1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình truyền hình địa phương đồng bằng sông Cửu Long

108 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình … luận lẫn thực tiễn đối với hoạt động của các đài TH trong khu vực ĐBSCL, cũng như công tác quản lý và định hướng phát triển loạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS DƯƠNG XUÂN SƠN

TP Hồ Chí Minh 11-2006

Trang 2

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

- ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

- BCTH: Báo chí truyền hình

- TH: Truyền hình - PT-TH: Phát thanh – Truyền hình

- THVN: Truyền hình Việt Nam

- THCT: Tuyền hình Cần Thơ

- THVL: Truyền hình Vĩnh Long - THĐT: Truyền hình Đồng Tháp

- KTXH: Kinh tế – xã hội

- CTXH: Chính trị – xã hội

- KTTT: Kinh tế thị trường

- DVQC: Dịch vụ quảng cáo

- QC: Quảng cáo

- CMCĐ: Chuyên mục-chuyên đề

- THTT: Truyền hình trực tiếp

- BVTV: Bảo vệ thực vật

Trang 3

MỤC LỤC

-Lời cam đoan……… 02

-Lời cảm ơn……… 03

- Bảng chữ viết tắt……… 04

- Mục lục……… 05

MỞ ĐẦU ………07

CHƯƠNG I: Vài nét về sự hình thành và phát triển lọai hình báo chí truyền hình khu vực ĐBSCL I Sự ra đời và vai trò của đài truyền hình Cần Thơ………15

II Sự ra đời của đài truyền hình Đồng Tháp lần thừ nhất

và ý nghĩa của nó……… 20

III Sự ra đời của đài Truyền hình Vĩnh Long……… 24

CHƯƠNG II: Đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình truyền hình địa phương ĐBSCL, khảo sát qua đài truyền hình Vĩnh Long

I Khái niệm về chất lượng của báo chí………36

II Chương trình truyền hình và vấn đề chất lượng

của chương trình truyền hình……….38

III Quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình của đài truyền hình Vĩnh Long………48

Trang 4

CHƯƠNG III: Hiệu quả chương trình truyền hình địa phương

ĐBSCL, khảo sát qua đài truyền hình Vĩnh Long

I Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả họat động báo chí……… 75

II Những điều kiện khách quan góp phần nâng cao hiệu quả

họat động của lọai hình báo chí truyền hình ĐBSCL và đài

Trang 5

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình

mà đã có đến 14 đài truyền hình, bao gồm Trung tâm sản xuất chương trình truyền hình Việt Nam (THVN) tại Cần Thơ và 13 đài truyền hình địa phương trực thuộc UBND các tỉnh Vì vậy sự cạnh tranh để thu hút khán giả giữa các đài trong vùng luôn diễn ra hết sức quyết liệt Trong bối cảnh đó, truyền hình Vĩnh Long (THVL) mặc dù ra đời sau một số đài bạn, nhưng đã nhanh chóng vươn lên thành một đài mạnh của khu vực Thể hiện trên nhiều phương diện Bên cạnh các chương trình giải trí – thể thao phong phú, hấp dẫn, đài còn rất chú trọng đến việc khai thác các chương trình khoa học – kỹ thuật, phổ biến kiến thức Mặt khác vẫn luôn đảm bảo giữ vững tôn chỉ, mục đích của mình bằng cách không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình chính trị – xã hội (CTXH), từ chương trình thời sự, đến các chuyên mục, chuyên đề (CM-CĐ) Đặc biệt, đài THVL còn được xác định là một trong những đài có nguồn thu dịch

vụ quảng cáo (DVQC) lớn trong hệ thống các đài truyền hình cả nước Kết quả này là điều kiện hết sức thuận lợi để đài tăng cường các hoạt động xã hội, góp phần nâng cao uy tín chính trị, đồng thời tái đầu tư phát triển sự nghiệp ngày càng vững mạnh Và dĩ nhiên trong quá trình tự mày mò đi lên ấy, THVL vẫn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết cần phải được điều chỉnh, sửa đổi để phát triển toàn diện và bền vững hơn, trước sự vận động và biến đổi không ngừng của đời sống xã hội, cũng như đời sống báo chí Do đó việc nghiên cứu, làm rõ những yếu tố nào đã giúp cho THVL lớn mạnh, và đâu là những hạn chế, yếu kém của đài thời gian qua là điều rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý

Trang 6

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình

luận lẫn thực tiễn đối với hoạt động của các đài TH trong khu vực ĐBSCL, cũng như công tác quản lý và định hướng phát triển loại hình báo chí TH nói chung, của Đảng và Nhà nước trong thời gian tới

1.1 Ý nghĩa lý luận:

Mặc dù đến nay những luận điểm cơ bản về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng nói chung, và của loại hình BCTH nói riêng đã được rút kết và hệ thống hóa tương đối hoàn chỉnh bởi các nhà nghiên cứu lý luận báo chí

nhiều thế hệ Song, trước những thay đổi nhanh chóng về mọi mặt của đời sống

xã hội, do sự nghiệp đổi mới đất nước mang lại, những luận điểm ấy tất yếu phải được tiếp tục điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp Cụ thể ở đây là những quan điểm mới cần được xác lập về hoạt động của báo chí địa phương, mà trước hết là TH, một bộ phận quan trọng của hệ thống báo chí quốc gia, đã và đang có những đóng góp hết sức tích cực vào việc chỉ đạo phát triển kinh tế-xã hội (KTXH) của Đảng và nhà nước ở khắp mọi nơi

1.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Bên cạnh những vấn đề lý luận, đề tài này còn có khả năng góp phần làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề thực tiễn đang được đặt ra một cách hết sức bức xúc trong hoạt động của loại hình BCTH tại các địa phương, mà nhất là trong điều kiện đặc thù của ĐBSCL hiện nay Như, liệu các đài truyền hình địa phương có thể đứng vững trong cơ chế kinh tế thị trường (KTTT) mà không bị rơi vào xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích? Hay, liệu có quá lãng phí cho ngân sách nhà nước khi phải đầu tư xây dựng và phát triển các đài truyền hình địa phương như một số người đã nghĩ? Hay, sự tồn tại của các đài truyền hình địa phương ở ĐBSCL có thật sự cần thiết? Và muốn giữ vững tôn chỉ, mục đích, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đài truyền hình các tỉnh ĐBSCL cần phải họat động như thế nào? định hướng phát triển ra sao? Đây sẽ là những căn

Trang 7

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình

cứ hết sức quan trọng giúp cho những người làm công tác quản lý báo chí có được cái nhìn tòan diện và chính xác hơn về vị trí, vai trò của các đài truyền hình địa phương khu vực ĐBSCL trong hệ thống báo chí cả nước Từ đó mà hình thành những định hướng phát triển đúng đắn và bền vững hơn cho hoạt động của loại hình BCTH trong thời gian tới

II Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Mục tiêu chủ yếu của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm làm rõ những quan điểm và biện pháp chỉ đạo của Ban lãnh đạo đài Phát thanh - truyền hình Vĩnh Long đối với việc xây dựng và nâng cao chất lượng chương trình TH, nhằm tạo ra khả năng thu hút khán giả một cách mạnh nhất, trong điều kiện mà

sự cạnh tranh khán giả giữa các đài TH hiện có ở ĐBSCL diễn ra ngày càng quyết liệt Đồng thời thông qua những kết quả mà đài THVL đã đạt được trên nhiều phương diện họat động, đề tài sẽ chứng minh cho tính đúng đắn của những quan điểm và biện pháp chỉ đạo đó, nhằm đảm bảo cho hoạt động của đài không

bị chệch hướng trước những tác động mang tính hai mặt của cơ chế KTTT Ngoài ra, đề tài nghiên cứu cũng sẽ phân tích làm rõ những mặt còn hạn chế, yếu kém mà đài THVL cần phải tiếp tục đổi mới, để sớm khắc phục, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình, góp phần xứng đáng vào sự phát triển bền vững của lọai hình BCTH khu vực ĐBSCL

III Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài này không nghiên cứu toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của đài THVL từ khi được thành lập đến nay, càng không kể lể những thành tích

mà đài đã đạt được trong suốt thời gian đó, mà chủ yếu là tập trung nghiên cứu

về những nỗ lực của BLĐ đài PT-TH Vĩnh Long trong việc cải tiến, nâng cao chất lượng chương trình TH theo hướng ngày càng hấp dẫn, bổ ích hơn đối với công chúng, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường thu hút quảng cáo, nâng cao

Trang 8

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình

không ngừng nguồn thu dịch vụ của đài hàng năm Trên cơ sở đó đẫy mạnh các họat động xã hội, từ thiện để vừa hỗ trợ cho tỉnh thực hiện một số mặt công tác mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, vừa tự nâng cao uy tín của đài trong lòng khán giả gần xa Ngòai ra, khi cần thiết phân tích làm rõ những điểm khác biệt giữa đài THVL với các đài TH trong khu vực, đề tài cũng sẽ mở rộng liên hệ, đối chiếu với một số đài bạn lân cận, mà chủ yếu là trung tâm THVN tại Cần Thơ (CVTV), đài PT-TH thành phố Cần Thơ (CT43) và đài THĐT (THĐT), Bởi đây

là các kênh TH được công chúng quan tâm nhiều ở ĐBSCL, và có khả năng cạnh tranh với đài THVL mạnh nhất

