1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam

114 659 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù báo mạng điện tử được coi là “đội quân” hùng mạnh trong việc truyền thông hình ảnh các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy, song cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

NGUYỄN THỊ HUYỀN THƯƠNG

HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO

MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội, tháng 4/ 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

NGUYỄN THỊ HUYỀN THƯƠNG

HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO

MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Báo chí học Mã ngành: 60.32.01

Người hướng dẫn khoa ho ̣c : TS Nguyễn Thành Lợi

Hà Nội, tháng 4/ 2013

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY VÀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 17

1.1 Doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy Việt Nam 17

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp FDI 17

1.1.2 Đóng góp FDI vào nền kinh tế Việt Nam 19

1.1.3 Doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy tại thị trường Việt Nam 22

1.2 Báo mạng điện tử Việt Nam và mối quan hệ với các doanh nghiệp FDI 25 1.2.1 Khái niệm báo mạng điện tử 25

1.2.2 Đặc điểm truyền thông của báo mạng điện tử 27

1.2.3 Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp và mối quan hệ với báo mạng điện tử 29

1.2.3.1 Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp 29

1.2.3.2 Mối quan hệ giữa hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp và báo mạng điện tử 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 36

2.1 Vài nét về các tờ báo được khảo sát 36

2.2 Đánh giá chung việc thể hiện hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử hiện nay 38

2.2.1 Nội dung thể hiện 38

2.2.1.1 Giới thiệu và tư vấn sản phẩm 41

2.2.1.2 Thông tin chính sách thị trường 43

2.2.1.3 Hoạt động xã hội của doanh nghiệp 47

2.2.1.4 Sự cố doanh nghiệp, tai nạn giao thông 500

Trang 4

2.2.1.5 Văn hóa xe 56

2.2.2 Cách thức thể hiện các thông điệp trên báo mạng điện tử của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy 58

2.2.2.1 Thể loại 58

2.2.2.2 Thời gian đăng tải 600

2.2.2.3 Nguồn đăng 61

2.2.2.4 Bố cục tổ chức tin, bài 63

2.2.2.5 Phản hồi của độc giả 67

2.3 Một số vấn đề rút ra 69

CHƯƠNG 3- ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 73

3.1 Dự báo xu thế phát triển của kinh thế thế giới và trong nước tác động tới các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy tại Việt Nam 73

3.2 Một số đề xuất cụ thể nâng cao hiệu quả truyền thông cho hình ảnh doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử 75

3.2.1 Đối với doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy 75

3.2.2 Đối với cơ quan báo chí 83

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 99

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 1: Chủ đề chính các tin, bài

2 Biểu đồ 2: Góc độ nhận định về sản phẩm trên 3 tờ báo

3 Biểu đồ 3: Góc độ nhận định của bài báo về thông tin chính sách thị trường

4 Biểu đồ 4: Lĩnh vực hoạt động xã hội của doanh nghiệp

5 Biểu đồ 5: Hình thức hoạt động xã hội của doanh nghiệp

6 Biểu đồ 6: Thái độ doanh nghiệp trước sự cố liên quan

7 Biểu đồ 7: Nội dung ảnh trong bài viết Văn hóa xe

8 Biểu đồ 8: Thể loại tin, bài về nội dung ô tô, xe máy

9 Biểu đồ 9: Thời gian đăng tải tin bài

10 Biểu đồ 10: Nguồn đăng tải trên 3 tờ báo

11 Biểu đồ 11: Nội dung ảnh của các tin, bài

12 Biểu đồ 12: Tỷ lệ phản hồi với chủ đề các tin, bài

13 Biểu đồ 13: Tỷ lệ phản hồi trên 3 tờ báo

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, thế giới thực sự đang đứng trước ngưỡng cửa toàn cầu hóa Các công ty đa quốc gia xuất hiện ngày càng nhiều và mở rộng sự lan tỏa của mình bằng việc rót đầu tư vào các thị trường trên khắp năm châu Chính sự chuyển động này đã khiến cho nền kinh tế thế giới biến đổi và phát triển hơn bao giờ hết

