Chính sự nhiệt huyết và say mê ấy đã thúc đẩy tác giả tiến thêm một bước trong việc tìm hiểu về quan niệm đạo đức của ông cha ta qua bài viết với tiêu đề rất hiện đại: “Tiêu chí kiểm địn
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ph ản biện 1: PGS TS Đoàn Thị Thu Vân
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Công Lý
Phản biện 3: TS Hồ Quốc Hùng
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án Sự tiếp biến Nho giáo ở Việt Nam qua tục ngữ,
ca dao – dân ca người Việt là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự
trùng lắp, sao chép của bất cứ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu nào của các tác giả khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Kim Phƣợng
Trang 4Để hoàn thành được công trình khoa học này, ngoài sự nỗ lực của bản thân chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ, những góp ý khoa học, những lời chia sẻ, động viên chân thành của quý vị Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy cô giáo, đồng nghiệp và bạn hữu…
Chúng tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến:
tôi trong suốt sáu năm qua
cấp Đơn vị chuyên môn, cán bộ phản biện độc lập và Hội đồng chấm luận án tiến
sĩ cấp Cơ sở đào tạo, Quý vị đã có những góp ý khoa học thẳng thắn và đầy trách nhiệm, giúp chúng tôi nhận diện nhiều vấn đề, đưa công trình đạt đến kết quả khoa học nhất định
trường ĐHKHXH & NV TPHCM, những người đã tạo mọi điều kiện, sẵn sàng giúp
đỡ, chia sẻ, động viên chúng tôi khi chúng tôi gặp khó khăn
thư viện trường ĐHKHXH & NV TPHCM, những người đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc tra cứu, tìm kiếm tài liệu để hoàn thành công trình này.
Trang 5- -
Trang DẪN NHẬP 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… ……… ……….1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ……… ……… 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU……….12
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………14
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN………15
6 CẤU TRÚC LUẬN ÁN……… 15
NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG………18
1.1 Vấn đề tiếp biến văn hóa……….………18
1.2 Nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập của Nho giáo vào đời sống văn hóa tầng lớp bình dân Việt……… 25
1.2.1 Tổ chức nhà nước……….27
1.2.2 Luật pháp……….31
1.2.3 Giáo dục……….…39
1.2.4 Văn học – Nghệ thuật………46
1.3 Nho giáo và tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt……….51
Chương 2: SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ ĐẠO VÀ THIÊN MỆNH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT……… 64
2.1 Phạm trù Đạo……….…64
2.1.1 Đạo trong kinh điển……….64
2.1.2 Đạo Nho giáo……… …66
2.1.3 Đạo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt………68
2.2 Phạm trù Thiên mệnh……….……….79
2.2.1 Thiên mệnh trong kinh điển………79
2.2.2 Thiên mệnh trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt………86
Trang 63.1 Cặp phạm trù Trung – Hiếu……… ….100
3.1.1 Trung……… ……100
3.1.2 Hiếu……….109
3.1.3 Sự kết hợp Trung Hiếu (Hiếu Trung)……… 130
3.1.4 Trung, Hiếu đối sánh với Tình……….….134
3.2 Cặp phạm trù Nhân – Nghĩa (Nghĩa – Nhân) ……….………137
3.2.1 Nhân………137
3.2.2 Nghĩa……….…145
3.2.3 Sự kết hợp Nhân Nghĩa (Nghĩa Nhân) ………163
Chương 4: SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ TIẾT TRINH, TAM TÒNG TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT……….… …167
4.1 Phạm trù Tiết trinh ……….…167
4.2 Phạm trù Tam tòng……… 182
KẾT LUẬN……… 196
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….….201 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
PHỤ LỤC
Trang 7DẪN NHẬP
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhìn vào diện mạo văn hóa người Việt, chúng ta thấy có sự khác biệt rất lớn
so với các dân tộc khác trong khu vực Những khác biệt đó một phần do người Việt trải qua nhiều thế kỷ chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo Tuy nhiên, để thừa nhận thực tế đó, cũng như đánh giá đúng mức vai trò của Nho giáo đối với đời sống tinh thần, tâm thức người Việt rất phức tạp và không phải bao giờ cũng chỉ có ý kiến thuận chiều
Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét về đức tin: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia Tô tin ở đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [104, tr 175] Câu nhận xét của Người không chỉ khẳng định sự tiếp nhận Nho giáo mà còn cho thấy sự trân trọng, tôn sùng một phần tư tưởng Nho giáo – “đạo Khổng” của người Việt Theo cách dùng
từ của Người, chúng ta hiểu người dân Việt chỉ tôn sùng những giá trị nhân văn vì người, vì một lý tưởng sống như Khổng Tử đã tâm niệm: “Người già thì được yên vui; bạn bè tin yêu; lớp trẻ thì được bảo ban, đùm bọc” [29, tr 80] Đó cũng chính
là mục tiêu xã hội lớn nhất mà bao thế hệ người Việt hướng đến Điều đó gợi mở cho chúng tôi những trăn trở: phải chăng người Việt đã tiếp nhận “loại” Nho giáo
mà tính nhân văn và dân chủ là nền tảng, nhằm xây dựng một xã hội hòa bình, ổn định, trong đó mọi người lấy Nhân mà đối đãi nhau? Tuy nhiên, với Hồ Chủ tịch, Người có thể định danh đó là “đạo Khổng”; còn đối với người dân lao động, tất nhiên họ không thể khái quát các nội dung Nho giáo mà họ tiếp nhận trong nội hàm một từ, một tên gọi, nên “đạo Khổng” của họ phải thể hiện cụ thể ở một số dạng thức nào đó Hình thức nào, nội dung gì là những vấn đề không đơn giản nhưng cần phải làm rõ để có những đánh giá đúng về vai trò của đạo đức Nho giáo nói chung, Khổng giáo nói riêng đối với đời sống tinh thần và tâm thức của người dân Việt Thiết nghĩ văn học dân gian là một trong những nguồn tư liệu có thể giúp chúng tôi tìm hiểu vấn đề một cách khách quan và cũng là nơi có các trả lời thấu đáo cho
Trang 8những câu hỏi trên, vì vốn dĩ đó là một trong những nguồn tư liệu phản ánh đầy đủ,
rõ nét đời sống tình cảm, tư tưởng của tầng lớp bình dân Việt Nam Bước đầu chúng tôi khảo sát nguồn tư liệu văn vần, tục ngữ và ca dao – dân ca người Việt
Mặt khác, qua nguồn tư liệu này cũng cho thấy tinh thần học hỏi, tiếp thu và thái độ ứng xử của cha ông ta trước những hiện tượng tích cực, tiêu cực do các luồng tư tưởng bên ngoài mang đến Chúng ta có thể hiểu rõ hơn nguyên nhân phong phú và trường tồn của di sản văn hóa tinh thần mà các thế hệ trước để lại, trong đó có những giá trị làm người tiếp biến từ Nho giáo Điều mà trong một khoảng thời gian khá dài chúng ta đã có những định kiến, hành xử thiên lệch như lời của nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp nhận xét về tình hình sưu tập, lưu giữ văn học dân gian trong những năm đầu sau khi giành được độc lập Vì vậy, sau những lời phê phán, ông đã yêu cầu: “Chúng ta tôn trọng cả vốn cổ điển của các nhà nho lẫn vốn cổ dân gian, không coi thường mặt nào, nhưng cũng không nên mù quáng nhắm mắt theo cái cổ mà phải kiên quyết chống chủ nghĩa phục cổ” [145, tr 58] Theo quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử, với cương vị là một nhà lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa – văn nghệ, Hà Huy Giáp vừa lên tiếng cảnh báo vừa đặt
ra yêu cầu chỉnh đốn từ trong nhận thức của xã hội đối với những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, trong đó có đạo đức Nho giáo Thế nhưng, trên thực tế do một số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, những giá trị đó đã bị dòng xoáy tẩy trừ tệ nạn lạc hậu, tàn dư của chế độ phong kiến vùi lấp, chỉ còn đâu đó lác đác một vài cá nhân, số ít gia đình vốn đã “tiêm nhiễm” những giá trị đạo đức, lễ nghi “cổ hủ” cố gắng bảo lưu, nhưng không chắc họ có thể giữ được bao lâu nữa trong sự ồ
ạt lan tràn những luồng văn hóa hiện đại nặng về vật chất, hối hả vì ganh đua nhưng lại được sự ủng hộ của số đông Những luồng văn hóa đó có sức lôi cuốn mãnh liệt đang dần thay đổi những chuẩn mực đạo đức cơ bản truyền thống của người Việt Chúng tôi, với trách nhiệm của một công dân tự nhận thức rằng: bản thân cần phải
có những hành động đóng góp vào việc bảo lưu vốn cổ của dân tộc
Trang 9Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Vương Duy Trinh trong bài tựa của tập sách
Thanh Hóa quan phong có lời: “Hoặc có khi người ta tiếp xúc với cảnh vật mà sinh
tình có khi nhân sự việc xảy ra mà người ta cảm hứng; hoặc người ta truy niệm luân thường mà nảy sinh lòng hiếu hữu; người ta khen ngợi Thần Phật quá đáng mà tấu thành chương” [152, tr 9] Lời này cho chúng ta một định nghĩa về ca dao – dân ca, đồng thời cho thấy mục đích sáng tác cũng như đã giới thiệu khái quát nội dung phản ánh của ca dao – dân ca Trong đó hé mở một vấn đề: cùng với mục đích phục
vụ cho tín ngưỡng Phật giáo, dân ca còn là tâm tình của những trắc ẩn về thế sự, về cách hành xử ở đời mà triết lý Nho giáo được lấy làm chuẩn mực Bước đầu công trình đã xác định sự tiếp biến đạo đức Nho giáo trong ca dao – dân ca
Năm 1914, Nguyễn Văn Mại với Việt Nam phong sử đã sưu tập và lý giải ca dao theo tinh thần: “Lấy phong dao làm gương sáng mà chiếu tinh thần quốc sử” và
“lấy quốc sử làm căn bản” [100, tr.115 ] Ông đã phân tích, lý giải một số sự kiện lịch sử thông qua ca dao Nói cách khác, theo ông, ca dao – dân ca đã phản ánh, ghi lại nhiều sự kiện lịch sử Tuy trong quá trình lý giải, ông đã chủ quan suy diễn một
số bài ca dao không liên quan gì đến lịch sử gắn với sự kiện lịch sử, nhưng việc làm của ông đã cho thấy ca dao – dân ca là văn bản phản ánh lịch sử Lịch sử nước nhà, xét về lĩnh vực tư tưởng, hẳn không thể không có dấu ấn Nho giáo
Năm 1941, Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, khi chia tục
ngữ ra làm bốn loại, ông đã dùng cụm từ “Những câu tục ngữ thuộc về luân lý” đặt
Trang 10tên cho nhóm một Trong nhóm đó, ông lại tiếp tục chia thành hai tiểu mục a và b, tiểu mục a là những câu tục ngữ “dạy đạo làm người” được hình thành từ triết lý sống của Nho giáo Không đi sâu phân tích ví dụ được dẫn nhưng qua cách nêu vấn