Về giới hạn thời gian, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu những nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đài THVL từ năm

2000 đến năm 2004 mà thôi Bởi đây là giai đoạn mà các chương trình và thời lượng phát sóng của đài đã được hình thành tương đối hoàn chỉnh Nguồn thu từ DVQC đã được nâng lên khá cao, đủ để khẳng định sự vượt trội so với các đài

TH bạn trong cùng khu vực Các hoạt động xã hội từ thiện đã được đài thực hiện khá nhuần nhuyễn, đạt hiệu quả cao, tạo được tiếng vang lớn trong lòng công chúng Các lọai trang thiết bị và trình độ nghiệp vụ của lực lượng phóng viên, biên tập viên cũng đã được nâng lên tương đối đồng đều Đặc biệt là từ năm

2002 đài THVL còn được UBND tỉnh quyết định cho chuyển sang thực hiện thí điểm mô hình sự nghiệp có thu, tự cân đối tài chính cho đơn vị, kể cả các đài truyền thanh – truyền hình huyện thị

IV Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận chung của chủ nghĩa Mac – Lê nin, và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, đã được các nhà nghiên cứu hệ thống hóa, cụ thể hóa thành những cơ sở lý luận cơ bản về họat động báo chí trong xã hội ta Đồng thời cũng bám sát những quan điểm chỉ đạo

Trang 9

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình

cụ thể của Đảng và Nhà nước đối với báo chí trong thời kỳ đổi mới của đất nước hiện nay Thể hiện qua những chỉ thị, nghị quyết mới nhất Lấy đó làm thước đo cho mọi hoạt động thực tiễn của đài THVL nói riêng và lọai hình BCTH nói chung trong khu vực ĐBSCL thời gian qua Ngòai ra, để có sự phân tích, đánh giá một cách đúng đắn, khách quan hiệu quả của những hoạt động ấy, với đầy đủ những luận cứ, luận chứng trước khi đưa ra những luận điểm khoa học về các vấn đề mà yêu cầu nghiên cứu đề tài đặt ra, đề tài còn vận dụng tổng hợp các phương pháp khoa học khác, như phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu, cũng như phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp phỏng vấn sâu, thông qua những nguồn dữ liệu cơ bản sau:

+ Các báo cáo kết quả hoạt động thực tế của đài THVL

+ Số liệu thống kê của tỉnh Vĩnh Long và một số tỉnh ĐBSCL + Kết quả nghiên cứu chỉ số khán giả của TNS - Taylor Nelson Sofres International Market research – Cơ quan nghiên cứu thị trường toàn cầu của nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam, còn gọi là TNS Media Vietnam Được thực hiện trên địa bàn TP Cần thơ, một trong 4 thị trường nghiên cứu khán giả và thị phần truyền hình mà cơ quan này chọn nghiên cứu trên tòan lãnh thổ Việt Nam (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp.Hồ Chí Minh Cần Thơ)

+ Kết quả điều tra nông dân về nhận thức, niềm tin và tập quán sinh họat trong nông thôn Do Trung tâm BVTV phía Nam thực hiện

+ Kết quả phỏng vấn nông dân về phát thanh môi trường tại TP Cần Thơ

Do Trung tâm BVTV phía Nam thực hiện

+ Kết quả điều tra khán giả bằng bảng hỏi của người viết luận văn

+ Phỏng vấn sâu một số cán bộ lãnh đạo, cán bộ hưu trí, những người quan tâm, am hiểu về các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngòai tỉnh

V Lịch sử nghiên cứu đề tài:

Trang 10

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình

Không như các dạng đề tài khác, đề tài nghiên cứu về báo chí địa phương nói chung, trong đó có truyền hình, là dạng đề tài luôn mang tính 2 mặt: vừa cũ vừa mới Do đây là dạng đề tài đã từng được nhiều người thực hiện, nhưng không thể có chuyện trùng lắp lẫn nhau Bởi lẽ mỗi đài truyền hình địa phương đều có đặc điểm, và điều kiện hoạt động riêng Quan điểm xây dựng chương trình, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, và khả năng đầu tư rất khác nhau nên hiệu quả đạt được chắc chắn cũng sẽ không giống nhau Đó là chưa kể mỗi đề tài đều

có mục tiêu, nhiệm vụ và góc độ nghiên cứu riêng Điều đó cho thấy bất kỳ lúc nào những đề tài nghiên cứu về báo chí địa phương, bao hàm cả loại hình BCTH, cũng đều có vị trí độc lập của nó Cụ thể như đề tài này cũng vậy Thời gian qua cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về BCTH khu vực ĐBSCL, mà gần đây nhất

có thể kể đến như đề tài: “Nâng cao chất lượng tin tức thời sự sản xuất tại đài Truyền hình Cần Thơ” – Luận văn thạc sĩ báo chí năm 2004 của Lâm Thiện Khanh, hay đề tài: “Tổ chức sản xuất chương trình thời sự truyền hình ở đài PT-

TH Đồng Tháp” – Luận văn thạc sĩ báo chí năm 2005 của Dương Thị Thanh Thủy, cùng được thực hiện tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Mặc dù cả hai đều nghiên cứu về BCTH khu vực ĐBSCL, nhưng chỉ tập trung vào thể loại tin tức thời sự, mà chủ yếu vẫn là hoạt động thông tin thời sự của Trung tâm THVN tại Cần Thơ và đài Truyền hình Đồng Tháp (THĐT) Vì vậy, đề tài “Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình truyền hình địa phương ĐBSCL” cho đến lúc này vẫn tuyệt nhiên mới mẻ Bỡi phạm vi nghiên cứu bao quát hơn so với hai đề tài vừa nêu Đồng thời lại được khảo sát qua đài THVL là chính Ở đây nếu có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước, thì đó cũng chẳng qua là một

số cơ sở lý luận và kinh nghiệm nghiên cứu mà thôi

VI Kết cấu của luận văn:

Trang 11

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng & Hiệu quả chương trình

Luận văn gồm có phần mở đầu, phần kết luận và 3 chương chính, được

kết cấu theo trình tự sau:

Phần mở đầu

Chương I: vài nét về sự hình thành và phát triển của lọai hình báo chí

truyền hình khu vực ĐBSCL

I Sự ra đời và vai trò của đài Truyền hình Cần Thơ (THCT)

II Sự ra đời của đài Truyền hình Đồng Tháp (Lần thứ nhất) và ý nghĩa

của nó

III Sự ra đời của đài Truyền hình Vĩnh Long (THVL)

Chương II: Đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình truyền hình địa

phương ĐBSCL, khảo sát qua đài Truyền hình Vĩnh Long

I Chất lượng và chất lượng của báo chí

II Chương trình truyền hình và chất lượng của chương trình truyền hình III Quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình của đài

Truyền hình Vĩnh Long

Chương III: Hiệu quả chương trình truyền hình địa phương ĐBSCL, khảo

sát qua đài Truyền hình Vĩnh Long

I Hiệu quả và hiệu quả hoạt động báo chí

II Những điều kiện khách quan góp phần nâng cao hiệu quả họat động

của báo chí truyền hình ĐBSCL và đài THVL

III Một số hiệu quả họat động cụ thể của đài THVL

Phần kết luận

Trang 12

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

Chương Một

VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LỌAI HÌNH BÁO CHÍ TRUYỀN HÌNH KHU VỰC ĐBSCL

I Sự ra đời và vai trò của đài Truyền hình Cần Thơ:

1.1 Những điều kiện và yêu cầu khách quan:

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những đồng bằng châu thổ rộng, phì nhiêu của Đông Nam Á và thế giới Ngày nay vùng đất này bao gồm 12 tỉnh và 1 thành phố là: Long An; Tiền Giang; Vĩnh Long, Bến Tre; Đồng Tháp; Trà Vinh; Hậu Giang; Sóc Trăng; Bạc Liêu; An Giang, Kiên Giang; Cà Mau và thành phố Cần Thơ Có diện tích đất tự nhiên 39.712 km2 , chiếm trên 12% diện tích cả nước Dân số gần 17 triệu người, chiếm 22% dân

số cả nước Đây là một vùng đất đa dân tộc và đa tôn giáo

Về dân tộc, bên cạnh dân tộc Kinh chiếm trên 90%, ở ĐBSCL còn có khỏang 6,5% đồng bào dân tộc Khmer, sống tập trung ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang Còn lại là người Hoa, và một ít người Chăm

Về tôn giáo, ĐBSCL là nơi có nhiều hệ phái và tổ chức tôn giáo tồn tại đan xen với nhau, như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo … Riêng người Khmer, tuyệt đại đa số theo đạo Phật tiểu thừa, người Chăm theo đạo Hồi

Trong lịch sử, do âm mưu chia rẽ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, cùng mưu đồ cá nhân của một số chức sắc tôn giáo, khu vực này đã từng xảy ra những mâu thuẫn, xung đột dân tộc và tôn giáo khá gay gắt, thậm chí đổ máu

Tuy nhiên, nhìn chung nhân dân ĐBSCL rất giàu truyền thống cách mạng, hầu hết các tỉnh đều có những người con ưu tú của quê hương tham gia cách mạng từ thời thành lập Đảng Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 nhân dân ĐBSCL là bộ phận quan trọng của lực lượng quần chúng dưới sự

Trang 13

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

lãnh đạo của Đảng, đứng lên đấu tranh giành chính quyền Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp nhân dân ĐBSCL cũng đã đóng góp xứng đáng về sức người, sức của để cùng nhân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch

sử, lật đổ hòan tòan ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ ở Đông Dương Nhất là trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dù phải trải qua biết bao gian khổ, hy sinh, nhân dân ĐBSCL vẫn một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Với những điều kiện kinh tế, xã hội khá đặc biệt, và truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất vốn có của nhân dân ĐBSCL mà trong suốt cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam trước đây, song song với việc đàn áp các phong trào cách mạng của quần chúng bằng quân sự, chủ nghĩa thực dân mới Mỹ còn hết sức chú trọng đến các họat động chiến tranh chính trị, tuyên truyền mị dân, nhằm giành lấy “trái tim, khối óc” của người dân nơi đây

Đó chính là động lực chủ yếu thúc đẩy sự ra đời khá sớm của lọai hình báo chí truyền hình trên vùng đất này, mà cụ thể là sự ra đời của đài Truyền hình Cần Thơ (THCT)

1.2 Sự ra đời của đài Truyền hình Cần Thơ:

Trước năm 1968, mặc dù ở ĐBSCL chưa có đài truyền hình nào, nhưng trên thực tế họat động của lọai hình BCTH đã thực sự tồn tại trong khu vực, do

Mỹ – ngụy cho lấy chương trình của đài Truyền hình Sài Gòn đưa lên máy bay phát sóng phủ xuống Từ năm 1967 Mỹ – ngụy bắt đầu cho xây dựng đài Truyền hình Cần Thơ, và đến tháng 11 năm 1968 mới phát sóng chính thức, đánh dấu sự xuất hiện của BCTH trong vùng Tuy ra đời sau, nhưng ngay từ đầu đài THCT đã có công suất phát sóng 25KW và cột ăng-ten cao ngang bằng với đài Truyền hình Sài gòn Đây là công suất phát hình lớn nhất lúc bấy giờ,

Trang 14

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

và chênh lệch đáng kể so với các đài truyền hình đương thời khác (Như các đài Truyền hình: Huế, Quy Nhơn, Nha Trang đều chỉ có công suất 5KW)

1.2.1 Vai trò của đài Truyền hình Cần Thơ

ª Trước năm 1975:

Tại sao Mỹ lại đầu tư xây dựng đài THCT với công suất lớn và vượt trội

so với các đài truyền hình khác và tương đương với đài Truyền hình Sài Gòn, trong khi dân số và diện tích Cần Thơ nhỏ hơn Sài Gòn rất nhiều? Trước hết,

do Cần Thơ là thành phố nằm ngay trung tâm ĐBSCL, vùng đất vốn có sông rạch chằng chịt, nên việc khai thác truyền hình, đặc biệt là truyền hình công suất lớn, sẽ phát huy được hiệu quả kỹ thuật và kinh tế rất cao Bởi điều kiện trên cho phép đài được phát sóng đẳng hướng cho tòan khu vực, với bán kính cách đều trung tâm 150Km, mà không hề gặp phải cản ngại nào Nhờ vậy sóng

TH từ Cần Thơ, phía Bắc có thể tới Long An, phía Nam có thể tới Cà Mau, Đông đến ven biển, và Tây có thể tới tận Campuchia Điều này cho thấy rõ, ngay từ khi mới thành lập đài THCT đã được xác định không phải chỉ để phục

vụ cho khán giả Cần Thơ, mà cho cả khu vực ĐBSCL, với mục tiêu số một là tuyên truyền chính trị

Quả thật, xem xét thời điểm thành lập càng cho phép khẳng định mục tiêu chính trị của nó Đó là thời kỳ Mỹ tích cực chuẩn bị triển khai chiến lược

“Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam Trong đó các thủ đọan tuyên truyền chính trị đã được đặc biệt coi trọng Bằng chứng là sau khi đài THCT ra đời, Mỹ-ngụy đã cho xây dựng hàng lọat các điểm xem truyền hình công cộng ở đều khắp các xã, ấp trong khu vực ĐBSCL Áp dụng chiêu thức của đài TH Sài Gòn, các chương trình tuyên truyền của đài THCT cũng đã được lồng vào các tiết mục giải trí một cách rất tinh vi để buộc khán giả phải xem Hàng ngày các điểm xem truyền hình công cộng đã họat động đến nửa đêm

Trang 15

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

Trước năm 1975, đài THCT đã được xác định là đài truyền hình có lượng khán giả đông thứ hai ở miền Nam

ª Sau năm 1975:

Nhận thức được tầm quan trọng của TH đối với sự ổn định và phát triển đời sống nhân dân toàn khu vực, ngay sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ngày 2 tháng 5 năm 1975 chính quyền cách mạng đã nhanh chóng đưa đài THCT vào họat động trong điều kiện hết sức khó khăn về cơ sở vật chất, kỹ thuật Lúc đầu chỉ phát được 3 buổi/ tháng, sau đó mới dần dần phát ổn định mỗi buổi tối, từ 18g30 đến 23g00 Nhưng nội dung chương trình vẫn phải tiếp chuyển từ đài TH thành phố Hồ Chí mình về là chính Mãi đến năm 1980 đài THCT mới đủ sức tự lực sản xuất chương trình, và đi vào hoạt động hoàn toàn độc lập, với tư cách là tờ báo ngày duy nhất của khu vực ĐBSCL lúc bấy giờ

Cũng từ thập niên 80, ti vi (TV) đen trắng bán dẫn đã bắt đầu được lắp ráp trong nước, ĐBSCL là một trong những vùng sớm được thừa hưởng thành quả khoa học – kỹ thuật và kinh tế này Do TV đen trắng bán dẫn nội địa có khả năng hoạt động với bình ắc-quy, đáp ứng được nhu cầu xem TH của cư dân những vùng chưa có điện lưới, giúp cho số người được xem TH ở ĐBSCL nhanh chóng gia tăng Chương trình của đài THCT có mặt cả ở những vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh và đầy kênh rạch Nhiều người dân địa phương ở ĐBSCL trước đó nhiều tháng mới được xem chiếu phim lưu động một lần, thì lúc này đã được xem phim truyện, sân khấu hàng đêm qua sóng THCT Nhờ vậy đài đã thực hiện rất hữu hiệu công tác thông tin tuyên truyền, và phục vụ tốt đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân toàn khu vực

Trong khi đó ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL, mặc dù đã thành lập đài phát thanh – truyền hình (PT-TH) từ rất sớm, nhưng thực chất cho đến đầu những năm 80 mới chỉ có phát thanh đi vào hoạt động với tư cách là các đài địa phương độc lập, còn công tác TH ở những nơi đó vẫn do một bộ phận nhỏ nằm

Trang 16

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

trong phòng Truyền hình của các đài thực hiện, với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp thông tin và hình ảnh phục vụ cho đài THCT phát sóng Điều này càng thể hiện rõ thế độc tôn của đài THCT ở khu vực ĐBSCL vào những năm đầu sau giải phóng

II Sự ra đời của đài Truyền hình Đồng Tháp lần thứ nhất và ý nghĩa của nó:

2.1 Sự ra đời của đài Truyền hình Đồng Tháp lần thứ nhất:

Theo Dương Thị Thanh Thủy ghi trong luận văn Cao học Báo chí “Tổ chức sản xuất chương trình thời sự TH ở đài PT-TH Đồng Tháp” thực hiện năm 2005, tại Phân viện Báo chí & Truyên truyền, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) thì đài Truyền hình Đồng Tháp (THĐT) được thành lập lần thứ nhất vào năm 1985 Ngòai đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và đài THCT, đây là đài TH tỉnh đầu tiên ở ĐBSCL, và cả Nam bộ Đài họat động với máy phát sóng Thomson chạy bằng đèn, công suất 1KW, hệ màu SECAM, truyền tải tín hiệu trên kênh 11VHF

Trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, trình độ khoa học – công nghệ truyền hình còn nhiều hạn chế, việc Đồng Tháp cho xây dựng đài

TH phát sóng màu là một sự đột phá rất táo bạo và đầy tâm huyết Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà mà để tồn tại và phát triển lâu dài đài THĐT đã gặp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại

Một mặt là do sự không tương thích về kỹ thuật giữa máy phát và máy thu Tòan bộ máy thu hình của nhân dân khu vực ĐBSCL lúc bấy giờ đều là máy thu hình đen trắng, chủ yếu dùng để xem kênh 7 đài THCT, phát hệ FCC đen trắng Trong khi đài THĐT lại phát hệ SECAM màu, nên nhân dân chỉ có thể bắt được hình mà không bắt được tiếng Để giúp nhân dân nghe được tiếng, khi phát hình đài phải dùng máy phát thanh phát tiếng kèm theo Vì vậy, nếu muốn xem truyền hình với đầy đủ hình ảnh và âm thanh vốn có của no,ù thì

Trang 17

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

bên cạnh chiếc TV để xem hình người dân còn phải đặt thêm một máy radio để nghe tiếng, rất bất tiện

Mặt khác là so với thế giới thì máy phát hình màu hệ SECAM, chạy bằng đèn của đài THĐT lúc ấy đã quá lạc hậu, thường bị hư hỏng Trong khi phụ tùng thay thế thì rất hiếm Muốn mua phải nhập từ nước ngòai, giá cả rất đắt Trong khi lúc này đài hòan tòan chưa có được những nguồn thu dịch vụ để

có thể bù đắp phần nào các khỏang chi phí Thực trạng trên dần dần đã biến đài THĐT thành một gánh nặng thực sự cho ngân sách tỉnh

Đó là chưa kể nội dung chương trình cũng nghèo nàn Mỗi đêm đài chỉ phát hình khỏang 2 tiếng, từ 19g00 đến 21g00 Trong đó các thể lọai giải trí,

mà chủ yếu là cải lương, chiếm thời lượng nhiều nhất

Kinh phí họat động ngày càng thiếu hụt, không có nguồn thu để bù đắp, hiệu quả họat động không cao, kết cục đài THĐT đã buộc phải ngừng phát sóng, sau 5 năm tồn tại

2.2 Ý nghĩa của sự ra đời và tồn tại của đài THĐT lần thứ nhất:

Tuy đài THĐT lần thứ nhất ra đời và tồn tại không lâu lắm, nhưng đã để lại những ý nghĩa rất sâu sắc đối với sự phát triển của lọai hình BCTH truyền hình ở ĐBSCL

2.2.1 Đài THĐT lần thứ nhất ra đời cho thấy nhu cầu tuyên truyền bằng lọai hình BCTH của các tỉnh ĐBSCL là rất lớn và không thể thiếu

* Trước hết phải khẳng định rằng cả khu vực ĐBSCL vào những năm đầu sau giải phóng chỉ có mỗi một đài THCT là quá ít, không thể đáp ứng được nhu cầu thông tin và chỉ đạo phát triển KTXH của các tỉnh trong vùng Như trong bài tham luận về họat động thông tin đại chúng ở ĐBSCL những năm sau giải phóng, tại Hội nghị khoa học xã hội về ĐBSCL lần I – năm 1982, ông Nguyễn Thành – Nguyên Giám đốc cơ quan thường trú Uûy ban PT-TH Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh đã nói: … “so với yêu cầu của cách mạng, so với đòi

Trang 18

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

hỏi của quần chúng, so với khả năng, đặc biệt là so với đòi hỏi của Đảng và Chính phủ đối với ĐBSCL, thì công tác thông tin đại chúng (trong đó có truyền hình – ND) hiện nay ở đây thật là chưa thấm vào đâu” Riêng đối với lọai hình BCTH ông cho rằng: “Vô tuyến truyền hình cũng bị hạn chế về mặt phát huy tác dụng ở chỗ số máy thu ít, lại tập trung ở thị xã, thị trấn, thiếu nguồn điện, thiếu cơ sở sửa chữa Số lượng chương trình, cũng như lượng thông tin của các

tỉnh trong chương trình (của đài THCT – ND) còn bị hạn chế” Từ đó ông đề

nghị: “Đối với truyền hình, cũng như đối với các bộ môn khác, cần cải tiến nội dung, tăng cường nội dung của các tỉnh” 1

* Mặt khác, lúc này máy phát hình đen trắng của đài THCT đã già cỗi, xuống cấp, thường xuyên hư hỏng, làm cho chất lượng hình ảnh và phạm vi phủ sóng bị giảm sút Nhất là từ khi đài THCT chuyển sang sử dụng máy phát hình màu thì công suất chỉ còn phân nửa so với trước Theo đó vùng phủ sóng của đài cũng đã bị thu hẹp Ở nhiều nơi trước đó thu tốt sóng đài THCT phát trên kênh 7 hệ FCC đen trắng, nhưng nay cũng đã gặp khó khăn khi thu sóng của đài này trên kênh 6 hệ SECAM màu Điều đó càng làm cho nhu cầu phát triển các đài truyền hình tỉnh, mà trước hết là các tỉnh xa Tp Cần Thơ, trở nên hết sức bưc xúc Đài truyền hình Đồng Tháp ra đời là bằng chứng sinh động về thực tế này

2.2.2 Đài THĐT lần thứ nhất ra đời là bước đi tiên phong, nhưng chưa hợp thời

Năm 1986, tại Đại hội đại biểu tòan quốc Đảng Công sản Việt Nam lần thứ VI, đường lối đổi mới của Đảng mới được khởi xướng Như vậy đài THĐT được xây dựng và đi vào họat động vào cuối thời kỳ bao cấp , nhưng vẫn chưa

có kinh tế thị trường, Việt Nam vẫn còn bị bao vây, cấm vận bởi Mỹ và các

1

Nhiều tác giả: Một số vấn đề KHXH về ĐBCL Nxb KHXH Hà Nội-1982 Tr 335-346

Trang 19

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

nước phương Tây Trên thị trường, các lọai hàng hóa nói chung đều nghèo nàn, nhất là các mặt hàng điện tử cao cấp càng khan hiếm Nên mua được đã là điều khó khăn, mặc dù đó chỉ là những thế hệ máy cũ, lạc hậu Còn bảo trì, sửa chữa chúng thì càng khó khăn hơn, do không có phụ tùng thay thế, muốn có phải nhập từ nước ngòai với giá rất cao, ngân sách địa phương không thể kham nổi Trong khi đó các họat động sản xuất-kinh doanh còn yếu, nhất là đầu tư nước ngòai hầu như chưa có, doanh nghiệp chưa nhiều, giao lưu hàng hóa kém, sức mua của người dân chẳng bao nhiêu… Các yếu tố đó đã làm cho báo, đài nói chung, trong đó có TH, không thể có điều kiện để phát triển dịch vụ quảng cáo, tạo ra nguồn thu, bù lại phần nào các chi phí họat động ngày càng gia tăng của mình Trong bối

cảnh đó, sự tồn tại của đài THĐT chẳng khác nào một cái gì xa xí đối với

ngân sách tỉnh, khó có thể duy trì được lâu

III Sự ra đời của đài Truyền hình Vĩnh Long (THVL):

Sau khi có quyết định của Quốc hội và Chính Phủ nước Cộâng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về việc chia tách tỉnh Cửu Long thành hai tỉnh: Vĩnh Long và Trà Vinh, ngày 09 tháng 05 năm 1992, UBND tỉnh Vĩnh Long đã ra quyết định số 57/QT.UBT cho phép thành lập đài PT-TH Vĩnh Long Trong đó phát thanh tiếp tục họat động trên cơ sở sẵn có của đài Tiếng nói nhân dân Cửu Long cũ Còn truyền hình được xây dựng mới hòan tòan Từ một phòng nghiệp

vụ đơn lẻ, nay được phát triển thành một đài TH hòan chỉnh, tồn tại song song với bộ phận phát thanh trong đài PT-TH Vĩnh Long; phát sóng độc lập với đài THCT Vì vậy khái niệm đài THVL ở đây được hiểu là một trong hai bộ phận cấu thành đài PT-TH Vĩnh Long

3.1 Đài THVL ra đời là do nhu cầu thực tiễn:

Tương tự như sự ra đời của đài THĐT lần thứ nhất, sự ra đời của đài

THVL cũng xuất phát từ những nhu cầu bức xúc của thực tiễn

Trang 20

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

Tỉnh Vĩnh Long có tổng diện tích đất tự nhiên trên 147.500ha Trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là117.000ha Bao gồm, diện tích đất trồng cây hàng năm, chủ yếu là lúa gần 76.000ha; diện tích đất trồng cây lâu năm, chủ yếu là vườn cây ăn trái 39.500ha Địa hình manh mún, do bị chia cắt bởi nhiều sông rạch Tòan tỉnh có trên 1 triệu người, đại đa số sống ở nông thôn, với trên 890.000 người, thu nhập chủ yếu từ họat động sản xuất nông nghiệp, thủy sản Khi mới chia tách tỉnh kết cấu hạ tầng kinh tế-kỹ thuật và xã hội của tỉnh còn rất nghèo nàn Điện, đường, trường, trạm kém phát triển Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

Hệ thống báo chí trong tỉnh bao gồm ba cơ quan trụ cột là Báo Vĩnh Long, trực thuộc Tỉnh ủy; đài PT-TH, trực thuộc UBND tỉnh và Phân xã Vĩnh Long, thuộc Thông tấn xã Việt Nam Hệ thống báo chí này cho thấy tỉnh chỉ có hai cơ quan ngôn luận chính thức là Báo Vĩnh Long, và đài PT-TH, nhưng cũng kém phát triển Nhiều năm liền Báo Vĩnh Long chỉ phát hành mỗi tuần 1

số, 4 trang, với số lượng vài ngàn bản, chủ yếu là để phân phối cho các cơ quan, ban ngành tỉnh, huyện và một số xã Việc phát hành Báo Vĩnh Long ra nhân dân còn rất hạn chế Đài PT-TH chỉ làm phát thanh là chính, với thời lượng trung bình mỗi ngày 6 giờ, chia thành 3 buổi: sáng, trưa, chiều Nội dung chương trình nghèo nàn, kém hấp dẫn và bổ ích Truyền hình chỉ làm cộng tác viên cung cấp tin bài cho đài THCT, nhưng chủ yếu vẫn là tin, hiếm khi thực hiện được phóng sự Với hệ thống báo chí này, việc tuyên truyền, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của tỉnh Đảng bộ về phát triển kinh tế-xã hội địa phương không thể được thực hiện kịp thời, đầy đủ và sinh động Chức năng diễn đàn của nhân dân chưa được các lọai hình báo chí tỉnh phát huy đúng mức Nhất là chưa thể góp phần xứng đáng vào việc chăm sóc và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân

Trang 21

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

Trong bối cảnh đó, việc tăng cường họat động của các lọai hình báo chí nói chung trên địa bàn tỉnh là hết sức cần thiết, đặc biệt là TH Bởi đây là lọai hình báo chí hiện đại, còn rất mới và rất thiếu ở ĐBSCL lúc bấy giờ Trong khi

đó, với ưu điểm vừa nghe được âm thanh, vừa thấy được hình ảnh sống động,

TH đã trở thành một phương tiện truyền thông hết sức hấp dẫn đối với công chúng, nhất là bộ phận công chúng ở nông thôn, những người ít có điều kiện và thói quen đọc báo Không chỉ có khả năng to lớn về thông tin tuyên truyền, TH còn có ưu thế vượt trội so với báo in và phát thanh trong việc thực hiện chức năng giải trí, giúp chăm sóc tốt hơn đời sống tinh thần của nhân dân

3.2 Hòan cảnh ra đời của đài THVL:

Ra đời sau 6 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, đài THVL đi vào họat động với nhiều điều kiện thuận lợi, và cũng không ít những khó khăn

3.2.1 Thuận lợi:

* Trước hết đó là sự đổi mới trong lĩnh vực kinh tế Nền kinh tế

vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp dần dần được xóa bỏ, để từng bước thay thế bằng cơ chế kinh tế thị trường (KTTT) Trong đó các họat động sản xuất – kinh doanh chịu sự chi phối ngày càng mạnh mẽ bởi các quy luật khách quan, như quy luật giá trị; quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ … Không chỉ đối với những họat động sản xuất hàng hóa khác, các quy luật thị trường cũng đã chi phối ngày càng nhiều họat động của báo chí Mặc dù theo quan điểm của báo chí cách mạng, báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân

Nó là sản phẩm của trí tuệ, tinh thần, là công cụ nhằm thực hiện quyền thông tin và được thông tin của nhân dân, nâng cao dân trí và đấu tranh trên mặt trận

tư tưởng, dư luận, nhưng trong cơ chế kinh tế thị trường hoạt động báo chí

Trang 22

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

cũng đã được xem như một họat động sản xuất hàng hóa và dịch vụ Chỉ khác với các lọai hàng hóa và dịch vụ khác ở chỗ báo chí là loại hàng hóa và dịch vụ đặc biệt, liên quan đến văn hóa, tư tưởng con người, định hướng cho họat động của con người (họat động có tính lợi ích, có tính mục đích và nhu cầu) Nó không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nhưng là một trong những động lực kích thích các họat động tạo ra của cải vật chất Báo chí, tùy theo lọai hình, đã mang một số thuộc tính của hàng hóa, mà chủ yếu là đến với công chúng bằng phương thức mua bán, nhưng báo chí không thể hiện đầy đủ các quy luật của sản xuất và lưu thông hàng hóa Mục đích cơ bản và sâu xa của báo chí không phải là lợi nhuận Song, đó vẫn là yếu tố hết sức quan trọng giúp cho báo chí vận động, đổi mới rất rõ nét, từ hình thức đến nội dung, tạo đà cho một chặng đường phát triển nhanh nhạy, năng động và hiệu quả hơn Ở đó báo chí không thể tiếp tục cách làm cũ, cứng nhắc, một chiều, nhiều khi áp đặt, duy ý chí như trước Vì nó không đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng, không làm tròn chức năng là diễn đàn của nhân dân, là dịch vụ xã hội đáng tin cậy, và làm mất đi sự hứng thú tiếp nhận thông tin của đông đảo các tầng lớp nhân dân với trình độ ngày càng cao Nói cách khác, đã đến lúc báo chí cũng phải biết mang đến cho công chúng những gì họ cần, chứ không phải những gì mình có

* Quá trình thể chế hóa và dân chủ hóa trong hoạt động báo chí

diễn ra mạnh mẽ Biểu hiện tập trung nhất của quá trình này là sự ra đời của Luật Báo chí, được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1989, sau đó được Quốc hội khóa X sửa đổi, bổ sung ngày 12-06-1999 Trong đó, mục tiêu của luật đã được nêu rõ ngay từ đầu là nhằm “Để đảm bảo quyền tự do báo chí , quyền tự

do ngôn luận trên báo chí của công dân, phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”

Để phát huy vai trò của báo chí trong sự nghiệp xây dựng và bảo

Trang 23

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa theo đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam”

Nhằm đảm bảo cho những mục tiêu đó được thực hiện tốt, ở điều 2, chương I, luật còn quy định cụ thể: “Báo chí, nhà báo họat động trong khuôn khổ pháp luật, và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo họat động.” Đối với nhà báo, ở khỏan đ, điều

15, chương IV, luật đã nêu rõ: “Được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp Không ai được đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật” Ngoài ra, Nhà nước còn có nhiều văn bản pháp quy khác nhằm thể chế hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tạo điều kiện cho các nhà báo được tự do hành nghề, mọi công dân đều có quyền phát biểu ý kiến trên công luận về mọi vấn đề miễn sao không gây tác hại cho lợi ích quốc gia, dân tộc; không kích động bạo lực, tuyên truyền cho chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; không tuyên truyền dâm ô, đồi trụy, tội ác; không làm lộ bí mật quốc gia…

* Cùng với chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, hoạt động maketing, trong đó có quảng cáo (QC) ngày càng trở nên nhộn nhịp, và là một nhu cầu không thể thiếu trong nền kinh tế “Quảng cáo là nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa, trong đó có nhu cầu của người tiêu dùng Tóm lại là nhu cầu khách quan của xã hội phát triển Báo, đài QC là việc cần thiết và đương nhiên” 2 Vì vậy luật báo chí nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam còn đặt nền tảng cho việc hình thành hành lang pháp lý của họat động QC trên báo chí Về vấn đề này, điều 25, chương V, luật đã quy định: “Báo chí được đăng, phát sóng

2

Phan Quang: Theo dòng thời cuộc Nxb Văn hóa-thông tin Hà Nội-1995 Tr.86

Trang 24

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

quảng cáo và thu tiền quảng cáo” Sau đó Chính phủ cũng đã có nghị định hướng dẫn cụ thể, chi tiết việc thực hiện QC trên các lọai hình báo chí, đối với các nhà QC và các cơ quan báo chí Như vậy luật pháp nước ta đã chính thức thừa nhận QC là một bộ phận, một nội dung không thể tách rời với các họat động của báo chí Sự xuất hiện của QC trên báo chí đã làm cho tính chất hàng hóa của báo chí càng được thể hiện đậm nét Trước khi bán tờ báo cho độc giả,

cơ quan báo chí đã bán chỗ đăng QC cho các nhà QC Tiền thu QC dần dần đã trở thành nguồn thu chính yếu đối với các cơ quan báo chí Đặc biệt, đối với các đài TH, loại hình báo chí điện tử đắt tiền, phát sóng miễn phí, càng hết sức quan trọng Chỉ với nguồn thu này các đài mới có đủ điều kiện để mạnh dạn đầu tư nâng cấp trang thiết bị, phát triển lực lượng, đẩy mạnh cải tiến nội dung chương trình

* Sau mấy năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khởi xướng, nền kinh tế của đất nước đã có bước phát triển nhất định Nguồn thu của các địa phương đã được nâng lên đáng kể Tình trạng thiếu hụt ngân sách đã từng bước được khắc phục Đặc biệt, với chính sách mở cửa và đẩy mạnh giao lưu kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, các loại máy móc, thiết bị kỹ thuật, các mặt hàng điện tử, tin học hiện đại

đã xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường, hoặc khi cần thiết phải nhập thì cũng không phải quá khó khăn, giúp cho việc đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ họat động chuyên môn của các cơ quan báo chí ngày càng trở nên dễ dàng hơn

Trên đây là những yếu tố hết sức quan trọng có tác dụng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của báo chí kể từ những năm 90 của thế kỷ trước Trước hết có thể dễ dàng nhận thấy điều này qua sự gia tăng nhanh chóng số lượng các cơ quan báo chí trong những năm ấy Nếu năm 1986 toàn quốc chỉ có 241

Trang 25

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

đầu báo in, phát hành 230 triệu bản/ năm, thì đến năm 1991 đã tăng thêm 59 đầu báo, nâng số lượng phát hành lên 298 triệu bản/năm Và đến năm 1999 cả nước đã có đến 450 cơ quan báo và tạp chí, phát hành hơn 614 triệu bản/năm Bên cạnh 63 tờ báo trung ương, còn có 97 tờ báo địa phương

Trong bối cảnh đó, loại hình BCTH ở ĐBSCL cũng đã có bước phát triển nhảy vọt Nếu trước đó tòan khu vực chỉ có 2 đài TH là đài TH khu vực Cần Thơ và đài THĐT, thì đến đầu những năm 90, hàng lọat các đài truyền hình tỉnh đã lần lượt ra đời, trong đó có đài THVL, và đến cuối thập niên 90 tất

cả các tỉnh ĐBSCL đều đã có đài phát sóng TH riêng Kể cả đài THĐT cũng đã chính thức phát sóng trở lại từ đầu năm 1998

3.2.2 Khó khăn:

Cũng như các đài truyền hình tỉnh khác ở ĐBSCL, khi mới xây dựng và

đi vào họat động đài THVL cũng đã gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất-kỹ thuật, con người, và trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đáng chú ý hơn là bên cạnh những khó khăn đó đài còn gặp phải những khó khăn đặc biệt khác, xuất phát ngay từ trong điều kiện thuận lợi về kỹ thuật phát sóng truyền hình của ĐBSCL, và sự phát triển mạnh mẽ của lọai hình BCTH trong khu vực

* Cơ sở vật chất-kỹ thuật yếu kém, nhân lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn nhiều hạn chế

Khi mới bắt đầu phát sóng đài THVL sử dụng máy phát chỉ có 100W, do Cty thiết bị điện tử Khánh Hòa (TQT) sản xuất Với công suất

máy phát này, đài chỉ có thể phục vụ các tầng lớp nhân dân thị xã Vĩnh Long

và một số vùng phụ cận Lực lượng tổng cộng chỉ có khỏang 20 người, công tác tại phòng truyền hình trước đây Đặc biệt là trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn rất hạn chế Các lọai máy móc, thiết bị dùng để sản xuất chương trình rất ít

Trang 26

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

ỏi và lạc hậu Vì vậy đài chỉ có thể phát sóng vào buổi tối từ 6g30 đến 21g30 hoặc 22g00, với nội dung chương trình rất đơn giản, chủ yếu là các tiết mục giải trí, như phim truyện, cải lương Mỗi tuần chỉ thực hiện được 3 bản tin thời

sự địa phương, với thời lượng mỗi bản tin từ 10 đến 15 phút Chuyên mục chưa thể thực hiện được Trong khi kinh phí họat động phải trông cậy hòan tòan vào ngân sách địa phương, nên muốn đầu tư phát triển đài một cách tòan diện và nhanh chóng là điều hết sức khó khăn

* Sự cạnh tranh giữa các đài truyền hình trong khu vực diễn ra ngày càng quyết liệt

Do đặc điểm của sóng truyền hình là sóng cực ngắn, truyền lan chủ yếu theo tầm nhìn thẳng Nếu tạm bỏ qua điều kiện thời tiết, quá trình phát và thu sóng TH chỉ có thể đạt được kết quả tốt khi ăng-ten phát và ăng-ten thu “nhìn thấy nhau” Sẽ hết sức trở ngại nếu trong phạm vi tỏa sóng của một đài phát sóng TH mà địa hình có nhiều đồi núi Bởi như thế sóng từ đài phát sẽ khó có thể đến được với tất cả các máy thu Vì vậy so với nhiều

vùng khác trong cả nước,việc phát sóng TH ở ĐBSCL rất thuận lợi, hầu như không gặp phải cản ngại nào đáng kể nào

Mặt khác, do tổng diện tích tòan vùng không lớn lắm mà đã có đến

14 đài TH cùng tồn tại, nên khỏang cách giữa các đài TH ở khu vực ĐBSCL không lớn lắm, trung bình chỉ vào khỏang 35km Đó là chưa kể một số đài phát đến 2 kênh cùng lúc, và nhiều nơi có trạm triếp vận sóng THVN Đã vậy các đài còn đua nhau nâng công suất máy phát sóng của mình ngày càng lớn hơn Sau một thời gian sử dụng máy phát sóng công suất từ 1KW đến 5KW, các đài

TH trong khu vực ĐBSCL đã lần lượt nâng lên 10KW Thậm chí một số đài còn sử dụng đến máy phát sóng có công suất 10KW + 10KW, mà thực chất là 20KW, với chiều cao trung bình của ăng-ten phát là 125m Với công suất máy

Trang 27

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

phát sóng và chiều cao ăng-ten như vậy, khả năng phủ sóng của các đài TH tỉnh ở ĐBSCL ngày càng vượt xa địa giới hành chánh của địa phương mình, để đến với khán giả của nhiều tỉnh khác trong khu vực

Do vậy, theo kết quả thăm dò khán giả của chúng tôi thì hiện nay mỗi máy thu hình ở ĐBSCL đều có thể thu được trên 5 kênh TH khác nhau một cách dễ dàng Thế là mặc nhiên công chúng đã có được quyền tự do thụ hưởng những thành tựu của TH vô cùng rộng mở Từ đó ở người dân dần hình thành những tiêu chí đánh giá và lựa chọn các chương trình TH, các TH hình khắt khe hơn, mà không ai có thể chi phối được Đúng như hình tượng mà nhà báo Phan Quang đã diễn đạt: “… cái vật xinh xinh ta cầm trong tay (ý nói cái remote – ND) mỗi lần ngồi trước máy thu hình Nó giúp người xem mở, hoặc tắt máy, thay đổi chương trình, điều chỉnh âm thanh … Nhờ cái vật nhỏ bé ấy,

ta không cần phải nhấp nhổm đứng lên, ngồi xuống, bước đến sát cái máy như ngày xửa ngày xưa mỗi lần muốn thay đổi kênh hình Sự tiện dụng luôn khuyến khích ta thay đổi kênh Thay đổi là bác bỏ Thay đổi là lựa chọn Lựa chọn mà không phải tiêu hao thêm năng lượng Người làm truyền hình không còn nữa ưu thế áp đặt chương trình cho người xem” 3

Tình hình này đã làm cho sự cạnh tranh khán giả, cạnh tranh thanh thế, ảnh hưởng của các đài TH ở ĐBSCL diễn ra ngày càng quyết liệt Nó đòi hỏi những người làm truyền hình ở đây phải luôn luôn năng động, sáng tạo, để cải tiến và nâng cao không ngừng chất lượng chương trình, từ nội dung đến hình thức, giống như các doanh nghiệp phải biết tạo ra lợi thế cạnh tranh, nâng cao năng lực thỏa mãn nhu cầu khách hàng, để thu hút nhiều nhất khách hàng về phía mình Đây thực sự là một thách thức to lớn đối với tất cả các đài TH ở ĐBSCL, với tư cách là những doanh nghiệp đặc biệt họat động trong cơ chế

3

Phan Quang: Truyền hình hai chiều và sức ép thời gian Tạp chí Truyền hình số 06-2004.Tr.16

Trang 28

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

KTTT Vừa phải đảm bảo hoạt động có hiệu quả, vừa không được đánh mất bản chất chính trị của mình là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, và là diễn đàn của nhân dân

@

Quả là so với các lọai hình báo chí khác thì TH là lọai hình báo chí đắt tiền, việc đầu tư xây dựng và phát triển lọai hình báo chí này rất tốn kém Vì vậy sự ra đời của các đài TH nhất thiết phải xuất phát từ yêu cầu bức xúc của thực tế cuộc sống, trong điều kiện KTXH phát triển đến mức độ nhất định Sự xuất hiện của hàng lọat các đài TH tỉnh trong khu vực ĐBSCL từ đầu những năm 90 chính là minh chứng sinh động về vấn đề này Bỡi lúc bấy giờ công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua được một nhiệm kỳ, và đang tiếp tục được đẫy mạnh một cách tòan diện Trong bối cảnh đó yêu cầu tuyên truyền về quan điểm chỉ đạo của các Đảng bộ, về chiến lược phát triển KTXH của các địa phương là rất lớn, và hết sức cần thiết, nhằm huy động mọi nguồn lực, mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội tập trung vào việc tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống Đối với ĐBSCL, chủ yếu là phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng tòan diện, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, phát triển nhiều ngành nghề nhằm khai thác triệt

để mọi tiềm năng sẵn có về đất đai, lao động, từng bước hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước … Để hỗ trợ cho các địa phương thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ to lớn như trên với mỗi một đài THCT là không thể được Do đó sự ra đời của các đài TH tỉnh trong giai đọan này là tất yếu, phù hợp với yêu cầu lãnh đạo của các đảng bộ địa phương Đồng thời cũng hết sức phù hợp với nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trong khu vực, những người không chỉ còn nghèo nàn về

Trang 29

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình…

đời sống vật chất, mà còn rất thiếu thốn về đời sống tinh thần, cần phải có điều kiện để được chăm sóc tốt hơn Trong đó TH đã được xem là sự chọn lựa chọn tốt nhất

Tuy nhiên nếu chỉ để đáp nhu cầu tuyên truyền không thôi thì BCTH sẽ khó có thể phát triển bền vững Muốn đi lên vững chắc, nhất thiết các đài TH phải có điều kiện để thực hiện các họat động dịch vụ Thiếu yếu tố này, các đài

TH sẽ mất đi một động lực quan trọng thúc đẫy sự lớn mạnh về mọi mặt của mình Sự cạnh tranh khán giả ngày càng quyết liệt giữa các đài TH ở khu vực ĐBSCL xét đến cùng cũng vì các đài muốn giành lấy

những điều kiện tốt nhất để đẫy mạnh họat động dịch vụ, nâng cao doanh thu quảng cáo Như khi đề cập đến những thách thức lớn đang đặt ra đối với chương trình thời sự đài THCT tác giả Lâm Thiện Khanh đã viết: “Trước hết,

có thể nói đó là sự cạnh tranh chương trình không kém quyết liệt giữa các đài trong khu vực Cạnh tranh nhằm thu hút khán giả, và kèm theo đó là để thu hút nguồn thu quảng cáo nhiều hơn cho mình” 4 Đây là một tất yếu khách quan không thể phủ nhận Vấn đề là việc thực hiện các biện pháp cạnh tranh của các đài như thế nào, có đánh mất tôn chỉ mục đích, và rơi vào xu hướng thương mại hóa, xem nhẹ nhiệm vụ chính trị của mình hay không mà thôi

Trang 30

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

Chương Hai

ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG ĐBSCL

KHẢO SÁT QUA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG

I Khái niệm về chất lượng của báo chí:

1.1Chất lượng: Theo từ điển Tiếng Việt do các tác giả Minh Tân – Thanh

Nghi – Xuân Lãm biên sọan, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản năm 1999, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc

Nó xuất phát từ ý nghĩa thứ nhất của chữ “chất”, là bản thể của sự vật Như đánh

giá chất lượng sản phẩm; nâng cao chất lượng giảng dạy

ra, thúc đẫy sự nghiệp đổi mới

* Góp phần đổi mới và phát triển sự nghiệp báo chí về nội dung, nghiệp

vụ, ấn loát, kỹ thuật … làm cho báo chí ta tiếp tục khởi sắc

* Ghi được dấu ấn trong đời sống văn hóa và xã hội của một giai đoạn đặc biệt trong việc nâng cao dân trí, phát huy nền văn hóa dân tộc, đấu tranh chống những tư tưởng, quan điểm sai trái

* Hoạt động năng động, kinh doanh tốt, phát triển được cơ ngơi, tăng phúc lợi và nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân …

Như vậy, chất lượng của báo chí không chỉ đơn thuần là chất lượng thông tin, mà đó còn là tổng hợp các giá trị của tờ báo đối với sự phát triển của xã hội, của sự nghiệp báo chí, cũng như sự lớn mạnh của bản thân các cơ quan báo chí

Trang 31

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

II Chương trình truyền hình và vấn đề chất lượng của chương trình truyền hình:

2.1 Khái niệm về chương trình truyền hình:

Chương trình truyền hình là sản phẩm truyền hình, là kết quả họat động của truyền hình, trong đó bao hàm cả quá trình sáng tạo ra nó từ nhiều công đọan khác nhau, tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau, quá trình tạo dựng kế họach và sắp đặt tác phẩm, chuyên mục, mục được gọi là chương trình Cho dù thuật ngữ chương trình có thể được hiểu theo nghĩa chương trình của đài, chương trình tháng, chương trình tuần, chương trình ngày, và thậm chí một tác phẩm cụ thể cũng được gọi là chương trình

Chương trình – đó là hình thức thực tế hóa, hình thức vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong đời sống xã hội để truyền tải thông tin đối với công chúng Nếu không có chương trình thì không có truyền hình Nhưng cũng cần hiểu chương trình truyền hình là kết quả của họat động, là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận kỹ thuật – tài chính – nội dung Đồng thời, cũng như các sản phẩm khác, truyền hình có người sản xuất và có người tiêu dùng Người sản xuất tác động đến người tiêu dùng và ngược lại, người tiêu dùng cũng tác động, chi phối đến người sản xuất thông qua quan hệ: nhà báo – tác phẩm – công chúng

Nếu xem xét chương trình là cơ cấu nội dung những hình ảnh truyên truyền thì khả năng xây dựng hàng lọat cấu trúc về mức độ tương ứng, về những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu nội dung và khuynh hướng tuyên truyền, trước hết bao hàm vấn đề tư tưởng Có thể coi yếu tố tư tưởng là điểm xuất phát

để xác định cách thức và khuynh hướng của chương trình Làm sao để chương trình hay và có tác dụng thiết thực, có hiệu lực Sự tác động về mặt tư tưởng được biểu hiện trong toàn bộ những yếu tố cơ cấu của chương trình … Mục tiêu

tư tưởng của chương trình dù thế nào đi chăng nữa cũng chứa đựng việc hình

Trang 32

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

thành thế giới quan của xã hội, tập hợp và thống nhất các thành viên của xã hội Tính tư tưởng trong chương trình truyền hình phải được thực hiện một cách trực tiếp trong ý thức và trong sự việc cụ thể của những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của xã hội trong từng giai đoạn cụ thể

Mối liên hệ qua lại giữa màn ảnh nhỏ và công chúng là cơ sở để xây dựng các chương trình truyền hình Mối liên hệ này cùng với hòan cảnh thực tế của người xem truyền hình, hình thành nên mối quan hệ phức tạp của việc phân bố chương trình truyền hình Phương pháp phân bố chương trình là từ mục tiêu đảm bảo cho sự tác động của chương trình truyền hình vào công chúng một cách mạnh mẽ nhất Cách phân bố chương trình phải trù tính đến đông đảo công chúng Tính liên tục của chương trình được tính từ đặc điểm tâm sinh lý tiếp nhận thông tin của công chúng Tức là vấn đề thời gian tối ưu để xem chương trình và thông qua đó giáo dục thói quen cho công chúng

Mỗi chương trình truyền hình dù phục vụ cho đối tượng chuyên biệt,

hay đông đảo công chúng thì cũng phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì? (nội dung) Như thế nào? (thể loại, hình thức thể hiện) Cho ai? (toàn thể công chúng hay đối tượng chuyên biệt) Khi nào? (thời gian phù hợp hay bắt buộc) Tất nhiên

không bao giờ có sự nhất trí hoàn toàn và sở thích của con người, thậm chí trong cùng một gia đình Do vậy các chương trình phải có tác động lẫn nhau Nhưng lại phải trù tính đến điều kiện và sở thích của từng nhóm trong cơ cấu công chúng, để tạo ra sự lựa chọn chung, dẫn tới việc thỏa mãn nhu cầu thông tin của

họ

2.2 Chất lượng chương trình TH:

Thế nào là chương trình truyền hình có chất lượng? theo TS Trần Đăng

Tuấn – Phó tổng Giám đốc đài THVN thì “chương trình (truyền hình – ND) có

chất lượng phải là chương trình được thực hiện với tay nghề cao Tuy nhiên, vẫn

có chương trình (cả ngắn, dài) được thực hiện với mức chuyên nghiệp cao nhưng

Trang 33

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

Có thể kể ra như nội dung thông tin chân thật, đúng bản chất vấn đề; thông tin nhiều chiều, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; hình ảnh, âm thanh rõ ràng, trong sáng; tạo được sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với người xem Không thỏa mãn đầy đủ những điều kiện đó thì những tác phẩm báo chí, những chương trình truyền hình chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận một cách đầy đủ, với nhiều lý do khác nhau, và như vậy thì chất lượng của chúng mới chỉ dừng lại ở chất lượng thông tin tiềm năng Trong khi các lọai hình thông tin báo chí nói chung, truyền hình nói riêng, chỉ thực sự

có giá trị khi chúng đạt được chất lượng thông tin thực tế Nghĩa là những thông tin ấy phải được chuyển tải đến công chúng được công chúng tiếp nhận, để biến thành tri thức, thành những giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ có khả năng làm thay đổi nhận thức và hành vi của bản thân Không làm được điều đó thì chiếc cầu nối giữa các cơ quan báo chí và nhà báo với công chúng xem như đã bị gẫy đổ, họat động báo chí trở nên kém hiệu quả và lãng phí Cũng như các lọai hình báo chí khác, những chương trình truyền hình có chất lượng chỉ có thể là những chương

5TS Trần Đăng Tuấn: Chương trình dở không thể cứ lấy khó để biện minh Tạp chí Truyền hình số 06-2003

Trang 34

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

2.3.1 Phải thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng:

Cũng như các lọai hình báo chí khác, BCTH cũng mang trong mình những thuộc tính, những chức năng cơ bản của báo chí cách mạng Như chức năng giáo dục tư tưởng, chức năng quản lý xã hội, chức năng văn hóa và giải trí … Một chương trình TH có chất lượng trước hết phải làm tốt những chức năng, nhiệm

* Thực hiện chức năng quản lý xã hội là việc TH góp phần thông tin, phổ biến, giải thích đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành cho các tổ chức và từng viên trong xã hội biết, hiểu, nhận thức và hành động đúng trong thực tiễn Phản ánh, phân tích kịp thời tình hình thực tế, hiện trạng công việc của các địa phương, cơ sở sản xuất hoặc những vấn đề liên quan đến

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Kiểm tra, giám sát cũng là một bộ phận quan trọng trong chức năng quản lý xã hội của báo chí nói chung và TH nói riêng Đó là việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực tiễn của các cấp, các ngành và tòan thể nhân dân

Trang 35

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

* Làm tốt các chức năng trên là điều kiện thuận lợi để TH thực hiện tốt dịch vụ quảng cáo (DVQC), một họat động quan trọng và không thể thiếu đối với TH ngày nay Họat động này không chỉ thuộc chức năng kinh tế, mà còn là một phần của chức năng văn hóa-giải trí của báo chí nói chung, TH nói riêng

- Bởi theo nghị định 51/2002/ NĐ-CP, quy định chi tiết về thi hành Luật báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí, thì quảng cáo (QC) trên báo chí là hình thức thông báo, giới thiệu đến công chúng về hoạt động kinh

Trang 36

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

doanh, hàng hóa, dịch vụ thương mại và dịch vụ phi thương mại của tổ chức, cá nhân bằng các loại hình báo chí

Hay theo pháp lệnh về QC thì đó là việc giới thiệu đến người tiêu dùng

về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời

Dịch vụ có mục đích sinh lời là dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức,

cư dân mua hàng, khuyến khích cử tri đi bỏ phiếu, gây quỹ từ thiện…Số lượng

QC và giá cả QC tỷ lệ thuận với số lượng công chúng của các báo, đài Điều này cho thấy, họat động QC cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng chương trình và uy tín đích thực của các cơ quan bao chí, nhất là TH Như tác giả Lê Uyên đã viết: “Mặc dù hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến phàn nàn từ phía khán giả về quảng cáo truyền hình, nhưng cũng cần phải khẳng định mặt tích cực của nó: Cuộc cạnh tranh khốc

liệt trong lĩnh vực quảng cáo TH cũng góp phần thúc đẩy, buộc các kênh TH phải không ngừng tự hòan thiện và đổi mới mình” 6

2.3.2 Phải biết khai thác và phát huy tốt những đặc trƣng thông tin, giao tiếp của lọai hình BCTH

6 Lê Uyên: Quảng cáo trên truyền hình Tạp chí truyền hình số 02-2006

Trang 37

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

Là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân, ngày nay báo chí nói chung và TH nói riêng không chỉ có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mà còn phải phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiện cho nân dân được tham gia đóng góp ý kiến của mình vào việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các họat động xã hội khác Thông tin phải đảm bảo tính chân thật, khách quan và nhanh nhạy, kịp thời Đồng thời cũng phải sinh động, hấp dẫn Để làm được như vậy, đòi hỏi người làm TH phải biết phát huy những thế mạnh vốn

có của mình so với các lọai hình báo chí khác Đó là khả năng chuyển tải thông tin dưới dạng hình ảnh chuyển động có lồng âm thanh Trong đó hình ảnh tự thân nó đã là yếu tố khách quan, hàm chứa sự sống động của cuộc sống thực, không bị dàn dựng, không bị khuấy động Chính hình ảnh là yếu tố đem lại chất lượng cao cho thông tin truyền hình Bên cạnh yếu tố hình ảnh còn có sự bổ sung của âm thanh, mà chủ yếu là lời, làm cho thông tin truyền hình trở nên hoàn hảo Bởi những tư tưởng được thể hiện một cách đầy đủ bằng lời, sẽ vượt lên trên sự đầy đủ của các phương tiện diễn đạt khác Ngược lại hình ảnh có khả năng làm cho tính chủ quan không thể tránh khỏi của lời trong thông tin truyền hình được kiềm chế Mặt khác, chỉ có TH mới có khả năng thông tin dưới dạng nghe nhìn

về sự kiện và hành động ngay trong thời điểm mà nó đang diễn ra Đây là chất lượng duy nhất của thông tin TH mà các lọai hình báo chí khác không thể có được Nó không chỉ xóa bỏ được khoảng cách về không gian rộng lớn, mà còn tạo ra được hiệu quả đặc biệt đối với người tiếp nhận thông tin TH Người xem không phải hình dung ra sự kiện mà là trực tiếp tham gia vào sự kiện Khai thác đặc trưng này trong giao tiếp truyền hình, những người làm TH sẽ tạo ra được những tính cách khác nhau trên màn ảnh truyền hình, sẽ có nhiều hình thức khác nhau để chuyển tải thông tin

Trang 38

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

Ưu thế tạo thành sức mạnh của TH là khả năng phủ sóng rộng khắp, và tự

do đi vào từng nhà Số người xem TH là rất đông, nhưng lại được chia thành từng nhóm nhỏ, trong môi trường sinh hoạt gia đình, mức độ tập trung không cao Đặc trưng này yêu cầu về mặt nội dung thông tin TH cần phải chú trọng những vấn đề cập nhật, những vấn đề gần gũi với mọi người Đồng thời cũng cần tính toán đến việc sắp xếp những chương trình, chuyên mục, chuyên đề như thế nào để tạo điều kiện cho người xem tập trung dần vào màn hình, nhất là đối với những thể lọai thông tin chính luận Bảo đảm tiết tấu của cả chương trình, cũng như từng chuyên mục, chuyên đề, thậm chí từng tác phẩm sao cho hợp lý, để người xem không quá căng thẳng, nhưng cũng không mất tập trung

2.3.3 Phải không ngừng đầu tư phát triển các phương tiện vật chất kỹ thuật

Trên thực tế một chương TH hoàn hảo không thể tách rời giữa nội dung với các điều kiện về phương tiện vật chất kỹ thuật Muốn tạo ra những chương trình truyền hình có chất lượng tốt nhất định phải có các phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết, như máy móc trang thiết bị, điều kiện làm việc …để phục vụ cho việc sáng tạo các tác phẩm và truyền tải thông tin Cơ sở vật chất kỹ thuật không tốt thì không thể nói đến việc nâng cao chất lượng chương tình Bởi một chương trình truyền hình có tư tưởng chủ đề rất tốt, nhưng được thực hiện trong điều kiện vật chất kỹ thuật yếu kém, lạc hậu, thì cũng không thể tạo ra được một chương trình có chất lượng tốt, có sức thu hút khán giả mạnh Thậm chí những thông tin của chương trình còn không thể đến được với người xem, do tín hiệu hình ảnh, âm thanh xấu Đúng như TS Trần Đăng Tuấn đã nói:” Ở truyền hình, chất lượng kỹ thuật và chất lượng nội dung nhiều khi gắn chặt với nhau đến mức không thể có thành công riêng lẻ đựơc” 7

7 TS Trần Đăng Tuấn: Tài liệu đã dẵn

Trang 39

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

là phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Bởi trong bảy điểm thắng trong cạnh tranh sản xuất-kinh doanh mà các nhà nghiên cứu đã rút kết được, thì điểm số một là “sản phẩm có chất lương tuyệt hảo”

Tuy nhiên, dù quan trọng như vậy, nhưng nếu chỉ có việc nâng cao chất lượng chương trình không thôi thì vẫn chưa đủ, mà để đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh thu hút khán giả, các đài TH ngày nay còn cần phải có chiến lược và nghệ thuật cạnh tranh Đó là chiến lược tổng hợp, được chỉ đạo thực hiện cũng

- Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp, kết hợp được cả ba quyền lực: chính trị, trí tuệ, tài chánh; kết hợp tiềm năng vật chất kỹ thuật và sức mạnh con người; kết hợp nội lực và ngoại lực 8

Tuy chưa phải hòan hảo, nhưng có thể nói trong quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình TH của mình, ban lãnh đạo đài THVL đã

8TS Lê Thanh Bình: Quản lý và phát triển báo chí Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội-2004.Tr 187

Trang 40

Hồ Minh Trử Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình

vận dụng khá tốt nghệ thuật tổng hợp trên

III Quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình của đài THVL

3.1 Giai đoạn từ khi thành lập đến năm 2000

3.1.1 Xây dựng lực lượng, vấn đề sống còn

Đi vào họat động trên cơ sở nguồn nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật sẵn

có của phòng truyền hình cũ, buổi đầu lực lượng trực tiếp làm công tác chuyên môn của đài THVL chẳng bao nhiêu, chỉ trên dưới 20 người, với khỏang chục phóng viên biên tập và quay phim, cùng một số kỹ thuật viên hậu kỳ và truyền dẫn phát sóng, xướng ngôn viên biệt phái từ phát thanh Trang thiết bị kỹ thuật hầu như không có gì, ngòai 2 camera National M7; 1 bàn dựng không chuyên nghiệp, phim trường dã chiến và máy phát sóng 100W do Cty thiết bị điện tử Khánh Hòa (TQT) cho mượn Trong hòan cảnh đó, để có thể tồn tại và phát triển, thì vấn đề sống còn là phải nhanh chóng xây dựng và phát triển lực lượng Bỡi không có con người thì chương trình truyền hình bình thường cũng không thể thực hiện, nói chi đến chuyện nâng cao chất lượng Vì vậy, ngay từ đầu năm

1993, tức là chỉ mấy tháng sau khi đi vào họat động, ban lãnh đạo Đài PT-TH Vĩnh Long đã tiến hành đợt tuyển dụng nhân sự lớn lần thứ nhất Tuy rất cần, nhưng không phải vì thế mà vấn đề chất lượng đầu vào của nguồn nhân lực bị xem nhẹ Ngược lại, ngay từ đầu đài THVL rất chú trọng đến vấn đề này Thể hịện qua viêc quy định tiêu chuẩn về trình độ học vấn của những người dự tuyển vào làm việc tại đài là phải tốt nghiệp đại học Trên cơ sở mặt bằng trình độ đó, đài lại tiếp tục đưa từng nhóm đi tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ riêng, tại đài TH thành phố Hồ Chí Minh, đài THCT, Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ đài THVN tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ công tác cụ thể của mỗi người Sau đợt tuyển dụng này lực lượng trực tiếp làm công tác chuyên môn của đài đã được hình thành tương đối đầy đủ, giúp cho các họat động của một đài TH còn non trẻ từng bước đi vào ổn định

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w