1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012

167 750 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Thị Loan nhận định trong cuốn Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ngành truyền hình Việt Nam trong phần Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển truyền hình mới chỉ đề cập đến các hình t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHIẾU THỊ LINH HƯƠNG

CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ VTC

GIAI ĐOẠN 2009 - 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60.32.01.01

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHIẾU THỊ LINH HƯƠNG

CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ VTC

GIAI ĐOẠN 2009 - 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới

sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Các số liệu và kết quả trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Khiếu Thị Linh Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy, các cô giáo trong và ngoài Khoa Báo chí và Truyền thông – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo hướng

dẫn - TS Bùi Chí Trung đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và góp ý cho tôi trong

suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, các

cô, các nhà báo, các chuyên gia trong lĩnh vực báo chí đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu luận văn

Để hoàn thành được luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên, quan tâm rất lớn của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Một lần nữa tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng nhất

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

Company)

Đài TH Việt Nam (VTV) Đài Truyền hình Việt Nam (Viet Nam Television)

Television)

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

MỤC LỤC CÁC HÌNH, BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12

7 Kết cấu của luận văn 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA VÀ MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH 13

1.1 Khái niệm về “mô hình” và các mô hình xã hội hóa truyền hình 13

1.1.1 Khái niệm về “mô hình” 13

1.1.2 Các mô hình xã hội hóa truyền hình 14

1.1.2.1 Hợp tác sản xuất chương trình: 14

1.1.2.2 Đặt hàng sản xuất chương trình 15

1.2 Khái niệm về xã hội hóa và xã hội hóa truyền hình 16

1.3 Chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí trong nền kinh tế thị trường 21

1.4 Chủ trương, chính sách của nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình 25

1.5 Tổ chức và quản lý hoạt động xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam 28

1.5.1 Vấn đề xóa bỏ độc quyền và xã hội hóa lĩnh vực truyền hình 28

1.5.2 Thực trạng quản lý vấn đề xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam 31

Chương 2: THỰC TIỄN TRIỂN KHAI CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ VTC 36

Trang 7

2.1 Tiến trình phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình Đài Truyền hình

Kỹ thuật số VTC 36

2.1.1 Lược sử hình thành Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC 36

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Đài VTC trước thời điểm phân cấp quản lý 1/1/2014 47

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Đài VTC từ ngày 1/1/2014 48

2.2 Quan điểm xã hội hóa của Đài Truyền hình KTS VTC 50

2.2.1 Mô hình xã hội hóa tạo nên giá trị kinh tế truyền thông 50

2.2.2 Hoạt động xã hội hóa truyền hình tạo nên nội dung chương trình phong phú, hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của khán giả 51

2.3 Phân tích các mô hình xã hội hóa của Đài VTC (giai đoạn 2009 - 2012) 54

2.3.1 Mô hình liên kết hợp tác cả kênh 55

2.3.2 Liên kết hợp tác theo nội dung chương trình/giờ phát sóng/sự kiện 57

2.3.3 Các dạng thức liên kết khác 62

2.4 Bản chất mô hình hợp tác giữa Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC và các đối tác xã hội hóa 64

2.4.1 Bản chất quan hệ sở hữu vốn trong dự án 64

2.4.2 Bản chất quan hệ sở hữu và thực quyền quản lý 67

2.4.3.Quyền lợi cơ bản của các bên tham gia hoạt động liên kết 70

2.4.3.1 Quyền của bên A 71

2.4.3.2 Quyền của bên B 72

2.4.4 Quy trình sản xuất và quản lý nội dung các chương trình có yếu tố xã hội hóa 73 2.5 Đánh giá nhận định về các mô hình xã hội hóa của Đài TH KTS VTC 79

2.5.1 Những thành công đáng ghi nhận 82

2.5.2 Những bất cập tồn tại trong các mô hình xã hội hóa 88

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN CHỈNH VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 95

3.1 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả XHH ở các đài truyền hình nói chung 95

Trang 8

3.1.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý cho hoạt động XHH 953.1.2 Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để phát huy sức sáng tạo 1003.1.3 Minh bạch quyền chủ quản nội dung và quyền kinh doanh sản phẩm 1023.1.3.1 Đài truyền hình là đơn vị chịu trách nhiệm cao nhất về mặt nội dung chương trình 1023.1.3.2 Lợi ích kinh tế được thực hiện theo pháp luật hiện hành và trên cơ sở đồng thuận 1053.2 Một số giải pháp phát triển các mô hình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền

hình tại Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC 106

3.2.1 Thay đổi nhận thức, thái độ về xã hội hóa sản xuất chương trình 1063.2.2 Nâng cao năng lực lãnh đạo và giáo dục chính trị tư tưởng 1103.2.3 Nâng cao nhận thức về công tác XHH và trách nhiệm của một cơ quan báo chí 112

KẾT LUẬN 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 9

MỤC LỤC CÁC HÌNH, BẢNG

Hình 1.1: Doanh thu quảng cáo trên truyền hình và báo in ở Việt Nam … … 24

Hình 2.1: Các kênh truyền hình xã hội hóa của các đài……… 34

Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Đài VTC……….38

Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức quản lý của Đài VTC từ ngày 1/1/2014 ……… 49

Hình 5.1: Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình……… 51

Hình 6.1: Sơ đồ sản xuất một sản phẩm truyền hình……… 54

Hình 7.1: Doanh thu của Kênh VTC1 năm 2009 62

Hình 8.1: Sự phân bố các kênh chương trình ở Đài TH KTS VTC 64

Hình 9.1: Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa của Đài THVN… …77

Hình 10.1: Quy trình nghiệm thu chương của Đài VTC trước tháng 11/2011……….78

Hình 11.1: Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa của Đài VTC sau tháng 11/2011………78

Hình 12.1: Rating năm 2010 đến 07/2011 trên toàn quốc……… ….80

Hình 13.1: Rating năm 2010 tại: TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội………… ….…80

Hình 14.1: Doanh thu năm 2010 của các kênh truyền hình……… … 81

Hình 15.1: Doanh thu 6 tháng đầu năm 2011 của các kênh truyền hình……….81

Hình 16.1: Doanh thu của Đài Truyền hình KTS VTC từ 2009 – 2012……… 83

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng lớn các đài truyền hình Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến hết năm 2011, toàn quốc có

67 đài phát thanh truyền hình trung ương và địa phương, trong đó có 2 đài quốc gia, 1 đài truyền hình cấp bộ, 64 đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh và một số kênh truyền hình của ngành Ngoài hệ thống truyền hình quảng bá, hệ thống truyền hình trả tiền ở nước ta phát triển mạnh bằng nhiều loại công nghệ truyền dẫn như cáp, vệ tinh, số mặt đất, truyền hình di động và công nghệ IPTV

Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, sự cạnh tranh giữa các đài truyền hình, các kênh truyền hình và sự cạnh tranh giữa các loại hình báo chí với nhau ngày

càng mạnh mẽ Nhu cầu của công chúng hiện đại đòi hỏi truyền hình không chỉ là

nhà cung cấp thông tin mà ngày càng phải nâng cao trình độ, chất lượng nội dung các loại hình chương trình, phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của nhiều tầng lớp trong xã hội Trong sự cạnh tranh gay gắt đó, điều cần thiết với những người làm truyền hình không chỉ là sự cố gắng nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn, mà điều quan trọng là phải nhận thức rõ những thách thức và thời cơ, thấy được xu thế vận động làm cơ sở để xây dựng chiến lược hành động phù hợp cho sự phát triển của ngành Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình được xem

là một hướng phát triển mới, cũng là một hướng đi tất yếu

Bên cạnh đó, nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các thiết bị sản xuất truyền hình cũng ngày càng trở nên hiện đại, tiện nghi và đặc biệt là rẻ hơn rất nhiều so với trước, mở ra một khả năng hợp tác vô cùng rộng lớn cho cả truyền hình và công chúng Công chúng có thể tham gia trực tiếp và thực hiện các chương trình truyền hình và nhờ đó nội dung, hình thức thông tin của truyền hình sẽ ngày một đa dạng và mới mẻ hơn

Trang 11

Trong chiến lược đó, xu hướng xã hội hóa truyền hình với sự hợp tác của các nguồn lực, đặc biệt là của các đơn vị tư nhân được xem là một xu thế tất yếu

Xu hướng này đã xuất hiện từ những ngày đầu truyền hình ra đời, hiện nay đang ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Nhu cầu của công chúng hiện đại đã khiến cho truyền hình không chỉ là nhà cung cấp thông tin chính trị, thời sự mang đậm dấu ấn của báo chí, mặt khác còn đặt ra yêu cầu truyền hình phải tích cực hơn nữa trong việc xã hội hóa các loại hình chương trình phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của công chúng Truyền hình sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ của mình khi không tuyển dụng được một nguồn nhân lực có tay nghề trong xã hội Do vậy, xã hội hóa các nguồn lực lao động là một xu hướng tất yếu trong sự phát triển của ngành truyền hình nước ta và phù hợp với xu thế của ngành truyền hình thế giới

Trong xu thế chung đó, Đài TH KTS VTC đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội

để thực hiện quá trình xã hội hóa nhằm đem lại một diện mạo mới cả về nội dung

và hình thức thể hiện thông qua sự đóng góp về trí tuệ, tài chính của các tổ chức, đơn vị và các cá nhân từ bên ngoài Từ một mô hình xã hội hóa đến việc mở rộng các hình thức liên kết trên phương thức hợp tác sản xuất chương trình, hợp tác sản xuất cả kênh sóng, Đài VTC đã tạo nên sự chuyên biệt về nội dung, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của từng đối tượng khán giả Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác liên kết cũng xuất hiện những mặt trái dẫn tới sự thất thoát về tài chính và quan trọng hơn cả là ảnh hưởng tới thương hiệu của Đài VTC do sự bất đồng quan điểm trong quá trình hợp tác hoặc những chiến lược không phù hợp nên không ít mô hình xã hội hóa bị gián đoạn hoặc thất bại Không ít mô hình xã hội hóa mờ nhạt hoặc chồng chéo về mặt nội dung do kết quả của việc “chạy đua” mở rộng kênh sóng hoặc trào lưu xã hội hóa Đây cũng chính là lý do để chúng tôi lựa chọn Đài VTC là đối tượng nghiên cứu của luận văn để tìm hiểu rõ hơn về những nguyên nhân của những thất bại và thành công nêu trên Đồng thời học hỏi, đúc kết những kinh nghiệm trong thực tiễn để bổ sung thêm vào sự hiểu biệt hạn hẹp của tác giả nhằm có một cái nhìn khái quát và đa chiều hơn về vấn đề xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới, sự lớn mạnh của các tập đoàn truyền thông, hệ thống truyền hình phát triển với quy mô của một lĩnh vực kinh doanh rộng lớn với sự tham gia của nhiều đối tượng, thành phần trong xã hội không còn là vấn đề xa lạ Nhiều nước như Anh, Mỹ, Australia, Hàn Quốc… được coi là những quốc gia có truyền thông phát triển mạnh mẽ Quá trình xã hội hóa truyền hình ở trên thế giới đã diễn

ra trước chúng ta rất nhiều năm Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền thông ở nước ngoài có sự khác biệt so với điều kiện ở nước ta, do đó, tính chất xã hội hóa ở các nước cũng có nhiều điểm khác biệt với thực tế ở Việt Nam Do vậy, các bài viết bàn về vấn đề báo chí của các nước phát triển chủ yếu tập trung vào vấn đề “tư nhân hóa” các đài truyền hình và “truyền

riêng về vấn đề này

Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình mặc dù đã hình thành và phát triển từ thập niên 90 nhưng nếu xét trên bình diện tổng thể, hoạt động này cũng chỉ nằm trong một giai đoạn ngắn trong chiều dài lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam Tuy nhiên trong vòng 5 năm trở lại đây đã xuất hiện nhiều ý kiến, bài viết và công trình nghiên cứu khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình nói riêng Sự quan tâm ngày càng nhiều đến hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình không chỉ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của truyền hình đối với đời sống xã hội mà bên cạnh đó còn cho thấy mức độ, giá trị tác động, tầm ảnh hưởng của chương trình truyền hình trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay Hoạt động xã hội

Trang 13

hóa sản xuất chương trình và sự gia tăng số lượng phát sóng các chương trình truyền hình, trong đó có nhiều chương trình xã hội hóa không những không tách rời mà còn có phần gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của khán giả truyền hình nên hiển nhiên nó trở thành một trong những tâm điểm của dư luận xã hội

Trước yêu cầu thực tiễn cần phải làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình, một số đơn vị, cá nhân đã có những nghiên cứu sâu về hoạt động xã hội hóa, đặc biệt là xã hội hóa sản xuất chương trình theo nhiều góc độ tiếp cận

Có thể thấy vấn đề liên kết xã hội hóa truyền hình được nhìn nhận, đánh giá

và phân tích trong các nghiên cứu tương ứng với thời điểm thực tế của sự xuất hiện, manh nha của các mô hình liên kết, hợp tác Sau đó nó được đồng loạt phân tích, nhận định thành một xu hướng tất yếu của ngành truyền hình Việt Nam trước

xu hướng hội nhập và quốc tế hóa với ngành truyền hình thế giới

Trước tiên có thể nhìn nhận việc chấp thuận và tạo điều kiện khuyến khích cũng như đặt ra các công cụ xã hội hóa các lĩnh vực trong đời sống thông qua những chính sách của Đảng và Nhà nước ta Với sự ra đời của Nghị định 69/2008/NĐ-CP

về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các lĩnh vực y tế, giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường, trong đó Nhà nước khuyến khích các thành viên trong xã hội tham gia vào các hoạt động mang lợi ích cộng đồng, đã tạo

cơ hội cho ngành truyền hình mạnh dạn tham gia tích cực vào xã hội hóa Trước yêu cầu mạnh mẽ của phong trào xã hội hóa, ngày 28/5/2009, Bộ Thông tin-Truyền thông cũng đã ban hành Thông tư 19/2009/TT-BTTTT Thông tư này đã đưa ra thuật ngữ “xã hội hóa” tại Điều 2 như sau: “Hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình là một hình thức hợp tác giữa một bên là đài phát thanh, truyền hình, một bên là đối tác liên kết để tạo ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết”

Có thể nói, đây là văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý đồng thời chấm dứt một thời kỳ hợp tác đầu tư “công-tư” theo kiểu “tranh tối tranh sáng” trong lĩnh vực truyền hình tại Việt Nam Bởi trước tháng 5/2009 gần như không có văn bản pháp luật

Trang 14

nào điều chỉnh, cho phép các hoạt động hợp tác đầu tư trong lĩnh vực truyền hình, mà việc hợp tác đầu tư như vậy thường được hiểu như là một phần chủ trương khuyến khích xã hội hóa của Nhà nước

Gắn liền với thực tế phát triển của xu thế xã hội hóa, các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự xuất hiện và xu hướng phát triển của xã hội hóa truyền hình

Năm 1997, TS Phan Thị Loan nhận định trong cuốn Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ngành truyền hình Việt Nam trong phần Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển truyền hình mới chỉ đề cập đến các hình thức để tạo nguồn thu như: Phát triển các hình thức dịch vụ để tăng nguồn thu, mở rộng việc sản xuất phim tư liệu, Triển khai việc thu lệ phí xem truyền hình…” [13.tr.164 -165] mà chưa có bất kỳ

một hoạt động nào liên quan tới vấn đề hợp tác và sản xuất chương trình với các đối tác để tạo nguồn thu cũng như việc đổi mới về nội dung, chất lượng chương trình thông qua việc phát huy trí lực tập thể của các đối tác ngoài đơn vị đài truyền hình

Điều này cũng rất dễ hiểu bởi, lúc này ở Việt Nam chưa có mô hình liên kết

xã hội hóa để tạo ra nguồn thu cho các nhà đài hay làm phong phú thêm nội dung

mà hoàn toàn do “nội lực” của các đài truyền hình tự vận động và sáng tạo “trong khuôn khổ” Tuy nhiên, chỉ sau đó vài năm, xu thế xã hội hóa truyền hình bắt đầu

“nhen nhóm” và được thổi bùng lên Lúc này đã bắt đầu xuất hiện các công trình nghiên cứu sâu thông qua các đề tài khóa luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ; hoặc chúng cũng được nhắc đến trong một số giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo và trở thành nội dung được nhiều người quan tâm, đặc biệt là những người

hoạt động trong lĩnh vực truyền hình như nhận định của TS Bùi Chí Trung:

“Thời kỳ phá bỏ độc quyền và phát triển xã hội hóa (từ 2004) ghi dấu mốc bằng sự ra đời của một hệ thống truyền hình phủ sóng toàn quốc thứ hai sau VTV - hệ thống truyền hình KTS VTC… Kể từ năm 2004, xã hội hóa truyền hình là một xu hướng phát triển mang tính tất yếu” [21, tr.124-12]

Trang 15

Như vậy, việc tham gia của các nguồn lực xã hội trong lĩnh vực truyền hình

đã đánh dấu những bước quan trọng trong tiến trình xã hội hóa truyền hình ở Việt

Nam và dấu mốc này theo nhiều nghiên cứu khác có thể được tính từ năm 2004

Một trong những nghiên cứu sâu về vấn đề xã hội hóa truyền hình đó là

Luận án Tiến sĩ Vấn đề xã hội hóa chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay của Đinh Thị Xuân Hòa (2013) Trong luận án, tác giả nhận định:

“… dù muốn hay không thì cũng phải thừa nhận, xã hội hóa mang lại một diện mạo mới cho truyền hình Số lượng chương trình nhiều lên, chất lượng chương trình thay đổi theo hướng tích cực Khán giả chương trình có cơ hội hơn khi lựa chọn chương trình Cũng

từ xã hội hóa, ngành truyền hình đã huy động được nguồn tài chính to lớn từ các hoạt động tài trợ, quảng cáo, quảng bá thương hiệu để đầu

tư cho sự phát triển” [25, tr.57]

Những nghiên cứu, lý luận được đưa ra trên thực tế đã chứng minh về sự xuất hiện và phát triển của mô hình liên kết xã hội hóa trong ngành truyền hình Việt Nam Cũng tính từ dấu mốc từ sau năm 2004, có rất nhiều các nghiên cứu đưa

ra nhận định và đánh giá về xu hướng này tại Việt Nam Điều này minh chứng cho một hướng đi tất yếu trong xu thế phát triển của ngành truyền hình Cũng từ đây thuật ngữ “xã hội hóa truyền hình” xuất hiện và trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của những nhà quản lý, lãnh đạo các đơn vị truyền hình cũng như công chúng truyền hình Đây là góc độ nghiên cứu chuyên sâu của những người trực tiếp tham gia hoặc kinh qua công tác quản lý, lãnh đạo các đơn

vị truyền hình với tư duy khái quát cao và cái nhìn sâu rộng

Khóa luận Vấn đề xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình (khảo sát các chương trình Đuổi hình bắt chữ, Hộp đen, Cơ hội 999 (từ tháng 1 đến hết tháng 8 năm 2009) do Nguyễn Thanh Hà thực hiện vào năm 2009 được xem là một

trong những công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực xã hội truyền hình Tuy nhiên, khóa luận này chỉ nghiên cứu ở phạm vi hẹp ở một vài chương trình truyền hình nên tính khái quát không cao Một nghiên cứu sâu hơn và được

Trang 16

thực hiện vào năm 2011 khi vấn đề xã hội hóa truyền hình không còn quá xa lạ với các cơ quan báo chí và người làm báo là luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Hồng

Vân (2011) với đề tài Xã hội hóa chương trình truyền hình qua sản phẩm của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta; Hoa Hồng Vàng từ năm 2008 đến năm

2010 trên sóng của Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh

Luận văn Thạc sĩ của Dương Thanh Tùng (2013) về “Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh - thực trạng và định hướng phát triển” là một trong những luận văn khảo sát công phu các chương trình

truyền hình cụ thể Tác giả đã phân tích thực trạng sản xuất của từng chương trình, qua đó khẳng định rõ hơn hiệu quả của chương trình xã hội hóa vào thời điểm nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu khác từ năm 2007 đến năm 2010 cũng

đã có sự khái quát cao về cơ sở lý luận xã hội hóa, trình bày các quan niệm, quan điểm về xã hội hóa nói chung và truyền hình nói riêng Một số công trình nghiên cứu về hoạt động xã hội hóa ở một số đài truyền hình địa phương có giá trị thực tiễn cao đều tiếp cận đến nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội hóa, phân tích sâu thực trạng phát triển, những khó khăn, thuận lợi ở từng đơn vị truyền hình cụ thể…

Ngoài các tài liệu, công trình nghiên cứu trên, có thể liệt kê rất nhiều các bài báo, tham luận phân tích về chủ đề này như Xu hướng xã hội hóa truyền hình ở

Việt Nam hiện nay của Vũ Chung trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền [tr.38-41]

(9,10/2005), trong đó đề cập tới xu hướng và hiệu quả của mô hình liên kết sản xuất các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam Bài Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình – một xu hướng phát triển của truyền hình hiện đại trên

Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông [tr.31-36] (2/2008) của Xuân Hòa đề

cập tới hiệu quả của các mô hình xã hội hóa Tác giả cho rằng mô hình liên kết hiện không dừng lại ở một đơn vị truyền hình mà có rất nhiều đơn vị đều sử dụng hình thức này như một xu hướng tất yếu để thu hút được trí lực và nguồn tài chính

từ nhiều nguồn lực khác nhau…

Loạt bài viết tập trung nghiên cứu về lợi ích và mặt trái của vấn đề xã hội

hóa truyền hình như: “Nhiều kênh truyền hình: xã hội hóa hay tư nhân hóa” trên

Trang 17

báo Sài Gòn Giải phóng Online ngày 27/9/2009 của tác giả Như Hoa – Khánh Duy

đề cập tới những sai phạm khi giao khoán hoàn toàn cho phía doanh nghiệp “nên

bản chất, tiêu chí kênh cũng vì đó biến hóa theo thời gian” Hay bài “Sở hữu kênh

truyền hình xã hội hóa: Liệu có là miếng bánh ngon ăn?” của tác giả Huyền Nga

trên báo Diễn đàn Doanh nghiệp Điện tử (www://dddn.com.vn) ngày 14/8/2010phản ánh về sự xuất hiện ồ ạt của các kênh sóng do các doanh nghiệp đầu tư, hợp tác sản xuất với đài truyền hình nhưng “lượng nhiều mà chất có bao nhiêu”…

Các công trình nghiên cứu vừa nêu trên, vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho những người đi sau có cùng mối quan tâm, nghiên cứu xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào nhìn từ góc độ kinh nghiệm thực tiễn quản lý trong xu thế phát triển hợp tác với các công ty truyền thông tư nhân, đặc biệt là trong phạm vi của Đài TH KTS VTC Vì vậy, xuất phát từ hoạt động thực tiễn của Đài Truyền hình KTS VTC, luận văn này sẽ nghiên cứu và đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện các mô hình quản lý hoạt động xã hội hóa mang tính khả thi cao đối với Đài TH KTS VTC nói riêng và các đài truyền hình ở Việt Nam nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là phân tích các mô hình xã hội hóa của Đài TH KTS VTC, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong mối quan hệ với các đối tác tại Đài Truyền hình KTS VTC, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các mô hình liên kết sản xuất phù hợp với định hướng phát triển báo chí theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích trên, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu và đánh giá về nhu cầu và thực tế triển khai xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình tại Đài TH KTS VTC nói riêng và hệ thống truyền hình Việt Nam nói

Trang 18

chung Sau đó, phân tích xu hướng phát triển của mô hình xã hội hóa truyền hình, rút ra bài học về lý luận và thực tiễn về sự hợp tác liên kết giữa tư nhân và các đài truyền hình nhằm cải thiện chất lượng nội dung chương trình và hướng tới phục vụ tốt nhất nhu cầu của công chúng

- Phân tích các dạng thức, mô hình xã hội hóa truyền hình hiện nay, những kết quả đạt được, những khó khăn phức tạp và bất cập từ hoạt động truyền hình Từ đó, đề xuất các mô hình quản lý các kênh truyền hình liên kết xã hội hóa nhằm đảm bảo

về mặt nội dung, hiệu quả về yếu tố kinh tế; đề xuất một số điều chỉnh trong các văn bản pháp luật để việc xã hội hóa truyền hình dựa trên các quy định, các nguyên tắc chặt chẽ, đảm bảo chất lượng khi cung cấp cho khán giả truyền hình

- Trong một chừng mực nhất định, tác giả tìm hiểu về xu hướng truyền hình trả tiền

và kinh tế truyền thông khi xã hội hóa truyền hình, bài toán về hiệu quả kinh tế của ngành truyền hình Bên cạnh đó, tìm hiểu rộng sự nhập cuộc của truyền hình Việt Nam trong xu thế của thế giới trong việc xã hội hóa truyền hình, dựa trên quy định

và pháp luật của Việt Nam

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chú trọng khảo sát hiện trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của Đài TH KTS VTC Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mô hình truyền hình xã hội hóa của Đài Truyền hình KTS VTC hợp tác với các đối tác

trong giai đoạn từ 2009 – 2012

Trang 19

- Mô hình xã hội hoá chương trình truyền hình: chúng tôi lựa chọn một vài

chương trình xã hội hóa để phân tích và đưa ra các quan điểm, nhìn nhận và đúc rút dưới dạng mô hình (Chương trình “Doanh nghiệp 24h” do Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC phối hợp thực hiện cùng công ty Vietbooks; Chương trình “Giải trí Latsta” trên giờ vàng của Đài Truyền hình VTC kết hợp với Công ty CP Giải trí Latsta thực hiện Luận văn chỉ lựa chọn một vài chương trình tiêu biểu để phân tích và đánh giá hiệu quả cũng như những hạn chế còn tồn tại, đồng thời đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả của các

chương trình phối hợp thực hiện

4.2.2 Thời gian nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát đối tượng nghiên cứu vào thời gian từ tháng 1/2009 - 12/2012 Đây là thời điểm ra đời của Thông tư 19/2009/TT-BTTTT quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh – truyền hình Mặt khác, đây cũng là thời gian mà quá trình xã hội hóa của Đài Truyền hình KTS VTC có sự phát triển mạnh mẽ với những mô hình điển hình đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, thời gian này cũng bộc lộ những “lỗ hổng” trong công tác quản lý sự phối hợp giữa Đài VTC với các đối tác dẫn tới một số hạn chế trong công tác kiểm duyệt nội dung hoặc việc ngừng phát sóng kênh truyền hình được xã hội hóa do không đạt tới những thỏa thuận thống nhất và kết quả là phải dừng phát sóng chương trình hoặc kênh sóng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 20

Việc nghiên cứu đề tài xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình cũng phải dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp luật hiện hành về hoạt động báo chí nói chung và lĩnh vực truyền hình nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: người nghiên cứu sẽ tổng hợp các văn bản của

cơ quan quản lý nhà nước về báo chí để có cái nhìn tổng quan về chủ trương xã hội hóa, về yêu cầu quản lý và phát triển báo chí trong tình hình mới Luận văn sẽ phân tích các văn bản hợp tác ký kết của Đài VTC với các đối tác và có sự so sánh với các văn bản quy phạm pháp luật để tập trung phân tích những điểm tích cực và hạn chế trong quy trình ký kết, quy trình sản xuất và triển khai thực hiện xã hội hóa sản xuất chương trình trong mối quan hệ của Đài VTC với các đối tác

Bên cạnh đó, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tài liệu nghiên cứu, con

số của những người đi trước, tác giả sẽ đưa ra những lập luận của mình để đánh giá

và nhìn nhận hiện tượng một cách khách quan và logic

- Phương pháp khảo sát, so sánh, phân tích, thống kê: nhằm mục đích thu

thập, phân tích, so sánh, thống kê để đưa ra hiệu quả và hạn chế của các chương trình liên kết đối với khán giả, từ đó thu thập được những mẫu số chung của các

mô hình xã hội hóa truyền hình Việc khảo sát, so sánh, phân tích và thống kê dựa trên những số liệu khoa học được tổng kết như chỉ số người xem truyền hình (rating), những báo cáo về tài chính hay sự phân bổ về vùng phủ sóng của các kênh truyền hình được sản xuất theo phương thức liên kết tại Đài VTC

- Phương pháp phỏng vấn sâu: các chuyên gia, lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước

về báo chí, quản lý các đài truyền hình, các nhà báo; một số cá nhân, tổ chức bên ngoài đã từng hoặc đang tham gia trực tiếp trong quá trình xã hội hóa của Đài VTC

để thu thập các ý kiến, quan điểm và từ đó nêu thành vấn đề

Tác giả sẽ đưa ra một số câu hỏi giống nhau để thu thập ý kiến khác nhau, sau đó sẽ chọn lọc, phân loại để nêu lên thành các luận cứ khách quan Với việc tổng hợp, phân tích các ý kiến dựa trên thực tế phát triển của vấn đề sẽ là điều kiện

để tác giả có thể nhìn nhận đề tài một cách đa chiều và sâu sắc

Trang 21

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn là tài liệu khoa học góp phần tiếp tục hệ thống và bổ sung nghiên cứu các vấn đề xã hội hóa truyền hình trên cơ sở tổng hợp và phân tích mô hình xã hội hóa của một đài truyền hình cụ thể (Đài VTC)

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại một cái nhìn tổng quan hơn về hoạt động xã hội hóa truyền hình hiện nay đồng thời góp phần đề xuất thêm các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chương trình xã hội hóa với

sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp Bên cạnh đó, tác giả cũng mong muốn

có thể phát triển và ứng dụng những kết quả của đề tài này trong thực tế công tác tại Đài TH KTS VTC

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 10 tiết, 16 bảng biểu đồ và hình minh họa, 121 trang

Trang 22

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA

VÀ MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH

1.1 Khái niệm về “mô hình” và các mô hình xã hội hóa truyền hình

1.1.1 Khái niệm về “mô hình”

Mô hình thể hiện mối quan hệ có tính hệ thống giữa các nhân tố, thể hiện quy luật của hiện tượng sự vật dưới dạng đơn giản hoá như trong Từ điển tiếng Việt có ghi:

“…mô hình là công cụ thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình… nào đó, phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt tinh thần của con người”

Đặc điểm chung của tất cả các loại mô hình là không nhất thiết giống 100% cái nó cần thể hiện, miễn là nó thỏa mãn được yêu cầu cơ bản nhất của của những quy tắc, quy định chung

Trong khoa học kinh tế có rất nhiều mô hình như: hàm sản xuất của Cobb- Douglas, mô hình quan hệ lạm phát-thất nghiệp của A.W Phillip (1958), mô hình quan hệ tăng trưởng-thất nghiệp của Arthur Okun (1929-1979), mô hình cân bằng tổng hợp của Lion Walras (1874) v.v… Phần lớn các mô hình ấy ngày nay chỉ có ý nghĩa lịch sử, không được sử dụng vì đã có các nghiên cứu khác thay thế, nhờ phản ánh đầy đủ hơn những nhân tố, những quan hệ mới nảy sinh từ cuộc sống đương đại

Ở luận văn này, tác giả lựa chọn “mô hình” xã hội hóa truyền hình của Đài VTC để khái quát thành một hiện tượng có các tiêu chí chung như tính sở hữu, sự tham gia đóng góp về tài chính, trí tuệ của phía đối tác trong các chương trình, kênh sóng kết hợp với các đài truyền hình… hai bên phối hợp với nhau để mang lại các giá trị chung là những chương trình có chất lượng, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khán giả Từ đó, có thể đưa ra một khái niệm về “mô hình xã hội hóa truyền hình” như sau:

Trang 23

“Mô hình xã hội hóa truyền hình là một dạng thức kết hợp giữa một bên là đài truyền hình và một bên là đối tác tư nhân hợp tác sản xuất để tạo nên sản phẩm có chất lượng tốt nhất phát sóng trên sóng của đài truyền hình Vai trò và “liều lượng” tham gia của đài truyền hình và đối tác sẽ quyết định các dạng thức hợp tác”

1.1.2 Các mô hình xã hội hóa truyền hình

Bản chất xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là việc mở rộng các cách làm nên sản phẩm truyền hình Căn cứ vào nội dung, mức độ, cách thức sản xuất có thể chia hoạt động XHH sản xuất chương trình thành hai hình thức như sau: (1) Hợp tác sản xuất; (2) Đặt hàng sản xuất

1.1.2.1 Hợp tác sản xuất chương trình:

Đó là việc đài truyền hình và các đối tác “bắt tay” cùng khai thác sử dụng một cách hợp lý nguồn lực của mỗi bên (con người, phương tiện kỹ thuật, tài chính…) để tham gia vào quy trình sản xuất làm nên sản phẩm truyền hình

Hợp tác sản xuất sẽ giúp các bên trong quá trình làm nên sản phẩm bổ sung,

hỗ trợ những mặt đối tác chưa có khả năng hoặc chưa có điều kiện thực hiện Mặc khác, hợp tác cũng là cách khai thác tối đa nguồn lực của mỗi bên trong đóng góp làm nên sản phẩm chung phục vụ xã hội

Sản phẩm truyền hình là một loại hàng hóa đặc biệt, nó là sự kết tinh của tư duy, trí tuệ của đội ngũ những người làm chương trình trên cơ sở sử dụng trang thiết bị kỹ thuật để tái hiện hoặc phản ánh hiện thực xã hội mội cách nghệ thuật Vậy nên, để làm ra sản phẩm trí tuệ mang tính đại chúng đòi hỏi những người thực hiện phải có kỹ năng, trình độ nghiệp vụ chuyên môn, hiểu biết xã hội, tài chính và phương tiện kỹ thuật đảm bảo cho ra những sản phẩm chất lượng

Trong hình thức hợp tác này, mỗi bên có thể tham gia đóng góp ở các lĩnh vực khác nhau với các mức độ khác nhau tùy theo khả năng Các lĩnh vực hợp tác: nội dung, phương tiện kỹ thuật và tài chính

+ Hợp tác sản xuất nội dung chương trình:

+ Đầu tư và khai thác phương tiện kỹ thuật sản xuất chương trình:

Trang 24

+ Cung cấp tài chính cho sản xuất chương trình

Việc tiếp cận được nhiều nguồn tiền ở bên ngoài để phục vụ cho sự phát triển của truyền hình – thể hiện sự linh hoạt trong việc huy động các nguồn vốn của đài truyền hình

- Các mức độ hợp tác sản xuất chương trình gồm có: (1) hợp tác sản xuất một phần chương trình; (2) hợp tác sản xuất trọn vẹn một chương trình, (3) hợp tác sản xuất nhiều chương trình cho một kênh truyền hình

+ Hợp tác sản xuất một phần chương trình

+ Hợp tác sản xuất hoàn chỉnh một chương trình

+ Hợp tác sản xuất nhiều chương trình cho cả kênh truyền hình

Sự phối hợp sản xuất chương trình cho một kênh truyền hình góp phần làm cho nội dung chương trình của các đài ngày càng phong phú, hấp dẫn điều này giúp cho khán giả có thể thỏa mái lựa chọn những chương trình mình yêu thích

Hình thức này của đối tác thể hiện sự năng động, sáng tạo, khả năng đáp ứng về nhiều mặt của công chúng nói chung, các công ty tổ chức truyền thông nói riêng Tuy nhiên, mỗi khi đài quyết định hình thức hợp tác này cần có kế hoạch quản lý

cụ thể, khoa học để chương trình phong phú số lượng, đảm bảo chất lượng, hạn chế việc lạm dụng tài nguyên sóng quốc gia để làm lợi cá nhân

1.1.2.2 Đặt hàng sản xuất chương trình

Nếu như hình thức hợp tác sản xuất thể hiện rõ ở việc các bên cùng “xắn táy” cùng làm một việc, mức độ chủ động, trách nhiệm của mỗi bên trong quá trình sản xuất ngang nhau, diễn ra liên tục, song hướng tới sự thống nhất nhằm tạo nên một chỉnh thể với những khớp nối hợp lý thì hình thức đặt hàng mức độ chủ động, trách nhiệm, cách thức triển khai công việc có nhiều điểm khác nhau

Ở Việt Nam, đặt hàng sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình đang trở thành xu hướng phát triển trong vài năm trở lại đây Chẳng hạn, toàn bộ các chương trình phát sóng mới trên kênh YanTV (SCTV2) là do Công ty Cổ phần Công nghệ và Tầm nhìn yêu âm nhạc sản xuất, Đài Truyền hình Việt Nam chỉ là người duyệt và xếp lịch phát sóng Tương tự, toàn bộ chương trình trên kênh

Trang 25

TodayTV (VTC7) và kênh VITV (VTC8), Let’s Việt (VTC9) lần lượt là sản phẩm của các đơn vị như: Công ty CP Quốc tế IMC, Công ty CP Công nghệ và Truyền thông VITV và Công ty CP Lasta Dù chỉ sản xuất thời lượng một vài giờ/ngày/kênh sóng đó, các đối tác cũng phải rót một khoản chi phí lớn khoảng 30-

40 tỷ/năm để chi từ máy móc, trang thiết bị đến chi phí bộ máy và các khoản phí sản xuất chương trình Đây là bài toán kinh doanh phức tạp mà các đối tác luôn phải tính

Với Đài VTC, vừa kết hợp đặt hàng sản xuất và hợp tác sản xuất ở nhiều mức độ nên chúng tôi tổng kết thành 3 mô hình xã hội hóa đó là:

- Xã hội hóa sản xuất kênh truyền hình

- Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, giờ phát sóng, sự kiện…

- Xã hội hóa theo các hình thức khác

Hiện tại, Đài VTC đang triển khai hình thức xã hội hóa theo ba mô hình này

và sẽ được tập trung phân tích trong Chương II của luận văn

1.2 Khái niệm về xã hội hóa và xã hội hóa truyền hình

Theo Macionis John, XHH là “một khái niệm của nhân loại học và xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời, qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình” Nói

cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên

Những năm gần đây ở Việt Nam, thuật ngữ xã hội hóa thường được dùng để

chỉ sự quan tâm cũng như đóng góp của toàn xã hội như xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế (cho tư nhân đấu thầu những công trình, cơ sở của nhà nước, nhân

dân và kinh phí qua sự thâu vé vào cửa các xa lộ, di tích, khu du lịch hay mua công khố phiếu, ), cách hiểu này khác với bản chất của xã hội hóa

Các nhà xã hội học thì cho rằng “Xã hội hóa là quá trình qua đó chúng ta có thể tiếp nhận được nền văn hóa của xã hội mà trong đó chúng ta đã được sinh ra

mà nhờ nó chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử, được coi là thích hợp trong xã hội của chúng ta [7, tr.27]

Trang 26

Trong kinh tế - chính trị học, XHH được hiểu là chuyển cái riêng thành cái chung, cái cá thể thành cái xã hội; XHH ruộng đất chuyển tư hữu thành công hữu; XHH (lao động) là quá trình từ hợp tác giản đơn lên trình độ hợp tác có phân công, chuyên môn hóa trên phạm vi toàn xã hội

Theo từ điển tiếng Anh, “Socialize: act in a sociable manner” có nghĩa là làm một việc gì đó theo cách hòa đồng, hòa mình theo cách chung của xã hội hay

“make social”: làm thành của chung, của tập thể hoặc “organize on socialistic principles”: tổ chức theo cách chung của xã hội

Theo từ điển tiếng Việt, XHH là “Làm cho trở thành của chung của xã hội”

Ở nước ta, cụm từ “xã hội hóa” xuất hiện khoảng cuối thập niên 90 của thế kỷ trước và trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phổ biến và thịnh hành trong xã hội hiện nay Có thể hiểu XHH là huy động nguồn lực xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia vào một lĩnh vực, một hoạt động nào đó mà trước kia chỉ có các đơn vị nhà nước tham gia

XHH theo cách hiểu thuật ngữ thị trường là tư nhân tham gia vào một số lĩnh vực thuộc nhà nước quản lý để huy động tiềm năng, chất xám và khả năng của

họ, tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, phục vụ cộng đồng, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh

Từ những khái niệm về xã hội hóa nêu trên, chúng tôi đưa ra một khái niệm

theo quan điểm của mình như sau: “Xã hội hóa là một quá trình huy động các nguồn lực trong xã hội để cùng tham gia vào sản xuất hay tạo ra một sản phẩm mà

ở đó phát huy được trí tuệ tập thể, đồng thời đưa ra những sản phẩm ngày càng hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của xã hội”

Giống như nhiều lĩnh vực, truyền hình được xác định là một ngành kinh tế - dịch vụ nên nó cũng cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nguồn lực xã hội khác nhau

Cụm từ “Xã hội hóa” đã được đề cập trong nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 1991 -

2000 Theo quan điểm của Nghị quyết, XHH có thể được hiểu là một hoạt động

Trang 27

nhằm mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tạo điều kiện phát triển một số lĩnh vực Tuy nhiên, cũng cần nhận thức đầy đủ rằng, thực hiện xã hội hóa không phải là giải pháp tạm thời, tình thế mà cần thực hiện lâu dài nhằm thu hút tiềm năng to lớn từ xã hội Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung, dù ở lĩnh vực nào thì khái niệm này vẫn không nằm ngoài mục đích thu hút nguồn lực xã hội để đóng góp vào sự phát triển cho một lĩnh vực Như riêng trong hoạt động xã hội hóa văn hóa thông tin cũng là để huy động mọi nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân Hoạt động xã hội hóa ở lĩnh vực giáo dục, y tế, thể thao hay văn hóa thông tin cũng đều cần có những cơ chế, tiêu chí, quy định cụ thể nhằm phát huy tốt vai trò của xã hội hóa Xã hội hóa nhưng vẫn trong khuôn khổ chính sách, định hướng chung của Đảng, pháp luật của Nhà nước Có như vậy, xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông tin hay xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình nói riêng mới không tách khỏi mục đích, tiêu chí chung, bảo đảm đúng định hướng của Đảng và

Nhà nước

“Xã hội hóa truyền hình” không phải là một khái niệm mới trong trong lĩnh vực truyền hình, quá trình xã hội hoá công tác truyền hình đã diễn ra từ rất lâu đối với các nước có sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực truyền hình Theo TS Trần Đăng Tuấn – TGĐ Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu AVG, nguyên Phó Tổng giám đốc Thường trực Đài Truyền hình Việt Nam, nghĩa rộng của quá trình này

chính là “sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành truyền hình” Tức là trong các khâu sản xuất, hình thành tác phẩm của một chương

trình truyền hình có sự tham của một hoặc nhiều đơn vị, cơ quan không liên quan đến nhà đài TS Trần Đăng Tuấn diễn giải thêm:

“XXH trong truyền hình là chủ trương chấp nhận nhiều người ngoài các đài truyền hình tham gia vào quá trình làm ra sản phẩm chất lượng cho người xem Quá trình đó có thể chia ra nhiều loại, nhiều hình thức tham gia khác nhau Có hình thức tham gia sản xuất chương trình tạo ra sản phẩm

Trang 28

truyền hình, có dạng tạo ra nguồn lực về kinh phí, kỹ thuật, nhân lực phục

vụ cho quá trình đó thì đều là XHH” [Phụ lục PVS 1.2]

Với cách hiểu trên, xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình hay trong sản xuất chương trình truyền hình cũng chính là để thu hút nguồn lực bên ngoài ngành truyền hình để thu hút các nguồn lực bên ngoài ngành truyền hình tham gia vào các

hoạt động của lĩnh vực này

Trong thời kỳ đầu, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình theo hình thức liên kết, hợp tác giữa các đài truyền hình và đối tác để sản xuất một chương trình truyền hình hay một công đoạn trong quy trình sản xuất Ví dụ các đài truyền hình đã thu hút được các đối tác như Công ty TNHH BHD, Công ty TNHH Tư vấn Quảng cáo Cát Tiên Sa, Công ty Truyền hình Giải trí FPT, Công ty Đông Tây Promotion, Công ty CP Latsta… để cùng sản xuất một loạt các phim truyền hình

được nhiều người yêu thích như: Cô gái xấu xí (VTV1), Lập trình Trái tim (VTC3) hay các chương trình giải trí như Bước nhảy Hoàn vũ (VTV3), Hát với Ngôi sao (HTV7)…

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, xã hội hóa ở lĩnh vực truyền hình không chỉ dừng lại ở việc thu hút nguồn để sản xuất chương trình truyền hình đơn thuần

mà còn có các mô hình hợp tác, liên kết cả kênh phát sóng với nhiều thể loại đa dạng phong phú, nội dung hấp dẫn Chẳng hạn toàn bộ chương trình phát sóng mới trên Kênh YanTV (SCTV2) là do Công ty CP Công nghệ và Tầm nhìn yêu âm nhạc sản xuất, Đài THVN chỉ là người duyệt và xếp lịch phát sóng; tương tự toàn

bộ các chương trình trên Kênh TodayTV (VTC7), Kênh VITV (VTC8), Let’sViệt (VTC9) lần lượt là sản phẩm của các đơn vị như Công ty Cổ phần Quốc tế IMC, Công ty Cổ phần Công nghệ và Truyền thông VITV, Công ty Cổ phần Latsta là đối

tác xã hội hóa của Đài TH KTS VTC

Sự phát triển của khoa học, công nghệ, trong đó công nghệ truyền dẫn cũng

đã tác động quan trọng trong nhận thức và hướng đi của người làm truyền hình trong việc triển khai các hoạt động xã hội hóa.Trong điều kiện cần sớm hòa nhập với xu thế phát triển công nghệ thế giới, đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp nhận

Trang 29

tiếp nhận thông tin của khán giả bằng nhiều phương thức đa dạng, thuận tiện và chất lượng cao, các đơn vị truyền hình bắt buộc phải ứng dụng công nghệ truyền dẫn, phát sóng mới theo lộ trình số hóa của thế giới Vì vậy, vào năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 Theo đó, đến năm 2020, về cơ bản sẽ ngừng phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ tương tự (analog) để chuyển sang phát sóng truyền hình công nghệ số (digital) khi 95% số hộ gia đình có máy thu hình có khả năng thu được các kênh chương trình truyền hình quảng bá bằng những phương thức truyền dẫn, phát sóng số khác nhau; ngừng sử dụng công nghệ truyền hình cáp tương tự trước năm 2020 để chuyển hoàn toàn sang công nghệ số với 100% các mạng cáp dọc các tuyến đường phố chính tại trung tâm các tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương

Mặc dù xuất hiện sau truyền hình số vệ tinh khi mãi tới năm 2000, truyền hình số mặt đất mới được triển khai và phát sóng nhưng đây lại là mô hình được nhiều nước đang phát triển trên thế giới lựa chọn, trong đó có cả Việt Nam Bởi mô hình này sẽ đòi hỏi chi phí đầu tư thấp hơn cũng như ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết như truyền hình số vệ tinh Bên cạnh đó, truyền hình số mặt đất còn tận dụng được tối đa cơ sở hạ tầng có sẵn của công nghệ analog như cột phát sóng, ăn ten Đặc biệt chi phí từ người dùng cho loại hình này cũng rẻ hơn rất nhiều so với truyền hình số vệ tinh và IPTV Đây cũng là mô hình thích hợp tại Việt Nam, bởi các đài truyền hình tại nước ta từ trước tới nay vẫn chủ yếu phát sóng trên nền công nghệ

và cơ sở hạ tầng của analog Vì vậy với truyền hình số mặt đất, các đài truyền hình vẫn có thể phát song song các kênh analog và các kênh số Hướng đi này cũng tiết kiệm đáng kể chi phí dành cho số hóa truyền hình Không những thế, số hóa truyền hình sẽ nâng cao chất lượng của các chương trình truyền hình Người xem có thể thưởng thức hình ảnh với độ sắc nét lớn hơn nhiều so với công nghệ analog hiện có cùng với mức chi phí hợp lý Đây cũng là nền tảng giúp người xem trải nghiệm các

dịch vụ truyền hình 3D, HDTV những thứ không thể có tại truyền hình analog

Việc xã hội hóa công đoạn truyền dẫn phát sóng trong lộ trình số hóa truyền hình

Trang 30

dưới sự kiểm soát của nhà nước sẽ góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc phát triển, đầu tư nâng cấp hạ tầng truyền dẫn truyền hình, từ đó

có thể tập trung sử dụng nguồn vốn cho việc phát triển nội dung chương trình

Như vậy, bản chất và quy mô của hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình ở Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể xuất phát từ những lý do chủ quan

và tác động khách quan Đến thời điểm hiện nay, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình bao gồm: xã hội hóa sản xuất chương trình và xã hội hóa truyền dẫn phát sóng với yêu cầu, mục tiêu cao nhất vẫn là sự phát triển sự nghiệp truyền hình, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm truyền hình chất lượng cao phục vụ lợi ích và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Để đảm bảo tính định hướng và vai trò quản lý của nhà nước trong lĩnh vực truyền hình, cho đến thời điểm này, mặc dù đã thực hiện xã hội hóa ở cả hai lĩnh vực liên quan đến nội dung

và hạ tầng kỹ thuật nhưng nội dung chương trình được phát sóng vẫn do các đài

t r u y ề n h ì n h k i ể m s o á t v à c h ị u t r ác h n h i ệ m v ề s ả n p h ẩ m l i ê n k ế t

1.3 Chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí trong nền kinh tế thị trường

Báo chí cách mạng Việt Nam có nhiều chức năng như thông tin giao tiếp, tham gia công tác tư tưởng, tham gia quản lý và giám sát xã hội, văn hóa - giáo dục

- giải trí và một chức năng không kém phần quan trọng đó là chức năng kinh tế - dịch vụ

Công cuộc đổi mới khởi động từ năm 1986 đã dẫn dắt nền kinh tế - xã hội nước ta từng bước bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Vấn đề kinh tế báo chí dù ít được nói đến, đặc biệt là trong các văn bản pháp luật, song đằng sau sự đa dạng, phong phú về số lượng, nội dung, hình thức, một

số cơ quan báo chí nói chung, người làm báo nói riêng vẫn vô tình hoặc cố ý vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần mà quên đi chức năng và các nguyên tắc hoạt động của báo chí cánh mạng Thực tế đã diễn ra không ít các hoạt động vi phạm đạo đức nghề nghiệp như phản ánh sai sự thật, dùng uy tín của cơ quan, của bản thân để hù dọa, thậm chí tống tiền cơ sở Những việc làm như vậy là không thể tồn tại trong

Trang 31

một nền báo chí hiện đại và dân chủ Trong thời kỳ đổi mới, thực tế phát triển của báo chí nước ta cho thấy, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là phát triển thông tin báo chí phải đi đôi với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thực tiễn đã chứng minh rằng sự phát triển kinh tế báo chí không thể tách rời nhiệm vụ chính trị với nhiệm vụ phát triển kinh tế Trong tình hình hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị - tư tưởng diễn ra ngày càng gay go, phức tạp Vì vậy, muốn giành thế chủ động, vấn đề phát triển kinh tế báo chí cần phải được nghiên cứu kỹ để từ

đó có giải pháp phù hợp nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của báo chí trên lĩnh vực tư tưởng, phục vụ hiệu quả nhất sự nghiệp phát triển đất nước Muốn vậy, trước hết cần tìm giải pháp giúp báo chí thoát khỏi cơ chế “xin - cho”, tạo cơ chế mới để báo chí phát huy mọi tiềm năng, chủ động, sáng tạo, “làm kinh tế” trong khuôn khổ luật pháp quy định; lấy “đòn bảy kinh tế” làm động lực, khắc phục sự trì trệ trong tư duy và trong công việc, kể cả ở đội ngũ lãnh đạo

Thực tiễn vận động của nền kinh tế thị trường đã chỉ ra những điều mang tính chân lý, rằng các hoạt động kinh tế báo chí xuất phát từ nhu cầu thiết thân, nhu cầu sống còn và phát triển của nền kinh tế thị trường Báo chí cũng góp phần quan trọng trong việc tạo nên giá trị kinh tế và làm nên các dịch vụ kinh tế trong xã hội

Trước kia chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí chỉ được gói gọn trong vai trò, chức năng quảng cáo sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có hiệu quả nhất; thông qua vai trò này để có thể đóng góp thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển Tuy nhiên, không phải sản phẩm báo chí nào cũng có lợi thế và cơ hội đóng góp vai trò quảng cáo đối với sự phát triển kinh tế cũng như cơ may để tăng “hầu bao” tài chính và phát triển chiến lược nguồn thu Vai trò và cơ hội này phụ thuộc chủ yếu vào chỉ số phát hành và nhóm công chúng hướng tới (đối với báo in và tạp chí), chỉ

số rating và phạm vi phủ sóng (đối với phát thanh, truyền hình), chỉ số truy cập và nhóm đối tượng truy cập (đối với báo mạng điện tử)

Trang 32

Nhưng hiện nay báo chí nói chung và lĩnh vực truyền hình nói riêng đã có nhiều hình thức làm kinh tế đa dạng và mang lại hiệu quả hơn Không chỉ dừng lại

ở việc quảng cáo, hiện nhiều tờ báo có thể tìm được nguồn thu từ việc đầu tư vào các mô hình kinh tế (mô hình trang trại của báo Nông nghiệp Việt Nam), tổ chức

sự kiện, hay điển hình là hình thức kêu gọi các nguồn xã hội hóa để phát triển và

mở rộng kênh sóng của các đài truyền hình…

Vài chục năm nay, ở nhiều nước phát triển đã xuất hiện các ấn phẩm báo in phát không, thậm chí gần đây có xu hướng gia tăng, đã làm cho một số người đồn đoán báo in rồi chỉ phát không Không phải thế Báo in phát không chủ yếu “sống”

từ nguồn thu quảng cáo và tài trợ Và không phải nhóm công chúng nào cũng chuyên chú vào thông tin quảng cáo; rồi ngay cả các sản phẩm báo in chuyên quảng cáo này, mỗi số cũng có vài ba bài phân tích kinh tế, dự báo xu hướng giá cả thị trường, định hướng, gợi ý hay thảo luận thị hiếu tiêu dùng với dụng ý định hướng giá trị văn hóa và thị hiếu Bởi vì quảng cáo trên báo in và truyền hình đang tạo nên hiệu ứng “giấy dán tường” làm cho hiệu quả tiếp nhận thông tin quảng cáo ngày càng thấp trong khi chi phí sản xuất và đăng tải quảng cáo ngày càng đắt đỏ

Theo C.Mác đã khẳng định rằng, giá trị sử dụng hàng hóa phụ thuộc vào trình độ văn minh của người tiêu dùng Do đó, xã hội càng phát triển, con người càng văn mình thì chức năng xã hội của báo chí càng đa dạng, phong phú Báo chí Việt Nam không chỉ đảm nhận chức năng tuyên truyền - chức năng tư tưởng do Đảng và Nhà nước giao cho, dù chức năng này vô cùng quan trọng và cần thiết, xuyên suốt mọi hoạt động cùa mình, mà còn phải đảm nhận các chức năng cơ bản khác, và thông qua các chức năng này mới có thể làm tốt chức năng tuyên truyền

tư tưởng, như chức năng thông tin - giao tiếp, chức năng văn hóa, giải trí, chức năng giám sát và phản biện xã hội, chức năng kinh tế, dịch vụ trong đó có vai trò quảng cáo

Trang 33

Hình 1.1: Doanh thu quảng cáo trên truyền hình và báo in ở Việt Nam

(nguồn: TNS Media Viet Nam – TV&Kantar Media)

Vấn đề kinh tế báo chí dù ít được nói đến, đặc biệt là trong các văn bản pháp luật, song đằng sau sự đa dạng, phong phú về số lượng, nội dung, hình thức, một

số cơ quan báo chí nói chung, một số người làm báo nói riêng vẫn vô tình hoặc cố

ý vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần mà quên đi chức năng và các nguyên tắc hoạt động của báo chí cánh mạng Thực tế đã diễn ra không ít các hoạt động vi phạm đạo đức nghề nghiệp như phản ánh sai sự thật, dùng uy tín của cơ quan, của bản thân để hù dọa, thậm chí tống tiền cơ sở Những việc làm như vậy là không thể tồn tại trong một nền báo chí hiện đại và dân chủ Trong thời kỳ đổi mới, thực tế phát triển của báo chí nước ta cho thấy, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là phát triển thông tin báo chí phải đi đôi với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,

sự quản lý của Nhà nước phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thực tiễn đã chứng minh rằng sự phát triển kinh tế báo chí không thể tách rời nhiệm vụ chính trị với nhiệm vụ phát triển kinh tế Trong tình hình hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị - tư tưởng diễn ra ngày càng gay go, phức tạp Vì vậy, muốn giành

Trang 34

thế chủ động, vấn đề phát triển kinh tế báo chí cần phải được nghiên cứu kỹ để từ

đó có giải pháp phù hợp nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của báo chí trên lĩnh vực tư tưởng, phục vụ hiệu quả nhất sự nghiệp phát triển đất nước Muốn vậy, trước hết cần tìm giải pháp giúp báo chí thoát khỏi cơ chế “xin - cho”, tạo cơ chế mới để báo chí phát huy mọi tiềm năng, chủ động, sáng tạo, “làm kinh tế” trong khuôn khổ luật pháp quy định; lấy “đòn bẩy kinh tế” làm động lực, khắc phục sự trì trệ trong tư duy và trong công việc, kể cả ở đội ngũ lãnh đạo

1.4 Chủ trương, chính sách của nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình

Ngày 28/7/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 90/CP về chủ trương và phương hướng xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và văn hóa Đây được coi là

cơ sở để vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân Văn bản đặc biệt nhấn mạnh tới việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá

Xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc cá nhân tiến hành trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đa dạng hoá chính là mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động

và bình đẳng vào các hoạt động trên Nội dung này được đặc biệt nhấn mạnh trong Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao được Chính phủ ban hành ngày 19/8/1999

Ngày 18/5/2005, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết 05/2005 NQ-CP

về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao Trong

đó, riêng lĩnh vực văn hóa nhấn mạnh việc thu hút mọi nguồn lực, thành phần kinh

Trang 35

tế, các tầng lớp nhân dân tham gia các hoạt động và sáng tạo văn hóa nhằm cung cấp, phổ biến và tạo ra nhiều sản phẩm, tác phẩm, công trình văn hóa có chất lượng dân tộc và hiện đại để không ngừng nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân Một trong những lý do căn bản là các hoạt động xã hội về văn hóa, thể thao không thể tách rời nhu cầu quảng bá, giới thiệu sự kiện và vì vậy vô hình chung cũng trở thành những sản phẩm của lĩnh vực truyền hình Chính mối quan hệ, nhu cầu tác động qua lại giữa các hoạt động này mà từ đó bắt đầu mở ra một số hoạt động XHH của truyền hình gắn với các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và thể thao

Xuất phát từ yêu cầu, nhu cầu thực tiễn phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình cho đến năm 2009, Bộ Thông tin và Truyền thông mới chính thức ban hành Thông tư liên quan đến XHH trong lĩnh vực truyền hình, cụ thể là Thông tư

số 19/2009/TT-BTTTT ngày 28/5/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình Thông tư quy định cụ thể chi tiết những quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng, các hình thức, nguyên tắc hoạt động liên kết các chương trình không được tham gia liên kết, điều kiện liên kết, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết Thông tư 19/2009/TT-BTTT là văn bản pháp lý đầu tiên cho phép các Đài phát thanh, truyền hình thực hiện hoạt động XHH với các nội dung quy định khá cụ thể một số khái niệm, hướng dẫn cơ bản của thông tư đối với các đài phát thanh, đài

truyền hình Trong đó “điều chỉnh và khái niệm liên kết: thông tư điều chỉnh hoạt động liên kết để thực hiện việc sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình

mà trong đó quyền lợi của đối tác liên kết được trả bằng quyền lợi từ hoạt động quảng cáo, tài trợ hoặc từ thu phí phát thanh, truyền hình theo một phương thức nhất định khi phát sóng chính sản phẩm liên kết của đài phát thanh, truyền hình”

Văn bản này cũng quy định:

“Hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình là hình thức hợp tác giữa một bên là đài phát thanh, truyền hình với

Trang 36

một bên là đối tác liên kết để tạo ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết”

Bên cạnh đó, môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp cũng ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào hoạt động XHH trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực báo chí, truyền thông

Ngày 24/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

20/2011/QĐ-TTg về Quy chế Quản lý hoạt động truyền hình trả tiền

Theo đó, Nhà nước khuyến khích phát triển việc sử dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong truyền tải thông tin và phát triển các kênh phát thanh, kênh truyền hình trong nước nhằm góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hoá, tinh thần lành mạnh của nhân dân, đồng thời tăng cường việc quản lý truyền tải thông tin theo luật viễn thông, quản lý nội dung thông tin theo luật báo chí Cơ quan báo chí có giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực truyền hình, được cơ quan chủ quản chấp nhận; có sự đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn báo chí và trình độ ngoại ngữ phù hợp với kênh chương trình nước ngoài; có năng lực kỹ thuật gồm hệ thống thiết bị làm chậm, thiết bị lưu trữ, phương tiện kỹ thuận thu, phát tín hiệu phù hợp với việc biên tập kênh chương trình; bảo đảm công tác biên tập, biên dịch được thực hiện và hoàn chỉnh tại Việt Nam; có năng lực về tài chính; có bản quyền

sử dụng kênh chương trình nước ngoài tại Việt Nam

Cùng với một loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác thì đây là cơ sở pháp lý, tiền đề rất quan trọng mở ra cơ hội cho các thành phần kinh tế tham gia, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong đó có XHH trong lĩnh vực truyền hình

Như vậy, ngành truyền hình cần có một hướng đi riêng để tồn tại và phát triển, đó là huy động các nguồn lực để đem lại những sản phẩm tinh thần ngày càng đa dạng cho công chúng Và đây cũng chính là xu hướng của truyền hình thế giới mà ngành truyền hình Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc

Trang 37

1.5 Tổ chức và quản lý hoạt động xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam

1.5.1 Vấn đề xóa bỏ độc quyền và xã hội hóa lĩnh vực truyền hình

Truyền hình là loại sản phẩm vật chất đặc biệt Nó không chỉ là hàng hóa thông thường mà còn là một loại sản phẩm mang tính đại chúng, tính công cộng cao Trước yêu cầu phát triển, cần phải có một quan điểm tích cực trong triển khai các hoạt động kinh doanh, tìm kiếm nguồn thu Tuy nhiên, trước kinh doanh, các sản phẩm truyền hình phải đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin, giải trí lành mạnh của công chúng Việc xã hội hóa các hoạt động của truyền hình đã và sẽ là một khuynh hướng tất yếu trong thời gian tới Chỉ có thể để cho công chúng ngày một tham gia nhiều hơn vào các công đoạn sản xuất của mình và hướng hoạt động sản xuất đến phục vụ và thoả mãn nhu cầu xem của công chúng, truyền hình mới có điều kiện thuận lợi để phát triển, giữ được ưu thế cạnh tranh trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay

Việc XHH chương trình truyền hình cần mở rộng hình thức hợp tác: bất kể đơn vị nào, dù là tư nhân hay Nhà nước đều có thể đảm nhiệm trọn gói sản xuất một chương trình truyền hình; trước đây họ cộng tác với đài truyền hình thì nay họ

là đối tác bình đẳng và có quyền độc lập rất cao trong việc tổ chức sản xuất chương trình Bản chất XHH chương trình truyền hình không phải là vấn đề tài chính mà là vấn đề lao động, và bản chất vấn đề lao động là trí tuệ, chất xám Vì vậy, đề cập đến XHH chương trình truyền hình ở ý nghĩa sâu xa nhất là tìm ra một cơ chế để huy động trí tuệ cả nước làm chương trình truyền hình

Trước tiên phải nói đến hình thức hợp tác sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam Năm 1978, sau 8 năm ra đời và phát triển, Đài TH Việt Nam đã XHH với những cơ quan bên ngoài để sản xuất các chương trình về nội dung kế hoạch hóa gia đình, văn nghệ và khoa giáo Sau đó Đài đã mở rộng

hợp tác sản xuất chương trình Ví dụ: Chuyên mục “Phụ nữ” phát sóng trên VTV được phối hợp thực hiện với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, “Lao động và Công đoàn” được thực hiện trên cơ sở phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt

Nam… Đây là sự phối hợp về ý tưởng hay một phần nội dung của chương trình

Trang 38

Ngay sau đó thì hình thức phối hợp để sản xuất hoàn thiện cả chương trình

đã được thực hiện trong đó có những chương trình vẫn được duy trì phối hợp thực hiện đến ngày hôm nay như chương trình Vì an ninh Tổ quốc, Quân đội Nhân dân…

Không chỉ dừng lại ở đó mà lúc này, hình thức liên kết sản xuất xuất hiện thêm một hình thức mới đó là các công ty liên doanh liên kết trực tiếp với Đài Truyền hình Việt Nam Và cũng từ đây mô hình xã hội hóa toàn kênh đã ra đời trên

hệ thống của truyền hình cáp là VCTV và SCTV

Bước ngoặt cho việc phá vỡ thế độc quyền trên thị trường truyền hình phải nói đến đó là sự ra đời của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC trực thuộc Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện Việt Nam (VTC), được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 2004 Truyền hình kỹ thuật số VTC phát chương trình kỹ thuật số DVB T, hệ PAL Các kênh còn lại được thu trên đầu thu kỹ thuật số, truyền hình cáp, trong đó có một số kênh mã hóa irdeto đòi hỏi phải dùng thẻ giải mã Đài THKTS VTC sản xuất 15 kênh truyền hình quảng bá theo tiêu chuẩn SD, 4 kênh truyền hình trả tiền theo tiêu chuẩn HD

Lúc này cụm từ “nhà nhà làm truyền hình” được nhiều người dùng đến khi nói về sự phát triển của ngành truyền hình tại Việt Nam Và sau đó là thời gian chạy đua của việc xã hội hóa truyền hình với các hình thức “mua kênh, bán sóng”

Có thể lấy một ví dụ điển hình, Kênh Truyền hình InfoTV - Kênh thông tin Tài chính - Kinh tế ra đời vào năm 2007 Đây là kênh truyền hình chuyên biệt về kinh tế tài chính, chứng khoán đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam tại thời điểm đó Tính đến nay, đây vẫn là kênh thông tin tài chính kinh tế chuyên biệt đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam, phát sóng trên toàn quốc thông qua hệ thống truyền hình cáp, truyền hình số vệ tinh DTH và trao đổi bản quyền với các nhà cung cấp truyền hình trả tiền khác tại Việt Nam Đây là kênh truyền hình được đầu tư lớn và cũng

là một trong những kênh truyền hình có doanh thu từ quảng cáo, tài trợ lớn nhất trong hệ thống kênh truyền hình trả tiền của Truyền hình Việt Nam Từ việc xác định tập khán giả là giới đầu tư, doanh nhân doanh nghiệp, người có thu nhập cao,

Trang 39

khách hàng tài trợ quảng cáo là các ngân hàng, tập đoàn tài chính đầy lợi thế, InfoTV tự tin sẽ phát triển thành một kênh truyền hình hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực kinh tế, tài chính và chứng khoán InfoTV thu hút không chỉ giới kinh tế, tài chính Việt Nam mà còn từng bước khẳng định vị trí là một kênh thông tin quan trọng tới các nước trong khu vực và trên thế giới Hiện tại, InfoTV sản xuất 150

phút tin tức hàng ngày và có 5 bản tin: Bản tin chứng khoán Info (17h30, 19h45 và

phát lại 7h00 sáng hôm sau), Bản tin Kinh tế (18h30, phát lại 21h00), Bản tin Xuất nhập khẩu (16h30, phát lại 20h30), Bản tin thị trường 365 (12h00, phát lại 18h00), Bản tin trước giờ mở cửa 8h00 hàng ngày và sẽ tiếp tục ra mắt những chuyên mục mới nhằm mang đến cái nhìn toàn cảnh về kinh tế, tài chính, chứng khoán, thị trường trong và ngoài nước

Hầu hết các đài truyền hình lớn ở nước ta như: VTV, VTC, HTV, BTV, ĐN…, chưa kể số lượng kênh trên truyền hình cáp: HTVC, SCTV, VCTV đã được nhà nước khuyến khích, cho phép xã hội hóa Đã có thời điểm việc đầu tư kinh doanh sóng truyền hình được xem vừa thức thời, khuếch trương thanh thế, vừa chứng tỏ “đẳng cấp” doanh nghiệp Trên thực tế, với danh nghĩa xã hội hóa truyền hình, đã có rất nhiều kênh truyền hình do các đơn vị tư nhân thực hiện toàn

bộ nội dung phát sóng Một số mô hình xã hội hoá đã triển khai như: HTV1 với sự tham gia của Công ty Vân Thanh Long, HTV2 với Đất Việt, HTV3 với Trí Việt Media, YAN TV (SCTV) do Quỹ đầu tư IDG, VBC (VTC5) của Tập đoàn Tân Tạo, Today TV (VTC7) của Công ty cổ phần Quốc tế truyền thông IMC (với các

cổ đông Habubank, Tân Hiệp Phát, bánh Kinh Đô…), Let’sViet (VTC9) do Lasta đầu tư xã hội hoá… Về bản chất, các đối tác xã hội hoá truyền hình đều là các doanh nghiệp tư nhân Nhu cầu sở hữu tư nhân gắn liền với xu hướng xã hội hóa truyền hình Đây chính là một hình thức huy động sự tham gia sản xuất và phát triển các kênh truyền hình ngày một hiệu quả và đa dạng hơn

Nhưng cái sự phổ quát những phần cứng của công nghiệp truyền hình đặt ra vấn đề còn bức xúc hơn: làm thế nào để khán giả Việt Nam có thể nhận diện được ngần ấy kênh truyền hình đang bủa vây quanh họ Mỗi kênh truyền hình được giả

Trang 40

định để phục vụ cho một nhóm người xem đặc thù nào đấy: người trẻ (VTV6), người Việt ở nước ngoài (VTV4) hay bà con dân tộc (VTV5) hoặc một dạng hoạt động sống nào đấy như: Kênh Thông tin Kinh tế (InfoTV), Kênh Sức khoẻ (O2TV) hoặc Kênh Thể thao (VCTV3) Về lý thuyết, khi thuyết minh cho sự ra đời của một kênh truyền hình là như thế nhưng thực tế thì sự khác biệt sẽ chỉ có được khi nội dung của các chương trình, tạm quy ước là phần mềm của công nghiệp truyền hình, có sắc thái riêng

1.5.2 Thực trạng quản lý vấn đề xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam

Trong thời gian rất dài, hoạt động liên kết sản xuất chương trình phát thanh - truyền hình, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền hình chưa hề có trong tay một văn bản pháp quy chính thức nào Cho dù chủ trương liên kết huy động nhiều nguồn lực xã hội hóa giúp làm phong phú, đa dạng thêm cho các chương trình truyền hình

đã có từ khá lâu Chúng ta cũng đã và đang cấp phép cho các kênh truyền hình nước ngoài được tiếp cận khán giả Việt Nam, chủ yếu thông qua hệ thống truyền hình trả tiền Vì vậy, nếu sự góp mặt của các đơn vị xã hội hóa, thông qua hoạt động liên kết giúp đổi mới phương pháp tư duy, quy trình sản xuất và tăng sức hấp dẫn cho các kênh truyền hình của Việt Nam thì Nhà nước đương nhiên phải khuyến khích

Nhưng bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi, cũng cần phải xác định rõ phạm vi, giới hạn để hoạt động liên kết này phát huy được hiệu quả tích cực, không phát triển theo hướng tràn lan hoặc bị lạm dụng Một văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên đã chính thức có hiệu lực là Thông tư số 19/2009/TT- BTTTT

Nó giúp điều chỉnh trực tiếp việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình và hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình đã chính thức được pháp luật công nhận, được minh bạch hóa, công khai hóa về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hai phía (Đài PT - TH và đối tác liên kết) Vì vậy, mặc dù Thông tư này đến

2009 mới được ban hành nhưng đã đáp ứng nhu cầu thực tiễn và phù hợp với xu thế phát triển

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (22/8/1995), Quyết định 484/1995/QĐ-TTg Quy hoạch phát triển ngành truyền hình Việt Nam đến năm 2000 và những năm sau, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 484/1995/QĐ-TTg Quy hoạch phát triển ngành truyền hình Việt Nam đến năm 2000 và những năm sau
2. Chính phủ (19/8/1999), Nghị định số 73/1999/NĐ-CP Về chính sách khuyến khích xã hội đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 73/1999/NĐ-CP Về chính sách khuyến khích xã hội đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao
3. Chính phủ (26/4/2002), Nghị định số 51/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 51/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
4. Chính phủ (2011), Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
5. Bộ Thông tin và Truyền thông (28/5/2009), Thông tư 19/2009/TT-TTTT quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 19/2009/TT-TTTT quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
6. Bộ Thông tin và Truyền thông (1/3/2011), Thông tư số 07/2011/TT- BTTTT Quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2011/TT-BTTTT Quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình
7. Trung tâm Đào tạo – Đài Truyền hình Việt Nam (2000), Sản xuất chương trình truyền hình lưu động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình lưu động
Tác giả: Trung tâm Đào tạo – Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2000
8. Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
9. Vũ Quang Hào (2007), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Thông tấn, Hà Nội (tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2007
10. Đinh Văn Hường và tập thể tác giả (2006), Nghề báo, Nxb Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề báo
Tác giả: Đinh Văn Hường và tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2006
11. Đinh Văn Hường (2006), Các thể loại báo chí thông tấn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
12. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2003
13. Phan Thị Loan (1997), Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ngành truyền hình Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ngành truyền hình Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Loan
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
16. Trần Hư ̃u Quang (2006), Xã hội học báo chí, Nxb Tre ̉, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học báo chí
Tác giả: Trần Hư ̃u Quang
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
17. Vũ Văn Quang (2000), Hoạt động nghề nghiệp của êkip phóng viên trong sáng tạo tác phẩm truyền hình, Trung tâm Đào tạo - Đài THVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động nghề nghiệp của êkip phóng viên trong sáng tạo tác phẩm truyền hình
Tác giả: Vũ Văn Quang
Năm: 2000
18. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2004), Cở sở lý luận báo chí truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cở sở lý luận báo chí truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
19. Hồ Xuân Sơn, Nghiê ̣p nhà báo , Nxb Văn ho ́a - Thông tin, Hà Nội, 2003 20. Nguyễn Quy ́ Thanh (2008), Xã hội học về dư luận xã hội , Nxb ĐHQGHà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiê ̣p nhà báo", Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003 20. Nguyễn Quý Thanh (2008), "Xã hội học về dư luận xã hội
Tác giả: Hồ Xuân Sơn, Nghiê ̣p nhà báo , Nxb Văn ho ́a - Thông tin, Hà Nội, 2003 20. Nguyễn Quy ́ Thanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2008
21. Bùi Chí Trung (2013), Tìm hiểu Kinh tế Truyền hình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Kinh tế Truyền hình
Tác giả: Bùi Chí Trung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
22. Tạ Ngọc Tấn (1999), Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ lý luận đến thực tiễn báo chí
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1999
23. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Doanh thu quảng cáo trên truyền hình và báo in ở Việt Nam - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 1.1 Doanh thu quảng cáo trên truyền hình và báo in ở Việt Nam (Trang 33)
Hình 2.1: Các kênh truyền hình xã hội hóa của các đài (năm 2011) - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 2.1 Các kênh truyền hình xã hội hóa của các đài (năm 2011) (Trang 43)
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC (Trang 47)
Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức quản lý của Đài VTC từ ngày 1/1/2014 - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức quản lý của Đài VTC từ ngày 1/1/2014 (Trang 50)
Hình 5.1: Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 5.1 Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình (Trang 52)
Hình 6.1: Sơ đồ sản xuất một sản phẩm truyền hình - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 6.1 Sơ đồ sản xuất một sản phẩm truyền hình (Trang 55)
Hình 7.1: Doanh thu của Kênh VTC1 năm 2009 (Nguồn: Ban Liên kết – Đài VTC) - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 7.1 Doanh thu của Kênh VTC1 năm 2009 (Nguồn: Ban Liên kết – Đài VTC) (Trang 63)
Hình 8.1: Sự phân bố các kênh chương trình ở Đài TH KTS VTC (năm 2011) - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 8.1 Sự phân bố các kênh chương trình ở Đài TH KTS VTC (năm 2011) (Trang 65)
Hình 9.1: Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa của Đài THVN - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 9.1 Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa của Đài THVN (Trang 78)
Hình 11.1: Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 11.1 Quy trình nghiệm thu chương trình xã hội hóa (Trang 79)
Hình 13.1: Rating  năm 2010 tại: TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội (Nguồn:TNS) - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 13.1 Rating năm 2010 tại: TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội (Nguồn:TNS) (Trang 81)
Hình 12.1: Rating năm 2010 đến 07/2011 trên toàn quốc (Nguồn:TNS) - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 12.1 Rating năm 2010 đến 07/2011 trên toàn quốc (Nguồn:TNS) (Trang 81)
Hình 14.1: Doanh thu năm 2010 của các kênh truyền hình - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 14.1 Doanh thu năm 2010 của các kênh truyền hình (Trang 82)
Hình 15.1: Doanh thu 6 tháng đầu năm 2011 của các kênh truyền hình - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 15.1 Doanh thu 6 tháng đầu năm 2011 của các kênh truyền hình (Trang 82)
Hình 16.1: Doanh thu của Đài Truyền hình KTS VTC từ 2009 – 2012 - Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012
Hình 16.1 Doanh thu của Đài Truyền hình KTS VTC từ 2009 – 2012 (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm