1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh với việc phê phán thói hư tật xấu trên báo chí

137 851 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vẫn biết nghiên cứu về một nhân vật lớn như Nguyễn Văn Vĩnh là một việc làm không đơn giản, nhất là tìm hiểu sâu hơn về ông với tư cách là một nhà báo lại càng khó khăn những trước tác c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của tôi, chưa từng được công

bố Những số liệu, dẫn chứng dẫn ra trong luận văn đảm bảo độ tin cậy và chính xác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, hậu duệ học giả Nguyễn Văn Vĩnh cùng gia đình và bạn bè, đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp; đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái và TS Nguyễn Danh Bình – Nguyên Tổng biên tập báo Giáo dục Thời đại – người đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Với điều kiện có hạn, nội dung luận văn lại là những nghiên cứu bước đầu, chắc chắn còn nhiều thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý và xin khắc phục những hạn chế để hoàn thiện đề tài trong các nghiên cứu tiếp theo

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 GIAO LƯU VĂN HÓA ĐÔNG TÂY VÀ THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH 8

1.1.Bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây và sự tiếp biến văn hóa Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX 8

1.2 Một số tờ báo quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX 12

1.2.1 Báo chí quốc ngữ ở Nam kỳ 12

1.2.2 Báo chí quốc ngữ ở Bắc kỳ 15

1.3 Thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh 20

1.3.1 Thân thế 20

1.3.2 Một vài trước tác của Nguyễn Văn Vĩnh 26

1.3.3 Những đóng góp nổi bật của Nguyễn Văn Vĩnh đầu thế kỷ XX 28

1.3.3.1 Nguyễn Văn Vĩnh với việc truyền bá và hoàn thiện chữ quốc ngữ 29

1.3.3.2 Nguyễn Văn Vĩnh với lĩnh vực văn học nghệ thuật 30

1.3.3.3 Nguyễn Văn Vĩnh với vấn đề cải cách xã hội 32

1.3.3.4 Nguyễn Văn Vĩnh với hoạt động báo chí 32

Chương 2 NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI VIỆC PHÊ PHÁN THÓI HƯ TẬT XẤU TRÊN BÁO CHÍ GIAI ĐOẠN ĐẦU THẾ KỶ XX 36

2.1 Việc phê phán thói hư tật xấu trong sáng tác của Nguyễn Văn Vĩnh 36

2.1.1 Phê phán những hủ tục 37

2.1.1.1 Cúng bái, mê tín dị đoan 37

2.1.1.2 Những thủ tục bất công trong vòng đời người phụ nữ Việt Nam 40

2.1.1.3 Tệ lãng phí khi ma chay, cúng giỗ 50

2.1.1.4 Đốt pháo 53

2.1.2 Phê phán những thói hư tật xấu 55

2.1.2.1 Thói ham mê cờ bạc 55

2.1.2.2 Thói ỷ lại 58

2.1.2.3 Thói ăn gian nói dối 60

2.1.2.4 Thói chuộng hư danh 63

Trang 6

2.1.2.5 Tính vô cảm 65

2.1.2.6 Thói hay cười 69

2.1.2.7 Tính ngồi thừ 70

2.2 Phong cách viết báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh 72

2.2.1 Một số quan niệm về phong cách và phong cách ngôn ngữ báo chí 72

2.2.2 Phong cách viết báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh 73

Chương 3 GIÁ TRỊ THỜI SỰ TRONG NHỮNG BÀI VIẾT PHÊ PHÁN THÓI HƯ TẬT XẤU CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH 78

3.1 Nhìn vào thói hư tật xấu của người Việt hiện đại 78

3.2 Nguyễn Văn Vĩnh và khả năng “nhìn thấy trước” cả trăm năm 85

3.2.1 Những hủ tục vẫn tồn tại dai dẳng 85

3.2.2 Những thói hư tật xấu đang biến tướng 89

3.3 Cần có cái nhìn khách quan hơn về Nguyễn Văn Vĩnh 97

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà báo và nhà văn lớn – người đã có những đóng góp đáng ghi nhận cho nền văn hóa Việt Nam nói chung và nền báo chí Việt nam nói riêng những năm đầu thế kỷ XX Dù được đào tạo trong môi trường Pháp và thân Pháp, ông đã có những tác phẩm, công trình giá trị làm giàu cho nền văn hóa dân tộc

Sự cố gắng kiên trì của Nguyễn Văn Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức, văn hoá phương Tây và cổ vũ việc dùng tiếng Việt để viết báo, viết văn trong dân Việt Nguyễn Văn Vĩnh là một cây bút đa dạng: Viết tin tức,

xã luận, làm thơ, khảo cứu, dịch tiểu thuyết, kịch và cả phóng sự Ở bất cứ lĩnh vực nào, ông cũng đều chứng tỏ tầm nhìn xa, trình độ, học thức cao rộng

Trong cuộc đời viết báo của Nguyễn Văn Vĩnh, cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt, qua các giai đoạn ước chừng có khoảng 3.000 bài viết (số liệu do ông Nguyễn Lân Bình - hậu duệ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh cung cấp) Trong đó, Nguyễn Văn Vĩnh gây ấn tượng đặc biệt với những bài nghị luận sắc sảo, dù tương đối ngắn nhưng đã phản ánh được những vấn đề “nóng” của xã hội và con người Việt Nam thời bấy giờ Được thể hiện bằng ngôn ngữ hiện đại, linh hoạt, loạt bài phê phán thói hư tật xấu của người Việt là một mảng rất điển hình cho phong cách chính luận của Nguyễn Văn Vĩnh và tư tưởng đổi mới của ông

Nguyễn Văn Vĩnh sống trong thời kỳ người Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược, đặt ách cai trị trên toàn lãnh thổ nước ta, đồng thời tiến hành việc truyền

bá, áp đặt các giá trị phương Tây vào xã hội Việt Nam Đó là giai đoạn của sự “va chạm” Đông – Tây, là sự giằng xé quyết liệt giữa những giá trị văn hóa truyền thống có từ lâu đời và những giá trị hiện đại, mới mẻ Ở giữa một xã hội như vậy,

để có thể làm báo và viết báo, Nguyễn Văn Vĩnh buộc phải phụ thuộc vào chính quyền cai trị, đồng thời cố gắng không đánh mất mình Tuy nhiên, chính cái vị thế

ấy của Nguyễn Văn Vĩnh đã dẫn tới một số đánh giá có phần nghiệt ngã, không chính xác về con người ông, chủ yếu dựa trên quan điểm chính trị, từ đó có cái nhìn

Trang 9

chưa khách quan về sự nghiệp cũng như những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với văn hoá Việt Nam nói chung và báo chí nói riêng

Theo quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc nhìn nhận lại lịch sử và các nhân vật lịch sử như Nguyễn Văn Vĩnh rất cần thiết trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay

Tiến hành nghiên cứu đề tài Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh với việc phê phán

thói hư tật xấu trên báo chí, tác giả luận văn mong muốn bước đầu tìm hiểu về một

nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh với những tác phẩm phê phán thói hư tật xấu sắc sảo, cá tính Từ đó phần nào xác định vai trò cũng như ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung

Vẫn biết nghiên cứu về một nhân vật lớn như Nguyễn Văn Vĩnh là một việc làm không đơn giản, nhất là tìm hiểu sâu hơn về ông với tư cách là một nhà báo lại càng khó khăn (những trước tác của ông hiện rất tản mạn và phần lớn ở nước ngoài; những nghiên cứu về ông chủ yếu là những bài viết rải rác, mới tập trung chủ yếu vào những đóng góp của ông đối với văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX; chưa kể ngày nay vẫn còn nhiều ý kiến, đánh giá nhiều chiều hay chưa đúng với con người Nguyễn Văn Vĩnh, chưa xứng đáng với những đóng góp của ông cho xã hội Việt Nam thời kỳ này ) Khó khăn là thế, nhưng vì tính cấp thiết của đề tài, chúng tôi vẫn nghiên cứu với mong muốn nếu hoàn thành tốt công tác nghiên cứu, bước đầu sẽ có những gợi mở về một trong những cách đánh giá mới đối với học giả, nhà văn hóa, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tính đến thời điểm này, những nghiên cứu được công bố rộng rãi về Nguyễn Văn Vĩnh đã xuất hiện nhưng chủ yếu vẫn tản mạn, rải rác

Trước năm 1975, tại Sài Gòn, một số bài báo về Nguyễn Văn Vĩnh được

đăng trên tạp chí Bách Khoa Bên cạnh đó, có một vài công trình thời đó có nói đến

Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên chỉ đề cập rất tổng quát Hầu hết trong số đó là những

luận đề được sử dụng trong các trường học như Luận đề về ĐDTC (của các GS Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong, Khai Trí xuất bản năm 1961), Luận đề Phạm

Trang 10

Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh (của GS Kiêm Đạt, Bạn Trẻ xuất bản năm 1958), Luận

đề về nhóm ĐDTC (của GS.TS Nguyễn Bá Lương, Tao Đàn xuất bản-không rõ

năm)…

Trong tác phẩm Lịch sử báo chí Việt Nam, từ khởi thủy đến năm 1930, tác

giả Huỳnh Văn Tòng cũng chỉ đôi chỗ nhắc đến những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh

Trong bộ sách Nhà văn Việt Nam dày hơn 1000 trang, tác giả Vũ Ngọc Phan

đã dành một phần nhỏ nói về Nguyễn Văn Vĩnh Tác giả này là một trong những người viết về Nguyễn Văn Vĩnh sớm nhất

Nhà văn Vũ Bằng, người từng có thời gian làm báo cùng với Nguyễn Văn

Vĩnh, đã có một số hồi ức về Nguyễn Văn Vĩnh trong các tác phẩm như Bốn mươi

năm nói láo, Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp Những hồi ức này tuy

cung cấp khá nhiều tư liệu về cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh nhưng những tư liệu đó được soi chiếu qua cảm xúc cá nhân của nhà văn nên ít có giá trị tham chiếu về mặt khoa học

Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước ký hiệu KX 06-17 của tác

giả Hoàng Tiến, sau được in thành sách với nhan đề Chữ quốc ngữ và cuộc cách

mạng chữ viết đầu thế kỷ XX, quyển I, do Nhà xuất bản Lao Động xuất bản năm

1994, khi xem xét bối cảnh phát triển chữ quốc ngữ ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX cũng đã đề cập đến những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với việc truyền bá chữ quốc ngữ ở Việt Nam Tuy nhiên, nội dung về Nguyễn Văn Vĩnh chỉ chiếm một phần trong đề tài nghiên cứu về chữ quốc ngữ này

