1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ an ninh, chính trị Nhật - Trung từ sau chiến tranh lạnh - Thực trạng, vấn đề và xu hướng tiến triển

92 745 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa hai quốc gia láng giềng này có tầm quan trọng to lớn đối với khu vực, tác động đến việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia liên quan, đặc biệt là các nước

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

LỜI NÓI ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: QUAN HỆ AN NINH, CHÍNH TRỊ NHẬT - TRUNG TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 10

1.1 Bối cảnh quốc tế và nhu cầu tăng cường mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc sau Chiến tranh Lạnh 10

1.2 Giai đoạn tăng cường mối quan hệ Nhật- Trung 12

1.3 Giai đoạn “ lạnh giá ” trong quan hệ Nhật - Trung 21

1.4 Giai đoạn “tan băng” trong quan hệ Nhật- Trung 23

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2: NHỮNG THÁCH THỨC TRONG QUAN HỆ AN NINH CHÍNH TRỊ NHẬT - TRUNG 33

2.1 Vấn đề an ninh 33

2 2 Cạnh tranh vị thế chính trị 39

2.3 Tranh chấp chủ quyền biển và hải đảo 41

2.3.1.Tranh chấp quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) 41

2.3.2 Tranh cãi phân chia đường giới tuyến ở khu vực biển Hoa Đông 49

2.3.3 Tranh cãi vấn đề đảo Okinotori 50

2.4 Vấn đề Đài Loan 55

2.5 Vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên 59

2.6 Những vấn đề lịch sử 59

2.7 Cạnh tranh ảnh hưởng kinh tế 64

2.7.1.Phản ứng của Nhật Bản trước FTA giữa Trung Quốc và ASEAN 65

2.7.2 Chiến lược FTA của Nhật Bản 67

Trang 3

2.7.2.1 Thay đổi chiến lược thông thương 67

2.7.2.2 Hướng tới một FTA "Đại Châu Á" 67

Tiểu kết chương 2 70

CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG TIẾN TRIỂN TRONG QUAN HỆ NHẬT - TRUNG VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHO VIỆT NAM 72

3.1 Xu hướng tiến triển trong quan hệ an ninh, chính trị Nhật - Trung thời gian tới 72

3.2 Một số hàm ý cho Việt Nam 77

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 81

Tµi liÖu tham kh¶o 84

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ACFTA ASEAN – China

Free Trade Agreement

Hiệp định tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực thương

mại tự do ASEAN APEC ASEAN Pacific

Economic Cooperation

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực Đông Nam Á ASEAN The Association of

Southeast Asean Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEM Asian – Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á – Âu

CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân CLCS Commission on the Limits

of the Continental Shelf

Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hiệp Quốc DPJ Democratic Party of Japan Đảng Dân chủ Nhật Bản

của các bên ở Biển Đông EEZ Exclusive economic zone Vùng đặc quyền kinh tế

EU European Union Liên minh Châu Âu

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

Trang 5

JACEP Japan – ASEAN

Comprehensive Economic Partnership

Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản – ASEAN

LDP Liberal Democratic Pary Đảng Tự do Dân chủ Nhật Bản ODA Offical Development

Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức

TBCN Capitalist society Xã hội Tư bản Chủ nghĩa UNCLOS United Nations Convention

on the Law of the Sea

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển USD US Dollar Đô la Mỹ

WB World Bank Ngân hàng Thế giới

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia có quan hệ lịch sử lâu đời trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng trải qua nhiều bước thăng trầm Mối quan hệ giữa hai quốc gia láng giềng này có tầm quan trọng to lớn đối với khu vực, tác động đến việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia liên quan, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á, nơi mà cả Trung Quốc và Nhật Bản đang ra sức tăng cường ảnh hưởng Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Đông Á cùng với Trung Quốc và Nhật Bản Thực tế, lịch

sử phát triển của Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ hai quốc gia này, và hiện nay, Trung Quốc, Nhật Bản đều là những đối tác hàng đầu của Việt Nam Chính vì vậy, Việt Nam càng chịu ảnh hưởng trong sự tương quan mối quan hệ Nhật - Trung Cặp quan hệ này luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn định

“nóng - lạnh bất thường” Phân tích cặp quan hệ này, từ đó có những đánh giá, để tìm ra những hàm ý đóng góp cho chính sách đối ngoại của Việt Nam

Xuất phát từ ý nghĩa đó tôi quyết định chọn đề tài: Quan hệ an ninh, chính trị Nhật – Trung từ sau Chiến tranh Lạnh: thực trạng, vấn đề và xu hướng tiến triển làm luận văn Thạc sỹ cho chuyên ngành Châu Á học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quan hệ Nhật – Trung nói chung, quan hệ an ninh, chính trị giữa hai quốc gia này nói riêng không phải là chủ đề mới, nhưng đây là vấn đề lớn, phức tạp và hết sức quan trọng nên đã được không ít công trình, bài viết ở cả trong nước và ngoài nước đề cập

Ở trong nước, về chủ đề trên, đáng chú ý, có công trình: Quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II tới nay, tác giả

Nguyễn Thanh Bình, Nhà xuất bản KHXH năm 2004 Công trình này tập

Trang 7

trung phân tích tương đối toàn diện mối quan hệ Nhật Bản- Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực kinh tế, an ninh, chính trị từ năm 1945- 2002 (quá trình đàm phán, tiến trình bình thường hóa quan hệ Nhật - Trung và quan hệ kinh tế giữa hai nước từ khi bình thường hóa quan hệ từ năm 1972 đến cuối những năm 1990) Phần quan hệ an ninh, chính trị Nhật – Trung, chủ yếu đề cập trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, từ sau Chiến tranh Lạnh tới nay phân tích còn sơ

lược Ngoài ra, còn có công trình: Quan hệ Trung – ASEAN – Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam, do PGS TS Vũ Văn Hà chủ

biên, Nhà xuất bản KHXH xuất bản năm 2007 Đây là công trình phân tích trong quan hệ song phương và đa phương giữa ba thực thể Trung Quốc –ASEAN – Nhật Bản Ở đây, quan hệ chính trị Nhật – Trung được đề cập trong tương quan phân tích với các cặp quan hệ khác Phần quan hệ chính trị tuy đã được đề cập nhưng chủ yếu tập trung về khía cạnh an ninh

Ở nước ngoài, có thể kể đến công trình của Kazuko Mori: Quan hệ Nhật – Trung từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II tới nay, được Nhà xuất bản

Iwanami công bố năm 2006 Đây là tác phẩm chủ yếu đề cập tới bối cảnh và nhu cầu bình thường hóa quan hệ hai nước và quan hệ an ninh, chính trị trong

giai đoạn Chiến tranh Lạnh Quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc, vượt qua hiểu nhầm của quá khứ, hướng tới tương lai, của Okaabe, do Nhà xuất bản

Iwanami công bố năm 2006 Trong tác phẩm này, tác giả đã tập trung vào phân tích quan hệ an ninh, chính trị giữa hai quốc gia và đánh giá tác động của nó tới chính trị Nhật Bản

Tóm lại, tuy đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ an ninh, chính trị Nhật – Trung, song về cơ bản các công trình này vẫn tập trung vào thời kỳ Chiến tranh Lạnh; chưa tập trung phân tích sâu giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh Do đó, nhiệm vụ của Luận văn này là tập trung nghiên cứu

và đánh giá một cách có hệ thống quan hệ an ninh, chính trị Nhật – Trung từ

Trang 8

sau Chiến tranh Lạnh tới nay, đặc biệt khác với các công trình nghiên cứu khác, Luận văn đi sâu vào phân tích những thách thức gây trở ngại và dẫn đến những căng thẳng liên quan tới an ninh, chính trị trong cặp quan hệ này, qua

đó rút ra những hàm ý cho Việt Nam có thể tham khảo, vận dụng vào trong đường lối đối ngoại

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có những mục đích nghiên cứu chủ yếu sau: Trên cơ sở phân tích mối quan hệ an ninh, chính trị Nhật – Trung trong giai đoạn từ sau Chiến tranh Lạnh tới nay, đề xuất một số giải pháp giúp Việt Nam có thể ứng xử tốt hơn trong quan hệ với hai nước lớn ở khu vực này, nhằm tạo lập và duy trì được mối quan hệ láng giềng thân thiện, tạo môi trường đối ngoại thuận lợi phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi tìm hiểu và phân tích mối quan hệ an ninh, chính trị của hai nước Nhật Bản và Trung Quốc từ sau Chiến tranh Lạnh, phân tích thực trạng

và vấn đề, xu hướng tiến triển của mối quan hệ này Tìm ra những cơ hội cho Việt Nam có thể tận dụng trong tương tác của mối quan hệ này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phân tích mối quan hệ giữa hai nước Nhật Bản và Trung Quốc trong thời gian từ sau Chiến tranh Lạnh tới nay chủ yếu trong các lĩnh vực an ninh và chính trị Trong quá trình nghiên cứu có sự

so sánh, phân tích sự tác động qua lại giữa các mặt trong quan hệ giữa hai nước Đồng thời, luận văn cũng đi sâu phân tích những vấn đề gây trở ngại cho mối quan hệ này và triển vọng của nó, và những cơ hội mà Việt Nam có thể tận dụng

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quan hệ an ninh, chính trị giữa hai quốc gia bị chi phối bởi yếu tố lịch sử và kinh tế, nên phương pháp nghiên cứu lịch sử và kinh tế là những phương pháp chủ yếu sẽ được sử dụng Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng được sử dụng để đánh giá xem bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến mối quan hệ chính trị và an ninh này như thế nào Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp như:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp phân tích

6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn

- Làm rõ thực trạng và đặc trưng của mối quan hệ an ninh, chính trị Nhật – Trung từ sau Chiến tranh Lạnh tới nay

- Phân tích những thách thức, vấn đề gây trở ngại trong quan hệ Nhật – Trung

- Đánh giá những xu hướng vận động và triển vọng trong mối quan hệ này và từ đó đưa ra những kiến nghị cho Việt Nam có thể tham khảo trong chính sách đối ngoại

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Bảng các chữ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 Chương nội dung:

- Chương 1: Quan hệ an ninh, chính trị Nhật – Trung từ sau Chiến

tranh Lạnh tới nay

- Chương 2: Những thách thức trong quan hệ an ninh, chính trị

Nhật – Trung

Trang 10

- Chương 3: Xu hướng tiến triển trong quan hệ Nhật – Trung và

một số hàm ý cho Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1

QUAN HỆ AN NINH, CHÍNH TRỊ NHẬT - TRUNG

TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

1.1 Bối cảnh quốc tế và nhu cầu tăng cường mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc sau Chiến tranh Lạnh

Từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990, tình hình quốc tế đã

có những biến động lớn, tác động đến chính sách đối nội cũng như đối ngoại của hầu hết các quốc gia trên thế giới Sự sụp đổ của Bức tường Berlin đã đặt dấu chấm hết cho 40 năm băng giá của cuộc Chiến tranh Lạnh trong quan hệ Đông Tây do Mỹ và Liên Xô đứng đầu, rồi tiếp đến là sự tan rã của Liên bang

Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Chiến tranh Lạnh kết thúc đã tạo ra một diện mạo mới cho quan hệ quốc tế Sự chuyển dịch của thế giới đa cực mang tính chất cạnh tranh và hợp tác đã tạo ra một môi trường quốc tế mới ẩn chứa nhiều cơ hội và không ít thách thức Trước tình thế như vậy, các quốc gia có tiềm lực kinh tế, chính trị và quân sự đều tìm cách vươn lên nhằm trở thành một cực hoặc tạo thành thế giới đa cực, Trung Quốc và Nhật Bản là một trong số quốc gia đó

Vào thời điểm đó, Trung Quốc ngoài vai trò là một cường quốc đông dân nhất thế giới và là một trong 5 ủy viên thường trực của HĐBA Liên Hiệp Quốc ra thì vẫn còn thua kém xa Mỹ về mọi phương diện Vì vậy, để thực hiện được mục tiêu trên, một mặt, Trung Quốc đã thúc đẩy chính sách cải cách, mở cửa hơn nữa nhằm hiện đại hóa nền kinh tế và quốc phòng Mặt khác, thay đổi chính sách đối ngoại như bình thường hóa quan hệ với các nước, bao gồm cả những nước trước đây được xem như là kẻ thù và tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế và khu vực nhằm nâng cao vai trò và vị thế của mình trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực

Trang 12

Sau sự kiện Thiên An Môn (tháng 6-1989), Trung Quốc hầu như bị rơi vào tình trạng bị cô lập bởi chính sách bao vây kinh tế và ngưng trao đổi nhân

sự cấp cao do Mỹ phát động Do vậy, có thể nói rằng, vào thời điểm đó, một trong những đòi hỏi cấp bách đối với ban lãnh đạo Trung Quốc là phải phá vỡ tình trạng cô lập này, bởi vì, nếu như tình trạng cô lập kéo dài, nhất là bị phong tỏa về kinh tế, sẽ dẫn tới chính sách hiện đại hóa kinh tế và quốc phòng của Trung Quốc bị thất bại, mà điều đó đồng nghĩa với việc mục tiêu xây dựng trật

tự quốc tế mới, trong đó Trung Quốc sẽ là một trung tâm do Đặng Tiểu Bình đề xướng và theo đuổi sẽ thất bại Tuy nhiên, để phá vỡ được sự cô lập này, Trung Quốc thấy rằng, không thể yêu cầu một cách trực tiếp đối với Mỹ và các nước phương Tây, nên Trung Quốc đã coi Nhật Bản là đối tượng thích hợp nhất đóng vai trò đầu mối để khai thông quan hệ chính trị của Trung Quốc với thế giới còn lại và là nguồn tiếp tục cung cấp vốn và khoa học công nghệ hiện đại cho mình Do đó, Trung Quốc ngoài việc yêu cầu Nhật Bản góp phần làm giảm

sự căng thẳng của các nước phương Tây đối với sự kiện Thiên An Môn ra, còn yêu cầu Nhật Bản mời đại diện cấp cao của Trung Quốc sang thăm và tiếp tục viện trợ kinh tế [4, tr.129]

Còn đối với Nhật Bản, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, với những thành công lớn trong phát triển kinh tế, Nhật Bản trở thành chủ nợ lớn nhất thế giới khẳng định là một siêu cường kinh tế, đứng thứ hai sau Mỹ Nhật Bản mong muốn tiến tới chính sách đối ngoại chủ động hơn, tương xứng với tiềm lực kinh tế tài chính hùng mạnh của mình Nhật Bản tích cực tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc; tham gia giải quyết các vấn

đề tranh chấp khu vực; cắt giảm vũ khí chiến lược và chống khủng bố; phối hợp quốc tế nhằm giúp các quốc gia giải quyết các vấn đề lương thực, năng lượng, bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn nhân lực Chẳng hạn, tháng 1-1991, khi Mỹ tấn công Irắc, dù Nhật Bản không trực tiếp tham chiến nhưng đã đóng

Trang 13

góp nhiều chi phí, và đến tháng 4 năm sau đó, Nhật Bản đã cử đội phá mìn đến vùng Vịnh, hoặc Nhật Bản đã tích cực đóng góp vai trò giải quyết vấn đề Cămpuchia; đặc biệt tháng 6-1992, chính phủ Nhật Bản đã thông qua đạo luật cho phép đưa quân đội ra nước ngoài tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc Đối với những hành động này của Nhật Bản, phía Trung Quốc không có sự phản đối chính thức nào mà chỉ tuyên bố, đây là vấn đề tế nhị hoặc cần phải xử lí một cách thận trọng Qua phản ứng của Trung Quốc, người ta có thể hiểu rằng, Trung Quốc đã có vẻ bắt đầu chấp nhận ý muốn của Nhật Bản tham gia vào các vấn đề chính trị thế giới, chỉ cần Nhật Bản không trở thành cường quốc quân sự, tức là chỉ dừng lại ở cường quốc chính trị [4, tr.129] Hơn nữa, sự lên giá của đồng Yên vào đầu những năm 1990 đã ảnh hưởng đến nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, buộc các xí nghiệp Nhật Bản phải

di chuyển việc sản xuất ra nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc, một thị trường đầy tiềm năng và hấp dẫn cũng là một lí do quan trọng khiến Nhật Bản cần cải thiện và tăng cường quan hệ với Trung Quốc

1.2 Giai đoạn tăng cường mối quan hệ Nhật- Trung

Với tư cách là một đồng minh chiến lược của Mỹ, Nhật Bản phải tuân thủ các cam kết trừng phạt Trung Quốc của Mỹ và phương Tây sau sự kiện Thiên An Môn, nhưng Tôkyô trên thực tế chỉ áp dụng một cách chọn lọc các biện pháp trừng phạt chống Trung Quốc sao cho ít gây tổn hại nhất cho mối quan hệ tay đôi của Nhật Bản với Trung Quốc và đồng thời cũng không gây

ra sự chỉ trích mạnh mẽ từ các đồng minh của mình Tuy Tôkyô tuyên bố ủng

hộ các cam kết trừng phạt, tuyên bố tạm ngưng những khoản viện trợ đã cam kết và ngừng việc trao đổi nhân sự cấp cao đối với Trung Quốc Nhưng trong thực tế, Nhật Bản đã không hoàn toàn tuân theo các trừng phạt trong vấn đề mậu dịch hoặc đầu tư với Trung Quốc Có chăng chỉ là một vài hành động lấy

lệ, như rút một số chuyên gia, các nhà đầu tư về nước Tuy nhiên, chỉ sau đó

Trang 14

một thời gian ngắn, với tư cách cá nhân, họ đã quay trở lại vị trí cũ của họ

ở Trung Quốc [2, tr.128] Với quan điểm sự ổn định của Trung Quốc là có lợi cho hòa bình và phát triển khu vực, nhất là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nên chính phủ Nhật Bản đã có những bước đi nhằm cải thiện quan

hệ với Trung Quốc Chẳng hạn, tháng 9 -1989, có nghĩa là chỉ 3 tháng sau

sự kiện Thiên An Môn, chủ tịch Liên minh nghị sĩ Nhật - Trung đã sang thăm Trung Quốc và tiến hành hội đàm với Đặng Tiểu Bình, và ngay trong tháng 11 -1989, đoàn đại biểu Liên đoàn Kinh tế Nhật Bản đã sang thăm Trung Quốc

Thực ra, đến cuối năm 1989, ngay cả Mỹ cũng có sự thay đổi chính sách đối với Trung Quốc Tháng 11-1989, cựu Tổng thống Mỹ Nixon đã sang thăm Trung Quốc Tháng 12 cùng năm, cử đặc phái viên của tổng thống tới Trung Quốc để thỏa thuận cải thiện quan hệ và tuyên bố nối lại các khoản vay vốn của Ngân hàng xuất nhập khẩu Tiếp đó, trước khi Hội nghị cấp cao G7 tổ chức ở Huston, phía Mỹ đã quyết định kéo dài chế độ tối huệ quốc cho Trung Quốc Trước sự thay đổi chính sách của Mỹ như vậy, Nhật Bản càng có động

cơ để tăng cường cải thiện quan hệ với Trung Quốc Tháng 9-1990, cựu Thủ tướng Noburo Takeshita đã sang thăm Trung Quốc Tiếp theo, tháng 11-1990, Nhật Bản xóa bỏ một phần lệnh ngưng viện trợ đối với khoản vay đợt III và bước sang năm 1991, quan hệ hai nước đã khôi phục hoàn toàn sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Nakayama vào tháng 4-1991 Chuyến thăm vào tháng 8-1991 của Thủ tướng Nhật Bản Kaifu mang ý nghĩa quan trọng Đây là chuyến thăm của một vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên của nhóm G7 tới thăm Bắc Kinh kể từ khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn

Tháng 4-1992, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Giang Trạch Dân đã sang thăm chính thức Nhật Bản và mời Nhật Hoàng sang thăm Trung Quốc vào tháng 10 năm đó nhân dịp kỷ niệm 20 năm hai nước bình thường

Trang 15

hóa quan hệ ngoại giao Việc Nhật Hoàng sang thăm Trung Quốc là vấn đề không đơn giản bởi có liên quan đến cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II trước đây (cho dù Nhật Hoàng hiện nay không có trách nhiệm gì) và sự phản đối mạnh của rất nhiều đảng phái, các tổ chức cực hữu ở khắp nước Nhật Nhưng

do phía Trung Quốc ra sức yêu cầu mạnh, nên tháng 10/1992, Nhật Hoàng đã sang thăm Trung Quốc Tại buổi chiêu đãi, Nhật Hoàng đã phát biểu: “đất nước chúng tôi đã có một thời kỳ mang lại sự bất hạnh và đau khổ cho nhân dân Trung Quốc, tôi rất lấy làm tiếc về giai đoạn đó, nhân dân nước tôi đã thức tỉnh sâu sắc rằng, không thể lặp lại một lần nữa cuộc chiến tranh như thế,

và quyết tâm đi theo con đường của một quốc gia hòa bình” [4, tr.134] Có thể khẳng định, đây là chuyến thăm mang tính lịch sử đối với quan hệ Nhật - Trung từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, bởi đây là lần đầu tiên Nhật Hoàng sang thăm một nước không thuộc chế độ quân chủ và cho dù theo quy định của hiến pháp, Nhật Hoàng không phải là đại diện cho nước Nhật đã công khai thừa nhận cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, là một thành công lớn trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc [4, tr.134] Không chỉ dừng lại ở đó, tháng 4-1993, Thủ tướng Nhật Bản Hosokawa