đề của Dương Quảng Hàm, chúng ta thấy ông đã thừa nhận người dân Việt từng tiếp nhận nội dung đạo đức Nho giáo, biến chúng thành phương châm sống và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dưới hình thức những câu từ cô đọng, dễ nhớ, dễ thuộc Còn về ca dao, ông cũng tiến hành phân nhóm tương tự, trong đó có những bài đề cập đến luân lý truyền thống Tuy nhiên, do giới hạn dung lượng nên vấn đề chỉ mang tính điểm lược
Năm 1956, Vũ Ngọc Phan cho ra đời công trình Tục ngữ và dân ca Việt Nam, sau đó được tái bản nhiều lần, đến lần thứ bảy (năm 1971) đổi tên thành Tục ngữ, ca
dao, dân ca Việt Nam Ở phần tiểu luận của công trình, ông đã xác định: tục ngữ, ca
dao, dân ca là sản phẩm tinh thần của tầng lớp bình dân nhưng có sự can thiệp của tầng lớp trí thức nho sĩ Họ là những người tuy không thuộc tầng lớp bình dân nhưng có cuộc sống, tâm tư gần gũi với người dân lao động nên những sáng tác của
họ phần lớn được người dân trân trọng Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, các yếu tố tiêu cực cũng len lỏi vào đời sống người dân, chúng bị xem là những tàn
dư của tư tưởng phong kiến hủ bại và ông đã có lời phê phán gay gắt Thái độ khen, chê một cách khách quan của ông không chỉ cho thấy tính khoa học của công trình
mà còn bước đầu xác định tính đa dạng, nhiều mặt của các yếu tố Nho giáo trong văn bản tục ngữ, ca dao – dân ca, qua đó phản ánh tình hình tiếp nhận tư tưởng Nho giáo của tầng lớp bình dân khá phức tạp
Năm 1962, tập thể tác giả công trình Dân ca quan họ Bắc Ninh đã có hướng
tiếp cận nhiều mặt Trước khi giới thiệu phần sưu tập, các tác giả đã phân tích một cách tỉ mỉ, toàn diện về những vấn đề có liên quan đến quá trình hình thành cũng như phát triển của dân ca quan họ Bắc Ninh, đi từ việc tìm hiểu cơ sở hạ tầng, vị trí địa lý đến những phong tục tập quán, lề lối hát quan họ, giọng hát đến nội dung, quá trình hình thành và phát triển của dân ca quan họ… Trong quá trình tìm hiểu, phân tích những yếu tố có liên quan, nhóm tác giả đã đưa ra nhận định về hình thức cho
Trang 11thấy sự ảnh hưởng của phép tắc, lễ nghi Nho giáo qua các hành vi giao tế của người dân quan họ Các tác giả công trình viết: “Trong xã giao của những quan họ bạn, ta thấy nổi bật khía cạnh quý mến kính trọng nhau, nhưng cũng không sao tránh khỏi ảnh hưởng lối phép tắc xã giao của luân lý đạo đức phong kiến” [159, tr 26] Thông qua nhận định mang tính cục bộ của nhóm tác giả, chúng ta thấy đạo đức, lễ nghi Nho giáo không những ảnh hưởng trên bình diện chung về chuẩn mực hành vi xã hội mà còn chi phối đến cả loại hình ca hát dân gian, một sinh hoạt mang tính văn hóa bản địa của riêng tầng lớp lao động Sự ảnh hưởng đó không dừng ở hình thức ứng xử mà đi vào cả tâm hồn người nghệ sĩ, thể hiện qua nội dung lời hát của các liền anh, liền chị Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, những ảnh hưởng này mang tính tiêu cực, do đó là sản phẩm của giai cấp phong kiến thống trị Họ đưa ra nhận định:
“Như ở trên đã trình bày, cũng như mọi hình thức văn học nghệ thuật dân gian khác, ngoài những phần tiến bộ, còn có những mặt hạn chế của nó, tức là những ảnh hưởng về luân lý, đạo đức, luật lệ phong kiến…” [159, tr 109] Trên quan điểm giai cấp, nhóm tác giả đã chỉ ra những khía cạnh tiêu cực do sự ảnh hưởng từ đạo đức luân lý Nho giáo, cả về hình thức ứng xử lẫn quan niệm sống của người dân quan
họ, thể hiện qua loại hình dân ca quan họ Đây là hiện tượng tương tác giữa các biểu tượng văn hóa (interculturality) xảy ra trong một cộng đồng có sự tồn tại đa dạng văn hóa (cultural diversity) vì thế, vấn đề không thể nhận xét theo một khía cạnh
Nguyễn Đăng Thục, trong bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam (xuất bản lần
đầu từ những năm 1967 đến 1973), tập 1 (1967), đã vận dụng ca dao – dân ca để chứng minh cho hệ tư tưởng dân gian Việt Nam Ông ghi nhận lịch sử tư tưởng Việt Nam có sự tiếp thu hệ thống tư tưởng Nho, Phật, Đạo, điều đó được phản ánh trong
ca dao – dân ca Ông trích ca dao để chứng minh: “Tam tùng tích hãy còn ghi/ Bé nương cha mẹ, già thì theo con” [134, tr 450] và ông kết luận: “Trên đây là tư tưởng Nho giáo đã phổ cập xuống bình dân một cách đầy đủ…” [134, tr 451] Tuy nhiên, với mục đích nghiên cứu lịch sử tư tưởng, căn cứ vào ca dao – dân ca để tìm hiểu nội dung tư tưởng của tầng lớp bình dân Việt Nam nên ca dao – dân ca chỉ là tài liệu dùng làm dẫn chứng, minh họa, không phải là đối tượng nghiên cứu
Trang 12Nguyễn Thị Huế (1986), khi tiến hành tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong
ca dao – dân ca cũng ghi nhận: “Những chữ, những câu, những điển tích, những ý nghĩa của kinh truyện, những lời giáo huấn của thánh hiền, sau này lúc đi ví đi hát
đã được cô vận dụng vào câu ví, câu hát của mình khá tài tình” [60, tr 129] Thông qua sự khẳng định tài năng của cô Nhẫn cũng như những cô gái khác, tác giả đã gián tiếp chứng minh tính bác học mà các yếu tố văn hóa phi bình dân, trong đó có các điển, các biểu tượng văn học có nguồn gốc từ Nho giáo, được đưa vào ca dao – dân ca Bài viết đã phản ánh phần nào tình hình tiếp nhận Nho giáo của tầng lớp bình dân, đặc biệt là phụ nữ – những người không được trực tiếp tiếp xúc với kinh sách thánh hiền
Năm 1987, Nguyễn Đức Dân, trong bài viết “Đạo lý trong tục ngữ” đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu Văn học, theo hướng tiếp cận cấu trúc câu để đi vào nội dung
đạo lý của các câu tục ngữ Cùng với khái niệm “biểu trưng”, hướng tiếp cận này nhằm đưa ra một cách nắm bắt ý nghĩa thâm sâu của các câu tục ngữ, giới hạn trong bài viết là triết lý đối nhân xử thế giữa người với người, giữa người với các hiện tượng tự nhiên và xã hội Qua quá trình phân tích và kiến giải tác giả đã gợi mở hướng tiếp cận nội dung tục ngữ theo phạm trù
Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong tổng tập lịch sử văn học Việt Nam,
tập 1, phần giới thiệu Văn học dân gian (1991) đã đi sâu hơn trong việc tìm hiểu
từng bước quá trình hình thành và phát triển cũng như tình hình nghiên cứu văn học dân gian Khi khẳng định vai trò của tầng lớp nho sĩ, đặc biệt là nho sĩ bình dân, trong sáng tác văn học dân gian, hai ông đã kết luận: “Nếu như những người này (nho sĩ bình dân) có đem vào nội dung và hình thức của tác phẩm dân gian ảnh hưởng của Hán học thì đó là lẽ tự nhiên” [66, tr 293] Hai tác giả đã khách quan khẳng định sự có mặt của các yếu tố Hán học, văn hóa bác học trong ca dao – dân
ca là điều tất yếu, bởi vì một phần các sáng tác dân gian nói chung là tác phẩm của các bậc túc nho Riêng đối với ca dao – dân ca, nếu không sáng tác trực tiếp thì họ cũng can thiệp bằng hình thức mớm lời trong các cuộc hát đối đáp Dưới cái nhìn khách quan và cởi mở, hai nhà nghiên cứu đã khẳng định một số nội dung Nho giáo
Trang 13có mặt trong văn học dân gian: “ Họ đã đem vào nội dung của văn học dân gian những quan niệm trung, hiếu, tiết, nghĩa ”; còn về hình thức thì: “ Họ đã đem vào hình thức văn học dân gian, đặc biệt là vào các loại dân ca, những từ ngữ và
điển cố, Nho học, Phật học ” [66, tr 293] Sau đó, hai tác giả đã dẫn chứng, phân
tích một số tư liệu về sự tham gia sinh hoạt, sáng tác ca dao – dân ca của các bậc túc nho để cho thấy sự xuất hiện tất yếu của các yếu tố phi bình dân trong ca dao – dân
ca Như vậy, hai tác giả một lần nữa khẳng định nguồn gốc của các yếu tố Nho giáo trong ca dao – dân ca và xem ca dao – dân ca như là một phương tiện phổ biến Nho giáo đến người dân
Năm 1996, Ninh Viết Giao trong phần tiểu luận của bộ sách Kho tàng ca dao
xứ Nghệ và phần tiểu luận của tập sách Hát phường vải – dân ca Nghệ Tĩnh xuất
bản năm 2001, cũng với mục đích tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của ca dao – dân ca, tác giả đã nhấn mạnh thành phần sáng tác ca dao – dân ca có tầng lớp nho sĩ hoặc những người chịu ảnh hưởng nền học vấn Nho gia Ninh Viết Giao đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể về việc tham gia sáng tác ca dao – dân ca của các học trò cửa Khổng sân Trình Thành phần nghệ nhân này rất đa dạng: người còn đang tại vị, người đang hoạt động vì dân vì nước hoặc người đã vãng thời và có cả những người học lóm chữ Nho… Ông đã cất công đi tìm, sưu tập những bài ca dao – dân ca còn tên tác giả để chứng minh cho sự can thiệp sâu sắc của các nhà nho vào sự “thay đổi chất” của hát phường vải Ông kết luận: “Nhìn chung, loại nghệ nhân dân gian có bước qua “cửa Khổng sân Trình” ở Nghệ Tĩnh đã từng tham gia sinh họat hát phường vải với nhân dân có thể được xem là cái cầu sống nối liền giữa văn học dân gian và văn học bác học” [49, tr.132] Tuy kết luận giới hạn trong mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết nhưng trong quá trình phân tích về nội dung, cách thức trau dồi kiến thức để đi hát của các nghệ nhân, ông đã gián tiếp cho biết sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, văn học Việt Nam qua việc xuất
hiện của các điển cố, điển tích từ văn học Trung Quốc, văn học Việt Nam trong Hát
phường vải – dân ca Nghệ Tĩnh và cả những bài ca dao người Việt trong Kho tàng
ca dao xứ Nghệ Ông cũng đã tập trung phân tích những dẫn chứng để chứng minh
Trang 14nền tảng kiến thức phục vụ cho việc sáng tác câu hát của các nghệ nhân xứ Nghệ là
từ sách vở Nho gia Qua phân tích, tác giả đã xác lập con đường cơ bản và trực tiếp đưa các yếu tố Nho giáo vào ca dao – dân ca Đó cũng chính là một trong số những phương tiện hữu hiệu mang đạo đức, luân lý Nho giáo vào đời sống người dân lao động Những phương tiện khác sẽ được chúng tôi giới thiệu trong phần nội dung của luận án
Năm 1998, Huỳnh Ngọc Trảng trong Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh, phần
tiểu luận, sau những kiến giải, phân tích, chứng minh quá trình hình thành và biến đổi về hình thức của các câu hò, câu hát Nam bộ, ông dùng kết cấu nghịch nhân quả