Ngoài ra, một số tác giả như Dương Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Hoàng Đạo Thúy cũng đã có những bài viết nhỏ hoặc đoạn văn ngắn đề cập đến Nguyễn Văn Vĩnh trong các tác phẩm của mình

Đại tá, nhà báo Nguyễn Văn Ba (Bút danh Yên Ba) là một trong những người đầu tiên có công trình nghiên cứu mang tính quy mô về Nguyễn Văn Vĩnh Trong luận văn cao học nghiên cứu về những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí chữ quốc ngữ, tác giả Yên Ba đã bước đầu tìm hiểu và xây dựng được

Trang 11

chân dung học giả này với tư cách là nhà báo Tuy nhiên, tác giả Yên Ba vẫn chưa đào sâu vào mảng đề tài phê phán thói hư tật xấu – một mảng rất điển hình cho phong cách nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh

Tháng 9/2013, ông Nguyễn Lân Bình – cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã xuất bản 3 cuốn sách từ những tài liệu thu thập được Cuốn thứ nhất

Nguyễn Văn Vĩnh là ai? dày 380 trang, được xây dựng với mục đích đóng góp vào

việc hiểu rõ về cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh và sự nghiệp của ông Những dữ liệu được nêu trong cuốn sách là sự chứng minh sống động và khách quan về con người

và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh Cuốn sách bao gồm những bài viết cả bằng Việt văn và Pháp văn (đã được chuyển ngữ), thuật lại những điều tai nghe mắt thấy với nhãn quan khoa học, óc quan sát, chính kiến chính trị cùng sự tri ân của những người đương thời đánh giá về con người và sự nghiệp văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh

Cuốn thứ hai: Bộ sách Lời người man di hiện đại, Chủ biên: Nguyễn Lân

Bình và Nguyễn Lân Thắng, dày 230 trang Cuốn sách gồm 33 bài viết bằng Pháp ngữ của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh tạo thành chuyên đề về một số tập quán, lối sống sinh hoạt cùng với cấu trúc hành chính, phân bố địa giới, địa hình, nhân sự theo những nguyên tắc truyền thống trong hệ thống quyền lực liên quan đến việc phân vai, chức sắc, phẩm hàm trong một làng quê ở đồng bằng Bắc bộ vào giai đoạn mà ông tồn tại

Cuốn thứ 3 là Parole Du BarBare Sách được in từ nguyên bản Pháp ngữ

Thực tế, cuốn sách là tập một trong bộ sách “Lời người man di hiện đại” Toàn bộ nội dung, phần trình bày, trang trí hoàn toàn như cuốn sách in bằng Việt văn Các bài viết được chép lại nguyên văn nội dung đã được đăng trên các số báo của tờ báo

tiếng Pháp L’Annam Nuoveau (Nước Nam mới) do Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút

Thời gian qua, xuất hiện một vài đề tài khóa luận, luận văn nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh Tuy nhiên, hầu hết trong số

đó tập trung vào những đóng góp của ông đối với văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, gần đây mới có luận văn của tác giả Yên Ba tập trung vào những đóng

Trang 12

góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với lĩnh vực báo chí Việt Nam (như đã nói ở trên) Ngoài ra, tổng kết những nghiên cứu được công bố rộng rãi về Nguyễn Văn Vĩnh từ trước tới nay chủ yếu là những bài viết tản mạn, rải rác Do đó có thể nói, đề tài này

là công trình đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu chuyên sâu về những tác phẩm phê phán thói hư tật xấu của Nguyễn Văn Vĩnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tổng hợp, phân tích, đánh giá các tác phẩm phê phán thói hư tật xấu của Nguyễn Văn Vĩnh trên báo chí trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XX, tác giả luận văn mong muốn làm nổi bật một số đóng góp của học giả, nhà văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh đối với báo chí Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung Từ đó khẳng định giá trị của những đóng góp ấy đối với giai đoạn hiện nay, làm tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm tiến tới việc “trả lại” ví trị xứng đáng của tên tuổi Nguyễn Văn Vĩnh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đánh giá tổng thể những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc truyền

bá chữ quốc ngữ và vai trò tiên phong trong nghệ thuật viết báo với nhiều thể loại báo chí quốc ngữ Việt Nam, đặc biệt là loại văn nghị luận

- Đi sâu tìm hiểu bối cảnh văn hóa – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

- Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh

- Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh, đặc biệt là đóng góp về lĩnh vực báo chí

- Xem xét sự cần thiết phải nhìn nhận lại lịch sử và các nhân vật lịch sử

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác phẩm phê phán thói hư tật xấu của Nguyễn Văn Vĩnh giai đoạn đầu thế kỷ XX

4.2 Phạm vi nguyên cứu

Trang 13

Trong khuôn khổ một đề tài luận văn thạc sĩ, luận văn chỉ tập trung vào những tác phẩm phê phán thói hư tật xấu trên báo chí trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XX, trong đó đặc biệt lưu ý đến các tài liệu báo chí trong quãng thời gian từ năm 1907 (khi

Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu làm ĐCTB) đến năm 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh mất (lúc

vẫn viết cho L‟Annam nouveau)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, đề tài được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa

Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về việc nhìn nhận lại những đóng góp của nhân vật lịch sử với văn hóa nước nhà

Ngoài ra, việc nghiên cứu Luận văn dựa trên cơ sở xem xét, đánh giá các tài

liệu thực chứng, đặt trong bối cảnh lịch sử, từ đó có cái nhìn biện chứng về tác phẩm, con người và những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh

Về phương pháp nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp

nghiên cứu phân tích, tổng hợp tư liệu, so sánh, chuyên gia

Dựa trên các tác phẩm báo chí phê phán thói hư tật xấu của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên báo chí hồi đầu thế kỷ XX, luận văn tiến hành phân tích, đối chứng,

so sánh với các bước phát triển của văn hoá Việt Nam

Tập hợp các bài báo, tài liệu, tham luận, nhận xét của những người cùng thời

và đương thời về Nguyễn Văn Vĩnh để có được cái nhìn nhiều chiều, khách quan, trung thực nhất về ông

Gặp gỡ với những hậu duệ trong gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, các nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà báo quan tâm đến đề tài để thu thập tư liệu, ghi nhận những đánh giá nhiều chiều, khách quan hơn về Nguyễn Văn Vĩnh

6 Đóng góp của đề tài

1 Luận văn dựa trên quan điểm đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam đưa

ra những đánh giá khoa học, khách quan, trung thực về các nhân vật lịch sử, trong

đó có Nguyễn Văn Vĩnh

Trang 14

2 Thông qua việc tìm hiểu về những tác phẩm thói hư tật xấu của Nguyễn Văn Vĩnh và phân tích giá trị của những tác phẩm đó, luận văn khẳng định quan điểm đúng đắn, đi trước thời đại của ông

3 Luận văn góp phần mở ra hướng tìm hiểu mới về Nguyễn Văn Vĩnh trên cương vị một nhà báo nghị luận

4 Luận văn đưa ra một nguồn tư liệu có thể phục vụ cho việc tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy trong bộ môn lịch sử báo chí, cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, sinh viên khoa báo chí và các môn khoa học xã hội khác

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 15

Chương 1 GIAO LƯU VĂN HÓA ĐÔNG TÂY VÀ THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA

NGUYỄN VĂN VĨNH 1.1 Bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây và sự tiếp biến văn hóa Việt Nam

những năm đầu thế kỷ XX

Nguyễn Văn Vĩnh làm báo và viết báo trong bối cảnh chính trị phức tạp, khi thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược và đặt ách cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam Từ đây, làn sóng văn hoá phương Tây cũng theo bước chân của quân viễn chinh Pháp tràn vào Việt Nam

Thực ra, ngay từ thế kỷ XVI, trước khi người Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (1858), người phương Tây đã có những chuyến buôn bán đầu tiên ở Đàng Trong của Việt Nam Sang thế kỷ XVII, sự xuất hiện của người phương Tây ở nước

ta càng thường xuyên hơn Cùng với các tàu buôn Bồ Đào Nha, nhiều tu sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha và Ý cũng đặt chân tới Việt Nam Chính những người này đã đặt

cơ sở văn hóa đầu tiên cho việc hình thành chữ quốc ngữ của nước ta sau này

Những người đầu tiên có mặt tại Việt Nam có thể kể đến các linh mục Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha), theo tàu buôn Bồ Đào Nha rời Áo Môn ngày 6-1-1615 và tới Cửa Hàn ở Đàng Trong ngày 18-1-1615

Hai năm sau đó, một người Bồ Đào Nha khác là linh mục Francisco de Pina cũng tới Đàng Trong Để tiếp xúc với người Việt Nam, các nhà truyền giáo hầu hết đều phải học tiếng Việt và linh mục Francisco de Pina có lẽ là người Âu châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt Không may, linh mục Francisco de Pina đã chết thảm trong một tai nạn bất ngờ ngoài khơi bờ biển Quảng Nam vào ngày 12-15-1625 [17, tr 22]

Tuy vậy, cho đến đầu thế kỷ XIX, nỗ lực của các nhà buôn hay nhà truyền giáo trong việc truyền bá văn hoá phương Tây ở Việt Nam vẫn chỉ giới hạn ở những động thái manh mún, chưa có tính hệ thống Cho tới khi Pháp sử dụng vũ lực chiếm đóng Việt Nam, đặt Việt Nam hoàn toàn dưới sự cai trị của mình, sự truyền bá văn

Trang 16

hoá phương Tây ở Việt Nam, kéo theo nó là sự giao lưu văn hoá Đông Tây mới thực sự diễn ra một cách toàn diện

Tháng 8 năm 1858, quân viễn chinh Pháp cùng Tây Ban Nha đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng, sau đó đầu năm 1859 rút vào xâm chiếm Sài Gòn Tới năm

1862, triều đình nhà Nguyễn ký với Pháp hòa ước, theo đó nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp 5 năm sau (1867), Pháp dùng vũ lực chiếm đóng nốt ba tỉnh miền Tây Nam Bộ Đến năm 1874, triều đình Huế khi ấy bị ép ký hoà ước nhường 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp và như thế, Pháp hoàn thành về cơ bản công cuộc chiếm đóng Nam kỳ

Sau đó, hai lần vào các năm 1873 và 1882, Pháp tấn công thành Hà Nội Năm Giáp Thân (1884), triều đình Huế ký hiệp ước Patenotre, đầu hàng toàn bộ; Pháp chính thức thiết lập chế độ bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam, biến Việt Nam thành nước thuộc địa nửa phong kiến; đồng thời với việc truyền bá, áp đặt các giá trị phương Tây vào xã hội Việt Nam Đây cũng là giai đoạn sự “va chạm” Đông – Tây diễn ra mạnh mẽ nhất, với sự giằng xé giữa một bên là những giá trị văn hóa truyền thống và một bên là những giá trị hiện đại, mà đại diện là người Pháp, đưa vào

Sự xâm lược và cai trị của thực dân Pháp mặc dù đã đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than, khổ trăm bề, nhưng mặt khác, nhìn về khía cạnh lịch sử lại có nhiều tích cực khi đây chính là tiền đề để Việt Nam thoát khỏi 9 thế kỷ trung đại chìm đắm trong tư tưởng phong kiến Á Đông; làm quen với văn minh nhân loại hiện đại

Dưới sự cai trị của người Pháp, đặc biệt là dưới tác động của các cuộc khai

thác thuộc địa, xã hội Việt Nam tiếp tục có sự phân hóa giai cấp sâu sắc: Tầng lớp

công nhân bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam trong thời gian này và ngày càng đông đảo

để trở thành một giai cấp mới trong xã hội Các giai cấp khác trong xã hội Việt Nam

thời đó như giai cấp tiểu tư sản thì ngày càng lớn mạnh, giai cấp tư sản bắt đầu

xuất hiện và phát triển, giai cấp địa chủ được củng cố quyền lực nhờ câu kết với thực dân pháp, đàn áp nông dân nghèo [49, tr 234 - 235]

Đặc biệt, từ những năm 20, xã hội bắt đầu hình thành một tầng lớp trí thức Tây học thay thế cho trí thức Nho học Chính tầng lớp này đã góp phần quan trọng

Trang 17

làm thay đổi đáng kể đời sống tinh thần xã hội và thúc đẩy việc sử dụng chữ quốc ngữ trong dân ta

Nói về sự ra đời của chữ quốc ngữ, công lao đặt nền móng đầu tiên cho chữ quốc ngữ thuộc về các giáo sĩ và tín đồ Thiên Chúa giáo người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha, người Ý, người Pháp, người Hà Lan… Tuy nhiên, tên tuổi được vinh danh nhiều nhất lại là giáo sĩ Alexandre de Rhodes Theo các nhà nghiên cứu có uy tín như Léopold Cadière, Paul Mus hoặc muộn hơn, Jean Lacouture, trước hết không chỉ bởi ông có công cho xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ - La và viết cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên, mà chủ yếu vì Alexandre de Rhodes nếu không phải

là người sáng tạo thì là người đầu tiên sử dụng và quảng bá mạnh mẽ chữ quốc ngữ

Tuy vậy suốt thời gian 200 năm sau đó, chữ quốc ngữ vẫn không được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, mà chỉ được sử dụng ở một phạm vi hẹp trong khuôn khổ nhà thờ Thiên Chúa giáo để phục vụ cho mục đích truyền đạo của các giáo sỹ như dịch Kinh thánh, soạn các sách truyền đạo

Sau khi Pháp đã hoàn thành việc chiếm đóng Nam kỳ, chính quyền cai trị đã đẩy mạnh việc dạy học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ Đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của một số học giả, nhà văn hóa như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đã góp phần phổ biến và truyền bá chữ quốc ngữ trong dân chúng thông qua những công trình của mình

Ngoài ra, sự ra đời và phát triển của báo chí với sự xuất hiện của những nhà báo tiên phong như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ việc sử dụng chữ quốc ngữ Đặc biệt hơn, báo chí trở thành kênh quan trọng nhất để quảng bá các tư

tưởng mới đến với toàn xã hội Cũng là lần đầu tiên trong xã hội ta, các sản phẩm

văn hóa trở thành hàng hóa Mọi tầng lớp trong xã hội không kể đẳng cấp, vai vế,

sang giàu đều được thưởng thức các sản phẩm văn hóa và ngược lại, xã hội xuất hiện một tầng lớp trí thức độc lập, có thêm thu nhập nhờ “nghề” hoạt động văn hóa

(các nhà văn, nhà báo )

Nhờ chữ quốc ngữ, Việt Nam đã xây dựng được một nền văn chương độc đáo bằng tiếng mẹ đẻ gồm các thể loại báo chí, văn học (thơ mới, truyện ngắn, tiểu

Trang 18

thuyết, kịch nói) Văn học thành thị ra đời thay cho văn học nông thôn Báo chí

tiếng Việt ra đời Ở Bắc kỳ, tờ ĐCTB (được coi như cơ quan ngôn luận của phong trào ĐKNT) là tờ báo đầu tiên sử dụng song ngữ Hán – Việt; tiến tới ĐDTC là tờ

báo đầu tiên viết hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ; mở đầu cho sự xuất hiện của báo

chí quốc ngữ nước nhà, mà nổi bật là các tờ như: Nam Phong tạp chí (1919), Thực

nghiệp dân báo (1920), Nam Kỳ kinh tế (1920), Thanh niên (1925), Tiếng dân

(1927) Các tạp chí, nhà xuất bản sách tiếng Việt ngày càng nhiều hơn (Tạp chí

Hữu Thanh, Nam Đồng Thư xã, Cường học thư xã, Quan Hải tùng thư ) Các tác

phẩm dịch thuật ra đời: dịch tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, chữ Nôm ra chữ quốc ngữ; ngược lại dịch tác phẩm tiếng Việt sang tiếng Pháp

Lực lượng sáng tác tân học đã mô phỏng theo các tác phẩm nước ngoài để sáng tác văn học cận hiện đại Từ các bài tường thuật, phóng sự, du ký, kể

chuyện,… họ đã viết truyện ngắn, tiểu thuyết như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, sáng tác kịch nói Chén thuốc độc của Vũ Đình

Long… Có thể nói 3 thập niên đầu của thế kỷ XX là thời kỳ manh nha của nền văn

học quốc ngữ Đồng thời bùng nổ dòng Thơ mới với các nhà thơ nổi tiếng: Thế Lữ,

Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Tú Mỡ Đây cũng là thời kỳ văn hóa dân tộc được bổ sung những ngành nghệ thuật mới gồm: hội họa, sân khấu và điện ảnh Nghệ thuật hội họa xuất hiện những thể loại mới có nguồn gốc từ Phương Tây: Tranh sơn dầu, tranh bột màu Nghệ thuật sân khấu từ chỗ công diễn các vở kịch nói

của Pháp mà khởi xướng là vở hài kịch Bệnh tưởng của Molière do Nguyễn Văn

Vĩnh dịch và cho công diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội năm 1921 thì lối viết kịch bằng Việt ngữ bắt đầu có ở nước ta [2, tr.286]

Như vậy là sau gần ba thế kỷ, thời gian tính từ khi cuốn từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes ra đời và hơn nửa thế kỷ sau khi Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược Việt Nam, người Việt Nam đã hoàn toàn chuyển sang dùng chữ quốc ngữ, chính thức không sử dụng chữ Hán của người Trung Hoa và chữ Nôm (là thứ chữ ghi âm tiếng Việt nhưng được sáng chế theo phương pháp hài thanh và hội ý của chữ Hán)

Trang 19

1.2 Một số tờ báo quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX

1.2.1 Báo chí quốc ngữ ở Nam kỳ

Năm 1865, vẫn đang còn trong quá trình thôn tính Nam kỳ, thực dân Pháp đã

cho xuất bản tờ Gia Định báo bằng chữ quốc ngữ

Gia Định báo

Tờ Gia Định báo ra số đầu tiên vào ngày 15-4-1865, do một người Pháp là

Ernest Potteaux làm Chánh tổng tài (có thể hiểu như chủ nhiệm kiêm chủ bút), tới năm 1869 thì chuyển sang cho một người Việt là Trương Vĩnh Ký làm chủ bút (cho tới ngày 31-12-1871) [72, tr 151-152]

Gia Định báo ban đầu xuất bản mỗi tháng một lần, phát hành vào ngày 15

hàng tháng, sau đó tăng lên 2 lần trong tháng và cuối cùng mỗi tháng 4 kỳ, vào các ngày 1,8, 16 và 24 hàng tháng [63, tr 31]

Thời kỳ đầu, Gia Định báo in 4 trang trên khổ giấy 32x25, trên đầu trang 1

có 3 chữ Gia Định báo được in bằng chữ Hán, bên dưới ghi “Tờ báo này mỗi tháng

Tây cứ ngày rằm in ra một lần ai muốn mua cả năm phải trả 6 góc tư” (64, tr 55)

Ban đầu, Gia Định báo có mục đích chủ yếu là công cụ thông tin của người

Pháp ở Đông Dương với tư cách là một tờ công báo chuyên đăng các công văn, nghị định, thông tư của chính quyền thực dân Sau này, khi Trương Vĩnh Ký chính thức

làm giám đốc, tờ báo mới được phát triển mục biên khảo, thơ văn, lịch sử Gia

Định báo cũng góp phần cổ động việc học chữ quốc ngữ và lối học mới, mở đường

cho các thể loại văn xuôi Việt Nam in bằng chữ quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí Việt Nam

Trang 20

Gia Định báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam

Mặc dù là một tờ công báo của chính quyền xâm lược nhưng trong lịch sử báo chí Việt Nam, có thể xem đây là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam

Gia Định báo tồn tại khá lâu, số cuối cùng ra vào năm 1909 [67, tr 217]

Phan Yên Báo

Sau Gia Định báo một thời gian, năm 1868, ở Nam kỳ xuất hiện tờ Phan Yên

Báo, do Diệp Văn Cường làm chủ nhiệm [36, tr 56] Tuy nhiên, có một số tài liệu

lại cho rằng tờ Phan Yên báo mãi đến năm 1898 mới được xuất bản, chủ nhiệm là

Diệp Văn Cương [63, tr 10]

Nông cổ mín đàm

Tiếp đó, ngày 1-8-1901, tờ Nông cổ mín đàm (có tài liệu gọi là Nông cổ mính

đàm, dịch nghĩa là “trò chuyện về nông nghiệp-kỹ nghệ bên bàn trà”) ra đời, xuất

bản hàng tuần, ban đầu chủ nhiệm là Canavaggio, chủ bút là Dũ Thúc Lương Khắc Ninh

Trang 21

Sau đó chủ bút thay đổi nhiều lần, cuối cùng là Nguyễn Chánh Sắt Đến năm

1922, Canavaggio mất, Nguyễn Chánh Sắt kiêm luôn chủ nhiệm tờ báo Về phương

diện văn chương, tờ báo này còn rất thô sơ Có thể tìm thấy trong tờ Nông cổ mín

đàm mọi vấn đề liên quan đến canh nông hay kỹ nghệ như cao su, trà, cà phê

Thỉnh thoảng báo cũng đăng vài bài thơ do các độc giả gửi đến, bên cạnh kết quả cuộc xổ số kiến thiết [64, tr 57] Báo ngưng xuất bản ngày 4-11-1924