đã sang thăm Trung Quốc Trong chuyến thăm 3 ngày này, ngoài việc hai nước kí kết Hiệp định bảo vệ môi trường, thì điểm đáng chú ý là, trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Lý Bằng, Thủ tướng Hosokawa đã tuyên bố một cách thẳng thắn rằng, cuộc chiến tranh với các nước Châu Á, mà trước hết là cuộc chiến tranh Nhật - Trung trước đây là cuộc chiến tranh xâm lược và đưa ra lời xin lỗi Hơn nữa, ông Hosokawa còn bày tỏ quan điểm của Nhật Bản về vấn

đề nhân quyền ở Trung Quốc “Vấn đề quyền con người có tính chất tương đối

và không cần áp dụng tiêu chuẩn đơn lẻ về vấn đề nhân quyền từ một nước này sang nước khác” [4, tr 223] Hành động này được người ta cho là có tính

“xoa dịu” các nhà lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc Tuy không nhận được

Trang 16

sự hài lòng từ phía Mỹ, nhưng ở khía cạnh khác cho thấy rõ là Nhật Bản đang

cố gắng tạo dựng lý thuyết về các giá trị Châu Á cho riêng mình [4, tr.224] Phía Trung Quốc cũng cho thấy ý định tăng cường quan hệ với Nhật Bản và tháng 2-1994, Thủ tướng Chu Dung Cơ đã sang thăm Nhật Bản 10 ngày Có lẽ đây là chuyến thăm kéo dài hiếm thấy của một nguyên thủ quốc gia lớn như Trung Quốc đối với một nước lân cận và trong chuyến thăm này, Thủ tướng Chu Dung Cơ đã đi thăm nhiều địa phương, gặp gỡ giới chủ kinh tế chủ chốt ở Nhật Bản, kêu gọi tăng cường hợp tác kinh tế hơn nữa với Trung Quốc

Trong lúc quan hệ hai nước đang tiến triển tốt đẹp thì tháng 5-1994, Bộ trưởng Tư pháp Nagano của nội các Hata đã “dội một gáo nước lạnh” bằng tuyên bố vụ thảm sát Nam Kinh là do Trung Quốc tạo dựng, Trung Quốc đã phản ứng hết sức quyết liệt với tuyên bố trên Tiếp đến, khi Ban tổ chức Thế vận hội Châu Á lần thứ 12 gửi giấy mời Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy

dự buổi lễ khai mạc tại Hiroshima vào tháng 9 năm 1994 Trung Quốc coi đó

là sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc một Trung Quốc của Nhật Bản Trung Quốc gây sức ép buộc Nhật Bản phải hủy bỏ lời mời đó Đáp lại, Nhật Bản không muốn quan hệ Nhật - Trung có thể bị tổn hại nhưng cũng thể hiện lập trường cứng rắn của mình với Trung Quốc bằng việc mời phó Viện Trưởng viện Hành chính (tương đương chức phó Tổng thống) Đài Loan sang tham dự buổi khai mạc, nên quan hệ Nhật - Trung đã rơi vào tình trạng “lạnh nhạt” [2, tr.229] Tháng 5-1995, Thủ tướng Nhật Bản Murayama đã sang thăm Trung Quốc, trong những cuộc hội đàm với Thủ tướng Lý Bằng và Chủ tịch Giang Trạch Dân, Thủ tướng Murayama đã yêu cầu Trung Quốc ngưng thử các vụ

nổ hạt nhân Tuy nhiên, ngày 15-5, tức là chỉ ít ngày sau chuyến thăm của Thủ tướng Murayama, Trung Quốc đã tiến hành nổ thực nghiệm hạt nhân dưới lòng đất Đây quả là cú sốc đối với Nhật Bản nên phía Nhật đã quyết

Trang 17

định cắt giảm kim ngạch viện trợ không hoàn lại cho Trung Quốc Song vào thời điểm này, Trung Quốc vẫn đang cố thực hiện chính sách hiện đại hóa quân đội và tăng cường các hoạt động quân sự nhằm giải quyết vấn đề Đài Loan và lấn chiếm các hòn đảo đang thuộc quyền kiểm soát của các quốc gia khác mà Trung Quốc cũng tuyên bố là của họ, cũng như thách thức nước Mỹ, nên tháng 8 năm đó, Trung Quốc lại tiếp tục thử hạt nhân Phản ứng của Nhật Bản lúc này mạnh hơn, Quốc hội Nhật Bản thông qua nghị quyết phản đối Trung Quốc và cuối tháng 8-1995, trước yêu cầu của các đảng phái và các nghị sĩ, chính phủ Nhật Bản đã tuyên bố ngưng phần lớn khoản viện trợ không hoàn lại đối với Trung Quốc trong năm tài chính 1996, trừ khoản tiền

500 triệu Yên cung cấp Vắcxin phòng bại liệt, nhưng đối với khoản viện trợ

có hoàn lại thì ngoại trưởng Nhật Bản Uno tuyên bố vẫn tiếp tục cho vay Điều này cho thấy sự nhượng bộ của Nhật Bản đối với Trung Quốc hoặc theo như cách giải thích của Chánh văn phòng nội các Nhật Bản là “Vì mối quan

hệ hữu nghị Nhật - Trung và hòa bình ở Châu Á” [15, tr.228] Mặc dù, Nhật Bản chỉ tuyên bố ngưng khoản viện trợ không hoàn lại song phản ứng của Trung Quốc lại phản ứng hết sức gay gắt Tháng 9-1995, Thủ tướng Lý Bằng

đã nói với chủ tịch Liên đoàn kinh tế Nhật Bản đang ở thăm Trung Quốc rằng

“những thiệt hại do cuộc chiến tranh xâm lược trước đây của Nhật Bản gây ra cho nhân dân Trung Quốc là vô cùng lớn nếu so với khoản tiền mà Nhật Bản cho Trung Quốc vay” Còn Chủ tịch Giang Trạch Dân tại cuộc gặp cấp cao Nhật - Trung được tổ chức ở New York thì nói, “khi hai nước Trung - Nhật bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Trung Quốc có thái độ hết sức khoan dung trong vấn đề bồi thường chiến tranh đối với Nhật Bản” Có thể nói, điểm mới trong việc dùng lá bài bồi thường chiến tranh là Trung Quốc muốn gây

áp lực đối với Nhật Bản, do đó, nếu những lần trước các nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ nói bóng gió, thì lần này họ đã thẳng thừng dùng từ “cuộc chiến

Trang 18

tranh xâm lược” khi nói về những hành động của quân đội Nhật ở Trung Quốc trong Chiến tranh Thế giới thứ II

Bước sang năm 1996, quan hệ hai nước tiếp tục căng thẳng do hoạt động quân sự của Trung Quốc, tình hình Eo biển Đài Loan và quan hệ Nhật - Mỹ, quan hệ Mỹ - Trung, vấn đề lãnh thổ, chuyến thăm đền Yasukuni của Thủ tướng Hahsimoto, vấn đề vũ khí hóa học của quân đội Nhật để lại ở Trung Quốc, song vấn đề nổi cộm nhất vẫn là “Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ” Vậy tại sao Mỹ và Nhật Bản phải kí lại Hiệp ước an ninh? Như trình bày ở trên, sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng, đặc biệt là lực lượng hải quân và đẩy mạnh hoạt động quân sự trên vùng biển Đông và Nam Trung Hoa, tiến hành diễn tập quân sự quy mô lớn ở Eo biển Đài Loan đến mức Mỹ phải cử hai chiếc tàu của hạm đội 7 tới thì Trung Quốc mới chịu dừng lại Vì vậy, cho tới thời điểm đó, dù Nhật Bản thi hành chính sách đối ngoại coi trọng Trung Quốc cũng như ở Nhật Bản đã xuất hiện không ít những ý kiến đòi thực hiện chính sách độc lập hơn với Mỹ Còn đối với Mỹ cho dù vai trò là pháo đài chống cộng ở Châu Á của Nhật Bản đã hết, cũng như việc Mỹ thay đổi chính sách đối với Trung Quốc từ thực hiện chính sách bao vây sang chính sách lôi kéo Trung Quốc tham dự chẳng hạn như: làm sao để Trung Quốc kí các Hiệp ước quốc tế, tham gia vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), tham gia vào Diễn đàn kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC),v.v để trói buộc hoặc thậm chí còn coi Trung Quốc là một lá bài để kiềm chế sự trỗi dậy của Nhật Bản đi chăng nữa thì, trước ý đồ và ảnh hưởng của Trung Quốc có thể đem lại cho khu vực, nhất là khu vực Đông Á,

đã buộc Mỹ phải thay đổi chính sách cho phù hợp với tình hình mới Do đó, tháng 4-1996 Tổng thống Mỹ B.Clinton đã sang thăm Nhật Bản và kí kết

“Tuyên bố chung bảo đảm an ninh Nhật - Mỹ hướng tới thế kỷ XXI” và thường được gọi dưới cái tên “Định nghĩa lại an ninh Nhật – Mỹ” Nội dung

Trang 19

của Hiệp ước mới này được giải thích như sau: Điểm then chốt của hợp tác an ninh Nhật - Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh là hai nước sẽ xử trí như thế nào khi nước Nhật bị tấn công, còn đối với Hiệp ước mới thì điểm then chốt

là trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, hai nước sẽ tiến hành hợp tác như thế nào trong trường hợp quân Mỹ xuất phát từ các căn cứ quân sự trên đất Nhật khi xảy ra xung đột ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Như vậy sự hợp tác an ninh Nhật-Mỹ đã có sự thay đổi căn bản là từ chỗ đối phó với cuộc tấn công vào Nhật Bản và cũng có nghĩa là, “Hiệp ước An ninh Nhật- Mỹ” đã chuyển từ hợp tác phòng thủ sang hợp tác tiến công Trong Bản tuyên bố chung hai bên đề cập đến nhiều vấn đề về hợp tác quân sự, nhưng đáng chú ý nhất là điều 3 của bản tuyên bố Điều 3 này quy định sự hợp tác giữa hai nước khi xảy ra những tình huống ở khu vực xung quanh Nhật Bản, mà có thể gây

ra ảnh hưởng nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh của Nhật Bản Đây chính là điểm làm cho Trung Quốc không yên tâm và coi đó như là một chính sách bao vây, thù địch đối với Trung Quốc Do đó, ngay ngày hôm sau, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố: “Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ”

là thủ tục phòng vệ của hai nước nên không được vượt quá giới hạn của hai nước, nếu vượt qua sẽ làm tăng thêm yếu tố phức tạp của khu vực Nếu Nhật Bản tăng cường quân đội và mở rộng phạm vi phòng vệ sẽ gây ra sự quan tâm và cảnh giác của các nước Châu Á, hy vọng chính phủ Nhật Bản có thái độ thận trọng trong vấn đề này” [59, tr.483] Sau đó, phía Trung Quốc còn nhiều lần yêu cầu Nhật Bản và cả Mỹ giải thích rõ “phạm vi xung quanh Nhật Bản” được nêu trong Hiệp ước và mặc dù phía Nhật Bản khẳng định “phạm vi nêu trong Hiệp ước mới không gồm eo biển Đài Loan”, nhưng phía Trung Quốc vẫn tỏ ra không hài lòng đối với giải thích này của Nhật Bản