để khẳng định tính cố hữu của những nội dung có liên quan đến đạo đức Nho giáo Ông viết: “Tuy nhiên, mặc dù những biến đổi có phần mới mẻ như vậy, song nội dung của câu hò, lời hát huê tình ấy vẫn còn đặt cơ sở trên căn bản đạo lý truyền thống Khổng Mạnh” [151, tr 13] Cách lập luận của tác giả cho thấy nội dung mang tính chi phối câu hò, câu hát của người dân Nam bộ là đạo lý Nho giáo, mà ở đây tác giả cho là Nho giáo Khổng Mạnh Chính cách xác định “loại” Nho giáo của tác giả đã thể hiện sự chủ động chọn lọc, tiếp nhận Nho giáo của người dân Nam bộ Tuy nhiên, vấn đề chỉ được gợi mở trong một nhận định tổng quan, còn nhiều khía cạnh khá phức tạp cần làm rõ để nhận định này mang tính thuyết phục hơn
Nguyễn Nghĩa Dân trong công trình Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt
Nam, xuất bản năm 2000, theo phương pháp nghiên cứu lịch sử đã tìm thấy sự ảnh
hưởng của các tư tưởng Nho, Phật, Đạo trong tiến trình phát triển của ca dao – dân
ca Nguyễn Nghĩa Dân cho rằng: “Những nhân tố tích cực tiến bộ của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo có thể do từng tầng lớp nho sĩ, sư tăng gián tiếp tác động hoặc trực tiếp tiếp nhận, được phản ánh khá nhiều với số lượng lớn trong tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm người” [37, tr 10] Điều đặc biệt là tác giả đã khách quan nhìn nhận những ảnh hưởng tích cực của các hệ tư tưởng trên đối với những chuẩn mực đạo đức của người dân thông qua tục ngữ, ca dao Nói cách khác, các tư tưởng này
đã ảnh hưởng lớn đến nội dung về “đạo làm người” trong tục ngữ, ca dao Những quan niệm về đạo đức của các hệ tư tưởng trên đã hòa vào những chuẩn mực đạo
Trang 15đức dân gian và trở thành những nội dung riêng có của người dân Việt Nam Tác giả cũng có những ý kiến đánh giá cao sự tiếp thu linh hoạt, chủ động, khả năng sáng tạo của người dân Ngược lại, hầu như bỏ qua những giá trị nhân bản mà tự thân các tư tưởng trên hàm chứa, nên cũng không thể thấy được những đóng góp thực sự của các tư tưởng trên trong nội dung “đạo làm người” của tục ngữ, ca dao cũng như hệ thống đạo đức tốt đẹp của người Việt
Lê Huy Thực đã khẳng định tinh thần trọng Đạo của người dân Việt thông qua bài viết “Đạo đức – một giá trị được tôn vinh trong kho tàng tục ngữ, thơ ca dân
gian Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học chính trị, số 6, năm 2003 Tác giả đi
vào một khía cạnh nội dung của tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt bằng cách xoáy sâu vào quan niệm đạo đức của ông cha ta qua các tình huống biểu đạt Điểm nổi bật của bài viết là tác giả đã cho thấy mối quan hệ giữa đạo đức và lợi ích vật chất Theo tác giả, đây là một trong những lý do tại sao đạo đức được “tôn vinh” trong tục ngữ và thơ ca dân gian Qua bài viết chúng tôi nhận thấy một sự tâm huyết, say
mê đeo đuổi mục đích khẳng định giá trị cổ điển thuộc về nhân cách mà ông cha ta
đã để lại cho chúng ta qua kho tàng tục ngữ, ca dao của tác giả Chính sự nhiệt huyết và say mê ấy đã thúc đẩy tác giả tiến thêm một bước trong việc tìm hiểu về quan niệm đạo đức của ông cha ta qua bài viết với tiêu đề rất hiện đại: “Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam” đăng trên Tạp
chí Triết học, số 09, năm 2005 Theo tác giả, ông cha ta xưa đã dựa vào một số tiêu
chí cụ thể để đánh giá đạo đức của một cá nhân như “hiện thực khác quan”, “cảm nhận trực quan” Tuy nhiên, tác giả cũng phải thừa nhận trong nhiều trường hợp không thể đo lường được phẩm chất, đạo đức của một người khi sự thể hiện quá khôn khéo, vượt khỏi khả năng đoán định của mọi người Mặc dù không trực tiếp đề cập đến Nho giáo, “đạo làm người” nhưng trong quá trình phân tích, dẫn chứng nhiều lần tác giả căn cứ vào những biểu tượng đạo đức Nho giáo như Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa… để luận giải vấn đề và đưa ra quan điểm của mình Vì vậy, có thể nói bài viết đã gián tiếp xác định tính chuẩn mực của các phạm trù đạo đức Nho
Trang 16giáo và sự đóng góp mang tính “cơ sở lý thuyết” của chúng trong quy chuẩn đạo đức của người dân Việt
Trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 04 năm 2006 có đăng một bài viết ngắn của
tác giả Phan Hoa Lý đề cập đến “Quan hệ thầy – trò qua tục ngữ người Việt” Tìm hiểu về mối quan hệ thầy trò nghĩa là tác giả đã chạm tới một đề tài quan trọng mà người dân Việt đã tiếp nhận từ học thuyết Nho giáo Tác giả đã tiến hành một cách
công phu khi khảo sát 16.098 câu tục ngữ trong Kho tàng ca dao người Việt do
Nguyễn Xuân Kính chủ biên để rút ra con số 0,12% là tỉ lệ có mặt của những câu tục ngữ đề cập đến mối quan hệ thầy – trò Qua con số tác giả đã đặt vấn đề: có sự mâu thuẫn giữa một dân tộc vốn coi trọng đạo lý nhưng lại rất ít quan tâm đến giáo dục thông qua sự thể hiện “quá kiệm lời” Đặt ra một vấn đề thâm sâu nhưng ở phần cuối tác giả đã kết luận một cách suy diễn, thiếu cơ sở khoa học khi cho rằng:
“Dưới thời phong kiến, số người được đi học rất ít Việc học hành là mối quan tâm của thiểu số, bởi vậy, tục ngữ ít đề cập đến đề tài này” [98, tr 67] Với kết luận như vậy, cho thấy tác giả chưa thật sự tìm hiểu thấu đáo ngọn ngành vấn đề Trong phần xác định những nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập của Nho giáo vào đời sống văn hóa người dân, chúng tôi sẽ giới thiệu những con số cụ thể về tình hình học tập thi
cử của nước ta trong thời kỳ phong kiến làm cơ sở để đối chiếu với nhận định của tác giả
Gần đây, hai tham luận của Nguyễn Xuân Diện và Nguyễn Duy Hinh tại hội thảo quốc tế do Viện nghiên cứu Hán - Nôm Việt Nam và Viện Harvard – Yenching Hoa Kỳ tổ chức năm 2007 cũng đã đặt ra một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ của Nho giáo và văn hóa dân gian Cả hai một lần nữa khẳng định sự can thiệp của tầng lớp trí thức nho sĩ Việt Nam vào quá trình hình thành nên những công trình sưu tầm tục ngữ, ca dao Tham luận của Nguyễn Xuân Diện với nhan đề “Trí thức Nho giáo với việc Nho giáo hóa xã hội (làng xã: từ góc nhìn tư liệu học - foklore)” cho thấy những hoạt động cụ thể của nho sĩ trong việc truyền bá Nho giáo, trong đó có hoạt động sưu tập, lưu giữ và sáng tác văn học dân gian cũng như nghệ thuật sân khấu dân gian Còn Nguyễn Duy Hinh trong tham luận “Nho giáo với văn hóa dân
Trang 17gian, đôi điều suy nghĩ”, theo cách giới thiệu và tái khẳng định sự có mặt của Tam giáo trong tục ngữ, đã điểm lược một số câu mang nội dung Tam giáo, cũng như điển tích Bắc sử… được các thầy đồ dẫn dụng vào tục ngữ, trong đó có một số câu
“thể hiện tư tưởng Khổng giáo” [161, tr 723]
Năm 2007, với đề tài luận văn thạc sĩ: Ảnh hưởng của văn hóa bác học trong
ca dao dân ca người Việt, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê sơ bộ về sự có
mặt của các yếu tố Nho giáo trong ca dao – dân ca người Việt cùng với các yếu tố khác: Phật, Đạo, văn học viết… Ở góc nhìn văn hóa, xem sự ảnh hưởng của Nho giáo vào ca dao – dân ca vào hệ thống giá trị đạo đức người Việt là kết quả của sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa, chúng tôi đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Nho giáo vào đời sống tinh thần người dân Việt thông qua ca dao – dân ca Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy những phân tích, kiến giải về Nho giáo trong luận văn chưa đủ độ sâu vì phải chia sẻ dung lượng với những nội dung khác để đáp ứng yêu cầu của đề tài Hơn nữa, khảo sát chỉ giới hạn trong thể loại ca dao, chưa bao hàm
cả tục ngữ, nên vấn đề còn nhiều khía cạnh cần bổ sung Quan trọng hơn là trong quá trình phân tích, chúng tôi chưa tiến hành truy nguyên nguồn gốc của các biểu tượng đạo đức Nho giáo trong ca dao – dân ca người Việt, nhằm đối chiếu, làm rõ những giá trị đạo đức cốt lõi mà Nho giáo đóng góp vào tâm thức, vào truyền thống dân tộc Việt, cũng như phân tích nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với hệ tư tưởng bình dân Kết quả của sự so sánh, đối chiếu còn có thể làm nổi bật tinh thần chủ động, sự tinh nhạy, khả năng sáng tạo tuyệt vời của bao thế hệ người Việt xưa trong quá trình tiếp nhận và biến đổi văn hóa ngoại sinh, làm nên bản sắc người Việt hôm nay nhưng chúng tôi chưa có đủ điều kiện để tiến hành Giải quyết những gì còn tồn tại ở luận văn thạc sĩ là mục tiêu mà luận án tiến
sĩ chúng tôi đặt ra
Như vậy, dấu ấn của Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt đã được nhận diện từ rất lâu Tuy nhiên, vấn đề chỉ được điểm qua để nội dung nghiên cứu có tính khái quát và toàn vẹn hay nhằm phục vụ cho nội dung nghiên cứu khác Trong khi tìm hiểu sự ra đời của tục ngữ, ca dao – dân ca, các nhà nghiên cứu đã
Trang 18khẳng định sự tham gia sáng tác của các bậc túc nho, tầng lớp sĩ dân hoặc những người được tiếp nhận hệ thống giáo dục Nho giáo Các nhà nghiên cứu đi trước có
xu hướng xem đó là nguyên nhân, là cái gốc để lý giải sự xuất hiện của các yếu tố
có liên quan đến Nho giáo nên hầu hết các công trình chỉ dừng lại ở việc chỉ ra sự
có mặt và nguyên nhân xuất hiện của Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca Thậm chí nếu được khẳng định là nội dung tư tưởng nền tảng của tục ngữ, ca dao – dân ca thì đạo đức Nho giáo, các yếu tố liên quan đến Nho giáo cũng chỉ là một phần trong nghiên cứu chung về những ảnh hưởng của văn hóa bác học trong tục ngữ, ca dao – dân ca Đồng thời, theo quan điểm giai cấp, các nhà nghiên cứu thường cho rằng Nho giáo mang đến cho đời sống tinh thần người Việt những quan niệm đạo đức phong kiến hủ bại Một số công trình thể hiện sự khách quan trong những đánh giá tích cực về hệ thống giá trị đạo đức Nho giáo thì lại nghiêng về sự tiếp biến chủ động và sáng tạo của chủ thể văn hóa bình dân, không quan tâm đến giá trị cốt lõi mang tính nhân văn của Nho giáo, mà chính yếu tố này là một trong những nguyên nhân quan trọng để Nho giáo được chào đón trong ngôi nhà văn hóa chung của người Việt Nhiệm vụ chúng tôi đặt ra cho công trình này là giải quyết thấu đáo những vấn đề trên Đối chiếu với tư tưởng bản địa, chúng tôi muốn phác họa một bức tranh tổng thể về thực tế biến đổi diện mạo văn hoá của dân tộc Việt
do những đường nét tiếp biến Nho giáo khắc họa trên nền tư liệu tục ngữ, ca dao – dân ca.
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong công trình này chúng tôi tập trung vào các phạm trù Nho giáo, những biểu tượng văn học có nguồn gốc Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca và tiến hành khảo sát, nhận dạng chúng để làm rõ đâu là yếu tố bản địa, đâu là yếu tố tiếp nhận và biến đổi từ Nho giáo trong nội dung “đạo làm người” của tục ngữ, ca dao – dân ca Đồng thời qua đó xác định vị trí của đạo đức Nho giáo trong quan niệm truyền thống của người dân Việt, chứng minh tính hiện đại của đạo đức Nho giáo
đối với xã hội hiện nay
Trang 19Hiện nay có rất nhiều công trình sưu tập tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt, bên cạnh những phần tinh tuyển tục ngữ, ca dao – dân ca trong các bộ tổng tập văn học, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thu thập, tổng hợp tục ngữ, ca dao – dân ca đầy đủ, bao quát hơn trong những bộ sách riêng, trong đó nổi bật nhất là hai bộ sưu tập ca dao và tục ngữ riêng biệt của nhóm tác giả, do Nguyễn Xuân Kính chủ biên
Bộ ca dao có tên Kho tàng ca dao người Việt, gồm hai tập với 12.487 câu, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2001 và bộ Kho tàng tục ngữ người Việt, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2002 Trong bộ Kho tàng tục ngữ người
Việt có một số câu đã được đưa vào Kho tàng ca dao người Việt, vì vậy, khi chọn
hai bộ sách làm tài liệu khảo cứu cơ bản, chúng tôi phải kiểm đếm lại, loại bỏ những câu trùng lặp (có hình thức là một bài ca dao, một câu 6 và một câu 8), xác định con số thực tế, để có những kết quả thống kê chính xác
Có thể nói cho đến nay, đây là hai công trình có số lượng sưu tập về tục ngữ,
ca dao lớn nhất, dựa vào nguồn tư liệu đa dạng và bao quát nhất so với một công
trình khác là Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam của Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn thuộc Viện Văn học Tập IV của công trình này được chia làm hai quyển: quyển 1 về tục ngữ, ca dao; quyển 2 về dân ca Vì đặc tính tuyển chọn nên
số lượng tục ngữ, ca dao trong công trình này hạn chế hơn so với công trình của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính Trong lời nói đầu, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính đã cho thấy một khối lượng tài liệu được tập hợp rất lớn, gồm 40 cuốn (với 49 tập) đã được biên soạn từ cuối thế kỷ XVIII đến năm 1975 Công trình được chỉnh
lý bổ sung liên tục trong suốt 25 năm (từ 1974 đến 1999), cuối cùng nhóm tác giả
đã cho ra đời một tổng tập ca dao đồ sộ với mục đích “đem đến cho bạn đọc một công cụ giúp cho việc tìm hiểu, thưởng thức ca dao, dân ca ở nhiều góc độ, với nhiều yêu cầu khác nhau” [74, tr 49] Cũng với tinh thần, phương pháp và mục đích như vậy, nhóm cũng đã hoàn chỉnh bộ tổng tập về tục ngữ, được Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian xếp loại xuất sắc Công trình đã lập nhiều kỷ lục:
Lần đầu tiên có một công trình giới thiệu với số câu tục ngữ nhiều nhất (16 098 câu, số liệu tác giả đưa ra Sau khi chúng tôi loại bỏ một số câu
Trang 20đã được giới thiệu trong Kho tàng ca dao người Việt, con số còn lại phục
vụ cho việc thống kê của chúng tôi là 15.331)
Lần đầu tiên có một công trình chú giải được nhiều câu tục ngữ nhất Lần đầu tiên có một công trình giới thiệu tục ngữ theo nhiều hệ thống [76,
tr 7]
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn hai công trình này làm tài liệu khảo sát chính, kết hợp đối chiếu bổ sung với một số tài liệu khác có liên quan
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp liên ngành là phương pháp nổi bật trong công trình này vì đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề đòi hỏi phải có sự hỗ trợ tư liệu
từ nhiều lĩnh vực: triết học, lịch sử, văn hóa, văn học, văn hóa dân gian, pháp luật… Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận đối tượng ở nhiều góc độ, để có vái nhìn toàn diện và khách quan, đồng thời có đủ cơ sở để cọ sát, đối chiếu và cả tổng hợp kiến thức nền nhằm phục vụ cho việc phân tích, chứng minh, kiến giải đưa đến kết
luận trong công trình
- Phân tích là phương pháp được ưu tiên để phục vụ cho việc tìm và lý giải các phạm trù Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt, xác định đâu là Nho giáo trong nội dung tư tưởng chung của mảng văn vần Phương pháp này cũng nhằm mục đích chỉ ra những giá trị về nội dung mà Nho giáo mang đến cho tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt Trong quá trình phân tích, chúng tôi phải vận dụng phương pháp so sánh
- So sánh đối chiếu là phương pháp quan trọng trong công trình của chúng tôi, được thực hiện để xem xét, đối chiếu nghĩa gốc các phạm trù Nho giáo và sự xuất hiện của chúng trong văn bản tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt Từ cơ sở này sẽ làm rõ đâu là yếu tố tiếp nhận, đâu là thành quả của sự tiếp nhận, đồng thời có thể chứng minh sự vận dụng biến chuyển linh hoạt và đầy sáng tạo của các tác giả dân gian khi khai thác những yếu tố phi dân gian
- Để minh chứng xác thực cho những nhận định, chúng tôi tiến hành thống kê đối tượng, đưa ra những con số cụ thể, chính xác, tiến tới quy nạp, cho thấy mức độ
Trang 21và khả năng ảnh hưởng của từng phạm trù Nho giáo Từ đó rút ra những kết luận mang tính khái quát, đảm bảo tính chính xác và khách quan
- Phương pháp lịch sử cũng được chúng tôi vận dụng trong công trình nhưng chủ yếu là để xác định nguyên nhân thâm nhập của Nho giáo vào đời sống người dân và sự xuất hiện của các biểu tượng đạo đức Nho giáo trong văn bản tục ngữ, ca dao – dân ca Vận dụng phương pháp này vào việc tìm hiểu, phân tích các câu tục ngữ, ca dao – dân ca để nắm bắt ý nghĩa là một điều rất khó vì hầu hết hoàn cảnh ra đời của các câu tục ngữ, ca dao – dân ca đã bị lu mờ
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án của chúng tôi là công trình nghiên cứu bao quát, hệ thống đầu tiên về Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt Tập trung vào các phạm trù Nho giáo xuất hiện nổi bật trong mảng văn vần dân gian, công trình xác định nội hàm Nho giáo của từng phạm trù, chỉ ra đâu là tiếp, đâu là biến qua đó xác định cụ thể giá trị tích cực và tiêu cực mà tư tưởng Nho giáo tác động vào đời sống văn hóa người Việt, đồng thời làm rõ thái độ của người Việt đối với tư tưởng Nho giáo nói riêng, văn hóa ngoại lai nói chung Mặt khác, những phân tích và đối chiếu với văn hóa bản địa trong công trình sẽ làm rõ tính bền vững của những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, từ đó có thể tham khảo để làm cơ sở xây dựng khung chuẩn mực đạo đức ở thời hiện đại Qua công trình này, chúng tôi hy vọng mang lại một cái nhìn khách quan và công bằng về vai trò của tư tưởng Nho giáo khi giữ vị trí chủ đạo, chi phối hệ tư tưởng dân tộc Việt
Mặt khác, với phạm vi nghiên cứu mảng văn vần dân gian của người Việt, luận án đưa ra cái nhìn tổng quan về sự ảnh hưởng của Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt, góp phần vào việc nghiên cứu nội dung tư tưởng của tục ngữ, ca dao – dân ca nói riêng và văn học dân gian nói chung
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Xem Nho giáo thuộc hệ thống giá trị tư tưởng, đạo đức văn hóa, chúng tôi vận dụng các nguyên lý tiếp nhận văn hóa để xác định mối tương quan nhiều mặt giữa Nho giáo và đời sống tư tưởng bình dân Việt Nam Đồng thời để thấy được nguyên
Trang 22nhân và mối quan hệ giữa hai hệ tư tưởng, chúng tôi giới thiệu một cách tập trung những lý do khách quan thúc đẩy sự thâm nhập của học thuyết Nho giáo vào đời sống tư tưởng người dân và sự có mặt của các phạm trù Nho giáo trong lời ăn tiếng nói của họ
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Chúng tôi đưa ra những vấn đề mang tính tiền đề làm cơ sở cho những luận điểm trong phân tích, kiến giải sự tiếp nhận và biến đổi các phạm trù Nho giáo ở những chương sau
Chương 2
SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ ĐẠO VÀ THIÊN MỆNH
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT
Sau những nội dung mang tính đề dẫn, chúng tôi đi vào phân tích sự tiếp biến
cụ thể của từng phạm trù Nho giáo Các phạm trù ở đây được chia theo từng mục với nội dung hướng đến từng lĩnh vực khác nhau của Nho giáo Về vũ trụ, chúng tôi khảo sát hai phạm trù Đạo và Thiên mệnh Đây là hai phạm trù được vận dụng phổ
biến, xuất hiện một cách rõ nét trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt
Chương 3
SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ TRUNG – HIẾU, NHÂN – NGHĨA
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT
Về đạo đức nhân văn, chúng tôi đi sâu vào các triết lý làm người đặc trưng Nho giáo: tam cương, ngũ thường nhưng chỉ tập trung vào những biểu tượng nổi bật, xuất hiện tần suất cao trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt như Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa Những biểu tượng khác như Lễ, Tín… xuất hiện với tầng xuất thấp hoặc đã được lồng ghép, hòa tan vào các biểu tượng trên khi xuất hiện trong mảng văn vần của người Việt (Phụ lục, tr.194 – 195), vì vậy, chúng tôi không phân tích
sâu nhưng sẽ được đề cập khi có liên quan
Chương 4
SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ TIẾT TRINH, TAM TÒNG
Trang 23TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT
Người phụ nữ Việt có những chuẩn mực đạo đức riêng, đó là phẩm hạnh Tiết trinh, đạo Tam tòng, vì thế chúng tôi tách thành một mục riêng để khảo sát. Tứ đức
là bốn phẩm hạnh cơ bản Nho giáo tập trung giáo dục người phụ nữ nhưng lại xuất hiện rất ít trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt (Phụ lục, tr.194) nên không đủ điều kiện để chúng tôi tách riêng thành một mục, nhưng sẽ đề cập trong phần Tam tòng vì có liên quan
Trang 24NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Vấn đề tiếp biến văn hóa
“Tiếp biến văn hóa” là cụm từ chỉ sự tiếp nhận và biến đổi đối tượng văn hóa được tiếp nhận thành những biểu tượng văn hóa của chủ thể tiếp nhận Đây là quá trình được tiến hành theo một trình tự nhất định, biểu hiện qua các hiện tượng: “tiếp xúc”, “giao lưu”, “trao đổi”, “biến đổi”… Theo Trần Quốc Vượng, những thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu Việt Nam dịch từ tiếng nước ngoài: Cultural contacts, cultural exchanges, acculturation Riêng acculturation mang sắc thái bao quát được hiểu theo nghĩa “tiếp biến văn hóa” như cách hiểu của Giáo sư Hà Văn Tấn từ định
nghĩa của các nhà nghiên cứu nước ngoài Giáo sư viết trong Giao lưu văn hóa ở
người Việt cổ: “Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm
người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay hai nhóm” [dẫn lại 165, tr 50] Sự diễn dịch này đã hàm ý tiến trình của “tiếp biến văn hóa” qua hai giai đoạn: tiếp xúc và biến đổi “Tiếp xúc” chỉ sự gặp gỡ giữa các nền văn hóa khác nhau của các nhóm người khác nhau, tạo điều kiện cho sự giao lưu, trao đổi và hòa hợp giữa các nền văn hóa để tạo nên những biểu tượng văn hóa mới Quá trình tạo ra biểu tượng văn hóa mới thông qua sự tiếp xúc, giao lưu chính là quá trình biến đổi theo xu hướng
“Những nét lạc hậu, lỗi thời mất dần đi để thay thế bằng những gì được khẳng định
là văn minh, hiện đại” [165, tr 51] Vì mục đích vươn tới sự văn minh, hiện đại, nhu cầu tiếp xúc, giao lưu, biến đổi văn hóa luôn thường trực, mang tính tự nhiên tất yếu của mỗi nền văn hóa
Phan Ngọc cho rằng: “Không có văn hóa tự túc, văn hóa nào cũng cần đến sự giao tiếp để phát triển” [108, tr 16] Trần Quốc Vượng khẳng định: “Cần phải nói ngay là không có một nền văn hóa nào gọi là “thuần túy”, “trinh nguyên vẹn sạch”; trên một ý nghĩa nào đó, nền văn hóa nào cũng “lai” (métise), nghĩa là đã vay mượn
Trang 25một số nét, đặc điểm của nền văn hóa láng giềng hay xa hơn nữa” [166, tr 99]
Dominique Wolton trong Toàn cầu hóa văn hóa cũng hàm ý tương tự: “Và đồng
thời không có nền văn hóa nào không có mối quan hệ, không mở cửa và đôi khi giao tiếp” [41, tr 37] Chính vì thế, thực tế hoạt động giao lưu văn hóa đã có từ thời
xa xưa, khi con người bắt đầu ý thức được vai trò quan trọng của những sản phẩm tinh thần, vật chất mà họ tạo ra đối với sự phát triển, vươn tới sự văn minh của cộng đồng, dân tộc hay quốc gia
Thời cổ đại, các quốc gia hùng mạnh ở phương Tây như Hy Lạp, La Mã đã
có những cuộc trao đổi, học hỏi lẫn nhau trên mọi lĩnh vực để xây dựng và phát triển đất nước Trong lĩnh vực kinh tế: “Người Do Thái và người Hy Lạp cũng đã học ở người Ai Cập những thực nghề như nghề thợ nề, đạc điền, kế toán, luyện kim, dệt vải, làm đồ gốm, nấu nướng và giải phẫu qua cách ướp xác” [34, tr 20] Trong lĩnh vực khoa học và triết học, người Hy Lạp nhờ làm quen với khoa học Ai Cập nên đã thoát khỏi tư duy mê tín dị đoan khi giải thích các hiện tượng tự nhiên [34, tr 52] Ngay cả La Mã, sau khi thôn tính châu Âu và một phần châu Á, trở thành quốc gia hùng mạnh nhất về quân sự, chính trị nhưng về văn học, nghệ thuật người La
Mã vẫn phải học hỏi ở người Hy Lạp Tác giả của Lịch sử văn minh thế giới, phần
nói về phương Tây, nhận xét: “Trong địa hạt văn chương, triết lý và mỹ thuật, người
La Mã không sáng tác được bao nhiêu; họ thích nghiên cứu, bảo tồn và bắt chước những tác phẩm của người Hy Lạp” [34, tr 80] Điều đó cho thấy văn hóa có sức mạnh riêng của nó Văn hóa không những hoàn toàn độc lập với quân sự, chính trị
mà ngược lại, nó còn tạo nên lực ly tâm, thu hút, định hướng cho các hoạt động xã hội khác để đưa con người tiến tới sự văn minh, điều mà quân sự, chính trị không làm được
Ở phương Đông, Trung Quốc với nền văn hóa của dân tộc Hán đã thu hút, chinh phục những dân tộc lớn mạnh như Mông Cổ, Mãn Châu dù những dân tộc này đã thôn tính lãnh thổ của họ, thống trị về chính trị nhưng vẫn bị cuốn theo văn hóa của người Hán, dùng chữ của họ, theo một số phong tục của họ Phan Ngọc
viết trong Bản sắc văn hóa Việt Nam: “Đế chế Mông Cổ sau này, tuy làm chủ Trung
Trang 26Quốc vào năm 1279 hủy bỏ chế độ khoa cử, chống Nho giáo, nhưng năm 1315 vẫn phải phục hồi Nho giáo và việc thi cử vì không thể nào cai trị Trung Hoa bằng cách khác được” [108, tr 182]
Đối với bên ngoài, người Trung Quốc xưa đã thu nhận Phật giáo của Ấn Độ Phật giáo đã có một thời được tôn sùng ở quốc gia rộng lớn ấy Ngày nay, cùng với các tín ngưỡng, tôn giáo khác, nó góp phần tạo nên tính đa dạng trong bản sắc văn hóa Trung Quốc Về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, họ đã học cách trồng lúa nước của một dân tộc nhỏ bé vùng Đông Nam Á S.Oppenheimer khi nghiên cứu về nguồn gốc của nghề trồng lúa nước đã kết luận: “ chúng ta thấy rằng những người
“hoang dã phương Nam” nói tiếng Nam Á ở Đông Dương đã truyền nghề trồng lúa cho người Trung Quốc” [dẫn lại 106, tr.143] Trong số những tộc người “hoang dã phương Nam” ấy có dân tộc nhỏ bé Lạc Việt, là một trong những dân tộc sống trong cái nôi của văn minh lúa nước Dân tộc ấy từ thời cổ đại đã luôn bị đe dọa bởi nạn ngoại xâm, nhưng luôn kiên cường, đoàn kết chống trả để giành lấy và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cho đến ngày nay có tên trên bản đồ thế giới là Việt Nam Làm được điều này, ngoài ý chí kiên cường, lòng yêu nước thương nòi vốn là bản sắc văn hóa của dân tộc, người Việt còn biết cách chủ động chọn lựa, học hỏi những nội dung văn hóa, văn minh của các dân tộc khác để xây dựng và củng cố cho nền tảng tư tưởng văn hóa dân tộc ngày càng vững mạnh nhưng không thiếu sự ôn hòa, linh động mềm dẻo trong bang giao với các dân tộc xung quanh Một trong những tiếp nhận văn hóa nổi bật đã làm nên nền văn hóa Việt đa dạng nhưng đậm đà bản sắc, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng, giữ gìn và bảo vệ tổ quốc Việt Nam là sự tiếp nhận Nho giáo
Mặt khác, chúng ta cũng thấy rõ tính chất lý trí trong giao lưu, tiếp biến văn hóa, dù là với hình thức giao lưu, tiếp biến tự phát hay tự giác, sau khi tiếp xúc, xuất hiện hiện tượng trao đổi, tiếp nhận sau cùng là biến đổi Quá trình này buộc phải có
sự so sánh đối chiếu ngay trong tư duy của chủ nhân nền văn hóa, Phan Ngọc cho
đó là “kiểu chọn lựa”
Trang 27Khi đưa ra khái niệm “kiểu chọn lựa”, Phan Ngọc đã hàm ý đặc tính “ý thức” của văn hóa và nét riêng biệt của mỗi nền văn hóa thông qua một “kiểu chọn lựa” Ông cho rằng trong tư duy của mỗi cá nhân đã có sự cọ xát giữa các mô hình đã được cá nhân tiếp xúc, lưu giữ trong trí óc, trường hợp cần thiết sẽ được khơi gợi và tiến hành chọn lựa để sản sinh ra một hành vi, một thái độ hay một sản phẩm tinh thần, vật chất cụ thể ít nhiều mang nét khác biệt so với trạng thái “thô” Người Việt, người Triều Tiên, người Trung Quốc… dùng đũa, trong khi người Ấn Độ thì dùng tay, còn người phương Tây thì dùng dao và nĩa là chủ yếu Những phạm trù triết học, các khái niệm đạo đức Nho giáo cả Việt Nam lẫn Triều Tiên, Nhật Bản cùng tiếp nhận từ Trung Quốc, nhưng thể hiện cụ thể trong mỗi lĩnh vực, mỗi chuẩn mực đạo đức và hành vi cá nhân có sự khác biệt rất lớn Như vậy, “kiểu chọn lựa” khởi nguyên từ trong tâm thức, thuộc về tư duy, có sự tự chủ trong quá trình đối chiếu so sánh Kết quả của nó cho thấy bản lĩnh, tính cách của mỗi cá nhân và tính bền vững của tâm thức cộng đồng Chính vì thế, khi nhận xét về quá trình vận dụng học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc, Phan Ngọc cho rằng: “Cái mới, cái độc đáo trong một học thuyết không phải ở học thuyết mà ở cách lựa chọn Tác giả chỉ chọn trong truyền thống một phần nào đó, và phát triển chính phần ấy một cách xuất sắc” [108,
tr 216]
Trần Quốc Vượng, trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, cho rằng giao lưu, tiếp biến
văn hóa là một quá trình mà “quá trình này luôn đặt mỗi tộc người phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh” [165, tr 52] Thao tác “xử lý” buộc phải có sự cân nhắc, chọn lựa của chính chủ thể văn hóa Vấn
đề là kết quả của sự chọn lựa, tiếp nhận và biến đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhưng vẫn tập trung vào chủ thể tiếp nhận Trần Quốc Vượng kết luận: “Như thế, quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh đặt ra đòi hỏi với chính tộc người chủ thể là nội lực chính nó, hay nói cách khác là bản sắc và truyền thống văn hóa của một tộc người tiếp nhận” [165, tr 52] “Chọn lựa” thế nào và “xử lý” ra sao phụ thuộc vào trình độ nhận thức, bản lĩnh và trách nhiệm của từng cá
Trang 28nhân đối với cộng đồng, đặc biệt đối với những người có uy tín lớn hay giữ vai trò lãnh đạo cộng đồng, dân tộc
Bên cạnh yếu tố con người, chủ thể tiếp nhận còn chịu sự chi phối của những điều kiện khác, ảnh hưởng nhất định đối với thành quả tiếp nhận, đó là tình trạng và môi trường tiếp nhận Trong điều kiện hòa bình, hai tộc người có quan hệ bình đẳng, chủ động giao lưu văn hóa thì kết quả tiếp nhận là một thành quả, đưa đời sống cộng đồng, xã hội tiến đến văn minh Phan Ngọc cho rằng: “Điều kiện để cho giao lưu văn hóa thành công chính là hòa bình, và sự tiếp xúc càng có kết quả khi giữa hai tộc người không có thành kiến” [108, tr 26] Ông đã so sánh thực tế tiếp nhận văn hóa Trung Quốc của người Việt qua hai thời kỳ: Bắc thuộc và độc lập để
chứng minh cho nhận định của mình Trần Quốc Vượng trong Cơ sở văn hóa Việt
Nam cũng chọn hai giai đoạn này làm dẫn chứng tiêu biểu Tuy nhiên, ông dùng
thuật ngữ khác để mô tả Theo ông: biến đổi văn hóa Trung Quốc của người Việt trong giai đoạn Bắc thuộc là “giao lưu văn hóa cưỡng bức”; khi nước nhà được độc lập là “giao lưu văn hóa tự nguyện” Sau đó, ông cho rằng cả hai hình thức giao lưu văn hóa đều giúp cho người Việt tạo ra khá nhiều thành tựu trong quá trình giao lưu văn hóa [165, tr 57] Điều này có lẽ cần phải bàn thêm vì có phần khác với nhận định của Phan Ngọc và thực tế lịch sử văn hóa, tư tưởng Việt Nam Hình thức “giao lưu văn hóa cưỡng bức” khó có thể tạo ra “thành tựu” vì hình thức giao lưu này rất
dễ gặp sự chống đối hoặc tẩy chay, tình hình tiếp thu Nho giáo ở Việt Nam thời Bắc thuộc và thời thuộc Minh là một thực tế Trong khi đó “giao lưu văn hóa tự nguyện” chủ thể văn hóa chủ động tiếp nhận văn hóa ngoại sinh để nâng tầm văn hóa của chính cộng đồng, xã hội mình, nên luôn có sự sáng tạo, gắn với lý trí Điều này thể hiện rất rõ qua các thao tác được chính ông phân loại:
- Thứ nhất là không tiếp nhận toàn bộ mà chỉ chọn lọc lấy những giá trị thích hợp cho tộc người mình
- Thứ hai là tiếp nhận cả hệ thống nhưng đã có sự sắp xếp lại theo quan niệm giá trị của tộc người chủ thể
Trang 29- Thứ ba là mô phỏng và biến thể một số thành tựu của văn hóa tộc người khác bởi tộc người chủ thể [165, tr 52]
Mỗi thao tác, “chọn lọc”, “sắp xếp”, “mô phỏng”, “biến thể” đều thể hiện một sự tự giác, cân nhắc cẩn trọng đối chiếu với văn hóa nội sinh, tâm thức tộc người sao cho khi nhân rộng những nhân tố văn hóa mới được cộng đồng đón nhận và trân trọng, nghĩa là phải mang đến một bước tiến rõ rệt cho nền văn hóa cộng đồng Nhân tố văn hóa mới luôn là sự kết hợp hài hòa giữa cái “cũ”, những biểu tượng văn hóa bản địa với những nhân tố văn hóa ngoại sinh nhưng đã qua các thao tác “chọn lọc”,
“sắp xếp”, “mô phỏng”, “biến thể” Sự kết hợp tinh tế và thông minh này được Phan Ngọc miêu tả bằng thuật ngữ “vượt gộp”
“Vượt gộp” là từ được Phan Ngọc dịch từ tiếng nước ngoài (aufheben của Đức hay dépassement của Pháp) [108, tr 28], nó có nghĩa là tiếp thu cái mới nhưng đổi mới được nó trên cơ sở một cái cũ cũng đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới Như vậy là bảo vệ được cái cũ lẫn cái mới sao cho thích hợp với sự đổi mới cần phải tiến hành Vì thế, “vượt gộp” không phải nhắm mắt chạy theo cái mới, vứt bỏ cái cũ, cũng không phải khư khư giữ lấy cái cũ, từ bỏ cái mới” [108, tr 29] Cách giải thích của Phan Ngọc về từ “vượt gộp” cho chúng ta một kết luận: thành quả sau thao tác “vượt gộp” đều là những “cái mới” Tuy nhiên “cái mới” này được
kế thừa từ cái cũ nhưng tiên tiến hơn, theo quy luật phát triển hình xoắn ốc
Các bước tiến hành “vượt gộp” được Phan Ngọc mô tả tỉ mỉ:
Con đường vượt gộp không dễ dàng Trong giai đoạn đầu, khi tiếp xúc với một giá trị văn hóa mới từ nước ngoài, thế nào cũng phải trải qua một giai đoạn bắt chước máy móc Có một sự đứt đoạn bắt buộc so với quá khứ Sau đó, là giai đoạn kết hợp một yếu tố nước ngoài với một yếu tố bản địa, nhưng kết quả của sự kết hợp làm người ta cảm thấy có gì lai căng Cuối cùng, là sự vượt gộp đem đến một thành tựu được mọi người chấp nhận, phù hợp với tâm thức dân tộc, nhưng lại không phải cái ngàn xưa Rồi trên cơ sở một sự vượt gộp thành công, sẽ có vô số sự đổi mới, phát triển [108, tr 30]
Trang 30Triết lý làm người mà người Việt luôn tự hào, chính là thành quả “vượt gộp” từ giao lưu văn hóa với các nước khác của ông cha ta, trong đó có hệ thống giá trị đạo đức Nho giáo
Nguyễn Đăng Thục, khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng người Việt, cho rằng trong dân gian Việt Nam lúc bấy giờ đã có sẵn những quan niệm về hiếu đạo, nhân nghĩa, trọng sự học, biểu hiện qua những cử chỉ, hành vi cư xử ở đời Khi Phật, Nho, Đạo vào Việt Nam đã hệ thống hóa những chuẩn mực trên và định hướng cho một số quan niệm sơ khai mơ hồ trong dân gian Ông viết:
Đấy là cả một ý thức hệ của dân tộc Việt Nam xưa, vừa thâu nhận vừa sáng hóa đã kết tinh ra và phổ biến khắp trong nước, làm đường lối thực hiện con người nhân bản toàn diện trong gia đình là đạo hiếu từ, ở gốc quốc gia là đạo trung chính, ra xã hội thế giới là đạo nhân nghĩa Cha Từ, con Hiếu, quân Chính, thần Trung, người thì Nhân Nghĩa Tóm lại đây là
hệ thống Nhân Nghĩa của Nho giáo mà dân tộc Việt đã thâu nhận của người Trung Hoa [134, tr 432]
Môi trường “khúc xạ” văn hóa dân gian đã chuyển các triết lý Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa… của Nho giáo theo một hướng khác, uyển chuyển về nội hàm, cụ thể về đối tượng, không còn mang nặng tính triết lý và chính trị như hệ thống triết lý Nho giáo Bài ca dao sau là một minh chứng cho những kiến giải trên:
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba Chữ trung thì để phần cha Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình
[74, tr 1495] Đối với người dân Việt, thông qua một số phương tiện, họ được tiếp xúc với
hệ thống triết lý đạo đức Nho giáo, xuất hiện hiện tượng tiếp thu cái mới, dung hợp cái mới với văn hóa bản địa, dần hình thành một hệ thống tập tục và tín ngưỡng riêng của dân tộc Việt Nền văn hóa của một dân tộc, quốc gia vượt qua giới hạn về địa lý, tập tục, mở rộng giao lưu với những nền văn hóa bên ngoài lãnh thổ để phát
Trang 31triển và hoàn thiện bản sắc văn hóa riêng Nét đặc sắc đó chính là kết quả của sự
“khúc xạ” văn hóa Môi trường “khúc xạ” chính là những yếu tố về địa lý, tâm thức, văn hóa bản địa nhưng thành quả “khúc xạ” văn hóa phụ thuộc rất lớn vào sự tinh nhạy và ý thức trách nhiệm với xã hội của những người giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiếp nhận nền văn hóa khác Họ là những người thấu hiểu tâm thức dân tộc, nắm rõ quy luật vận động phát triển của tự nhiên và xã hội để tiến hành thu nhận, biến cải, tổng hòa các yếu tố văn hóa nội, ngoại một cách hài hòa, thúc đẩy quá trình xã hội hóa để phổ biến thành nét văn hóa chung của cộng đồng Một sự chọn lựa thiếu tinh tế, vô trách nhiệm rất dễ dẫn đến tình trạng chống đối, tẩy chay hoặc có khả năng đẩy lùi bước tiến của cộng đồng Theo Phan Ngọc, Nguyễn Trãi
và Hồ Chí Minh là hai nhà văn hóa đã thực hiện thành công nhất nguyên lý này Ông dẫn chứng: Nguyễn Trãi đã vượt gộp được cả Nho giáo và truyền thống văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh đã vượt gộp được chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống văn hóa dân tộc [108, tr 29] Riêng về Nho giáo, bên cạnh Nguyễn Trãi chúng ta còn có những nhà lãnh đạo, dưới thời phong kiến là một số nhà cầm quyền tinh thông Nho học, các nhà nho cấp tiến… đã cùng nhau thực hiện thành công quá trình “vượt gộp”, tiếp thu sáng tạo triết lý Nho giáo Chính họ là nhân tố quyết định cho quá trình đưa Nho giáo vào Việt Nam và “xã hội hóa Nho giáo”
1.2 Nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập của Nho giáo vào đời sống văn hóa tầng lớp bình dân Việt
Về mặt lịch sử, Nho giáo đã có mặt ở đất Việt từ thời Bắc thuộc Tuy nhiên, qua một ngàn năm ấy người dân Việt nhìn Nho giáo với con mắt không thiện cảm, Nho giáo là một hệ tư tưởng, văn hóa “ngoại bang” Lý do này làm cho Nho giáo không được chào đón ở đất Việt, mặc dù triều đình phương Bắc luôn cố gắng truyền
bá, phổ biến quan niệm đạo đức Nho giáo vào đất Việt để định hướng dân tộc Việt ngoài lệ thuộc về chính trị còn phải thay đổi phong tục tập quán theo người phương Bắc Kết quả của chủ trương này, Nho giáo chỉ ảnh hưởng giới hạn trong một số đối tượng trí thức và ở khu vực quanh các cơ quan hành chính Diện mạo văn hóa
Trang 32chung của dân tộc Việt chưa có sự biến đổi lớn, ngoại trừ một số phong tục mang tính lễ nghi, hình thức trong tang ma, cưới hỏi
Bước sang thời kỳ độc lập, ở thế tự chủ, triều đình phong kiến Việt Nam đã chủ động tiếp nhận Nho giáo với tư cách là một học thuyết tu thân, hành đạo để xây dựng chế độ phong kiến trung ương tập quyền vững chắc và cũng nhằm khẳng định
vị thế quốc gia trong quan hệ với các nước láng giềng Vì thế, Nho giáo được khai thác cùng với Đạo giáo, phù trợ cho Phật giáo với mục đích rèn luyện đạo đức cho các chính khách và tầng lớp quý tộc, những người có quyền đi học Kinh sách Nho giáo trở thành nguồn tài liệu được tham khảo, dẫn dụng mang tính kinh điển trong các tình huống cần tăng thêm sự thuyết phục cho những quyết sách trọng đại Đến cuối đời Trần, Nho giáo đã được phổ biến trong tầng lớp quan lại quý tộc và đạo đức Nho giáo đã định hướng cho cách hành xử của từng cá nhân trong các quan hệ, đối với tầng lớp quan lại quý tộc phong kiến Trong khi đó, đối với dân chúng, Phật giáo vẫn là tôn giáo được sùng tín nhất, Nho giáo chưa tạo được dấu ấn gì đáng kể trong đời sống tinh thần của họ Tình hình đó được phản ánh qua một số bài văn bia ghi lại lời của các danh Nho Bài văn bia ghi lại lời của Lê Quát:
Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người, sao mà được người tin theo lâu bền như thế! Trên từ vương công dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật, dù đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc Ví ngày nay gửi gắm vào tháp chùa thì trong lòng sung sướng như nắm được khóa ước để lấy được báo ứng ngày sau Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho tận thôn cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng Chỗ nào có người ở tất có chùa,
bỏ đi rồi lại dựng lên, nát đi rồi lại sửa lại, lâu đài chuông trống chiếm đến nửa phần dân cư Đạo Phật thịnh rất dễ mà được rất mực tôn sùng
Ta thuở trẻ đọc sách, khảo xét xưa nay, cũng biết rõ ít nhiều về đạo thánh nhân, dùng để giáo hóa người ta mà rốt cuộc chưa có thể tin theo một hướng Từng dạo xem núi sông, dấu chân đi hàng nửa thiên hạ, mà tìm
Trang 33nhà học và văn miếu thì chưa từng thấy có đâu Do đấy ta rất lấy làm xấu
hổ với tín đồ đạo Phật Bèn viết ra đây để tỏ lòng ta [89, tr 662]
Trương Hán Siêu cũng có tâm trạng tương tự trong bài Văn bia chùa Khai Nghiêm,
nhưng lời lẽ phê phán của ông nhằm vào sự tha hóa biến chất của những kẻ tu hành, lợi dụng Phật giáo để trục lợi, hưởng thụ [16, tr 748] Lời của các Nho gia qua các bài văn bia phản ánh đầy đủ và toàn diện về đời sống tinh thần của người dân Việt Chúng cho thấy đến cuối đời Trần, Nho giáo cũng chỉ quẩn quanh trong cung điện hay kinh đô và một số vùng lân cận Đối với người dân, nó vẫn còn là một sản phẩm
“ngoại quốc” xa lạ Phải chờ đến thời Hậu Lê, sau những nỗ lực làm thay đổi nhận thức xã hội trên mọi phương diện của triều đình, Nho giáo mới bước qua lũy tre,
thâm nhập vào làng quê Việt Nam
Như vậy, về mặt tư tưởng, chỉ đến thời Hậu Lê, Nho giáo mới đủ điều kiện để thâm nhập vào đời sống văn hóa tầng lớp bình dân Chúng tôi sẽ đi sâu vào từng lĩnh vực được nhà Hậu Lê vận dụng như những phương tiện để truyền bá Nho giáo, chỉnh đốn phong tục nước nhà: Tổ chức nhà nước, luật pháp, giáo dục, văn học – nghệ thuật, để làm rõ nguyên nhân tư tưởng Nho giáo thâm nhập đời sống người dân Việt
1.2.1 Tổ chức nhà nước
Mục tiêu “Nho giáo hóa” xã hội của triều đình phong kiến Hậu Lê thể hiện một cách chủ động, quyết liệt qua chủ trương thay đổi nhân sự trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương Lực lượng trí thức nho sĩ đã từng bước thay thế
sư tăng và đạo sĩ ngay trong giai đoạn hậu Trần do mục tiêu trí thức hóa đội ngũ quan lại của triều đình Phần nhiều trong số họ được nhà Hậu Lê trọng dụng Đồng thời triều Hậu Lê còn thúc đẩy quá trình “nho sĩ hóa” bộ máy quan lại tiến nhanh cả
về lượng lẫn về chất
Từ năm 1443 đến 1454, nho thần Trình Bá Cung, Đào Phục Lễ được cử làm Giám sát ngự sử, một chức vụ có trách nhiệm tâu hặc về chính sự hoặc thiếu sót của các quan Nguyễn Trực, Lương Nhữ Hộc được cử giữ chức Hàn lâm học sĩ, Thị giảng – chức vụ thay vua khởi thảo chế biểu, thơ ca, văn thư… Đỗ Nhạc làm Lại bộ
Trang 34thượng thư Đông các đại học sĩ, giữ chức Thiếu bảo; Nguyễn Dự làm Ngự sử đài;
Vũ Duệ – tiến sĩ thời Hồng Đức làm Thượng thư, giữ chức Thiếu bảo… Cũng ở vào thời Hồng Đức, các danh nho được chọn giữ các chức đứng đầu lục bộ Nguyễn Như Đỗ làm Thượng thư bộ Lại; Nguyễn Cư Pháp làm Thượng thư bộ Hộ; Nguyễn Đình Mỹ làm Thượng thư bộ Lễ; Nguyễn Vĩnh Tích làm Thượng thư bộ Hình… và được ban cho phẩm trật tòng nhị phẩm [19, tr 21] Về sau, cả những người trúng trường (đã qua được các kỳ thi hội) cũng được cử giữ chức như những người đỗ đại khoa (tiến sĩ), trừ chức Ngự sử và Sứ thần ngoại giao, hai chức này có can hệ đến phong hóa, pháp điển, quốc thể nên cần người xuất sắc trong mọi lĩnh vực: văn, triết, pháp luật, phép trị nước… Vì thế, chỉ có những người đã đỗ tiến sĩ mới đủ khả năng đảm đương nhiệm vụ đó
Đàm Công Hiệu đời Bảo Thái, Nguyễn Quý Cảnh đời Cảnh Hưng chỉ trúng trường nhưng được cử làm Tham tụng thượng thư; Đỗ Thế Giai làm đến Tự phủ tư
mã [19, tr 70]; Nguyễn Nghiễm được phong đến chức Tư đồ… Những bộ phận khác ở các cấp bậc thấp hơn triều đình cũng chú trọng chọn những người đã lĩnh hội Nho học Triều đình đặt ra định lệ dùng lực lượng nho sĩ để phủ kín các cấp quản lý Nếu những ai đã qua các kỳ thi hương, được sung vào Quốc tử giám học để chuẩn
bị thi hội và thi đình nhưng sau nhiều lần không đỗ thì cũng được bổ dụng Năm
1449, bổ giám sinh (những người đang học ở Quốc tử giám) làm chuyển vận phó sứ các lộ Đây là chức quan mà vào đời Trần chuyên coi giữ tiền thóc và việc kiện cáo trong huyện, đến thời này kiêm cả việc khảo hạch học trò trước khi lập danh sách gửi đi thi hương và được xếp vào hạng chánh lục phẩm [19, tr 31] Năm 1467, vua
Lê Thánh Tông theo lời tâu của Lại bộ thượng thư Nguyễn Như Đỗ cho những người thi hội đỗ kỳ thi thứ hai và kỳ thi thứ ba, đã được sung bổ lại viên các nha môn, nay thi đỗ giáo chức, nên bổ các chức kinh lịch [92, tr 449] Năm 1496, vua lại có chiếu nhắc nhở việc chọn dùng nho sĩ vào các chức vụ ở hiến ty, phủ, huyện, châu: “Hiến ty giữ chức trách tâu hặc, nếu có khuyến viên nào thì chọn người đỗ tiến sĩ, quan văn võ các nha môn, chỉ huy các vệ, ty đã trúng các kỳ thi hội…, quan phủ, huyện, châu phải thống nhiếp các chức thủ lĩnh chăn dân, nếu các hạng giám
Trang 35sinh, nho sinh, học sinh, án lại, lại viên các nha môn thi hội đã trúng nhiều kỳ làm việc lâu năm biết việc, siêng năng và có quân công thì ban đầu được trao các chức Tri huyện, Tri châu, Huyện thừa, Đồng tri châu, Thủ lĩnh, Tự ban…” [92, tr 546] Năm 1509, thời Lê Uy Mục cơ bản vẫn theo như những lệ trên nhưng kèm theo quy định cụ thể về thời gian theo học, số kỳ trúng trường Đến sau thời Trung hưng, nho sinh, sinh đồ được bổ vào các vị trí quan lại ở cấp xã [19, tr 32] Như vậy, ngoài những người đỗ đại khoa, triều đình vẫn tin tưởng nhiều người dù không thể đỗ đạt cao, họ vẫn là những người có tài, có khả năng phụ giúp triều đình điều hành đất nước tùy vào sở học Triều đình bổ khuyết các vị trí từ địa phương đến trung ương bằng lực lượng nho sĩ nếu có điều kiện Các cấp quản lý cần phải “nho sĩ hóa” để đảm bảo tư tưởng của nhà cầm quyền được thống nhất từ trên xuống, từ từng cá nhân đến toàn xã hội Một mặt, triều đình tin tưởng vào tài, trí, đức hạnh của các nho sĩ; mặt khác, đối với triều đình, Nho học là một tư tưởng quan phương, biểu hiện cụ thể qua những con người xuất chúng đó Từ đây, Nho giáo sẽ định hướng cho hệ tư tưởng quốc gia, từng bước điều chỉnh mọi hoạt động xã hội theo hướng
mà nhà cầm quyền mong muốn
Cũng cần nói thêm về hình thức “nhiệm tử”, việc con tiếp nối sự nghiệp của cha xem như là một sự tất yếu Tuy nhiên, vào thời Lê đặc quyền này có sự cân nhắc kỹ lưỡng Hậu thế tiếp nối sự nghiệp của cha phải là những người đủ tài đức, không chấp nhận sự mặc nhiên nhận lãnh trách nhiệm của cha trong điều kiện người con không đáp ứng tiêu chuẩn chung, đặc biệt là nếu chưa từng được tôi luyện trong môi trường Nho học thì càng không thể Vì vậy, để chuẩn bị con đường chính trị của thế hệ sau, những người đứng đầu nhà nước và các viên quan có trách nhiệm đưa ra những chính sách nhằm tạo điều kiện cho con cái họ tiếp thu Nho học một cách tập trung và quy củ Từ nhỏ các “cậu ấm” được đưa vào Quốc tử giám hay các trường riêng dành cho họ, tạo điều kiện để họ lĩnh hội Nho học như Chiêu văn quán,
Tú lâm cục, Sùng văn quán… Tài liệu sử dụng để giảng dạy ở những nơi đó luôn là
Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bắc sử…, đồng thời người học cũng phải học cách viết chế,
chiếu, biểu, văn sách Vào thời Nguyễn, ngoài nhà học của vua còn có các trường:
Trang 36Thập thiên đường, nhà học dành riêng cho các hoàng tử Lúc còn nhỏ, họ được học
các sách Tiểu học, Minh tâm bảo giám, khi lớn hơn một chút thì bắt đầu tiếp cận với các sách chuyên biệt của Nho gia: Tứ Thư, Ngũ Kinh Sau này số hoàng tử tăng lên nên một số nhà học dành riêng cho họ được mở thêm Tôn học đường là một trường
dành cho con cháu hoàng thân, có quy định tuổi và được sát hạch để phân hạng Khi cần bổ dụng họ được chọn để tiến cử, đảm trách một số chức vụ trọng yếu cùng với các quan đã đỗ đại khoa
Cách chọn người để bổ dụng vào các chức quan, mặc dù bằng nhiều hình thức nhưng tiêu chí quan trọng nhất để chọn lựa phải là những người đã qua đào tạo Nho học (trừ một số công thần khai quốc ở thời kỳ đầu) và được kiểm tra, sát hạch về kiến thức, hạnh kiểm một cách nghiêm túc, bất cứ một sự nhầm lẫn cố ý hay vô tình, gián tiếp hoặc trực tiếp đều bị xử tội Các nhân sự Phật, Đạo trước đây vốn được các tiền triều sủng ái, nay đã phải lui ra khỏi cung đình, nhường chỗ cho kẻ sĩ Xu hướng thanh lọc, chọn lấy tinh Nho trong bộ máy nhà nước được tiến hành đồng bộ
và nhất quán Đại quan nếu tin theo tín ngưỡng khác cũng bị biếm phạt Đại đô đốc
Lê Ngân từng bị nhắc nhở việc trong nhà thờ Phật Bản thân con gái ông thờ cúng, tin dùng đạo sĩ cũng bị giáng từ Huệ phi xuống làm Tư dung Vua Lê Thái Tông từng cho chém đầu Quốc tử giám sinh Lê Tứ Dục vì lý do “không chịu học tập, chỉ chuyên nghề bói toán, bùa chú…” [92, tr 348] Thánh Tông theo lời tâu của nho thần Lương Thế Vinh xử tội tướng quân Bùi Huấn vì vi phạm luân thường Theo Lương Thế Vinh, Bùi Huấn là kẻ “tệ bạc trong ân ái vợ chồng, khinh miệt đạo cương thường đến thế (đang có tang vợ mà đi cưới thiếp) Việc này quan hệ đến phong hóa, làm rối loạn nhân luân…” [92, tr 445] Những người nhận lấy trách nhiệm phò tá vua, đưa xã tắc đến chỗ thái bình thịnh trị, nếu không phải là người đã được tu rèn theo đạo đức Nho giáo như các nho sĩ, nho sinh… thì cũng phải là những người sống theo “chính đạo” Người Nho học, đạo đức Nho giáo đã chi phối
bộ máy nhà nước và mọi mặt đời sống sinh hoạt trong cung cũng như từng cá nhân vua, quan, tầng lớp quý tộc phong kiến Từ đây lực lượng nho sĩ trở thành nòng cốt, tiên phong trong công cuộc đưa “chính đạo” thấm nhuần đến người dân, hướng một
Trang 37số tập quán, phong tục dân tộc theo triết lý Nho giáo Phương tiện hữu hiệu nhất, đóng vai trò thống nhất tư tưởng xã hội có sự tham gia lèo lái của tầng lớp nho sĩ là luật pháp
1.2.2 Luật pháp
Vua Lê Thái Tổ khi vừa mới lên ngôi đã xuống chiếu: “Từ xưa đến nay, trị
nước phải có luật pháp, người mà không có phép để trị thì loạn Cho nên bắt chước
đời xưa đặt ra pháp luật, để dạy các quan, dưới đến nhân dân, cho biết thế nào là thiện ác, điều thiện thì làm, điều ác thì tránh chớ có phạm pháp” [90, tr 88] Tuy nhiên, với khoảng thời gian sáu năm trị vì còn quá nhiều việc phải tu chỉnh, vua chưa thể tập trung vào việc xây dựng một hệ thống luật pháp hoàn bị, chỉ ban ra những lời huấn dụ mang tính tức thời Phải đến đời vua Lê Thánh Tông mọi việc mới được tu chỉnh, sắp xếp, quy định một cách quy củ và hệ thống, trong đó có luật
pháp Vua Lê Thánh Tông cho biên soạn bộ luật Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức),
nội dung bộ luật được tập hợp chỉnh sửa từ một số điều luật ở các đời trước có bổ sung thêm, còn lưu lại nguyên vẹn đến ngày nay Chúng tôi sẽ nói kỹ hơn về bộ luật
này ở phần sau Ngoài ra, vua còn cho biên soạn Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức
thiện chính thư là những bộ sách còn lưu lại một số điều luật được ban hành vào
thời Lê Sơ Năm 1511, vua Tương Dự ban Trị bình bảo phạm, gồm 50 điều Thời
Lê Trịnh, các vua chúa hầu hết kế thừa nguyên vẹn hệ thống luật pháp của tiền triều Những người đứng đầu nhà nước trong giai đoạn này không những không ban hành luật lệ mới mà còn chủ trương bảo giữ, phát huy những quy định đã được ban bố từ các bộ luật trước Đến thời nhà Nguyễn, vua Gia Long kế tục, tham khảo thêm luật
nhà Thanh, cho ra bộ Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long)
Đây là thời kỳ Nho giáo được chọn làm tư tưởng chủ đạo, vì thế, một phương tiện có khả năng định hướng và thống nhất tư tưởng quốc gia như luật pháp tất phải được các nhà cầm quyền sử dụng vào việc phổ biến Nho giáo Hơn nữa, việc chỉnh sửa phong tục, tập quán, tu rèn đạo đức để mọi người theo về với điều thiện là một trong hai nhiệm vụ trị an mang tính cấp bách của các triều đại từ Hậu Lê đến
Nguyễn Vua Lê Thánh Tông khẳng định: “Lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân, nông tang
Trang 38để có đủ cơm áo Hai điều đó là việc cần kíp của chính sự, là chức trách của các
quan nuôi giữ dân” [92, tr 526] Pháp luật của hai triều Hậu Lê, Nguyễn đã cụ thể
hóa ý chí, chủ trương của các nhà cầm quyền bằng cách tập trung vào giáo hóa người dân theo chuẩn mực đạo đức do Nho giáo xuất xướng: Trung, Hiếu, Nhân, Lễ, Nghĩa, Đễ, Tiết trinh… Thông qua các điều luật, triết lý “tu thân hành đạo” của Nho giáo đã trở thành những quy phạm về đạo đức nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và ngăn cấm những hành vi tổn hại đến luân thường Nho giáo Các vi phạm thuộc về những chuẩn mực trên được xếp vào hàng thập ác, có thể bị xử chém Trật
tự xã hội được quy định đứng đầu là vua, đến thầy, sau đến cha Ở vị trí là một người con, bổn phận một công dân phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn đạo đức: Trung với vua, Nghĩa với thầy và Hiếu với cha mẹ Chỉ xét trong mười điều ác
của Luật Hồng Đức đã có bốn điều (1, 2, 3, 4) tập trung vào răn trị lễ quân thần,
mưu phản, chống đối nhà nước, đập phá tông miếu sơn lăng, lấy trộm đồ dùng của vua, vạch bày và chỉ trích mạnh tình lý của vua… là những điều đại ác Hai điều quy về tội bất hiếu, còn những điều khác thuộc nội dung: bất đạo (giết ba người trong một nhà), bất nghĩa (giết thầy học), bất mục, loạn luân… Ngoài ra, trong các điều mục luôn có những ngoặc mở đóng đề cập đến bổn phận và tiết hạnh của người phụ nữ: khi là tố cáo chồng, khi là chồng chết mà không khóc, gian dâm… đều bị xem là phạm trọng tội Điều đó cho thấy sự đặc biệt nghiêm khắc đối với phẩm hạnh của người phụ nữ, trói buộc họ phụ thuộc cả đời vào người đàn ông Đạo đức Nho giáo giờ đây không giới hạn trong phạm vi luân lý mà đã trở thành luật định bắt buộc, áp dụng cho toàn xã hội
Song song với hệ thống pháp luật nghiêm minh, quy định chặt chẽ các hình thức thưởng phạt rõ ràng, các vua luôn chủ trương “Lấy pháp luật mà trị tội, sao bằng lấy lễ phép mà bảo trước, để cho họ nhà vua ngày một nhiều thêm có đủ chỗ
mà nương mình Nay định giới hạn, người nào còn dám tái phạm thì như luật trị tội” [90, tr 277] Các vua thường ban hành sắc chỉ, huấn dụ… để cho dân hiểu rõ ý chí, nguyện vọng của mình trước, cốt là giáo trước trị sau, tránh sự hà khắc không cần thiết hoặc oan sai cho người không đáng phải tội Khi mới lên ngôi, vua Lê Thái Tổ
Trang 39đã ban sáu điều dụ quân nhân để nhắc nhở về bổn phận, nghĩa vụ với vua, với dân của quân nhân Vua Lê Thánh Tông từng bày tỏ: “Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, phàm những phép dạy dân nên phong tục tốt, những việc dấy thiện trừ hại, không cái gì là không nói ra trong lời huấn dụ để bọn các ngươi theo thế mà làm… Hoặc là
có việc gì hại giáo hóa, tổn phong tục, tất phải để ý trị răn; có người nào trung tín hiếu đễ, tất phải để lòng khen thưởng Nếu thế thì dân đều theo về trung hậu, đổi bỏ hết thói điêu bạc gian dối” [90, tr 401] Đích thân vua soạn và cho ban bố 24 điều giáo huấn Sau này, vua Lê Huyền Tông (1662 – 1671) tu chỉnh lại 24 điều của vua
Lê Thánh Tông và mở rộng thêm thành 47 điều, trong đó điều thứ 30 nhấn mạnh:
“Làm người phải lấy tam cương ngũ thường làm đường lối mà theo” (Vi nhân hữu tam cương ngũ thường chi đạo) [dẫn lại 101, tr 165] Đến nhà Nguyễn, vua Minh
Mệnh kế thừa phương pháp giáo hóa của các vua nhà Lê, ra Huấn Địch thập điều
kèm theo thánh dụ nói rõ mục đích: “Từ xưa, thánh đế minh vương lấy chính đạo cai trị thiên hạ, tất lấy việc giáo hóa dân chúng, tập thành phong tục làm nhiệm vụ đầu tiên” (Tự cổ, thánh đế minh vương dĩ chính đạo lý thiên hạ, tất dĩ hóa dân thành tục vi tiến vụ) [105, tr 113] Vua Minh Mệnh tái khẳng định đường lối ổn định và phát triển đất nước không gì quan trọng bằng việc giáo hóa dân chúng đi theo con đường mà thánh nhân xưa đã vạch ra Vì thế, nội dung của các huấn dụ, chỉ dụ tập trung vào việc chỉnh đốn các mối quan hệ thuộc về nhân luân trong gia đình và xã hội (cha con, anh em, vợ chồng, hàng xóm láng giềng…) nhằm xây dựng gia đình hòa hiếu, hướng nề nếp sinh hoạt làng xã theo một phép tắc nhất định làm nền tảng
để ổn định và phát triển đất nước
Trong 24 điều giáo huấn của vua Lê Thánh Tông có bốn điều đầu tiên tập trung vào mối quan hệ gia đình, nhắc nhở cách cư xử, bổn phận của từng thành viên trong gia đình, đảm bảo sự yêu thương và tôn trọng lẫn nhau; có năm điều dành răn phẩm hạnh, tiết trinh của người phụ nữ Tính tập trung này một lần nữa cho thấy sự phân biệt, nghiêm khắc với đức hạnh của phụ nữ Ngoài ra, còn có một số điều ngăn cấm sự gần gũi trai gái theo quan niệm “nam nữ thọ thọ bất thân” của Nho giáo Trong 47 điều huấn dụ, 10 điều đầu tiên chú ý đến gia phong “nói rõ về bổn phận
Trang 40của mọi thành phần trong gia đình” [105, tr 87]; 16 điều tiếp theo đề cập đến quan
hệ làng xã, hương thôn với mục đích khuyến khích tinh thần đoàn kết tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng Điều đầu tiên có chín tiểu mục trong
Huấn Địch thập điều là “đôn đốc nhân luân”, vua dụ: “Trong đạo làm người, không
có việc gì đi trước việc làm sáng đạo; quân thần có tình nghĩa, phụ tử có tình thân, phu phụ có cách biệt, huynh đệ có thứ tự, bằng hữu có thành tín, đó là đại luân của nhân loại, nhân luân sáng tỏ thì sau đấy nhân đạo mới đứng vững (Phù nhân đạo mạc tiên ư minh luân, quân thần hữu nghĩa, phụ tử hữu thân, phu phụ hữu biệt, huynh đệ hữu tự, bằng hữu hữu tín, thử nhân chi đại luân dã, nhân luân minh nhi hậu nhân đạo lập) [105, tr 113] Điều thứ hai có bảy tiểu mục, đề cập đến việc tu chỉnh nhân cách theo Nhân, Lễ, Nghĩa, Tín Đó là bản thiện, tính vốn có của con người, mong mọi người giữ gìn và phát huy Nhất nhất các huấn dụ, chỉ dụ trước sau vẫn tập trung vào truyền dạy lễ nghi, đạo hạnh của Nho giáo đến từng người dân, lập thành phong tục nơi làng xã từ đời này sang đời khác, chúng trở thành một truyền thống văn hóa theo định hướng Nho giáo
Để tăng thêm hiệu quả cho việc giáo hóa, các vua luôn quan tâm đến việc khuyến khích, khen thưởng cho những ai sống theo đúng những chuẩn mực đạo đức
ấy Vua Lê Thái Tổ khi vừa mới dẹp giặc xong đã xuống chiếu: “… những người con hiếu, đàn bà góa giữ tiết thì cho các quan lộ tâu lên để khen thưởng” [90, tr 90] Thời gian sau, vua cho treo biển khen thưởng cho liệt nữ Lê Thị vì là người đẹp giữ tiết, không con nhưng ở nhà chồng thờ chồng cho đến chết [90, tr 160]… Theo đó, Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa không còn là những phẩm hạnh đạo đức cá nhân mà đã trở thành quy chuẩn đạo đức của xã hội, mang ý nghĩa thiêng liêng, liên quan đến danh
dự cá nhân, gia tộc và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự thịnh trị của một quốc gia Luật pháp thể hiện ý chí và là công cụ điều hành đất nước của nhà cầm quyền
Nó đảm bảo tính thống nhất về mặt tư tưởng của cả quốc gia, trong khi Nho giáo là một ý thức hệ của tầng lớp quý tộc thống trị, trước hết nó bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp sinh ra nó, đôi khi nó đối lập với quyền lợi của giai cấp bình dân, bị trị Vì vậy, để đạo đức Nho giáo thâm nhập vào đời sống người dân, ngoài việc dựa vào uy