ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG TRƯƠNG VĂN QUÂN CÁC ẤN PHẨM BÁO CHÍ CỦA THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM PHỤC VỤ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
TRƯƠNG VĂN QUÂN
CÁC ẤN PHẨM BÁO CHÍ CỦA THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM PHỤC VỤ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
VÀ MIỀN NÚI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Khảo sát 2 ấn phẩm: Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi; Chuyên đề Dân tộc và Miền núi - TTXVN từ năm 2001 đến 2007)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BÁO CHÍ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS ĐINH VĂN HƯỜNG
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
1 Tính thời sự và cấp thiết của đề tài 1
2 Lý do lựa chọn đề tài .4
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 5
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
8 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1: Những vấn đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 10
1.1 Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 10
1.1.1 Khái niệm về dân tộc 10
1.1.2 Vị trí 13
1.1.3 Mục tiêu 17
1.1.4 Nhiệm vụ 21
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 26
1.2.1 Thông tin chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 26
1.2.2 Thành tựu chủ yếu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được thông tin, tuyên truyền 35
Trang 31.3 Yêu cầu của thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 43
1.3.1 Yêu cầu chung 43
1.3.2 Nội dung thông tin 44
Chương 2: Đổi mới, nâng cao chất lượng các ấn phẩm báo chí phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN 47
2.1 Khái quát về TTXVN và Toà soạn Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi 47
2.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của TTXVN 47
2.1.2 Khái quát về Toà soạn Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi 50
2.2 Thực trạng Bản tin ảnh và Chuyên đề Dân tộc và Miền núi từ năm 2001 đến 2007 53
2.2.1 Về nội dung và hình thức 53
2.2.2 Về lực lượng và cơ sở vật chất 63
2.3 Những đóng góp của hai ấn phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 65
2.4 Những khó khăn, hạn chế của hai ấn phẩm 74
2.4.1 Những khó khăn, hạn chế 74
2.4.2 Nguyên nhân của những khó khăn 76
2.5 Tình hình tiếp nhận hai ấn phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số 77
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng hai ấn phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong thời gian tới 83
3.1 Một số vấn đề đặt ra hiện nay 84
3.1.1 Tình hình dân tộc thiểu số trước tình hình mới 84
3.1.2 Tình hình quốc tế 86
3.1.3 Vai trò của truyền thông đối với đồng bào dân tộc thiểu số 87
Trang 43.2 Một số giải pháp, kiến nghị 89
3.2.1 Đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của TTXVN 89
3.2.2 Đối với Ban lãnh đạo Toà soạn 92
3.2.3 Đối với các ban, ngành địa phương 94
3.2.4 Về tổ chức lực lượng 95
3.2.5 Nâng cao chất lượng công tác xử lý thông tin 103
3.2.6 Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đội ngũ phóng viên, biên tập 106
3.2.7 Nâng cao chất lượng trình bày và in 108
Kết luận 111
Trang 5BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CHXHCN: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa CHND: Cộng hoà nhân dân
HTX: Hợp tác xã THPT: Trung học phổ thông TTXGP: Thông tấn xã giải phóng TTX: Thông tấn xã
TTXVN: Thông tấn xã Việt Nam PTDTNT: Phổ thông dân tộc nội trú VNTTX: Việt Nam Thông tấn xã VAC: Vườn ao chuồng
VACR: Vườn ao chuồng rừng WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH THỜI SỰ VÀ CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta, báo chí đã có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước Việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cổ vũ đông đảo nhân dân tích cực thi đua sản xuất từ miền ngược đến miền xuôi, từ nông thôn đến thành thị, tuyên truyền đường lối đối ngoại nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế đều có sự đóng góp của báo chí
Thời gian qua, nước ta đã chủ động tham gia sâu rộng vào các tổ chức quốc tế, các diễn đàn khu vực và quốc tế như gia nhập ASEAN, APEC, tổ chức thành công các hội nghị lớn như: Hội nghị thượng đỉnh các nước sử dụng tiếng Pháp (1997), tổ chức thành công Hội nghị ASEM 5 (2004), và gần đây nhất chúng ta tổ chức rất thành công Hội nghị các nhà lãnh đạo các nền kinh tế thành viên APEC lần thứ 14, đồng thời với việc nước ta là thành viên chính thức thứ
150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã khẳng định vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Bạn bè các nước đặt niềm tin rất lớn vào chúng ta Niềm tin đó thể hiện qua việc năm nguyên thủ quốc gia thăm chính thức nước ta nhân sự kiện APEC, đó là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa; Tổng thống Mỹ; Tổng thống Nga; Thủ tướng Nhật Bản và Tổng thống Chi Lê; thể hiện qua việc chúng ta được bầu là Uỷ viên không thường Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; thể hiện qua con số đầu tư nước ngoài năm 2007 đạt hơn 20 tỷ USD
Những thành tựu chung của báo chí Việt Nam có sự đóng góp của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) Là cơ quan thông tấn nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo
Trang 7trực tiếp của Đảng, TTXVN có vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin báo chí quốc gia TTXVN là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tấn nhà nước trong việc phát tin, văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước; cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; thu thập phổ biến thông tin bằng các loại hình báo chí phục vụ các đối tượng có nhu cầu ở trong và ngoài nước
Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới; trước đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ tuyên truyền sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, yêu cầu thông tin đặt ra đối với cơ quan thông tấn nhà nước rất cao TTXVN đã nỗ lực phấn đấu để thông tin của TTXVN thực
sự trở thành nguồn thông tin chính thống của quốc gia, giữ vai trò định hướng và chi phối thông tin, trở thành một trong những mũi nhọn xung kích trên mặt trận đấu tranh tư tưởng chống các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống TTXVN (15/9/1945 – 15/9/2006), Phó Chủ tịch nước Trương
Mỹ Hoa nhấn mạnh: “Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, TTXVN luôn giữ vững định hướng chính trị, là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trong việc tuyên truyền và phản ánh việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham gia tích cực vào việc đấu tranh chống tiêu cực, chống các luận điệu thù địch chống phá Nhà nước ta Thông tin trong nước, thông tin quốc tế, thông tin đối ngoại và các ấn phẩm báo chí của TTXVN đã có những bước phát triển mới, với chất lượng không ngừng được nâng cao theo hướng đa dạng, hiện đại, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
Trang 8Tuy nhiên, hiện nay, trước sự bùng nổ thông tin toàn cầu, nước ta đang đổi mới và hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, nên thông tin và nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng ngày càng phong phú và đa dạng Trong dòng chảy thông tin đó, bên cạnh những thông tin tốt, thì cũng có không ít thông tin xấu, thông tin không có lợi cho sự phát triển của đất nước, làm tổn hại đến khối đại đoàn kết dân tộc Chính vì vậy, việc nâng cao nhận thức chính trị của người làm báo và sự cần thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng thông tin là yêu cầu cấp bách đối với báo chí nói chung và đối với thông tin của TTXVN nói riêng Tại Hội nghị toàn ngành TTXVN tháng 9/2006, đồng chí Tô Huy Rứa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (nay là Ban
Tuyên giáo Trung ương) cho rằng: “Trong thời đại bùng nổ thông tin, người ta
có thể tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng từ rất nhiều kênh khác nhau, có thông tin tốt, có thông tin xấu Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, không làm chủ được thông tin đồng nghĩa với việc chúng ta để tuột khỏi tay một vũ khí cực kỳ sắc bén”
Thời gian qua, thông tin báo chí nói chung và thông tin của TTXVN nói riêng đã có nhiều cố gắng nâng cao chất lượng và hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và nhu cầu thông tin của nhân dân Tuy nhiên, công tác thông tin và thông tin của TTXVN vẫn chưa đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thực tế đời sống Thông tin đôi khi vẫn còn chậm, bỏ sót sự kiện, thậm chí còn để xảy ra sai sót, một số sự kiện vẫn còn bị động trong việc xử lý thông tin Đặc biệt, thông tin về đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa còn chưa nhanh, chưa đều, thậm chí chưa đến với đồng bào Vì vậy, đổi mới và tăng cường thông tin phục vụ đồng bào là việc làm cần thiết và luôn có tính thời
sự
Trang 92 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Trước bối cảnh hội nhập và phát triển chung của đất nước, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền và bình đẳng trong thụ hưởng văn hoá và thông tin là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta phấn đấu Tuy nhiên, việc thông tin tuyên truyền chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ
Bên cạnh đó, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn có những khó khăn về địa hình, về điều kiện kinh tế, về trình độ nhận thức do đó, đồng bào ta hiện nay ở một số nơi bị kẻ xấu lợi dụng, lừa bịp, xúi giục vượt biên trái phép, mê tín dị đoan, tệ hơn chúng còn truyền đạo trái phép, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo Vì vậy, cùng với việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng đời sống mới, tăng cường đại đoàn kết dân tộc thì báo chí còn có nhiệm vụ rất quan trọng, đó là giúp đồng bào nâng cao ý thức cảnh giác với kẻ xấu, không nghe theo chúng làm những điều trái pháp luật
Vì vậy, việc đổi mới thông tin nói chung và đổi mới, nâng cao chất lượng thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với TTXVN nhằm đánh giá đúng thực trạng; tìm
ra những ưu điểm, nhược điểm và đề ra những giải pháp khắc phục, nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của thông tin tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước
Với lý do đó, chúng tôi chọn đề tài “Các ấn phẩm báo chí của Thông tấn xã Việt Nam phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời kỳ đổi
Trang 10mới” làm luận văn Thạc sỹ khoa học báo chí tại Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Việc đưa tin, nghiên cứu về thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi, hoặc nghiên cứu về các ấn phẩm báo chí phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN đã xuất hiện trên một số báo, tạp chí Các ý kiến này thường tập trung vào từng khía cạnh, từng vấn đề riêng rẽ chưa có tính xâu chuỗi Trong danh mục nhóm đề tài về cơ quan TTXVN tại Phòng tư liệu, Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội có một số khoá luận tốt nghiệp nghiên cứu về một số lĩnh vực, khía cạnh của hai ấn phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN là Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi và Chuyên đề Dân tộc và
Miền núi Ví dụ như: “Tin ảnh dân tộc và miền núi với vấn đề bảo lưu và phát triển vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số” của Âu Văn Vượng (K36); Phương pháp thể hiện tin trên “Tin ảnh Dân tộc và Miền núi” - TTXVN của Phạm Phương Thảo (K37); “Báo chí với vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ đồng bào dân tộc miền núi” của Trần Thị Minh (1997), (khảo sát trên báo Nhân Dân 1995-1996 và Tin ảnh Dân tộc và Miền núi 1994-1996); “Thông tin kinh tế của Tin ảnh Dân tộc và Miền núi với việc góp phần phát triển kinh tế của đồng bào miền núi” của Nguyễn Thị Thu Hương; “Sự phản ánh công tác xoá đói giảm nghèo trên Chuyên đề Dân tộc và Miền núi” của TTXVN từ năm 1998 đến nay của Nguyễn Thu Hiền (K41); “Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào miền núi và dân tộc thiểu số trên tin ảnh Dân tộc và Miền núi của TTXVN” của Đậu
Văn Minh (Ngắn hạn 3) Tuy nhiên, các luận văn, khoá luận trên đây chỉ nghiên
Trang 11cứu những lĩnh vực riêng lẻ, chưa có luận văn nào nghiên cứu một cách tổng thể các lĩnh vực mà hai ấn phẩm “Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi” và “Chuyên đề Dân tộc và Miền núi” của TTXVN đã thể hiện
Kế thừa kết quả của các tác giả nghiên cứu đi trước, luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi Trên cơ sở đó có cách nhìn tổng quát hơn về hoạt động thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN; làm rõ thực trạng, những ưu điểm và nhược điểm; đề xuất những giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác thông tin phục vụ đồng bào, nơi còn nhiều khó khăn, nơi
mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm đầu tư rất lớn để đồng bào ngày càng có cuộc sống tốt hơn
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
4.1 Mục đích của luận văn
Luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận chung và tổng kết thực tiễn công tác thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đổi mới và nâng cao công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN Đồng thời luận văn cũng nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của đồng bào
4.2 Nhiệm vụ của luận văn
Xác định những nội dung cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu, nội dung, lực lượng, đối
Trang 12tượng, địa bàn, đường lối, quan điểm trong việc đưa tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Khảo sát, phân tích thực trạng công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi và Chuyên đề Dân tộc và Miền núi của TTXVN từ năm 2001 đến năm 2007 để tìm ra những ưu điểm và những hạn chế trong việc thông tin về lĩnh vực đặc thù này Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả cho công tác này ở TTXVN
5 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này bao gồm: một số văn kiện của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành về đồng bào dân tộc thiểu số và thông tin phục
vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; công tác chỉ đạo và đưa tin về lĩnh vực này của TTXVN; các ấn phẩm báo chí: Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi và Chuyên đề Dân tộc và Miền núi của TTXVN - đây là hai đối tượng chính mà tác giả khảo sát, nghiên cứu trong luận văn này
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
TTXVN có nhiều ấn phẩm báo chí khác nhau Tuy nhiên hiện nay chỉ có
hai ấn phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi và Chuyên đề Dân tộc và Miền núi Trong khuôn khổ luận văn
này, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát trên hai ấn phẩm: Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi và Chuyên đề Dân tộc và Miền núi (từ đây gọi là Bản tin ảnh và Chuyên đề) của TTXVN từ năm 2001 đến năm 2007
Trang 136 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Cơ sở lý luận:
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; về phát triển
và quản lý sự nghiệp thông tin báo chí, văn hoá, văn nghệ nói chung
6.2 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được hoàn thành với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê qua việc đọc, phân tích, rút ra những kết quả trong công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN
Phương pháp phỏng vấn, tư vấn các chuyên gia trong lĩnh vực này
Phương pháp phân tích, tổng hợp: thực hiện trên các ấn phẩm báo chí phục
vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN, qua đó, tìm ra những điểm nổi bật về nội dung, hình thức, thế mạnh của thông tin trên hai ấn phẩm của TTXVN phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Phương pháp đối chiếu, so sánh: để rút ra những ưu, nhược điểm của thông tin về đồng bào dân tộc thiểu số so với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới Từ đó, xác định rõ vai trò, đặc điểm của thông tin phục vụ đồng bào trong hệ thống báo chí
7 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Luận văn hoàn thành sẽ góp phần nhỏ vào việc tổng kết thực tiễn và lý luận về thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là việc
Trang 14nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin phục vụ đồng bào Đồng thời, luận văn cũng có thể là tài liệu để cán bộ, phóng viên trực tiếp làm công tác thông tin
về lĩnh vực này tham khảo, vận dụng Luận văn còn có thể là tài liệu cho các cơ quan chức năng, các cơ sở giáo dục - đào tạo, những ai quan tâm tham khảo
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi
Chương 2: Đổi mới, nâng cao chất lượng các ấn phẩm báo chí phục vụ
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng hai ấn
phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong thời gian tới
Nội dung của luận văn được trình bày theo thứ tự các chương trên
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA THÔNG TIN PHỤC VỤ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI
1.1 Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
1.1.1 Khái niệm về dân tộc:
Cho đến nay, khái niệm dân tộc còn có những ý kiến khác nhau Điều đó, một phần là do vấn đề dân tộc được xem xét từ nhiều quan điểm, lập trường và giác độ khác nhau; phần khác là do hiện thực phong phú, phức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ở các quốc gia, khu vực trên thế giới Sự phong phú,
Trang 15phức tạp đó làm cho nhiều định nghĩa được nêu ra, cho đến nay, chưa diễn đạt được đầy đủ, trọn vẹn các thuộc tính của các loại hình dân tộc đã xuất hiện trên thế giới Việc tìm kiếm một định nghĩa về dân tộc đang là đòi hỏi cấp bách của
lý luận và thực tiễn, cần được quan tâm
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa như sau:
“1 Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau
2 Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá, và nhất là ý thức tự giác tộc người”.1
Cuốn Từ điển tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc như sau:
“1 Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách
2 Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc
Trang 164 Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về
sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung” 2
Và định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “Dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc”
Giáo trình Triết học Mác – Lênin, do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ sách khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh xuất bản, có nói về khái niệm dân tộc như sau: “Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc,
bộ tộc, dân tộc) Cần phân biệt “dân tộc” theo nghĩa rộng trên đây với “dân tộc” theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc
Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người hợp nhất lại Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa là bước nhảy vọt lớn”.3
Khái quát những nội dung nêu trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người Xét đến cùng, nền tảng của sự liên kết mà các
Trang 17yếu tố trên tạo nên là trình độ phát triển kinh tế, bởi vì, tính chất của dân tộc bao
giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất
Hơn thế nữa nhiều người còn nhấn mạnh rằng, dù hiểu theo nghĩa nào thì
dân tộc cũng vừa là một cộng đồng tộc người, vừa là một cộng đồng chính trị -
xã hội Có thể định nghĩa khái quát: dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội -
tộc người Quan niệm này tạo nên một ranh giới rõ rệt để phân biệt khái niệm
dân tộc với khái niệm sắc tộc, bởi vì khái niệm sắc tộc thường dùng để chỉ các
tộc người da màu.4
Quan niệm này cũng cho phép phân biệt khái niệm dân tộc với khái niệm chủng tộc, bởi vì khái niệm chủng tộc thường dùng để chỉ sự khác
nhau về cấu tạo tự nhiên của con người.5
Mối quan hệ giữa cái chung - quốc gia và cái riêng - từng dân tộc là mối
quan hệ nổi bật trong chính sách dân tộc Đại hội lần thứ VI của Đảng ta đã
khẳng định: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát
triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Sự tăng cường tính cộng đồng,
tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống
nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc
của mỗi dân tộc”.6
1.1.2 Vị trí
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc Trong suốt quá trình lịch
sử, các dân tộc Việt Nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau trong các cuộc đấu tranh
sinh tồn, chống lại thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên, chống giặc ngoại
xâm, tương trợ giúp nhau cùng đi lên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
6
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.98
Trang 18Nhận thức được sức mạnh to lớn của việc đoàn kết các dân tộc ở nước ta, ngay
từ khi mới ra đời, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc đã được nhà nước ta đặt
ở vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước
Cùng với sự phát triển của cách mạng, báo chí nước ta ngày càng khẳng định được vai trò là cầu nối tin cậy giữa Đảng với dân, dân với Đảng Nước ta có
54 dân tộc anh em, trong đó có tới 53 dân tộc thiểu số sống trải đều từ Bắc vào Nam Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi miền núi và dân tộc thiểu số có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Vì thế dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng trong mọi thời điểm phát triển, Đảng và Nhà nước vẫn tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc
Chín tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 58 thành lập Bộ Nội vụ, trong đó, Nha Thông tin Tuyên truyền: thu thập và truyền bá các tin tức trong nước; Nha Dân tộc thiểu số: xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước, và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam.(7
) Chiểu theo Sắc lệnh số 58, ngày 3 tháng 5 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Nội
vụ Huỳnh Thúc Kháng ký Nghị định số 359, ngày 9 tháng 9 năm 1946 quy định
7
60 năm công tác dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, 2006
Trang 19chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu của Nha Dân tộc Nghị định cho phép Nha Dân tộc
có 6 ban, trong đó có Ban Tuyên truyền
Nghị định nêu rõ: Một ban tuyên truyền có nhiệm vụ củng cố tinh thần đoàn kết và tình thân ái giữa các dân tộc và chống mọi mưu mô chia rẽ
Ban tuyên truyền sẽ liên lạc với Nha Thông tin Tuyên truyền toàn quốc để thực hiện chương trình tuyên truyền chung trong phạm vi dân tộc thiểu số.(8
)
Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện môi trường, hoàn cảnh sống đã dẫn đến đặc điểm sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc, các vùng ở nước ta Do vậy, cùng với thành lập Nha Dân tộc thiểu số, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thành lập “Ban tuyên truyền” để thực hiện công tác dân tộc Đến nay công tác tuyên truyền luôn được coi trọng như một đặc trưng của công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Phải sát dân, sát cơ sở, hiểu đúng dân thì mới nói cho dân hiểu đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Cách mạng xã hội, đó là sự nghiệp của quần chúng Vì vậy về cơ bản mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các vùng và đồng bào các dân tộc là nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy được nội lực, phấn đấu vượt qua đói nghèo, vươn lên từng bước hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước
Nhằm phát triển nhanh kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 “Về chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi” đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước Để thể chế hoá Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã có Quyết định số 72/QĐ-HĐBT,
8
60 năm công tác dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, 2006
Trang 20ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi” quy định rõ những nội dung đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, ngày 31 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1637/QĐ-TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi Theo đó, có 20 loại báo, tạp chí của
17 toà soạn báo được Chính phủ cấp kinh phí xuất bản để phát không thu tiền đến với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Ngày 20 tháng 7 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 975/QĐ-TTg thay thế Quyết định 1637 nhưng nội dung không thay đổi Đến nay, các báo, tạp chí phục vụ riêng đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện thụ hưởng của Quyết định 975 đang phát huy hiệu quả tuyên truyền, được đồng bào đón nhận
Như vậy, việc tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bên cạnh nhiệm vụ chung của các phương tiện truyền thông đại chúng thì còn có một đội ngũ riêng các nhà báo, các tờ báo tuyên truyền cho các đối tượng thuộc khu vực này
Đối với TTXVN, tuyên truyền phục vụ miền núi và vùng dân tộc thiểu số
từ lâu đã được xác định là một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ thông tin của ngành Ngay từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, rồi trong kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phóng viên TTXVN đã có mặt tại chiến khu Việt Bắc và Tây Bắc Phóng viên TTXVN đã bám sát các chiến dịch đi theo bộ đội, hoà mình với đồng bào dân tộc thiểu số để cổ vũ tinh
Trang 21thần chiến đấu và sản xuất của quân và dân ta Phóng viên TTXVN đã trở thành những chiến sỹ dũng cảm ngoài mặt trận cùng anh giải phóng quân trên khắp chiến trường, Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Những vùng kháng chiến ác liệt nhất chính là địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số
Nhận thức được tầm quan trọng của thông tin phục vụ đồng bào, TTXVN
là cơ quan đầu tiên được phép xuất bản ấn phẩm riêng phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Đó là Bản tin ảnh Miền núi và Dân tộc (nay là Dân tộc và Miền núi) xuất bản năm 1991 và Chuyên đề Dân tộc và Miền núi xuất bản năm
lý giữa miền ngược và miền xuôi Thông tin giúp đồng bào nắm bắt được những chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp đồng bào nhanh chóng xoá đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu, phê phán những hủ tục lạc hậu
1.1.3 Mục tiêu
Tư tưởng có tính nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc thiểu số là một chiến lược lâu dài chứ không phải là nhất thời Ngay sau khi Chính phủ được thành lập, trong cơ cấu của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã không quên các thành phần là những người dân tộc, tín hữu
Trang 22Trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Trong suốt cuộc đời hoạt động
của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở, làm sao cho dân tộc Việt Nam hoàn toàn độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, được sống trong hoà bình và hạnh phúc
Mong muốn đó của Bác được Đảng, Nhà nước coi đó là mục tiêu phấn đấu và trở thành phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tất cả những cố gắng, những thành tựu đạt được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều nhằm mục tiêu độc lập dân tộc, gắn với chủ nghĩa
xã hội
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX về công tác dân tộc đưa ra mục tiêu cụ thể đến năm 2010: “Phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng cách mức sống giữa các dân tộc, các vùng; trên 90% hộ dân có đủ điện, nước sinh hoạt; xoá tình trạng nhà tạm, nhà dột nát; 100% xã có đường ôtô đến trung tâm xã; cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn
Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào: hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh việc dạy và học tiếng dân tộc Hầu hết đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa được tiếp cận các dịch vụ chăm
Trang 23sóc sức khoẻ; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng dân tộc Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đài phát thanh; các giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát triển”
Để thực hiện mục tiêu đó, Nghị quyết nêu nhiệm vụ: “Tiếp tục thực hiện
có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hoá, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hoá các dân tộc”
Nghị quyết cũng nêu một số giải pháp, một trong những giải pháp đó là:
“Tiếp tục thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi; rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới, để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới”
“Đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc; quán triệt phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương thức phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng địa phương Cán bộ công tác dân tộc ở vùng dân tộc và miền núi phải quán triệt và thực hiện thật tốt phong cách công tác dân vận: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu: “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh,
Trang 24truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.9
Ngược lại thời điểm trước năm 1990, đời sống văn hoá của đồng bào các dân tộc còn nhiều hạn chế, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn tồn tại và có chiều hướng gia tăng; báo viết, tạp chí, phát thanh, truyền hình chậm phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu thụ hưởng của đồng bào
Trong những năm gần đây, việc nâng cao mức hưởng thụ văn hoá tinh thần cho nhân dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc luôn được Đảng
và Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm hơn, thể hiện trong việc ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, xây dựng, phát triển bộ máy ngành văn hoá – thông tin, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và phát triển các loại hình văn hoá Chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình được triển khai khắp các địa phương miền núi, kể cả các vùng xa xôi hẻo lánh Hiện nay, tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt hơn 90% lãnh thổ, truyền hình khoảng 85% Các xã miền núi đã từng bước được trang bị các thiết bị thông tin hiện đại như video, máy thu hình, thu thanh, điện thoại, và có thêm nhiều loại hình văn hoá tuyên truyền phù hợp với nhân dân các dân tộc như các ấn phẩm văn hoá dân gian các dân tộc, Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi (TTXVN), Tuyển tập văn học các dân tộc ít người, Tạp chí Dân tộc học, báo Dân tộc và phát triển ; mở rộng chương trình phát thanh, truyền hình bằng nhiều thứ tiếng dân tộc phù hợp với nguyện vọng của đồng bào các dân tộc
Đối với các báo, tạp chí phục vụ riêng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định 975/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thời gian qua đã làm tốt chức năng của mình Qua kiểm tra, giám sát việc thực hiện hàng năm và mới
9
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, 2006
Trang 25đây, tổ chức kiểm tra ở 30 huyện, 60 xã đặc biệt khó khăn, các đồn biên phòng, trường dân tộc nội trú và một số thôn, bản miền núi trên địa bàn cả nước, Uỷ ban Dân tộc nhận thấy các báo, tạp chí đã thực hiện chính sách này chủ động, sáng tạo, tập trung tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cập nhật nhiều thông tin có ý nghĩa thiết thực; hướng dẫn đồng bào phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống; đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn an ninh - trật tự Cùng với việc giới thiệu những mô hình, điển hình làm kinh tế trang trại, VAC, VACR bà con các dân tộc thiểu số có thể tìm hiểu từ báo chí các thông tin về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, phổ biến kiến thức làm ăn, hướng dẫn chăm sóc vật nuôi, cây trồng phù hợp điều kiện tự nhiên ở vùng núi Nhiều người nhờ đọc, làm theo báo đã trở thành điển hình tiên tiến
Hiện nay, với 20 loại báo, tạp chí thực hiện chính sách cấp không thu tiền đến đồng bào, đã có nhiều tờ báo cấp đến tận thôn, bản Đó là các báo Dân tộc và phát triển, Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi (TTXVN) Riêng Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi là tờ báo dịch ra nhiều thứ tiếng dân tộc nhất Đến thời điểm này, từ bản in tiếng phổ thông, TTXVN đã cho in thành 5 ngữ dân tộc, gồm: Khơ-me, Gia-rai, Ê-đê, Ba-na và Chăm
Bằng sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, nỗ lực của các cơ quan báo chí, công tác thông tin về đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn miền núi Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rất rõ, đó là ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Thông qua đường lối, chính sách và các chương trình, dự án cụ thể để thực hiện mục tiêu này Các phương tiện thông tin đại chúng nhận thức được tầm quan trọng đó cũng đã vào cuộc tích cực tuyên truyền
Trang 26qua nhiều kênh thông tin nhằm tuyên truyền, cổ vũ đồng bào trong phong trào xoá đói giảm nghèo, thi đua lao động sản xuất xây dựng đời sống mới
1.1.4 Nhiệm vụ
Các dân tộc thiểu số ở nước ta tuy dân số ít nhưng phân bố trên nhiều địa bàn rộng lớn từ Bắc vào Nam, chủ yếu ở miền núi, biên giới, vùng có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng Ngay từ buổi đầu cách mạng cho đến những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, vùng dân tộc thiểu số và miền núi luôn là chỗ dựa vững chắc, là hậu phương và là bàn đạp để tiến hành các hoạt động quân sự lớn, góp phần lập nên các chiến thắng vẻ vang Sự hy sinh và những đóng góp về sức người, sức của của đồng bào các dân tộc thiểu số trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, trong kháng chiến cứu nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay là vô vùng to lớn
Thực hiện chính sách dân tộc, chăm lo cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số là trách nhiệm và nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đây
là yêu cầu tất yếu nhằm bồi dưỡng lực lượng cách mạng ở những địa bàn chiến lược của đất nước, vừa xuất phát từ truyền thống và đạo lý của dân tộc, vừa thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng Đây chính là nhiệm vụ xuyên suốt của thông tin về đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Phát biểu tại Đại hội đại biểu khoá VIII Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Bí
thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: “Nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta trong những năm tới là tập trung sức phấn đấu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm
Trang 272020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nhiệm vụ đó là rất nặng nề, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đoàn kết, nhất trí tập trung cao độ sức người sức của, khai thác tích cực nhất tiềm năng, trí tuệ và sức sáng tạo để thực hiện thành công Báo chí với những khả năng to lớn của mình phải là một trong những lực lượng quan trọng đi đầu trong việc giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng
Báo chí phải tác động tích cực và có hiệu quả vào việc hình thành bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn, khí phách con người Việt Nam trong thời kỳ mới, hình thành dư luận xã hội lành mạnh góp phần cổ vũ sức mạnh toàn dân tộc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng
Làm cho báo chí thực sự trở thành một diễn đàn rộng rãi, giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết, tự cường, những giá trị văn hoá tiến bộ, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ dân trí, động viên, cổ vũ, tổ chức cho các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 10
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X Về
công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, nêu rõ: “Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệụ quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin,
10
- Nội san Thông tấn, tháng 8-2005
Trang 28quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng
Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí”.11
Bên cạnh việc tuyên truyền về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, thì việc tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc trong đồng bào dân tộc thiểu số rất cần được coi trọng Bởi nước ta là một quốc gia có 54 dân tộc anh em Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước, nhưng sinh sống trên 2/3 lãnh thổ thuộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng biên giới Nơi các dân tộc sinh sống là những vùng có nhiều tiềm năng kinh tế quan trọng của đất nước Hình thái cư trú phổ biến là các dân tộc sống xen kẽ nhau từ lâu đời, mỗi dân tộc lại có bản sắc văn hoá riêng, phong tục tập quán khác nhau, tiếng nói, thậm chí chữ viết khác nhau Vì vậy, việc củng cố đoàn kết các dân tộc sẽ tạo nên sức mạnh của cả cộng đồng các dân tộc trong dựng nước và giữ nước Sự đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc là bảo đảm sự ổn định của một quốc gia thống nhất trong bước đường phát triển của cách mạng
Nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước, chúng ta thấy sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc đã được Đảng và Bác Hồ luôn quan tâm và coi trọng Trong thư gửi
Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946, Bác viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”.12
tập, t.4, tr.217
Trang 29Chính sách đoàn kết dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số thể hiện ngay
từ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp năm 1992
ghi rõ: “Nhà nước thể hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị chia rẽ dân tộc” Vấn đề đoàn kết dân
tộc đã được ghi trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá IX) trong
đó nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”
Khẳng định vai trò của báo chí trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, đồng thời cũng là nhiệm vụ của báo chí, Nghị quyết Đại hội lần thứ
IX của Đảng đã nêu rõ: “Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng Báo chí, xuất bản làm tốt chức năng tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội; giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng, nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin”
Phát biểu trong buổi gặp mặt cán bộ, phóng viên, biên tập viên, công nhân
viên TTXVN ngày 20/6/2003, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: “Báo chí cần tuyên truyền kịp thời, rộng rãi đường lối, chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân, đồng thời là diễn đàn để nhân dân trình bày ý kiến, nguyện vọng, góp phần tham gia giải quyết các vấn đề của đất nước
Báo chí viết gì, nói gì, thông tin gì bao giờ cũng phải vì lợi ích của cách mạng, của đất nước, của Đảng và của nhân dân
Trang 30Bằng tiếng nói đầy trách nhiệm của mình, báo chí cần tích cực tham gia vào quá trình mở rộng và thực hành dân chủ đi đôi với thiết lập kỷ cương phép nước, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong đó con người được tôn vinh, được sống trong ấm no, hạnh phúc; cổ vũ và tổ chức phong trào quần chúng thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, phát hiện và biểu dương những nhân tố mới, cổ vũ cái tốt, cái hay, cái đẹp; phê phán những thói hư, tật xấu, kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, các
tệ nạn xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch để giữ vững định hướng phát triển đất nước
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị với yêu cầu ngày càng cao mà mỗi cơ quan báo chí phải thực hiện, tuỳ theo tôn chỉ, mục đích và đối tượng phục vụ, theo tôi, điều quan trọng nhất, cốt lõi nhất đối với mọi cơ quan báo chí của nước
ta là phải xây dựng được một đội ngũ nhà báo vững vàng về bản lĩnh chính trị, tinh thông nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, gắn bó với thực tế cuộc sống của đại đa số nhân dân, luôn có ý thức cao về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình”
Tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ
đã được Đảng, Nhà nước và các cơ quan báo chí chú trọng Từ khi đất nước mới thành lập đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước đến giai đoạn xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay, công tác tuyên truyền luôn là nhiệm
vụ nặng nề nhưng rất đáng tự hào của đội ngũ những người làm báo cách mạng
Trang 311.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc tuyên truyền phục
vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
1.2.1 Thông tin chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Miền núi và vùng dân tộc chiếm ¾ diện tích cả nước Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi miền núi và dân tộc có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Vì thế, dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng trong mọi thời điểm phát triển của cách mạng, Đảng và Nhà nước ta vẫn tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc Đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới của đất nước
Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 “Về chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi” đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước, đồng thời đưa ra các quan điểm, chủ trương, đường lối cho việc phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc và miền núi, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Để thể chế hoá Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã có Quyết định số 72/HĐBT, ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi”, qui định rõ những nội dung đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
và củng cố an ninh, quốc phòng
Cụ thể hoá Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng
Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 525/CT-TTg “Về một số chủ
Trang 32trương, biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội miền núi” nhằm thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết 22, Quyết định 72 và quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khoá VII) về “Đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX tiếp tục khẳng định những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc, miền núi trong sự nghiệp đổi mới, tiếp tục coi vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nước bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc Thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu là xoá đói giảm nghèo, ổn định và cải thiện cuộc sống, sức khoẻ đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xoá được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy được bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc, xây dựng cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh
Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tôn trọng và giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ và sắp xếp lại dân
cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng
Trang 33cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”.13
Trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1996 - 2000) có nhóm chương trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc Đây là nhóm chương trình và lĩnh vực phát triển về nông nghiệp, kinh tế nông thôn, vùng lãnh thổ miền núi và dân tộc, tập trung vào các mục tiêu và phương hướng chính là: “Phát triển toàn diện nông, lâm, công nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH; bảo đảm an ninh lương thực, tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển trên cơ sở phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng, liên kết giữa các vùng làm cho mỗi vùng đều có chuyển biến rõ rệt, giảm
sự chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng Các vùng miền núi
và đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn, trước hết ưu tiên giúp đỡ các địa bàn xung yếu, những khu căn cứ cách mạng, tạo điều kiện ban đầu để các vùng
đó từng bước vươn lên” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra những chủ trương, giải pháp lớn phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001 – 2010, nêu rõ: “Quan tâm phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, chú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Có chính sách hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng khó khăn để phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng
13
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, 2006
Trang 34cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, đưa các vùng này vượt qua tình trạng kém phát triển” Cụ thể, đối với các khu vực nông thôn, trung du miền núi: Phát triển cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và công nghiệp chế biến; bảo vệ và phát triển vốn rừng; hoàn thành và ổn định vững chắc định canh, định cư; bố trí lại dân cư, lao động theo quy hoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên; phát triển kinh tế trang trại; giảm khoảng cách phát triển với nông thôn đồng bằng; có chính sách đặc biệt để phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, cửa khẩu
Tiếp tục thực hiện các định hướng phát triển vùng của chiến lược 10 năm 2001-2010 và các nghị quyết của Bộ Chính trị khoá IX về phát triển các vùng,
Nghị quyết Đại hội X nêu rõ: “Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn, nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bổ sung chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh ở các vùng khó khăn”
Kế thừa chủ trương xoá đói giảm nghèo của Đảng, tại Đại hội X, Đảng ta
tiếp tục khẳng định: “Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo,
hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất
là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo”
Trang 35Trong lĩnh vực giáo dục, Nghị quyết Đại hội X nêu rõ: “Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất - kỹ thuật các cấp học, mở thêm các trường nội trú, bán trú và có chính sách bảo đảm đủ giáo viên cho các vùng này”
Trên cơ sở đường lối của Đảng về miền núi và dân tộc, báo chí đã cố gắng làm rõ cho đồng bào các dân tộc hiểu được thế nào và cần phải làm gì để phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng vùng, bảo đảm cho đồng bào khai thác ngày càng có hiệu quả thế mạnh của địa phương, làm giàu cho mình và đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
Đồng thời, báo chí cũng đã có nhiều cố gắng thông tin đầy đủ về những chính sách ưu tiên cho miền núi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số Đây
là một trong những bức xúc của miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Mặt khác, tuyên truyền rộng rãi trong đồng bào, giúp cho đồng bào kế thừa và phát triển tốt hơn những giá trị văn hoá cộng đồng các dân tộc Việt Nam và của từng dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá dân tộc của nhân loại, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Làm được điều đó, báo chí luôn tự vươn lên nắm bắt và phản ánh một cách chính xác, đầy đủ và toàn diện chủ trương, chính sách và biện pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước dành cho miền núi, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đất nước nói chung, miền núi và vùng đồng bào dân tộc nói riêng một cách phù hợp
Trang 36Căn cứ vào trình độ dân trí từng dân tộc, từng vùng khác nhau, Đảng và Nhà nước đã có những chương trình hỗ trợ kịp thời và hiệu quả Bằng nguồn đầu
tư đó, đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi đã có thêm điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần để thụ hưởng các chương trình, dự án, từng bước phát triển Có thể thống kê dưới đây một số chương trình chủ yếu mà Đảng và Nhà nước đã đầu tư cho miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số thời gian qua
Trước hết, Chương trình xoá đói giảm nghèo (theo Quyết định TTg, ngày 23/7/1998) Đây là chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa to lớn
133/QĐ-về cả kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng Cùng với Nhà nước, toàn bộ các ngành, các địa phương đã nỗ lực không ngừng để tạo được sự chuyển biến trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo cả nước nói chung, miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng
Hai là, Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn
và vùng sâu, vùng xa (theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/7/1998, gọi tắt là Chương trình 135) Chương trình này tập trung chủ yếu vào khu vực III, là khu vực sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số, là căn cứ địa cách mạng trong suốt thời kỳ kháng chiến, là vùng có địa hình hiểm trở và tài nguyên phong phú, giữ vị trí cực kỳ quan trọng về chính trị, an ninh quốc phòng với hơn 4.608km đường biên giới đất liền, có nhiều cửa khẩu giao lưu kinh tế, văn hoá với nước ngoài, có vai trò quyết định với môi trường sinh thái của cả nước, với
hệ thống rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ và là đầu nguồn của những con sông lớn của nước ta Trên địa bàn này, kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tự túc, rất ít sản phẩm hàng hoá, có tới 22 dân tộc đặc biệt khó khăn; tỷ lệ hộ đói nghèo cao nhất nước Nhờ vậy, 661 xã đặc biệt khó khăn đã hoàn thành mục tiêu của
Trang 37Chương trình 135, còn lại 1.644 xã đang tiếp tục được đầu tư giai đoạn II Tổng
số tiền cho giai đoạn này là 1.816 tỷ đồng
Ba là, Dự án định canh định cư đối với các dân tộc còn du canh du cư Đây là một chủ trương được duy trì thực hiện từ năm 1968 đến nay và cũng là chương trình cho miền núi và vùng đồng bào dân tộc duy nhất có mục tiêu được xác định rõ ràng ngay từ đầu, được đầu tư liên tục, được chỉ đạo nhất quán từ Trung ương đến địa phương Tuy nhiên, trong quá tình triển khai thực hiện, do thiếu đồng bộ nên hiệu quả đầu tư không cao Trong số trên 3 triệu đồng bào thuộc diện vận động định canh định cư, chủ yếu là đồng bào Mông nhưng đến đầu những năm 90 (của thế kỷ XX), diện du canh du cư vẫn còn chiếm tỷ lệ cao nhất, số định canh định cư có cuộc sống thật sự ổn định chỉ chiếm khoảng 10%, phần còn lại hoặc du canh nhưng định cư, hoặc định cư nhưng du canh Chính vì tính không hiệu quả của chương trình mà áp lực vào rừng ngày càng lớn Rừng
bị tàn phá nghiêm trọng, đời sống đồng bào dựa chủ yếu vào rừng tiếp tục có nguy cơ khó khăn hơn Vì thế trong điều kiện những năm đổi mới, vấn đề định canh định cư càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt, trên cơ sở khắc phục triệt để cách làm cũ, hoàn thiện tổ chức từ Trung ương đến địa phương Nguồn vốn được chuyển sang đầu tư theo dự án có trọng điểm, nhờ vậy trong mấy năm gần đây sự nghiệp định canh định cư đã thu được kết quả đáng mừng
Tỷ lệ hộ giàu có trong đồng bào nhờ định canh định cư, phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, làm kinh tế trang trại đã chiếm một tỷ lệ nhất định trong số những hộ giàu đi lên từ nông, lâm nghiệp, chăn nuôi
Bốn là, Dự án hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn được khởi đầu vào năm
1992, tập trung vào một số dân tộc có số dân ít, trình độ phát triển ở mức thấp kém như dân tộc Rục, Brâu, Rơmăm, Thổ, Chứt Tuy nguồn đầu tư cho dự án
Trang 38này không lớn so với các dự án khác, nhưng lại là điểm đầu tiên trong quá trình khởi động cả một khu vực khó khăn chuyển mình Vì thế, một số dân tộc đã nhờ chương trình này mà có cuộc sống tạm ổn định, nhanh chóng tiếp cận được với các chương trình, dự án mới được đầu tư mà không bị bỡ ngỡ Hiện nay, chương trình đã được mở rộng ra thêm một số dân tộc khác có đời sống thấp so với yêu cầu chung
Năm là, Chương trình trung tâm cụm xã Đây là chương trình có tính định hướng cao Không phải là sự lặp lại kiểu hợp nhất các HTX như ở đồng bằng trước đây, mà cách tổ chức chương trình này nhằm tới mục đích “hiện đại hoá” dần miền núi Mỗi trung tâm cụm xã bao gồm một số xã có chung điều kiện về nhiều mặt Đây là nơi giao thoa giữa các tiểu vùng, được Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi công cộng như bệnh viện khu vực, trường dân tộc nội trú, chợ, trung tâm văn hoá Sau 10 năm thực hiện, cả nước đã có gần 500 trung tâm cụm xã thuộc vùng III được xây dựng với tổng vốn đầu tư 2.500 tỷ đồng
Sáu là, Chương trình quốc gia về ổn định phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng các xã biên giới Nước ta có 302 xã biên giới, chiều dài biên giới hơn 4.608km 95% dân số các xã biên giới là đồng bào dân tộc Chương trình này là chương trình tổng hợp phát triển toàn diện vùng biên giới nước ta với mục tiêu giàu về kinh tế, mạnh về chính trị, an ninh, quốc phòng
Bảy là, Chương trình quốc gia phòng chống và kiểm soát ma tuý Đây là chương trình mà bằng các giải pháp kinh tế - xã hội tập trung đầu tư đưa các loại cây trồng, vật nuôi vào thay thế cây thuốc phiện ở vùng miền núi khó khăn; nâng cao dân trí, đẩy lùi dịch bệnh; thuyết phục, giáo dục đồng bào không trồng, không hút, không tàng trữ, không buôn bán thuốc phiện và các chất có chứa ma
Trang 39tuý Đây là chương trình “dài hơi”, có ý nghĩa sâu sắc làm chuyển đổi nhận thức
và hành động của cả một thế hệ nhằm đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho các thế
hệ con cháu mai sau, một thế hệ cường tráng, giỏi giang, không lệ thuộc vào “cái chết trắng”
Tám là, Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (nay là Chương trình quốc gia có tầm rộng lớn nhằm trồng mới 5 triệu hécta rừng, còn gọi là Dự án 661) Chương trình này đã đem lại hiệu quả hết sức to lớn đối với miền núi và vùng đồng bào dân tộc Đã có hàng triệu hộ có thêm việc làm Hàng chục vạn hộ
có vườn cây công nghiệp, vườn cây ăn quả, phát triển chăn nuôi trâu bò, hàng trăm ngàn hộ làm kinh tế trang trại Nhờ chương trình này mà độ che phủ rừng của nước ta đạt 37%
Chín là, chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho
hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn (Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20/7/2004; gọi tắt là Chương trình 134) Đây là một quyết định quan trọng thể hiện sự nỗ lực và quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với đời sống đồng bào các dân tộc, nhất là hộ nghèo, đến sự nghiệp xoá đói giảm nghèo vùng dân tộc nói chung và cả nước nói riêng, với tính nhân văn sâu sắc, phát huy bản chất tốt đẹp của cả dân tộc Sau 4 năm triển khai, đến nay,
cả nước đã hoàn thành việc hỗ trợ khoảng 350.000 ngôi nhà, đạt tỷ lệ 98% so với
kế hoạch ban đầu Hỗ trợ đất sản xuất cho hơn 70.000 hộ với diện tích gần 30.000ha; cả nước có khoảng 150.000 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt
Bên cạnh các chương trình, dự án kể trên, hàng loạt các dự án khác như phủ sóng truyền hình, phát thanh, hệ thống trường học dân tộc nội trú, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chương trình giao thông, hoạt động xúc tiến thương mại và nhiều dự án nhỏ khác được huy động từ các nguồn
Trang 40trong và ngoài nước đầu tư cho miền núi và vùng đồng bào dân tộc cũng đang được đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả
1.2.2 Thành tựu chủ yếu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được thông tin, tuyên truyền
1.2.2.1 Về phát triển kinh tế:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX về công tác dân tộc, đưa ra mục tiêu đến năm 2010: Phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng cách chênh lệch mức sống giữa các dân tộc, các vùng; trên 90% hộ dân có đủ điện, nước sinh hoạt; xoá tình trạng nhà tạm, nhà dột nát; 100% số xã có đường ôtô đến trung tâm xã; cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn; hoàn thành cơ bản công tác định canh định cư; chấm dứt tình trạng di cư tự do; giải quyết cơ bản vấn đề đất sản xuất cho nông dân thiếu đất; ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái”
Trong những năm qua, do có định hướng và bước đi đúng, lại được đầu tư một cách mạnh mẽ nên kinh tế khu vực miền núi đã có sự tăng trưởng khá Cơ cấu kinh tế các tỉnh vùng dân tộc đang chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng sản xuất nông, lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản và tỷ trọng giá trị dịch vụ du lịch, thương mại Tỷ trọng sản xuất nông, lâm nghiệp đạt 25,4%; công nghiệp xây dựng đạt 39,5%; du lịch dịch vụ 35,1% so với tỷ trọng chung của cả nước lần lượt là: 20,4%, 41% và 38,5%