Có thể nói rằng, năm 1996 là một trong những năm quan hệ Nhật-Trung

ở trong tình trạng tồi tệ kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại

Trang 20

giao, ngoài nguyên nhân do Trung Quốc liên tiếp tiến hành thử hạt nhân nên Nhật Bản cắt viện trợ không hoàn lại và vấn đề “định nghĩa lại Hiệp ước An ninh Nhật – Mỹ” ra, còn có nguyên nhân do Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto viếng đền thờ Yasukuni, đặc biệt là việc tranh chấp lãnh thổ xoay quanh đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là đảo Điếu Ngư) vào tháng 7-1996, khi một số đoàn thể chính trị Nhật Bản tiến hành xây dựng đèn biển trên đảo Khi xảy ra

sự việc, phía Trung Quốc cho tàu đến thăm dò khai thác, thậm chí còn đưa cả người đến quần đảo trên Tuy nhiên, cả hai bên đều không muốn gây ra tình hình căng thẳng quá mức, nên sau đó lãnh đạo hai nước đã thống nhất quan điểm là nhường lại cho các thế hệ sau giải quyết Nhưng các thế hệ sau của hai nước sẽ giải quyết như thế nào cũng không phải là điều đơn giản một khi Trung Quốc đã trở thành một cường quốc kinh tế, quân sự có khả năng chi phối áp đảo ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương ở thế kỷ XXI, trong khi họ vẫn ôm ấp tham vọng thu hồi Đài Loan và các hòn đảo đang tranh chấp với các quốc gia khác mà cho đến nay họ vẫn nhận là của Trung Quốc

Tháng 2-1997, tại cuộc họp Á- Âu tổ chức tại Singapo, Ngoại trưởng hai nước Nhật - Trung đã tiến hành hội đàm và phía Nhật Bản đã thông báo cho phía Trung Quốc việc chính phủ Nhật Bản đang thúc đẩy công tác chuẩn bị nối lại viện trợ không hoàn lại cho Trung Quốc Tháng 3-1997, Ngoại trưởng Ikeda trong chuyến thăm Trung Quốc đã thông báo việc Nhật Bản chính thức nối lại khoản viện trợ không hoàn lại Tháng 9-1997, Thủ tướng Hasimoto thăm Trung Quốc và đưa ra sáng kiến “Hợp tác môi trường Nhật- Trung hướng tới thế kỷ XXI” Nhưng có thể nói rằng, từ năm 1998, quan hệ giữa hai nước thực sự phát triển, ngoài các cuộc gặp cấp cao tại các Hội nghị và Diễn đàn quốc tế, giữa hai nước đã diễn ra hàng loạt các cuộc viếng thăm cấp cao như tháng 2-1998, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Trì Hạo Điền tới Tôkyô, tháng 4-1998, Phó Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào thăm Nhật Bản, tháng

Trang 21

5-1998, Cục trưởng Cục phòng vệ Nhật Bản thăm Trung Quốc Đặc biệt tháng 11- 1998, lần đầu tiên Chủ tịch Giang Trạch Dân sang thăm Nhật Bản, hai bên đã ra Tuyên bố chung “Đối tác hợp tác hữu nghị vì hòa bình và phát triển”, trong đó Chủ tịch Giang Trạch Dân đã đưa ra 33 mục hợp tác giữa hai nước như; bảo tồn di tích văn hóa, vấn đề nhân quyền, trao đổi an ninh, Tháng 7-1999, Thủ tướng Obuchi sang thăm Trung Quốc, trong các cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, ngoài việc hai bên đã đạt được thỏa thuận về việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng như nhất trí trong việc thúc đẩy hợp tác cụ thể hơn nữa đối với 33 mục do Chủ tịch Giang Trạch Dân đưa ra, Thủ tướng Obuchi còn đưa ra sáng kiến thành lập “Quỹ Obuchi” với số tiền là 10 tỷ Yên để giúp phong trào trồng rừng xanh hóa, do các đoàn thể tư nhân Nhật Bản thực hiện đối với Trung Quốc Chính vì vậy mà chuyến thăm này được xem như là chuyến thăm bắc cầu cho thế kỷ XXI Quan hệ Nhật – Trung giai đoạn này được ví như “bước vào thời kỳ trăng mật”

Đặc biệt, trong chuyến thăm của Thủ tướng Chu Dung Cơ tháng

10-2000, hai bên đã nhất trí tăng cường và mở rộng đối thoại về bảo đảm an ninh, trao đổi các đoàn quân sự, Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, quan hệ Nhật - Trung phát triển khá thuận lợi, nó được đánh dấu bằng việc tổ chức long trọng “năm Trung Quốc”, “năm Nhật Bản” ở hai nước trong năm

2002 với sự tham dự của các nhà lãnh đạo cao cấp hai nước Ngoài ra, còn có nhiều cuộc hội đàm cấp cao được tổ chức ở Nhật Bản và Trung Quốc cũng như các hội nghị ở Liên Hiệp Quốc và khu vực nhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai nước

Tuy nhiên, liệu hai nước có thể xây dựng được mối quan hệ tin cậy hay không trong khi giữa hai nước vẫn còn những bất đồng mà không dễ gì giải quyết được Chẳng hạn, tháng 4-2001, Nhật Bản đã cấp visa cho cựu Tổng

Trang 22

thống Đài Loan Lý Đăng Huy vào Nhật Bản chữa bệnh Phía Trung Quốc phản đối mạnh mẽ Nhưng, Thủ tướng Mori vẫn quyết định cấp Visa vì lí do nhân đạo, thậm chí các nghị sĩ của Đảng Tự do Dân chủ còn cho rằng, nếu không để cho Lý Đăng Huy, một người lính của Nhật Bản hồi trẻ vào Nhật Bản thì Nhật Bản là nước lệ thuộc của Bắc Kinh

1.3 Giai đoạn “ lạnh giá ” trong quan hệ Nhật - Trung

“Kinh tế nóng, chính trị lạnh”! Đó là từ dùng để miêu tả mối quan hệ của Nhật Bản và Trung Quốc dưới thời của Thủ tướng Koizumi cầm quyền (2001-2006) Koizumi là một trong những vị Thủ tướng thành công nhất của Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II Với tài chèo lái của mình, Thủ tướng Koizumi không những đã đưa nước Nhật ra khỏi cơn suy thoái kinh tế kéo dài, mà còn đem đến cho nền kinh tế thứ hai thế giới này một luồng sinh khí mới Ông là Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao chưa đi thăm Trung Quốc lần nào Cũng chính trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Koizumi, mối quan hệ Nhật – Trung tuy “nóng

về kinh tế”, nhưng trở nên “ lạnh giá” trong quan hệ chính trị và rơi vào tình trạng xấu nhất kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao từ năm

1972 Từ khi lên nhậm chức vào tháng 4-2001, Thủ tướng Koizumi đã có 5 lần đến viếng thăm đền Yasukuni Mặc dù ông Koizumi nhiều lần nói rằng các chuyến thăm của ông không nhằm mục đích ca ngợi quá khứ chiến tranh của Nhật Bản và bác bỏ mọi sự chỉ trích từ phía Trung Quốc và Hàn Quốc Trong Hội nghị cấp cao với các nhà lãnh đạo ASEAN tại Kula Lumpur (Malaixia), ông Koizumi từ chối việc ngừng các chuyến thăm đến đền này và nói rằng Bắc Kinh dần dần sẽ “hiểu” các chuyến thăm đền Yasukuni của ông [13, tr.129] Phía Trung Quốc phản ứng quyết liệt và từ chối những cuộc gặp cấp cao với phía Nhật Bản

Tháng 11-2004, tàu ngầm Trung Quốc xâm nhập lãnh hải Nhật Bản, bị

Trang 23

phía Nhật Bản phát hiện và yêu cầu Trung Quốc xin lỗi Sau đó, vào tháng 12-2004, trong Sách Trắng Quốc phòng, Nhật Bản nêu rõ Trung Quốc là một

“mối quan ngại” của Nhật Bản, khi nêu rõ việc Trung Quốc gia tăng chi phí quốc phòng lên 250 tỷ Nhân dân tệ (tương đương 30 tỷ USD)

Ngày 5-4-2005, Nhật Bản cho phép các trường học chính thức sử dụng một trong 8 cuốn sách giáo khoa lịch sử gây tranh cãi ngoại giao năm 2001 Phía Trung Quốc đã cho triệu Đại sứ Nhật Bản tại Bắc Kinh đến để phản đối Đại sứ của Trung Quốc tại Nhật Bản trong cuộc gặp Thứ trưởng ngoại giao Nhật Bản Shotaro Yachi cho biết: “Cuốn sách giáo khoa của Nhà xuất bản Fushosha đã xuyên tạc lịch sử và làm tổn thương nhiều người dân Châu Á, trong đó có người dân Trung Quốc”[60] Bất chấp mọi sự phản đối từ cả Trung Quốc và Hàn Quốc, Nhật Bản vẫn cho xuất bản bộ sách giáo khoa trên

và lưu hành trong các trường phổ thông kể từ tháng 4-2006

Ngày 10-4-2005, Ngoại trưởng Nhật Bản Nobutaka Machimura đã triệu Đại sứ Trung Quốc Wang Yi đến để trao kháng nghị chính thức và yêu cầu Trung Quốc xin lỗi về vụ biểu tình bạo lực chống Nhật Bản của khoảng 10.000 người ở Bắc Kinh và những hành động ném chai lọ vào Đại sứ quán Nhật Bản vào ngày 9-4-2005 Đại sứ Wang Yi nói “Chính phủ Trung Quốc không đồng tình với những hoạt động quá khích của đoàn biểu tình” [60] Tuy nhiên, theo lời Ngoại trưởng Machimura thì Đại sứ Trung Quốc đã không có lời xin lỗi nào về vụ biểu tình phản đối nói trên Cùng ngày 10-4, tại tỉnh Quảng Đông, khoảng 10.000 người đã bao vây một siêu thị của Nhật tại Thẩm Quyến Cũng thời gian đó, khoảng 3000 người đã biểu tình trước Lãnh sự quán Nhật Bản tại Quảng Châu, hô khẩu hiệu và trương biểu ngữ chống Nhật, yêu cầu Nhật Bản thừa nhận những tội ác đã gây ra trong chiến tranh và đốt quốc

kỳ của Nhật Hãng Kyodo đưa tin một nhóm người Trung Quốc đã đánh bị thương 2 lưu học sinh Nhật Bản tại một cửa hàng ở Thượng Hải [60]