Lục tỉnh tân văn

Một tờ tuần báo khác cũng ra đời trong thời gian đầu thế kỷ XX là tờ Lục

tỉnh tân văn, số đầu tiên ra ngày 14-11-1907, do Francois Henri Schneider, một chủ

nhà in người Pháp sáng lập ra

Báo Lục tỉnh tân văn

Chủ nhiệm Lục tỉnh tân văn là Pierre Jeantet, chủ bút là Trần Nhật Thăng,

biệt hiệu Đông Sơ (tức Gilbert Trần Chánh Chiếu) Sau một thời gian, báo chuyển

từ tuần báo sang xuất bản mỗi tuần ba số vào các ngày thứ hai, tư, sáu Về nội dung,

Lục tỉnh tân văn cũng bắt đầu đa dạng hoá các thể loại với việc xuất hiện từ tin vắn

tới tiểu thuyết, bao trùm nhiều vấn đề, cả trong nước lẫn ngoài nước như các tin thời

sự liên quan đến Pháp, Đức, Nga

Trang 22

Đến ngày 3-10-1921, Lục tỉnh tân văn hợp nhất với Nam Trung nhật báo, một tờ tuần báo đã ra trước đó từ ngày 10-4-1917, lấy tên chung là Lục tỉnh tân văn Chính tờ Lục tỉnh tân văn sau này còn có một ấn bản đặc biệt phát hành ở Bắc kỳ cũng do Francois Henri Schneider chủ trương, đó chính là ĐDTC Lục tỉnh tân văn

xuất bản tới năm 1944 mới chấm dứt [63, tr 32]

1.2.2 Báo chí quốc ngữ ở Bắc kỳ

Đăng Cổ tùng báo

Ở Bắc kỳ, báo chí quốc ngữ ra đời muộn hơn ở Nam kỳ Trong thời kỳ đầu, chủ nhiệm báo bao giờ cũng phải là người Pháp thì mới được phép xuất bản

Một trong những tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ là tờ ĐCTB

Liên quan đến việc ra đời của tờ ĐCTB có hai cái tên: Đốc lý Hauser và chủ

nhà in Francois Henri Schneider

Ông Hauser là một trí thức Pháp đỗ cử nhân luật rồi đi học ngạch làm quan cai trị thuộc địa Sang Việt Nam, ông Hauser được chính quyền Pháp bổ nhiệm làm công sứ Bắc Giang rồi được đề bạt lên làm Đốc lý thành phố Hà Nội

Còn F.C.Schneider sang Việt Nam khi mới 32 tuổi Tháng 7-1882, khi bước chân khỏi nước Pháp sang xứ thuộc địa Đông Dương, vốn được coi là nơi “đi đày” đối với nhiều viên chức Pháp, F.C.Schneider đã dự tính sẽ chỉ làm việc mau chóng trong vòng 3 năm rồi về nhà

Thay vì 3 năm, đến khi gặp Nguyễn Văn Vĩnh vào đầu năm 1906, F.C.Schneider đã ở xứ Đông Dương 24 năm! Ông lần đầu gặp Nguyễn Văn Vĩnh qua sự giới thiệu của Đốc lý Hauser vào đầu năm 1906 và rất lấy làm ngạc nhiên tại sao lại có một người Việt Nam thông minh và tài năng đến như vậy Khi ấy, Hauser, với cương vị Đốc lý thành phố Hà Nội, cử ông Vĩnh sang làm việc bên nhà in của

F.C.Schneider để tham gia làm tờ Đại Nam Đồng Văn nhật báo

F.C.Schneider gặp Nguyễn Văn Vĩnh như hai nửa mình gặp nhau và không rời nhau ra được nữa Một người làm nhà in nhưng không có người viết báo viết sách; một người viết báo, viết sách lại không có nhà in

Ngày 28-3-1907, tờ Đại Nam ĐCTB ra đời

Trang 23

ĐCTB, hiểu theo nghĩa nôm na, là “Khêu đèn gióng trống” Sở dĩ vẫn còn

chữ Đại Nam ở đầu bởi vì thực chất, đây chính là tiếp nối của tờ Đại Nam Đồng

Văn nhật báo, nhưng đã thoát ly tính chất công báo để mang những đặc điểm cơ bản

của một tờ báo Do Đại Nam Đồng Văn nhật báo đã ra đến số 792 nên số 793 của

Đại Nam Đồng Văn nhật báo chính là số 1 của Đại Nam ĐCTB (thường chỉ được

gọi tắt là ĐCTB)

Báo in ở dạng khổ nhỏ (tương đương như khổ A4), trang bìa có hình lưỡng long chầu nguyệt và in hoàn toàn bằng chữ Hán, chỉ có ở phía cuối trang phần ngày tháng, ngoài tiếng Hán có thêm dòng chữ tiếng Pháp và một dòng chữ quốc ngữ đề

“Mỗi trương (số) 10 su (xu)”

Ở các trang trong cứ trang số chẵn in chữ quốc ngữ, trang số lẻ in chữ Nho

Các trang có chữ Đại Nam ĐCTB ở trên cùng Cách trình bày trang khá đơn

giản, chia thành hai cột, bài nọ nối tiếp bài kia chứ không tiếp trang, cách vài ba trang lại có một trang tiếng Hán (không phải dịch nguyên phần chữ quốc ngữ), không theo một thứ tự nào cả

Trang bìa 1 số ĐCTB

Trang 24

Về nội dung, ĐCTB bắt đầu có các đặc trưng của một tờ báo hiện đại như phần tin tức trong nước, ngoài nước (dưới tên gọi Việc vặt các tỉnh, Việc vặt ở Hà

Nội, Việc vặt ở Hải Phòng, Điện báo toàn cầu ); phần xã thuyết, chủ yếu do ông

Nguyễn Văn Vĩnh viết ký dưới những tên gọi khác nhau như Tân Nam Tử, Mũi Tẹt

Tử, Nguyễn Văn Vĩnh, bàn về các vấn đề trong xã hội, thuộc đủ mọi lĩnh vực từ kinh

tế, chính trị đến thói hư tật xấu trong đời sống của người dân

Bắt đầu từ số 799 ra ngày 9-5-1907, báo có thêm một mục mới là Nhời Đàn

bà, đều do một tay Nguyễn Văn Vĩnh viết với bút danh Đào Thị Loan (Loan là tên

con gái Nguyễn Văn Vĩnh), chủ yếu bàn chuyện của chị em, mối quan hệ trong gia đình, chuyện vợ chồng, ăn mặc, vợ cả vợ lẽ, trinh tiết , tóm lại là tất cả những chuyện mà chị em phụ nữ - bộ phận độc giả ngày càng quan trọng - quan tâm

Báo cũng dành trang để đăng những bài thơ, phú trong phần Tập thơ, phú,

ca, rao Riêng phần thơ dịch, chủ yếu do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch những bài thơ

ngụ ngôn của La Fontaine như Truyện quạ, cáo, Chuyện con ve và con kiến, Chuyện

con nhái muốn to bằng con bò, Ếch cầu vua

Ngoài ra, báo cũng có các phần Nhời rao (giao) hẹn, Cáo bạch rao hàng,

chính là tiền thân của quảng cáo trên báo hiện đại sau này!

ĐCTB ra đời và hoạt động trong bối cảnh chính trị khá phức tạp vào đầu thế

kỷ XX, khi các nhà Nho yêu nước, tiêu biểu trong phong trào ĐKNT, đang trăn trở tìm đường đưa đất nước thoát khỏi ách thống trị ngoại bang Họ đã tận dụng tờ báo như một cơ quan ngôn luận để tuyên truyền cho định hướng chính trị của mình

Sự chuyển hoá của ĐCTB với vai trò Nguyễn Văn Vĩnh được nêu lên trong một tài liệu: “Có một sự trùng hợp đáng chú ý: khi Đại Nam (ĐCTB) ra số đầu

cũng là lúc ĐKNT vừa thành lập Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút báo đồng thời là nhân vật trọng yếu trong những người lãnh đạo ĐKNT, nên tờ báo này được chuyển vào tay những người lãnh đạo ĐKNT, chỉ đạo nội dung biên tập, tuy về danh nghĩa vẫn là báo tư nhân, chủ của nó trước pháp luật là Schneider” [45, tr 19]

Những hoạt động của các văn thân và sỹ phu yêu nước khi ấy, tuy về danh nghĩa mới chỉ nằm trong phạm vi giáo dục, nhưng cũng đã khiến cho giới chức cầm quyền thực dân lo ngại

Trang 25

Điều này thể hiện rõ trong bức thư của Toàn quyền Đông Dương khi ấy là

Beau gửi cho Tổng trưởng thuộc địa Pháp vào ngày 16-4-1907: “Không phải là

không nguy hiểm nếu để cho họ (chỉ các sĩ phu yêu nước) thành lập, ngoài sự hướng dẫn tinh thần và sư phạm, một nền giáo dục bản xứ, tự do, và dành riêng cho thành phần thượng lưu này mà chúng ta (chỉ thực dân Pháp) phải cố gắng gây ảnh hưởng càng mạnh càng tốt” [64, tr 82]

Mối lo ngại đó tất yếu dẫn tới việc chính quyền thực dân xiết chặt chế độ kiểm soát đối với báo chí, đàn áp phong trào của các sĩ phu văn thân yêu nước Bởi vậy mà đầu năm 1908, trường ĐKNT bị đóng cửa, một số nhà Nho, nhà giáo bị tù

đày nhưng trước đó, ĐCTB đã bị đóng cửa Số cuối cùng của ĐCTB là số 826, ra

ngày 14-11-1907 [67, tr 173]

ĐDTC và Trung Bắc tân văn

Sau khi đàn áp phong trào ĐKNT vào khoảng cuối thập niên đầu tiên của thế

kỷ XX, thực dân Pháp cũng hiểu rằng mặc dù có thể giải tán trường ĐKNT, đóng

cửa ĐCTB, bắt bớ, đầy ải một số nhà Nho ái quốc, thế nhưng không dễ gì phá huỷ

được mục tiêu của phong trào này là thức tỉnh tinh thần dân tộc, học hỏi những tri thức văn minh tiến bộ, ngõ hầu chuẩn bị cho việc giành lại độc lập dân tộc Bởi vậy nên chính quyền thực dân đã gấp rút gây dựng một phong trào học hỏi văn hoá Tây phương, từ đó đẩy mạnh việc tuyên truyền những thành tựu văn minh, kỹ nghệ, văn hoá, khoa học , để có thể làm chệch hướng mục tiêu của các nhà Nho yêu nước

Với hiện trạng văn hoá mà ảnh hưởng của Trung Hoa ngày càng trở nên yếu

ớt, trong khi chính quyền thực dân Pháp lại đẩy mạnh việc tuyên truyền cổ suý cho văn hoá Tây phương mà một biểu hiện rõ rệt nhất của nó là chữ quốc ngữ, đã nảy sinh nhu cầu cấp thiết khi ấy là phải có một tờ báo nặng về văn chương Tờ báo này vừa tuyên truyền phổ biến chữ quốc ngữ, vừa trình bày văn chương và đồng thời thực hiện âm mưu “nô dịch văn hoá tinh thần người bản xứ”

Bên cạnh đó, khi chữ Hán cùng với đội ngũ nhà nho ngày một thu hẹp thì chữ quốc ngữ gắn liền với đội ngũ tân học lại dần được mở rộng và sự ảnh hưởng của phương Tây cũng ngày càng rõ nét Luồng tư tưởng mới, chất liệu ngôn ngữ

Trang 26

mới (chữ quốc ngữ) cần phải có môi trường để thể nghiệm, chính điều này đã chắp

cánh cho nền văn học, báo chí phát triển Như vậy, báo chí nói chung và ĐDTC nói

riêng đều là sự lựa chọn tối ưu của cả Pháp và giới “duy tân”

Ngày 15-5-1913, tờ ĐDTC ra số đầu tiên, phát hành hàng tuần vào ngày thứ

năm, góp phần vào việc truyền bá và phổ biến chữ quốc ngữ cũng như nâng cao dân

trí Đây là ấn bản vẫn do Francois Henri Schneider làm chủ, là một phần của tờ Lục

tỉnh tân văn phát hành ở Bắc kỳ và Trung kỳ Bởi vậy, ngay dưới măng sét của tờ ĐDTC bao giờ cũng có một hàng chữ bằng tiếng Pháp: “Ấn bản đặc biệt của Lục tỉnh tân văn ở Bắc kỳ và Trung kỳ”

ĐDTC khi mới ra đời trong mấy năm đầu tiên in ở khổ lớn hơn A4 một chút,

các tin bài được chia thành ba cột Đến quãng năm 1915 trở đi, ĐDTC thu nhỏ khổ

hơn khổ A4 và phần nội dung chỉ được trình bày thành hai cột

Các trang của ĐDTC được đánh số liên tục giữa các số tạp chí chứ không

tách biệt theo từng số

Về nội dung, trong thời kỳ đầu, ĐDTC đăng tải khá đa dạng các tin bài khác

nhau

Đông Dương tạp chí

Trang 27

Những bài viết mang tính chính trị tất nhiên vẫn mang hơi hướng ủng hộ chính quyền Pháp Phần văn chương do nhiều cây bút có tên tuổi và tài năng đảm nhiệm, như phần Hán văn do Phan Kế Bính phụ trách, Pháp văn do Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh viết bài và đứng mục Chính Nguyễn Văn Vĩnh là người đã dịch rất nhiều bài viết từ tiếng Pháp sang tiếng Việt (không gọi là “dịch” như sau này mà gọi là “diễn Nôm”) những bài mang tính triết học, tư tưởng hoặc luận bàn

Đến năm 1917, ĐDTC tách ra một phần thành Trung Bắc tân văn, mỗi tuần

ra ba số, còn ĐDTC vẫn giữ nguyên tên, trở thành tạp chí văn chương và văn hoá

ĐDTC ra được 231 số, số cuối phát hành ngày 15-6-1919, rồi đổi tên thành Học báo, chủ yếu phục vụ đối tượng học sinh, giáo viên, còn Trung Bắc tân văn đang từ

một tuần ra ba số chuyển thành nhật báo, ra hàng ngày Đây là tờ báo ngôn luận ra

hàng ngày bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ Trung Bắc tân văn tồn tại từ 1917

đến 1930 thì chấm dứt hoạt động

Ngày 15-5-1937, Nguyễn Giang, con trai của Nguyễn Văn Vĩnh, tuyên bố ra

lại ĐDTC, do chính Nguyễn Giang làm chủ nhiệm Tờ ĐDTC mới này xuất bản

hàng tuần bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp Tham gia viết tờ tạp chí mới này còn có các con ông Nguyễn Văn Vĩnh như Nguyễn Hải, Nguyễn Nhược Pháp (viết kịch),

các cây bút có tiếng như Hoàng Xuân Hãn (dịch cả Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị

sang tiếng Pháp), Lãng Nhân, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng (truyện ngắn)

Tuy nhiên, tờ ĐDTC mới gặp rất nhiều khó khăn, nhiều lần phải ngừng xuất

bản rồi tục bản, số cuối cùng (số 10) ra tháng 9-1939 [67, tr 191] Về dấu ấn của

Nguyễn Văn Vĩnh với ĐDTC, chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở phần sau

1.3 Thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh

1.3.1 Thân thế

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh (SN 1882, tại phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Phú Xuyên, Hà Nội) Ông xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo Từ nhỏ, ông Vĩnh đã phải làm nghề kéo quạt thuê ở trường Thông Ngôn (College des Interprètes) đóng tại đền Yên Phụ, nay nằm trong khuôn viên trường THCS Mạc

Trang 28

Đĩnh Chi - Hà Nội Vừa kéo quạt, vừa học lỏm qua bài giảng, Nguyễn Văn Vĩnh đã học giỏi, thậm chí học trội hơn cả học sinh là những con nhà gia thế lúc bấy giờ

Được biết, trong một lần các con nhà giàu ở lớp còn đang lúng túng, không kịp trả lời thầy, Vĩnh đã nhanh nhảu trả lời đúng các câu hỏi Ông giáo người Pháp quá ấn tượng với cậu bé nhà nghèo nên xin cho Nguyễn Văn Vĩnh được học chính thức ở trường Sau thời gian học tập, ông Vĩnh đã đỗ đầu khóa thông ngôn 1893 -

1896 (ở tuổi 14) Một năm sau, ông được đặc cách nhận làm phiên dịch trên Tòa xứ Lào Cai [18, tr 39]

Sau thời gian ở tòa sứ Lào Cai, Nguyễn Văn Vĩnh được thuyên chuyển làm thông ngôn ở tòa sứ Kiến An (giáp Hải Phòng) Từ 1902 đến 1905, ông làm thông ngôn ở tòa sứ Bắc Ninh Viên công sứ Bắc Ninh Hauser là một trí thức Pháp đỗ cử nhân luật, đi học ngạch quan cai trị thuộc địa Thấy Nguyễn Văn Vĩnh nói tiếng Pháp thành thạo, am hiểu công việc văn thư, tự mình thảo được công văn và báo cáo

đủ các loại cho tòa sứ, lại viết được báo tiếng Pháp (khi đó Nguyễn Văn Vĩnh đã là

cộng tác viên của tờ “Courrer d’ Haiphong” và tờ “Tribune Indochinoise” của Paul

Schneider), Hauser đề bạt ông làm chánh văn phòng tòa sứ, nâng lương vượt ngoài khung lương thông ngôn; giao cho các công việc đáng lẽ phó sứ phải làm (phó sứ Eckert nguyên là nhân viên của Sở Mật thám, không có trình độ văn hóa, không đảm đương được các công việc này) Năm 1905 khi được điều về làm đốc lý thành phố Hà Nội, Hauser đã thuyên chuyển Nguyễn Văn Vĩnh về cùng [18, tr 40]

Đây là thời gian Toàn quyền Beau sang thay Doumer ở Đông Dương, chủ trương đổi mới các chính sách văn hóa thuộc địa với việc mở mang học hành, lập các tổ chức y tế và hội thiện Đốc lý Hauser được giao nhiệm vụ vận động và giúp

đỡ người Việt làm đơn và thảo điều lệ xin phép lập các trường, các hội, đệ lên phủ thống sứ để duyệt Hauser giao toàn bộ công việc này cho Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách Năm 1906, Chính phủ Pháp mở ở Hội chợ Thuộc địa ở Marseille (Exposition colonial de Marseille) Đốc lý Hà Nội được Phủ Thống sứ giao việc tổ chức và quản

lý gian hàng Bắc kỳ sẽ tham gia hội chợ Hauser ủy quyền hết cho ông Vĩnh, từ việc lập đề án thu thập sản phẩm hàng hóa để trưng bày đến việc tuyển thợ đi sang

Trang 29

Marseille dựng gian hàng Nguyễn Văn Vĩnh đã tuyển Trần Trọng Kim sang Pháp với danh nghĩa là thợ khảm, nhờ đó Trần Trọng Kim có điều kiện ở lại Pháp học đại học sư phạm [18, tr 41]

Hội chợ Thuộc địa (thời đó gọi là hội đấu xảo) diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1906 Sau khi kết thúc hội chợ, Nguyễn Văn Vĩnh ở lại Pháp một thời gian Hauser đưa ông lên Paris Tại đây ông đã đến thăm nhà in và báo "Revue de Paris", nhà xuất bản Hachette, nhà soạn và in từ điển Larousse, tìm hiểu phong trào báo chí Pháp và nền dân chủ Pháp Cũng tại đây, ông đã gặp những người bạn Pháp có tư tưởng dân chủ tiến bộ như Pierre Vierge, L‟hermite, Paul Schneider (Schneider là

một nhà kinh doanh về ngành in ở Đông Dương, chủ 2 tờ báo tiếng Pháp “Courrer

d’ Haiphong” và “Tribune Indochinoise” mà Nguyễn Văn Vĩnh đã cộng tác khi còn

làm ở tòa công sứ Bắc Ninh và sau này đã hợp tác làm tờ ĐDTC, Trung Bắc Tân

Văn và cùng lập nhà in Trung Bắc Tân Văn)… Qua những người bạn Pháp mới đó,

Nguyễn Văn Vĩnh được giới thiệu với Hội Nhân quyền Pháp và là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền Pháp 1906 Tiếp thu tư tưởng tiến bộ của nền dân

chủ tự do Pháp với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái, ông đã nhận ra chính

sách 2 mặt của thực dân Pháp và những gì diễn ra ở thuộc địa khác hẳn với những

tư tưởng tiến bộ vốn có của người Pháp Nói cách khác, chính sách thuộc địa mà thực Pháp áp dụng ở Đông Đương lúc đó đã hoàn toàn mâu thuẫn với nền văn minh Pháp, cái nôi của văn hóa châu Âu [10] Đó cũng là điều mà sau này, chính Nguyễn

Ái Quốc đã đặt ra

Tận mắt chứng kiến sự văn minh hiện đại của xã hội phương Tây, trở về nước, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định từ bỏ cuộc đời làm công chức đang rất hanh thông để trở thành một nhà hoạt động xã hội Con đường ông lựa chọn bước đầu là trở thành một nhà báo tự do, với hoài bão đổi mới xã hội và canh tân đất nước [18,

tr 40] Năm đó, Nguyễn Văn Vĩnh mới 24 tuổi

Bỏ cái “nghề” truyền thống của trí thức Việt Nam cả ngàn năm qua là làm quan hay viên chức để theo đuổi một nghề mới xuất hiện trong xã hội, nghề làm báo độc lập, cho thấy tư tưởng Nguyễn Văn Vĩnh thật sự “mới” và “liều” đối với phần

Trang 30

đông người dân trong nước lúc bấy giờ Nhưng với ông, đó là con đường duy nhất

để thực hiện hoài bão và lý tưởng canh tân cải cách của mình Quan điểm về sự đổi mới của ông rất rõ ràng: đổi mới không gì bằng học ngay người Pháp, vươn lên bằng người Pháp Muốn một nước Nam mới, phải xây dựng được một thế hệ người Việt mới với những tư duy mới Nguyễn Văn Vĩnh tự nhận cho mình vai trò tiên

phong là làm một người Nam mới Bút hiệu Tân Nam Tử (Người Nam mới) được

Nguyễn Văn Vĩnh chọn sử dụng ngay sau chuyến Tây du này [18, tr 41]

Thiên về lý luận và truyền bá tư tưởng suông không phải là cách làm của Nguyễn Văn Vĩnh - một con người của các hoạt động xã hội Làm một nhà báo, một ông chủ báo đương nhiên đã là một nhà hoạt động xã hội Nhưng thực tế cho thấy hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh còn rộng hơn rất nhiều Ngay sau khi về nước, năm 1906, ông tham gia thành lập ĐKNT do Lương Văn Can làm thục trưởng, cùng

với người bạn chí cốt là Phạm Duy Tốn “tự đảm nhiệm việc xin giấy phép mở

trường và tức thì thảo đơn gửi Phủ Thống Sứ ”; đồng thời trực tiếp tham gia giảng

dạy bằng chữ quốc ngữ trong trường [50, tr 121]

Đối với lĩnh vực dịch thuật của văn học nước nhà, Nguyễn Văn Vĩnh cũng

ghi đậm dấu ấn trong giai đoạn sơ khai Ông là người vận động thành lập Hội dịch

sách đầu tiên ở Việt Nam và ngày 26/6/1907, tại Hội Trí Tri Hà Nội, ông đã trực

tiếp đọc diễn thuyết tuyên bố thành lập Hội dịch sách với hơn 300 hội viên Bản

thân ông có một số lượng đồ sộ bản dịch với rất nhiều thể loại khác nhau Có nhiều nhà nghiên cứu qua các thời kỳ ghi nhận những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh

vào lĩnh vực dịch thuật Gần đây nhất, lời giới thiệu của cuốn “Truyện cổ Nhật Bản”

do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2007 cũng ghi rõ: “Việc giới thiệu truyện

Cổ tích Thế giới ở Việt Nam đã được làm cách đây cả trăm năm, một trong những người tiên phong là học giả Nguyễn Văn Vĩnh”

Trước khi là người sáng lập Hội dịch sách, Nguyễn Văn Vĩnh còn là một trong những thành viên chủ chốt thành lập ra Hội Trí Tri (cũng là trường Trí Tri), giữ chân diễn thuyết và cùng các ông Phạm Duy Tốn, Trần Văn Hùng mỗi người dạy một lớp [18, tr 42] Các trí thức đương thời đã ghi nhận Nguyễn Văn Vĩnh là

Trang 31

người chủ xướng hay ít ra cũng là “người lính tiền phong hăng hái” (chữ dùng của

nhà văn Vũ Bằng) ở nhiều lĩnh vực: xuất xướng lên phong trào diễn thuyết, phong trào viết báo Nam, báo Pháp; phong trào phổ biến chữ quốc ngữ và truyền bá văn minh Âu Tây; phong trào đem cái hay cái đẹp của văn minh, văn hóa Việt Nam, diễn

ra cho người Tây hiểu biết; phong trào mở rộng giúp những người thanh niên đi Tây

du học; phong trào Phật giáo; phong trào thể thao Về hoạt động chính trị, ông là

hội viên Hội Đồng thành phố Hà Nội (năm 1908) Từ năm 1913, trong nhiều khóa liên tiếp, ông được tín nhiệm làm hội viên Hội Đồng Tư Vấn Bắc Kỳ (tức Viện Dân

Biểu thời đó) đồng thời có chân trong Đại Hội Nghị Kinh Tài Đông Dương (một cơ

quan tư vấn tối cao của chính phủ Đông Pháp), nhiều lần lên tiếng bênh vực cho quyền lợi đồng bào trong đó có quyền lợi của mình Tất cả những hoạt động đó đều hướng vào một mục tiêu duy nhất: mong muốn quốc dân tiến bộ để dần dần, theo

từng giai đoạn, giành lấy tự do độc lập, một khi đã “mạnh bằng người Pháp”

Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người Việt Nam duy nhất đã hai lần từ chối huân chương

Bắc đẩu Bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng Ông đã cùng với bốn người Pháp viết

đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Châu Trinh Ngoài

ra, Nguyễn Văn Vĩnh cũng từ chối chức Thượng thư trong triều đình Huế [18]

Là một người thực tế với quan điểm chính trị mềm dẻo, Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương không đuổi Pháp về nước ngay mà đấu tranh đòi hỏi người Pháp phải công bằng thành thực với người Việt Nam; đồng thời ra sức quảng bá văn minh Âu

châu và khai trí cho quốc dân tiến bộ Đó chính là thuyết “trực trị” (đối lập với thuyết “quân chủ lập hiến” của Phạm Quỳnh) mà sau này nhiều người đã phê phán

Nguyễn Văn Vĩnh là thân với Pháp, bồi bút cho Pháp, cổ vũ chế độ thực dân Tuy vậy, hẳn Nguyễn Văn Vĩnh có quan điểm riêng của mình khi cho rằng một khi đã học được người Pháp để mạnh bằng người Pháp, tất yếu sẽ có được tự do độc lập

Chủ trương trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh phát sinh từ tinh thần này Đấy cũng là lý

do ông ra mặt chống chính phủ Nam triều và cực lực phản đối chủ trương lập hiến bảo hoàng của Phạm Quỳnh Nguyễn Văn Vĩnh đã viết hàng trăm bài báo về vấn đề này trên các tờ báo của mình Viết bằng tiếng Việt để đấu tranh chưa đủ, ông thấy

Trang 32

còn phải viết bằng tiếng Pháp để người Pháp nói riêng và thế giới nói chung hiểu

được chủ trương trực trị của ông Vậy nên năm 1931, ông đã lập nên tờ Annam

Nouveau (An Nam mới), tờ báo tiếng Pháp đầu tiên ở Đông Dương do một người

Việt làm chủ

Từ những hoạt động này, có thể nói lý thuyết “trực trị” với mong muốn đưa

chế độ thuộc địa có phần tiến bộ hơn ở Nam kỳ vào thay thế chính sách bảo hộ hà khắc ở Bắc và Trung kỳ, loại bỏ ảnh hưởng của Nam triều (ngược hoàn toàn với lý

thuyết “bảo hộ” mà Phạm Quỳnh chủ trương bảo vệ chính phủ phong kiến Nam

triều) của Nguyễn Văn Vĩnh là sự đẩy lên một cách quá mức và có phần ngây thơ những tư tưởng duy tân, tư tưởng Phan Châu Trinh, của một nhà báo muốn cải cách

xã hội, một dịch giả nhiệt thành muốn làm cầu nối cho hai nền văn chương Pháp - Việt, hay nền văn hóa Đông – Tây Đó cũng là bi kịch của cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh, cuộc đời của một nhà hoạt động và luôn dấn thân với quá nhiều tư tưởng đi trước thời đại, nói đúng hơn là đi trước xã hội đương đại – xã hội An Nam ông đang sống, dưới sự kìm kẹp của thực dân Pháp và sự hủ lậu của chính quyền Nam triều –

mà thiếu hẳn một chủ nghĩa đúng đắn soi đường Vì dấn thân với tư tưởng dám nghĩ dám làm, ông trở thành một nhà buôn dù không hề được trang bị những kiến thức

về thương mại Có điều, Nguyễn Văn Vĩnh đi vào thương mại không phải chỉ để làm giàu cho bản thân, cho đất nước, phá vỡ những quan niệm Nho giáo và tiểu nông cổ truyền chật hẹp, mà còn để bảo vệ được sự độc lập của nghề báo, nhất là độc lập về chính trị

Làm thương mại mà không có kiến thức về thương mại, lại bị chính quyền o

ép đủ điều, đương nhiên Nguyễn Văn Vĩnh không tránh khỏi thất bại Năm 1932,

tòa án Hà Nội đưa trát đòi tịch biên gia sản của Nguyễn Văn Vĩnh vì ông thiếu nợ

Không nản trí, ông tiếp tục vay tiền nhà băng để kinh doanh, dựng tòa soạn báo

L’Annam nouveau, mở nhà xuất bản mới (thư viện Âu Tây tư tưởng) [61]

Đầu năm 1936, khi việc làm ăn của ông lại rơi vào thua lỗ, chính quyền Đông Dương vừa tìm cách lôi kéo Nguyễn Văn Vĩnh vừa ép buộc ông hoặc hợp tác,

hoặc phải từ bỏ tờ L’Annam Nouveau [7, tr 261-262] Nguyễn Văn Vĩnh khước từ

Trang 33

cả hai ép buộc đó Để có tiền cứu tờ báo (và cứu cả mình), ông lặn lội qua Lào tìm vàng, một nghề ông chưa hề được chuẩn bị và đầy hiểm nguy Vậy nên sau khi chỉ gửi về được một vài bài phóng sự, ông đã nhiễm bệnh và qua đời trên một chiếc thuyền độc mộc bên dòng sông Sêpôn (Tchépone, Lào) ngày 2-5-1936, với một chiếc quản bút trong tay và một bản thảo dang dở của thiên ký sự bằng Pháp văn (đã

đăng tải được vài kỳ trên báo L’Annam Nouveau): "Một tháng với những người tìm

vàng" (Un mois avec des chercheurs d’or)

Nhà văn Vũ Bằng đã viết về sự kiện này:

“ cái tang đó không phải là cái tang riêng của gia đình họ Nguyễn hay là của ĐDTC, Trung Bắc tân văn, Annam Nouveau, nhưng là cái tang chung cho các giới quốc dân Linh cữu đưa về Hà Nội Cuộc hội họp của các nhà báo bàn định về tang lễ Việc túc trực bên linh cữu tại hội quán Tam Điểm ở gần ga Hàng Cỏ Hai vạn người đi đưa đám Điếu văn Câu đối Truy điệu Còn nhớ ngày đó cái cảm tình của làng văn, làng báo ba kỳ đối với Nguyễn Văn Vĩnh thật là đôn hậu, sự thương tiếc của quốc dân thật là chan chứa; già có trẻ có, không quản đường xa trời nắng thành tâm đưa Nguyễn Văn Vĩnh về nơi an nghỉ cuối cùng Thật là một cái đám tang lớn, giản dị mà trọng thể, ít thấy trên đất Đông Dương vậy” [8]

Chỉ có nhà cầm quyền Pháp và chính phủ phong kiến Nam triều là thở phào nhẹ nhõm vì đã “nhổ” được một cái “gai” trong mắt

1.3.2 Một vài trước tác của Nguyễn Văn Vĩnh

Trong sự nghiệp của mình, với tài hoa bậc thầy về ngôn ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc điều hành, quản lý một số tờ báo thời bấy giờ mà ông đã viết hàng ngàn bài báo bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, dịch văn thơ từ tiếng Pháp sang chữ quốc ngữ

Một số tác phẩm dịch tiêu biểu:

- Văn Ngụ Ngôn: Thơ Ngụ Ngôn của La Fontaine (1915)

- Kim Vân Kiều (dịch từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, rồi dịch từ chữ quốc

ngữ sang Pháp văn)

+ Văn Truyện Ký:

Trang 34

- Truyện Trẻ Con (Contes de Perrault);

- Chuyện Các Bậc Danh Nhân Hy Lạp của Plutarque (Les vies parallèles des

hommes illustres de la Grèce et de Rome);

- Sử Ký Thanh Hoa của Vayrac (Le parfum des humanités)

+ Tiểu Thuyết:

- Gil Blas de Santillane của Lesage, 4 quyển;

- Tục Ca Lệ của Lesage;

- Mai Nương Lệ Cốt của Abbé Prévost (Manon Lescaut), 5 quyển;

- Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Alexandre Dumas (Les Troix

Mousquetaires), 24 quyển;

- Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo (Les miscrables);

- Miếng Da Lừa của Honoré de Balzac (La peau de chagrin);

- Đàn Cừu Của Chàng Panurge của Emile Vayrac Rabelais - Emile Vayrac (Notice sur Rabelais);

- Tê-Lê-Mác Phiêu Lưu Ký của Fénélon (Les aventures de Télémaque);

- Qui-li-ve Du Ký của J Swift (Les voyages de Gulliver)

+ Hài kịch của Molière:

- Trưởng Giả Học Làm Sang (Le Bourgeois Gentilhomme);

- Người Biển Lận (L'avare);

- Giả Đạo Đức (Tartuffe);

- Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire)

Một số bài luận thuyết và ký sự đáng chú ý của Nguyễn Văn Vĩnh:

Đăng trên Đại Nam ĐCTB

Trang 35

- Hội Dịch Sách (Số 813 ngày 15-08-1907);

- Tư Tưởng Nam Kỳ (Số 815 ngày 29-08-1907);

- Chết vì Gạo (Số 818 ngày 19-09-1907);

- Hội Kiếp Bạc (Số 820 ngày 03-10-1907);

- Truyện Ăn Mày (Số 822 ngày 17-10-1907);

1.3.3 Những đóng góp nổi bật của Nguyễn Văn Vĩnh đầu thế kỷ XX

Đóng góp quan trọng nhất của Nguyễn Văn Vĩnh đối với văn hóa nước nhà những năm đầu thế kỷ XX là việc ông đi tiên phong quảng bá và hoàn thiện chữ quốc ngữ, góp phần mở ra một nền văn chương học thuật mới cho nước Nam Ông cũng được coi là nhà báo tự do đầu tiên của xứ Bắc Kỳ, với hàng ngàn bài báo cổ vũ cho những tư tưởng mới, kêu gọi dẹp bỏ cái cũ đã lạc hậu trong xã hội và học theo văn minh phương Tây Những bài báo này phần lớn được đăng tải trên các tờ báo do ông

Trang 36

chủ trương như ĐCTB, ĐDTC, Trung Bắc Tân Văn (đặc biệt nổi bật là ĐDTC)

Nguyễn Văn Vĩnh còn được đánh giá là dịch giả lớn nhất nước trong những năm đầu thế kỷ, với rất nhiều tác phẩm giá trị của Pháp được ông chuyển tải ra tiếng Việt để phục vụ phần đông người Việt bước đầu được tiếp xúc với văn chương phương Tây,

tư tưởng phương Tây mà Pháp là đại diện Ngược lại, ông cũng là người đầu tiên

chuyển tải những tác phẩm văn chương giá trị của dân tộc (như Truyện Kiều) ra tiếng

Pháp, để người Pháp thấy rằng văn hóa Việt Nam không thấp kém như họ nghĩ

1.3.3.1 Nguyễn Văn Vĩnh với việc truyền bá và hoàn thiện chữ quốc ngữ

Tại Việt Nam, người có công truyền bá chữ quốc ngữ đầu tiên là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của Từ nửa cuối thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký đã đem

những sách đọc dễ hiểu và gần gũi với tâm lý người Việt như Lục súc tranh công,

Lục Vân Tiên in ra bằng chữ quốc ngữ Mục đích của ông là để truyền bá dễ dàng

chữ quốc ngữ trong nhân dân Năm 1868, Trương Vĩnh Ký viết sách: Tiếng Annam

thực hành, dùng cho trường thông ngôn Năm 1876, ông xuất bản cuốn: Sách học đánh vần quốc ngữ

Bên cạnh Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của - nhà văn hóa học và ngôn ngữ học - cũng có ít nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu, phát triển và truyền bá chữ quốc ngữ trong giai đoạn đầu, đặc biệt là ở Nam bộ Năm 1865, ông thay Trương

Vĩnh Ký làm chủ bút tờ Gia Ðịnh báo trong một thời gian ngắn Mặc dù tinh thông

cả Pháp văn lẫn Hán văn nhưng đa số các tác phẩm của Huỳnh Tịnh Của được viết bằng chữ quốc ngữ Những đóng góp cho việc phát triển chữ quốc ngữ của hai ông

là không thể phủ nhận, tuy nhiên, cả Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của lại không

hô hào và dấy lên một phong trào học chữ quốc ngữ sâu rộng như Nguyễn Văn Vĩnh sau này

Công lao của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc truyền bá và hoàn thiện chữ quốc ngữ được thể hiện ở những khía cạnh chính sau:

Thứ nhất, ông tích cực làm báo và dịch thuật, nhất là trên cương vị chủ bút

ĐDTC, dùng nó để làm phương tiện mở mang giáo dục, nâng cao dân trí

Trang 37

Thứ hai, không chỉ phỏng dịch văn chương Pháp ra tiếng Việt mà Nguyễn

Văn Vĩnh còn chủ trương phỏng dịch văn chương Việt sang tiếng Pháp Mục đích của việc làm này là khởi xướng tổng hợp Đông Tây, nhìn bề ngoài thì là một sự hưởng ứng chiêu bài "Pháp – Việt đề huề", nhưng thực tế còn là sự khẳng định nền văn hóa độc lập của nước Việt và khởi nguồn cho công cuộc duy tân cải cách

Thứ ba, bên cạnh việc phổ biến và cổ động việc dùng chữ quốc ngữ, Nguyễn

Văn Vĩnh còn rất tích cực chỉ ra những nhược điểm của các ngôn ngữ khác, nhất là chữ Hán, từ đó kêu gọi bỏ chữ Hán

Thứ tư, Nguyễn Văn Vĩnh góp công lớn trong việc chỉnh sửa những khuyết

điểm của chữ quốc ngữ để chúng đơn giản, gần gũi, dễ hiểu và tiện ích hơn trong cuộc sống Như vậy, xét riêng những đóng góp trong việc quảng bá và hoàn thiện chữ quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh đã xứng đáng được coi là một trong những nhà văn hóa tiêu biểu của đất nước trong những năm đầu thế kỷ XX Không phải vô cớ

mà Đào Duy Anh viết những điều này trong Việt Nam Văn hóa Sử cương: “Có công

bồi đắp và cổ lệ cho Việt ngữ nhất, khiến cho quốc dân sinh lòng tự tín đối với ngôn ngữ nước nhà, thì chính là ông Phạm Quỳnh chủ trương tạp chí Nam Phong và ông Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương tập Âu tây tư tưởng” [2, tr 281 - 282]

1.3.3.2 Nguyễn Văn Vĩnh với lĩnh vực văn học nghệ thuật

Đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật, xét ở vị trí một dịch giả, công lao của Nguyễn Văn Vĩnh được ghi nhận trong việc giới thiệu và phổ biến các loại hình văn học mới; Thúc đẩy việc tiếp nhận thể loại kịch nói và đưa văn học phương Đông đến các nước phương Tây

Thứ nhất, có thể nói Nguyễn Văn Vĩnh rất có công trong việc giới thiệu và

phổ biến các loại hình văn học mới đến với công chúng thời bấy giờ

Công bằng mà nói, Nguyễn Văn Vĩnh mới là người đầu tiên phổ biến lối thơ

mới ở nước ta, sớm hơn rất nhiều so với bài “Tình già” của Phan Khôi khởi đầu cho

phong trào Thơ mới năm 1932 Ngoài ra, ông còn là người đầu tiên chuyển thể và

giới thiệu các truyện ngắn dành cho trẻ em phương Tây sang Việt ngữ để trẻ em,

vốn rất thiếu phương tiện giải trí và học tập, được đọc

Trang 38

Đối với loại hình tiểu thuyết, có thể khẳng định, Nguyễn Văn Vĩnh là người

có công trong việc mở đường cho loại hình tiểu thuyết phương Tây vào Việt Nam

Cùng với đó, ông còn dịch truyện các danh nhân Hy Lạp, sách khảo cứu về

Rabelais, sách Luân lý học và Triết học yếu lược, truyện trẻ con… nghĩa là gần như

đủ các loại dịch thuật của hồi đầu thế kỷ Với sự phong phú về thể loại và đồ sộ về khối lượng dịch thuật, không ngoa khi nói rằng, trước ông, chưa ai làm được điều này Sau ông, ngay cả cho đến ngày nay, cũng không nhiều người đạt được điều này

Thứ hai, thông qua những bản dịch hài kịch của Molière (bằng văn xuôi và

văn vần), Nguyễn Văn Vĩnh góp phần vào việc thúc đẩy việc tiếp nhận thể loại kịch vốn tưởng là độc quyền ở phương Tây Chẳng những dịch kịch của Molière mà Nguyễn Văn Vĩnh còn diễn kịch Molière trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội Từ đó, người Việt Nam bắt đầu chú ý sáng tác kịch nói và kịch thơ ở những năm 30, 40 của

thế kỷ Trong Việt Nam Văn hóa sử cương, Đào Duy Anh nhận xét rằng:

“Từ khi ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch hài kịch của Molière và cho diễn kịch

Bệnh tưởng (1921) thì lối kịch bằng Việt ngữ bắt đầu có ở nước ta Sau đó Thái Phỉ viết kịch Học làm sang, Vũ Đình Long viết kịch Chén thuốc độc và Tòa án lương tâm, Vi Huyền Đắc viết kịch Hai tối tân hôn, Cô đốc Minh, Uyên ương Mạc tin (dịch)…” [2, tr.186]

Thứ ba, ngoài việc giới thiệu và phổ biến các loại hình văn học mới, góp phần

đưa thể loại kịch nói vào Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh còn có công lớn trong việc giới thiệu nền văn học phương Đông cho người phương Tây biết thông qua các tác phẩm dịch Đặc biệt nhất trong số những tác phẩm dịch sang tiếng Pháp của ông là

Truyện Kiều

Ngoài ra, ông dịch từ chữ Hán sang tiếng Pháp những áng văn hay của văn

học Trung Quốc như Tiền Xích Bích và Hậu Xích Bích đăng trên ĐDTC, để những

người Pháp làm quen với văn học phương Đông Ông còn viết nhiều bài giới thiệu

về phong tục tập quán của người Việt Nam đăng trên L’Annam nouveau bằng tiếng

Pháp (như bói lá, bói trầu, tục lệ cưới xin, ma chay v.v ) Từ đó, nền văn hóa đậm

đà bản sắc củaViệt Nam bước đầu được các nước phương Tây biết đến

Trang 39

1.3.3.3 Nguyễn Văn Vĩnh với vấn đề cải cách xã hội

Không chỉ là một nhà báo, nhà văn hóa nổi tiếng, Nguyễn Văn Vĩnh còn được nhớ đến là một nhà cải cách xã hội với tư tưởng canh tân cấp tiến

Tư tưởng cấp tiến ấy đã được thể hiện rõ từ năm 1906, trong bức thư đề ngày 27/6/1906 từ Marseille Nguyễn Văn Vĩnh gửi về cho Phạm Duy Tốn - một người bạn chí thân của ông như sau:

“Cảm tưởng người mình bướng quá Muốn làm cho họ thấy sự tiến bộ, thật là

khó quá Chúng ta không bao giờ chịu nhận chúng ta thua kém các dân tộc khác Vả lại, nhận lỗi của mình, có phải là một sự nhục nhã gì cho cam! Trong cõi đời này, ai lại chẳng có tính xấu, người nào mà đã trông thấy nhiều điều lầm lỗi của mình, người ấy gần đi đến chỗ hoàn toàn Hình như đức Khổng đã dạy ta như thế… [8]

ĐKNT đã mở ra một cánh cửa lớn nhìn tới con đường hội nhập thông qua

dân trí Để thực hiện mục đích, các nhà duy tân trong ĐKNT nhìn thấy “quốc ngữ là lợi khí thứ nhất để khai dân trí”, và họ dấy lên phong trào học chữ quốc ngữ, phổ biến chữ quốc ngữ trong mọi tầng lớp nhân dân, thay cho chữ Hán, chữ Nôm Nguyễn Văn Vĩnh đã làm tất cả sức mình để hưởng ứng phong trào này bằng việc

cho ra đời tờ ĐCTB - tờ báo đầu tiên bằng tiếng mẹ đẻ ở xứ Bắc lúc bấy giờ

Thông qua những bài báo nghị luận, Nguyễn Văn Vĩnh đã phản ánh được những vấn đề nóng của xã hội thời đó, đi sâu phân tích nguyên nhân, thực trạng và đồng thời, ông còn đưa ra các giải pháp, hô hào, cổ động để hạn chế các mặt tiêu cực của những hiện trạng đó

Để thể hiện được những tư tưởng cách tân của mình, ông mượn những bài báo để phê phán, đả kích những thói hư tật xấu của xã hội Cụ thể vấn đề này, cũng

là nội dung chính của luận văn, chúng tôi sẽ nói ở phần sau

1.3.3.4 Nguyễn Văn Vĩnh với hoạt động báo chí

Với những đóng góp to lớn đối với nền báo chí quốc ngữ, đặc biệt là ở Bắc

kỳ, giới báo chí cả 3 kỳ (Bắc, Trung, Nam) đã phong tặng Nguyễn Văn Vĩnh danh

hiệu Thủy Tổ Nhà Báo Bắc kỳ sau khi ông qua đời để vinh danh một nhà báo tiên

phong đã đặt những viên đá đầu tiên cho nền tảng giáo dục tân học chữ quốc ngữ

Trang 40

Có thể tóm tắt những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời nhà báo của Nguyễn Văn Vĩnh qua các năm cụ thể như sau:

Năm 1907, trên cương vị là chủ bút tiếng Việt của tờ ĐCTB, Nguyễn Văn

Vĩnh đã dùng tờ báo làm phương tiện để bước đầu truyền bá chữ quốc ngữ, góp phần khai sáng, mở mang dân trí

Ngay từ số đầu, ĐCTB đã mang phong cách của tờ báo nghị luận, có các tin

tức trong nước và thế giới, chuyên luận, phóng sự, tiểu phẩm và thơ ca bằng chữ Nôm Nội dung chủ yếu là các tiểu luận làm lành mạnh xã hội, chống hủ tục mê tín,

đề cao nhân phẩm phụ nữ, cổ vũ chăm làm, chăm học Báo do thực dân Pháp chủ trương, nhưng ảnh hưởng bởi một số cây bút là nhà nho tiến bộ, tờ báo đã kêu gọi mọi người yêu nước, đoàn kết, bỏ lối học khoa cử và lễ tục phong kiến, mở mang công thương

ĐCTB phản ánh đúng tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa ở Hà Nội lúc đó

nên đến ngày 14-11-1907, thực dân Pháp vội vã đóng cửa vì cho rằng ĐCTB chịu

ảnh hưởng của ĐKNT

Năm 1908-1909: Sau khi tờ Đăng Cổ Tùng báo đình bản, ông chủ trương ra

tờ báo tiếng Pháp Notre Journal (1908-1909) Một năm sau, ông lại ra tờ Notre Revue, nhưng cũng chỉ tồn tại được 12 số Cùng năm đó, ông làm chủ bút tờ Lục Tỉnh tân văn ở Sài Gòn

Đầu năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh ra Bắc làm chủ bút tuần báo ĐDTC, số

đầu ra ngày 15-5-1913

Năm 1915, ông kiêm làm chủ bút cả tờ Trung Bắc tân văn Từ đây, tờ ĐDTC

chỉ chuyên về những bài đại luận, văn chương, sư phạm, còn những bài thời sự và tạp luận thì chuyển hết sang tờ Trung Bắc tân văn

Năm 1919, tuần báo ĐDTC một lần nữa được đổi thành học báo, vẫn do ông

làm chủ nhiệm Học báo là chuyên san về những vấn đề sư phạm, nhằm giúp các giáo viên dạy tốt và đặt ra phương pháp mới để dạy chữ quốc ngữ

Cũng năm 1919, ông mua lại tờ Trung Bắc tân văn và cho xuất bản nhật báo

Đây là tờ nhật báo đầu tiên ở Bắc Kỳ trong lịch sử báo chí Việt Nam

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2006) (tái bản), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến Thế kỷ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến Thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
2. Đào Duy Anh (2010) (tái bản), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Nguyễn Thế Anh (2008) (tái bản), Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
Nhà XB: Nxb Văn học
4. Nguyễn Văn Ba, Đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền báo chí quốc ngữ, Luận văn cao học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền báo chí quốc ngữ
5. Phan Trọng Báu (1994), Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam thời cận đại
Tác giả: Phan Trọng Báu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
6. Saigon Báo (1936) bài viết tưởng nhớ Nguyễn Văn Vĩnh (tài liệu do gia tộc họ Nguyễn cung cấp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: bài viết tưởng nhớ Nguyễn Văn Vĩnh
7. Vũ Bằng (2000), Tuyển tập, tập 1, Bốn mươi năm nói láo, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 1, Bốn mươi năm nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
8. Vũ Bằng (1970), Tưởng nhớ một bực thầy: Quan Thành Nguyễn Văn Vĩnh,Tạp chí Văn học số 111, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tưởng nhớ một bực thầy: Quan Thành Nguyễn Văn Vĩnh
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 1970
9. Vũ Bằng (2004), Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2004
10. Nguyễn Lân Bình (2007), Người An Nam nên viết chữ An Nam, Tham luận đọc tại Hội thảo nhân kỷ niệm “100 năm Đông Kinh Nghĩa thục” do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 1/6/2007, Hội Ann - Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người An Nam nên viết chữ An Nam", Tham luận đọc tại Hội thảo nhân kỷ niệm “100 năm Đông Kinh Nghĩa thục
Tác giả: Nguyễn Lân Bình
Năm: 2007
11. Nguyễn Lân Bình (2007), Nguyễn Văn Vĩnh với Đông Kinh Nghĩa thục, Tham luậndự Hội thảo nhân kỷ niệm “100 năm Đông Kinh Nghĩa thục” tại ĐH KHXH và NV Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh với Đông Kinh Nghĩa thục", Tham luậndự Hội thảo nhân kỷ niệm “100 năm Đông Kinh Nghĩa thục
Tác giả: Nguyễn Lân Bình
Năm: 2007
12. Nguyễn Lân Bình (Chủ biên, 2013), Nguyễn Văn Vĩnh là ai, Nxb Tri thức (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh là ai
Nhà XB: Nxb Tri thức (2013)
13. Nguyễn Lân Bình và Nguyễn Lân Thắng (Chủ biên, 2013), Lời người man di hiện đại, Nxb Tri thức (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời người man di hiện đại
Nhà XB: Nxb Tri thức (2013)
14. Phan Kế Bính (1992) (tái bản), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
15. Bộ Chính trị (2008), Nghị quyết số 23 – QĐ/TW về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, (ban hành ngày 16/6/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 23 – QĐ/TW về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
16. Trường Chinh (1975), Văn hóa và nghệ thuật, Nxb Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và nghệ thuật
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Văn hóa nghệ thuật
Năm: 1975
17. Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chữ quốc ngữ
18. Mai Thành Chung, Nguyễn Văn Vĩnh trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, luận văn cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tác giả: Mai Thành Chung
19. Phan Trần Chúc (1936), Điếu văn đại diện báo giới Bắc - Việt tiễn đưa Nguyễn Văn Vĩnh, (tài liệu do gia tộc họ Nguyễn cung cấp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điếu văn đại diện báo giới Bắc - Việt tiễn đưa Nguyễn Văn Vĩnh
Tác giả: Phan Trần Chúc
Năm: 1936
20. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, Viện văn hóa và Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w