1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tiến sĩ: Hệ thống xã hội tộc người của người khmer ở đồng bằng sông cửu long

177 679 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ñó ñược ñặt trong mối quan hệ hữu cơ với cơ sở tồn tại của xã hội tộc người như: môi sinh, các hoạt ñộng kinh tế, chế ñộ sở hữu ruộng ñất, phương thức vận hành, quan hệ với tô

Trang 1

-       -

BÙI THỊ HỒNG LOAN

HỆ THỐNG XÃ HỘI TỘC NGƯỜI CỦA

NGƯỜI KHMER Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH DÂN TỘC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

- - BÙI THỊ HỒNG LOAN

HỆ THỐNG XÃ HỘI TỘC NGƯỜI CỦA

NGƯỜI KHMER Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Dân tộc học

Mã số: 62.22.70.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH DÂN TỘC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS PHAN AN 2.TS NGUYỄN KHẮC CẢNH Phản biện ñộc lập:

1 PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc

2 PGS.TS Huỳnh Quốc Thắng

Phản biện:

1 PGS.TS Phan Xuân Biên

2 PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp

3 PGS.TS Trần Hồng Liên

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 3

Chương 1:

Cơ sở lý luận và tổng quan về người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long

1.1 Cơ sở lý luận ……… 007

1.1.1 Các khái niệm ……… 007

1.1.2 Một số lý thuyết tiếp cận của luận án … ……… 019

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn ñề ……… 023

1.2 Tổng quan về người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long ……….…… 027

1.2.1 Môi trường, ñặc ñiểm cư trú của người Khmer……… 027

1.2.2 Các hoạt ñộng kinh tế của người Khmer ……… 033

1.2.3 Văn hóa tộc người của người Khmer……… 040

Chương 2: Các tổ chức xã hội phi quan phương của người Khmer 2.1 Tổ chức xã hội tự quản theo huyết thống ……… 055

2.1.1 Gia ñình của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long ……… 055

2.1.2 Tổ chức thân tộc của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long … 063

2.2 Tổ chức xã hội tự quản theo cư trú ……… 104

2.3 Tổ chức xã hội tự quản liên quan ñến tôn giáo ……… 110

2.3.1 Ngôi chùa ñối với ñồng bào Khmer ……… 111

2.3.2 Sự tham dự của các nhà sư Khmer trong ñời sống phum, sóc………… 114

Chương 3: Đặc tính của hệ thống xã hội tộc người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long 3.1 Cơ sở vận hành xã hội truyền thống……… 120

3.1.1 Chế ñộ sở hữu và sử dụng ñất ñai của người Khmer ……… 120

3.1.2 Các tầng lớp xã hội và sự phân hóa xã hội của người Khmer……… 124

3.1.3 Cơ chế quản lý xã hội truyền thống của người Khmer … 127

3.2 Mối quan hệ giữa tổ chức xã hội quan phương và phi quan phương………… 137

Trang 4

3.2.3 Chức năng và vai trò của cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống ………… 144 3.2.4 Những biến ñộng lịch sử ñối với xã hội người Khmer ……… 146 3.2.5 Mối quan hệ của Nhà nước với người Khmer Nam bộ trong bối cảnh hiện nay… 152 3.3 Đặc trưng của hệ thống xã hội tộc người Khmer ……… 153

Kết luận……… 158 Tài liệu tham khảo……… 163 Phụ lục

Trang 5

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn ñề tài:

Người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long là một trong 54 dân tộc cùng sinh sống trên ñất nước Việt Nam Họ là một trong những tộc người có mặt sớm ở ñồng bằng sông Cửu Long Người Khmer thường sống tập trung trên những giồng (gò) ñất cao Họ làm ruộng nước, kinh tế mang tính tự túc tự cấp Sóc là ñơn vị xã hội truyền thống Nhà cửa cũng như vị trí của Sóc gần như ít dời ñổi, trừ phi chạy loạn trong nhiều năm hoặc xảy ra bệnh dịch Cụ thể như vùng Châu Đốc vào những năm 1895 –

1896, dịch tả và ñậu mùa hoành hành dữ dội làm nhiều người chết, dân phải bỏ phum, sóc phiêu bạt ñi nơi khác…[49:39]

Người Khmer ñã trải qua nhiều biến ñộng về kinh tế và xã hội Bên cạnh cơ chế quản lý và vận hành xã hội hiện ñại (trong một chừng mực nhất ñịnh) những thiết chế chính trị xã hội truyền thống vẫn tồn tại và phần nào ảnh hưởng ñến quá trình phát triển của tộc người Khmer Tính dân chủ và tính cộng ñồng của thiết chế chính trị xã hội truyền thống vẫn còn có những giá trị nhất ñịnh trong xã hội hiện ñại của các tộc người, trong ñó có người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long

Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, hệ thống tổ chức xã hội của người Khmer ñã có nhiều biến ñổi, nhưng một số yếu tố truyền thống vẫn ñược bảo tồn và phát huy trong cộng ñồng Với sự ñam mê nghiên cứu về xã hội truyền thống, cũng như sự tác ñộng của nó ñến văn hoá tộc người nói chung và người Khmer nói riêng, tác giả mong muốn góp thêm một phần rất nhỏ ñối với chính sách dân tộc Đó cũng chính

là lý do tác giả chọn ñề tài: “Hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ở ñồng

bằng sông Cửu Long” làm luận án tốt nghiệp

Tuy nhiên, luận án không ñi sâu giải quyết tất cả các vấn ñề liên quan ñến hệ thống xã hội tộc người như: phum, sóc, hôn nhân – gia ñình, thân tộc – dòng họ, tổ chức tôn giáo Nội dung chính của luận án là nghiên cứu sâu vào vấn ñề cấu trúc và

Trang 6

vận hành cũng như ñặc tính của hệ thống xã hội tộc người của người Khmer Một số vấn ñề liên quan ñến hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ñã ñược một số tác giả ñi trước nghiên cứu Nếu tác giả nghiên cứu tất cả các vấn ñề sẽ có sự trùng lắp với

các công trình nghiên cứu trước ñây như: Phum sóc Khmer ở ñồng bằng sông Cửu

Long của tác giả Nguyễn Khắc Cảnh; Hôn nhân và gia ñình của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long tác giả Đặng Thị Kim Oanh Chính vì vậy, luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu hệ thống thân tộc – dòng họ và tổ chức tôn giáo với hy vọng tìm

ra “sợi dây hay chất” kết dính trong cộng ñồng của xã hội tộc người Khmer Tác giả sử dụng những kết quả này ñể làm sáng tỏ hơn vấn ñề nghiên cứu của mình

2 Mục ñích nghiên cứu:

- Nhằm góp phần tìm hiểu về hệ thống xã hội tộc người Khmer trong lịch sử và

xã hội truyền thống của người Khmer Đồng thời làm rõ các mối quan hệ trong hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long (mối quan hệ xã hội truyền thống – xã hội hiện ñại) Từ ñó góp thêm sự hiểu biết về văn hóa tộc người của người Khmer

- Tìm hiểu mối quan hệ của người Khmer với các tộc người cùng cộng cư, góp phần cung cấp tư liệu cho việc xây dựng chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trên

cơ sở khoa học cụ thể ñể phát triển vùng dân tộc Khmer Nam bộ

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu:

Luận án không nhằm giải quyết toàn bộ những vấn ñề chính trị, văn hoá, xã hội của người Khmer Luận án chỉ tập trung vào việc phân tích tìm hiểu những nét cơ bản của xã hội ñược nhìn trong tính hệ thống, cấu trúc, ñặc ñiểm xã hội và văn hóa tộc người của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long

Hệ thống xã hội tộc người của người Khmer là tổng hợp những cấu trúc xã hội cấu thành như: các dạng thức tập hợp người, cơ chế và sự vận hành… Những cấu trúc

Trang 7

xã hội này có mối quan hệ tương thích với nhau trong một hệ thống chung ñã từng tồn tại trong lịch sử và vẫn còn tồn tại cho ñến ngày nay

Vì thế, ñối tượng nghiên cứu của luận án là những yếu tố và quan hệ cấu thành

hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long Các yếu tố

ñó ñược ñặt trong mối quan hệ hữu cơ với cơ sở tồn tại của xã hội tộc người như: môi sinh, các hoạt ñộng kinh tế, chế ñộ sở hữu ruộng ñất, phương thức vận hành, quan hệ với tôn giáo cụ thể là Phật giáo…

* Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian nghiên cứu là khu vực cư trú tập trung của người Khmer Nam Bộ

ở ñồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang)

- Khoảng thời gian nghiên cứu là từ ñầu thế kỷ XVIII ñến giữa thế kỷ XX Đây

là thời gian xã hội Khmer còn bảo lưu những yếu tố truyền thống và bước ñầu chịu sự tác ñộng bởi sự quản lý của triều Nguyễn và thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Tuy nhiên, chúng tôi vẫn lưu ý ñến các yếu tố xã hội truyền thống Khmer trong những thời gian về sau

- Trong mối quan hệ với người Việt, Hoa là các cư dân cộng cư và có giao lưu văn hóa

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận án ñã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau ñây:

1 Sử dụng các phương pháp khảo sát ñiền dã dân tộc học (quan sát tham dự và

phỏng vấn sâu) ñể thu thập tư liệu, nhất là các tàn dư xã hội, so sánh ñối chiếu, thu thập

tư liệu, thu thập và xử lý thông tin bằng hình ảnh, thống kê loại hình, phân tích hệ thống, hồi cố và một số phương pháp khác có liên quan… (Nhằm tìm hiểu những cấu trúc, qui luật vận hành của ñối tượng nghiên cứu)

Phân tích hệ thống: Phương pháp này ñược nhiều nhà dân tộc học, nhân học, xã hội học… vận dụng vào việc nghiên cứu hệ thống xã hội Những cấu thành hệ thống xã

Trang 8

hội ñược xem xét trong sự liên hệ và tác ñộng lẫn nhau ñể tạo thành một tổng thể trong việc nghiên cứu hệ thống xã hội tộc người

Quan sát – tham dự: là phương pháp ñặc thù chuyên biệt của ngành Nhân học/ Dân tộc học, ñòi hỏi người nghiên cứu phải tham dự, quan sát, cùng sinh sống và khảo sát tại cộng ñồng người Khmer trong thời gian dài Khi nghiên cứu ñề tài này, chúng tôi ñã thực hiện ñiền dã dài ngày tại những vùng tập trung ñồng bào Khmer sinh sống của các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang Trong thời gian ñiền dã, các

lễ hội của người Khmer như Chol Chnam Thmei, Đôn Ta, Ok Om Book,… cũng như các lễ tục khác: tròn một tháng, cưới, tang, làm phước… chúng tôi ñều tham gia Mục ñích sử dụng phương pháp này nhằm hướng ñến yếu tố tự quan sát, cảm nhận và nắm bắt thông tin trực tiếp từ ñối tượng nghiên cứu Các thông tin này ñược ghi lại dưới

hình thức Nhật ký ñiền dã

Phỏng vấn hồi cố (phỏng vấn sâu): là phương pháp thu thập thông tin từ các thành viên trong cộng ñồng bằng các cuộc ñối thoại có chủ ñịnh Trong quá trình ñiền

dã, phương pháp này ñược dùng ñể phỏng vấn chức sắc và Phật tử chùa Khmer Ngoài

ra, phương pháp này dùng sử dụng ñể phỏng vấn những bậc cao tuổi am hiểu về phong tục tập quán cũng như lối sống và cách sinh hoạt xưa (các vị Acha, nhà sư trong chùa) Thông qua các cuộc phỏng vấn, người nghiên cứu có thể hiểu và làm rõ ñược các vấn

ñề mà mình cần khai thác Thông tin có ñược từ các cuộc phỏng vấn có tính khách quan cho ñề tài, dùng ñể phân tích và minh chứng cho những nhận ñịnh trong ñề tài

So sánh ñối chiếu: là phương pháp ñược thực hiện trong quá trình ñiền dã nhằm

so sánh cộng ñồng người Khmer với các tộc người cùng cộng cư (người Việt, người Hoa…) ở một số lĩnh vực như văn hóa, kinh tế, xã hội Đây ñược xem là một trong những phương pháp có hiệu quả

Thu thập và xử lý thông tin bằng hình ảnh: là phương pháp ghi nhận thông tin bằng các thiết bị kỹ thuật như máy ảnh, máy quay phim, các bản vẽ… Các thông tin

Trang 9

này ñược phân tích, lý giải nhằm minh chứng cho các nhận ñịnh của chúng tôi về hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long

2 Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp emic, etic

Nghiên cứu lịch sử (ñồng ñại và lịch ñại): là một trong những phương pháp nghiên cứu, phân tích các dạng tài liệu thư tịch, tư liệu ñiền dã ñể tìm hiểu các sự kiện

ñã diễn ra theo thời gian nhằm tìm hiểu cội nguồn, những bước tiến triển, các yếu tố tác ñộng ñến xã hội truyền thống Phương pháp này giúp phân tích, lý giải những tư liệu thu thập ñược trong ñiền dã Dân tộc học

Sử dụng emic là ñưa tiếng nói của người trong cuộc, người ñược phỏng vấn,

dưới dạng trích dẫn ñóng trong khung vào nội dung ñể chứng minh cho các nhận ñịnh

trong luận án Etic là quan ñiểm của người nghiên cứu bày tỏ ý kiến ñồng ý hoặc không

ñồng ý với những nhận ñịnh của người trong cuộc Sử dụng phương pháp này nhằm có

sự so sánh, ñối chiếu những nhận ñịnh của tác giả với ý kiến của ñối tượng nghiên cứu trong luận án

5 Kết quả nghiên cứu:

Dưới góc ñộ nghiên cứu Dân tộc học về hệ thống xã hội tộc người, luận án thể hiện một số ñóng góp mới như:

- Luận án làm rõ cấu trúc, chức năng của hệ thống xã hội tộc người của người Khmer

- Luận án công bố một số tư liệu mới, chủ yếu là tư liệu ñiền dã của tác giả, sẽ góp thêm những nhận ñịnh và phân tích mới làm phong phú thêm những hiểu biết về

xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long Từ ñó hiểu hơn hệ thống xã hội tộc người của một số dân tộc ít người ở phía Nam

- Tìm hiểu và phân tích sự vận hành và ñặc ñiểm của hệ thống xã hội tộc người của người Khmer

- Đề tài làm rõ hơn về mối quan hệ thân tộc trong hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long, góp thêm một số tài liệu tham khảo sử dụng

Trang 10

cho sinh viên trong các trường Đại học, Cao ñẳng và những người quan tâm ñến lĩnh vực nghiên cứu xã hội tộc người ở Việt Nam

nghiên cứu về cơ cấu tổ chức xã hội của người Khmer ở các chương sau

Chương 2: Các tổ chức xã hội phi quan phương của người Khmer Hệ thống

hóa và phân tích các yếu tố phi quan phương của cơ cấu xã hội người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long Các nội dung ñược trình bày về các tổ chức xã hội tự quản theo

cư trú, theo huyết thống, các yếu tố liên quan ñến tôn giáo; chức năng và vai trò của cơ

Trang 11

Chương 1:

Cơ sở lý luận và tổng quan về người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long

Trong chương này, chúng tôi trình bày 2 phần: Một số vấn ñề về lý thuyết tiếp cận của luận án và Tổng quan về người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long ñóng vai trò như những cơ sở lý thuyết và thực tiễn của luận án

Khái niệm hệ thống ra ñời rất sớm Ngay từ thời Cổ ñại, Arixtôt (Aristote) ñã khẳng ñịnh toàn thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó Phái Xtôia (Stoicien) thì giải thích hệ thống như là một trật tự thế giới Những tư tưởng ñó về sau ñược Kantơ (L.Kant) và Hêghen (G.W.F Hegel) phát triển Chủ nghĩa Mác ñã trình bày những nguyên tắc nhận thức khoa học ñối với các hệ thống phát triển hoàn chỉnh Theo quan ñiểm của khoa học hiện ñại thì bất kể khách thể nào trong thế giới hiện thực cũng là một hệ thống, nghĩa là bao gồm những bộ phận, những yếu tố cấu thành có quan hệ nội tại với nhau Đặc trưng cơ bản của hệ thống bao gồm:

1 Mỗi hệ thống gắn liền với một hình thức tổ chức nhất ñịnh Tính tổ chức ấy thể hiện ở cấu trúc thứ bậc, ñặc trưng cho kết cấu hình thức và phương thức hoạt ñộng của hệ thống Mỗi hệ thống gồm nhiều phân hệ, nhiều hệ con và nhiều yếu tố hợp thành Mỗi phân hệ, mỗi hệ con, mỗi yếu tố ấy vừa là một yếu tố của hệ thống cao hơn vừa là một hệ thống của những yếu tố thấp hơn Như vậy, bất kỳ một hệ thống nào

Trang 12

cũng có thể coi như là một yếu tố của hệ thống thuộc loại cao hơn, ñồng thời các yếu tố của nó cũng có thể là một hệ thống thuộc loại thấp hơn

2 Do kết quả tác ñộng qua lại giữa các mặt, các yếu tố mà hệ thống với tính cách là một chỉnh thể có những thuộc tính mới, chất lượng mới, những cái vốn không

có ở các yếu tố và các bộ phận hợp thành hệ thống Vì lẽ ñó, người ta nói rằng chỉnh thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó

3 Các hệ thống hữu sinh, kỹ thuật xã hội có khả năng tự ñiều chỉnh trên cơ sở thu nhập, tàng trữ, chế biến và xử lý thông tin nhằm ñạt ñến mục ñích nhất ñịnh

4 Đặc trưng của hệ thống không chỉ là các mối liên hệ và quan hệ giữa các yếu

tố, các bộ phận cấu thành, mà còn là sự thống nhất với môi trường ñang tồn tại, thông qua những mối quan hệ của nó với môi trường

5 Giữa các hệ thống có thể có sự tương tác với nhau và trong những ñiều kiện nhất ñịnh tạo thành những hệ thống mới

Việc tìm kiếm những con ñường, những phương pháp và những phương tiện nghiên cứu khách thể với tính cách là một hệ thống ñã dẫn tới chỗ hình thành một phương pháp mới – phương pháp phân tích hệ thống Việc áp dụng rộng rãi phương pháp này ñã mang lại những hiệu quả tích cực trong thực tiễn, cũng như trong nghiên cứu khoa học

* Phân tích hệ thống là phương pháp nghiên cứu các ñối tượng bất kỳ, vạch ra

cấu trúc, các qui luật vận ñộng và phát triển của nó với tính cách là một hệ thống rồi phân tích hệ thống ñó Phân tích hệ thống là một phương pháp khám phá, trong ñó một trạng thái ñược chia thành nhiều phần nhỏ, và các phần này sẽ ñược nghiên cứu kỹ ñể hiểu cách chúng tác ñộng lẫn nhau như thế nào Phân tích hệ thống bao gồm việc: Xác ñịnh rõ những yếu tố, những bộ phận bên trong hệ thống với những cái bên ngoài hệ thống (môi trường), các yếu tố, các bộ phận cấu thành hệ thống; Phân chia hệ thống thành các hệ con, phân tích vị trí, chức năng của chúng trong hệ thống, chú ý ñến thứ bậc trong cấu trúc của hệ thống; Nghiên cứu ñầy ñủ cả những mối quan hệ giữa các

Trang 13

yếu tố, hệ con của hệ thống và những mối liên hệ giữa hệ thống với môi trường (liên hệ cấu trúc, liên hệ tác ñộng, liên hệ ñiều khiển…), mỗi loại liên hệ ấy có vị trí và chức năng nhất ñịnh trong một cấu trúc cụ thể; Thông qua việc phân tích các mối quan hệ bên trong và bên ngoài hệ thống, nghiên cứu phương thức tác ñộng qua lại giữa các yếu

tố, các bộ phận cấu thành hệ thống, giữa hệ thống và môi trường tìm ra tính chỉnh thể (thuộc tính) của hệ thống Đó là nguyên tắc quan trọng nhất của phân tích hệ thống; Để nhận thức hoạt ñộng, nhất là hoạt ñộng hướng ñích của hệ thống, cần làm rõ quá trình ñiều khiển của hệ thống; Phân tích hệ thống không chỉ nhằm nghiên cứu cấu trúc của

hệ thống, mà còn nghiên cứu cả quá trình phát triển của nó Vì vậy, phải nghiên cứu kết hợp cả trạng thái ñồng ñại và trạng thái lịch ñại của hệ thống.[56:T3:Tr441]

* Hệ thống xã hội là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố mà tập trung là con

người (cá nhân) và tập hợp người (cộng ñồng) có mối quan hệ với nhau, là hệ thống con người có tác ñộng ñến con người, cùng những gì liên quan ñến con người Ngoài ra còn có mối quan hệ giữa hệ thống xã hội và môi trường tự nhiên

* Mạng lưới xã hội: ñược hiểu như là mối liên hệ giữa các cá nhân, các nhóm

xã hội khác nhau trong một thực thể xã hội nhất ñịnh dù ñó là chính thống hay phi chính thống Thể chế xã hội có ảnh hưởng quan trọng ñối với sự hình thành mạng lưới

xã hội Trong một thực thể xã hội nhất ñịnh luôn luôn có sự hiện diện của hai hoạt ñộng mạng lưới xã hội Đó là, một loại mang tính chất phi chính thống (phi quan phương là yếu tố mang tính dân gian do mỗi tộc người tự nghĩ ra) Ví như trong nông thôn của người Khmer, các mạng lưới liên quan ñến hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp,

tự cung tự cấp về lương thực, liên quan tới các nghi lễ… trong phum sóc Một loại mạng lưới xã hội khác mang tính chất chính thống, chính thức (quan phương do nhà nước qui ñịnh) như quan hệ quyền lực… Hai hoạt ñộng mạng lưới xã hội phi quan phương và quan phương thường xuyên xen trộn, hòa quyện, tương tác trong hệ thống

xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long

Trang 14

* Tộc người là một tập hợp người xuất hiện trong quá trình lịch sử của lồi

người, là kết quả của một quá trình lịch sử và sự thích ứng với tự nhiên Giữa các thành viên trong cùng tộc người, cĩ mối liên hệ ổn định trên nhiều lĩnh vực như quan hệ huyết thống, khu vực cư trú, ngơn ngữ, văn hĩa…

Tộc người chính là khái niệm thường được sử dụng trong ngành dân tộc học (Ethnography, Ethnology) Nĩi cách khác, thì đối tượng nghiên cứu của dân tộc học chính là tộc người Do sự đa dạng về cảnh huống tộc người ở từng quốc gia từng khu vực trên thế giới và do quan niệm khác nhau trong các trường phái khoa học, vì vậy việc giải thích khái niệm này cũng cĩ một vài sự khác biệt

Trên thế giới, các thuật ngữ liên quan đến khái niệm “tộc người” đều bắt nguồn

từ chữ “Ethnos” trong tiếng Hy Lạp cổ Nĩ cĩ nghĩa là “bộ tộc”, “một nhĩm người”,

“dân tộc”… Từ gốc của nĩ dùng để chỉ tổng thể những người giống nhau, cĩ chung phong tục tập quán, thĩi quen hàng ngày,… Vấn đề xác định tộc người cĩ rất nhiều sự tranh cãi, theo thời gian và quá trình nghiên cứu thì những định nghĩa khác nhau về tộc người ngày càng nhiều Nhưng nhìn chung, cĩ 2 định nghĩa cần chú ý:

Theo nghĩa hẹp: Tộc người (Ethnie) cĩ thể là một nhĩm các cá nhân cùng cĩ chung tiếng mẹ đẻ Theo nghĩa này, tộc người tương đương với cái mà các nhà ngơn ngữ học gọi là nhĩm ngơn ngữ (nĩi tiếng mẹ đẻ)

Theo nghĩa rộng: Tộc người là một nhĩm cá nhân liên kết với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về mặt nhân chủng, ngơn ngữ, chính trị, lịch sử… đồng thời sự kết hợp đĩ hình thành một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính chất văn hĩa là chủ yếu Chính vì thế, tộc người chính là một cộng đồng gắn bĩ với nhau bởi một nền văn hĩa cĩ những nét riêng khơng trộn lẫn giữa các tộc người [80: 18-19]

Theo đĩ, chúng tơi cho rằng: tộc người là một tập đồn người ổn định hoặc

tương đối ổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ chung về ngơn ngữ, sinh hoạt văn hĩa và ý thức tự giác tộc người thể hiện bằng một tộc danh

Trang 15

Căn cứ vào ñịnh nghĩa trên có ba tiêu chí như là những ñặc trưng cơ bản ñể phân biệt dân tộc này với dân tộc khác: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác dân tộc

Ở Việt Nam, trong một số văn bản Nhà nước, khái niệm tộc người ñược sử dụng với từ “dân tộc” như dân tộc Việt, dân tộc Khmer…

* Hệ thống xã hội tộc người là một tập hợp nhiều thành tố tạo mọi liên kết giữa

các thành viên cộng ñồng của một tộc người, ñảm bảo sự tồn tại và phát triển tộc người, thông qua cơ chế tổ chức, quản lý xã hội, sự vận hành… Hệ thống xã hội tộc người trong diễn trình lịch sử có những thay ñổi cấu trúc cùng các mối liên hệ giữa các thành tố

* Quan hệ là sự tiếp xúc trao ñổi lẫn nhau giữa các thành tố trong hệ thống

hoặc giữa các hệ thống với nhau Thường những quan hệ này có hai chiều, tích cực và tiêu cực và tác ñộng ñến sự cân bằng ổn ñịnh của hệ thống Mối quan hệ này ñôi khi cũng diễn ra trong tình trạng lệ thuộc, phụ thuộc lẫn nhau

* Công xã nông thôn (theo từ ñiển bách khoa Việt Nam tập 1) là cộng ñồng xã

hội hình thành vào giai ñoạn phát triển cuối của chế ñộ công xã nguyên thủy, có ñiểm khác biệt là không hoàn toàn dựa trên quan hệ huyết thống Lúc ñầu là công xã nông thôn sơ kỳ, với sự thống nhất các gia ñình lớn dựa trên cơ sở gần gũi về phổ hệ với người ñứng ñầu mà lập ra công xã nông thôn Thủ lĩnh công xã là người ñứng ñầu các gia ñình lớn, quản lý công xã cả về kinh tế, chính trị và quân sự Ban ñầu còn duy trì sở hữu công cộng về ruộng ñất, về sau ngày càng phát triển chế ñộ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình ñẳng về kinh tế tăng lên Nhiều gia ñình riêng lẽ có quyền thế hơn ñã hình thành Họ lấy một số công cụ lao ñộng và súc vật chăn nuôi làm của riêng, tổ chức sản xuất ñộc lập Sản xuất cá thể dựa trên chế ñộ tư hữu nảy sinh ngày càng phát triển chiếm dần vị trí thống trị trong công xã nông thôn Tuy nhiên, toàn thể ñất ñai về danh nghĩa vẫn là tài sản chung của công xã ñều không ñược mua bán, từng thời gian công

xã có quyền chia lại ruộng ñất cho các gia ñình hoặc thị tộc sử dụng riêng…

Trang 16

* Công xã nông thôn trước tiên là những khái niệm chỉ về những ñơn vị dân cư

ñược lập nên trong quá trình di cư, khai thác và chiếm hữu ñất ñai, tư liệu sản xuất trong quá trình chinh phục thiên nhiên Đó chính là những tổ hợp dân cư mà liên minh huyết thống và liên minh láng giềng ñược kết hợp Về ñịa dư, công xã nông thôn sống theo làng mạc Thành viên công xã không sống chung trong một ngôi nhà lớn (mà sống theo từng gia ñình: trong ñó cha mẹ và các con do họ sinh ra) Công xã nông thôn là sự tiếp nối công xã gia ñình gia trưởng [102:505-506] Đặc ñiểm chung rất quan trọng của công xã nông thôn từ châu Á cho ñến châu Phi là sự tồn tại hình thức sở hữu chung của công xã về ruộng ñất Mọi người ñược quyền sử dụng như nhau trên phần ñất ñó

Ví như Công xã nông thôn Ấn Độ hay người ta thường gọi là “cộng ñồng làng

xã” (village community) từng xuất hiện trong lịch sử cổ ñại Nhiều koula (gia ñình) họp lại thành gotra (họ), nhiều gotra họp lại thành grama (làng) và người ñứng ñầu là một grmani có vai trò gần giống như một tộc trưởng Bên cạnh ñó, grmani còn nắm cả

chức năng quân sự Từ ñó, làng xã Ấn Độ ñã hình thành và phát triển, nhưng cấu trúc truyền thống của nó ñã ñược bảo lưu lại rất lâu ñời trong lịch sử Làng xã Ấn Độ là một cộng ñồng trên cơ sở ñất ñai cư trú và chiếm hữu Ở ñó, “ý niệm về một dòng máu chung và một tộc hệ chung ñã bị xóa bỏ” [67:533-534].

* Công xã Mac (vào những năm cuối thế kỷ 19) Vấn ñề cơ bản của Công xã

Mác là chiếm hữu ruộng ñất mang tính chất chung (ruộng ñồng, nguồn nước, bãi lầy… nên làng cũng từng ñược gọi là Mac) Tất cả những gì là bất ñộng sản ñều là của chung của mọi người trong tập thể và ñược mọi người sử dụng chung Chính vì thế, công xã Mac không những là cộng ñồng cư trú mà còn là cộng ñồng kinh tế Các thành viên công xã sống trong những ñiều kiện bình ñẳng về mọi mặt [145: 551]

Công xã nông thôn chính là một tổ hợp cư dân có cả quan hệ huyết thống và mối quan hệ láng giềng, nhưng mối quan hệ láng giềng là chủ ñạo Các thành viên công xã sống trong một lãnh thổ riêng [138:165] Nền tảng của công xã nông thôn dựa trên những mối quan hệ kinh tế - xã hội Nó thường bao gồm các ñơn vị kinh tế là các

Trang 17

hộ nông dân, ñồng thời dựa trên quan hệ trao ñổi giúp ñỡ lẫn nhau Nét ñặc trưng của công xã nông thôn là phân phối theo lao ñộng của các hộ dân Trong công xã nông thôn tồn tại các loại hình: làng, thôn, xã… Công xã còn là bộ máy tự trị về hành pháp và các mặt hoạt ñộng khác Về mặt xã hội, làng mạc là một ñơn vị tự trị có bộ máy quản lý riêng Những viên chức cũng hợp thành cơ quan hành chính của công xã [138:167]

Tóm lại, trên cơ sở quyền sở hữu chung về ruộng ñất, công xã nông thôn là những ñơn vị tự cấp tự túc về kinh tế và có nhiều quyền tự trị về mặt hành chính Chính vì thế phần nào hạn chế sự phá sản của nông dân, trong chừng mực nào ñó duy trì ñược truyền thống dân chủ công xã Nhưng mặt khác, nó kìm hãm sự phát triển kinh

tế - xã hội nói chung Nền kinh tế tự cấp tự túc, tính chất cô lập của công xã làm cho kinh tế chậm phát triển Do cuộc sống biệt lập, nông dân công xã hầu như không biết gì nhiều hơn ngoài làng xã nhỏ bé của mình Vì vậy, những cổ tục lạc hậu, mê tín dị ñoan

có ñiều kiện duy trì và nảy nở, kìm hãm sự phát triển trí tuệ và nhân cách của con

người

* Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính

giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ), ñược coi là vợ

và chồng, qui ñịnh mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ Sự xác nhận ñó trong quá trình phát triển của xã hội dần dần mang thêm những yếu tố mới Trong xã hội nguyên thủy, hôn nhân tiến hành theo luật tục Các xã hội có giai cấp và nhà nước, hôn nhân phải ñược pháp luật công nhận Do ñó, quyền hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ chồng, con cái cũng ñược pháp luật xác nhận và ñảm bảo

[56:T2:Tr.389] Hôn nhân chính là ñối tượng của sự kiểm soát xã hội Tùy theo từng ñiều kiện xã hội và yếu tố văn hóa mà hôn nhân diễn ra với những hình thái khác nhau Hôn nhân phản ánh những qui luật chung nhất của sự phát triển xã hội loài người qua các giai ñoạn lịch sử Bên cạnh ñó, hôn nhân còn mang những nét ñặc thù riêng của văn hóa tộc người

Trang 18

Việc phân loại hôn nhân, các nhà nghiên cứu quan tâm ñến tiêu chí số người

vợ hoặc số người chồng Chính vì thế, trong lĩnh vực nhân học ñã phân biệt hai hình thái hôn nhân ñó là: hình thái ñơn hôn (là hôn nhân cho phép lấy một vợ hoặc một

chồng monogamy) và hình thái phức hôn (là hôn nhân cho phép lấy nhiều vợ hoặc

nhiều chồng polygamy) Trong hình thái ñơn hôn có hai loại khác nhau: ñơn hôn trong

chế ñộ phụ hệ và ñơn hôn trong chế ñộ mẫu hệ Mẫu hệ và phụ hệ ñều giống nhau ở nguyên tắc là ñề cao sự duy nhất của gia tộc (bên cha hoặc bên mẹ) nhưng hôn nhân

chính là ñịnh chế phân biệt sự khác nhau giữa mẫu hệ và phụ hệ Ở hình thái phức

hôn cũng ñược chia làm hai loại: hôn nhân nhất phu ña thê (polygyny) và hôn nhân

nhất thê ña phu (polyandry)

* Gia ñình là một phạm trù lịch sử, thiết chế của xã hội, một lĩnh vực khá phức

tạp bao gồm nhiều khía cạnh và các quan hệ khác nhau như: xã hội – sinh học, sản xuất – kinh tế, ñạo ñức - thẩm mỹ, tâm lý – pháp lý,… Gia ñình là nơi gìn giữ và lưu truyền cho các thế hệ con cháu những giá trị văn hóa của tộc người

Việc nghiên cứu gia ñình bắt ñầu từ khi tác phẩm “Mẫu quyền” của Bachofen ra ñời (1861) [157:31] Tác giả cho rằng, loài người thoạt tiên sống trong những quan hệ tính giao hỗn tạp Chính những mối quan hệ như thế nên không thể nào biết ñược chắc chắn ai là cha ñẻ, nên dòng máu chỉ có thể tính theo nữ hệ/mẫu hệ Vì thế, những người ñàn bà, với tư cách là những người mẹ rất ñược tôn kính và kính trọng ñến cao ñộ ñến mức trở thành sự thống trị hoàn toàn của nữ giới Đến khi chuyển sang hôn nhân cá thể, tức là một người ñàn bà chỉ thuộc về một người ñàn ông, ñã bao hàm sự vi phạm một ñiều răn tôn giáo của thời cổ (tức là quyền cổ truyền của những người ñàn ông khác ñối với người ñàn bà này) Bachofen ñã tìm ra những bằng chứng cho những luận ñiểm ấy Theo ông, sự phát triển từ quan hệ tạp hôn sang chế ñộ một vợ một chồng và

từ chế ñộ mẫu hệ sang chế ñộ phụ hệ ñã xảy ra (cụ thể ở người Hy Lạp) là do sự phát triển của các quan niệm tôn giáo Chính sự phản ánh có tính chất tôn giáo của những

Trang 19

ñiều kiện sinh hoạt thực tế vào chính ñầu óc của những con người ñó ñã gây ra những biến ñổi lịch sử trong ñịa vị xã hội

Theo Morgan: “Gia ñình là một yếu tố năng ñộng, nó không ñứng yên một chổ,

mà chuyển từ một hình thức thấp lên một hình thức cao, khi xã hội phát triển từ giai ñoạn thấp lên giai ñoạn cao Trái lại, những hệ thống họ hàng thì thụ ñộng Chỉ có trải qua những thời kỳ lâu dài, những hệ thống ñó mới phản ánh ñược những tiến bộ do gia ñình ñã ñạt ñược trong những thời kỳ ñó Và chỉ khi nào gia ñình ñã hoàn toàn thay ñổi thì những hệ thống ấy mới hoàn toàn thay ñổi” Mác nói thêm: “Và nói chung những

hệ thống chính trị, pháp luật, tôn giáo và triết học cũng thế” [157:59]

Từ ñiển xã hội học: “Gia ñình bắt nguồn từ sự cần thiết tái sản sinh ra nòi

giống, nhưng chức năng sinh vật học ñó ñược thực hiện trong nội dung rộng lớn hơn, bởi vì ñể có tính chất người, gia ñình ñòi hỏi phải có một môi trường kinh tế, một môi trường giáo dục và một cộng ñồng xã hội Sự hòa nhập với nhau giữa những chức năng

ñó trên một cơ sở thường xuyên hoặc tương ñối thường xuyên, tạo thành gia ñình”

Khi viết về Công xã gia ñình, Ăngghen cho rằng: gia ñình là một tập hợp người

trong ñó bao gồm một số thế hệ con cháu của ông bố với con cái họ, thêm vào ñó cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng lao ñộng trên những mảnh ñất chung, cùng hưởng chung ăn chung những thành quả lao ñộng của mình

Trong tác phẩm Công xã và tông tộc, M.O Koxven chỉ ra rằng: công xã gia

ñình là một nhóm ñặc thù bao gồm từ ba, bốn, năm thế hệ ñôi khi còn nhiều hơn những người họ hàng thân thuộc theo trực hệ cũng như bàng hệ Sự thống nhất về mặt kinh tế của nó ñược thể hiện ở sự sở hữu chung về ruộng ñất, công cụ sản xuất, gia súc và những tài sản chung khác Cũng như, trong công việc cùng sản xuất cùng hưởng thụ của mỗi thành viên Gia ñình ñược xem như là một ñơn vị kinh tế (The family as an economic unit) ñồng thời, gia ñình ñược xem như là một ñơn vị xã hội (The family as

an unit of society)

Trang 20

Gia ñình chính là một nhóm xã hội ñược gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân

và huyết thống Các thành viên trong gia ñình có quan hệ tình cảm mật thiết với nhau bởi trách nhiệm và quyền lợi, ñược pháp luật thừa nhận và bảo vệ Quy mô của gia ñình hiện nay ở Việt Nam còn tồn tại hai kiểu gia ñình:

- Gia ñình lớn: gồm có 3 thế hệ trở lên (ông bà, bố mẹ, con cái)

- Gia ñình nhỏ:ñược tạo ra bởi các cặp vợ chồng và các con (chưa lập gia ñình) Người ta còn gọi là “gia ñình hạt nhân”, nó có thể thu vào hai thế hệ như ở thành phố

Điều kiện kinh tế xã hội càng phát triển ñòi hỏi quy mô gia ñình càng thu hẹp,

do ñó kiểu gia ñình hạt nhân là phổ biến hiện nay

* Thân tộc là tổ chức xã hội cơ bản mà trong ñó mối quan hệ của các thành viên

ñược xác lập thông qua các mối quan hệ dòng tộc, hôn nhân và gia ñình Đây là mối quan hệ nổi trội nhất trong tất cả các mối quan hệ của xã hội của con người và có tác ñộng ảnh hưởng rất lớn ñối với các mối quan hệ khác như chính trị, kinh tế, văn hóa, tộc người… Nói cách khác, thân tộc có thể ñược xem là “hạt nhân” của một cơ cấu tổ chức xã hội loài người từ xưa ñến nay Trong mỗi mối dây ràng buộc xã hội bằng huyết thống và hôn nhân sẽ tạo nên cơ sở cho việc xây dựng tính cố kết cộng ñồng làm cho những mối quan hệ xã hội gắn bó mật thiết hơn [72:251] Nói cách khác, quan hệ thân tộc ñược thể hiện bằng các danh từ mà ta dùng ñể gọi bà con của ta Ví dụ tôi gọi anh của cha tôi là bác, em gái của mẹ tôi là dì, em gái của cha tôi là cô Danh từ thân tộc có một ý nghĩa xã hội tương ñối [81:237]

Trang 21

* Nhĩm thuật ngữ thân tộc tập đồn: Nhĩm thuật ngữ tập đồn là những thuật ngữ dùng để chỉ một nhĩm người thân thuộc cĩ cùng một mối quan hệ với người nĩi

Ví dụ như thuật ngữ “con” là một nhĩm của thuật ngữ tập đồn Bởi vì, mỗi “con” đều

cĩ mối quan hệ khác nhau với người nĩi

* Nhĩm thuật ngữ thân tộc phân loại: Những thuật ngữ thuộc nhĩm thuật ngữ phân loại khơng chỉ dùng để gọi một số người cĩ quan hệ thân thuộc trong phạm vi nhất định, mà cịn cĩ thể dùng để gọi những người cĩ những mối quan hệ thân thuộc khác nhau đối với người nĩi Số lượng các thuật ngữ thuộc nhĩm phân loại thường chiếm đa số trong tất cả hệ thống thân tộc trên thế giới

Mối quan hệ thân tộc:

* Thuật ngữ trực xưng – gián xưng:

Sự phân biệt giữa trực xưng và gián xưng chỉ mang tính tương đối Điển hình trong trường hợp hệ thống thân tộc của Anh phần lớn dùng để gọi những người cĩ

quan hệ huyết thống ngoại trừ nephew và niece ít khi trực xưng Riêng những thuật

ngữ dùng để gọi những người cĩ mối quan hệ thơng qua thích tộc như: bà gia hay bà nhạc (mother in law), ơng gia hay ơng nhạc (step father) ít khi trực xưng mà thường dùng thuật ngữ thân tộc kèm theo định ngữ Thơng thường, những thuật ngữ trực xưng trong hệ thống thân tộc Anh thường hàm xúc thân mật như: pa, ma, mummy, sis,…

Đơi khi dùng thuật ngữ gián xưng phản ánh rõ hơn thuật ngữ trực xưng Ví như

thuật ngữ gián xưng mother chỉ người mẹ ruột (người sinh ra mình), trong khi đĩ thuật ngữ trực xưng mother cĩ thể chỉ bà nhạc hoặc cĩ thể chỉ bất kỳ một người phụ nữ lớn

tuổi cùng tuổi với mẹ ruột của mình Vì vậy, thuật ngữ gián xưng thể hiện ý nghĩa thân tộc đầy đủ hơn thuật ngữ trực xưng Điều này cho thấy qua cách dùng tên tục để xưng

hơ hoặc đơi khi do cấm kỵ khơng cho phép dùng thuật ngữ trực xưng để gọi những người thân thuộc Cho nên, thuật ngữ gián xưng ít khi dùng lẫn với nhau hơn là những danh từ trực xưng

* Thuật ngữ trực hệ - bàng hệ:

Trang 22

Thuật ngữ trực hệ là thuật ngữ thân tộc dùng ñể chỉ những người có mối quan

hệ huyết tộc với mình (Ego) ñược giới hạn trong phạm vi sinh thành

Bàng hệ là thuật ngữ thân tộc dùng ñể chỉ những người có mối quan hệ huyết tộc (quan hệ máu mủ) và thích tộc (quan hệ hôn nhân) với mình ñược giới hạn trong phạm vi trên cùng một thế hệ

* Thuật ngữ bậc thân tộc:

Bậc thân tộc là thuật ngữ dùng ñể chỉ số lượng người ñứng làm trung gian kết nối thân tộc với nhau Mỗi thành viên trong một hệ thống thân tộc có thể có nhiều mối quan hệ theo nhiều cấp bậc thân tộc khác nhau Ví dụ:

Quan hệ thân tộc bậc nhất gồm: cha, mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ, chồng, con trai, con gái,… là mối quan hệ thân tộc trực tiếp không thông qua một người trung gian nào

Quan hệ thân tộc bậc hai gồm: anh em của cha, anh em của mẹ, chị em của cha, chị em của mẹ,… là mối quan hệ thân tộc gián tiếp ñược thiết lập thông qua một người làm trung gian

Quan hệ thân tộc bậc ba gồm: con gái và con trai của anh em trai của mẹ hay anh em trai của cha; con gái và con trai của chị em gái của mẹ hay chị em gái của cha; là mối quan hệ thân tộc gián tiếp ñược thiết lập thông qua hai người làm trung gian

Theo Emily A.Schultz & Robert H.Lavenda, những tập tục trong quan hệ thân tộc không phải là các luật lệ thành văn qui ñịnh quyền lợi và bổn phận mà con người ñối với nhau Những tình cảm mà các dân tộc này gắn với các loại người thân tộc khác nhau của họ cũng thật như những tình cảm mà chúng ta gắn với các loại thân nhân của chúng ta Và thế giới thân tộc là thế giới của bổn phận và trách nhiệm, về cơ bản ñó là thế giới của luân lý trộn lẫn tình cảm [159:270]

* Dòng họ là một phần quan trọng trong thân tộc và gia ñình Dòng họ là một

ñơn vị xã hội trường tồn mà các thành viên của nó tự cho là xuất thân từ một tổ tiên xác ñịnh căn cứ vào quan hệ phả hệ tổ tiên và con cháu ñược nhận biết rõ ràng Dòng

Trang 23

họ có vai trò liên kết các cá nhân có cùng mối quan hệ huyết thống chung một tổ tiên Đồng thời nó cũng chi phối khá mạnh mẽ ñối với mối quan hệ hôn nhân và gia ñình Các thành viên trong cùng một dòng họ có trách nhiệm quan tâm và giúp ñỡ lẫn nhau

về mọi phương diện Đồng thời, họ chịu sự ràng buộc theo một qui tắc nhất ñịnh Trong ñó, thể hiện rõ nét nhất là nguyên tắc sở hữu tài sản và nguyên tắc hôn nhân theo dòng họ

* Tổ chức xã hội phi quan phương: là xã hội không nằm trong sự quản lý của

nhà nước bằng hành chính, pháp luật Ví như tổ chức xã hội truyền thống, các tổ chức

tự quản Các tổ chức phi quan phương chỉ phát huy vai trò khi pháp luật Nhà nước chưa ñược xác lập ở những giai ñoạn ñầu gia nhập vào cộng ñồng [Theo quan ñiểm các nhà khoa học Việt Nam]

* Tổ chức xã hội quan phương: là tổ chức xã hội nằm trong sự quản lý của

Nhà nước bằng hệ thống pháp luật Đây là giai ñoạn Nhà nước xác lập ñược vị thế và ñiều hành bằng hệ thống pháp luật Vì vậy, tổ chức phi quan phương mất dần vai trò và tồn tại dưới dạng tàn dư [Theo quan ñiểm các nhà khoa học Việt Nam]

1.1.2 Một số lý thuyết tiếp cận của luận án

* Thuyết cấu trúc:

Không có trường phái lý thuyết nào mà gần như chỉ gắn với tên tuổi một cá nhân giống trường phái Cấu trúc Pháp và Claude Levi-Strauss Mặc dù cả Radcliffe Brown và Levi-Strauss ñều ñược gọi là các nhà nhân học cấu trúc, nhưng cách tiếp cận của họ có sự khác biệt lớn Trong khi Radcliffe tập trung vào nghiên cứu các phần của

xã hội hoạt ñộng thế nào trong tổng thể chung, thì Levi-Strauss tập trung vào nghiên

cứu cấu trúc trí tuệ/tinh thần nằm dưới các hành vi xã hội Đối với Ông, dân tộc học

có vẻ nghiêng về tâm lý hay nhận thức hơn là xã hội Theo trường phái này văn hóa do một số mã ñược lập trình sẵn trong não bộ người quyết ñịnh hơn là do các yếu tố bên ngoài

Trang 24

Vào năm 1903, Emile Durkheim và Marcel Mauss (cháu trai của ơng) đã chọn một cách tiếp cận đối lập với cách tiếp cận của các nhà cấu trúc học sau này Họ biện luận rằng, những phân loại thế giới tự nhiên là quá khứ và trí tuệ cá nhân mỗi người khơng thể xây dựng được nếu như chỉ dựa vào khả năng bẩm sinh của nĩ Hai ơng khẳng định, những sự phân loại như thế cĩ tính tập thể xét về nguồn gốc

Durkheim và Mauss lập luận: một khi hệ thống tơtem đã được thiết lập nĩ cĩ thể

“phản ứng chống lại nguồn gốc hay nguyên nhân của chính nĩ” và tạo ra càng lúc càng nhiều sự phân hĩa xã hội

Lý thuyết cĩ tính chất phỏng đốn quá mức của Durkheim và Mauss đưa ra nhiều giả định khơng chứng minh được Người ta khơng bao giờ chứng minh được cái gọi là nguyên nhân xã hội của sự nhận thức Ở đây, ơng lập luận rằng: tơn giáo bắt nguồn từ việc thần thánh hĩa ý thức tập thể Vì vậy để dựng lại nguồn gốc của tơn giáo cần phải khám phá ra những tình huống trong đĩ con người lần đầu tiên nhận biết về ý thức tập thể Ngồi ra, ơng cịn cho rằng tơ tem của các thị tộc chính là các biểu tượng

Lý thuyết của Durkheim về chức năng của hành động biểu tượng đã kích thích

ba dịng phát triển trong khoa học xã hội: Ngơn ngữ học cấu trúc, lý thuyết Cấu trúc về huyền thoại và nghi lễ và lý thuyết Chức năng về tơn giáo [165:23]

* Lý thuyết chức năng

Thuyết chức năng xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX gắn liền với tên tuổi của Bronislaw Malinowski (1884-1942) và sau đĩ là Arthur Reginald Radcliffe Brown (1881 – 1955)

B Maliknowski đã trải qua thời gian 6 năm (từ 1914 đến 1920) để nghiên cứu đời sống của cư dân đảo Trobriand và đã viết nhiều tác phẩm về các tập tục của người dân ở đây Ơng là người đặt nền tảng cho lý thuyết chức năng Cịn Radcliffe-Brown là người cĩ tầm ảnh hưởng trong việc phát triển lý thuyết này Quan điểm của Bronislaw Malinowski và Radcliffe Brown là khơng xem những tập tục của các xã hội cĩ quy mơ

Trang 25

nhỏ như là những tàn dư của một thời kỳ trước ñó, mà phải giải thích theo chức năng

hiện thời của chúng

Có ba ñịnh nghĩa khác nhau về khái niệm chức năng [165:51] về các tập tục xã hội:

1 Định nghĩa thứ nhất hiểu “chức năng” theo một nghĩa có vẻ toán học Mọi tập tục ñều có tương quan với tất cả những tập tục khác trong cộng ñồng, vì vậy mỗi tập tục quy ñịnh tình trạng của những tập tục kia

2 Định nghĩa thứ hai, do Malinowski sử dụng, ñược rút ra từ sinh học Chức năng của các tập tục là ñể thỏa mãn những nhu cầu sinh học chủ yếu của cá nhân thông qua phương tiện văn hóa

3 Định nghĩa thứ ba do Radcliffe-Brown lấy từ quan ñiểm của Durkheim Chức năng của mỗi tập tục là vai trò mà nó nắm giữ trong việc duy trì sự toàn vẹn của hệ thống xã hội

Từ các ñịnh nghĩa trên cho thấy, B Malinowski chú trọng ñến chức năng của văn hóa Theo ông, ñể giải thích các tập tục phải dựa vào chức năng hiện có của chúng

và ñiều này sẽ làm cho việc kiểm chứng ñược dễ dàng và khoa học hơn Ông ñưa ra hai

ví dụ về chức năng trong tập tục của người dân ñảo Trobriand là khi ñóng thuyền ñi biển, người thợ ñóng thuyền thường ñọc những lời thần chú trong quá trình hoàn thành chiếc thuyền; hoặc họ luôn thực hiện những nghi lễ “bùa phép” khi ñi ñánh bắt ngoài biển khơi Còn lúc ñánh cá ở ven hồ hoặc tại vùng biển cạn, ít nguy hiểm ñến tính mạng thì họ sẽ không có những nghi lễ liên quan ñến “bùa phép” Giải thích cho hai trường hợp này, Malinowski cho rằng, việc “ñọc thần chú” và “làm bùa phép” là nhằm trấn an tâm lý của con người Khi ñọc thần chú, người thợ sẽ có ñược sự tự tin ñể hoàn thành con thuyền; cũng như khi làm bùa phép thì người ñánh cá sẽ an tâm hơn khi ñối mặt với biển cả [171]

Do ñó, những tập tục xuất hiện trong ñời sống cộng ñồng ñều gắn liền với một chức năng nào ñó về mặt tâm lý của con người và những tập tục xuất hiện theo nguyên

Trang 26

tắc của nó Malinowski còn cho rằng, tìm những nguyên tắc khi cộng ñồng thực hiện những tập tục cũng quan trọng không kém việc quan sát cộng ñồng thực hiện tập tục

ñó Vì vậy, ông ñã xây dựng lý thuyết trên nguyên tắc sinh học có quan hệ chặt chẽ với việc nghiên cứu các phương thức nhằm thỏa mãn những nhu cầu cuộc sống của con

người trong ăn, ở, sinh hoạt Từ chức năng ñược dùng ở ñây theo nghĩa là “thỏa mãn

nhu cầu sinh học chủ yếu (của cá nhân) thông qua những phương tiện của văn hóa” Ông lập luận, văn hóa “là cách thức hữu hiệu và bền vững hơn ñể thỏa mãn những nhu cầu sinh học bẩm sinh của con người” và ñiều này tạo ra một bản sắc riêng biệt của tộc người [176:31]

Do ñó, thuyết chức năng là nền tảng xem văn hóa là một hệ thống cân bằng, vì vậy mà Malinowski lập luận, bất kỳ văn hóa nào trong tiến trình phát triển cũng ñều tạo ra một hệ thống cân bằng, ổn ñịnh, trong ñó mỗi bộ phận ñều thực hiện chức năng của nó Nếu triệt tiêu một yếu tố nào ñó trong văn hóa thì toàn bộ hệ thống văn hóa tộc người sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và hủy hoại Do ñó, ông thường lên án sự can thiệp thô bạo của các quan chức thực dân vào cuộc sống của cư dân bản ñịa Sự can thiệp ñó chứng tỏ sự thiếu hiểu biết về những giá trị của các nền văn hóa Ông nhấn mạnh truyền thống theo cách nhìn sinh học là hình thức thích nghi của tập thể cộng ñồng ñối với môi trường của nó Tiêu diệt truyền thống kéo theo tổ chức xã hội sẽ mất

ñi, ñó là ñiều không thể tránh khỏi [176:34]

Khác với Malinowski, A.Radchiffe Brown quan tâm ñến chức năng văn hóa theo hướng cấu trúc Ông dựa trên quan ñiểm của Durkheim khi cho rằng xã hội là một thực thể ñặc biệt không ñồng nhất với cá thể Bất kỳ một hệ thống nào cũng ñược xác ñịnh bằng các ñơn vị (yếu tố) cấu thành nó và các quan hệ giữa chúng Do vậy, chức

năng của một tập tục là sự ñóng góp của nó vào ñời sống liên tục của “cơ thể xã hội” Radchiffe Brown ñịnh nghĩa sự thống nhất chức năng là “một tình trạng trong ñó tất cả mọi thành phần của một hệ thống xã hội cùng làm việc với nhau ở một mức ñộ hài hòa

Trang 27

hoặc thống nhất nội bộ (ñể tiếp tục như một hệ thống), tức là không tạo ra những xung ñột kéo dài mà không giải quyết hoặc ñiều chỉnh ñược” [176:37]

Mục ñích của Radchiffe Brown là không giải thích sự ña dạng của xã hội loài người mà là khám phá những quy luật của hành vi xã hội Khám phá bằng cách quan sát trong những loại xã hội nhất ñịnh sẽ tìm thấy có một số quan hệ xã hội ñặc trưng nào ñó Theo ông, không phải mọi tập tục ñều nhất thiết cần có một chức năng tích cực

và một số hệ thống xã hội có thể cao hơn những hệ thống xã hội khác do mức ñộ tích hợp (integration) của nó Radcliffe Brown thừa nhận, ý tưởng thống nhất chức năng của một hệ thống xã hội là một giả thuyết và sự ñối nghịch hay ñối kháng giữa các nhóm bên trong xã hội là một tính chất vốn có của mọi hệ thống xã hội Ông cũng nhận ñịnh, khi cơ cấu của một cơ thể ñộng vật hiển thị một cách trực tiếp, thì cơ cấu xã hội không thể thấy trực tiếp ñược, mà phải suy luận từ việc quan sát những ñiều lặp ñi lặp lại trong các hành ñộng của những người tham dự Theo ông, trong một hệ thống xã hội, một tập tục hay thể chế có thể ñược thay thế bởi một cái khác mà chính hệ thống

xã hội không bị tan vỡ Các xã hội có thể thay ñổi theo cách mà các cơ thể ñộng vật thường không thay ñổi ñược

Theo chúng tôi, thuyết chức năng nêu trên có giá trị ñể giải thích cho nhu cầu

vật chất cũng như tinh thần trong ñời sống con người dưới hình thức nhu cầu của một

xã hội, của cộng ñồng tộc người thì thuyết chức năng vẫn giữ ñược giá trị khoa học của

nó Trong trường hợp nghiên cứu hệ thống xã hội tộc người chúng tôi cũng có thể vận dụng lý thuyết này ñể giải thích về các chức năng trong vận hành xã hội truyền thống

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn ñề:

Việc nghiên cứu về người Khmer nói chung, những tài liệu liên quan về người Khmer ở Nam Bộ ñã ñược nhắc ñến trong một số tác phẩm: Phù Nam Ký, Chân Lạp phong thổ ký

Dưới thời Pháp thuộc, một số học giả người Pháp ñã ñề cập ñến một số khía cạnh liên quan ñến tổ chức xã hội, hôn nhân gia ñình của người Khmer như: Barrault

Trang 28

với “Người Cam-bôt ở Nam Kỳ” (Les Cambodgiens de Cochinchine); Louis Malleret với “Nhóm thiểu số người Cam-bôt ở Nam Kỳ” (La minorité Cambodgiens de Cochinchine)… ñã giới thiệu về nguồn gốc, sự di chuyển của người Khmer từ Campuchia sang Việt Nam ñịnh cư và khai khẩn vùng ñất ở ñồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, một số học giả nước ngoài với các công trình bằng tiếng Anh nghiên cứu về

hệ thống thân tộc, quan hệ hôn nhân và gia ñình của người Khmer như: Lebar, Frank.M, Gerald.C, Hickey, John.K, Musgrave với “Các nhóm tộc người ở Đông Nam

Á lục ñịa” (Ethnic groups of mainland Southeast Asia); Henri Baudesson với “Đông Dương và những cư dân nguyên thủy” (Indochina and It’s primitive people)… Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chỉ mang tính giới thiệu, chưa ñi sâu phân tích như một chuyên khảo

Dưới thời Chính quyền Sài Gòn, việc nghiên cứu người Khmer Nam Bộ cũng ñược chú ý Ở miền Nam ñã có những chuyên khảo bằng tiếng Việt về người Khmer

của các học giả miền Nam Tiêu biểu là những tác phẩm: “Việt sử: xứ Đàng Trong”

của Phan Khoang, tìm hiểu về quá trình mở mang và khai khẩn xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn Trong ñó, tác giả giới thiệu việc tham gia khai khẩn, “xây làng lập ấp”

của các dân tộc Khmer, Việt, Hoa; “Người Việt gốc Miên” của Lê Hương mô tả về lịch

sử, dân số, ñời sống kinh tế - xã hội, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long nhưng chỉ ở mức ñộ sơ lược Ngoài ra, tác giả Lê Hương còn có một số tác phẩm khác như: Sử Cao Miên, Chợ trời Biên giới Việt Nam – Cao Miên giới thiệu mối quan hệ giao thương của những người dân ở vùng biên giữa hai nước…

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất ñất nước, việc nghiên cứu

về người Khmer ñược coi trọng thể hiện ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: ñời sống kinh tế, xã hội, văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần Một số công trình không chỉ giới thiệu tổng quan mà còn ñi sâu nghiên cứu chuyên ñề về những vấn ñề khoa học cụ thể

về người Khmer

Trang 29

Tác giả Mạc Đường với hàng loạt công trình nghiên cứu như: “Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở ñồng bằng sông Cửu Long (Thế kỷ XV-XIX)”, “Vấn ñề dân

cư dân tộc ở ñồng bằng sông Cửu Long trong thời cổ ñại”, “Vấn ñề dân cư và dân tộc ở ñồng bằng sông Cửu Long vào những năm ñầu thế kỷ XX”, “Vấn ñề dân cư và dân tộc

ở ñồng bằng sông Cửu Long”, tác giả nêu lên sự hình thành và phát triển vùng môi sinh

xã hội và những vùng dân cư – dân tộc ở ñồng bằng sông Cửu Long, vấn ñề dân tộc và quan hệ dân tộc, cũng như vấn ñề xã hội có giai cấp ở ñồng bằng sông Cửu Long trước năm 1975, “Vấn ñề dân tộc ở ñồng bằng sông Cửu Long”… ñã ñề cập ñến sự hình thành các cộng ñồng tộc người trong ñó có người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long

Tác giả Phan An với những công trình nghiên cứu như: “Một số vấn ñề kinh tế,

xã hội của vùng nông thôn Khmer ñồng bằng sông Cửu Long”, mô tả khái quát hoạt ñộng kinh tế, vấn ñề ruộng ñất và giai cấp cũng như tổ chức xã hội truyền thống của vùng nông thôn Khmer ñồng bằng sông Cửu Long; “Vài khía cạnh dân tộc học về người Khmer ở Việt Nam và Campuchia”; “Nghiên cứu về người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long”, tác giả ñã khái quát một số hậu quả do chủ nghĩa thực dân mới ñể lại ñối với ñồng bào Khmer và tình hình nghiên cứu về người Khmer trước năm 1975;

“Phum, sóc Khmer trong cơ chế quản lý xã hội vùng dân tộc Khmer Nam Bộ”, “Dân tộc Khmer” (Viết cùng tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa), “Cơ chế quản lý xã hội truyền thống phum, sock của người Khmer Nam Bộ”, “Sự tương thích giữa thiết chế chính trị

xã hội truyền thống của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long trong quá trình tộc người”,… là những công trình có liên quan ñến xã hội của người Khmer

Tác giả Đinh Văn Liên với các công trình nghiên cứu như: “Đặc ñiểm môi sinh

và dân số ở vùng người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long” ñã khái quát ñược ñặc ñiểm môi sinh, sự phân bố cư trú cũng như tình hình phát triển dân số của người Khmer;

“Thử tìm hiểu loại “họ” của người Khmer phân bố trong các vùng thuộc ñồng bằng

sông Cửu Long”, qua ñó, tác giả cho biết ngoài một số họ vốn có ban ñầu, người

Trang 30

Khmer có thêm 5 họ (Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh) và trở thành họ chính thức của người Khmer; …

Tác giả Phan Thị Yến Tuyết với những công trình nghiên cứu như: “Một số ñặc ñiểm về văn hoá vật chất của người Khmer và người Chăm ở vùng ñồng bằng sông Cửu Long”, tác giả nêu khái quát về văn hóa vật chất (chùa, nhà ở, trang phục…) của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long; “Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng ñồng bằng sông Cửu Long” trong ñó có nội dung chuyên sâu về văn hóa vật chất của người Khmer…

Tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa với “Giao hoán tín ngưỡng của người Khmer vùng ñồng bằng sông Cửu Long”, “Tàn dư tín ngưỡng Arắk và Neak Tà ở người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long”, tác giả ñã giới thiệu sơ lược về tín ngưỡng thờ Arắk và Neak Tà ở người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long Tín ngưỡng nói về những vị thần bảo vệ hay bảo hộ cho dòng họ và phum sóc Khmer …

Tác giả Nguyễn Khắc Cảnh với những công trình nghiên cứu như: “Đặc ñiểm, các hình thái quần cư và các loại hình phum, sóc người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long”, “Ngôi chùa- Trung tâm giáo dục và sinh hoạt văn hoá xã hội của phum, sóc người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long”, “Vấn ñề nguồn gốc và sự hình thành cộng ñồng người Khmer ở vùng ñồng bằng sông Cửu Long”, “Chùa Khmer Nam Bộ - Một công trình nghệ thuật kiến trúc ñộc ñáo”, “Phum, Sóc Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long”,… ñã khái quát ñược “mô hình” công xã nông thôn của người Khmer vùng ñồng bằng sông Cửu Long

Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Kim Oanh “Hôn nhân và gia ñình của người

Khmer ñồng bằng sông Cửu Long” năm 2007 Tác giả ñã nêu ñược loại hình hôn nhân truyền thống và hôn nhân hiện ñại của người Khmer Đồng thời, tác giả cho người ñọc biết cấu trúc cũng như chức năng, lễ tục và những biến ñổi trong gia ñình của người Khmer

Trang 31

Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu của các tác giả là người Khmer như Sorya, Thạch Voi ñã nghiên cứu về sinh hoạt văn hóa, lễ nghi, phong tục tập quán

và lễ hội của người Khmer

Nhìn chung, các tác giả ñã giới thiệu khá ñầy ñủ ñặc ñiểm môi sinh, dân cư, dân

số, ñặc ñiểm phân bố và cư trú, những sinh hoạt vật chất của người Khmer Cấu trúc của phum, sóc cũng ñược ñề cập ñến Đặc biệt, tác giả Phan An ñã dày công nghiên cứu về chế ñộ sở hữu ruộng ñất và sự phân hoá giai cấp, về cơ chế và sự vận hành của

bộ máy tự quản của phum, sóc của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long trong mối quan hệ với bộ máy hành chính Chính quyền Nhà nước Đồng thời, những hoạt ñộng sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trong phum, sóc Khmer cũng như các hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, lễ nghi, phong tục, lễ hội liên quan ñến sinh hoạt cộng ñồng phum, sóc ñều ñược nghiên cứu

Hiện nay, Viện Đông Nam Á, Tôn giáo, Sử học, Văn hoá dân gian, viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật và một số ngành khác ở các ñịa phương ñều có một sự quan tâm nhất ñịnh vào việc nghiên cứu người Khmer Nam Bộ

Tuy nhiên, những công trình ñi sâu nghiên cứu về toàn bộ hệ thống xã hội tộc người của người Khmer chưa ñược quan tâm ñầy ñủ và chưa nhiều Do ñó, ngoài nguồn tư liệu kể trên và một số tài liệu tham khảo khác Trong luận án, tác giả ñã sử dụng phần lớn nguồn tư liệu thông qua các ñợt khảo sát ñiền dã tại các ñịa bàn nghiên cứu ở các tỉnh: Trà Vinh (xã Kim Sơn, huyện Trà Cú), Sóc Trăng (huyện Vĩnh Châu),

An Giang (xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn), Kiên Giang (xã Định An, huyện Gò Quao) và một số vùng người Khmer sinh sống của tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau

1.2 Tổng quan về người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long

1.2.1 Môi trường, ñặc ñiểm cư trú của người Khmer

Vùng ñồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam còn ñược gọi là miền Tây Nam

Bộ Theo cách gọi của người dân miền Nam Việt Nam ngắn gọn Miền Tây, là châu thổ sông Mêkông rộng lớn với diện tích 39.734km2.Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm

Trang 32

13 tỉnh thành phố (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) Đồng bằng sông Cửu Long ñược hình thành trong quá trình ñịa chất lâu dài, chủ yếu do sự bồi ñắp phù sa của sông Mêkông Hệ thống sông rạch và kênh ñào dày ñặt cắt xẻ bề mặt ñồng bằng, giao thông ñường thủy thuận lợi ñồng thời sự phân bố lũ rất dễ dàng Thiên nhiên thể hiện tính chất bán ñảo, nhiệt ñới gió mùa thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm, ngư nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí như một bán ñảo với 3 mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp biển (có ñường bờ biển dài 700km), phía Tây giáp với Campuchia và phía Bắc giáp với vùng kinh tế Đông Nam Bộ, vùng kinh tế lớn nhất của Việt Nam hiện nay

Do ảnh hưởng khí hậu nhiệt ñới gió mùa và thủy triều tác ñộng từ nhiều hướng, lượng nước ở ñồng bằng sông Cửu Long chênh lệch giữa các mùa rất lớn Hàng năm, ñồng bằng sông Cửu Long nhận tổng cộng hơn 600 tỉ m3 nước Trong ñó, lượng nước mưa là 90tỉ m3, thủy triều là 550tỉ m3 Gió mùa Tây Nam cũng ñồng nghĩa với mùa mưa (tháng 6,7 ñến tháng 10) kết hợp với triều cường thường tạo nên những ñợt lũ Bên cạnh ñó, lũ cũng mang lại một lượng lớn phù sa lắng ñọng tạo nên những cánh ñồng màu mỡ và lượng tôm cá rất lớn Mùa khô (từ tháng 11 ñến tháng 5), gió Tây Nam ngừng thổi, gió mùa Đông Bắc tràn về dòng chảy các sông bắt ñầu cạn nước, nước mặn xâm nhập ảnh hưởng ñến ñời sống của người dân cũng như trong sản xuất nông ngư nghiệp (Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu…)

Trang 33

Bản ñồ Đồng bằng sông Cửu Long (http://websrv.ctu.edu.vn)

Căn cứ vào những ñiểm khác biệt, chúng ta có thể chia ñồng bằng sông Cửu Long thành những tiểu vùng môi sinh như sau:

- Vùng phù sa không ngập nước (hoặc ít ngập nước) nằm giữa lưu vực hai con sông Tiền, sông Hậu thuộc các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp Đây là vùng cao của châu thổ, vùng ñất có nhiều kênh rạch thoát nước vào mùa mưa và là vùng ñất phì nhiêu nhất của ñồng bằng sông Cửu Long với diện tích khoảng 1.200.000ha rất thuận lợi cho việc trồng trọt

- Vùng ñất bị nhiễm mặn, bao gồm một số nơi thuộc Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu có diện tích 750.000 ha Mùa khô do tác ñộng của thủy triều ñưa nước mặn nhiễm sâu vào ñất canh tác cho nên việc trồng lúa có phần bị hạn chế, nhưng lại thuận lợi cho nuôi trồng hải sản, nhất là tôm Vùng Trà Vinh, Vĩnh Long là vùng cư trú

Trang 34

cổ xưa nhất của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long Những bằng chứng xác thực chứng minh cho ñiều này chính là những ngôi chùa cổ có niên ñại từ 400 - 600 năm (chùa Âng, chùa Samrong Ek… ở Trà Vinh) Vùng này ñịa hình phẳng thấp, ngoại trừ những giồng ñất dọc theo hai bờ sông Tiền, sông Hậu Những gò ñất cao chạy song song với bờ biển ñược gọi là giồng mà người Khmer gọi là “phno” Những giồng hay

gò ñất là vùng ñất phù sa cổ, trên mặt là ñất cát pha thịt, dưới sâu là ñất sét nước thoát rất dễ dàng

- Vùng ngập nước: Tứ giác Long xuyên (An Giang, Kiên Giang), vùng ven biển (Sóc Trăng - Bạc Liêu) và vùng Đồng Tháp Mười (ñây là vùng lúa nổi có từ lâu ñời)

ñộ ngập nước sâu, ngập từ tháng 9 ñến tháng 11 hàng năm Người Khmer vùng ven biển sinh sống ở những vùng ngập nước có rừng ñước, rừng tràm bao phủ, giữa các giồng ñất thấp và lầy lội nên mật ñộ dân cư trú thấp Đất ñai khu vực này ít màu mỡ, chỉ thuận lợi cho cuộc sống nghề biển Người Khmer chỉ có kinh nghiệm làm nông nghiệp nên nghề ñánh cá không phát triển Điểm nổi bật của vùng này là sự cư trú xen

kẽ giữa 3 dân tộc Kinh – Khmer – Hoa Ở ñây, sự hòa nhập về văn hóa diễn ra rất nhanh giữa các dân tộc, tạo nên yếu tố văn hóa chung của vùng Hiện tượng giao lưu văn hóa, lai hai ba dòng máu trong gia ñình qua nhiều thế hệ là hiện tượng phổ biến ở vùng này, nhất là vùng Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Bạc Liêu

- Vùng núi: trải dài hơn 118 km dọc An Giang, Kiên Giang, trong ñó vùng Thất Sơn là quan trọng nhất Vùng Châu Đốc, Tân Châu là nơi cư trú của người Chăm Hồi Giáo Vùng Tri Tôn - Tịnh Biên là những phum sóc của người Khmer cả vùng núi cao dọc biên giới Campuchia và một số núi nhỏ khác như núi Sập, núi Ba Thê Vùng Hà Tiên còn có núi ñá vôi và bờ biển chạy dọc theo vịnh Thái Lan ñến ranh giới Rạch Giá (Kiên Giang) Thiên nhiên ở ñây ña dạng, ảnh hưởng ñáng kể ñến tình trạng cư trú, sinh hoạt, sản xuất của người Khmer và người Việt trong vùng Phum sóc của người Khmer vùng biên giới tỉnh An Giang, Kiên Giang ñược thiết lập chủ yếu ven chân núi, trên triền ñồi triền núi hay trên giồng ñất; ven kênh ở những vùng ñất thấp (thường hay

Trang 35

bị ngập lụt)

Căn cứ vào ñiều kiện ñịa lý, môi sinh, lịch sử cư trú của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long có thể cho thấy người Khmer tập trung ở ba vùng chính: vùng tỉnh Trà Vinh, ven biển tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và vùng biên giới Châu Đốc kéo dài ñến Kiên Giang Một trong những ñặc ñiểm phân bố dân cư của người Khmer là cư trú tập trung

Các loại hình cư trú

- Cư trú trên ñất giồng

- Cư trú trên ñất ruộng

- Cư trú ven theo kênh và các con rạch nhỏ

- Cư trú dọc theo trục lộ giao thông

- Cư trú dạng vành khăn ven chân núi Tùy theo những vùng môi sinh khác nhau mà có những hình thức cư trú khác nhau phù hợp với môi trường Người Khmer cư trú ở ñồng bằng sông Cửu Long thành những cụm rời nhỏ, sống xen kẻ với người Việt và người Hoa

Theo lời kể của một vài Lục cả lớn tuổi trụ trì tại các chùa của người Khmer, quan niệm sống

của người Khmer xưa là thích sống yên ổn ở những nơi yên tĩnh Chính vì thế, xung quanh khu vực người Khmer sinh sống cây cối um tùm, rau và các loại cây ăn trái ñược trồng rất nhiều Họ thích cuộc sống tự cung tự cấp, trong phum sóc không có sự cạnh tranh về hàng hóa Tất cả sản phẩm nông nghiệp làm ra ñều ñược dự trữ ñể sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống Nếu những thứ mà gia ñình mình cần không có, họ lại mang những thứ có ñược sang nhà hàng xóm trao ñổi Đôi khi thu hoạch cùng lúc quá nhiều sản phẩm, họ lại chia sẽ cho hàng xóm láng giềng Người Khmer không thích những nơi ñông ñúc ồn ào nhất là gần chợ, họ không chịu ñược không khí huyên náo Ban ñầu

người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long có tên gọi Khê ma rắk (theo tiếng Pali) và thuật ngữ này có ý

nghĩa là người thích hưởng thụ sự yên ổn, Miên hay Cao Miên (Pháp) người Khmer cũng tự nhận mình

là người Miên ở vùng cao Ở ñây, người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long quan niệm là cao ráo Người Việt gọi người Khmer là “Đàng Thổ” (ñàng là vùng, xứ; thổ là thổ cư, bản ñịa) Khi người Việt ñến ñồng bằng sông Cửu Long ñã có người Khmer sinh sống và người Việt gọi người Khmer là người Đàng Thổ tức là người bản ñịa (cách gọi tôn trọng) Và người Khmer gọi người Việt là “Duôn” nghĩa

Trang 36

là khách, người xa lạ từ nơi khác tới [ Theo lời kể của Hòa thượng Thạch Huông (67 tuổi), chùa Prây Chop, xã Lai Hòa, Vĩnh Châu – Sóc Trăng ]

Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, ñồng bằng sông Cửu Long có nhiều dân tộc cùng sinh sống cùng khai hoang mở cõi tạo nên một vùng ñất trù phú, mang ñậm bản sắc văn hóa truyền thống Cách ñây hơn ba thế kỷ, người Khmer sinh sống trên ñịa bàn các tỉnh ñồng bằng sông Cửu Long ñã hội nhập một cách nhanh chóng vào cộng ñồng các dân tộc Việt Nam Đồng bào dân tộc Khmer ñã từng ñồng cam cộng khổ với người Việt và các dân tộc anh em ở ñịa phương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cơ cấu dân cư của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long

Người Khmer cư trú tập trung, khu vực cư trú của người Khmer ñã ñược hình thành từ trước thế kỷ XX bao gồm các tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang và An Giang Ngay từ những năm cuối thế kỷ 19, một số lượng lớn cư dân Khmer ñã chuyển

từ Trà Vinh ñến Sóc Trăng lập ra những phum sóc mới [49:41–42]

Người Khmer có một quá trình cư trú lâu dài tại ñồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, số liệu cụ thể về dân số chỉ có từ thời kỳ Pháp thuộc Theo ñiều tra của chính quyền thực dân Pháp từ năm 1862 ñến năm 1888, số dân Khmer có 151.367 người, người Việt là 1.629.224 người và người Hoa 56.000 người Đến năm 1895, dân số Khmer tăng lên 170.488 người, dân số Hoa tăng lên 88.000 người và Việt cũng tăng lên 1.967.000 người Đầu thế kỷ XX, theo thống kê năm 1925, dân số Khmer là 292.000 người; năm 1936 là 326.000 người [85:96]

Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, năm 1960 có 381.000 người Khmer trong tổng số 13.789.300 người ở miền Nam Năm 1972, tăng lên 646.591 người Khmer

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc thống nhất, cuộc tổng ñiều tra dân số năm 1976 cho thấy trong vòng 15 năm (1960-1975) dân số Khmer ñã tăng lên gấp 2 lần là 652.000 người, chiếm 5% dân số Nam Bộ Theo số liệu thống kê của nhà nước năm 1989, dân số người Khmer toàn Nam Bộ là 872.400 người (417.500 nam và

Trang 37

454.900 nữ) [123:22].

Theo cuộc tổng ñiều tra dân số do Tổng cục thống kê tiến hành tính ñến 1/4/1999 tổng số dân Khmer khu vực Nam Bộ là 1.024.633 người Với số lượng dân cư trên, người Khmer là cộng ñồng dân tộc có số lượng ñông thứ 2 ở khu vực Nam Bộ sau người Việt Về khía cạnh văn hóa, người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long tương ñối thống nhất Sự phân biệt giữa các nhóm ñịa phương Khmer ở Sóc Trăng và Trà Vinh chủ yếu dựa trên âm ñiệu của giọng nói

Trong số 9 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có người Khmer sinh sống, người Khmer tập trung ñông nhất ở 3 tỉnh Sóc Trăng (338.269) Trà Vinh (290.932) Kiên Giang (182.058) Tỷ lệ tăng dân số của cộng ñồng dân tộc Khmer thường cao hơn so với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn vùng Vì người Khmer quan niệm: “sinh nhiều con,

có nhiều cháu gia ñình sẽ ñược nhiều phúc” (Xem bảng 1 phụ lục)

Qua cuộc tổng ñiều tra dân số vào tháng 4/2009 [Tổng cục thống kê] cho biết,

tổng số dân trong toàn khu vực ñồng bằng sông Cửu Long là 17.178.871 trong ñó người Khmer là 1.118.805 Theo số liệu tổng hợp của 15% mẫu của Tổng ñiều tra dân

số và nhà ở năm 2009 do Tổng cục thống kê cung cấp, số lượng người Khmer tập trung ñông nhất là các tỉnh Sóc Trăng (372.521 người), Trà Vinh (304.173 người), Kiên Giang (196.053) (Xem bảng 2 phụ lục)

1.2.2 Các hoạt ñộng kinh tế của người Khmer

Người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long sinh sống với nghề nông, họ khai thác trên mảnh ñất của tổ tiên ñể lại hoặc bản thân chắt chiu dành dụm mua ruộng ñất Người Khmer rất cần cù, chịu khó khai hoang lấy ñất canh tác (ngày xưa, ñồng bằng sông Cửu Long rất hoang vu, ñất rộng người thưa) Canh tác lúa nước là sinh hoạt sản xuất chủ yếu, chiếm hầu hết dân số lao ñộng và ña số diện tích ñất canh tác và cung cấp 90% nguồn lương thực thực phẩm cho con người cũng như chăn nuôi gia súc của ñồng bào Nghề làm ruộng nước ñã giúp ñồng bào Khmer có nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật trong việc sử dụng ñất ñai

Trang 38

Hoạt ñộng kinh tế chủ yếu của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long là sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế và ảnh hưởng lớn trong các mặt sinh hoạt văn hoá, xã hội… Việc sử dụng các nông cụ chủ yếu như cày, bừa, cuốc, trục ñất… giữa nông dân Khmer và Việt có sự tương ñồng

Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân Khmer Đồng bằng sông Cửu Long

ñã biết phân biệt các loại ruộng ñất ñể gieo trồng, lựa chọn các loại giống thích hợp và tiến hành nhiều biện pháp kỹ thuật canh tác thủy lợi… ñể ñem lại hiệu quả trong sản xuất Căn cứ vào việc gieo trồng cây lúa nước hay hoa màu mà nông dân Khmer gọi là ñất ruộng (srê) hay ñất rẫy (chăm ka) Ruộng trồng các loại lúa nước, còn rẫy trồng hoa màu, cây lương thực phụ (một vài nơi trồng lúa rẫy) Tuy nhiên, người nông dân Khmer cũng rất linh hoạt Họ biết trồng xen canh trên mảnh ñất của mình, vụ này trồng lúa gọi là “srê” nhưng vụ tiếp theo trồng dưa hấu, rau ñậu thì gọi là “chăm ka” Đất “chăm ka” của người Khmer tương ñối cố ñịnh, gần như ñất vườn, ñất rẫy của người Việt Đất “Chămka” ở quanh phum sóc, gần nơi cư trú ñể tiện chăm nom, săn sóc cây trồng

Người Khmer có câu tục ngữ “làm ruộng khi ñất còn nóng” Kỹ thuật làm ñất của người Khmer chiếm một vị trí quan trọng trong việc gieo cấy lúa và ảnh hưởng năng suất cây trồng Sau những ngày vui tết Chol Chnam Thmei, người nông dân bắt tay vào việc cày bừa dọn ñất, sau ñó là làm mạ, cấy lúa, chăm sóc và thu hoạch Trong quá khứ, ñể chống lại sâu rầy và các loại côn trùng phá hoại mùa màng, người nông dân Khmer chỉ biết tổ chức các lễ cầu cúng thần xóm làng (arak wêl), thần ñồng ruộng (neak tà srê)…

Canh tác lúa nước là hoạt ñộng chủ yếu của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long So với một số các dân tộc ít người ở Việt Nam, người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long có trình ñộ kỹ thuật canh tác lúa nước khá phát triển Họ ñã biết phân chia các loại ñất ruộng theo ñộ phì nhiêu ñể có thể lựa chọn loại giống lúa và cây trồng thích hợp Đó là những giống lúa và cây trồng chịu ñựng ñược ñộ nhiễm mặn, phèn

Trang 39

chua trong ñất mà cho năng suất lúa, cây trồng tối ưu Người Khmer Nam Bộ sử dụng gần 200 giống lúa trong canh tác nông nghiệp truyền thống Từ lâu, người Khmer Nam

Bộ ñã biết việc xây dựng những hệ thống thủy lợi nhằm cung cấp nguồn nước canh tác, hoặc giảm bớt tình trạng nhiễm mặn, phèn của ñất ruộng Ngày nay, phần lớn những hệ thống thủy lợi ñó ñã ñược thay thế bằng các kênh ñào và các ñập ngăn nước mặn ở vùng gần biển hoặc dọc các cửa sông lớn Trước ñây, người Khmer canh tác lúa mỗi năm một vụ vào những tháng mùa mưa từ tháng 4 ñến tháng 10 Hiện nay, kỹ thuật canh tác nông nghiệp của người Khmer Nam bộ ñã có nhiều thay ñổi và tiến bộ Mỗi năm, họ gieo trồng từ 2 ñến 3 vụ lúa với những giống lúa có năng suất cao, chất lượng gạo thơm ngon Họ cũng ñã sử dụng các loại máy cày, bừa, gieo hạt, máy bơm nước… cho việc làm ñất và gieo cấy Các loại phân bón hóa học và thuốc diệt trừ cỏ dại, sâu

bọ ñã ñược người Khmer Nam Bộ sử dụng phổ biến

Tập quán canh tác trong sản xuất nông nghiệp của người Khmer có nhiều mặt ñáng chú ý, nhưng nổi bật hơn hết là cách vần ñổi công (dôdây) nhằm tập trung sức người kịp hoàn thành công việc gieo trồng, thu hoạch ñúng thời vụ Một gia ñình nông dân Khmer ñến ngày nhổ mạ, cấy hay thu hoạch lúa, sẽ nhờ các gia ñình trong phum sóc tập trung lao ñộng Sau ñó, gia ñình chủ nhà sẽ ñến làm trả công cho các gia ñình khác khi có yêu cầu Hình thức này còn áp dụng cả trong các công việc hệ trọng khác như làm nhà, ñám tang, ñám cưới…

Hoạt ñộng thủ công: Các mặt hoạt ñộng này ñược thực hiện theo qui mô nhỏ

trong từng gia ñình và theo thời vụ nên không thực sự là nguồn thu nhập quan trọng lâu dài Một số ngành nghề thủ công mang tính truyền thống ñang ngày một mất dần Một

số nghề thủ công như dệt vải, dệt chiếu, làm gốm, ñan vật dụng bằng mây tre… ñã từng ñược người Khmer Nam Bộ biết ñến Kỹ thuật dệt và làm gốm của họ còn khá ñơn giản Nghề dệt chưa có khung cửi kiểu hiện ñại, nghề gốm chưa có lò nung thông thường như hiện nay Hiện nay, vài nghề thủ công như dệt vải, làm gốm của người Khmer ñang có chiều hướng suy giảm và biến mất

Trang 40

Sản xuất thủ công nghiệp của người Khmer chủ yếu là cung cấp những vật dụng trong sinh hoạt gia ñình như ñan lát và chế tác các ñồ dùng bằng mây, tre như thúng, mủng, rổ rá, bàn ghế, cày bừa, cối xay Vật dụng ñan mây tre ở Đại Tâm, Kế Sách (Sóc Trăng), Trà Cú, Châu Thành (Trà Vinh)… ñược người Khmer làm rất khéo, trang trí ñẹp, màu sắc dân tộc ñộc ñáo, hiện nay vẫn ñược ưa chuộng

* Kỹ thuật ñan lát:

Người Khmer ñặc biệt có tài ñan lát các ñồ dùng bằng tre và mây như thúng, rổ, giỏ xách… rất ñẹp và sử dụng rất lâu (bền, ñẹp) Phần lớn, các loại giỏ xách tay bằng mây bán ở thị trường ñều là của ñồng bào Khmer ở xã Lương Hòa, Nguyệt Hóa tỉnh Vĩnh Bình và ở Ba Xuyên, Rạch Giá xưa Đan lát cũng là một nghề khá phổ biến ở nhiều gia ñình Do ñặc ñiểm của vùng ñồng bằng sông nước, nên các sản phẩm của người Khmer thường là những công cụ ñánh bắt thủy sản (lọp, xà neng, lờ, ñó, ñăng, nôm ) Mặc dù ñan lát ñược xếp vào một trong những ngành nghề truyền thống của người Khmer, nhưng các sản phẩm hiện nay phát triển ñủ ñáp ứng nhu cầu thị trường

* Kỹ thuật ñan ñệm, dệt chiếu:

Đan ñệm có thể nói là một nghề ñặc biệt của người Khmer Đa số, người Khmer

sử dụng ñệm nằm Vì ñệm bàng mát hơn chiếu nhưng giá thành lại rẻ Nguyên liệu là cây bàng mọc hoang ở bưng, biền nơi không trồng ñược lúa Đệm ñan diện tích bằng chiếu vừa trải giường, phản hoặc nhỏ hơn ñể ngồi Ngoài ra, người Khmer còn ñan ñệm thành nóp ngủ thay mùng hoặc họ còn ñan thành giỏ xách, bao ñựng gạo muối, nón ñể ñội… rất tiện dụng

Dệt chiếu là nghề truyền thống lâu ñời của người Khmer nhất là tỉnh Sóc Trăng (phổ biến ở các huyện Vĩnh Châu, Thạnh Trị) Chiếu dệt nổi tiếng nhờ sự sắc sảo, khéo léo và ñộ bền Chiếu có nhiều loại, nhiều kích cỡ sử dụng trong nhiều mục ñích khác nhau (cúng chùa, sử dụng trong gia ñình) Ở Hà Tiên, Rạch Giá nghề này cũng khá phát triển kỹ thuật gần giống như chiếu dệt của người Việt ở An Giang, Vĩnh Long, Cà

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Báo cáo dự án (2006) “Chương trình khôi phục, phát triển nghề dệt truyền thống của người Khmer tại Văn Giáo, Tịnh Biên, An Giang” của Lê Thị Kim Khá chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Văn Giáo, chủ nhiệm Hợp tác xã dệt Văn Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình khôi phục, phát triển nghề dệt truyền thống của người Khmer tại Văn Giáo, Tịnh Biên, An Giang
15. Nguyễn Bắc (1983), Tìm hiểu văn hóa nghệ thuật Campuchia, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa nghệ thuật Campuchia
Tác giả: Nguyễn Bắc
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1983
16. Nguyễn Cụng Bỡnh, Lờ Xuõn Diệm, Mạc Đường (1990), Văn hoỏ và cư dõn ủồng bằng Sông Cửu Long, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoỏ và cư dõn ủồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Cụng Bỡnh, Lờ Xuõn Diệm, Mạc Đường
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1990
17. Phan Xuõn Biờn (1983), “Xó hội cổ truyền của người Mạ qua một số ủặc ủiểm hụn nhân và gia ủỡnh”, Trong Vấn ủề dõn tộc ở Lâm Đồng, Nxb Sở Văn hoá Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xó hội cổ truyền của người Mạ qua một số ủặc ủiểm hụn nhân và gia ủỡnh”, Trong" Vấn ủề dõn tộc ở Lâm Đồng
Tác giả: Phan Xuõn Biờn
Nhà XB: Nxb Sở Văn hoá Lâm Đồng
Năm: 1983
18. Phan Xuân Biên (1985), “Tổ chức làng cổ truyền của các dân tộc Tây nguyên”, Tạp chí Dân tộc học, (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức làng cổ truyền của các dân tộc Tây nguyên"”, Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1985
19. Phan Xuân Biên (1989), “Góp phần tìm hiểu các loại hình tổ chức xã hội cổ truyền của người Chăm ở Thuận Hải”, Trong Người Chăm Thuận Hải, Nxb Sở Văn hoá Thông tin Thuận Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu các loại hình tổ chức xã hội cổ truyền của người Chăm ở Thuận Hải”, Trong" Người Chăm Thuận Hải
Tác giả: Phan Xuân Biên
Nhà XB: Nxb Sở Văn hoá Thông tin Thuận Hải
Năm: 1989
20. Phan Xuõn Biờn (1992), “Lối sống cộng ủồng truyền thống và vấn ủề hiện ủại húa xã hội các dân tộc Tây Nguyên”, Trong Những vấn ủề xó hội học ở miền Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống cộng ủồng truyền thống và vấn ủề hiện ủại húa xã hội các dân tộc Tây Nguyên”, Trong "Những vấn ủề xó hội học ở miền Nam
Tác giả: Phan Xuõn Biờn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1992
21. Phan Xuõn Biờn (Chủ nhiệm ủề tài) (1995), Luận cứ khoa học cho việc xỏc ủịnh chớnh sỏch ủối với cộng ủồng người Khmer và người Hoa ở Việt Nam, Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.04.12, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc xỏc ủịnh chớnh sỏch ủối với cộng ủồng người Khmer và người Hoa ở Việt Nam
Tác giả: Phan Xuõn Biờn (Chủ nhiệm ủề tài)
Năm: 1995
22. Nguyễn Công Bình – Lê Xuân Diệm - Mạc Đường (1990), Văn hoá và cư dân ủồng bằng sụng Cửu Long, NXB Khoa học xó hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và cư dân ủồng bằng sụng Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Công Bình – Lê Xuân Diệm - Mạc Đường
Nhà XB: NXB Khoa học xó hội
Năm: 1990
23. Trần Văn Bổn (1999), Một số lễ tục dõn gian người Khmer ủồng bằng sụng Cửu Long, NXB Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lễ tục dõn gian người Khmer ủồng bằng sụng Cửu Long
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 1999
25. Nguyễn Khắc Cảnh (1996), “Vấn ủề nguồn gốc và sự hỡnh thành cộng ủồng người Khmer ở vựng ủồng bằng sụng Cửu Long”, Trường ĐHTH TP. Hồ Chớ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn ủề nguồn gốc và sự hỡnh thành cộng ủồng người Khmer ở vựng ủồng bằng sụng Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Năm: 1996
26. Nguyễn Khắc Cảnh (1997), “Loại hỡnh cụng xó của người Khmer ở ủồng bằng sông Cửu Long”, Luận văn Tiến sĩ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình công xã của người Khmer ở ủồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Năm: 1997
27. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum, Súc Khmer ở ủồng bằng sụng Cửu Long, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phum, Súc Khmer ở ủồng bằng sụng Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
28. Thái Văn Chải (1980), “Quan hệ giữa tiếng Khmer Campuchia và tiếng Việt”, Trong Hội nghị khoa học về quan hệ Việt Nam – Campuchia trong Lịch sử, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa tiếng Khmer Campuchia và tiếng Việt”, Trong" Hội nghị khoa học về quan hệ Việt Nam – Campuchia trong Lịch sử
Tác giả: Thái Văn Chải
Năm: 1980
29. Nguyễn Đổng Chi (1978), “Sự tồn tại của quan hệ thân tộc trong làng xã Việt Nam”, Trong Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (Tập II), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tồn tại của quan hệ thân tộc trong làng xã Việt Nam”, Trong "Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (Tập II)
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1978
30. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, NXB Văn hóa-Thông tin, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB Văn hóa-Thông tin
Năm: 1996
31. Ngô Thị Chính (1992), “Mối tương quan giữa hệ thống thuật ngữ thân tộc và các quan hệ xã hội”, T/c Dân tộc học, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối tương quan giữa hệ thống thuật ngữ thân tộc và các quan hệ xã hội"”, T/c Dân tộc học
Tác giả: Ngô Thị Chính
Năm: 1992
32. Phan Hữu Dật (1992), “Về hình thái con cô – con cậu”, T/chí dân tộ học, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hình thái con cô – con cậu"”, T/chí dân tộ học
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1992
33. Phan Hữu Dật (chủ nhiệm ủề tài) (1998), Sắc thỏi văn húa ủịa phương và tộc người trong chiến lược phỏt triển ủất nước, Chương trỡnh nghiờn cứu khoa học cấp Nhà nước KX-06, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái văn hóa ủịa phương và tộc người trong chiến lược phỏt triển ủất nước
Tác giả: Phan Hữu Dật (chủ nhiệm ủề tài)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
34. Nguyễn Khắc Dĩ (1971), “Một vài truyền thuyết về nguồn gốc của ủồng bào sắc tộc thiểu số Việt Nam”, Phát triển sắc tộc, (Số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài truyền thuyết về nguồn gốc của ủồng bào sắc tộc thiểu số Việt Nam”, "Phát triển sắc tộc
Tác giả: Nguyễn Khắc Dĩ
Năm: 1971

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm