các thị trường EU và Nhật Bản Từ năm 2002, Trung Quốc vượt Mỹ trở thành nước
có thị phần lớn nhất trong tổng nhập khẩu của Nhật(5) M t khác, việc gia nhập WTO cũng đang tạo điều kiện cho thị trường dịch vụ của Trung Quốc
mở rộng cửa, nhất là dịch vụ xuất nhập khẩu, có tác động tích cực đến việc xuất khẩu của nước này vì FDI của các công ty thương mại quốc tế có nhiều kinh nghiệm trên thương trường và có mạng lưới thông tin rộng khắp trên thế giới, có khả năng tăng nhiều trong lĩnh vực thương mại
Trang 19Một thuận lợi nữa mà Trung Quốc cũng đ có được là, với tư cách là thành viên của WTO, họ có một vị thế ngang hàng với các nước khác trong các vụ tranh chấp liên uan đến hoạt động xuất khẩu (ví dụ như gần đây, nhiều nước, nhất là Mỹ, thường tố cáo Trung Quốc bán phá giá (dumping) khi hàng xuất khẩu của nước này tăng mạnh) Nói chung, Trung Quốc sau năm
2001 đ có nhiều thuận lợi trong việc xuất khẩu vào thị trường thế giới
Trung Quốc gia nhập WTO sẽ gia tăng xuất khẩu vào thị trường thế giới, sẽ hạn chế khả năng xuất khẩu của một số nước ASEAN có cơ cấu xuất khẩu giống với Trung Quốc Nhóm nước bị tác động theo hướng này là các nước kém phát tri n, có cơ cấu m t hàng và thị trường xuất khẩu giống với Trung Quốc, chủ yếu là ngành hàng dệt may, thêu ren trên các thị trường quan trọng như ỹ, Nhật Bản, châu Âu Tuy nhiên hiệu ứng tác động không giống nhau ở các nước thành viên ASEAN Hiệu ứng tương đối lớn đối với các nước như Thái Lan, Inđônêxia, Việt Nam và Campuchia, vì các nước này có thị phần lớn ở Mỹ, chỉ số an toàn lại không cao, một khi các doanh nghiệp Trung Quốc gia tăng sức cạnh tranh tập trung sẽ bị lung lay nhiều, nguy cơ giảm thị phần là rất lớn Còn các nước như alaixia, Xingapo và Philippin không bị tác động nhiều lắm vì họ
đ mất thị phần từ trước khi Trung Quốc gia nhập WTO
Ngoài các ngành trụ cột bị ảnh hưởng lớn, một số ngành khác cũng bị cạnh tranh thị phần từ khi Trung Quốc đang trên tiến trình gia nhậpWTO như điện, điện tử, hóa chất, thiết bị viễn thông, đồ gỗ, hóa dầu
1.3.2 Thứ hai, gia tăng cạnh tranh với nội địa các nước ASEAN
Bên cạnh việc có lợi về giá nhập khẩu linh phụ kiện sản xuất do việc Trung Quốc giảm giá xuất khẩu, các nước ASEAN còn chịu nhiều tác động từ việc Trung Quốc xuất khẩu ngày càng nhiều hàng tiêu dùng vào nội địa các nước ASEAN, làm gia tăng áp lực đối với các doanh nghiệp các nước này, vì hàng hóa Trung Quốc nổi tiếng mẫu mã phong phú, giá rẻ, phù hợp với điều kiện của đa phần người tiêu dùng ở khu vực này
Trang 20Với việc gia nhập WTO, Trung Quốc có cơ hội tăng năng lực cạnh tranh hơn nữa trong những ngành thuộc nhóm A và D, và sức ép Trung Quốc đối với ASEAN sẽ mạnh hơn
1.3.3 Thứ ba, cạnh tranh trong việc thu hút FDI hướng đến xuất khẩu
Từ giữa thập niên 1980, FDI chảy ồ ạt vào các nước phát tri n trong ASEAN, đ c biệt là Thái Lan và Malaysia Vì cơ sở hạ tầng và nguồn cung cấp nhân lực không tăng kịp nhu cầu, nên từ sau năm 1 7, FDI vào ASEAN
có khuynh hướng giảm ho c tăng chậm Trong bối cảnh đó, Trung Quốc, một thị trường lớn có nguồn lao động phong phú, ngày càng ổn định về kinh tế vĩ
mô và hành lang pháp lý, đ thu hút dần FDI từ hầu hết các nước tiên tiến và một số nước có người Hoa ở châu Á
Về việc Trung Quốc thu hút FDI, việc gia nhập WTO có hai tác động trái ngược Một m t, do hàng rào quan thuế và hàng rào phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ ho c hạ xuống mức thấp, nên doanh nghiệp nước ngoài sẽ đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều hơn trước Những dự án FDI vào Trung Quốc nhằm mục đích tránh hàng rào thuế và phi thuế đồng thời được bảo hộ tại thị trường nội địa sẽ giảm đi và thay bằng xuất khẩu từ các căn cứ sản xuất
ở ngoài Trung Quốc M t khác, do các quy chế liên uan đến hoạt động của các công ty có vốn nước ngoài sẽ bị bãi bỏ, nhất là các quy chế liên uan đến hoạt động thương mại, nên FDI có khuynh hướng tăng lên Chẳng hạn, nguyên tắc cân bằng ngoại tệ (phải xuất khẩu đ có ngoại tệ nhập khẩu), yêu cầu phải mua nguyên liệu và sản phẩm trung gian tại bản xứ sẽ không còn áp
đ t trên công ty có vốn nước ngoài Từ đầu năm 2000, trước tri n vọng gia nhập WTO, nhiều địa phương Trung Quốc đ đ t kế hoạch liên doanh với nước ngoài Chẳng hạn, liên doanh sản xuất xe hơi với Toyota, sản xuất điện thoại di động với Motorola tại Thiên Tân, liên doanh khai thác chất bán dẫn với công ty Điện Mitsubishi tại Bắc Kinh, liên doanh sản xuất hoá chất với ASF (Đức) tại Nam Kinh được xúc tiến Đây cũng là yếu tố làm tăng FDI
Trang 21Ở Trung Quốc, một phần không nhỏ FDI hướng vào thị trường nội địa, nhưng FDI hướng vào xuất khẩu cũng lớn và do đó sẽ là áp lực mạnh đối
với ASEAN vì các lý do sau: Một là, FDI tại Trung Quốc ngày càng giữ một
vai trò quan trọng trong xuất khẩu của nước này Hiện nay, như đ đề cập, hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc là do hoạt động của các công
ty có vốn nước ngoài Dù cho thị trường nội địa rộng lớn, Trung Quốc vẫn có
ưu thế là căn cứ sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu, đ c biệt là những đ c khu kinh tế, những khu phát tri n ven bi n Do đó, không th đánh giá thấp luồng FDI vào Trung Quốc nhằm sản xuất cho thị trường các nước thứ ba Hiện nay, các m t hàng máy móc, điện tử ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong ngoại thương của thế giới và các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng chọn Trung Quốc là căn cứ sản xuất các m t hàng này Trên thực tế, các m t hàng đó cũng ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng xuất khẩu của các
công ty có vốn nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc Hai là, như đ đề cập,
dưới sức ép của hàng nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp nhà nước phải tăng sức cạnh tranh bằng cách hợp tác hơn với các doanh nghiệp nước ngoài dưới
nhiều hình thức Ba là, dòng chảy FDI vào Trung Quốc đ gấp năm lần so với
dòng chảy vào ASEAN, do đó cho d trong tổng FDI vào Trung Quốc, chỉ có 1/3 là hướng vào xuất khẩu, nhưng nó cũng trở thành một lực lượng mạnh hơn toàn dòng chảy FDI vào ASEAN(6)
Như vậy, có th thấy Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO có lợi cho các nước ASEAN nhưng cũng đ t ra nhiều thách thức đòi hỏi các nước ASEAN phải có chiến lược hợp lý khi quan hệ buôn bán với Trung Quốc
Trang 22CHƯƠNG 2
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC - ASEAN
TỪ KHI TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY
Từ khi Trung Quốc gia nhập WTO, Trung Quốc và các nước ASEAN
đ gia tăng các hoạt động nhằm tăng cường quan hệ thương mại, mở đầu là hàng loạt chương trình hợp tác đ thiết lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
2.1 Các chương trình hợp tác
2.1.1 Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện
Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
Nhằm thúc đẩy mậu dịch và đầu tư giữa hai bên và tạo thuận lợi cho
sự phát tri n hơn nữa quan hệ Trung Quốc - ASEAN trong những năm sắp tới, các nước ASEAN đ đồng thuận với sáng kiến thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) của Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc lần thứ 4 tổ chức tại Xingapo năm 2000
Ngay trước khi chính thức được gia nhập WTO (12 - 2001), tháng 11-
2001, tại Hội nghị cấp cao ASEAN diễn ra tại runei, Trung Quốc và 10 nước thành viên ASEAN tuyên bố sẽ xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc trong 10 năm tới và xác nhận 5 lĩnh vực ưu tiên hợp tác, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, thông tin, khai thác nguồn tài nguyên nhân lực, đầu tư vào nhau và khai thác lưu vực sông Mê Công Điều này cho thấy sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc sẽ mở rộng cánh cửa đối ngoại hơn nữa và mức độ ảnh hưởng của Trung Quốc trên thị trường quốc tế sẽ lớn hơn rất nhiều
Các hội nghị đánh dấu việc chính thức khởi động vòng đàm phán thành lập ACFTA:
Ngày 1 tháng 4 năm 2002, Hội nghị lần thứ nhất về việc xây dựng Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc diễn ra tại Côn Minh - Trung Quốc Tiếp đến tháng 5, Hội nghị lần thứ 3 các quan chức kinh tế cấp cao
Trang 23ASEAN - Trung Quốc tổ chức tại Bắc Kinh nhằm thảo luận các vấn đề mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, khung thời gian của Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Hội nghị cho rằng Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc (Hiệp định khung) là cơ sở pháp lý đ tri n khai hợp tác kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc Hiệp định khung bao gồm sự hợp tác rộng r i trên các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và những lĩnh vực khác có liên quan Hội nghị cũng uyết định thành lập y ban đàm phán thương mại ASEAN - Trung Quốc, thảo luận sâu về Hiệp định khung Ngày 27 tháng 6 năm 2002, Hội nghị y ban đàm phán ASEAN - Trung Quốc diễn ra tại Indonesia, hoàn thành việc sửa đổi bổ sung bản dự thảo về Hiệp định khung Ngày 13 tháng năm 2002, Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế thương mại ASEAN
- Trung Quốc lần thứ nhất tổ chức tại runei, đàm phán về vấn đề có liên uan đến ACFTA, bao gồm quan hệ thương mại đầu tư, Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, Chương trình thu hoạch sớm, tự
do hóa thương mại hàng hóa Hội nghị đạt được nhận thức chung trong các vấn đề cốt lõi Hai bên đồng ý bắt đầu giảm thuế hàng hóa nông sản chậm nhất vào đầu năm 2004 trước khi ký hiệp định thương mại tự do, quyết định
dỡ bỏ thuế uan trong vòng 3 năm, chính thức tiến hành đàm phán việc ký kết Hiệp định thương mại tự do từ năm 2003 Các Bộ trưởng nhất trí với bản dự thảo "Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc", đề nghị ký văn kiện quan trọng này tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc sẽ diễn ra vào tháng 11 năm 2002
Ngày 4 tháng 11 năm 2002, Hội nghị cấp cao Trung Quốc - ASEAN lần thứ 6 diễn ra tại Thủ đô của Cam-pu-chia, Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đ nói uan hệ Trung Quốc - ASEAN đang ở vào thời k tốt nhất trong lịch sử Hai bên nên củng cố những thành quả đ đạt được, đi sâu hợp tác, thúc đẩy quan hệ song phương bước vào giai đoạn mới phát tri n toàn
Trang 24diện Thủ tướng Chu Dung Cơ đ đưa ra 3 kiến nghị nhằm thúc đẩy mối quan
hệ Trung Quốc - ASEAN:
- Khởi động tiến trình thành lập khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế toàn diện song phương;
- Khởi động tri n khai hợp tác toàn diện lưu vực sông Mê Công, thúc đẩy tiến trình nhất th hóa ASEAN;
- Khởi động hợp tác toàn diện lĩnh vực an ninh phi truyền thống nhằm bảo vệ ổn định và an ninh khu vực.(7)
Từ những đề án tích cực của Trung Quốc và sự nỗ lực của hai bên,
Trung Quốc và các nhà L nh đạo của 10 nước ASEAN đ ký kết " iệp định
khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung uốc - ASEAN" (gọi tắt là Hiệp định khung), tuyên bố sẽ hoàn thành xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN -
Trung Quốc vào năm 2010, từ đó chính thức khởi động tiến trình xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Đây là một bằng chứng của
sự hợp tác về kinh tế thương mại giữa Trung Quốc - ASEAN Việc ký Hiệp định khung chính là một kế hoạch toàn diện và đầy đủ đ xây dựng Khu mậu dịch thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc
Các nhà nghiên cứu cho rằng Trung Quốc đưa ra đề án FTA với
ASEAN là do: Thứ nhất, Trung Quốc muốn tăng cường quan hệ với các nước ASEAN Thứ hai, Trung Quốc muốn xóa đi nhận thức về mối đe dọa từ Trung Quốc đối với ASEAN Thứ ba, ASEAN có tầm quan trọng không chỉ
là nơi nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc, mà còn là nơi cung cấp dầu mỏ
và khí đốt cho Trung Quốc.(8)
Về phần mình, ASEAN hy vọng có th quản lý được sự thâm nhập của hàng hóa Trung Quốc vào thị trường các quốc gia thành viên và chia sẻ những lợi ích từ sự phát tri n như vũ b o của nền kinh tế Trung Quốc
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc chính thức hình thành
sẽ là một sự khởi đầu tốt đẹp đối với cả hai bên và toàn bộ khu vực, là sự kiện trọng đại trong lịch sử quan hệ ASEAN - Trung Quốc Nó mở ra con đường
Trang 25hợp tác khu vực đ c sắc châu Á, phù hợp nguyện vọng chung và lợi ích của Trung Quốc và ASEAN, cũng ph hợp với xu thế phát tri n nhất th hóa của khu vực Từ đây, uan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, đ c biệt là hợp tác thương mại bước vào con đường phát tri n mới
- Thăm dò các lĩnh vực mới và tri n khai các biện pháp thích hợp cho
sự hợp tác kinh tế ch t chẽ hơn giữa các bên; làm cho nền kinh tế Trung Quốc
và ASEAN thích ứng với mọi thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu vực
- ia tăng vai trò và ảnh hưởng của nhau như một sự bổ sung quan trọng cho điều chỉnh của WTO đối với cả hai bên
- Tạo thuận lợi cho sự hội nhập hiệu quả hơn của các nhà nước thành viên mới của ASEAN và giảm bớt khoảng cách phát tri n giữa các bên
Nội dung chính của Hiệp định:
Trong Hiệp định khung trên, ASEAN và Trung Quốc thoả thuận khẩn trương thương lượng đ thiết lập ACFTA trong vòng 10 năm đối với 6 nước thành viên cũ ( ASEAN 6 ) và 15 năm đối với các thành viên mới (ASEAN 4) thông qua các biện pháp như: Loại bỏ dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong buôn bán hàng hoá; tự do hoá dần thương mại dịch vụ trong các lĩnh vực quan trọng; thiết lập một định chế đầu tư có tính cạnh tranh và rộng
mở đ tạo thuận lợi và thúc đẩy đầu tư bên trong Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc; thực hiện đối xử đ c biệt và có phân biệt, mềm dẻo đối với các nhà nước thành viên mới của ASEAN; trong các cuộc thương lượng về ACFTA, có sự mềm dẻo đối với các bên khi đề cập tới những lĩnh
Trang 26vực nhạy cảm trong lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ và đầu tư; thương lượng và thoả thuận, đ t trên cơ sở có đi có lại và cùng có lợi
Theo hiệp định, từ năm 2010, mức thuế bình uân đối với hàng hóa xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc được giảm từ 9.8% xuống còn 0.1%, trong khi 6 nước thành viên ASEAN cũ cũng sẽ giảm ngay mức thuế bình quân từ 12.8% xuống còn 0.6% đối hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc
Các m t hàng được coi là nhạy cảm như xe ô tô, gạo, xăng dầu… tạm thời chưa nằm trong danh mục được cắt giảm thuế, song sẽ được cắt giảm tới 50% đối với 6 nước sáng lập ASEAN vào năm 2015 và với 4 nước ASEAN còn lại vào năm 2018
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc hoàn thành xây dựng sẽ tạo ra một thị trường rộng lớn với 1 tỷ người tiêu d ng, DP tiếp cận 6000 tỷ USD và giao lưu thương mại đạt tới 1200 tỷ USD(9) Nếu tính theo dân số, đây sẽ
là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất trên thế giới; về uy mô kinh tế cũng đứng thứ 3 thế giới, chỉ sau Liên minh châu Âu EU và Khu mậu dịch tự do ắc ỹ,
và là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất trong các nước đang phát tri n
- Từ một đi m đến toàn diện: ACFTA bắt đầu từ những ngành, những sản phẩm dễ hơn trước khi bao gồm toàn bộ
- Từ khu vực nhỏ đến bao trùm toàn bộ khu vực: ACFTA có th bắt đầu từ hợp tác khu vực nhỏ như hợp tác ti u vùng sông Mê Công rồi mới tri n khai ra toàn bộ khu vực
Trang 27- Ưu tiên v ng duyên hải: ACFTA có th bắt đầu hợp tác giữa các vùng ven bi n của Trung Quốc và ASEAN
- Thúc đẩy thương mại qua biên giới: Một số học giả ở Nam Ninh và Quảng Tây rất quan tâm tới việc thúc đẩy thương mại qua biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam, Lào, Myanma, lấy đó làm khu vực thử nghiệm của ACFTA
- Rút kinh nghiệm từ thực tiễn: ACFTA phải được thực hiện một cách thận trọng, từng bước và rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện
Ý nghĩa của ACFTA:
Việc thành lập ACFTA có ý nghĩa vô c ng uan trọng đối với Trung Quốc và ASEAN, là sự lựa chọn hai bên cùng thắng
Một là, thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị về kinh tế giữa Trung
Quốc với các nước ASEAN Nó chứng tỏ niềm tin về chính trị giữa hai bên đang được củng cố, hai bên đang có nhu cầu thực tế hợp tác sâu rộng hơn về kinh tế ACFTA sẽ thúc đẩy hàng hóa lưu thông tự do trong khu vực, nguồn vốn được phân phối có hiệu quả hơn, mở rộng hơn nữa quy mô thị trường, có lợi cho việc nâng cao sức sản xuất của các doanh nghiệp trong khu vực, tăng cường sức cạnh tranh quốc tế, mở rộng uy mô đầu tư lẫn nhau giữa các thành viên, thúc đẩy thương mại ASEAN - Trung Quốc phát tri n, thắt ch t quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai bên
Hai là, ACFTA thúc đẩy quan hệ song phương giữa Trung Quốc với
các nước ASEAN, làm cho ASEAN và Trung Quốc thành một th thống nhất, tạo điều kiện quan trọng trong việc ổn định kinh tế Đông Nam , đồng thời nâng cao tiếng nói cũng như sức cạnh tranh của ASEAN và Trung Quốc trong các công việc có liên quan tới thương mại quốc tế gắn liền với lợi ích chung của hai bên Trung Quốc hiện là nước thương mại lớn thứ 3 trên thế giới, trong khi đó tổng kim ngạch thương mại của 10 nước ASEAN đứng thứ 5 trên thế giới Quy mô thương mại của khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đứng thứ 3 chỉ sau EU và khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ Việc hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc không chỉ giúp cho các nước ASEAN
Trang 28phục hồi nền kinh tế mà còn có lợi cho việc thúc đẩy hòa bình và ổn định ở châu , đồng thời duy trì sự cân bằng về lực lượng với EU và khu mậu dịch
tự do Bắc Mỹ, chống lại chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của các nước phát tri n Việc thành lập ACFTA là một bước quan trọng đ tiến tới thành lập khu mậu dịch tự do Đông
Ba là, việc thành lập ACFTA giúp các thành viên giảm sự phụ thuộc
vào thị trường xuất khẩu bên ngoài như châu Âu và ỹ Trong quá trình phát tri n nền kinh tế, các nước ASEAN phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, trong
đó xuất khẩu sang Mỹ chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này Sau khủng hoảng kinh tế tài chính châu năm 1 7, các nước ASEAN nhận thức sâu sắc rằng, phụ thuộc quá nhiều vào nền kinh tế ngoài khu vực dẫn tới sự thụ động, mất ổn định kinh tế khu vực Thoát khỏi sự phụ thuộc vào nền kinh tế phương Tây thông ua việc tăng cường hợp tác khu vực
đ trở thành nhận thức chung của các nước ASEAN Trung Quốc có tiềm năng phát tri n mạnh mẽ ACFTA thành lập sẽ ngày càng có nhiều hàng hóa, lao động các nước ASEAN tới đây Điều này có ý nghĩa vô c ng uan trọng đối với các nước ASEAN trong việc điều chỉnh, giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường ngoài khu vực Còn đối với Trung Quốc, ACFTA có lợi trong việc chống lại sự cạnh tranh ngoài khu vực, chống lại chủ nghĩa bảo hộ của các nước phát tri n phương Tây và tác động của sự phát tri n các tập đoàn thương mại khác đối với xuất khẩu của Trung Quốc
Bốn là, việc thành lập ACFTA có lợi cho việc thúc đẩy hợp tác và
phát tri n kinh tế khu vực Đông Những năm gần đây trước sức ép của EU
và khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ, các nước Đông đ bắt đầu đẩy nhanh tiến trình hợp tác kinh tế khu vực, đồng thời đạt được một số thành quả Từ năm 1 đến nay, dưới cơ chế "10 3", các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đ tổ chức nhiều hội nghị các nhà l nh đạo, đạt được nhận thức chung rộng r i trên các lĩnh vực hợp tác kinh tế Nhưng nhìn chung, do
sự khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v giữa các nước Đông tương
Trang 29đối lớn nên tiến trình hợp tác g p phải rất nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó, việc khởi động ACFTA có ý nghĩa uan trọng, thúc đẩy sự phát tri n nhất th hóa kinh tế khu vực, duy trì kinh tế khu vực Đông phồn vinh và phát tri n
Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN hình thành sẽ mở rộng thêm hợp tác kinh tế thương mại giữa hai bên, thúc đẩy phát tri n kinh tế địa phương Các nhà l nh đạo Trung Quốc và ASEAN đánh giá cao và k vọng đối với việc thành lập và thực thi khu vực tự do thương mại Năm 200 , thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo trong hội nghị các nhà l nh đạo Trung Quốc - ASEAN lần thứ 12 tổ chức tại Thái Lan chỉ ra: Khu mậu dịch thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN hình thành đúng hạn năm 2010 sẽ trở thành cột mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ hai bên, đồng thời khiến cho niềm tin giữa hai bên càng thêm bền vững, quan hệ càng bền ch t, hợp tác càng có lợi Thủ tướng Malayxia cho rằng việc hình thành khu vực tự do thương mại Trung Quốc - ASEAN là một việc lớn có ý nghĩa của tiến trình nhất th hóa kinh tế vùng, quan hệ kinh tế thương mại giữa Malaysia và Quảng Tây Trung Quốc do đó đứng trên đi m xuất phát mới Phó thủ tướng Lào nói: Hiệp định khung khu vực tự do thương mại sẽ rút ngắn khoảng cách trong hợp tác kinh
tế giữa Trung Quốc và các nước ASEAN Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Cao Hồ Thành nhận định, FTA giữa ASEAN và Trung Quốc có hiệu lực sẽ thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế khu vực, các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong khối sẽ được hưởng lợi Phó Chủ tịch y ban quốc gia Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc Hoàng Mạnh Phục cho biết, việc Trung Quốc và ASEAN xây dựng thành công khu mậu dịch tự do thương mại là hành động
th hiện mối quan hệ song phương không ngừng được đẩy mạnh, đồng thời một lần nữa khẳng định mối quan hệ đối tác chiến lược phồn vinh giữa hai bên(10)
Trong những năm gần đây, uan hệ hợp tác giữa hai bên không ngừng được đẩy mạnh, sự giao lưu về chính trị, hội đàm cấp cao cũng không ngừng được tăng cường mật thiết hơn ên cạnh đó, hợp tác kinh tế không ngừng
Trang 30tăng cao, uan hệ mậu dịch được thúc đẩy mạnh mẽ Trung Quốc và ASEAN đều là thị trường và là đối tác quan trọng của nhau Trên cơ sở nhận thấy những lợi ích mà ACFTA mang lại là rất lớn, l nh đạo các nước ASEAN đều khẳng định trong thời gian tới sẽ tiếp tục thúc đẩy khu mậu dịch thương mại
tự do Trung Quốc - ASEAN Riêng Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Trần Đức Minh cho biết, Trung Quốc đang nghiên cứu việc giúp đỡ, hỗ trợ những doanh nghiệp yếu thế của các nước ASEAN, đồng thời giúp các nước ASEAN cải thiện cơ sở hạ tầng, hệ thống lưu thông hàng hóa, đ giúp các nước ASEAN tăng sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế(11)
Xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc là một bước
đi lịch sử trong tiến trình hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN Việc này đ phản ánh đầy đủ nguyện vọng tốt đẹp mong muốn tăng cường uan hệ láng giềng hữu nghị của L nh đạo hai bên, cũng th hiện lên sự liên kết kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN không ngừng được tăng cường, là một cột mốc mới trong phát tri n uan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN
2.1.1.1 Chương trình thu hoạch sớm
Nhằm xúc tiến ngay việc xây dựng ACFTA, ASEAN và Trung Quốc
đ thoả thuận thực hiện một Chương trình thu hoạch sớm (Early Harvest Programme - EHP)
Hiệp định về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc điều chỉnh 4 mảng lớn: hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác Chương trình Thu hoạch sớm là một nội dung trong "Hiệp định khung
về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc" và điều chỉnh một phần trong mảng hàng hoá
EHP được đề ra ngay trong Hiệp định khung nhằm cung cấp một công cụ pháp lý đ tri n khai ngay ACFTA Chương trình Thu hoạch sớm là một cơ chế ưu đ i thuế quan được đ t ra nhằm thực hiện sớm các lợi ích của
ưu đ i thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc trên cơ sở có đi có lại
Trang 31Các sản phẩm được đưa vào EHP bao gồm: gia súc sống; thịt và phủ tạng gia súc; cá; các sản phẩm sữa; các sản phẩm gia súc khác; cây giống; rau ăn; các loại quả và hạt ăn được Tất cả các loại m t hàng trên đều là các sản phẩm nông nghiệp Tổng số m t hàng được đưa vào EHP lên tới 500 m t hàng Các sản phẩm nằm trong diện của EHP sẽ được phân thành 3 loại đ giảm và loại bỏ thuế theo thời gian bi u đ được thoả thuận
Loại 1: Đối với Trung Quốc và ASEAN 6, loại này bao gồm tất cả các sản phẩm có áp dụng mức thuế Tối huệ quốc ( FN) cao hơn 15 % Đối với các thành viên của ASEAN mới, loại này gồm tất cả các sản phẩm đang
có mức thuế FN cao hơn 30 %
Loại 2: Đối với Trung Quốc và ASEAN 6, loại này bao gồm tất cả các sản phẩm đang áp dụng mức thuế MFN ở giữa 5 % và 15 % Đối với các thành viên mới của ASEAN, loại này gồm tất cả các sản phẩm đang có mức thuế MFN ở giữa 15 % và 30 %
Loại 3: Đối với Trung quốc và ASEAN 6, loại này bao gồm tất cả các sản phẩm có áp dụng mức thuế MFN thấp hơn 5 % Đối với các nước ASEAN 4, loại này gồm tất cả các sản phẩm đang có mức thuế MFN thấp hơn 15 %
EHP sẽ được thực hiện không chậm hơn ngày 1 tháng 1 năm 2004 và kết thúc không chậm hơn ngày 1 tháng 1 năm 2006 đối với ASEAN 6 và Trung Quốc; không chậm hơn ngày 1 tháng 1 năm 2010 đối với các nước thành viên mới của ASEAN
M c d , thương mại về nông sản giữa các nước ASEAN và Trung Quốc chỉ chiếm dưới 10% trong tổng kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai bên, nhưng đối với từng m t hàng cụ th , từng nước cụ th thì việc cắt giảm thuế được
hy vọng sẽ tạo ra tác động thuận lợi đáng k , kích thích trao đổi thương mại và
ua đó tăng thu nhập cho nông dân của ASEAN cũng như Trung Quốc
Do đ c đi m khí hậu giữa Trung Quốc và các nước ASEAN tương đối khác nhau (Trung Quốc có khí hậu hàn đới và một phần ôn đới, trong khi tất
cả các nước ASEAN có khí hậu nhiệt đới, trừ một phần của Việt Nam có khí
Trang 32hậu ôn đới), nên phần lớn các sản phẩm nông sản của Trung Quôc và của các nước ASEAN mang tính chất bổ sung cho nhau nhiều hơn là cạnh tranh trực tiếp
Trên cơ sở đó, Điều 6 của Hiệp định Khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc đ ui định chi tiết việc thực hiện Chương trình thu hoạch sớm Theo đó, các nước sẽ cắt giảm thuế uan nhanh hơn đối với các sản phẩm thuộc Chương 01 đến Chương 08 ( Động vật sống; Thịt và nội tạng động vật; Cá; Sữa và các sản phẩm từ sữa; Các sản phẩm khác từ động vật; Cây sống; Rau ăn được; Quả và hạt ăn được)
Tính đến trình độ phát tri n kinh tế của các nước ASEAN khác nhau, lịch trình giảm và loại bỏ thuế quan thuộc Chương trình Thu hoạch sớm là:
- Đối với Trung Quốc và các nước ASEAN 6: Chương trình Thu hoạch sớm được thực hiện trong vòng 3 năm Theo đó, việc cắt giảm thuế sẽ bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 và hoàn thành không muộn hơn ngày 1 tháng 1 năm
2006 (mức thuế suất vào thời đi m hoàn thành chương trình là 0%) ( ảng 2.1)
- Đối với các nước thành viên mới của ASEAN (CLMV), thời gian cắt giảm thuế sẽ chậm hơn với cách thức cắt giảm thuế linh hoạt hơn
- Việt Nam bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế từ ngày 1 tháng 1 năm
2004 nhưng hoàn thành không muộn hơn ngày 1/1/2008 (Bảng 2.2)
Bảng 2.1: Lộ trình cam kết cắt giảm thuế của Trung Quốc và các nước ASEAN 6 trong Chương trình Thu hoạch sớm
Nhóm m t hàng hơn 1/1/2004 Không muộn
Không muộn hơn 1/1/2005
Không muộn hơn 1/1/2006
Nguồn: Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc- ASEAN
Trang 33Bảng 2.2 Lộ trình cam kết cắt giảm thuế của Trung Quốc và các nước ASEAN 4 trong Chương trình Thu hoạch sớm
Nhóm m t hàng 2 (có thuế suất từ 15% đến 30%)
Nước
Không muộn hơn 1/1/2004
Không muộn hơn 1/1/2005
Không muộn hơn 1/1/2006
Không muộn hơn 1/1/2007
Không muộn hơn 1/1/2008
Không muộn hơn 1/1/2010
Không muộn hơn 1/1/2005
Không muộn hơn 1/1/2006
Không muộn hơn 1/1/2007
Không muộn hơn 1/1/2008
Không muộn hơn 1/1/2010
Lào và
Nguồn: Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc- ASEAN
Đ hạn chế tác động xấu đến sản xuất những m t hàng nhạy cảm, Hiệp định khung cho phép các nước đưa ra Danh mục loại trừ (các m t hàng chưa đưa vào thực hiện Chương trình thu hoạch sớm) Các nước có th đưa một hay nhiều m t hàng từ Danh mục loại trừ vào Chương trình Thu hoạch sớm bất cứ lúc nào
Trang 34Với việc giảm thuế uan đối với các m t hàng trong chương trình Thu hoạch sớm, trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đ tăng lên nhanh chóng Theo số liệu của Tổng cục Hải Quan Trung Quốc, trong 6 tháng đầu năm 2004, Trung Quốc đ nhập khẩu 330 triệu USD rau uả từ các nước ASEAN, tăng 37.8% so với cùng k năm ngoái và xuất khẩu sang các nước ASEAN 270 triệu USD, tăng 33 % Sự gia tăng rất mạnh này là kết quả của việc thực hiện Chương trình thu hoạch sớm Năm 2004, kim ngạch thương mại song phương đạt 105.9 tỷ USD, nhìn chung tỷ lệ tăng trưởng là
38 %/năm trong giai đoạn 2002-2004 Trong đó, Trung Quốc xuất khẩu 42.9
tỷ USD, tăng 38.7%, nhập khẩu 63 tỷ USD, tăng 33.1% Giá trị hàng hóa trao đổi thuộc chương trình Thu hoạch sớm năm 2003 là 1.55 tỷ USD, năm 2004
đ tăng lên 2 tỷ USD, tăng 2 % so với năm 2003 Trên cơ sơ đó, năm 2005 đ chứng kiến sự tăng trưởng mới trong thương mại song phương, việc thực hiện tốt Chương trình Thu hoạch sớm đ củng cố hơn nữa niềm tin về việc thúc đẩy xây dựng FTA giữa hai bên, tăng cường trao đổi thương mại Do đó, kim ngạch thương mại song phương ASEAN - Trung Quốc tiếp tục có bước tăng trưởng mới, năm 2005 đạt 130.4 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2004 Hàng hóa nằm trong Chương trình Thu hoạch sớm có tỷ lệ tăng trưởng xuất nhập khẩu tương đối cao gồm rau, quả, thủy sản(12)
Về xuất nhập khẩu rau Năm 2004, tổng kim ngạch thương mại rau giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 660 triệu USD, tăng 53.5% so với cùng k năm
2003, trong đó nhập khẩu tăng 350 triệu USD, tăng trưởng 77.8%, xuất khẩu đạt
310 riệu USD, tăng trưởng 31.8% Tốc độ tăng trưởng trong xuất nhập khẩu rau cao hơn so với mức bình quân của tất cả các loại hàng hóa thuộc Chương trình Thu hoạch sớm, là hàng hóa được hưởng lợi nhiều nhất về Chương trình Thu hoạch sớm Các loại rau mà Trung Quốc xuất khẩu chủ yếu sang ASEAN gồm: tỏi, nấm, khoai tây, cà rốt Trong đó, xuất khẩu nấm tăng trưởng 2.7 lần, cà rốt tăng 1.2 lần, xuất khẩu tỏi và khoai tây tăng bằng với tốc độ tăng trưởng của các loại sản phẩm khác trong Chương trình Thu hoạch sớm(13)
Trang 35Về xuất nhập khẩu quả Năm 2004, kim ngạch thương mại quả giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 460 triệu USD, tăng trưởng 27.8%, trong đó, nhập khẩu 220 triệu USD, tăng trưởng 29.2%, xuất khẩu đạt 240 triệu USD, tăng trưởng 25.4% Từ đó có th thấy, tác dụng thúc đẩy rõ rệt của việc giảm thuế đối với thương mại quả giữa hai bên Trung Quốc chủ yếu nhập từ ASEAN các loại quả như: long nhãn, sầu riêng và măng cụt Trong khi đó xuất sang các nước ASEAN quýt, lê, táo, sau khi thực hiện Chương trình Thu hoạch sớm, xuất khẩu các m t hàng này đều tăng đáng k
Về xuất nhập khẩu thủy sản Năm 2004, tổng kim ngạch thủy sản giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 270 triệu USD, tăng trưởng 50% so với cùng
k năm 2003, trong đó nhập khẩu đạt 120 triệu USD, tăng trưởng 41.1%, xuất khẩu đạt 150 triệu USD, tăng 5 1% Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu cũng cao hơn so với các loại hàng hóa khác nằm trong Chương trình Thu hoạch sớm Các loại thủy sản Trung Quốc nhập từ ASEAN chủ yếu gồm cá đông lạnh và tôm đông lạnh, nhập khẩu cá đông lạnh tăng với tốc độ nhanh nhất, trong đó cá đông lạnh tăng 416 lần so với năm 2003, cá đông lạnh miếng tăng
293 lần, các loại cá đông lạnh khác tăng trưởng 328 lần Trung Quốc xuất khẩu sang các nước ASEAN chủ yếu tôm và cá đông lạnh các loại, kim ngạch xuất khẩu tăng 67.8% so với năm 2003, xuất khẩu cá đông lạnh có mức tăng nhanh nhất, đạt 84.2%(14)
Đối với Việt Nam, từ ngày 1 tháng 1 năm 2004, Trung Quốc sẽ cắt giảm dần 206 dòng thuế nhập khẩu từ Việt Nam xuống thuế suất 0% trước ngày 1 tháng 1 năm 2006 Ngược lại, Việt Nam sẽ cắt giảm dần 88 dòng thuế nhập khẩu từ Trung Quốc xuống bằng 0% trước ngày 1 tháng 1 năm 2008 Riêng năm 2004, các nhóm m t hàng nhập khẩu từ Việt Nam vào Trung Quốc
có thuế suất hơn 15% sẽ được giảm xuống 10%, nhóm 5-10% xuống 5% và nhóm dưới 5% được hưởng thuế suất bằng 0%(15)
Ngày 25 tháng 2 năm 2004, Chính phủ Việt Nam đ ra Nghị định số 99/2004/NĐ-CP ban hành Danh mục
Trang 36hàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam cho các năm 2004 - 2008 đ thực hiện Chương trình thu họach sớm
Việc thực hiện EHP đ thúc đẩy lòng tin cho cả hai bên ASEAN và Trung Quốc trong việc thành lập FTA theo đúng kế hoạch ASEAN và Trung Quốc đ bước đầu bổ sung cho nhau trong thương mại hàng nông sản Ngoài
ra, việc thực hiện Chương trình này cũng góp phần xoá bỏ nạn buôn lậu qua biên giới giữa Trung Quốc và các nước ASEAN
Việc xuất khẩu nhập khẩu các m t hàng trên tiến tri n thuận lợi chứng
tỏ Chương trình thu họach sớm đ th hiện tốt vai trò “bước đi thử nghiệm” của mình Sự thành công của Chương trình thu hoạch sớm hứa hẹn ACFTA sẽ
là một thỏa hiệp đôi bên c ng có lợi Điều này cũng xoa dịu phần nào những
lo ngại rằng Trung Quốc sẽ là quốc gia có lợi nhiều nhất từ thỏa hiệp này
2.1.1.2 Hiệp định rau quả Trung Quốc - Thái Lan
Trong khuôn khổ phần 1 của lộ trình thực hiện tự do thương mại hàng hoá ASEAN - Trung Quốc, tháng 6 năm 2003, Thái Lan và Trung quốc ký kết một Chương trình thu hoạch sớm về các m t hàng rau, quả và một số loại ngũ cốc Theo đó, ngay từ đầu tháng 10 năm 2003, thuế suất áp dụng 188 m t hàng rau, quả và hạt xuất, nhập khẩu giữa hai quốc gia được cắt giảm xuống 0% Chương trình Thu hoạch sớm trong nông nghiệp Thái Lan - Trung Quốc
là FTA đầu tiên giữa Trung Quốc và một thành viên của Hiệp hội ASEAN
Chính phủ Thái Lan đ rất tin tưởng vào những lợi ích to lớn từ việc thực hiện Chương trình thu hoạch sớm với Trung Quốc Vì vậy, Thái Lan nhanh chóng thực hiện cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với hàng nông sản rau quả, m c dù Hiệp định Khung FTA ASEAN - Trung Quốc yêu cầu bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2004, cả hai nước Thái Lan và Trung Quốc cùng thực hiện cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu 8 nhóm hàng nông sản và tiến tới cắt giảm xuống 0% trước thời đi m năm 2006
ước đi táo bạo này đ mang lại lợi nhuận rất lớn cho Thái Lan Đồng thời, sự tăng trưởng thương mại nhanh chóng cũng khiến người tiêu dùng của cả
Trang 37hai nước có lợi nhờ được hưởng sự giảm giá hàng rau quả Tại Bắc Kinh, giá một
số m t hàng quả nhiệt đới nhập khẩu từ Thái Lan đ giảm tới 50% so với năm ngoái Tại Thái Lan, đào và táo của Trung Quốc cũng được bán với giá rẻ hơn tới 40% - 50%(16)
Trong những năm gần đây, Thái Lan trở thành nước xuất khẩu rau quả chưa chế biến lớn nhất sang Trung Quốc, Thái Lan đ cung cấp khoảng 80% lượng nhập khẩu rau quả tươi của Trung Quốc, là nguồn cung cấp bưởi lớn nhất cho thị trường Trung Quốc Lượng bưởi xuất khẩu sang Trung Quốc trong những năm ua đ đạt khoảng 2300-2400 tấn, chiếm 2/3 tổng khối lượng nhập khẩu của Trung Quốc
Sau một thời gian thực hiện hiệp định thương mại rau quả Trung Quốc - Thái Lan, kim ngạch thương mại rau quả song phương tăng lên nhanh chóng Theo thống kê của Hải quan Trung Quốc, uý I năm 2004, kim ngạch thương mại rau quả giữa hai nước Trung Quốc - Thái Lan đạt gần 114 triệu USD, trong đó, Trung Quốc xuất khẩu sang Thái Lan 13.981 triệu USD, nhập khẩu từ Thái Lan 99.362 triệu USD Nửa đầu năm 2004, kim ngạch nhập khẩu rau quả của Trung Quốc từ các nước ASEAN đ lên tới 330 triệu USD, tăng 38.7% so với cùng k năm 2003, trong đó xuất khẩu rau quả của Thái Lan sang Trung Quốc tăng hơn 30%, đạt mức 210 triệu USD, chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn bộ khối ASEAN vào thị trường Trung Quốc cùng k ; tổng giá trị xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN đạt 270 triệu USD, tăng 34% Sau một năm thực hiện, hoa uả xuất khẩu của Thái Lan sang thị trường Trung Quốc đ tăng đột biến: nh n tươi tăng 86 %, sầu riêng tăng 21.850%, soài tăng 150 %(17)
Trên thực tế, Thái Lan đ phải đương đầu với rất nhiều trở ngại từ hàng rào bảo hộ phi thuế của Trung Quốc Năm 2005, Ông Wipapan Kohkietkhajorn, an Hành động của Thái Lan về vấn đề toàn cầu hoá, đ tổng kết lại hệ thống những trở ngại mà các nhà xuất khẩu rau quả tươi của Thái Lan phải đương đầu khi tiếp cận thị trường rau quả Trung Quốc
Trang 38Thứ nhất, Trung Quốc yêu cầu hàng hoá nhập khẩu vào thị trường
Trung Quốc phải có đầy đủ giấy chứng nhận sản phẩm của Chính phủ Thái Lan và có nguồn gốc từ các nông trường sản xuất đ đăng ký và được Phòng Nông nghiệp Thái Lan ki m tra về tàn dư thuốc bảo vệ thực vật Các nhà xuất khẩu Thái Lan khi thực hiện đầy đủ các thủ tục phức tạp này ngoài việc tiêu tốn nhiều thời gian và tiền của, hàng nông sản trong lúc chờ đợi đ trở nên thối hỏng và kém chất lượng
Thứ hai, Trung quốc yêu cầu các doanh nghiệp nhập khẩu nông sản
sản xuất từ Thái Lan phải được trực tiếp Chính phủ Trung Quốc cấp giấy phép hoạt động và phải là doanh nghiệp Trung Quốc Bởi vì cho đến nay Trung Quốc chưa cho phép các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động tại thị trường Trung Quốc Chính vì mọi hoạt động xuất khẩu của Thái Lan phải đi ua một khâu trung gian phía Trung Quốc nên đ làm tăng chi phí cho hàng xuất khẩu của Thái Lan
Thứ ba, Trung Quốc uy định các doanh nghiệp nhập khẩu phải được
cấp giấy phép nhập khẩu, thời gian đ cấp phép thông thường là 1 tuần lễ Nếu đ có được một giấy phép nhập khẩu từ Phòng Ki m dịch Tiêu chuẩn Hàng hoá thì cần đến 1 tháng Mỗi giấy phép có thời hạn 6 tháng và chi phí cho một giấy phép là 20 tệ (khoảng 100 bạt Thái Lan) và có th sử dụng cho nhiều loại hàng nhập khẩu Ngoài ra, chi phí đ được cấp một Chứng nhận Vệ sinh cho hàng hoá nhập khẩu là 20 tệ
Thứ tư, vận chuy n hàng hoá bằng đường bi n từ Thái Lan vào Trung
Quốc rất khó khăn Chỉ có duy nhất 1 chuyến tàu chở hàng mỗi ngày từ Thái lan tới Quảng Đông, có 5 chuyến mỗi ngày từ Thái Lan đến Trung Quốc và quá cảnh Hồng Kông Tuy nhiên, vận chuy n hàng hoá qua Hồng Kông vào Trung Quốc thậm chí xa hơn và tốn kém chi phí hơn Ngoài ra, vận chuy n hàng hoá trong nội địa Trung Quốc chậm và khó khăn do có uá ít tuyến giao thông đường bộ Vì vậy, hàng hoa quả tươi của Thái Lan chỉ xuất khẩu vào 4 thành phố của Trung quốc là Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông, Côn inh
Trang 39Đ khắc phục khó khăn, Thái Lan đ tích cực nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ thúc đẩy thương mại với Trung Quốc Thái Lan đ đầu tư lớn đ cải tạo sông Mê Công thành một con đường vận tải thuỷ an toàn, thuận lợi, giá rẻ đ chuyên chở rau quả, hải sản đến các tỉnh xa nằm ở phía Tây của Trung Quốc Thái Lan sử dụng cả máy bay đ vận chuy n rau quả, nông sản, hải sản tươi sống đến các tỉnh Trung Quốc đ bán tươi trong ngày ằng cách này, các doanh nghiệp Thái Lan đ vượt xa các doanh nghiệp Việt Nam vốn chỉ chuyên chở rau quả, nông sản sang Trung Quốc bằng xe đông lạnh
Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan đ ký kết với Chính phủ Trung Quốc các Hiệp định chung về Ki m dịch động, thực vật và cơ chế ki m tra hải quan một lần Trong khi đó Việt Nam và Trung Quốc vẫn chưa có những Hiệp định chung như vậy Các thoả thuận giữa Việt Nam với Trung Quốc về ki m dịch và giám sát vệ sinh vẫn chưa được phổ biến kịp thời, rộng r i đến các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam Kết quả là nhiều loại nông sản của Việt Nam xuất khẩu vào Trung Quốc vẫn còn vấp phải những rào cản kỹ thuật; các m t hàng tươi sống của Việt Nam hay bị gây khó dễ bởi mã hàng hai bên không thống nhất, chứng chỉ vệ sinh chưa được hai bên công nhận(18)
Như vậy, với Hiệp định rau quả Trung Quốc - Thái Lan, Thái Lan đ dẫn đầu các nước ASEAN trong việc thực hiện thỏa thuận về tự do thương mại với Trung Quốc
2.1.1.3 Hiệp định thương mại hàng hóa
Ngày 2 tháng 11 năm 2004, Hiệp định Thương mại Hàng hoá (TIG) giữa ASEAN và Trung Quốc đ được các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Trung Quốc ký kết nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc tại Viêng Chăn (Lào) Hiệp định có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005 Đây là một bước tiến quan trọng thắt ch t mối quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc và bước đầu hiện thực hoá mục tiêu của các nhà l nh đạo nêu tại Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc đ ký kết vào tháng 11 năm 2002
Trang 40Hiệp định về Thương mại Hàng hoá ASEAN - Trung Quốc qui định chi tiết các nguyên tắc quản lý xuất nhập khẩu của các thành viên căn cứ vào chuẩn mực chung của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Theo đó, thuế quan là biện pháp bảo hộ duy nhất hợp pháp và được cắt giảm từng bước theo
lộ trình Các hàng rào phi thuế uan như giấy phép, hạn ngạch trên nguyên tắc đều không được duy trì với mục tiêu bảo hộ Quan hệ thương mại trao đổi trong khu vực sẽ được thực hiện trong một môi trường minh bạch, thuận lợi Khi đó, d chưa là thành viên của WTO, Việt Nam và Lào cũng chấp nhận các nghĩa vụ theo chuẩn mực của WTO trừ một số bảo lưu của hai nước cam kết khi gia nhập Như vậy, ngoài các nội dung đ nêu trong Hiệp định, doanh nghiệp cần theo dõi ch t chẽ động thái đàm phán và cam kết tương ứng của các thành viên ASEAN và Trung Quốc trong khuôn khổ WTO đối với ngành kinh doanh của mình
Nội dung cơ bản nhất của Hiệp định Thương mại hàng hoá ASEAN - Trung Quốc là các lộ trình cắt giảm thuế quan của ASEAN và Trung Quốc và nguyên tắc hưởng ưu đ i Có hai nhóm hàng hoá chủ yếu có lộ trình cắt giảm thuế khác nhau là Nhóm các hàng hoá cắt giảm thuế thông thường (NT) và Nhóm các hàng hoá nhạy cảm (SEL)
Nhóm thứ nhất, Danh mục NT, gồm ít nhất trên 90% số lượng dòng thuế trong bi u thuế xuất nhập khẩu của mỗi nước Lộ trình cắt giảm thuế trong Danh mục này bắt đầu từ năm 2005 cho đến khi hoàn thành cắt giảm thuế xuống 0% là năm 2010 Riêng đối với các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (CLMV), lộ trình hoàn thành cắt giảm thuế xuống 0% trong NT được kéo dài thêm 5 năm, tức là năm 2015 ột số ít sản phẩm thuộc Danh mục NT (không quá 150 dòng thuế) được các bên bảo lưu kéo dài thời gian duy trì mức thuế suất đến 5% thêm 2 năm, tức là năm 2012 Riêng giai đoạn bảo lưu của các nước CL V là 3 năm, tức là năm 2018 Phụ lục 1 của Hiệp định nêu rõ các m t hàng này của từng nước