Ngày 19-4-2005, Tòa án dân sự tối cao Nhật Bản bác bỏ yêu cầu bồi

Trang 24

thường của 10 nạn nhân Trung Quốc còn sống sót sau các cuộc thử nghiệm chiến tranh vi trùng của Nhật tại Trung Quốc những năm 1930 và 1940 Những cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo hai nước chỉ diễn ra rất ngắn ngủi bên

lề các hội nghị khu vực hay quốc tế Nhiều sự kiện xảy ra đã gây thêm sự

“lạnh giá” trong quan hệ hai nước

Trong Tuyên bố chung của cuộc họp 2+2 giữa Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng hai nước Mỹ và Nhật Bản vào tháng 2-2007, đã xác định Đài Loan là “mục tiêu chiến lược chung” trong “Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ” Đây được xem là một sự thay đổi quan trọng nhất của liên minh an ninh hai nước kể từ năm 1996, bởi trước đó, “Hiệp định an ninh Nhật- Mỹ” chỉ đưa

ra khái niệm chung là “vùng xung quanh Nhật Bản” Điều này không làm hài lòng phía Trung Quốc Những sự kiện này liên tiếp diễn ra khiến quan hệ Nhật – Trung đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1972

1.4 Giai đoạn “tan băng” trong quan hệ Nhật- Trung

Tuy nhiên, quan hệ Nhật - Trung bắt đầu được cải thiện sau khi ông Shinzo Abe nhậm chức Thủ tướng Nhật Bản và có những động thái hàn gắn những mối quan hệ rạn nứt dưới nhiệm kỳ của Thủ tướng Koizumi bằng việc chọn Trung Quốc là điểm đến đầu tiên trong chuyến công du nước ngoài của mình vào ngày 8-10-2006 Chuyến thăm này đánh dấu sự thay đổi lớn trong suy nghĩ của giới lãnh đạo Nhật Bản, bởi theo truyền thống, Thủ tướng Nhật luôn có chuyến thăm tới Mỹ đầu tiên Ông Abe là Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên tới thăm Bắc Kinh kể từ năm 2001 Trong hội đàm với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và người đồng nhiệm Ôn Gia Bảo, thủ tướng Abe một mặt bày tỏ sự coi trọng tầm quan trọng của quan hệ Nhật - Trung, mặt khác, với tư cách là tân Thủ tướng, ông đã bày tỏ sự hối hận về lịch sử đau khổ của chủ nghĩa quân

Trang 25

phiệt trong Thế chiến thứ II gây ra cho nhân dân Trung Quốc Điều này đã làm hài lòng các nhà lãnh đạo Trung Quốc

Trong dịp này, hai bên đã ra bản Tuyên bố chung nhất trí cùng nhau xây dựng mối quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản ngày càng bền chặt Tuyên bố cũng kêu gọi chấm dứt sự tranh cãi giữa hai nước về các vấn đề đường biên giới trên biển và các mỏ khí đốt ở biển Hoa Đông (biển Nhật Bản), biến nơi đây thành một vùng biển hòa bình hợp tác và hữu nghị [63].Tuần báo

Washington Observer so sánh chuyến đi Bắc Kinh của ông Abe như chuyến

đi "làm tan băng" của Tổng thống Nixon tới Bắc Kinh năm 1972 để bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung Quốc sau nhiều thập kỷ đối đầu thời Chiến tranh Lạnh [64] Thông qua chuyến thăm này, ông Abe cho phía Trung Quốc thấy sự thiện chí và cố gắng của ông trong việc cải thiện quan hệ Trung - Nhật; đồng thời ngầm cho Trung Quốc thấy rằng Nhật Bản đang muốn đảm nhận vai trò trách nhiệm lớn hơn với Châu Á và thế giới, từ đó Nhật Bản dần dần tác động để Trung Quốc ủng hộ, hoặc chí ít không ngăn cản hoặc phản đối Nhật Bản dần trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Chuyến thăm "phá băng" của ông Abe đã phá vỡ cục diện chính trị bế tắc trong quan hệ Nhật - Trung, hai bên đã đạt được nhận thức chung về việc xây dựng "mối quan hệ chiến lược hai bên cùng có lợi"

Ông Abe cũng cam kết không công khai đi thăm đền Yasukuni như người tiền nhiệm Koizumi, mà nói căn cứ vào tín ngưỡng cá nhân để quyết định có đi thăm đền hay không, trên thực tế, ông luôn giữ lập trường mập mờ

về vấn đề này Ngày 8-5-2007, các phương tiện thông tin đại chúng Nhật Bản đưa tin Thủ tướng Abe gửi một cây cảnh có tên “Sasaki” tới đền Yasukuni làm vật thờ cúng Thủ tướng Abe đã bỏ tiền túi để mua cây trên Phản ứng trước hành động đó, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Khương Du nhấn mạnh: “Vấn đề đền Yasukuni là một vấn đề chính trị quan trọng và nhạy

Trang 26

cảm trong mối quan hệ Trung – Nhật Hai bên đã đạt được sự nhất trí về việc loại bỏ những trở ngại chính trị song phương và thúc đẩy hợp tác hữu nghị Trung Quốc hy vọng Nhật Bản sẽ tuân thủ nghiêm chỉnh thỏa thuận trên” [23, tr.7] Tuy nhiên, bà Khương Du đã tránh chỉ trích trực tiếp việc ông Abe gửi

đồ lễ tới đền Yasukuni, một dấu hiệu cho thấy hành động của ông Abe sẽ không hủy hoại mối quan hệ giữa hai cường quốc Châu Á này Tất cả những phát biểu cộng với các động thái cho thấy, Thủ tướng Abe đã cố gắng xóa bỏ những “điểm đen” về ngoại giao mà Thủ tướng Koizumi để lại nhằm phá tan

sự “lạnh giá” trong quan hệ Nhật – Trung

Tháng 4-2007, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cũng có chuyến thăm đáp lễ đầy ý nghĩa tới Nhật Đây là chuyến công du chính thức đầu tiên của một lãnh đạo cao cấp Trung Quốc tới Nhật Bản kể từ sau chuyến thăm của cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ vào năm 2000 Trong bữa tiệc chiêu đãi Thủ tướng Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Abe khẳng định: "Chúng ta cần xây dựng mối quan hệ Trung - Nhật ổn định hướng tới tương lai Chúng ta cần phát triển những lợi ích chung thông qua đối thoại trên nhiều lĩnh vực" [24, tr.22] Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định Trung Quốc không chấp nhận một Đài Loan độc lập và đề nghị Nhật Bản tuân thủ nguyên tắc "một nước Trung Quốc", đồng thời cũng trấn an Tôkyô bằng cách giải thích về việc Bắc Kinh tăng cường ngân sách quốc phòng và cam kết Trung Quốc theo đuổi con đường hòa bình

Trong bản Tuyên bố báo chí chung được đưa ra sau cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Thủ tướng Sinzo Abe, hai bên đã thống nhất hỗ trợ

sự phát triển hòa bình của mỗi nước, đồng thời cũng cố niềm tin chính trị của hai bên Những chuyến công du cấp cao giữa hai nước sẽ được tăng cường Hai nước sẽ thúc đẩy hợp tác về lĩnh vực năng lượng, bảo vệ môi trường, tài chính, viễn thông và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời cũng sẽ tăng

Trang 27

cường những cuộc đối thoại trong lĩnh vực quốc phòng với những nỗ lực chung nhằm duy trì sự ổn định khu vực

Trên lĩnh vực an ninh, tháng 8-2007, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Tào Cương Xuyên đã lên đường thăm xứ sở Phù Tang, đánh dấu chuyến thăm Nhật đầu tiên của một Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc kể từ tháng 2-1998

từ khi quan hệ Tôkyô và Bắc Kinh trở nên "lạnh giá" dưới thời cựu Thủ tướng Koizumi Tháng 11-2007, tàu chiến Trung Quốc lần đầu tiên tới Nhật Bản Trên lĩnh vực kinh tế, tháng 12-2007, Nhật - Trung đã tiến hành Hội nghị đối thoại kinh tế cấp cao lần đầu tiên, đặt cơ sở cho việc hai nước tiến hành giao lưu về chính sách kinh tế vĩ mô và chiến lược phát triển kinh tế Lãnh đạo cấp

cao của Tân Hoa Xã và Kyodo đã thăm viếng lẫn nhau

Ngày 27-12-2007, Thủ tướng Nhật Bản Yasuo Fukuda và phu nhân đã đặt chân tới Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm Trung Quốc 3 ngày nhằm tăng cường quan hệ giữa hai nước Trong cuộc gặp cấp cao, Thủ tướng Nhật Fukuda và người đồng cấp Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã thảo luận những vấn

đề liên quan tới kinh tế, năng lượng và môi trường… Ông Fukuda được đánh giá là nhân vật ôn hòa và luôn phản đối việc thăm đền Yasukuni, một trong những vấn đề khiến quan hệ Nhật - Trung rơi vào tình trạng căng thẳng Điều đáng chú ý là, chuyến thăm này đã góp phần giải quyết một số vấn đề tranh cãi giữa hai nước Giải pháp hòa bình cho những bất đồng xung quanh vấn đề

sở hữu nguồn dầu mỏ và khí đốt tại vùng biển còn tranh chấp đã được đề

xuất Xâu chuỗi các sự kiện, có thể đánh giá rằng: Năm 2007, quan hệ Nhật -

Trung không ngừng tiến lên theo quỹ đạo "xây dựng mối quan hệ chiến lược hai bên cùng có lợi", quan hệ Nhật - Trung vốn trải qua nhiều thăng trầm này

đã "tan băng đón xuân" Nguyên nhân chủ yếu đưa tới sự thay đổi này là do Nhật Bản đã tiến hành điều chỉnh chiến lược đối với Trung Quốc và phía Trung Quốc cũng đưa ra sự hồi âm tích cực Nhận định một cách sâu xa thì

Trang 28

đây là kết quả của việc hai nước Nhật - Trung đã bình tĩnh xem xét lợi ích quốc gia và chiến lược phát triển lâu dài của bản thân hai nước Cuộc điều tra dân ý do Nội các Nhật Bản tiến hành tháng 10-2007 cho thấy 26,7% dân chúng Nhật Bản cho rằng quan hệ Nhật - Trung hiện nay là tốt đẹp, so với năm 2006 tăng 4,7% [24, tr.25] Ngày 28-11-2007, một tàu khu trục mang tên Thẩm Quyến của Trung Quốc đã thực hiện chuyến đi lịch sử tới Nhật Bản Đây là lần đầu tiên một tàu chiến của Trung Quốc tới thăm đất nước Mặt trời mọc kể từ Thế chiến thứ II kết thúc Đây được coi là một phần trong những hoạt động quân sự được thỏa thuận giữa Bộ trưởng quốc phòng hai nước hồi tháng 8-2007 Đáp lễ lại, ngày 24-6-2008, con tàu khu trục có tên Sazanami của Nhật Bản đã có chuyến đi kéo dài 5 ngày tới Trung Quốc Bãi xã luận

trong tờ báo China Daily của Trung Quốc đã thừa nhận chuyến đi của tàu

chiến Nhật Bản này có thể gây tranh cãi Nhưng cần có nhiều các cuộc đối thoại hơn để giúp xây dựng niềm tin và xóa đi những ngờ vực lẫn nhau giữa hai bên [74] Những động thái này cũng là dấu hiệu cho thấy quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc đang dần ấm lên

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết Hiệp ước hòa bình hữu nghị giữa hai nước (1978-2008), từ ngày 6-5-2008, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào có chuyến thăm

5 ngày đến đất nước Mặt trời mọc Đây là chuyến công du nước ngoài dài ngày nhất của ông, cho thấy mức độ quan trọng mà ông đặt vào chuyến đi tới Nhật, đồng minh thân thiết của Mỹ và là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới

“ngoại giao bóng bàn” đã từng giúp cải thiện mối quan hệ giữa Trung Quốc

và Mỹ trong những năm 1970 Năm 1972, tổng thống Mỹ Nixon đã có chuyến công du mang tính biểu tượng tới Bắc Kinh, 36 năm sau, ngày 8-5 -2008, tại trường Đại học Waseda (Nhật Bản), Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã

"đối mặt" với Thủ tướng Nhật Fukuda trong trận giao đấu bóng bàn nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết hiệp ước hòa bình hữu nghị giữa hai nước

Trang 29

Trong dịp này, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt được thảo thuận cùng khai thác mỏ khí đốt đang tranh chấp Xuân Hiểu và mỏ Long Tỉnh (phía Nhật Bản gọi là Shirabara) và hợp tác cùng khai thác vùng biển Hoa Đông, chấm dứt nhiều năm tranh cãi về chủ quyền khu vực này Thỏa thuận này

có ý nghĩa biểu trưng rất lớn để Nhật Bản và Trung Quốc có thể cùng nhau thúc đẩy mối bang giao vốn có nhiều gập nghềnh từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1972 đến nay

Theo thỏa thuận, tập đoàn dầu khí Inpex Holding lớn nhất của Nhật sẽ đầu tư vào dự án khai thác mỏ khí đốt Xuân Hiểu, có sản lượng ước tính 1 tỷ

m3/năm Bên phía Trung Quốc là CNOOC, tập đoàn dầu khí ngoài khơi lớn nhất nước này Trung Quốc và Nhật Bản cũng cùng nhau khai thác dầu tại khu vực phía Bắc biển Hoa Đông, có trữ lượng được cho vào khoảng 3,26 tỷ thùng Có thể rằng sự kiện trên đã làm nóng quan hệ bị “lạnh giá” dưới thời cựu Thủ tướng Koizumi, và nó chứng tỏ cả hai bên đều đang muốn giảng hòa với nhau và trên thực tế, thực sự họ cũng đang giảng hòa với nhau thật

Tuy nhiên, có một vấn đề mà cả hai phía Trung Quốc và Nhật Bản chắc chắn không dễ dàng giảng hòa với nhau được, đó là những tồn tại lâu dài trong lịch sử, những cạnh tranh về lợi ích là điều khó tránh khỏi Chính vì vậy, diễn biến "nóng -lạnh" trong quan hệ Nhật - Trung lại bộc phát Ngày 15-09-2009, tại Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Khương Du cho biết, Trung Quốc mong Ủy ban về thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc xử lý ổn thỏa Đề án phân giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa bãi ngầm Okonotori làm điểm cơ sở do Nhật Bản đề xuất

Tháng 4-2009, Thủ tướng Nhật Bản Aso Taro tới thăm Trung Quốc Tại buổi tiếp ông Aso, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đề nghị hai nền kinh tế lớn của thế giới nên ổn định thương mại và đầu tư, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực môi trường và tiết kiệm năng lượng, công nghệ thông tin và viễn

Trang 30

thông, các ngành công nghiệp xanh và công nghệ cao Ông đề xuất hai bên hợp tác với các nước thành viên ASEAN, thúc giục tăng cường hợp tác hơn nữa giữa các nước lớn Đông Bắc Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Thủ tướng Aso Taro cho rằng, Nhật Bản và Trung Quốc sẽ đặt trên vai mình trọng trách quan trọng và có ảnh hưởng đối với hòa bình và ổn định của Châu

Á cũng như thế giới Ông Aso Taro cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của quan

hệ song phương, gọi đây là quan hệ chiến lược, đôi bên cùng có lợi [46,tr.13] Nền kinh tế của Nhật Bản và Trung Quốc vào hàng thứ hai và thứ ba thế giới, nên các vấn đề kinh tế đương nhiên sẽ bao trùm nghị sự các cuộc gặp Vấn đề hạt nhân Triều Tiên, cúm lợn, hỗ trợ của Nhật Bản trong các dự án môi trường ở Trung Quốc cũng nằm trong chương trình nghị sự của chuyến thăm Giới phân tích cho rằng, chuyến công du của ông AsoTaro càng làm nổi bật tính thực tiễn trong mối quan hệ Nhật - Trung, trong bối cảnh Tôkyô và Bắc Kinh đều phải đối phó với khủng hoảng toàn cầu và đều muốn hợp tác để thúc đẩy sự phục hồi của các nền kinh tế ở Châu Á [73]

Với sự chấm dứt sự cầm quyền của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) trong hơn 50 năm qua ở Nhật Bản, sự xuất hiện của Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) với tư cách là đảng cầm quyền mới sau thắng lợi lớn trong cuộc tổng tuyển cử ngày 30-9-2009 đã ảnh hưởng quan trọng tới quan hệ của Nhật Bản với Trung Quốc DPJ do Thủ tướng Yukio Hatoyama lãnh đạo được giới phân tích cho rằng sẽ chấm dứt sự phụ thuộc thuần túy theo tinh thần của LDP vào Mỹ, không chỉ về cái ô hạt nhân của Mỹ, mà còn cả về ngoại giao và các vấn đề an ninh Phát biểu vào tháng 8-2009, ông Hatoyama đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự độc lập về chính trị, kinh tế trong quan hệ với Mỹ, nước đang muốn lấy lại vị thế thống trị thế giới, và Trung Quốc nước đang tìm kiếm cách thức để có ảnh hưởng bao trùm trên thế giới Trong khi Tôkyô chắc chắn vẫn duy trì quan hệ liên minh quân sự với Mỹ, vị Thủ tướng này của Nhật Bản đã tái khẳng định trọng tâm của đảng lãnh đạo mới của Nhật

Trang 31

Bản trong cách tiếp cận bình đẳng và mối quan hệ đối tác Nhật - Mỹ dựa trên

Trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí trong nước, ông Katsuya Okada, Ngoại trưởng mới của Nhật Bản đã chỉ ra rằng, đảng DPJ sẽ kiềm chế trong việc nhận xét về vấn đề nhân quyền và các vấn đề nhạy cảm khác liên quan tới Trung Quốc Về các vụ lộn xộn gần đây ở Tây Tạng và Tân Cương ở Trung Quốc, ông Okada cho rằng đó là các vấn đề thuần túy thuộc nội bộ Trung Quốc và đảng cầm quyền DPJ sẽ không can thiệp vào những vấn đề nói trên [42, tr.3)

Ngày 14-12-2009, Phó Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã có chuyến thăm Nhật Bản Trong buổi hội đàm, Thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama và Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhất trí đẩy mạnh mối quan hệ chiến lược và cùng có lợi giữa hai nước Thủ tướng Hatoyama phát biểu rằng, "Nhật Bản và Trung Quốc đang xây dựng mối quan hệ chiến lược hai bên cùng có lợi, nhưng phải được cụ thể hóa Tôi tin tưởng nỗ lực của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình là cần thiết" [41, tr.5] Trong khi đó, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho hay, phát triển quan hệ song phương là mối quan tâm chung của lãnh đạo và nhân dân hai nước Ông nhấn mạnh "Sự

Trang 32

phát triển giữa hai nước không chỉ mang lại lợi ích cho hai bên, mà còn đóng góp cho sự ổn định và phát triển của cả khu vực và thế giới" [41, tr.5]

Trong chuyến thăm Nhật Bản và Phó Chủ tịch Trung Quốc lần này, Nhật Hoàng Akihito đã phá lệ khi đồng ý tiếp ôngTập Cận Bình Điều đó đã làm dấy lên làn sóng tranh cãi chính trị lớn trong các giới Nhật Bản Các nhà quan sát quốc tế phần đông cho rằng, đây là thông điệp hữu hảo mạnh mẽ của Chính phủ Nhật Bản đưa ra đối với Trung Quốc Bởi vì theo quy định của Hoàng gia Nhật Bản, Nhật Hoàng chỉ tiếp nguyên thủ các nước đến thăm, hơn thế nữa bắt buộc phải đưa ra đề nghị trước đó một tháng Do vậy, có thể phán đoán: Nhật Hoàng Akihito dưới sự thúc đẩy của Chính phủ do Thủ tướng Yukio Hatoyama nắm quyền đã phá vỡ thông lệ lâu nay, đặc cách tiếp Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chính là nhằm bày tỏ mong muốn xây dựng mối quan hệ hữu hảo với Trung Quốc Tuy nhiên, chính đảng Dân chủ

Tự do (LDP) Nhật Bản, đảng đối lập thân Mỹ chống Trung Quốc, từng nắm quyền tại Nhật Bản suốt 38 năm qua, đã công kích đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) mới thay LDP lên nắm quyền là lợi dụng Nhật Hoàng để tiến hành các hoạt động chính trị [26, tr.9] Ngày 19-1-2009, Ozawa Ichiro, Tổng thư ký Đảng Dân chủ - nhân vật nhiều quyền lực đã dẫn đầu đoàn đại biểu 645 thành viên tới thăm Trung Quốc, điều đó thể hiện những nỗ lực của DPJ làm hâm nóng mối quan hệ giữa hai bên

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, cục diện chiến lược quốc tế xuất hiện nhiều thay đổi lớn Cùng với sự thay đổi trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, quan hệ Nhật – Trung trở nên bình thường hóa xuất phát từ nhu cầu chiến lược của cả hai bên Cặp quan hệ này luôn chứa đựng yếu tố kép và căng thẳng ở một chừng mực nào đó, chúng sẽ tiếp tục tồn tại song hành trong tương lai Một mặt, tính nhị nguyên tạo nhân tố tích cực cho sự phụ thuộc lẫn nhau ngày một cao hơn (lợi ích kinh tế) và đồng thời ở một khía cạnh khác đang xuất hiện những cảm giác về mối đe dọa an ninh của nhau (lĩnh vực quân sự) Nhưng các lợi ích kinh tế của cả hai phía được dùng như là “chất keo tự nhiên” gắn kết giữ mối quan hệ hữu nghị và duy trì các quan hệ hòa bình, đặc biệt là từ cách nhìn theo các lợi ích thực dụng của Trung Quốc Tuy nhiên nhân tố thứ hai lại sản sinh ra các mầm mống quan hệ căng thẳng bởi sự thiếu hiểu biết lẫn nhau trong quá khứ và hiện tại, đặc biệt là mối quan hệ hai nước rơi xuống mức thấp nhất trong giai đoạn Thủ tướng Junichiro Koizumi cầm quyền Ngay sau khi được bầu làm Thủ tướng, ông Abe đã thực hiện chuyến thăm “phá băng” tới Trung Quốc Mối quan Nhật - Trung được “tan băng đón xuân” trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Fukuda và đang có chiều hướng trở nên “nồng ấm” hơn dưới thời Đảng Dân chủ Nhật Bản cầm quyền

có xu hướng tích cực thúc đẩy mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc

Trang 34

về kinh tế, trở thành siêu cường kinh tế thứ hai toàn cầu được cả thế giới ngưỡng mộ, Nhật Bản đang nỗ lực tìm kiếm vai trò chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế của mình ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên toàn thế giới Chính những tham vọng như vậy đã dẫn đến những va

chạm lợi ích giữa hai quốc gia Ở chương này, người viết sẽ đi sâu phân tích những thách thức an ninh, chính trị trong quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc từ sau Chiến tranh Lạnh tới nay

2.1 Vấn đề an ninh

Hiện nay, cả Trung Quốc và Nhật Bản đều tích cực tăng cường sức mạnh quân sự của mình Trung Quốc công bố đầu tư cho ngân sách quốc phòng năm 2009 ở mức tương đương khoảng 70,2 tỷ USD, năm 2010 ngân sách quốc phòng tăng lên 77,9 tỷ USD [65] Sự đầu tư lớn nhằm nâng cấp khả năng quân sự của Trung Quốc là sự e ngại lớn đối với Nhật Bản, bởi nó sẽ đe dọa trực tiếp đến an ninh của Nhật Bản Chính phủ Nhật Bản công bố chi ngân sách quốc phòng của năm 2009 là khoảng 50 tỷ USD, năm 2010 là 54 tỷ USD [66] Trong thực tế, họ đang chuyển mạnh từ thái độ hòa bình và phòng thủ khu vực thời hậu Chiến tranh Thế giới thứ II sang tích cực hơn về sự hiện diện quân sự trong khu vực Tôkyô đã tăng cường lực lượng Phòng vệ và tham gia vào các chiến dịch tại Irắc Gần đây, Nhật Bản đã nâng cấp Cục

Trang 35

phòng vệ của mình lên thành Bộ quốc phòng nhằm phản ánh đúng hơn chức năng của cơ quan này trong tình hình mới Đồng thời, việc có nhiều dấu hiệu cho thấy, trong thời gian gần đây, Nhật Bản đang có những động thái tích cực hướng tới sửa đổi điều 9 trong Hiến pháp để Nhật Bản có thể có vai trò tích cực hơn trong đời sống an ninh và chính trị trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên toàn thế giới, cũng khiến cho Trung Quốc và các nước trong khu vực quan ngại

Cùng với sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc không ngừng tăng, cộng thêm việc vẫn chịu ảnh hưởng của tư duy Chiến tranh Lạnh, hai nước Mỹ và Nhật Bản cho rằng an ninh của bản thân sẽ phải chịu sự đe dọa ngày càng lớn cùng với sự tăng cường không ngừng về sức mạnh quân sự của Trung Quốc,

vì thế, hai nước cũng có những hoạt động như tăng cường bố trí lực lượng quân sự tương ứng và điều chỉnh những nội dung liên quan đến liên minh quân sự hai nước, kiềm chế và đề phòng Trung Quốc [35, tr.3] Ngoài ra, Mỹ còn bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa tại Nhật Bản, điều này cũng làm ảnh hưởng tới sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản, đem đến những nguy cơ tiềm ẩn cho sự mất ổn định về an ninh giữa hai nước, khu vực cũng như toàn thế giới

So với những mối quan hệ của các nước lớn khác chủ yếu trên thế giới, quan hệ song phương Nhật - Trung đang tồn tại những vấn đề trái ngược vô cùng đặc biệt sau:

Thứ nhất, quan sát từ chiều sâu, từ khi Trung Quốc và Nhật Bản thiết lập

quan hệ ngoại giao đến nay, về tổng thể xuất hiện sự phát triển trái ngược

"trước nóng sau lạnh" Năm 1972, sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, quan hệ Nhật - Trung đã bước vào "thời kỳ trăng mật" Tuy nhiên, sau những năm 1990, sóng gió hai nước đã nổi lên, mâu thuẫn bắt đầu tăng lên, các cuộc viếng thăm hai nước bị gián đoạn, tình cảm nhân dân có xu

Trang 36

hướng bị xấu đi Đáng lý ra, khi hai nước đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao được hơn 30 năm, thì quan hệ giữa hai nước sẽ phát triển theo hướng lý tính và chín muồi hơn, ít nhất không xuất hiện cục diện mất cân bằng lúc lên lúc xuống Sự phát triển trái ngược "trước nóng sau lạnh" như vậy là điều rất hiếm thấy trong lịch sử quan hệ quốc tế Nếu nói vấn đề lịch sử là nguyên nhân cơ bản khiến quan hệ Nhật - Trung trở nên lạnh nhạt, vậy thì tại sao trước những năm 1990 nó không trở thành trở ngại ngăn cản quan hệ Nhật - Trung phát triển, mà sau này mới ngày càng bộc lộ rõ, trở thành tiêu điểm khiến quan hệ ngoại giao hai nước xấu đi? Trên thực tế, ngay khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, vấn đề lịch sử tồn tại đồng thời được giải quyết Trong "Tuyên bố chung Nhật - Trung" khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Nhật Bản bày tỏ sẽ tiến hành xem xét kỹ càng việc nước mình phát động chiến tranh xâm lược đối với Trung Quốc, phía Trung Quốc cũng bày tỏ yêu cầu bồi thường chiến tranh đối với Nhật Bản Điều này chứng tỏ những thay đổi trong

sự phát triển của quan hệ hai nước nhất định có căn nguyên sâu sắc hơn vấn

đề lịch sử [51, tr.3]

Thứ hai, nhìn từ chiều rộng, quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Nhật

Bản luôn “nóng”, trong khi quan hệ chính trị lại trở nên “lạnh giá”, nổi rõ sự trái ngược "kinh tế nóng chính trị lạnh" Tổng kim ngạch thương mại song phương năm 2004 đạt mức kỷ lục 167,89 tỷ USD, tăng gần gấp đôi so với 87,7 tỷ USD năm 2001 Mặc dù năm đó, Nhật Bản đã mất đi địa vị đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc mà Nhật Bản đã lũng đoạn trong 11 năm qua, nhưng Trung Quốc lại thay thế trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, vai trò tác động lẫn nhau giữa nền kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản ngày càng nổi rõ

Dựa trên những phân tích về hai sự trái ngược lớn tồn tại trong quan hệ Nhật - Trung, có thể đưa ra những kết luận sau: các nhân tố lịch sử, kinh tế

Trang 37

không phải là căn nguyên cốt lõi, cái thực sự đóng vai trò chủ yếu chính là những xung đột lợi ích chiến lược giữa hai nước và lợi ích an ninh chính là nhân tố hàng đầu quyết định lợi ích chiến lược quốc gia Chính vì vậy, nguyên nhân thực sự khiến hai nước nảy sinh mâu thuẫn chính ở chỗ hai bên rơi vào môi trường an ninh khó khăn khó có thể đảo ngược được trong thời gian ngắn Quan sát hiện trạng quan hệ Nhật - Trung, có thể phát hiện thấy, tình thế hai nước có nhiều yếu tố tạo thành môi trường an ninh khó khăn Hai bên không tin cậy lẫn nhau, ý đồ chiến lược của đối phương rõ ràng có tính xác định rất lớn khó có thể quyết đoán Vì vậy, ngay nay, khi bầu không khí hai nước nghi ngờ lẫn nhau vẫn rất sâu đậm và được thể hiện rõ ở những ảnh hưởng rộng rãi của "Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc" tại Nhật Bản, thì

"thuyết làm sống lại chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản" cũng có ảnh hưởng nhất định tại Trung Quốc

Vài năm gần đây, "thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc" có thể nói khá thịnh hành ở Nhật Bản Các nhà chiến lược của các phe phái ở Nhật Bản đều cho rằng, khu vực Châu Á đang tồn tại những nhân tố bất ổn khiến họ cảm thấy lo lắng, trong khi đó "nhân tố bất ổn lớn nhất" chính là cái gọi là "mối đe dọa đến từ Trung Quốc" Kiichi Saeki, nhà chiến lược nổi tiếng của Nhật Bản cho rằng: "Cho dù không có ý đồ bành trướng hay khuếch trương, nhưng thông qua tiến trình thống nhất đất nước và những hành động theo đuổi lãnh thổ trước kia của Trung Quốc, cũng có khả năng hình thành mối đe dọa bành trướng và bá quyền đối với các nước xung quanh" [52, tr.3] Dư luận của Nhật Bản cũng lo ngại rằng, khi hình thành cục diện mới của Châu Á vào trước hoặc sau năm 2010, thì Trung Quốc sẽ trở thành nước lớn siêu cường, đồng thời có thái độ giống nước lớn siêu cường trước đây về quân sự và chính trị, từ đó trở thành mối đe dọa của Châu Á Vì vậy, Nhật Bản rất lo lắng trước

sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt đối với việc hiện đại hóa lực lượng quân

Trang 38

sự và tăng chí phí quân sự hàng năm của nước ngày "Thuyết làm sống lại chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản" cũng được rất quan tâm ở Trung Quốc Vài năm gần đây, Nhật Bản đẩy nhanh theo hướng trở thành "quốc gia bình thường", mong muốn phát huy vai trò lớn hơn về quân sự Hiến pháp hòa bình quy định phương hướng phát triển của Nhật Bản sau chiến tranh dần dần bị gác lại, trong nước Nhật Bản liên tục xuất hiện những động thái bào chữa cho chiến tranh xâm lược trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II, đặc biệt là Thủ tướng Koizumi đã bất chấp sự phản đối của Trung Quốc đến thăm viếng đền Yasukini Trong bối cảnh lãnh đạo Nhật Bản mong muốn nhanh chóng biến đất nước thành nước lớn quân sự, tất cả những điều này tự nhiên sẽ khiến Trung Quốc nghi ngờ và cảm thấy bất an Trung Quốc lo lắng Nhật Bản thông qua phủ định chiến tranh xâm lược, cuối cùng phá vỡ sự hạn chế của Hiến pháp hòa bình, trở lại con đường chủ nghĩa quân phiệt [51, tr.4] Vì vậy, mặc

dù quan hệ kinh tế giữa hai nước đã đạt tới mức phát triển khá cao, nhưng vẫn

có sự ngờ vực lẫn nhau sâu sắc trong những vấn đề an ninh quan trọng, kết quả càng làm nổi rõ cảm giác bất an của hai bên, cùng với việc một loạt vấn

đề giữa hai bên càng trở lên đối lập, hai nước rơi vào vòng xoáy của môi trường an ninh khó khăn Vậy rốt cuộc nguyên nhân dẫn tới nảy sinh khó khăn này là do phía nào?

Căn cứ vào những trình bày trên, cơ cấu quốc tế là cơ sở sâu xa làm nảy sinh môi trường an ninh khó khăn giữa các nước, mở rộng xem xét vấn đề của Trung Quốc và Nhật Bản trong toàn bộ cơ cấu quốc tế của khu vực Đông Á sẽ

dễ nhận thấy, cơ cấu sức mạnh của khu vực Đông Á đang có những thay đổi mang ý nghĩa sâu xa: Trung Quốc được coi là một nước lớn trỗi dậy đang phát triển nhanh chóng, sức mạnh tổng hợp ngày càng được nâng cao, sức ảnh hưởng trên thế giới với và khu vực Đông Á không ngừng được tăng cường; và Nhật Bản tỏ rõ thiên hướng chiến lược nước lớn mưu cầu địa vị “quốc gia

Trang 39

thông thường”, đang đẩy nhanh theo hướng nước lớn chính trị và quân sự Như vậy, Trung Quốc và Nhật Bản đang đồng thời trỗi dậy trở thành những nước lớn trên thế giới có ý nghĩa thực sự và khu vực Đông Á sẽ lần đầu tiên xuất hiện cục diện cùng tồn tại hai cường quốc Trung Quốc và Nhật Bản Từ góc độ địa - chiến lược cho thấy, từ cận đại đến nay, hai nước Trung Quốc

và Nhật Bản luôn tồn tại một loại hiệu ứng một mất một còn nào đó, hai nước đồng thời trỗi dậy càng thể hiện rõ nét hiệu ứng này, đẩy nhanh hơn việc hình thành môi trường an ninh khó khăn, đây cũng chính là căn nguyên của toàn bộ vấn đề trong quan hệ hai nước hiện nay Một học giả Trung Quốc thẳng thắn cho rằng: "Từ những năm 1990 đến nay, hai nước Trung Quốc và Nhật Bản đều xuất hiện xu thế nước lớn mới, là nguyên nhân quan trọng dẫn tới quan hệ hai nước hình thành cục diện mới" [51, tr.5] Miton Ezati, học giả của Mỹ cho rằng: "Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Trung Quốc và Nhật Bản đều đang trỗi dậy sẽ tạo thành rủi ro an ninh lớn nhất ở khu vực này" Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Nhật Bản đã trở thành vấn đề an ninh lớn nhất đòi hỏi hai bên nên xem xét thận trọng Và hiện nay, Nhật Bản đã có nhiều cảm giác lo lắng đối với cục diện "chế độ hai siêu cường" này hơn so với Trung Quốc Vì vậy, nước này đã có nhiều tác động phòng ngừa rõ rệt hơn Trung Quốc

Trước sự nổi dậy của Trung Quốc láng giềng, Nhật Bản đã cảm nhận được sâu sắc sức ép chưa từng có Có một cách ví von hình tượng có thể nói

rõ điều này: Trung Quốc và Nhật Bản giống như hai chiếc ô tô chạy nhanh trên đường cao tốc, trong đó Trung Quốc là chiếc xe tải hạng nặng, Nhật Bản

là chiếc ô tô hạng nhẹ, người điều khiển chiếc xe nhỏ vẫn suốt ngày lo âu sợ hãi Chính vì vậy, năm 2002, các nhà tham mưu ngoại giao của Thủ tướng Koizumi đã đưa ra "Chiến lược ngoại giao cơ bản của Nhật Bản thế kỷ 21", xoay quanh chủ đề chiến lược ngầm hàm ý như làm thế nào đối phó được với

Trang 40

sự trỗi dậy của Trung Quốc, đồng thời cho rằng Nhật Bản đã gặp phải vấn đề mới "nước Trung Quốc cường quốc" chưa từng xuất hiện trong 150 năm qua

kể từ "Chiến tranh Nha Phiến" tới nay Về mặt an ninh, sự tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Quốc về lâu dài có thể tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với Nhật Bản Tháng 12/02/2004, Cương lĩnh phòng vệ mới của Nhật Bản lần đầu tiên nêu rõ "Sự phát triển quân sự hiện đại hóa của Trung Quốc đang được tăng cường, đặc biệt là muốn mở rộng phạm vi trên biển" Nhóm trưởng "Nhóm công tác quyền lợi trên biển", nghị sỹ Đảng tự do dân chủ Nhật Bản, Mizuho nhấn mạnh, Trung Quốc muốn đưa hai bờ Thái Bình Dương vào phạm vi thế lực của mình, đưa Đài Loan vào lãnh thổ nước mình, đồng thời gây ảnh hưởng tới con đường trên biển từ Đông Bắc Á tới vịnh Pecxich Sau Chiến tranh Lạnh, sự phán đoán chiến lược nghiêm trọng này đã lần đầu tiên xuất hiện, phản ánh cảm giác bất an nặng nề của Nhật Bản đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc Dưới tác động của nhân tố tâm lý này, Nhật Bản đã thay đổi chiến lược an ninh tiêu cực trước đây, đang ngày càng áp dụng sách lược ngoại giao, quân sự tích cực và mạnh dạn, có sự phòng ngừa đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc [51,tr.6]

2 2 Cạnh tranh vị thế chính trị

Đây là trở ngại mang tính kết cấu liên quan tới việc cạnh tranh quyền lãnh đạo Đông Á xuất phát từ lợi ích chiến lược của mỗi quốc gia Nhật Bản luôn liên minh với Mỹ nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, tranh thủ lôi kéo các nước ASEAN vào không gian kinh

tế chung Trong khi đó, Trung Quốc, do tiềm lực kinh tế và quân sự còn hạn chế so với Mỹ, nên đã hướng mạnh đến một thế giới đa cực, phản đối các liên minh quân sự, nhằm phân tán quyền lực và giảm sức ép từ Mỹ Chính vì vậy, Trung Quốc luôn coi “Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ” với những sửa đổi gần đây theo hướng mở rộng không gian nhiệm vụ của nó chính là nhằm vào

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Anh Đức (2008), Một số trở ngại trong quan hệ Nhật – Trung từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á (số 3), tr.22-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số trở ngại trong quan hệ Nhật – Trung từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay
Tác giả: Trần Anh Đức
Năm: 2008
13. Vũ Văn Hà (2007), Quan hệ Trung Quốc – ASEAN – Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Trung Quốc – ASEAN – Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Hà
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2007
14. Kokubun Ryhoshi (1997), (chủ biên), Nhật Bản – Mỹ - Trung Quốc- Kịch bản cho sự hợp tác, Nxb TBS- Britanica, Tôkyô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản – Mỹ - Trung Quốc- Kịch bản cho sự hợp tác
Tác giả: Kokubun Ryhoshi
Nhà XB: Nxb TBS- Britanica
Năm: 1997
15. Hoa Lý (2008), Thỏa thuận Nhật Bản – Trung Quốc “cùng khai thác” tại biển Hoa Đông – một sự lựa chọn thông minh, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (số 7), tr. 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thỏa thuận Nhật Bản – Trung Quốc “cùng khai thác” tại biển Hoa Đông – một sự lựa chọn thông minh
Tác giả: Hoa Lý
Năm: 2008
16. Trần Hoàng Long (2007), Quan hệ Nhật – Trung hiện nay: Thách thức và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (số 7), tr.7-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật – Trung hiện nay: Thách thức và triển vọng
Tác giả: Trần Hoàng Long
Năm: 2007
17. Hà Phương, Triển vọng mới trong quan hệ Trung- Nhật, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3/3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng mới trong quan hệ Trung- Nhật
18.Trần Anh Phương (2008), Các quan hệ quốc tế trọng yếu tại khu vực Đông Bắc Á năm 2007, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á (số 1), tr. 11-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan hệ quốc tế trọng yếu tại khu vực Đông Bắc Á năm 2007
Tác giả: Trần Anh Phương
Năm: 2008
19. Đức Minh Hoài Phương (2009), Vấn đề đền Yasukuni, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á (số 2), tr.44-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đền Yasukuni
Tác giả: Đức Minh Hoài Phương
Năm: 2009
20. Trần Anh Phương (2007), Chính trị khu vực Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh Lạnh, Nxb KHXH, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị khu vực Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh Lạnh
Tác giả: Trần Anh Phương
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2007
21. Park – Hong Yuong (2009),Ứng phó của Nhật Bản đối với vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á (số 9), tr. 15-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng phó của Nhật Bản đối với vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên
Tác giả: Park – Hong Yuong
Năm: 2009
22. Đỗ Trọng Quang (2007), Cuộc tranh cãi xung quanh ngôi đền Yasukuni ở Nhật Bản, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á (số 3), tr. 21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc tranh cãi xung quanh ngôi đền Yasukuni ở Nhật Bản
Tác giả: Đỗ Trọng Quang
Năm: 2007
26. TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 6-1-2010, Nh ật Bản: Từ “thoát Á nhập Âu “ đến “xa Mỹ thân Trung Quốc”, tr. 8-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ật Bản: Từ "“thoát Á nhập Âu “ đến “xa Mỹ thân Trung Quốc
27. TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 16-3-2010, Trung Qu ốc vươn ra biển trong tranh chấp với Nhật Bản, tr. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ốc vươn ra biển trong tranh chấp với Nhật Bản
28. TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 2-4-2010, Vấn đề năng lượng của Nhật Bản, tr. 15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề năng lượng của Nhật Bản
29. TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 27-3-2006, Ảnh hưởng của việc Nhật Bản tăng cường quan hệ với Đài loan, tr. 11-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc Nhật Bản tăng cường quan hệ với Đài loan
32. TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 17-06-208, Nh ật Bản, Trung Quốc đạt được thỏa thuận cùng khai thác khí đốt, tr. 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày "17-06-208, Nh"ật Bản, Trung Quốc đạt được thỏa thuận cùng khai thác khí đốt
33. TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 3-5-2010, Quan h ệ giữa Nhật Bản với láng giềng gần: Thách thức mới đối với khu vực Đông Á, tr. 9- 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày "3-5-2010,Quan h"ệ giữa Nhật Bản với láng giềng gần: Thách thức mới đối với khu vực Đông Á
34. TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 17-12-2005, Những “Nấc thang nước lớn quân sự” và chiến lược ngoại giao của Koizumi, tr. 9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày "17-12-2005, "Những “Nấc thang nước lớn quân sự” và chiến lược ngoại giao của Koizumi
69.Nguyễn Ngọc Hùng, ám lạnh trong quan hệ Trung-Nhật, http://www.mofa.gov.vn, số 15, ngày 20/04/2005 Link
71. Kiên Trần, Cuộc chiến tranh năng lượng của Trung Quốc, http://www.vnn.vn, ngày 03/03/2005 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm