Đối với Việt Nam, đây là lĩnh vực mới mẻ, nhưng trong gần 20 năm qua cũng đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, từ bình diện lý thuyết xã hội h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TÔN HOÀN
NGHIÊN CỨU CÔNG CHÚNG BÁO ĐẢNG
CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
của báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương
(2007 - 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TÔN HOÀN
NGHIÊN CỨU CÔNG CHÚNG BÁO ĐẢNG
CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
của báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương
(2007 - 2010)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60 32 01
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH THÁI
Hà Nội - 2011
Trang 3Ảnh 2.11 Giao diện trang thông tin điện tử của báo Đồng Nai 67 Ảnh 2.12 Giao diện báo điện tử của báo Bà Rịa – Vũng Tàu 68 Ảnh 2.13 Giao diện trang thông tin điện tử của báo Bình Dương 69
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13
7 Kết cấu luận văn 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÔNG CHÚNG BÁO CHÍ 14
1 1 Công chúng trong mối quan hệ với chủ thể báo chí truyền thông 14
1.1.1.Truyền thông, truyền thông đại chúng và chủ thể báo chí truyền thông 14 1.1.2 Công chúng và đặc điểm công chúng báo chí truyền thông 15
1.1.3 Mối quan hệ giữa chủ thể báo chí- truyền thông với công chúng 18
1.1.4 Vị trí và các vấn đề của nghiên cứu công chúng 23
1.2 Báo Đảng và công chúng báo Đảng ở Việt Nam 28
1.2.1 Vài nét về báo Đảng ở Việt Nam 28
1.2.2 Công chúng báo Đảng ở Việt Nam 34
1.3 Nghiên cứu công chúng báo Đảng trong xu hướng phát triển của công chúng báo chí tại Việt Nam 36
1.3.1 Công chúng có nhiều điều kiện để tiếp cận các kênh truyền thông đại chúng đa dạng và phong phú hơn 36
1.3.2 Công chúng báo chí không chỉ là người thụ hưởng thông tin mà còn tham gia quá trình truyền thông 39
1.3.3 Công chúng báo in trước sự phát triển của báo điện tử trên internet 40
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG CHÚNG BÁO ĐẢNG CÁC TỈNH
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 44
2.1 Tổng quan về báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ 44
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên- xã hội miền Đông Nam Bộ 44
2.1.2 Báo Đảng các tỉnh Đông Nam Bộ 47
Trang 5* Báo Đồng Nai 51
* Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 53
*Báo Bình Dương 53
2.2 Đặc điểm công chúng báo Đảng các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Bình Dương 56
2.2.1 Mức độ, cách thức đọc các báo Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu,
Bình Dương của công chúng 57
2.2.2 Nhận định của công chúng về nội dung và hình thức 63
2.2.3 Những yếu tố tác động đến tâm lý tiếp nhận báo Đảng của công chúng 64 2.2.4 Công chúng báo điện tử của các báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương 70
* Nhận xét và bàn luận: 73
2.3 Hoạt động của các tòa soạn nhằm tác động đến công chúng 75
2.3.1 Những mặt tích cực 75
2.3.2 Những mặt hạn chế 79
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
MỐI QUAN HỆ GIỮA BÁO ĐẢNG CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VỚI CÔNG CHÚNG 82
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ 82
3.1.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm báo chí đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ chính trị và nhu cầu công chúng 82
3.1.2 Tổ chức, phương thức hoạt động hướng đến tính chuyên nghiệp của báo chí hiện đại 84
3.1.3 Vấn đề đặc trưng địa phương của báo Đảng các tỉnh 85
3.1.4 Vấn đề công chúng báo chí 86
3.1.5 Chú trọng đến hiệu quả công tác quảng cáo, phát hành báo chí 88
3.2 Giải pháp nâng cao mối quan hệ giữa báo Đảng với công chúng 89
3.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến chủ thể truyền thông 90
3.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến công chúng báo Đảng 92
3.2.3 Nhóm giải pháp về kinh tế báo chí 93
Tiều kết chương 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 106
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài
Nghiên cứu công chúng báo chí là hướng nghiên cứu truyền thông đại chúng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt Công chúng vừa là đối tượng tác động của báo chí vừa là chủ thể tiếp nhận Đây là lĩnh vực không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học của nhiều ngành mà còn là công việc
có tính thường xuyên, cấp thiết của các cơ quan báo chí, các loại hình báo chí Bởi lẽ, hiệu quả của báo chí phụ thuộc rất lớn vào sự tác động của báo chí đối với công chúng, cũng như thái độ, quan điểm tiếp nhận sản phẩm của công chúng Ở các nước có nền báo chí phát triển, công tác nghiên cứu công chúng trở thành hoạt động mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp cao và là
cơ sở khoa học, là căn cứ để hoạch định chiến lược cũng như kế hoạch phát triển báo chí
Tại Việt Nam, báo Đảng các tỉnh, thành phố nằm trong hệ thống của nền báo chí cả nước Cho đến nay, 63 tỉnh, thành phố đều có tờ báo Đảng của địa phương mình, bên cạnh tờ báo Nhân dân- cơ quan của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Báo Đảng các tỉnh là cơ quan trực thuộc Đảng bộ địa phương (Tỉnh ủy, Thành ủy), có chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và nhân dân; đồng thời là cầu nối thông tin giữa Đảng, chính quyền với nhân dân địa phương Quy định 338 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 26/11/2010 cũng đã xác định rõ tổ chức, bộ máy, chức năng và nhiệm vụ cụ thể của báo Đảng địa phương Cũng theo quy định này, bên cạnh báo in truyền thống, các tỉnh còn có tờ báo điện tử hoặc trang
Trang 7thông tin điện tử trên mạng internet
Nhìn lại lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam hơn 86 năm qua, có thể thấy vai trò, vị trí của báo Đảng địa phương và những đóng góp quan trọng của báo Đảng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước hôm nay Đặc biệt trong hơn 25 năm đổi mới, cùng với những thành tựu chung của báo chí, báo Đảng các tỉnh đã có những đóng góp tích cực Báo Đảng làm nhiệm vụ thông tin, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, quyết định của Đảng bộ, chính quyền địa phương; là cầu nối giữa Đảng với dân, phản ánh tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của nhân dân với Đảng, Nhà nước Không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin ở địa phương, báo Đảng còn là kênh truyền thông góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đời sống văn hóa - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội của đất nước…
Trong bối cảnh phát triển mới, nhất là sự ra đời và cạnh tranh gay gắt các loại hình báo chí, báo in nói chung, trong đó có báo Đảng các tỉnh cũng chịu không ít những tác động khó khăn Tình hình mới lại càng đặt ra yêu cầu báo Đảng phải tiếp cận với công chúng Trong khi đó, thực tế, việc nghiên cứu công chúng báo chí cũng còn là lĩnh vực mới mẻ ở Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới, nhất là với các cơ quan báo chí, trong đó có báo Đảng các tỉnh Đó phải chăng cũng là một trong những lý do làm cho tính chuyên nghiệp của đội ngũ báo Đảng chưa cao, sản phẩm báo chí chưa đến được nhiều với công chúng Phần lớn báo Đảng các tỉnh vẫn còn hoạt động dưới sự đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách của Đảng, Nhà nước và số lượng công
chúng bạn đọc báo Đảng hãy còn khiêm tốn, nếu không nói là quá ít ỏi
Theo sự phân vùng về địa giới hành chánh, miền Đông Nam Bộ gồm
Trang 8TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh Trừ TP Hồ Chí Minh mang đặc điểm của một thành phố trung tâm kinh tế- văn hóa chính trị của cả nước, báo Đảng các tỉnh Đông Nam Bộ vừa mang những đặc điểm chung, vừa có những nét riêng từ tác động khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa đời sống và thói quen tiếp nhận thông tin báo chí Những năm gần đây, báo Đảng các tỉnh
có những chuyển biến đáng ghi nhận Cụ thể, 2 tờ báo trở thành nhật báo (Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương), các báo còn lại đều tăng kỳ xuất bản để phục vụ nhu cầu công chúng Bên cạnh tờ báo in, các báo còn có thêm báo điện tử làm “cánh tay nối dài” hướng đến mở rộng công chúng độc giả Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là số lượng bạn đọc của báo và công tác nghiên cứu công chúng vẫn là mặt hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức
Xuất phát từ vị trí, vai trò, tác dụng của việc nghiên cứu công chúng báo chí và thực tiễn hoạt động, là người đang công tác trong một cơ quan
báo chí của Đảng, chúng tôi quan tâm và chọn đề tài “Nghiên cứu công chúng báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ của báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương (2007-2010)” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khoa học nghiên cứu truyền thông đại chúng trên thế giới đã có từ trên 100 năm nay và đạt được những thành tựu quan trọng Đối với Việt Nam, đây là lĩnh vực mới mẻ, nhưng trong gần 20 năm qua cũng đã thu hút
sự quan tâm của các nhà khoa học ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, từ bình diện lý thuyết xã hội học công chúng, nghiên cứu khảo sát thực nghiệm, tâm lý học đến báo chí học…
Ở lĩnh vực xã hội học truyền thông, đáng chú ý là những công trình nghiên cứu của tác giả Mai Quỳnh Nam và Trần Hữu Quang Tác giả Mai
Trang 9Quỳnh Nam từ năm 1996 đến nay đã công bố trên tạp chí Xã hội học và một
số tạp chí khoa học nhiều công trình liên quan đến công chúng truyền thông, mối quan hệ giữa công chúng với truyền thông và sự hình thành của văn hóa
giao tiếp đại chúng Tác giả Trần Hữu Quang, với Xã hội học báo chí
(2006), có thể nói là công trình có hệ thống, khá đầy đủ về xã hội học báo chí ở Việt Nam
Tiếp cận công chúng truyền thông từ bình diện báo chí học, tập trung chủ yếu là những công trình của các giảng viên, nhà nghiên cứu phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình… tại các cơ sở đào tạo báo chí ở Việt Nam như: Khoa Báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Khoa Báo chí và Truyền thông Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội); Khoa Báo chí Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Một số luận văn, luận án nghiên cứu chọn các nhóm công chúng đặc trưng theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp hoặc giới tính, hoặc nghiên cứu nhóm công chúng của một loại hình báo chí; nghiên cứu thính giả của đài, nghiên cứu bạn đọc của một tờ báo Cho đến nay, cũng đã có một số nghiên cứu công chúng báo Đảng tỉnh, thành thuộc các vùng miền trong cả nước, nhưng nghiên cứu công chúng báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ thì đây là nghiên cứu đầu tiên Năm 2009, luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Hiền (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) nghiên cứu đề tài “Báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ”, đề cập nhiều mặt về thực trạng hoạt động của báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam
Bộ, trong đó có nội dung về công chúng, nhưng chỉ ở mức độ thông tin về số lượng độc giả, phát hành của các tờ báo Cũng trong năm 2009, Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Thu Hằng (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) “PR- công cụ phát triển báo chí’, nghiên cứu công chúng của các tờ báo dành cho thanh niên ở
Trang 10Việt Nam Trong đó một số nội dung về lý luận và thực tiễn liên quan như nhận thức của các tòa soạn về vai trò và ý nghĩa của lĩnh vực nghiên cứu công chúng, hình thức nghiên cứu công chúng của các tòa soạn, thực hiện các phương pháp nghiên cứu, tác động của nghiên cứu công chúng đến nội dung và hình thức tờ báo… Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn về vai trò và tác dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng của công tác nghiên cứu công chúng, nhất là những thay đổi của báo chí dẫn đến biến đổi về công chúng báo chí trong đời sống truyền thông hiện đại Có thể kể đến luận văn thạc sĩ (2007) của Nguyễn Thu Giang (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội); luận án tiến sĩ (2008) của Trần Bá Dung (Học viện Báo chí & Tuyên truyền), nghiên cứu về sự tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội Trước đó (2006), Trần Hữu Quang có công trình nghiên cứu “Chân dung công chúng báo chí” của thành phố Hồ Chí Minh Cho đến nay, đây là những công trình nghiên cứu công chúng báo chí ở hai thành phố lớn có ý nghĩa, không chỉ đóng góp về mặt lý luận mà còn làm cơ sở tham khảo cho việc nghiên cứu công chúng ở các vùng miền khác, cũng như hoạch định kế hoạch, xây dựng chiến lược phát triển báo chí ở nước ta trong giai đoạn mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là từ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công chúng trong hoạt động báo chí truyền thông, tìm hiểu khảo sát thực trạng công chúng và năng lực tác động công chúng của báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ nhằm phát hiện những ưu thế lẫn hạn chế, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công chúng và sự phát triển của báo Đảng trong thời gian tới Đặc biệt là xu hướng báo chí truyền thống trước sự tác động mạnh
Trang 11của báo in, trong đó có báo Đảng các tỉnh, thành ở Việt Nam…
Từ những mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ
cụ thể như sau:
- Nhận diện báo Đảng và công chúng báo Đảng các tỉnh Đông Nam
Bộ trong bối cảnh phát triển mới của báo chí với những đóng góp, ưu thế và hạn chế
- Điều tra, khảo sát, tìm hiểu để đo lường mức độ đọc báo Đảng, quan điểm thái độ của công chúng báo chí các tỉnh Đông Nam Bộ qua báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương, cũng như năng lực tác động công chúng của các tòa soạn báo
- Nêu những hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng báo Đảng trong thời gian tới để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đặc trưng loại hình vừa đáp ứng nhu cầu của công chúng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công chúng của báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ
- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát là các báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, từ năm 2007 đến 2010 Đây là ba tờ báo tỉnh nổi bật ở miền Đông Nam Bộ, chúng vừa có những đặc điểm chung của báo Đảng các tỉnh trong cả nước vừa có những nét riêng và vị thế trong hệ thống báo Đảng địa phương ở Việt Nam Chọn giai đoạn từ 2007 đến 2010 để tìm hiểu, khảo sát nghiên cứu vì đây là những năm báo chí Việt Nam có bước phát triển nhanh và những thay đổi đáng kể từ sự tác động của sự kiện có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước- Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và hội nhập với thế giới Trên lĩnh vực báo chí,
Trang 12những năm vừa qua có sự tác động mạnh từ truyền thông xã hội và internet đối với báo chí ở Việt Nam Báo Đảng các tỉnh miền Đông cũng đã có nhiều thay đổi đáng kể trong hoạt động của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vai trò, tính chất và nhiệm vụ của báo chí và nhà báo cách mạng Luận văn còn sử dụng một số lý thuyết về báo chí học và xã hội học truyền thông đại chúng của các tác giả trong và ngoài nước làm cơ sở nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu của luận văn gồm:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Được sử dụng với mục đích khái
quát, bổ sung hệ thống lý thuyết về nghiên cứu công chúng báo chí trong hoạt động truyền thông Đây chính là những lý thuyết cơ sở cho việc đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và tìm kiếm những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích nội dung: Được sử dụng đối với 3 tờ báo
Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương trong thời gian từ năm 2007 đến 2010
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (an-két): Nhằm thu thập những
ý kiến của độc giả ở ba tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương về một số nội dung phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Số lượng mẫu là 300, lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu điển hình ở 3 thành phố tỉnh lỵ trung tâm, dân cư đông, báo chí phát triển, công chúng có trình độ học vấn không chênh lệch nhiều là Biên Hòa, Vũng Tàu và Thủ Dầu Một Đối tượng chủ
Trang 13giáo viên, công nhân lao động và một số đối tượng khác
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Được tiến hành với các nhóm đối tượng: cán bộ, phóng viên, biên tập viên, trưởng ban, thư ký tòa soạn, ban biên tập, các cơ quan chủ quản và quản lý nhà nước về báo chí
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống
lý thuyết về nghiên cứu công chúng các loại hình báo chí ở Việt Nam nói chung, báo Đảng các tỉnh, thành nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực tiễn của luận văn sẽ có tác động đối với các cơ quan báo chí, các nhà báo trong việc nhận thức về vai trò của công chúng báo chí truyền thông và công tác nghiên cứu công chúng… góp phần vào việc nâng cao chất lượng báo Đảng các tỉnh, trong đó có báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về công chúng báo chí ở Việt Nam
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu công chúng báo chí
- Chương 2: Thực trạng công chúng báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ
- Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm nâng cao mối quan hệ giữa báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ với công chúng
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÔNG CHÚNG BÁO CHÍ
1 1 Công chúng trong mối quan hệ với chủ thể báo chí truyền thông
1.1.1 Khái niệm truyền thông, truyền thông đại chúng và chủ thể báo chí truyền thông
“Truyền thông (communication) là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo ra sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi hành vi và nhận thức” [26, tr.13]
Lý thuyết truyền thông chỉ ra thuộc tính của quá trình của truyền
thông và đưa ra mô hình để khái quát quá trình ấy: người phát tin – kênh truyền thông - người nhận tin Đây được xem là mô hình truyền thông căn
bản mà Harol D Lasswell đưa ra được mọi người chấp nhận vì nó đơn giản,
dễ hiểu và thông dụng: Ai nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai, và hiệu quả ra sao? Tuy nhiên, giới hạn của mô hình này là quá trình truyền thông một chiều, không có sự phản hồi và tính tương tác Lý thuyết thông tin của Claude Shannon và nhiều nghiên cứu khác đã bổ sung thêm hai yếu tố vào quá trình truyền thông là hiện tượng nhiễu (noise) và phản hồi (feedback) Nhờ vậy, có thể xem xét tác động và hiệu quả xã hội (effect) của thông tin
Ở góc độ xã hội học, truyền thông được phân thành 3 loại chính: truyền thông liên cá nhân, truyền thông tập thể và truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng (mass communication) là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) Truyền thông đại chúng
là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm 3 thành tố: các nhà truyền thông-
Trang 15hoạt động truyền thông - công chúng truyền thông
“Để đảm bảo hiệu quả của truyền thông đại chúng, việc nghiên cứu công chúng có vai trò rất quan trọng Nó chỉ ra cho nhà truyền thông cách thức, phương pháp, nội dung cần thiết để lập và chuyển các thông điệp tới công chúng một cách hiệu quả Những phản ứng sau khi nhận được thông điệp sẽ trở thành yếu tố tham gia việc quyết định những hành vi truyền thông tiếp theo của nguồn phát” [18, tr.29]
Truyền thông đại chúng tác động vào xã hội bằng thông tin qua cơ chế: THÔNG TIN → Ý THỨC XÃ HỘI → HÀNH VI XÃ HỘI
Thông tin trong các thông điệp tác động vào ý thức xã hội, làm thay đổi nhận thức của cộng đồng, nhận thức mới sẽ dẫn đến những hành vi xã hội mới Hành vi xã hội chính là hiệu quả cuối cùng của truyền thông, nhờ
nó mà xã hội vận động và phát triển phù hợp với ý đồ của chủ thể truyền thông (nhà truyền thông, nguồn phát)
Theo cơ chế tác động của truyền thông đại chúng, thì chủ thể truyền thông được hiểu là nhà truyền thông, nguồn phát, bao gồm: cơ quan chủ quản, quản lý; đội ngũ những người làm báo; sản phẩm chứa đựng nội dung thông tin hướng đến và tác động và công chúng đại chúng
1.1.2 Công chúng và đặc điểm công chúng báo chí truyền thông
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ), “Công chúng là đông đảo những người đọc, người xem, người nghe trong quan hệ với tác giả, diễn viên…” Đây là định nghĩa có tính chất chung về công chúng liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Tùy từng lĩnh vực, có thể hiểu
“công chúng” theo những nội dung, đặc trưng phù hợp với mục đích để xem xét hiệu quả hoạt động Ví dụ: Trong lĩnh vực quan hệ công chúng (public
Trang 16relations, viết tắt là PR), công chúng theo nghĩa đối tượng liên quan đến tổ chức tập thể, đơn vị, doanh nghiệp Họ là đối tác quan hệ, khách hàng hiện tại và tiềm năng; là chính quyền, dân chúng, kể cả các đơn vị truyền thông báo chí… Quan hệ công chúng thực hiện chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì sự truyền thông hai chiều, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức tập thể, đơn vị và “công chúng” của họ “Nhân viên truyền thông và PR có vai trò tương tự như nhà báo, chỉ khác là không làm việc bên trong tòa soạn của một cơ quan báo chí nào đó và chú trọng những mảng thông tin liên quan đến lợi ích chủ thể PR mà thôi” [16, tr.13]
Với lĩnh vực xã hội học truyền thông đại chúng, công chúng là khái niệm đa nghĩa, nhưng tựu trung: “Công chúng là một tập hợp xã hội được cấu thành một cách phức tạp bởi nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, và mỗi người đều đang sống trong những mạng lưới xã hội và những mối quan hệ xã hội nhất định” [25, tr.267]
Dưới góc nhìn của báo chí học, công chúng (audience) là một bộ phận quan trọng của quá trình truyền thông; là đối tượng tiếp nhận thông điệp của sản phẩm truyền thông “Đối tượng tiếp nhận là các cá thể hay tập thể người… Cũng có thể nói, các cá thể hay nhóm người tiếp nhận thông điệp là đối tượng tác động đầu tiên của truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về tâm lý, nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận” [30, tr.9]
Như vậy, theo cách hiểu trên, công chúng vừa là chủ thể tiếp nhận, vừa là đối tượng tác động của báo chí truyền thông
Giáo trình “Báo phát thanh” của Phân viện Báo chí và tuyên truyền
định nghĩa: “Công chúng nói chung có thể được hiểu là những người tiếp nhận và được các sản phẩm báo chí tác động hoặc hướng vào để tác động”
Trang 17Công chúng báo chí là những người đọc, người nghe, người xem các sản phẩm của báo in, phát thanh, truyền hình và internet Công chúng có thể là đại chúng, một nhóm đối tượng hay một cá thể nhất định tiếp nhận thông tin
đã đăng tải, hay số lượng phát hành báo chí mà quan trọng hơn là công chúng bạn đọc tiếp nhận như thế nào, nhất là có cùng cảm xúc và đồng thuận với những thông điệp mà báo chí hướng đến tác động
Luật báo chí nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ: “Báo chí ở Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn); báo nói (chương trình phát thanh); báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau); báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài.”[điều 3 Luật báo chí sửa đổi, bổ sung 1999]
Nghiên cứu công chúng báo chí trong luận văn này tập trung chủ yếu
Trang 18ở các đặc trưng của loại loại hình báo in (cụ thể là báo Đảng các tỉnh miền
Đông Nam Bộ) và một số liên hệ với công chúng báo điện tử bên cạnh tờ báo in
Theo PGS.TS Mai Quỳnh Nam, công chúng của truyền thông đại chúng có 4 đặc điểm cơ bản như sau:
- Thuộc mọi tầng lớp xã hội, bất kể địa vị, nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn…Vì thế, công chúng có đặc trưng dị biệt với nhau
- Nói đến công chúng của truyền thông đại chúng là nói đến cá nhân nặc danh Khi hướng đến đại chúng, báo chí không thể biết cụ thể ai là ai Nghĩa là truyền thông đại chúng có thể đến với bất cứ ai, không riêng một cá nhân nào
- Các thành viên thường cô lập nhau về mặt không gian Điều đó khiến họ ít tương tác, tức là giữa họ có thể không có mối quan hệ gì
- Công chúng của truyền thông đại chúng hầu như không có tổ chức hoặc nếu có thì cũng rất lỏng lẻo, vì thế họ rất khó tiến hành chung những hành động xã hội
Từ những đặc điểm trên cho thấy, công chúng báo chí truyền thông là một thực thể rất phức tạp Việc nghiên cứu công chúng đòi hỏi phải có cái nhìn tổng hợp, toàn diện và đặt đối tượng nghiên cứu trong môi trường văn hóa- xã hội cụ thể
1.1.3 Mối quan hệ giữa chủ thể báo chí- truyền thông với công chúng
Mối quan hệ giữa chủ thể báo chí - truyền thông với công chúng là mối quan hệ giữa nguồn phát thông điệp và công chúng, đối tượng tiếp nhận, thực chất đây là mối quan hệ giao tiếp mang tính đại chúng
Trang 19Theo PGS TS Mai Quỳnh Nam, giao tiếp đại chúng được hiểu như sự truyền bá với số lượng lớn những nội dung giống nhau cho những cá nhân
và những nhóm đông người trong xã hội, dựa vào những kỹ thuật truyền bá tập thể, gọi là media Hoạt động giao tiếp đại chúng diễn ra như một quá trình xã hội, được thực hiện bởi các thành phần tạo nên cơ cấu của nó Có thể tách hoạt động giao tiếp đại chúng ra thành những yếu tố sau:
- Nhà truyền thông: những người nói, nguồn cung cấp thông tin
- Công chúng: người được cung cấp thông tin (người nhận)
- Thông điệp: là những điều người ta nói (nội dung thông tin)
- Kênh: các phương tiện kỹ thuật, nhờ đó việc truyền thông được thực hiện [9, tr.10]
“Trong xã hội mỗi người đều có sinh hoạt, sở thích, kinh nghiệm riêng, trình độ văn hóa và sự hiểu biết cũng khác nhau Những cái riêng đó, cái khác nhau đó đều có ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận cùng một thông tin Vì thế, ý đồ đưa ra một thông tin với hiệu quả thực tế của nó đối với người đọc thường là không nhất trí với nhau Song muốn hoạt động báo chí đạt hiệu quả cao, khoảng cách giữa ý đồ và hiệu quả giảm tới mức thấp nhất, người làm báo cần biết đến đối tượng và mối quan tâm của họ về thông tin
do báo chí cung cấp” [25, tr.182-183]
Tác giả Trần Hữu Quang cho rằng: “Khi nói rằng công chúng của các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm những cá nhân phân tán, điều này chỉ có một ý nghĩa tương đối về mặt không gian mà thôi; xét về mặt quan hệ xã hội, điều này không có nghĩa là công chúng các phương tiện truyền thông đại chúng hoàn toàn cô lập, rời rạc nhau.” [25, tr.27-28] Theo Silbermanm, quan niệm công chúng bao gồm những cá nhân rời rạc, phân
Trang 20tán nhau, thì có thể đi đến sự tách biệt và đối lập giữa cá nhân và xã hội Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đối với công chúng luôn phụ thuộc vào bối cảnh của điều kiện sống cũng như các mối quan hệ xã hội của họ
Thực tiễn đời sống xã hội diễn ra hằng ngày là cơ sở cho hoạt động báo chí, nhưng người làm báo phải biết xử lý thông tin, chuyển tải thông tin đến cho nhóm người nào đọc, lợi ích kinh tế, văn hóa chi phối đời sống đối với nhóm người đó Từ vị trí xã hội, nhận thức, học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú… của đối tượng công chúng, báo chí xác định thái độ và mối quan tâm của họ đối với thông tin Xác định được điều này thì báo chí sẽ thuyết phục được công chúng và quá trình truyền thông báo chí sẽ đạt được mục đích làm thay đổi nhận thức, hành vi và thái độ của công chúng đối với những vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội
Cái mới, bổ ích và lý thú là đặc trưng của thông tin báo chí và đó cũng
là nhu cầu, sự mong đợi của công chúng báo chí Tâm lý người đọc, nghe,
xem bao giờ cũng quan tâm đến cái gì mới Công chúng không chỉ cần đáp
ứng nhu cầu về thông tin mà còn mong đợi từ thông tin báo chí những điều tốt hơn với cuộc sống và công việc của họ Mối quan hệ giữa báo chí và công chúng là mối quan hệ cộng cảm, là động lực thúc đẩy cả hai cùng phát triển đến mục tiêu chân - thiện - mỹ Không một cơ quan báo chí nào lại không mong muốn mình có công chúng bạn đọc đông đảo và ngược lại cũng không có người đọc nào lại không muốn có trong tay một tờ báo hay, phong phú về nội dung, đẹp về hình thức trình bày, nhiều thông tin bổ ích, thú vị
“Báo chí có mục đích của mình và người đọc cũng có nhu cầu phong phú của họ Đáp ứng nhu cầu ấy là báo chí đã gặp được người đọc Bạn đọc báo
là đối tượng sống còn của báo chí Người làm báo phải luôn bám sát đối tượng, bám sát thực tế để nắm được nhu cầu và những vấn đề mà công
Trang 21chúng quan tâm, đề cập và giải quyết thiết thực những đòi hỏi và yêu cầu đó” [26, tr.184]
Công chúng báo chí là một thực thể sinh động có những biến thiên
theo những quy luật nhất định Thực thể sinh động biểu hiện ở không chỉ những thống kê số học như số lượng phát hành, số trang, số chương trình, số giờ phát sóng, không gian phủ sóng qua mạng, truyền hình số, truyền hình cáp mà còn ở nội dung thông tin tuyên truyền, tác động đối với công chúng, đối với xã hội
“Hoạt động báo chí với tư duy bao cấp một thời hiện còn mang nặng tính chủ quan duy ý chí Hầu hết các báo cáo về thành tựu báo chí lâu nay thường có kiểu đánh giá báo chí như: không có những khuyết điểm lớn như
xa rời tôn chỉ, mục đích; nặng thông tin về những hiện tượng tiêu cực, yếu kém, mặt trái của xã hội, thổi phồng, khoét sâu vào các thiếu sót, khuyết điểm; tập trung vào việc phát hiện, cổ vũ, biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt, những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cách đánh giá đó không sai nhưng hời hợt và nó cho thấy, chúng ta còn coi thường việc nghiên cứu công chúng báo chí truyền thông.” [45] Đây đó có một số công trình nghiên cứu, khảo
sát công chúng…, song đó chỉ là những kết quả điều tra tĩnh, không nhìn thấy báo chí và công chúng báo chí như một thực thể sinh động có những
biến thiên theo những quy luật nhất định
Báo chí phát triển đa dạng và phong phú trong những năm qua, công chúng báo chí cũng có những thay đổi về căn bản Trong báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Thông báo kết luận 162-TB-TW của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo, quản lý báo chí, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) có nêu ra nhận định:
Trang 22“Công chúng báo chí hiện nay có bước phát triển về số lượng, trình độ, tham
gia ngày càng tích cực vào quá trình truyền thông Công chúng báo chí từ chỗ tiếp nhận thụ động chuyển dần sang chủ động, bình đẳng trong thu nhập, trao đổi thông tin Chức năng diễn đàn của các tầng lớp nhân dân trên báo chí ngày càng được thể hiện rõ nét và sinh động.” Đây là một nhận định quan trọng, bởi nó cho thấy, chúng ta không thể không đổi mới công tác báo chí cho phù hợp với xu thế của thời đại bùng nổ thông tin Đã qua rồi cái thời làm truyền thông bằng ý chí vì công chúng ngày nay có nhiều chọn lựa Điều này cũng đặt ra cho nhà truyền thông về phương thức hoạt động của mình Quy định về chức năng, quyền hạn của báo chí tại điểm 3, điều 6 của Luật báo chí cũng ghi rõ: “Báo chí phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân”
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam
đã nói về báo chí: “Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì ?” Viết cho ai bao hàm nhiều nội dung, quan điểm, nhưng cốt lõi là đề cập đến đối tượng công chúng mà tờ báo hướng đến phục
vụ
Trong thực tế, có những trang báo, bài báo không chỉ khô khan về nội dung thông tin, kỹ thuật diễn đạt mà còn ít chú ý, quan tâm đến đối tượng phục vụ của mình… Ví dụ báo chí thường mở những đợt tuyên truyền các sự kiện thời sự chính trị, các ngày kỷ niệm trong năm bằng những chuyên trang, chuyên mục Tuy nhiên, không ít chuyên mục, chuyên trang đôi khi chỉ triển khai về mặt hình thức, “báo chí hóa tư liệu, văn bản báo cáo” mà ít quan tâm với cách làm như thế, nội dung như thế…, công chúng có thật sự đón nhận hay không, có thuyết phục được công chúng hay không… Ngoài
ra, trong thực tế, công chúng luôn có nhu cầu trao đổi, tương tác với tòa soạn
Trang 23về vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội, tuy nhiên tòa soạn lại ít chú ý, tạo cơ hội diễn đàn trên báo chí để các tập thể, cá nhân cùng tham gia…
Phác họa được chân dung công chúng truyền thông, đối tượng phục
vụ của báo chí nói chung, của từng cơ quan báo chí nói riêng là công việc khoa học và yêu cầu chuyên nghiệp Chỉ khi nào báo chí nhận diện chính xác đối tượng phục vụ của mình, không chỉ bằng những chỉ số xã hội học,
mà bằng những kết quả đo lường chi tiết liên quan tới hoạt động nghiệp vụ báo chí, thì mới có thể phục vụ tốt, phát triển tốt, định hướng tốt cho sự phát triển vững chắc của báo chí
1.1.4 Vị trí và các vấn đề của nghiên cứu công chúng
Trong hoạt động truyền thông đại chúng, việc nghiên cứu công chúng
có vai trò rất quan trọng, vì qua đó có thể chỉ ra cho nhà truyền thông cách thức, phương pháp nội dung cần thiết để lập và chuyển các thông điệp đến công chúng “Hoạt động truyền thông, báo chí luôn lấy con người làm đối tượng tác động, đối tượng phản ánh, đối tượng điều chỉnh, do đó phải nghiên cứu, hiểu rõ nhóm công chúng - đối tượng Nói chuyện với một người cũng phải tìm hiểu người ấy Nói và viết cho nhiều người, cho một nhóm công chúng rộng lớn lại càng phải tìm hiểu họ một cách nghiêm túc Nếu không như thế, mọi nỗ lực của chúng ta sẽ không đạt tới hiệu quả như mong muốn, thậm chí gây ra lãng phí cho xã hội” [11, tr.326]
Nghiên cứu công chúng là nội dung cơ bản, luôn giữ vị trí hàng đầu trong báo chí học, xã hội học truyền thông đại chúng và một số ngành Các hướng nghiên cứu được tiến hành đều có điểm chung là nhằm làm rõ chân dung công chúng, các nhóm công chúng với các dấu hiệu quan trọng nhất, như: độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, đặc điểm nghề nghiệp, khu vực cư trú và thị hiếu…
Trang 24Ở góc độ xã hội học truyền thông, nghiên cứu nhằm tìm ra những đặc điểm chung và mối liên kết xã hội của công chúng và các nhóm công chúng Báo chí theo đó tổ chức các phương thức hoạt động để phục vụ đối tượng của mình Chẳng hạn, xu hướng kết nối báo chí với cơ cấu xã hội có thể thấy
trong thực tiễn hoạt động báo chí, như: theo giới tính có báo Phụ Nữ, Đàn Ông…; độ tuổi có: Người Cao Tuổi, Nhi đồng, Mực tím, Hoa học trò, Thanh Niên, Sinh viên…; theo nghề nghiệp: Giáo dục, Công an, Quân đội , Nghề báo…; vùng miền: Dân tộc & miền núi, các kênh tiếng dân tộc thiểu số trên sóng phát thanh và truyền hình của nhiều tỉnh, thành phố… Hệ thống báo
Đảng ở Việt Nam cũng có nhóm đối tượng công chúng mục tiêu và tiềm năng, đó là cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong bộ máy Đảng, chính quyền, các cơ quan đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn…
Nghiên cứu công chúng còn là để nắm bắt tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí: Báo chí đến với họ từ nguồn nào? Họ quan tâm nội dung gì ở báo chí? Vì sao họ quan tâm? Ý kiến của công chúng về nội dung, chuyên trang, chuyên mục… Tìm ra đặc điểm của tâm lý công chúng và các nhóm công chúng khi họ tham gia vào hoạt động truyền thông với tư cách là những người tiếp nhận thông tin, sẽ giúp cho các cơ quan báo chí có cơ sở để cải tiến và nâng cao hiệu quả của sản phẩm báo chí và quá trình truyền thông
Mặt khác, nghiên cứu công chúng còn nhằm tìm ra quy luật về tâm lý, thói quen tiếp nhận thông tin của các nhóm đối tượng khác nhau Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đọc lướt là một cách thức tiếp nhận phổ biến của công chúng báo in trên khắp thế giới, chỉ khác nhau ở mức độ, tùy theo tờ báo và tùy theo đặc điểm của người đọc Theo Loic Hervouet, Tổng giám đốc Trường đại học báo chí Lille (Pháp) thì “Người xem báo đọc ít, xem
Trang 25lướt nhiều Các cuộc thăm dò đều đặn và có phương pháp về thời gian đọc của người Pháp đều đi đến thống nhất kết luận rằng thời gian dành cho việc đọc không có xu hướng tăng lên Các nghiên cứu về qũy thời gian cho thấy rằng trong tổng số 6 giờ mỗi ngày dành cho việc tiếp nhận thông tin, trung bình người Pháp chỉ dành 36 phút để đọc báo”; “Độc giả của tờ báo bình dân Bild ở Đức chỉ đọc 1/8 nội dung tờ báo; độc giả của tờ Le Monde ở Pháp chỉ
đọc 20% nội dung” “Một cuộc thăm dò thực hiện theo yêu cầu của tờ Ouest
France (miền Tây nước Pháp), tờ báo có số lượng bản in lớn nhất nước Pháp, cho thấy: trong số 410 chi tiết thông tin có trên mặt báo, độc giả chỉ để mắt đến 39 chi tiết, gồm 23 đầu đề và 16 bài báo, họ chỉ đọc 13 bài báo từ đầu đến cuối, thông thường là các bài báo ngắn” Với người Pháp, theo Loic Hervouet, trong trường hợp khả quan nhất thì số lượng bài báo được đọc cũng chỉ
nhỉnh hơn 10% tổng số các bài báo [35, tr.12-13]
Các nghiên cứu về cách thức đọc báo của công chúng ở nước ta
những năm gần đây cũng cho rằng, đọc lướt là đặc điểm của công chúng báo chí Khi đọc báo, tạp chí, người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà đọc lần đầu chưa rõ Đặc điểm này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội
dung sâu sắc, phức tạp… Tác giả Nguyễn Văn Hà trong giáo trình Cơ sở lý
hai bước: Lựa chọn thông tin tiềm năng và xử lý thông tin hiện thực Công chúng chọn trong báo chí những thông tin nào phù hợp với trình độ, khả năng, sở thích, nhu cầu của họ Thực tế công chúng hiếm khi tiếp nhận được đầy đủ thông do báo chí cung cấp Giả sử một đơn vị bài báo chứa 100 đơn
vị thông tin tiềm năng, nhưng người đọc chỉ tiếp nhận 20, 50,70, 90 đơn vị
mà thôi Nghĩa là chỉ có khoảng 20%, 50%, 70%, 90% thông tin tiềm năng
Trang 26trở thành thông tin hiện thực [13; tr 321,322]
Ngoài ra, các nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng còn cho rằng, chưa phải tờ báo có số phát hành cao là tờ báo có nội dung chất lượng,
uy tín mà uy tín của tờ báo với công chúng là tờ báo có bao nhiêu người bỏ tiền ra mua và mua trong thời gian dài
Trong Truyền thông đại chúng (2001), khi bàn về cơ chế tác động, về
hiệu quả xã hội của truyền thông đại chúng, PGS.TS Tạ Ngọc Tấn đã phân tích sự phụ thuộc của hiệu quả xã hội đối với sự tiếp nhận của công chúng Việc nghiên cứu, nắm rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tượng tác động bao giờ cũng là một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Theo nhà báo Trần Bá Dung, “nghiên cứu công chúng là nghiên cứu người tiếp nhận, bao gồm vai trò, tâm lý và mô thức tiếp nhận Đối với các cơ quan báo chí, công chúng – người tiếp nhận cần được coi là một trong những phạm trù thao tác trong hoạt động báo chí, phải nghiên cứu công chúng như việc nghiên cứu thị trường của bộ môn khoa học marketing trong kinh tế.”
Lý thuyết xem công chúng báo chí là khách hàng cũng đang là hướng
nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều nghiên cứu từ góc độ báo chí học, nhất là báo chí trong thời đại bùng nổ về thông tin, đa dạng các sản phẩm truyền thông Tác giả Đỗ Thị Thu Hằng với nghiên cứu “PR- công cụ phát triển báo chí” cho rằng, các cơ quan báo chí không chỉ khảo sát, nghiên cứu đối tượng công chúng bạn đọc mà còn phải biết tổ chức các mối quan hệ, tổ chức sự kiện, tư vấn… để làm cho hình ảnh của sản phẩm báo chí trở nên quen thuộc trong đời sống của các nhóm công chúng tiềm năng, tác động mọi mặt đến đời sống tinh thần của từng cá nhân, từng nhóm và cộng đồng
xã hội “PR được coi là một công cụ nhằm phát triển sản phẩm báo chí, cơ
Trang 27quan báo chí trong nền báo chí cạnh tranh”
Ở các nước có nền báo chí phát triển, đặc biệt các nước Bắc Âu, Pháp, Anh, Mỹ…, công tác nghiên cứu công chúng trở thành hoạt động mang tính thường xuyên và chuyên nghiệp cao và là cơ sở khoa học, làm căn cứ để hoạch định chiến lược phát triển và kế hoạch cải tiến báo chí trong từng giai đoạn, mục tiêu vươn tới
Báo chí ngày nay đa dạng và phong phú các loại hình, thị trường báo chí rộng lớn, sức cạnh tranh cao…, công tác nghiên cứu công chúng ngày càng được đặc biệt quan tâm, coi đó là một hình thức, phương pháp để kiểm tra, đánh giá hiệu quả của việc đầu tư cho hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng Giới kinh doanh và giới báo chí đều luôn coi trọng chiến lược phát triển thị trường, phát triển khách hàng - đối tượng sử dụng sản phẩm
Báo chí ở nước ta trong những năm qua phát triển khá nhanh cả về số lượng và chất lượng Báo chí ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trên nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí, đặc biệt là báo chí trên mạng internet cũng như sự phong phú, đa dạng các kênh truyền thông đã tác động rất lớn đến công chúng, trong đó có sự biến đổi mạnh mẽ về nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng Nghiên cứu công chúng để báo chí không chỉ phục vụ đúng đối tượng, đạt được hiệu quả về mặt truyền thông mà còn tạo ra sức thu hút, yếu tố quyết định trong nền kinh
tế thị trường, trong đó có thị trường cạnh tranh báo chí ở Việt Nam
Nghiên cứu, tìm hiểu công chúng- đối tượng tiếp nhận, các cơ quan truyền thông đại chúng ở nước ta cũng xem đây là hình thức, phương pháp
để kiểm tra, đánh giá hiệu quả của việc đầu tư cho các phương tiện và nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ những người làm báo Trong thực tế, công chúng
Trang 28không chỉ là đối tượng tác động mà còn là lực lượng quyết định vai trò, vị thế xã hội - chính trị của cơ quan báo chí Sức mạnh của báo chí chính là sức mạnh của công chúng, của dư luận xã hội mà nó tạo ra
Các cơ quan báo chí ngày nay đều hiểu rất rõ tầm quan trọng của nghiên cứu công chúng đối với sự thành công trong hoạt động báo chí Cũng như sản phẩm hàng hóa, muốn cạnh tranh trên thị trường, nhà sản xuất cần phải hiểu hành vi tiêu dùng của khách hàng Tờ báo muốn thành công, không thể không hiểu biết sâu sắc về thái độ của công chúng Báo chí truyền thông đáp ứng nhu cầu thông tin chính đáng của công chúng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
1.2 Báo Đảng và công chúng báo Đảng ở Việt Nam
1.2.1 Vài nét về báo Đảng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, báo chí- dù là loại hình báo chí nào cũng đều thuộc cơ quan của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội Đây là điểm khác biệt so với nền báo chí của nhiều quốc gia trên thế giới Tên gọi Báo Đảng là để chỉ báo chí mà cơ quan chủ quản là tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam Báo Đảng gồm hai cấp trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc
Ở cấp trung ương có tờ nhật báo Nhân dân và các báo, tạp chí của các Ban xây dựng Đảng Trung ương như Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Ban Kiểm tra, Ban Dân vận Ở cấp tỉnh, thành có tờ báo thuộc Đảng bộ các tỉnh, thành phố
Lâu nay, báo Đảng các tỉnh trong nhận thức của công chúng còn gọi là
báo địa phương Từ địa phương để chỉ phạm vi hoạt động và thông tin chủ
yếu của tờ báo Có lẽ xuất phát từ quan điểm như vậy nên trước đây trong một Chỉ thị về quy chế quản lý báo địa phương của Ban Tuyên huấn Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) vào tháng 10/1985 có ghi: “Mỗi
Trang 29tỉnh, thành phố (trực thuộc trung ương) có một tờ báo của đảng bộ, một đài phát thanh trực thuộc UBND tỉnh, thành phố Ngoài tờ báo Đảng, các cơ quan đoàn thể cấp tỉnh, thành phố không được ra tờ báo riêng Báo Đảng sẽ đảm nhiệm việc tuyên truyền cho các ngành, các giới ở địa phương”
Tuy nhiên, trong thực tế ở một địa phương ngoài báo Đảng còn có các
tờ báo của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội Và do đó, báo Đảng các tỉnh không chỉ thông tin, phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi của địa phương mình Dấu ấn của địa phương là yếu tố làm nên nét riêng của tờ báo, nhưng công chúng bạn đọc cũng có nhu cầu về thông tin trong nước, quốc tế…
Từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, báo chí cũng đổi mới và phát triển mạnh, mỗi địa phương không chỉ có tờ báo Đảng mà còn có một số tờ báo đoàn thể, ngành như: Giáo dục, Văn hóa, Y tế, Công an, Công đoàn, Phụ nữ, Nông dân, Đoàn thanh niên, Cựu chiến binh…
Báo Đảng các tỉnh là tờ báo mà Tỉnh ủy là cơ quan chủ quản; nội dung chủ yếu tập trung thông tin tuyên truyền về đường lối, chủ trương nghị quyết của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; phản ánh tình hình chính trị, kinh tế - xã hội và các hoạt động công tác của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương; đồng thời còn dành một tỷ lệ thích hợp thông tin thời sự trong nước và thế giới
Quy định 338 ngày 26/11/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
tổ chức, bộ máy của báo Đảng tỉnh xác định rõ hơn nội dung của báo Đảng trong xu thế bùng nổ truyền thông: Chức năng, nhiệm vụ của báo Đảng các tỉnh là thông tin, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của đảng
Trang 30bộ, chính quyền địa phương; giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lối sống lành mạnh, truyền thống tốt đẹp, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Báo Đảng tham gia tích cực cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; tham gia tổng kết thực tiễn, đúc rút và phổ biến kinh nghiệm, góp phần bổ sung, hoàn thiện quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương, đưa đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Báo Đảng đã tổ chức tiếp nhận, xử 1ý, đăng tải thông tin kịp thời, chính xác; thực hiện là diễn đàn của nhân dân theo quy định của pháp luật; góp phần xây dựng đảng bộ và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh Đặc biệt, trên lĩnh vực đấu tranh tư tưởng, báo Đảng phải thể hiện là công cụ chủ động đấu tranh kiên quyết, sắc bén với những âm mưu và hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời tích cực giám sát, phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các biểu hiện tiêu cực, góp phần định hướng tư tưởng và dư luận xã hội Quy định trên cũng xác định rõ tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động và mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý và các cơ quan liên quan
Như vậy, có thể hiểu: “Báo Đảng các tỉnh nằm trong hệ thống của nền báo chí Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ báo chí; là cơ quan của Đảng bộ địa phương, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân; hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước
và trong khuôn khổ quy định của pháp luật.” Báo Đảng các tỉnh, thành phố
Trang 31trực thuộc trung ương còn gọi là báo Đảng địa phương để phân biệt báo Đảng ở cấp trung ương là báo Nhân dân và các báo, tạp chí của các Ban xây dựng Đảng Trung ương
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng
3-2011, cả nước có trên 700 cơ quan báo chí, trong đó báo in có 178 (trung ương: 76; địa phương: 102) Trong số này, báo Đảng địa phương có đều ở
63 tỉnh, thành của cả nước Bên cạnh tờ báo in, cơ quan ngôn luận của Đảng
bộ tỉnh, nhiều địa phương còn có báo, tạp chí thuộc chủ quản của các ngành, đoàn thể xã hội…
Báo chí của Đảng, trong đó báo Đảng các tỉnh, thành là một bộ phận của nền báo chí cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập
Từ những năm 1930-1945, đặc biệt trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược, nhiều tờ báo tiền thân của các tờ báo Đảng địa phương ngày nay đã ra đời cùng với phong trào đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân các địa phương, làm nhiệm vụ tuyên truyền giác ngộ cách mạng, kêu gọi toàn dân đứng lên đánh đổ thực dân, đế quốc, giành độc lập
tự do cho dân tộc Tờ báo trở thành diễn đàn đấu tranh hữu hiệu của các lực lượng yêu nước; đồng thời là công cụ tư tưởng sắc bén của Đảng trên mặt trận chính trị tư tưởng, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê nin, lý tưởng của Đảng
và tập hợp, đoàn kết nhân dân chống kẻ thù xâm lược…
Trước năm 1975, do nhiệm vụ cách mạng của hai miền Nam Bắc khác nhau nên báo Đảng tồn tại và hoạt động riêng lẻ với những phương thức khác nhau Miền Bắc xuất bản đều đặn hơn dù gặp không ít khó khăn do chiến tranh phá hoại của Mỹ Ở miền Nam, nhiều tờ báo của Đảng bộ tỉnh ra đời trong chiến khu kháng chiến hoặc trong vùng bí mật, được thực hiện bởi những tấm lòng, tình cảm yêu nước nồng nàn của những cán bộ tuyên huấn,
Trang 32của lực lượng trí thức tham gia kháng chiến với kỹ thuật thô sơ, đơn giản…
Tờ báo xuất bản từ trong chiến khu và các vùng bí mật tuy có hạn chế về số lượng phát hành, nhưng tác động của nó là hết sức quan trọng và to lớn, góp phần vào cuộc kháng chiến chống xâm lược
Ví dụ ở miền Đông Nam Bộ, từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, các tờ báo tiền thân của báo Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương ngày nay đã ra đời tại các căn cứ kháng chiến Qua các thời kỳ phát triển, tờ báo đã bám sát đời sống kháng chiến và phục vụ tích cực cuộc kháng chiến gian khổ mà hào hùng của quân và dân miền Đông, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc vào mùa Xuân 1975
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, báo chí cách mạng từ bưng biền, chiến khu theo bước chân chiến thắng của bộ đội giải phóng và những người kháng chiến tiến vào thành phố, xuất bản phục vụ Đảng, chính quyền và nhân dân Từ năm 1975 đến nay, báo Đảng các tỉnh nằm trong hệ thống của báo chí cả nước, tạo sự thống nhất về chính trị, văn hóa và các phương diện khác
Trong hơn 36 năm qua, báo Đảng luôn có vị thế quan trọng và những đóng góp xứng đáng vào thành tựu chung của đất nước thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đánh giá chung về báo Đảng địa phương, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các báo cáo của cơ quan lãnh đạo, quản lý Nhà nước về báo chí đều cho rằng: “Nét nổi bật của báo Đảng địa phương là về cơ bản giữ đúng định hướng chính trị, bám sát tôn chỉ mục đích, ít bị sai sót, đặc biệt không có biểu hiện dao động, lệch lạc về chính trị, không có khuyết điểm nặng về khuynh hướng thương mại hóa Ngoài những vấn đề thời sự- chính trị, kinh tế- xã hội, các báo đều dành tỷ lệ đáng kể cho công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền nhân dân, tổng
Trang 33kết kinh nghiệm sản xuất, phòng chống thiên tai, biểu dương điển hình người tốt việc tốt, các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân, phổ biến kiến thức, thông tin văn hóa, giải trí…Do đó, đã góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, chống lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, tích cực tham gia sự nghiệp đổi mới, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, củng cố niềm tin của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước ở Trung ương và từng địa phương.” [Phát biểu của ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tại hội nghị toàn quốc về báo chí tại Quảng Ninh, 2007]
Hiện nay báo Đảng các tỉnh, thành không ngừng nỗ lực đổi mới qua việc cải tiến nội dung và hình thức Nhiều tờ báo liên tục thực hiện tăng trang, tăng kỳ phát hành, trong đó có không ít báo Đảng địa phương trở thành nhật báo Nhiều báo Đảng địa phương còn ra các số đặc san, ấn phẩm phụ, chuyên san, chuyên đề, số cuối tuần, cuối tháng…Bên cạnh báo in còn
có trang thông tin điện tử hoặc báo điện tử; ngoài bản tiếng Việt còn có tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Hàn, tiếng Nhật Báo Đảng các tỉnh cũng đã có những thay đổi trong tư duy làm báo theo hướng bám sát những sự kiện diễn
ra trong đời sống xã hội, thông tin nhanh nhạy kịp thời đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng bạn đọc Báo Đảng các tỉnh còn có những hoạt động liên kết phối hợp, hỗ trợ chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ như: khu vực báo Đảng các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên duy trì hằng năm luân phiên tổ chức các cuộc hội thảo báo chí với các chủ đề khác nhau Tham gia giải báo chí quốc gia hằng năm, có không ít tác phẩm báo chí đăng báo Đảng các tỉnh đã đoạt giải cao; ngoài ra còn có nhiều tác giả, tác phẩm báo Đảng địa phương đoạt giải báo chí chuyên ngành trung ương Đội ngũ nhà báo làm báo Đảng các tỉnh cũng không ngừng trưởng thành về trình độ
Trang 34chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và nhiều mặt khác…
Tuy có nhiều nỗ lực trong hoạt động, nhưng mặt hạn chế đáng quan tâm hiện nay của báo Đảng các tỉnh là số lượng ấn bản còn thấp so với điều kiện và dân số ở địa phương Cũng do số lượng ấn bản thấp nên hoạt động của phần lớn các tờ báo phụ thuộc vào sự đầu tư hỗ trợ từ nguồn ngân sách Theo số liệu của Cục Báo chí Bộ Thông tin và Truyền thông, đến nay chỉ khoảng 20 % các cơ quan báo chí ở Việt Nam có thể hoạt động tự chủ về tài chính Trong đó, đa phần là nhóm các báo ngành và tổ chức đoàn thể Trong bối cảnh của đời sống báo chí thị trường, đây có thể nói là mặt hạn chế làm ảnh hưởng đến sức phát triển, sự năng động sáng tạo của đội ngũ làm báo Đảng ở các tỉnh cũng như nỗ lực để phát triển báo chí đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ, đặc biệt là những thách thức đặt ra trong bối cảnh bùng nổ về mặt thông tin và sức cạnh tranh ngày càng gay gắt
1.2.2 Công chúng báo Đảng ở Việt Nam
Công chúng báo Đảng là những độc giả, nhóm độc giả mà các tờ báo của Đảng tác động và hướng đến tác động
Cùng với sự phát triển chung của báo chí cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ, công chúng báo Đảng cũng có những thay đổi và phát triển Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, công chúng báo Đảng nhìn chung rất hạn chế, không rộng rãi, chủ yếu là lực lượng kháng chiến và đồng bào yêu nước được giác ngộ cách mạng Do phải hoạt động và xuất bản báo chí nơi căn cứ kháng chiến hoặc trong vùng giải phóng, bí mật nên thời kỳ này công chúng ít được tiếp cận với các tờ báo của Đảng
Từ sau 1975 đất nước thống nhất, báo Đảng các tỉnh được thành lập đều ở các tỉnh, thành trong cả nước, xuất bản ổn định, làm nhiệm vụ tuyên
Trang 35truyền phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền về công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội sau chiến tranh, nên công chúng mở rộng hơn đến nhiều đối tượng Tuy nhiên, hoạt động báo chí sau chiến tranh và trong thời
kỳ bao cấp, nên thông tin báo chí nói chung, báo Đảng nói riêng chủ yếu là thông tin tuyên truyền chủ trương, đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước là chính; ít đề cập đến những vấn đề gần gũi của đời sống xã hội nên sức thu hút công chúng chưa cao so với yêu cầu
Chỉ từ sau khi đất nước đổi mới (từ năm 1986 đến nay), với tư duy mới trong phát triển kinh tế, báo chí có điều kiện phát triển sôi nổi, nhất là báo chí đấu tranh chống tiêu cực và những mặt trái của đời sống xã hội Đề tài của báo chí phong phú, đa dạng gần gũi hơn, mở ra cho báo chí một luồng sinh khí mới, công chúng theo đó cũng phát triển nhiều hơn, thích thú hơn với báo chí và hoạt động báo chí Tuy nhiên, sự lựa chọn và phản hồi của công chúng với báo chí vào thời kỳ này chưa nhiều Công tác điều tra, khảo sát, thăm dò ý kiến bạn đọc ít được chú trọng, tính cạnh tranh báo chí chưa cao
Bắt đầu từ thập niên cuối của thế kỷ trước, nhất là trong khoảng 10 năm trở lại đây, báo chí ở nước ta có sự phát triển nhanh về số lượng, đa dạng và phong phú các loại hình, đặc biệt với sự xuất hiện của loại hình báo chí trên internet, báo mạng điện tử bên cạnh báo in, phát thanh truyền hình, công chúng báo chí có nhiều sự chọn lựa kênh truyền thông đại chúng để thỏa mãn nhu cầu về thông tin, giải trí Điều đó cũng đặt ra cho báo Đảng các tỉnh nhiều thách thức, khó khăn hơn trong hoạt động của mình Việc cải tiến, tăng trang, tăng kỳ phát hành được triển khai ở nhiều tờ báo nằm trong
nỗ lực hướng tờ báo đến với công chúng của mình
Trang 36Các cuộc hội thảo báo Đảng tại các khu vực miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên được tổ chức hàng năm cũng nằm trong hướng nỗ lực nâng cao chất lượng báo Đảng Chưa nhiều lắm, nhưng báo Đảng tại các địa phương
đã chú ý hơn đến công tác bạn đọc, công tác điều tra, khảo sát, trưng cầu ý kiến bạn đọc để có những bước cải tiến phục vụ công chúng, đồng thời phục
vụ mục tiêu kinh tế, phát hành và sự phát triển của tờ báo Đảng vững chắc hơn trong thời kỳ mới
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi cho đến nay, chưa có tờ báo Đảng nào tiến hành điều tra xã hội học về công chúng một cách khoa học và chuyên nghiệp Trong khi đó, một số đài phát thanh và truyền hình, nhất là truyền hình của các tỉnh đã biết thuê các công ty truyền thông để khảo sát, điều tra công chúng của mình Thế nhưng, việc làm này của các đài cũng nhằm mục tiêu kinh tế, phục vụ quảng cáo sản phẩm hơn là phục vụ cho mục tiêu cải tiến nội dung đích thực hướng đến công chúng của mình
1.3 Nghiên cứu công chúng báo Đảng trong xu hướng phát triển của công chúng báo chí tại Việt Nam
Trong bối cảnh phát triển mới của báo chí, nhất là sự phát triển phong phú, đa dạng loại hình báo chí trên mạng internet trong thập niên đầu của thế
kỷ XXI, công chúng báo chí đã có nhiều thay đổi so với trước đây Từ thực tiễn của đời sống báo chí, đã có những nghiên cứu nêu ra các xu hướng mới của công chúng báo chí truyền thông Có thể khái quát mấy nét lớn về xu hướng phát triển và theo đó là sự tác động đối với công chúng, đặc biệt là đối với báo Đảng địa phương
1.3.1 Công chúng có nhiều điều kiện để tiếp cận các kênh truyền thông đại chúng đa dạng và phong phú hơn
Sự tác động của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin
Trang 37trong hoạt động truyền thông đã “tiếp sức” cho báo chí phát triển mạnh mẽ,
đa dạng và phong phú Công chúng báo chí truyền thông theo đó cũng có nhiều điều kiện tiếp cận về thông tin và nhu cầu ngày càng cao về mặt thông tin ở các loại hình báo chí
Số lượng bạn đọc báo in đã và đang có xu hướng giảm dần và theo dự báo sẽ có khả năng giảm mạnh hơn nữa trong nhiều năm tới Theo các cuộc khảo sát quy mô nhỏ ở một số loại độc giả, một tỷ lệ rất lớn người đọc cho biết họ vẫn ưa chuộng đọc báo in hơn là đọc báo trên mạng internet nhưng
sự xuất hiện và phổ biến của báo điện tử làm họ thay đổi cách mua báo Nếu trước đây họ mua nhiều tờ thì nay chỉ chọn một tờ họ thích nhất để đọc kỹ, còn lại sẽ bổ sung những đề tài khác, những tin tức khác bằng thông tin từ báo điện tử Từ thực tế này, có quan điểm cho rằng sự tác động của báo điện
tử lên báo in ở Việt Nam đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ
Trong những năm qua, đã có nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học
về tương lai báo chí, trong đó có báo in được tổ chức Có quan điểm cho rằng, báo in sẽ đến hồi kết thúc, vấn đề còn là thời gian Dự báo không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà ngay cả các nước có nền báo chí phát triển sớm ở châu Âu, Anh, Mỹ… Từ đó, đã và đang có những nghiên cứu dự báo về tương lai của báo in và đặt vấn đề chừng vài mươi năm nữa báo in sẽ đến hồi kết thúc? Chẳng hạn, tại cuộc hội thảo với chủ đề về tương lai của báo in (tháng 4/2011, tại TP Hồ Chí Minh) do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp cùng hội đồng Anh tổ chức, GS George, Hiệu trưởng trường Báo chí (Đại học City London –Anh) đã nêu vấn đề này với các đại biểu là tổng biên tập của nhiều tờ báo ở Việt Nam GS George cho rằng: “Báo in không biến mất nhưng không có cách nào cứu vãn sự đi xuống của nó trong thời đại thông tin bùng nổ” Nhiều ý kiến cũng đã nêu lên thực trạng đáng quan tâm về
Trang 38tương lai báo in trên thế giới và Việt Nam Tại cuộc hội thảo này, nhiều ý kiến thống nhất cho rằng tương lai của báo in tùy thuộc vào cách giải quyết những khó khăn để phù hợp với xu hướng phát triển mới của báo chí
Cũng có không ít quan điểm khẳng định vị trí và vai trò không thể thay thế của báo in Chẳng hạn, khi so sánh về mặt định lượng giữa truyền hình và báo in, người ta ước tính là lượng thông tin trong một giờ đồng hồ của truyền hình chỉ bằng lượng thông tin của một trang nhật báo (khổ giấy báo lớn) Theo Loic Hervouet, toàn bộ nội dung bản tin thời sự phát vào 8 giờ tối mỗi ngày trên truyền hình Pháp (thường khoảng 20 phút) chỉ lấp kín
nửa trang báo Le Monde Và ông còn nhận xét rằng “tất nhiên là 20 phút bản
tin thời sự (1.700 từ) không có giá trị bằng 5 phút đọc báo [35,12] Các phương tiện truyền thông là những công cụ không những giúp cho công chúng biết tin tức mà còn giúp họ hiểu được thời sự và từ đó giúp cho họ định hướng trong cuộc sống trong dòng thời cuộc Tuy nhiên, giữa báo in, truyền hình và phát thanh, thì báo in thường được đánh giá là đạt hiệu quả hướng dẫn dư luận cao nhất
Theo nhận xét của Charles Wright, mặc dù vô tuyến truyền hình là phương tiện được công chúng xem nhiều nhất, nhưng chính người đọc báo
in thường xuyên mới là người nắm vững kiến thức thời sự hơn so với những người chỉ theo dõi tin tức, thời sự qua ti vi Tuy báo in không có lợi thế thông tin nhanh như phát thanh, truyền hình, nhưng người viết thường có khoảng thời gian nào đó phải tư duy sâu và kỹ hơn Thời gian này tạo ra một khoảng cách lùi xa cần thiết với sự kiện, nhờ đó phóng viên có điều kiện suy nghĩ, cân nhắc chắc lọc thông tin, có thời gian để lựa chọn một góc nhìn, một cách tiếp cận thích hợp, phối kiểm tin tức hoặc bổ sung chi tiết, tư liệu, nhờ vậy có thể diễn giải hoặc bình luận về sự kiện, vấn đề một cách cặn kẽ,
Trang 39đầy đủ, sắc sảo và có sức thuyết phục hơn Đối với người đọc, vì được in trên giấy nên họ có thể cầm tờ báo đọc ở bất cứ nơi đâu thuận tiện, có thể đọc đi đọc lại, sau đó đưa cho người khác xem hoặc cất giữ…Vì những ưu thế như vậy, nên có quan điểm cho rằng, báo in vẫn còn là phương tiện có
vai trò xã hội quan trọng đối với công chúng
1.3.2 Công chúng báo chí không chỉ là người thụ hưởng thông tin mà còn tham gia quá trình truyền thông
Trước đây, công chúng là đối tượng thụ hưởng thông tin Ngày nay, với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
và xu thế toàn cầu hóa, công chúng không chỉ có điều kiện thuận lợi hơn trong thụ hưởng thông tin mà còn tham gia vào quá trình hoạt động báo chí – truyền thông
Báo chí phát hành trên internet, với nhiều tiện ích, công chúng có điều kiện thuận lợi tham gia vào quá trình truyền thông Từ tham gia đóng góp ý kiến, nhận xét, bình luận đến đóng góp các nguồn tin và cùng sáng tạo tác phẩm báo chí Trong nhiều tác phẩm báo chí có sức tác động xã hội, không còn ý nghĩa là sáng tạo của một nhà báo cụ thể mà là sản phẩm tập thể, trong
đó, công chúng là đồng chủ thể sáng tạo Khả năng tương tác cao của báo
chí nhờ phương tiện kỹ thuật không chỉ tạo cảm giác gần gũi hơn giữa công chúng báo chí và tòa soạn mà nó có ý nghĩa dân chủ trong thông tin và tiếp nhận thông tin
Các diễn đàn lấy ý kiến về các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc thu hút sự tham gia đóng của công chúng nhiều vùng miền Có không ít tác phẩm tạo ra dư luận từ sự tham gia của công chúng vừa là người tiếp nhận vừa là đồng sáng tạo tác phẩm báo chí
Trang 40Một số tờ báo trong những năm gần đây, dựa vào ưu thế của công nghệ và tính tương tác giữa bạn đọc và cơ quan báo chí nhờ phương tiện kỹ thuật và công nghệ đã mở rộng các trang Bạn đọc, trong đó phần lớn nội dung thông tin do bạn đọc viết, phản ánh, nhận xét, phân tích, bình luận Điều đó không chỉ tạo nên sự đa dạng, phong phú về thông tin mà còn tạo ra
sự gần gũi với bạn đọc
1.3.3 Công chúng báo in trước sự phát triển của báo điện tử trên internet
Theo số liệu của Bộ Thông tin- Truyền thông, tính đến tháng 4/2011,
số người sử dụng internet tại Việt Nam là 24,3 triệu người (chiếm gần 1/3 dân số), tăng trên 10 triệu người so với năm 2007 (thời điểm Việt Nam hòa mạng thế giới được 10 năm) Giới trẻ đang là nhóm công chúng mục tiêu của báo điện tử Dĩ nhiên, sẽ có tác động không nhỏ đến công chúng báo in, trong đó có báo Đảng các tỉnh, thành
Sự tác động của truyền thông trực tuyến làm thay đổi nhiều mặt đối với đối tượng truyền thông là một thực tế trong đời sống báo chí đương đại,
do vậy các nhà truyền thông cũng đã thay đổi phương thức thông tin để tiếp cận công chúng Công ty Gannett, nơi đã xuất bản hơn 100 tờ báo, thiết lập một nhóm chuyên trách để tạo ra một tờ báo kiểu mẫu sẽ hấp dẫn những độc giả thế kỷ 21 Tin tức viết cho lớp độc giả mới, theo báo cáo của nhóm này, phải có những tính chất sau:
- Hình thức bắt mắt: Tờ báo phải nhiều màu sắc, hấp dẫn, sinh động, thỏa mãn mắt người xem cũng như thách thức trí óc họ hoạt động
- Thông tin dày đặc nhiều tầng nhiều lớp: Những cột văn bản không
đủ Đồ thị, hình ảnh, biểu đồ, danh sách và phần tham khảo từ nhiều nguồn