Kết cấu luận văn 10 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của báo in với việc phát triển nông nghiệp 11 1.1 Đặc trưng và vai trò truyền thông của báo in 11 1.2 Báo in ĐBSCL tr
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 33
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 3
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn 9
7 Kết cấu luận văn 10
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của báo in với việc phát triển nông nghiệp 11
1.1 Đặc trưng và vai trò truyền thông của báo in 11
1.2 Báo in ĐBSCL trong bối cảnh truyền thông hiện đại 16
1.3 Khái lược 3 tờ báo được khảo sát 22
1.4 Đặc điểm công chúng địa phương ĐBSCL 26
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: Thực trạng về vai trò của các báo An Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long với việc phát triển nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long 30
2.1 Vai trò của báo in với việc phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL 30
2.2 Phương thức tác động của báo in để phát huy vai trò trong phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL 35
2.3 Phản hồi của công chúng một số địa phương ĐBSCL về tác động, hiệu quả của báo in địa phương 50
2.4 Các hình thức liên doanh, liên kết của báo in nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp ĐBSCL 58
2.5 Hạn chế, khó khăn của hoạt động báo in đối với phát triển nông nghiệp ĐBSCL 63
Tiểu kết chương 2 70
Trang 44
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp để nâng cao hiệu quả của báo in
với phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL 72
3.1 Một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của báo in đối với phát triển nông nghiệp ĐBSCL 72
3.2 Những vấn đề đặt ra cho báo in ĐBSCL hiện nay 78
3.3 Các giải pháp để nâng cao hiệu quả truyền thông của báo in địa phương với việc phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL 85
3.4 Phương thức tổ chức thực hiện 91
Tiểu kết chương 3 95
Kết luận 96
Danh mục tài liệu tham khảo 100
Phụ lục 103
Trang 5tỷ USD/năm, các nhóm hàng xuất khẩu chính của ĐBSCL là thủy sản, gạo, trái cây… ĐBSCL hiện đóng góp trên 50% sản lượng lương thực, 70% sản lượng trái cây, 74% sản lượng thủy sản cả nước, trong đó có 90% lượng gạo, 60% lượng thủy sản xuất khẩu Điều này nói lên chất lượng, số lượng của nông thủy sản có phần vượt trội, hướng tới thị trường quốc tế Để thực hiện được điều đó, nông dân đồng bằng không ngừng cải tiến kỹ thuật, ứng dụng nhiều tiến bộ KHKT, từng bước cơ giới hóa, hiện đại hóa theo hướng hội nhập kinh tế thế giới
ĐBSCL là vùng kinh tế quan trọng, nơi bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia, nhưng vấn đề “nông dân ĐBSCL vẫn còn nghèo” trở thành một nỗi trăn trở,
một câu hỏi lớn trên “luống cày” và cho các nhà hoạch định chính sách Nông dân ĐBSCL rất giỏi về kỹ thuật, số nông dân tiên tiến ứng dụng tiến bộ KHKT ngày càng tăng, các biện pháp thâm canh đều làm tốt hơn các vùng khác, nhưng vẫn còn lạc hậu so với thế giới về trình độ cơ giới hóa do đất đai manh mún Tuy nhiên, ngoài kinh nghiệm sản xuất, nông dân rất thiếu các kỹ năng khác, chẳng hạn như kỹ năng bán hàng, kỹ năng tiếp thị, quảng cáo,v.v để tạo ra thương hiệu quốc tế Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp hiện nay là sản xuất hàng hóa, không còn cảnh
tự cung tự cấp như vài chục năm trước Nhưng chuyện bán cho ai, bán ở đâu, bán vào thời điểm nào, bán như thế nào… là chuyện còn rất xa lạ đối với nông dân Hay những chuyện chung sống với lũ, biến đổi khí hậu, sản xuất sạch, xây dựng thương hiệu… đã được nhận diện từ rất lâu trên báo chí ĐBSCL, vừa định hướng cho nông dân vừa tham mưu cho các cấp chính quyền
Trong bối cảnh như vậy, báo chí địa phương 13 tỉnh, thành ĐBSCL chính là kênh thông tin vô cùng quan trọng và hữu hiệu đối với bà con nông dân, thông qua các hình thức tiếp cận như báo in, phát thanh, truyền hình Không chỉ đơn thuần là
Trang 66
thông tin, báo chí ĐBSCL còn là diễn đàn, tư vấn – chỉ dẫn, dự báo mùa vụ, thị trường, là kênh thông tin phản biện từ thực tiễn sản xuất cho chính quyền địa phương hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp – nông thôn
Các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ hàng hóa nông sản kịp thời được phát hiện, dự báo, trở thành những tiêu điểm thời sự phản ánh sôi động trên báo chí ĐBSCL Vai trò báo chí như là chất xúc tác trong mối liên kết
“bốn nhà”: nhà nông, nhà khoa học, nhà nước, nhà doanh nghiệp Phát thanh, truyền hình với hình thức tương tác trực tiếp tạo ra sự chú ý của nông dân trong tiếp cận thông tin nông nghiệp; thì báo in với tính lưu trữ cao, phân tích, lý giải có tính thuyết phục, định hướng chuyên sâu đóng vai trò hết sức quan trọng để đưa sáng tạo
kỹ thuật mới vào nông nghiệp, tạo ra mô hình kinh tế tổng hợp có hiệu quả Mặt khác, những định hướng về quy hoạch vùng sản xuất, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP để tạo hàng hóa xuất khẩu qua Âu - Mỹ, phát huy ưu thế cạnh tranh cho nông nghiệp ĐBSCL, phát hiện và nhân rộng mô hình sản xuất mà điển hình như “Cánh đồng mẫu lớn” là ưu thế của báo in
Báo in ĐBSCL đã góp phần tạo nên đột phá cho nông nghiệp ĐBSCL, với những thành tựu nổi bật: nâng cao sản lượng - chất lượng lúa hàng hóa, chuẩn hóa công tác giống vật nuôi – cây trồng, ứng dụng tiến bộ KHKT, công nghệ mới, cơ giới hóa sản xuất Tuy nhiên, vai trò, tác động đó, đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, đánh giá và phân tích một cách sâu sắc, toàn diện Chính vì thế, cần có những công trình nghiên cứu về báo in với phát triển nông nghiệp Từ đó nhận dạng báo in ĐBSCL trong xu hướng vận động và phát triển của báo chí Việt Nam Ưu thế, triển vọng, cũng như những hạn chế, khó khăn cần khắc phục của báo in ĐBSCL để ngày càng mang lại hiệu quả cao hơn Các cơ quan báo chí cần có đội ngũ phóng viên, biên tập viên giỏi chuyên môn, am hiểu lĩnh vực nông nghiệp cũng là thách thức lớn của báo in ĐBSCL
Sống giữa vùng đất châu thổ phù sa trù phú ĐBSCL, có thời gian phụ trách mảng đề tài kinh tế nông nghiệp ĐBSCL ở Báo Vĩnh Long, nên người viết rất tâm
đắc khi chọn đề tài “Báo in địa phương với việc phát triển nông nghiệp ở Đồng
Trang 7cứu góc tiếp cận chuyên sâu
Ở những góc độ khác, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến
NN-ND-NT và báo in ĐBSCL Ở cấp độ Luận văn thạc sĩ, Luận văn “Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân” của Lê Thị Huê chuyên ngành xã
hội học năm 2011, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội Luận văn nêu thực trạng tiếp nhận thông tin của nông dân đã được nêu trong Luận văn cho nông dân rất quan tâm các thông tin phục vụ sản xuất nông nghiệp, thị trường nông sản và đi đến kết luận: nông dân rất mong muốn tìm kiếm thông tin nông nghiệp
Vấn đề chuyển giao tiến bộ KHKT cho nông dân cũng từng có một số luận
văn nghiên cứu Như trong luận văn “Xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất để chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thuỷ sản cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An” của thạc sĩ Lê Thị Thanh Hương, chuyên ngành Quản lý Khoa học
và công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã chỉ ra rằng, Tổ liên kết sản xuất trong nông nghiệp là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hoá trong kinh tế thị trường càng gay gắt Tuy nhiên ở luận văn này, chưa nhìn thấy được sự tác động của báo chí truyền thông trong “xây dựng mô hình”, bởi đó là kênh thông tin hiệu quả nhằm phát hiện, đánh giá và nhân rộng các mô hình Để giải quyết những tồn tại trong sản xuất tập thể trước đây và thực tế nhu cầu sản xuất hàng hóa lớn – nông dân cần liên kết tạo thành sức mạnh, thì vai trò lý giải, thuyết phục của báo chí là vô cùng lớn
Luận văn thạc sĩ của Lê Thái Hà về “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in hiện nay”, chuyên ngành báo chí học, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, do PGS.TS Đinh Văn Hường hướng
Trang 88
dẫn khoa học Luận văn góp phần làm rõ nội dung nhận thức về NN-ND-NT Việt Nam và vị trí của nó trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước thông qua hoạt động báo chí truyền thông Qua đó khẳng định những đóng góp của báo in trong việc tuyên truyền đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống và trách nhiệm nâng cao chất lượng tuyên truyền về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” trên báo in, chỉ ra những biện pháp khả thi cho quá trình này
Năm 2011, nghiên cứu luận văn của thạc sĩ Bùi Thị Hồng Vân do PGS.TS
Vũ Quang Hào hướng dẫn với đề tài: “Vấn đề chỉ dẫn – tư vấn khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân trên báo chí Việt Nam” Luận văn phân tích thực trạng
chỉ dẫn – tư vấn KHKT cho nông dân trên báo chí Việt Nam, những mặt được và chưa được Từ đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả chỉ dẫn – tư vấn Luận văn có tính ứng dụng thực tiễn cao cho các phương tiện truyền thông về chỉ dẫn – tư vấn KHKT nông nghiệp cho nông dân ở Việt Nam và trong luận văn này chúng tôi tham khảo một số tư liệu
Trong phạm vi rộng hơn, liên quan đến báo chí ĐBSCL, cũng có nhiều luận văn nghiên cứu ở từng lĩnh vực khác nhau
Luận văn thạc sĩ báo chí học: “Tính thuyết phục và hiệu quả của truyền hình trực tiếp ở khu vực ĐBSCL” của tác giả Lê Thanh Trung, Học viên Cao học
khóa 8, Học viện Báo chí & Tuyên truyền
Luận văn thạc sĩ báo chí học: “Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và dân tộc ở ĐBSCL: Khảo sát báo chí địa phương và khu vực 2004-2005”
của tác giả Nguyễn Văn Tấn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006
Luận văn thạc sĩ báo chí học: “Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình truyền hình địa phương ĐBSCL (khảo sát qua Đài truyền hình Vĩnh Long, giai đoạn 2000-2001)” của tác giả Hồ Minh Trữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006
Luận văn thạc sĩ báo chí học: “Báo Đảng ở các tỉnh ĐBSCL hiện nay” của
tác giả Đoàn Phương Nam, Học viện Báo chí & Tuyên truyền, 2008
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vai trò, tác động, hiệu quả của báo in với phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL
Phạm vi nghiên cứu là khảo sát các tờ báo in địa phương An Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long, từ năm 2011-2012
Lý do chọn 3 cơ quan báo in: An Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long - là vùng tam giác cùng chịu tác động của phù sa ngọt, vùng có năng suất sản lượng lúa, thủy sản cao nhất khu vực ĐBSCL Hoạt động báo in khu vực tam giác này rất năng động, có thể được xem là đại diện cho báo in toàn vùng Báo An Giang, có số lượng phát hành lớn, có nhiều liên kết với doanh nghiệp và chính nơi đây đã tạo ra mô
hình “Cánh đồng mẫu lớn” đang được nhân rộng cả nước Báo Vĩnh Long có ưu
thế ở trung tâm đồng bằng, báo này sớm hướng thông tin ra khu vực và có những bài viết với tầm nhìn khu vực từng đạt nhiều giải báo chí quốc gia, có chú ý đối tượng phát hành ở vùng nông thôn Một số tờ báo đã tạo nhiều hình thức liên kết với doanh nghiệp, viện, trường để phổ biến KHKT cho nông dân có hiệu quả
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn bước đầu chỉ ra được ưu điểm, cũng như khuyết điểm, hạn chế của báo in với phát triển nông nghiệp ĐBSCL Rút ra những bài học kinh nghiệm, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông của báo in
Trang 1010
ĐBSCL Qua đó phục vụ ngày càng thiết thực cho người nông dân, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp ĐBSCL
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích như trên, chúng tôi sẽ khảo sát các tác phẩm báo in
đã đăng tải trên các báo An Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long liên quan đến nông nghiệp, trong 2 năm 2011-2012 Qua thống kê, đánh giá, phân tích, phân loại các yếu tố liên quan đến nông nghiệp để làm rõ tác động của báo in ĐBSCL Đánh giá hiệu quả thực tế của công chúng đọc báo ĐBSCL đối với các tác phẩm báo in, qua phương pháp phỏng vấn sâu trường hợp cụ thể, điển hình Đồng thời, đề ra giải pháp truyền thông cho các bài viết, chuyên trang, chuyên mục theo hướng gần gũi, sát thực và dễ hiểu đối với người nông dân Bởi đây là cơ sở thông tin quan trọng để người dân ĐBSCL tìm được giải pháp phù hợp canh tác hiệu quả, nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp Cụ thể là:
- Hệ thống các tác phẩm báo in liên quan đến nông nghiệp để so sánh, đánh giá mức độ, hiệu quả tác động
- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn, đề xuất các giải pháp cải tiến hình thức, nâng cao chất lượng nội dung
- Gợi ý các phương thức liên doanh, liên kết giữa báo in và doanh nghiệp, ngành nông nghiệp để đưa báo đến tay nông dân
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng những kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với hệ thống, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp và báo chí Trong quá trình tiến hành thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp sau đây:
- Phương pháp khảo sát tài liệu: được sử dụng để tiếp cận các giáo trình, các tài liệu và các công trình nghiên cứu của những người đi trước, rút ra những vấn
đề lý luận cần thiết
Trang 1111
- Kết hợp và vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: sưu tầm tài liệu, thống kê, phân loại, so sánh, hệ thống hóa các sự kiện để đánh giá thông tin và đưa
ra nhận xét Xử lý tư liệu kết hợp phân tích kết quả khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi sẽ thực hiện khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia nông nghiệp, lãnh đạo địa phương, tổng biên tập (hoặc phó tổng biên tập), các phóng viên chuyên trách mảng đề tài nông nghiệp, nông dân các địa phương khảo sát để thăm dò dư luận, phản hồi, thu thập các số liệu, ghi nhận
đánh giá hiệu quả tác động của báo in địa phương
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Trong dòng chảy truyền thông hiện đại, báo in ĐBSCL cũng có những đóng góp nhất định Thông qua đề tài luận văn, chúng tôi đưa ra cái nhìn cận cảnh hơn về hoạt động báo in, sự vận động tìm hướng đi riêng của từng cơ quan báo in trong xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt với các loại truyền thông khác ở khu vực này
Để đánh giá một cách thiết thực vai trò, tác động của báo in ĐBSCL đối với phát triển nông nghiệp, người viết luận văn mong rằng luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan truyền thông, tài liệu bổ ích tham mưu cho các cấp chính quyền định hướng phát triển báo chí phục vụ Nghị quyết NN-ND-NT hiện nay
Về lý luận, luận văn làm rõ vai trò của truyền thông trong mối tương quan
với sản xuất ngành nông nghiệp Sự vận động của báo in ĐBSCL thể hiện rất rõ trong những năm qua chính là không ngừng nâng cao vai trò, tác động trên mọi lĩnh vực đời sống, nhất là trong quá trình đưa nền nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Chứng minh xu hướng liên kết, liên doanh trong hoạt động kinh
tế của báo in là hướng đi tất yếu của truyền thông Vai trò của báo in trong giai đoạn
“bùng nổ” truyền thông tương tác, truyền thông đa phương tiện
Về thực tiễn, những đúc kết từ thực tế của luận văn phác thảo được rõ nét
tác động của báo in ĐBSCL để có thể đưa ra những mô hình truyền thông nông nghiệp tốt nhất có thể Mục đích cuối cùng là phục vụ nhu cầu của người nông dân,
Trang 127 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò, tác động của báo in với việc phát triển nông nghiệp ĐBSCL
Chương này trình bày đặc trưng và vai trò truyền thông của báo in; Sự vận động của báo in ĐBSCL trong bối cảnh truyền thông hiện đại; Một số đặc điểm công chúng của báo địa phương ĐBSCL
- Chương 2: Thực trạng tác động của các báo An Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long với việc phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL
Nội dung của chương này đi sâu phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực tế của tác phẩm báo in cụ thể Khái quát những thành công, hạn chế; các chuyên trang, chuyên mục, thể loại báo chí được sử dụng phục vụ cho nội dung nông nghiệp
- Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp để nâng cao hiệu quả của báo
in địa phương với việc phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL
Chương này đúc rút một số vấn đề đặt ra trong quá trình khảo sát; đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao vai trò, tác động của báo in với phát triển nông nghiệp ĐBSCL những năm tiếp theo
Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự chương, mục trên
Trang 1313
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ,
TÁC ĐỘNG CỦA BÁO IN VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP 1.1 Đặc trưng và vai trò truyền thông của báo in
Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, báo phát thanh, báo hình và báo mạng điện tử Truyền thông đại chúng là phương tiện chuyển tải thông điệp, thông qua hệ thống các kênh truyền thông tác động vào công chúng để thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm… nhằm lôi kéo và thuyết phục, tập họp và tổ chức công chúng tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra Hai khái niệm này trong thực tiễn gần như trùng khớp nhau
Về phương diện lý thuyết, truyền thông đại chúng là một trong những khái niệm cơ bản, chiếm vị trí trung tâm, nền tảng trong hệ thống lý luận báo chí – truyền thông nói chung Trên phương diện thực tiễn, truyền thông đại chúng đang được đang là một lực lượng xã hội rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội hàng ngày, trên phạm vi quốc gia, quốc tế, khu vực hay trong khuôn khổ gia đình
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, truyền thông ở bình diện tổng quát, được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao (thay đổi) nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng Bản chất xã hội của truyền thông là tương tác và chia sẻ, thực hiện những cuộc vận động
xã hội trên cơ sở tương tác bình đẳng giữa chủ thể và khách thể nhằm hướng tới mục tiêu chung vì lợi ích cộng đồng [7, tr.32] Truyền thông là một trong những kênh quan trọng nhất, thể hiện rõ nhất tính công khai, dân chủ hóa đời sống xã hội Các kênh truyền thông rất đa dạng, nhưng về cơ bản có các dạng thức như truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng [7, tr.33]
Trang 1414
Chính vì thế, yêu cầu quan trọng nhất của hoạt động báo chí – truyền thông
là góp phần thay đổi nhận thức của công chúng xã hội, làm cho nhận thức của nhân dân từ chưa đúng đến đúng đắn hơn, từ nông đến sâu, từ nhiều khác biệt đến nhiều tương đồng hơn… Và cuối cùng là thống nhất nhận thức, tạo ra đồng thuận để hình thành thái độ chung, niềm tin, ý chí làm cơ sở cho hành động của đông đảo quần chúng tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển Tạo lập, gây dựng niềm tin và ý chí cho hàng triệu người là mục tiêu quan trọng nhất của báo chí – truyền thông Trước hết là làm cho công chúng tin cậy vào cơ quan báo chí thông qua việc cung cấp thông tin nóng hổi, chân thực, nhiều chiều và hoạt động quan hệ công chúng một cách chuyên nghiệp Hiệu quả tác động của báo chí do đó cũng chịu sự chi phối, phụ thuộc của nhiều yếu tố, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; từ chủ quan đến khách quan… thể hiện theo các bình diện sau:
Thứ nhất, giao diện, tần suất và cường độ giao tiếp của công chúng với các
sản phẩm báo chí – truyền thông;
Thứ hai, năng lực tác động, khả năng chi phối của các ấn phẩm báo chí đối
với cộng đồng thông qua việc khơi nguồn, thể hiện – truyền dẫn, định hướng và điều hòa dư luận xã hội;
Thứ ba, mối quan hệ tác động phản hồi – quan hệ ngược (feedback) của công
chúng đối với các ấn phẩm báo chí cũng như thông điệp truyền thông;
Thứ tư, vai trò của báo chí – truyền thông trong việc xã hội hóa cá nhân,
trong việc hình thành, thể hiện diện mạo văn hóa cộng đồng cũng như góp phần hoàn thiện nhân cách mỗi con người
Thứ năm, khả năng thuyết phục, tập họp và tổ chức công chúng tham gia giải
quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra
Từ những phân tích trên đây cho thấy, mỗi loại hình báo chí cần chú ý khai thác những đặc trưng thế mạnh của mình trong vai trò phát huy sức mạnh của dư luận xã hội Riêng đối với báo in, thời gian qua đã làm rất tốt vai trò này của mình Thông qua việc khơi nguồn, tạo lập dư luận xã hội, phản ánh dư luận xã hội để từ
đó định hướng dư luận xã hội Cũng như các loại hình báo chí khác, báo in lấy dư
Trang 1515
luận xã hội làm nội dung, làm chất liệu phản ánh, vừa thông qua đó để định hướng
dư luận xã hội Dùng dư luận để giải thích, thuyết phục dư luận và để định hướng
dư luận là cách làm có sức hấp dẫn nhất của báo in
Báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất và là loại hình gốc của mọi loại hình báo chí sau này
Theo PGS.TS Đinh Văn Hường, báo in là tên gọi loại hình báo chí chuyển tải thông tin và hình ảnh trên giấy, được thực hiện bằng phương tiện kỹ thuật in và được phát hành rộng rãi trong xã hội Các ấn phẩm báo in gồm có: báo, tạp chí, phụ trương và bản tin
Định kỳ của báo in có nhiều mức độ khác nhau như: hàng ngày, hàng tuần Định kỳ của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và tương đối ổn định của sản phẩm báo Chu kỳ xuất hiện có ý nghĩa quan trọng đối với báo in vì nó quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm Nếu tính định kỳ của báo in bị phá vỡ có nghĩa là phá vỡ luôn cả thói quen mua (hay nhận) báo in vào giờ đó của người đọc và người đọc sẽ đi tìm phương tiện khác để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình
Sản phẩm báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội, từng loại báo, từng tờ báo in đều có đối tượng riêng Báo in địa phương ĐBSCL chủ yếu phục vụ đối tượng bạn đọc địa phương Nội dung thông tin trong các ấn phẩm đó mặc nhiên chỉ quan tâm chủ yếu đến đối tượng của mình Như vậy, mỗi một tờ báo in đều có công chúng khác nhau và công chúng thực hiện phương thức tiếp nhận theo những hướng khác nhau
Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ in, hình
vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ tĩnh Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung thông tin của tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc Sự đồng hiện của báo
in được thể hiện bằng những thông tin cùng xuất hiện đồng thời trên trang báo in, thông qua việc trình bày tổ chức trang báo, như: tên chuyên mục, tiêu đề, tít, sapô hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ, tranh ảnh, sơ
đồ, biểu đồ… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và sa-pô hấp dẫn hay
Trang 1616
cũng có thể do hình ảnh, biểu đồ minh họa gây ấn tượng Cũng chính vì vậy mà có thể nói sự đồng hiện thông tin của bài viết trên cùng một trang báo in là một trong những lợi thế nhất định của báo in Và đây cũng chính là lợi thế khi tiếp cận các vấn
đề nông nghiệp Vừa có chữ, vừa có hình ảnh, công chúng báo in ĐBSCL rất dễ hình dung để nắm bắt thông tin thời vụ, mô hình làm ăn hiệu quả, những hướng dẫn
kỹ thuật canh tác một cách chính xác Công chúng có thể cùng lúc lướt mắt trên toàn bộ bài báo và sau đó tìm những thông tin thú vị, bổ ích hoặc cần thiết cho mình Công chúng có thể đọc báo in bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và làm tài liệu lưu trữ trong nhiều năm, cũng như chia sẻ tư liệu dễ dàng cho người xung quanh
Từ phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc trưng sau:
Một là, công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác – giác
quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, vì vậy người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc đến việc chủ động
về tốc độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in cụ thể Buổi sáng người
ta có thể mua một tờ báo in của một cơ quan báo chí nào đó, đọc lướt qua các tin tức, bình luận quan trọng rồi chiều tối về nhà mới đọc tiếp những tờ báo dài và đáng quan tâm như phóng sự, phản ánh, tiểu luận, các loại bài ký, các truyện ngắn,… Khi đọc các tờ báo in, người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà khi đọc lần đầu họ chưa hiểu cặn kẽ Đặc trưng này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội dung sâu sắc, phức tạp Điều này giúp cho việc thông tin về nông nghiệp cho công chúng ĐBSCL trở nên thuận lợi bởi công chúng báo in có thể đọc đi đọc lại cho đến khi hiểu cặn
kẽ vấn đề Hơn nữa, báo in địa phương ĐBSCL còn là người bạn đồng hành của nhà nông, và như vậy, với một tờ báo in cầm trên tay, công chúng có thể vừa đọc vừa làm theo, học tập kinh nghiệm từ mô hình sản xuất, kinh nghiệm nhà nông trên báo thật dễ dàng
Hai là, vì sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá trình chủ
động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực
Trang 1717
của trí não Nhờ đó, khả năng ghi nhớ thông tin tăng, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện Chính vì vậy, báo in không chỉ thông tin phản ánh sự kiện, vấn đề, mà còn phân tích, đánh giá, định hướng có chiều sâu và thuyết phục công chúng bằng lý lẽ, dẫn chứng cụ thể
Ba là, việc lưu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với thói quen
của nhiều người đọc Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối với người đọc Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài (nguyên bản hoặc lưu giữ riêng những tin tức bài vở được quan tâm, dẫn liệu minh chứng trong các công trình nghiên cứu xã hội, lịch sử) Trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc trưng này giúp báo in
có lợi thế đặc biệt so với phát thanh và truyền hình Công chúng có thể lưu giữ bài báo lại để khi gặp tình huống tương tự nêu trên bài báo thì có thể đem ra xem lại Trong quá trình khảo sát thực tế, chúng tôi đã tiếp cận nhiều nông dân lưu trữ khá nhiều bài báo nêu kinh nghiệm, mô hình sản xuất đăng tải trên báo để dành làm tài liệu tham khảo Nhiều trường hợp, khi báo đăng một mô hình sản xuất hay, hiệu quả còn được nông dân sao chép và truyền tay nhau như một tài liệu tham khảo hữu dụng cho mình
Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có người biết chữ mới
có thể đọc báo và có những vấn đề, chỉ có những người có một trình độ học vấn nhất định mới có thể hiểu được Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có ưu thế hơn so với báo in khi mà hầu như tất cả các thành viên của xã hội bất kể trình độ văn hoá như thế nào đều có thể tiếp nhận thông tin do phát thanh, truyền hình mang lại
Việc phát hành báo in được thực hiện theo phương thức trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào phát triển hạ tầng giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo ở đó Ở nước ta, báo in chủ yếu chỉ được phát hành ở các thành phố, thị trấn đông dân cư, thuận lợi về giao thông đi lại Ở các địa phương xa trung tâm, báo in thường đến muộn, tin tức trở thành lạc hậu Vì thế ở khu vực này, ảnh hưởng của thông tin từ báo in rất hạn chế
Trang 18ưu thế
Trong quá khứ, báo in các tỉnh khu vực ĐBSCL ra đời trước, sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và báo in là phương tiện cực kỳ hữu hiệu, gần như duy nhất đóng vai trò cơ quan ngôn luận của Đảng, diễn đàn của nhân dân đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược của nước ta là: xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đi tắt đón đầu, xây dựng nước ta thành một quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với vai trò của khoa học công nghệ, văn hoá, giáo dục, thông tin trên báo in có vị trí hết sức quan trọng Thông tin trên báo in không chỉ cung cấp, phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí, cổ động và tổ chức phong trào cách mạng của nhân dân để thực hiện thành công mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, mà còn tham gia ngày càng trực tiếp và có hiệu quả vào việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta được tiến hành trong điều kiện tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã khiến nhu cầu của các đối tượng trong
xã hội về tiếp nhận và cung cấp thông tin ngày càng cao và đa dạng
Xu hướng hội tụ thông tin – viễn thông – tin học đang diễn ra mạnh mẽ là yếu tố tích cực tác động đến sự phát triển thông tin ở nước ta Báo in địa phương ĐBSCL cũng đã tận dụng xu hướng này để mở rộng phạm vi tác động, thu hút thêm đối tượng bạn đọc trong và ngoài nước
1.2 Báo in ĐBSCL trong bối cảnh truyền thông hiện đại
Trang 1919
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các tỉnh ĐBSCL sáp nhập địa giới hành chính còn 9 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Cửu Long, Hậu Giang, Minh Hải, Kiên Giang và Bến Tre Các tờ báo Đảng trở thành tuần báo,
8 trang, khổ A3, phát hành theo đường Bưu điện, số lượng từ 1.500 – 4.000 bản Thời kỳ bao cấp, tòa soạn có từ 30 – 50 cán bộ, phóng viên
Từ thập niên 90 của thế kỷ 20, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, các tỉnh ĐBSCL lại được chia tách địa giới hành chính, đến năm 2004 ĐBSCL có 12 tỉnh và
1 thành phố trực thuộc trung ương Hệ thống báo chí địa phương phát triển mạnh
mẽ về số lượng, chất lượng với chiến lược “Hội nhập và phát triển” báo in đã có những bước tiến rất xa
Các tờ báo in địa phương từ tuần báo đã nâng kỳ báo phát hành lên 3 – 5 kỳ/ tuần, riêng thành phố Cần Thơ có nhật báo Cần Thơ Chất lượng các tờ báo nâng lên cả nội dung lẫn hình thức, đội ngũ lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên, kỹ thuật viên được đào tạo và nâng cao tay nghề Các ấn phẩm báo in đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng của công chúng ĐBSCL
Trong bối cảnh truyền thông hiện đại, nhất là sự lớn mạnh của truyền hình và báo mạng điện tử, báo in ĐBSCL đang vận động hết sức mình để “Hội nhập và phát
triển” Năm 1992, các cơ quan báo chí trong tỉnh chủ yếu thực hiện 2 chức năng: Thông tin và tuyên truyền Hiện nay thực hiện có hiệu quả 4 chức năng: Thông tin, tuyên truyền, giải trí và phản biện [25, tr.3]
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ điện tử và tin học, không gian thông tin của báo chí ngày nay trên lý thuyết, đã không còn giới hạn Từng loại hình báo chí đã tìm ra lối đi riêng của mình, phát huy những lợi thế đặc thù để trụ vững trong lòng công chúng Trong cuộc cạnh tranh của các phương tiện truyền thông, cho thấy nhu cầu ngày càng cao của công chúng hiện đại đang được phục vụ tốt hơn Đặc biệt, sự xuất hiện của báo Điện tử trong các cơ quan báo in địa phương ĐBSCL, với 9/13 cơ quan báo in có phát hành báo điện tử, được ví như “cánh tay nối dài” của báo in địa phương
Trang 2020
Bảng 1.1: CÁC ẤN PHẨM CỦA 13 CƠ QUAN BÁO IN Ở ĐBSCL
STT Tên báo
Số lƣợng
ấn phẩm
Tên ấn phẩm
Ghi chú
Nhật báo
Báo kỳ trong tuần
Báo cuối tuần
Số kỳ phát hành/
Tờ báo Khmer ngữ
3
Báo Đồng Khởi
5 Báo
Cần Thơ 3 x Cần Thơ Online
Tờ báo Khmer ngữ
6 Báo
Đồng Tháp 3 x x 3
Đồng Tháp Online
kỳ
10 Báo
Tờ báo Khmer ngữ
12 Báo
Tờ báo Khmer ngữ
13 Báo
Vĩnh Long 3 x x 5 Vĩnh Long Online
Trang 21Vấn đề đổi mới nội dung, hình thức của tờ báo được lãnh đạo các cơ quan báo chí đặc biệt quan tâm Hầu hết các tờ báo địa phương hiện nay đều có đội ngũ
kỹ thuật phụ trách trình bày, làm cho hình thức tờ báo đẹp và hấp dẫn hơn Ví dụ, ma-két của Báo Vĩnh Long ngày càng thoáng đẹp, hiện đại Báo Cà Mau, An Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Kiên Giang in màu 4 trang, đặc biệt trang nhất được trình bày
ấn tượng với tít tựa, hình ảnh, bài “đinh” Nhật báo Cần Thơ có sự thay đổi rất lớn
về khổ báo: “Từ ngày 1/1/2011 Báo Cần Thơ chính thức đổi từ khổ: 42cm x 57cm,
8 trang hiện nay sang khổ: 29cm x 41cm, 16 trang (Giấy phép sửa đổi, bổ sung số 1722/GP- BTTTT, do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 15-11-2010) Cùng với việc đổi khổ mới, Báo Cần Thơ tiến hành cải tiến, điều chỉnh nội dung một số trang mục để đáp ứng yêu cầu thông tin đa dạng đến bạn đọc” (Thông báo của Ban Biên tập trên Báo Cần Thơ, số ra ngày 15/12/2010)
Báo Vĩnh Long chính thức tăng lên 5 kỳ/ tuần (phát hành vào thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu và chủ nhật) song song cải tiến, điều chỉnh toàn diện tờ báo từ ngày 1/3/2012 Đặc biệt, mảng đề tài nông nghiệp được tăng cường với việc xây
dựng các chuyên trang, chuyên mục như: Nông nghiệp, Nông thôn mới, Nhịp sống mới, Trang huyện thành, Nông dân tìm hiểu, Câu chuyện nông thôn…
Ông Phạm Hoàng Khải – Tổng biên tập Báo Vĩnh Long, nói rằng:
Vĩnh Long là tỉnh thuần nông, xuất phát điểm là kinh tế nông nghiệp và nông thôn địa bàn tỉnh nằm ở trung tâm ĐBSCL hay còn được mệnh danh là “Miệt vườn” Trước và sau năm 1975 công nghiệp của tỉnh chiếm tỉ trọng rất nhỏ và cũng chỉ có các cơ sở xay xát, chế biến lúa, gạo, khoai, bắp; ngành cơ khí thì cũng chủ
Trang 22Cũng thời điểm này, Báo An Giang phát hành 5 kỳ/ tuần, từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần, 12 trang, 4 trang màu Xác định An Giang là một tỉnh lúa, cá, NN-ND-NT là quan trọng nhất, nên Báo An Giang giành riêng trang 3 chuyên về nông
nghiệp trên mỗi số báo, chuyên trang “Phát triển cánh đồng mẫu lớn” thứ tư hàng tuần, chuyên trang “Xây dựng nông thôn mới” thứ sáu hàng tuần, An Giang là tờ
báo có lượng phát hành lớn nhất khu vực ĐBSCL với 10.500 tờ/ kỳ Là tờ báo tạo được mối liên doanh, liên kết với nhiều doanh nghiệp quảng bá thương hiệu, sản phẩm, với nhà khoa học phổ biến kiến thức, kỹ thuật nông nghiệp, với nông dân chia sẻ kinh nghiệm sản xuất
Có lượng phát hành thấp so với các tờ báo khác ở ĐBSCL, khoảng 2.200 tờ/
kỳ, tháng 8/2012, Báo Đồng Tháp tổ chức Hội nghị Công tác phát hành để tìm kiếm giải pháp tăng lượng phát hành, đưa tờ báo tới các chi bộ trong toàn tỉnh và để “đưa báo ra thị trường” Vấn đề khắc phục nội dung thông tin đơn điệu theo báo cáo, thiếu đề tài phát hiện chuyên sâu và cải tiến hình thức tờ báo đã được đề cập tại Hội nghị này Sức ép đó buộc Ban lãnh đạo Báo Đồng Tháp phải đổi mới, bước đầu đã đổi giấy in báo sang giấy trắng chất lượng tốt hơn từ tháng 7/2012, đồng thời đẩy mạnh quảng bá rộng rãi cho tờ báo, ví dụ ở các bến xe, bến phà đều có băng rôn kêu
gọi “Hãy đọc và quảng bá Báo Đồng Tháp”
Ông Phạm Hữu Hoàn – Phó Tổng biên tập Báo Đồng Tháp, xác nhận:
Tin, bài trên Báo Đồng Tháp còn nhiều hạn chế do một số phóng viên có hiện tượng chạy theo số lượng, ít chú ý nghiên cứu, đầu tư nâng cao chất lượng để tạo hiệu ứng xã hội tốt Nội dung tổng thể còn thiếu sinh động và nặng nhiều về chính trị Phóng viên yếu về chuyên môn, nghiệp vụ Phạm vi thông tin bó hẹp trong địa bàn tỉnh, nên chưa thu hút bạn đọc
Trang 2323
Do đó, ngoài chức năng thông tin, tuyên truyền theo tôn chỉ, mục đích của tờ báo Đảng, báo in địa phương cũng phải nắm bắt thị hiếu công chúng, nhu cầu của thị trường – đó là vấn đề đặt ra không chỉ cho Báo Đồng Tháp, mà cho tất cả các cơ quan báo in ĐBSCL
Ngoài nhật báo Cần Thơ có lợi thế thông tin rộng khắp ĐBSCL, thì Báo Vĩnh Long đã sớm hướng nội dung thông tin ra khu vực, với những tuyến bài điều tra, phóng sự, ký sự rất được dư luận chú ý và là kênh tham khảo cho lãnh đạo tỉnh Cũng như Báo Vĩnh Long chủ nhật, Báo Cà Mau cuối tuần, đều có chuyên trang:
Thời sự, Nhịp sống đồng bằng, Du lịch, Phóng sự - ký sự… đề tài mang tính khu
vực Nhất là về lĩnh vực nông nghiệp, giúp độc giả nâng cao tri thức, có cái nhìn rộng mở hơn về đời sống văn hóa miền sông nước, tình hình sản xuất, mô hình canh tác tốt, làm ăn hiệu quả… bên ngoài địa phương mình Trong khi đó, các tờ báo còn lại đều gói gọn phạm vi thông tin của mình trong địa giới hành chính tỉnh nên rất thiếu những bài viết phân tích, đánh giá, chứng minh thuyết phục công chúng
Ông Tân Văn Ngữ - Tổng biên tập Báo An Giang, nhận định:
Báo in về lâu dài sẽ phải cạnh tranh khốc liệt với các loại hình báo chí khác Nhưng theo tôi, báo in ĐBSCL vẫn phát triển trong vài chục năm nữa Vì nhiều người vẫn duy trì thói quen đọc để nghiên cứu, thư giãn, giải trí Báo in còn là tài liệu lưu giữ dễ dàng Vẫn là kênh thông tin, tư vấn – chỉ dẫn người nông dân tiếp cận kỹ thuật, tiến bộ khoa học công nghệ hiệu quả Nhiều bài báo trở thành cẩm nang sản xuất của họ, người này truyền tay người kia, nên có sức lan tỏa sâu và rộng Để phát huy thế mạnh đó, báo in phải khai thác tốt đối tượng công chúng là nông dân - đây là đối tượng rất tiềm năng, phải phản ánh thực tế sinh động, gần gũi đời thường, thiết thân với người nông dân
Trong quá trình khảo sát thực hiện luận văn, chúng tôi phát hiện báo chí ĐBSCL có xu hướng vận động rất đặc biệt, tạm gọi là “đột biến” của báo chí ĐBSCL để tạo nên sức mạnh báo chí mới, thể hiện qua các bình diện sau đây:
Vận dụng về kỹ thuật: Đã có lúc người ta lầm tưởng khi báo điện tử ra đời
với khả năng thông tin đa phương tiện, đó cũng là lúc phát thanh, truyền hình và cả
Trang 2424
báo in đi vào hồi cáo chung Nhưng với thế mạnh truyền thống của mình (độ tin cậy, nội dung sâu…), báo in, phát thanh và truyền hình không hề bị suy giảm ảnh hưởng trong xã hội, thậm chí vẫn phát triển mạnh mẽ Kỹ thuật in ấn có nhiều tiến
bộ, trình bày thoáng theo các báo hiện đại, thời gian đưa thông tin rút ngắn…
Vận dụng về phương tiện truyền thông hiện đại: nguồn khai thác thông tin
phong phú hơn nhờ công cụ internet, các trang thiết bị kỹ thuật cho phóng viên, biên tập viên hiện đại hơn
Vận dụng về nguồn nhân lực: đã được qua đào tạo chuẩn hóa, tiếp xúc và
học tập nhiều với báo chí hiện đại
1.3 Khái lược 3 tờ báo được khảo sát
1.3.1 Báo An Giang
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ngày 20/5/1975, bộ phận Thông tấn - Báo chí thuộc Ban Tuyên huấn Long Châu Hà cho ra mắt tờ tin đầu tiên với măng -sét “Tin tức Long Châu Hà” gồm 2 trang khổ giấy A4 Ngày 19/8/1975, tờ tin
“Long Châu Hà” chính thức trở thành tuần báo, với 4 trang khổ 29 x 41 cm Năm
1976, tờ báo “Long Châu Hà” đổi tên thành Báo An Giang do ông Trần Thu Đông làm Tổng Biên tập Dù người ít, phương tiện nghiệp vụ còn rất thô sơ lại hoạt động trên địa bàn rất rộng gồm 11 huyện, thị (bao gồm cả huyện Hòn Đất, thị xã Hà Tiên, huyện Phú Quốc, huyện Châu Thành của tỉnh Kiên Giang ngày nay, và cả huyện Vĩnh Thạnh, quận Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ ngày nay), nhưng Báo An Giang đã hoàn thành tốt vai trò thông tin tuyên truyền, phản ánh và định hướng dư luận trong chiến tranh biên giới bảo vệ tỉnh nhà Báo An Giang đóng góp rất lớn vào việc cải tạo đồng ruộng, tăng nhanh sản lượng lương thực để vượt qua cảnh thiếu đói, làm nghĩa vụ tiền tuyến và cả nước
Giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ bao cấp sang thời kỳ đổi mới 1986 -1990, nền kinh tế đất nước có nhiều đổi mới sau Đại hội VI của Đảng, nền kinh tế- xã hội của tỉnh nhà cũng chuyển biến tích cực Báo An Giang đã khởi động với khí thế mới, phản ánh nhiều chiều, phát hành rộng rãi ra dân từ 5.000 tờ/kỳ/tuần tăng lên
Trang 2525
10.000 tờ/kỳ, với 2 kỳ/tuần và từ 4 trang trắng đen tăng lên 8 trang, in 2 màu Từ
đó, Báo An Giang đã thực sự trưởng thành và phát triển toàn diện
Về hình thức, Báo An Giang từ 4 trang trắng đen nâng lên 8 trang, 2 màu, rồi
12 trang (4 trang in 4 màu, 8 trang in 2 màu) phát hành định kỳ từ 1 kỳ/tuần lên 2 kỳ/tuần, 3 kỳ/tuần rồi 4 kỳ/tuần và hiện nay 5 kỳ/tuần (phát hành liên tục từ thứ hai đến thứ sáu) Số lượng phát hành từ 2.000 tờ/kỳ tăng lên 5.000 tờ, 8.000 tờ, rồi 10.500 tờ/kỳ, phát hành đến 100% chi, Đảng bộ và các nông dân giỏi, các vùng nông thôn Năm 2011, Báo An Giang phát hành 254 kỳ báo, số lượng gần 2,5 triệu
tờ, tiếp tục là 1 trong 10 tờ báo Đảng có số lượng phát hành cao nhất cả nước Năm
2012, Báo An Giang giữ vững 10.500 tờ/ kỳ, cả năm đạt trên 2,6 triệu tờ
Bên cạnh báo in, Báo An Giang điện tử (ra mắt từ ngày 15/9/2008) hoạt động tương đối hiệu quả với lượng truy cập khoảng 30.000 lượt/ ngày, là báo điện tử được truy cập nhiều nhất ở ĐBSCL
và là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long và cửa ngõ vùng Đồng Tháp Mười với 2 sông lớn sông Tiền và sông Hậu chảy qua
Kỳ tích của Đồng Tháp là đã nỗ lực khai thác có hiệu quả tài nguyên trên vùng đất của mình, biến điểm bất lợi là đất ngập nước, chua phèn thành lợi thế riêng
để vùng đất hoang hoá Đồng Tháp Mười trở thành tỉnh sản xuất lúa có sản lượng đứng thứ ba trong vùng Mỗi năm, Đồng Tháp đóng góp hơn 2 triệu tấn lúa (trên 80% lúa chất lượng cao) cho nhiệm vụ an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu Đồng thời, đạt nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và đang chuẩn bị điều kiện để tăng tốc trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Những
Trang 26Đồng Tháp thành lập (tháng 3/1976), Báo Cờ Giải Phóng đổi tên thành Báo Đồng
Tháp Từ đây đánh dấu một dấu mốc quan trọng đối với Báo Đồng Tháp là từ phát không chuyển sang bán Từ 4 trang in trắng đen, số lượng vài trăm tờ/kỳ đến năm
2000 báo nâng lên 8 trang, 2 màu, phát hành 2 kỳ/tuần Toà soạn phát triển thêm nhiều phòng chuyên môn Hiện nay báo có 12 trang, 2 màu
Từ năm 2011, Báo Đồng Tháp tăng kỳ phát hành lên 3 kỳ/ tuần, số lượng 2.200 tờ/ kỳ (giảm 10% so với năm 2010) Từ đầu tháng 7/2012, Báo Đồng Tháp có
sự thay đổi khá lớn về chất lượng sang giấy trắng Báo điện tử Đồng Tháp có số lượng truy cập hơn 10.000 lượt/ ngày
Hình thức và nội dung tờ báo cải tiến ngày một tốt hơn, mở rộng mạng lưới phát hành Tuy nhiên, vấn đề nâng cao chất lượng thông tin trên báo, cải tiến hình thức, chủ động công tác phát hành… đang trở thành áp lực đối với những người làm Báo Đồng Tháp Một trong những áp lực đó là làm sao để tăng lượng phát hành lên
gấp đôi so với hiện nay Theo Đề án nâng cao chất lượng Báo Đồng Tháp sẽ thực
hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức bộ máy biên chế và tài chính Đến năm 2015, kinh phí nhuận bút có 60% từ nguồn thu quảng cáo
Hạn chế lớn nhất của Báo Đồng Tháp, là không có chuyên trang, chuyên mục về nông nghiệp
1.3.3 Báo Vĩnh Long
Năm 1992, sau khi Báo Cửu Long được chia tách thành Báo Vĩnh Long và Báo Trà Vinh, Báo Vĩnh Long hoạt động trong điều kiện rất thiếu về phương tiện, trang thiết bị đến lực lượng cán bộ, phóng viên Xác định nhiệm vụ là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền, là diễn đàn của nhân dân trong tỉnh, Báo Vĩnh Long càng nâng cao trách nhiệm, tích cực thực hiện tốt hơn công tác tuyên truyền các chủ
Trang 27Từ những năm 2000 đến nay, hoạt động rất nổi bật của Báo Vĩnh Long là thông qua chương trình “Tiếp sức thương binh”, Báo Vĩnh Long đã vận động được
16 lượt đơn vị hỗ trợ đời sống 191 lượt thương binh nặng có hoàn cảnh khó khăn, với tổng số tiền gần 1 tỷ đồng
Báo Vĩnh Long vẫn đứng vững trên thị trường và giữ vững được số lượng phát hành hàng kỳ chứng tỏ uy tín của Báo Vĩnh Long đối với bạn đọc Hiện nay Báo Vĩnh Long đã tự chủ từ 35 - 40% kinh phí Với 5 kỳ báo phát hành/ tuần và là một trong số ít tờ báo ở ĐBSCL có mặt trên các sạp báo địa phương và có độc giả mua báo
Năm 2011, Báo Vĩnh Long tăng kỳ phát hành lên 5 số báo/ tuần Không chỉ tăng kỳ phát hành, cập nhật thông tin nhanh chóng và kịp thời, Báo Vĩnh Long còn không ngừng cải tiến về quy trình kỹ thuật, như tin học hóa khâu nhập dữ liệu, chế bản tại tòa soạn Thời gian phát hành báo cũng rút ngắn, các xã, phường ở các huyện đều có báo trong buổi sáng hoặc trong ngày Báo Vĩnh Long phát hành đến 100% xã, phường, thị trấn, 100% ấp, khóm trong tỉnh Ngoài kênh phát hành ủy nhiệm qua bưu điện, tòa soạn tổ chức phát hành trực tiếp cho đại lý bán báo lẻ tại thành phố Vĩnh Long và các huyện với số lượng chiếm 30% tổng lượng phát hành mỗi kỳ
Trang 2828
Tháng 3/2012, Báo Vĩnh Long thực hiện điều chỉnh giá bán từ 1.000 đồng
lên 2.000 đồng/tờ Trang điện tử Vĩnh Long Online, bình quân 19.000 lượt người
truy cập mỗi ngày
1.4 Đặc điểm công chúng địa phương ĐBSCL
ĐBSCL gồm có thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, có mức đóng góp khoảng 18% GDP của cả nước Nói đến ĐBSCL là nói đến NN-ND-NT Đây là vùng trọng điểm về nông nghiệp với lúa gạo và thủy sản ĐBSCL nắm giữ vai trò quan trọng an ninh lương thực quốc gia và đóng góp cho an ninh lương thực thế giới ĐBSCL chiếm khoảng 1/5 dân số và quy mô kinh tế cả nước Tuy nhiên, ĐBSCL đến nay vẫn được coi là vùng phát triển thấp nhất về giáo dục, đào tạo và dạy nghề so với cả nước
Theo số liệu Điều tra Dân số của Tổng cục Thống kê, đến năm 2010, ĐBSCL có 17,27 triệu người, chiếm 19,97% dân số cả nước Tỷ lệ dân số ở nông thôn toàn khu vực chiếm khoảng 77% dân số khu vực (theo điều tra dân số năm 2009) Các số liệu kinh tế trong vùng cho thấy, các tỉnh có tỷ lệ dân số ở nông thôn rất cao như Bến Tre (90%), Vĩnh Long và Trà Vinh (85%), Tiền Giang 87% ĐBSCL là khu vực tốc độ đô thị hóa chậm nhất nước
Theo Tổng cục Thống kê trong Điều tra mức sống năm 2010, thì thu nhập bình quân một tháng của một nhân khẩu vùng ĐBSCL là 1.247.000 đồng, so cả nước là 1.387.000 đồng (chỉ bằng 90%)
Trong cuộc điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ dân số chưa tốt nghiệp của ĐBSCL là 32,8% cao nhất so các vùng Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học là 35,6% cũng cao nhất so các vùng Nhưng tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông lại thấp nhất Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông là 10,7% so với Trung du và miền núi phía Bắc là 18%, đồng bằng sông Hồng là 30%
Ở trình độ đào tạo chuyên môn từ sơ cấp, trung cấp đến đại học ĐBSCL cũng nằm ở tỷ lệ thấp nhất Chẳng hạn, với đại học, ĐBSCL có tỷ lệ là 2%, so với 2,7% của Trung du và miền núi phía bắc, và 6,3% của vùng đồng bằng sông Hồng
Trang 2929
Trong danh sách 15 tỉnh, thành phố có vị trí cao nhất về học vấn, không có tỉnh nào của ĐBSCL, ngay cả thành phố Cần Thơ là thành phố duy nhất trong 5 thành phố trực thuộc trung ương không nằm trong danh sách nói trên
Ở ĐBSCL tỷ lệ chưa đi học đến tốt nghiệp tiểu học chiếm đến 67%, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình cả nước là 43% ĐBSCL có tỷ lệ nghèo khá cao (12,6%), mức thu nhập trung bình cũng thấp hơn so cả nước
Giữa thu nhập, học vấn và thời gian làm việc trong các ngành có mối quan
hệ với nhau Trình độ học vấn thấp chủ yếu là làm trong nông nghiệp và nằm ở nhóm thu nhập thấp Ở các nhóm thu nhập thấp thời gian làm việc trong nông nghiệp nhiều 55 – 57%, thời gian làm việc trong công nghiệp, xây dựng vào khoảng 15%, và dịch vụ dưới 10% Nhưng ở nhóm thu nhập cao, thời gian làm việc trong nông nghiệp khoảng 20%, làm công nghiệp và xây dựng khoảng 25 – 30%, làm việc trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 30% Ở ĐBSCL phần lớn thời gian làm việc là trong nông nghiệp 50%, công nghiệp, xây dựng khoảng 18%, và dịch vụ 18%
Kết quả khảo sát năm 2010 về mức sống dân cư thì tỉ lệ hộ nghèo của ĐBSCL năm 2010 còn ở mức 12,6%, so với đồng bằng sông Hồng là 8,4% và trung bình cả nước là 14,2%
Từ những đặc điểm trên đây cho thấy, nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng ĐBSCL là cao hơn các khu vực khác
Trình độ dân trí nói chung và chất lượng nguồn nhân lực sản xuất nông nghiệp trong vùng còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Thực trạng trên cho thấy vấn đề NN-ND-NT ở ĐBSCL hiện nay là rất bức xúc, cần có những giải pháp để đẩy mạnh sự phát triển của NN-ND-NT khu vực Do đó, vai trò truyền thông của báo in trong định hướng, tìm kiếm giải pháp góp phần giúp người nông dân nâng cao trình độ sản xuất, phát triển nền nông nghiệp bền vững là vô cùng lớn
Có thể thấy, nông dân là lực lượng nghèo nhất nước, trình độ học vấn thấp và chiếm tỷ lệ cao trong dân số Việt Nam
Năm 2008, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết 26/TW về vấn đề NN-ND-NT, nêu rõ: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng
Trang 3030
giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp
Đảng ta cũng khẳng định: NN-ND-NT có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
Các vấn đề NN-ND-NT phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa NN-ND-NT, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân
Từ đây, đặt ra nhiều yêu cầu bức xúc không chỉ để giải quyết vấn đề tam nông, mà còn là vai trò truyền thông trong NN-ND-NT của báo chí nói chung, của các tờ báo in địa phương ĐBSCL nói riêng
Trang 3131
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã phác thảo bức tranh tổng thể của báo chí ĐBSCL, cho thấy sự vận động tích cực của nó trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay Báo chí đã vận dụng tối đa ưu thế, cũng như nắm bắt công nghệ hiện đại để không ngừng đổi mới và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công chúng Nhất
là đối với báo in địa phương, sự cạnh tranh mạnh mẽ của các loại hình báo chí khác buộc báo in phải thay đổi rất nhiều về hình thức lẫn nội dung thể hiện
Những đặc trưng cơ bản của loại hình báo in và một số nét về các tờ báo An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long cũng đã được trình bày
Từ thực trạng NN-ND-NT ở ĐBSCL, cho thấy nông dân là lực lượng chiếm
số đông, tuy nhiên do sống ở khu vực nông thôn, việc phân phối báo in gặp nhiều trở ngại nên số lượng nông dân được tiếp cận với báo in rất hạn chế Thực tế, ở các tỉnh ĐBSCL, nhiều tờ báo địa phương chưa quan tâm nhiều đến đối tượng này Bên cạnh một số tờ báo làm rất tốt mảng đề tài nông nghiệp với chuyên trang, chuyên mục thường kỳ như Báo An Giang, Báo Vĩnh Long; thì Báo Đồng Tháp mảng đề tài
về NN-ND-NT được gộp với các mảng đề tài khác và gọi chung là “Kinh tế” Do vậy, các bài viết về nông nghiệp thiếu đầu tư chuyên sâu, không gây chú ý và vô hình trung Báo Đồng Tháp đã bỏ lỡ lĩnh vực thông tin rất quan trọng này
Từ những vấn đề được nêu ra trong chương 1, có thể thấy, nông dân ĐBSCL đang ở trình độ dân trí thấp, cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu, điều kiện canh tác khó khăn và chưa được tiếp cận nhiều với KHKT nông nghiệp Họ vẫn còn canh tác theo tập quán, theo kinh nghiệm là chính Bên cạnh đó, lực lượng được đào tạo căn bản về KHKT nông nghiệp ở nước ta chưa nhiều nên việc phổ biến kiến thức KHKT nông nghiệp đến với nông dân vô cùng hạn chế
Báo in địa phương đã và đang làm như thế nào để phát huy vai trò, tác động hiệu quả vào phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL?
Trang 3232
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC BÁO AN GIANG, ĐỒNG THÁP VÀ VĨNH LONG VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1 Vai trò của báo in với việc phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL
2.1.1 Vai trò định hướng của báo in trong phát triển nông nghiệp
2.1.1.1 Báo in góp phần định hướng quy hoạch vùng sản xuất
Sản xuất nông nghiệp kém bền vững, chưa có quy hoạch và kế hoạch trong sản xuất, chưa điều phối được cung cầu nên thường xuyên xảy ra hiện tượng trúng mùa – mất giá; xuất khẩu tăng, nhưng thu nhập nông dân thấp và môi trường ô nhiễm ngày càng trầm trọng Gặp nhiều rủi ro trong sản xuất Dịch bệnh và thiên tai thường xuyên xảy ra Báo in ĐBSCL đã sớm nhận diện nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung
Hiện việc trồng rau màu nói riêng cũng như định hướng sản xuất nông nghiệp nói chung, chúng ta vẫn chỉ xây nhà từ nóc Điều đầu tiên có thể nhận định là hầu hết các vùng trồng màu hiện nay (chủ lực là hai huyện Chợ Mới, An Phú) bà con chỉ trồng màu theo tập quán, không theo dự báo tình hình tiêu thụ, nhu cầu thị trường từng thời điểm cụ thể Hiện nay, kể cả bà con chuyên canh màu tại các huyện An Phú, Chợ Mới cũng chỉ trồng theo cảm tính còn đầu ra thì khi nào đến mùa thu hoạch hảy hay Việc trồng trọt chỉ dừng lại mức độ đón gió, dựa vào kinh nghiệm còn thông tin chính thống từ thị trường thì rất ít nông dân được trang bị
(Nguồn: Báo An Giang, số ra ngày 24/5/2011) Trong khi người nông dân là tác giả của “công trình đưa Việt Nam trở thành
và giữ vững vị trí thứ 2 thế giới của một “cường quốc xuất khẩu gạo”, thì đời sống của họ lại luôn bị đe dọa bởi những yếu tố bất ổn định Điều kiện để quy hoạch một vùng chuyên canh tập trung quy mô lớn sản xuất nông sản là phải gắn kết cả 3 khâu: sản xuất, chế biến và tiêu thụ, trong đó người nông dân chỉ lo khâu sản xuất với giá
cả và sản lượng được xác định trước Với vai trò của mình, báo in đã đưa ra thông điệp: Nếu quy hoạch mà không gắn với việc tổ chức lại nền sản xuất phù hợp cơ chế
Trang 3333
thị trường thì việc quy hoạch cũng “chỉ dừng lại ở mức đón gió”, là ý muốn chủ
quan của nhà nước mà thôi
2.1.1.2 Báo in góp phần định hướng liên kết vùng, liên kết 4 nhà trong sản xuất nông sản hàng hóa
Báo in địa phương ĐBSCL đã nổ lực tuyên tuyền việc xây dựng và triển khai Chương trình liên kết vùng ĐBSCL trong lĩnh vực nông nghiệp, là một trong những giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn bền vững Vì: thị trường không có biên giới giữa các tỉnh và liên kết vùng là giải pháp tạo thế và lực để các tỉnh có cùng chung một mặt hàng sản xuất có thể liên kết lại và đầu tư theo chiều sâu nhằm tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập vào sâu WTO
Báo An Giang, số ra ngày 26/7/2011, chỉ ra rằng:
Có thể nói chuỗi liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản hiện nay là rất mong manh Đây là hệ lụy của kiểu làm ăn “ăn xổi ở thì”, mua bán cắt khúc không gắn lợi ích giữa người sản xuất và các nhà chế biến, phân phối; nông dân luôn là đối tượng dễ bị tổn thương, chỉ một nhóm kinh doanh được hưởng lợi Chuyện đường cát giảm giá bán mạnh ở các kho của doanh nghiệp, nhưng giá bán ngoài chợ vẫn cao Tương tự, heo hơi có lúc rớt giá thê thảm nhưng giá bán ở các chợ vẫn cao Đây cũng là nguyên nhân do chưa có sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Cách làm thiếu căn cơ nên đến bây giờ gạo Việt Nam xuất khẩu vẫn không
có thương hiệu danh tiếng Với hệ thống sản xuất và tiêu thụ gạo “mạnh ai nấy làm” khiến gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn luôn thua kém gạo Thái Lan, chất lượng không ổn định, mất uy tín trên thị trường quốc tế
Vì thế, Báo Vĩnh Long ngày 20/2/2012, đúc kết:
Trước nay nông dân sản xuất ra nông sản hàng hóa nhưng lại không quyết định giá bán Nhà nước chủ trương “liên kết 4 nhà” nhưng nông dân vẫn mãi quẩn quanh với việc khi có giá thì không có hàng, khi vào mùa lại chật vật tìm cách hỗ trợ, tiêu thụ Vì vậy, để tận dụng được lợi thế giá nông sản tăng, cần có những chính sách hợp lý Về lâu dài, cần tập trung xây dựng nền nông nghiệp công nghệ
Trang 3434
cao, phát triển hạ tầng nông thôn, thu hút đầu tư - nhân lực vào nông nghiệp Việc hình thành chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ hiện nay trở nên cấp bách Việc hình thành chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ không chỉ giảm các tầng nấc trung gian mà còn là “giấy xác nhận” an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng Việc thắt chặt liên kết “4 nhà” sẽ giúp mục đích khắc phục khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ, nâng cao năng suất và giá trị nông sản
2.1.1.3 Báo in góp phần định hướng sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế
Trên báo in địa phương ĐBSCL nhấn mạnh: sản xuất theo tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế là hướng đi tất yếu của hàng hóa nông sản Phải nhanh chóng khắc phục những hạn chế của hàng nông sản xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh, làm tốt công tác
xây dựng thương hiệu và quảng bá tiếp thị
Mô hình Cánh đồng mẫu lớn từ khi đi vào ứng dụng thí điểm đã mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững, giải quyết tốt vai trò phát triển khách quan của quy trình sản xuất lúa hiện đại Ưu điểm của Cánh đồng mẫu lớn là: bảo đảm lịch thời vụ gieo sạ đồng loạt theo từng vùng, áp dụng quy trình sản xuất theo hướng thực hành tốt (GAP) trên cơ sở các kỹ thuật đã được ứng dụng mở rộng như:
“3 giảm – 3 tăng”, “1 phải – 5 giảm”, ghi chép nhật ký đồng ruộng cùng sự sát sao của các kỹ sư nông nghiệp (Báo Vĩnh Long, số ra ngày 4/9/2012)
Từ những đúc kết thực tiễn, báo in đã khẳng định: Nông dân ĐBSCL nhất thiết phải được tập họp, tổ chức lại theo mô hình sản xuất phù hợp một cách tự nguyện, chủ động theo hướng làm ăn lớn, ổn định và phải hình thành cho được mối liên kết “nhiều nhà” bền chặt, có sự phân công theo thế mạnh chuyên môn, theo sở trường để được hỗ trợ vốn, kỹ thuật Quan trọng hơn là sản phẩm phải có được thương hiệu, đủ sức cạnh tranh không chỉ trên thương trường quốc tế mà ngay cả trên sân nhà (Báo Đồng Tháp, số ra ngày 22/7/2011)
Báo in đã góp phần xây dựng định hướng việc sản xuất nông nghiệp từng bước mang tính ổn định và bền vững Cụ thể, ở An Giang là sản xuất lúa theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, ở Đồng Tháp, Vĩnh Long xây dựng được vùng cây ăn
Trang 35Cụ thể, cách đây hơn 2 thập kỷ, để thực hiện chương trình 1 triệu hec-ta lúa chất lượng cao xuất khẩu, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu - nguyên Viện trưởng Viện Lúa đã mạnh dạn cùng đồng nghiệp đề xuất thử nghiệm giống lúa mới OM Với 2% ban đầu, sau 5 năm, đã mở rộng lên tới hơn 30% diện tích toàn vùng Thành công này thật sự là bước đột phá, để giờ đây, nói đến ĐBSCL là phải nói tới vựa lúa của cả nước Viện Lúa cũng đã “dẫn đường” cho hạt giống OM đi xa hơn Đã xuất ngoại sang các vùng Nam Á, Campuchia, Myanmar Thậm chí, qua tới… Châu Phi theo đường “xách tay” của Thầy Xuân” Đó là chương trình chuyển giao công nghệ trồng lúa của Giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng Xuân tại Châu Phi, mà Viện Lúa cũng đang cho chuyên gia tham gia giảng dạy
(Nguồn: Báo Vĩnh Long Xuân 2012) Báo in địa phương đóng vai trò truyền thông, không chỉ ca ngợi thành tích, mà
qua đó động viên, cỗ vũ người dân tăng cường ứng dụng các tiến bộ KHKT Làm sao để đưa những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến vào hoạt động sản xuất nông nghiệp? Giống cây trồng, vật nuôi làm sao tăng khả năng thích nghi, năng suất, chất lượng ổn định và đồng nhất? Đó là trăn trở rất lớn của những người làm báo ĐBSCL, vì khi giải quyết được vấn đề này, ĐBSCL mới thoát khỏi tụt hậu
và thoát nghèo Hiện nay, báo in vẫn tiếp tục đồng hành cùng ngành nông nghiệp, tích cực đưa ứng dụng các tiến bộ KHKT vào nông nghiệp để khắc phục những tồn tại đó
2.1.1.5 Báo in góp phần định hướng ứng dụng cơ giới hóa sản xuất
Trang 3636
Việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế, năng suất lao động thấp, chi phí đầu tư cao, các dịch vụ cơ khí đi theo dịch vụ này kém phát triển, đời sống bà con nông dân ở nông thôn còn nhiều khó khăn Đó cũng
là trăn trở trên trang báo in khu vực này
Mỗi năm có khoảng 1 triệu tấn lúa ở ĐBSCL bị thất thoát, tương đương với khoảng 5% tổng lượng lúa thu hoạch Các chuyên gia đã tính toán, chuỗi thất thoát
đã làm giảm giá trị của xuất khẩu gạo Việt Nam khoảng 500 triệu USD Chính phủ, người nông dân đã nhận ra vấn đề và đang nỗ lực làm giảm đi phần thất thoát và tăng thêm giá trị hạt gạo trong vùng Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Trồng trọt, tiến trình đưa cơ giới hóa vào vẫn còn chậm Thu hoạch bằng cơ giới của toàn vùng chỉ chiếm khoảng 40% diện tích Trong đó, Vĩnh Long 80%, Long An và Sóc Trăng khoảng 70%, Cà Mau và Bến Tre khoảng 5%; năng lực sấy lúa cho vụ hè thu hiện vẫn còn rất thấp, bình quân chỉ khoảng 23%-25% sản lượng”
(Nguồn: Báo An Giang, số ra ngày 15/7/2011)
Báo in không ngừng tác động vào nhận thức của nông dân, kiểu “mưa dần
thấm lâu”: Nếu đồng ruộng được cơ giới hóa thì chất lượng lúa sẽ đồng đều hơn
nhờ thu hoạch kịp thời và đúng độ chín Mặt khác nếu thu hoạch thủ công tỷ lệ hao hụt sẽ từ 5 đến 8%, còn thu hoạch bằng máy cao lắm chỉ 3%, có nghĩa là ruộng 10 tấn lúa nếu cắt bằng máy thì nông dân tránh được tổn thất từ 200 đến 500 kg lúa
(Báo Vĩnh Long, số ra ngày 16/3/2011) Quy trình sản xuất hiện nay còn mang tính tập quán, lạc hậu không thống nhất trong sản xuất, chủ yếu sử dụng sức lao động con người, làm cho năng suất không cao, chi phí đầu tư lớn Thực tế cho thấy, giải bài toán cơ giới hóa cho nông nghiệp không phải là việc làm một ngày, một bữa mà đòi hỏi phải có thời gian Đó cũng là nhiệm vụ truyền thông lâu dài, cực kỳ quan
trọng của báo in địa phương
2.1.1.6 Báo in góp phần phát hiện và nhân rộng mô hình sản xuất mới Báo An Giang rất thành công trong việc truyền thông cho “Cánh đồng mẫu lớn”
Đây là mô hình đang được nhân rộng khắp các tỉnh ĐBSCL và cả nước Nhiều nhà khoa học nhận định, với mô hình cánh đồng mẫu lớn là tiền đề để xây dựng vùng
Trang 3737
lúa nguyên liệu, vùng chuyên canh lúa Việc quy hoạch lại đồng ruộng, diện tích rộng, gieo sạ đồng loạt… rất cần thiết và rất thích hợp với việc ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa Qua đó, giảm công lao động, đảm bảo tính thời vụ, giảm thất thoát sau thu hoạch (Báo An Giang, số ra ngày
29/08/2012)
Đó là thành công của mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” đã được các chuyên gia nông nghiệp, nhà khoa học đánh giá rất cao và trở thành hướng đi tất yếu trong sản xuất lúa hàng hóa Làm thay đổi tập quán sản xuất của người trồng lúa, sử dụng giống xác nhận, áp dụng quy trình tiên tiến Không còn cảnh sạ chay, dưỡng chét, mạnh ai nấy làm mà thay vào đó là 100% đất được cày sâu, xới kỹ, xuống giống đồng loạt, hình thức sạ tay được thay hẳn bằng máy sạ hàng Nhờ vậy thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp dễ dàng, lúa trúng mùa cao hơn trước đây gần 2 tấn, được thương lái mua tại ruộng
Những mô hình không chỉ phản ánh đời sống sản xuất sinh động của người nông dân, mà còn lồng ghép trong đó kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, kinh nghiệm thực tiễn từ chính các mô hình Vai trò tư vấn, chỉ dẫn và phổ biến tiến bộ KHKT của báo in thông qua các mô hình là rất hiệu quả
Từ hiệu quả trên đây cho thấy, báo in địa phương ĐBSCL đã phát huy vai trò
định hướng đối với phát triển nông nghiệp ĐBSCL, đưa ra các giải pháp tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản theo tiêu chuẩn GAP, cũng như
đề xuất các giải pháp hỗ trợ từ chính sách của nhà nước Dù mật độ thông tin trên 3
tờ báo khác nhau, nhưng có chung mục đích đóng góp cho nền nông nghiệp phát triển bền vững, hỗ trợ tích cực hơn cho nông dân
2.2 Phương thức tác động của báo in để phát huy vai trò trong phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL
2.2.1 Kết cấu và hình thức các chuyên trang, chuyên mục
(*) Báo An Giang
- Chuyên trang Cùng nông dân ra đồng (trang 3): xuất hiện đều đặn trên mỗi kỳ báo, thực hiện với sự tài trợ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang
Trang 3838
và Công ty BVTV An Giang Kết cấu chuyên trang gồm: bài viết chính về nông
nghiệp kèm ảnh, chuyên mục khuyến nông, bên cạnh thông báo lịch cúp điện, mục mua sắm Nhưng từ số tân niên 8/2/2012, chuyên trang có thêm tin vắn (2-3
tin) và loại bỏ các mục không liên quan đến nông nghiệp Từ đây, chuyên trang tập trung chuyên sâu đề tài nông nghiệp Bài chính thường chiếm khoảng ½ trang, từ
700 – 900 chữ, nội dung phản ánh đời sống sản xuất của nông dân, thông tin phong phú và đa dạng về nông nghiệp, thường có 1 ảnh minh họa Các chuyên mục:
+ Tin vắn: về mùa vụ, tình hình sản xuất ở các địa phương trong tỉnh, mô
hình làm ăn hiệu quả… trình bày dọc góc trái
+ Khuyến nông: chiếm hơn ¼ trang, cố định ở góc phải cuối trang, đóng vai
trò tư vấn, chỉ dẫn, khuyến cáo nông dân, nội dung thường gắn với mùa vụ, tình hình sản xuất của nông dân, với sự xuất hiện thường xuyên của các kỹ sư, chuyên gia ngành nông nghiệp Chuyên mục này thường do đơn vị tài trợ thực hiện Đôi khi còn lồng ghép giới thiệu những sản phẩm thuốc BVTV của doanh nghiệp Chuyên mục là cẩm nang hữu ích cho nông dân, bám sát tình hình sản xuất, những vấn đề phát sinh trong sản xuất để kịp thời tư vấn, hướng dẫn, khuyến cáo Có thể coi đây
là diễn đàn để nông dân học hỏi, trao đổi kinh nghiệm
- Chuyên trang Phát triển cánh đồng mẫu lớn (trang 4): ra ngày thứ hai hàng
tuần, do Công ty Ngọc Tùng tài trợ Chuyên trang thường chỉ có 1 bài viết chính và
1 ảnh minh họa nằm ở ½ trang trên, còn ½ trang dưới đăng phần tiếp theo của các tin, bài trang 1 Nội dung các bài viết chủ yếu quảng bá cho hoạt động liên kết của doanh nghiệp với nông dân thực hiện “Cánh đồng mẫu lớn”
- Chuyên trang Phát triển nông – thủy sản (trang 4): ra ngày thứ sáu hàng
tuần với sự tài trợ của Công ty Việt An (Anvifish) Thường chỉ có một bài báo kèm
1 – 2 ảnh chiếm ½ trang trên, ½ trang dưới đăng phần tiếp theo các tin, bài trang 1 Nội dung về sản xuất nông – thủy sản, về phương thức canh tác mới, giống cây trồng, vật nuôi… có tính định hướng, dự báo
- Ngoài ra, thông tin nông nghiệp còn được thể hiện dưới nhiều hình thức Tỷ suất tin, bài liên quan đến nông nghiệp rất cao so các nội dung khác
Trang 39chung vào chuyên trang Kinh tế với: công nghiệp, thương mại, dịch vụ, ngân
hàng… nên các bài viết chuyên sâu về nông nghiệp rất hiếm Tin, bài về nông nghiệp thường được đăng tải rải rác ở nhiều trang khác nhau
Chuyên trang Kinh tế thường có từ 2 – 3 bài, 500 – 700 chữ, có 2 – 4 ảnh, với
kích cỡ nhỏ và không có tin Chuyên trang này ra ngày thứ hai hàng tuần có chuyên
mục Tam nông Tuy nhiên, chuyên mục này không tập trung nội dung về
NN-ND-NT, mà có cả nội dung “hàng Việt về nông thôn”, “chống hàng gian, hàng giả”…
Từ ngày 20/5/2012, báo cho ra mắt chuyên trang Xây dựng nông thôn mới,
ra ngày thứ hai hàng tuần ở trang 8, là chuyên trang về nông nghiệp – nông thôn đầu tiên trên Báo Đồng Tháp Chuyên trang phản ánh bộ mặt nông thôn ngày nay, với những nỗ lực của chính quyền địa phương, các đoàn thể và nhân dân chung tay xây dựng nông thôn mới; những phương thức sản xuất mới, đặc biệt là khuyến khích nông dân xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn”, liên kết sản xuất Thường có 2 - 3 bài kèm ảnh, chia đều trên trang báo Không có tin hay chuyên mục nào khác xuất hiện ở chuyên trang này
Các chuyên mục như: Chuyện nông thôn ra ngày thứ tư hàng tuần (trang 8), Chuyên mục Kinh nghiệm làm ăn (trang 7) xuất hiện từ ngày 23/5/2012, nội dung
bao quát mọi mặt đời sống ở nông thôn Do không có chuyên trang về nông nghiệp, những chuyên mục này nằm rải rác và không gây được chú ý
Theo nhận xét của chúng tôi, việc bố trí chuyên trang, chuyên mục trên báo Đồng Tháp không hợp lý, là một tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp, có sản lượng lúa lớn ở khu vực ĐBSCL, chăn nuôi thủy sản rất phát triển nhưng không có chuyên trang nông nghiệp là một hạn chế của tờ báo Tờ báo chưa đi sâu vào NN-ND-NT, chưa làm tốt chức năng tham mưu cho lãnh đạo một tỉnh thuần nông
Trang 4040
(*) Báo Vĩnh Long
Chuyên trang Nông nghiệp (trang 9): ra định kỳ vào thứ ba hàng tuần, thường
có 1 bài 700 – 900 chữ kèm ảnh minh họa, bố trí khoảng ½ trang, ½ trang còn lại là các chuyên mục và có từ 1 – 2 tin về tình hình sản xuất nông nghiệp Số báo ra ngày thứ ba cũng là số chủ đề nông nghiệp, nên ngoài bài “đinh”, còn có nhiều tin, bài liên quan đến nông nghiệp xuất hiện Nội dung bài viết rất đa dạng, không chỉ phản ánh tình hình thời sự sản xuất, mà còn có nhiều bài viết đi sâu phân tích, đánh giá những vấn đề phát sinh của ngành nông nghiệp Ngoài còn có các chuyên mục nhỏ:
+ Nhà nông tìm hiểu: xuất hiện đều đặn theo hình thức hỏi đáp, khoảng 300
chữ Giải đáp thắc mắc của nông dân về kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi, phòng trừ dịch hại, cây – con giống, lịch mùa vụ,…
+ Chuyện làm ăn: Giới thiệu mô hình, cách làm ăn hiệu quả của nông dân
Thường được viết ngắn khoảng 200 chữ Nhưng xuất hiện không thường xuyên
- Chuyên trang Nông thôn mới (trang 5): ra ngày thứ tư hàng tuần, nội dung
tuyên truyền vận động cho chính sách “Tam nông” xây dựng nông thôn mới Cấu trúc khá giống chuyên trang Nông nghiệp với 1 bài chính (khoảng 800 chữ, có 1 – 2
ảnh), 1 – 2 tin về tam nông và chuyên mục Câu chuyên nông thôn
+ Câu chuyện nông thôn: khá thú vị với lối viết dí dỏm, khoảng 400 chữ
Ngôn ngữ gần gũi đời thường, nội dung nói về chuyện xóm ấp, đối nhân xử thế của người nông dân Phê bình lối tư duy làm ăn cũ nhẹ nhàng mà sâu sắc
- Chuyên trang Khuyến nông và thị trường (trang 9), ra ngày thứ tư hàng
tuần với sự tài trợ của Trung tâm khuyến nông tỉnh Vĩnh Long Nội dung thông tin đăng tải trên báo giúp cho địa phương có cơ sở dữ liệu về thông tin khuyến nông, thị trường, kịp thời chỉ đạo sản xuất Chuyên trang chỉ xuất hiện trong năm 2011
- Bên cạnh các chuyên trang, chuyên mục cố định, các tin, bài về tam nông cũng thường xuyên góp mặt ở nhiều chuyên trang, chuyên mục khác của tờ báo với những góc tiếp cận đa chiều về tam nông
Tóm lại, qua việc xây dựng và kết cấu chuyên trang, chuyên mục các tờ báo
dần định hình tính khuynh hướng chuyên sâu cho tờ báo Xu hướng vận động tích