Thời gian qua, Việt Nam được xem là một trong những địa chỉ hấp dẫn

về thu hút đầu tư nước ngoài Kể từ khi Quốc hội thông qua luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngày 19/12/1987, hàng loạt các dự án, các công ty nước ngoài đã đến Việt Nam Theo Cục Đầu tư nước ngoài (FIA), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 10 năm đầu thế kỷ XXI, Việt Nam đã chứng kiến những thay đổi mạnh mẽ có tính đột phá trong thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Dòng vốn đăng ký và thực hiện tăng liên tiếp từ năm 2001 và đạt mức cao nhất vào năm 2008 với số vốn đăng ký đạt 71,7 tỷ USD và vốn thực hiện đạt 11 tỷ USD Đặc biệt, sau khi gia nhập WTO và triển khai thực hiện Luật Đầu tư 2005, Việt Nam đã thu hút được những dự án quy mô lớn lên tới hàng

tỷ USD

Tiến sĩ Matthias Duhn - Giám đốc điều hành Phòng Thương mại châu

Âu tại Việt Nam trong hội thảo: “Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ hậu

khủng hoảng kinh tế” ngày 21/5/2010 đã khẳng định “Việt Nam vẫn hấp dẫn”

Theo ông, sự ổn định về chính trị là một ưu điểm lớn của Việt Nam trong tương quan so sánh với các nước láng giềng như Thái Lan, Indonesia Ngoài

ra, với các yếu tố về dân số, thu nhập bình quân, tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao… đặc biệt là vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam có thể trở thành một trung tâm của khu vực trong tương lai [51]

Kết quả là, sau 26 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, nguồn

Trang 7

vốn này đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Bình quân hằng năm, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra hàng triệu việc làm trực tiếp cùng hàng chục vạn việc làm gián tiếp Trong đó, đầu tư vào vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Trong số các lĩnh vực đầu tư nổi bật của FDI vào Việt Nam, lĩnh vực đầu tư ô tô, xe máy đã tạo ra một bước tiến ngoạn mục, và cho tới thời điểm hiện tại, có thể nói, lĩnh vực này đã gần như nằm hoàn toàn trong tay các doanh nghiệp FDI Trước

đó, vào thời điểm năm 2000, các doanh nghiệp trong nước chiếm thế áp đảo, tới hơn 80% thị phần xe máy trong cả nước (khoảng 2 triệu xe) với gần 60 doanh nghiệp, nay đã sụt giảm đi rất nhiều Theo thống kê của cơ quan đăng kiểm, hiện còn chưa tới 10 doanh nghiệp xe máy nội địa hoạt động, với tổng sản lượng quanh mức 50.000 xe

Gần như không có đối thủ nội địa trong thị trường Việt Nam, nhưng sự cạnh tranh lẫn nhau đã khiến các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy phải không ngừng quảng bá thương hiệu của mình Và khi đó, báo chí truyền thông trở thành một kênh thông tin quan trọng nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy

Là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, báo chí đã kịp thời phản ánh những thông tin cần thiết giúp các doanh nghiệp hiểu rõ thương trường, định hướng đúng sản xuất kinh doanh, đồng thời cổ vũ những điển hình tiên tiến trong đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Doanh nghiệp qua báo chí để nắm bắt nhiều thông tin hơn về tình hình chính trị, thị trường,

sự quan tâm của công chúng, qua đó, doanh nghiệp có thể định ra những chiến lược của riêng mình Báo chí được xem là kênh chính quảng bá thương hiệu, sản phẩm của doanh nghiệp bởi báo chí là phương tiện chính thống, phổ

Trang 8

biến được cộng đồng dân cư chú ý nhất Bởi thế, có thể khẳng định, mối quan

hệ doanh nghiệp và báo chí chính là mối quan hệ qua lại hữu cơ, dựa vào nhau để tồn tại và phát triển

Trong tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay, lựa chọn một kênh truyền thông hiệu quả thực sự là một vấn đề mấu chốt của nhiều doanh nghiệp Báo mạng điện tử tuy mới ra đời nhưng đã nhanh chóng phát triển về

số lượng, chất lượng và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong đời sống báo chí, đời sống xã hội của đất nước Phải nói rằng, với sự dễ dàng truy cập ở bất cứ đâu, báo mạng điện tử chính là một công cụ mới tiện ích cho mọi nhu cầu thông tin của công chúng Khi đó, những thông tin về ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử tất nhiên cũng được đến gần với công chúng nhanh hơn

và đa chiều hơn Với những hình ảnh bắt mắt và màu sắc, khả năng đưa thông tin đầy đủ không giới hạn, báo mạng điện tử đang là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy để giới thiệu mình trước công chúng Tuy nhiên, ô tô, xe máy là thị trường gắn liền với nhu cầu thiết thực của đời sống người dân Với nhiều vấn đề bức thiết liên quan đến phương tiện này trong thời gian gần đây như đề án thu phí hạn chế xe cá nhân, cháy nổ ô

tô, xe máy hàng loạt không rõ nguyên nhân, … đòi hỏi doanh nghiệp phải có cách thức xử lý truyền thông hợp lý

Mặc dù báo mạng điện tử được coi là “đội quân” hùng mạnh trong việc truyền thông hình ảnh các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy, song cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào xem xét một cách đầy đủ và toàn diện, đồng thời đánh giá đúng thực trạng hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp này trên báo mạng điện tử Chính vì vậy, tác giả

đã chọn đề tài:

Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam

Trang 9

(Khảo sát VnExpress.net,Vneconomy.vn và Dddn.com.vn từ 7/2011 đến 6/2012) làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành báo chí học Luận văn sẽ tiến

hành khảo sát, đánh giá thực trạng, đồng thời chỉ ra cách thức truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp truyền thông cụ thể

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn

về hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Trên cơ sở khảo sát các bài viết trên 3 tờ báo mạng điện tử là VnExpress, Vneconomy, Dddn, trong thời gian từ tháng 7/2011- 6/2012, tác giả đánh giá thực trạng hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp này trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Từ đó, đưa ra những kiến nghị về giải pháp nâng cao hiệu quả hình ảnh truyền thông cho các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô – xe máy trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện những mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy và báo mạng điện tử

- Phân tích hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy về nội dung và hình thức được phản ánh trên 3 tờ báo mạng điện tử thời gian từ 7/2011 đến 6/2012 cả định lượng và định tính

- Phỏng vấn sâu một số lãnh đạo các cơ quan báo chí và các nhà báo, từ

đó phân tích quan điểm của họ về các hình ảnh doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên phương tiện truyền thông ở Việt Nam

- Dựa trên kết quả phân tích, khảo sát nội dung và phỏng vấn sâu, đưa

Trang 10

ra được bức tranh tổng thể về hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hình ảnh truyền cho các doanh nghiệp này trên báo mạng điện tử

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong thời buổi toàn cầu hóa hiện nay, mối quan hệ giữa báo chí truyền thông và kinh tế trở thành một vấn đề khá hấp dẫn Trên thế giới, với sự phát triển rầm rộ của các tập đoàn báo chí hùng mạnh, có ảnh hưởng to lớn tới lĩnh vực kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu đã bỏ công sức và thời gian tìm hiểu về sức mạnh của mối quan hệ này Đó là các vấn đề truyền thông và kinh tế nổi bật như:

- Breda PavliC and Cees J Hamelink, (1985), Trật tự kinh tế thế giới

mới: Mối liên kết giữa kinh tế và truyền thông (The New International Economic Order: Links between Economics and Communications),

UNESCO

Trước đó, ở một thế giới phẳng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được các nhà nghiên cứu tìm hiểu tới từng khu vực, từng vấn đề, từng yếu tố:

- Ivar, K and T Line, (2002), Phát triển xã hội và Đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở các nước đang phát triển, (Social Development and Foreign Direct Investments in Developing Countries), Báo cáo CMI năm 2002 của

Bergen, Học viện nghiên cứu về sự phát triển và quyền con người Michelsen

- Dinh Thi Thanh Binh (2009), Cách thức đầu tư của các doanh nghiệp

nước ngoài vào các nền kinh tế đang chuyển đổi, trường hợp Việt Nam (Investment behavior by foreign firms in transition economies, the case of Viet Nam), Luận án tiến sĩ tại trường Đại học Trento, Ý

- Li Hai-Qing, (2001), Mối liên hệ giữa thương mại và Đầu tư trực tiếp

nước ngoài và các gợi ý cho Tổ chức Kinh tế thế giới (The relationship

Trang 11

between trade and Foreign Direct Investment and implications for the WTO),

Luận văn thạc sĩ Luật, Đại học Toronto, Canada

Các nghiên cứu trên đã khái quát và chỉ ra được những vấn đề lý luận về dòng vốn FDI trên toàn thế giới, về vai trò của nó đối với từng khu vực, các xu hướng và cách thức đầu tư FDI cũng như những đề xuất đầu tư FDI đối với từng khu vực và lĩnh vực cụ thể Đó là những tiền đề quan trọng cho các công trình nghiên cứu trong nước về doanh nghiệp FDI cũng như cho luận văn này

3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Báo chí và các mối quan hệ với doanh nghiệp ở nước ta đã được nghiên cứu ở nhiều công trình khác nhau từ cấp độ bài nghiên cứu cho tới các luận văn, luận án Tuy nhiên, có thể thấy rằng vấn đề báo chí và kinh tế vẫn có số lượng nhỏ hơn rất nhiều so với các vấn đề về báo chí và văn hóa, xã hội Bởi vậy, thực tế, khi FDI vào Việt Nam và nở rộ từ đầu những năm 2000 trở lại đây, không có nhiều công trình nghiên cứu về báo chí với doanh nghiệp FDI

Và đặc biệt, theo khảo sát của tác giả, hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề hình ảnh truyền thông doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Tuy vậy, những tiền đề của công trình này đã được thể hiện trong các nghiên cứu chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, về báo mạng điện tử, về mối quan hệ giữa báo chí và kinh tế

Trong nước, ở khối các trường kinh tế, vấn đề về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ khá sớm, và đặc biệt từ sau khi nước ta ra nhập WTO, vấn đề này đã được xem xét mở rộng nhiều góc độ, có thể thấy ở một số công trình nghiên cứu như:

- Trần Quang Lâm, An Như Hải, (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước

ngoài ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia

- Trần Xuân Tùng, (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam -

Trang 12

thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia

- Hoàng Thị Bích Loan, (2008), Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty

xuyên quốc gia vào Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia

- Đỗ Hoàng Long (2008), Tác động của toàn cầu hóa đối với dòng vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, trường Đại

học Kinh tế quốc dân

- Nguyễn Quang Vinh (2007), Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh

tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Những nghiên cứu trên phổ biến đề cập đến các cơ sở lý luận hình thành hoạt động đầu tư nước ngoài trên quy mô toàn thế giới, đánh giá hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong những năm qua; vai trò, ý nghĩa của đầu tư nước ngoài đối với quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, và nêu ra xu hướng của sự phát triển về đầu tư trên thế giới và ảnh hưởng của nó tới Việt Nam

Ở Việt Nam, đời sống báo chí và kinh tế mới chỉ thực sự hòa nhập với nhau từ kể từ sau Đổi mới Nhất là sau khi Nhà nước ta xác định tiến hành nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, khu vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mới có cơ hội phát triển mau chóng Các nghiên cứu chi tiết về vấn đề đầu tư nước ngoài trên báo chí có kể tới:

- Vũ Thiên Hương, (1996), Thông tin về vấn đề đầu tư nước ngoài tại

Việt Nam trên báo Đầu tư nước ngoài 1994-1995, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa

Báo chí, ĐH KHXH&NV

- Phan Thị Thắng, (1997), Báo chí với vấn đề đầu tư nhìn từ góc độ tài

chính, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Báo chí, ĐH KHXH&NV

- Phí Thị Hương Giang, (1997), Những vấn đề về đầu tư nước ngoài,

Báo đầu tư nước ngoài, Thời báo Kinh tế Việt Nam 1996-1997, Khóa luận tốt

Trang 13

nghiệp, Khoa Báo chí, ĐH KHXH&NV

- Bùi Phương Thảo, (2002), Tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

trong những năm gần đây qua sự phản ánh của Báo chí (Dựa trên tư liệu Báo đầu tư, Thời báo kinh tế Việt Nam, tạp chí Kinh tế dự báo từ năm 2000 đến nay), Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Báo chí - ĐH KHXH&NV

- Vương Tuấn Anh, (2002), Thông tin đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

trên báo chí (Khảo sát trên báo Đầu tư, báo Thời báo Kinh tế và Tạp chí Vietnam Economic News 9 tháng cuối năm 2001 - 3 tháng đầu năm 2002),

Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Báo chí, ĐH KHXH&NV

- Nguyễn Thị Hồng Vân, (2008), Báo chí với vấn đề đầu tư trực tiếp

nước ngoài tại Việt Nam (Khảo sát Báo đầu tư, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Lao động, 2007-2008), Luận văn Thạc sỹ, Khoa Báo chí, ĐH KHXH&NV

Cũng tương tự như vậy, với sự phát triển chóng mặt của báo mạng điện

tử trong vài năm gần đây, rất nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên báo chí đã tích cực tìm hiểu cũng như giới thiệu các công trình mang tính chất lý luận và thực tiễn về loại hình truyền thông đa phương tiện này Tuy nhiên, vì báo mạng điện tử là vấn đề còn mới mẻ, đòi hỏi một sự đào sâu công phu, nên hiện nay không có nhiều cuốn sách viết về loại hình truyền thông mới này Các nghiên cứu mới dừng lại ở các luận văn, khóa luận hay các bài báo cáo ngắn Tiêu biểu như:

- Phạm Thị Thành, (2004), Ảnh hưởng của Internet đói với công chúng

Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Trần Hồng Vân,(2004), Thực trạng và giải pháp xử lý thông tin trong

tòa soạn báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay (Khảo sát Vietnamnet và VnExpress, Tuổi trẻ Online, Lao động điện tử), Luận văn thạc sỹ, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền

- Trần Quang Huy, (2006), Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử

Trang 14

(Khảo sát Vietnamnet và VnExpress từ tháng 5/2005-5/2006), Luận văn thạc

sỹ Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Hoàng Thu Oanh, (2008), Độ tin cậy của thông tin trên báo mạng điện

tử Việt Nam (Khảo sát Vietnamnet, VnExpress và Dân trí), Khóa luận tốt

nghiệp, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trong số rất nhiều các nghiên cứu về kinh tế, về báo mạng điện tử, về mối quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp, có một số ít công trình đã đề cập trực tiếp đến khía cạnh báo mạng điện tử và các vấn đề thông tin kinh tế, đó là:

- Nguyễn Thị Bảo Linh, (2007) Thông tin kinh tế trên báo mạng điện tử

(Qua khảo sát trang thông tin điện tử Bộ Tài chính từ tháng 4/2006 đến tháng 4/2007) Khóa luận tốt nghiệp, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Nguyễn Thị Thu Hà, (2007), Nâng cao chất lượng tin bài kinh tế trên

báo mạng điện tử (Khảo sát Thời báo kinh tế Việt Nam, VnExpress từ tháng 1/2007-3/2007), Khóa luận tốt nghiệp, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Tóm lại, trong các công trình nói trên, các tác giả đã giới thiệu và phân tích tình hình đầu tư nước ngoài trên báo chí, chỉ ra được cách thức sử dụng các thể loại báo chí khi truyền thông về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tin, bài kinh tế trên các tờ báo mạng về vấn

đề kinh tế Tuy nhiên, các luận văn, khóa luận này đều mới chỉ tiếp cận và nghiên cứu vấn đề đầu tư và đầu tư nước ngoài nói chung, thời gian khảo sát cũng đã tương đối xa Đặc biệt, kể từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính năm 2008, được bắt nguồn từ tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có cuộc khủng hoảng quy mô lớn trong ngành chế tạo

ô tô Hoa Kỳ , đã khiến kinh tế thế giới cũng như đời sống truyền thông có khá nhiều biến đổi Bởi vậy, cần có một nghiên cứu truyền thông mới, cập nhật và đi sâu vào các vấn đề về đầu tư quốc tế giữa thời kỳ khủng hoảng, cụ thể hơn là

Trang 15

trong lĩnh vực ô tô, xe máy Ngoài ra, phần lớn các công trình mới chỉ khảo sát và phân tích nội dung các bài báo nên ở một góc độ nào đó, mức độ định lượng tương đối đơn giản

Vì vậy, với hướng nghiên cứu đặt ra, tác giả hy vọng sẽ đưa ra những góc nhìn mới về thực trạng hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử hiện nay và mạnh dạn đề xuất những giải pháp truyền thông thiết thực cho các doanh nghiệp trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát các bài báo được đăng tải trên 3 tờ báo VnExpress,

Vneconomy, Dddn trong thời gian từ ngày 1/7/2011 đến ngày 30/ 6/2012 - thời điểm mà nhiều thông tin nóng về phương tiện ô tô, xe máy đang gây xôn xao dư luận và được phản ánh rộng khắp trên báo chí Các tờ báo được chọn

là những tờ báo tiêu biểu cho các cách thức thể hiện thông điệp về lĩnh vực ô

tô, xe máy tới những đối tượng độc giả khác nhau Trong đó, VnExpress là tờ báo mạng điện tử có lượng truy cập hàng đầu tại Việt Nam; Vneconomy là báo mạng điện tử của Thời báo Kinh tế Việt Nam – tờ báo có tuổi đời 20 năm gắn liền với lĩnh vực kinh tế với những bài phân tích chuyên sâu và Dddn là diễn đàn của cộng đồng doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở hệ thống lý luận và quan điểm nền tảng, để từ đó, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, đưa ra những đánh giá khách quan nhất về thực trạng cũng như giải pháp cho việc

Trang 16

truyền thông hình ảnh các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy

5.1 Hệ thống lý luận và quan điểm nền tảng

- Các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Học thuyết của Chủ nghĩa Mác – Lê nin về kinh tế chính trị, về hoạt động của báo chí

- Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hoạt động của báo chí

- Lý thuyết về truyền thông

- Đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các chính sách liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: xem xét tài liệu, tổng hợp, phân tích, so sánh về nội dung và hình thức các bài báo trên 3 website VnExpress, Vneconomy, Dddn trong thời gian từ tháng 7/2011 đến tháng 6/2012:

- Phương pháp n ghiên cứu tài liê ̣u : Hệ thống hoá những vấn đề lý luận

cơ bản về doanh nghiệp FDI, về báo chí và mối quan hệ giữa báo mạng điện

tử với các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh dựa trên việc khảo sát 3 tờ báo mạng: VnExpress, Vneconomy, Dddn trong thời gian 1 năm, thống kê các bài báo liên quan đến doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy theo danh sách các từ khóa Sau đó, các bài báo đã chọn sẽ được xử lý qua việc mã hóa trên phần mềm thống kê xã hội học SPSS để phân tích định lượng cùng với các phương pháp phân tích định tính để đưa ra kết luận khách quan

Về cách lấy mẫu: Mẫu được chọn theo danh sách các từ khóa là tên các nhãn hiệu ô tô, xe máy của doanh nghiệp FDI có thị phần lớn tại Việt Nam gồm: Ô tô, xe máy, Honda, Yamaha, SYM, Piaggio, Suzuki, Toyota, Isuzu,

Trang 17

Ford, Mercedes, Honda ô tô Tại khoảng thời gian khảo sát từ ngày 1/7/2011 đến ngày 30/6/2012, với điều kiện từ khóa hiển thị ở mọi nơi trong văn bản,

tìm kiếm nâng cao từ Google Advanced Search cho thấy gần 54.174 kết quả

trên 3 tên miền VnExpress.net, Vneconomy.vn, Dddn.com.vn Tuy nhiên, nhiều trong số các kết quả này không phù hợp với nội dung tìm kiếm của nghiên cứu Lý do là:

+ Các từ khóa nằm trong bài quảng cáo, rao vặt, các bài xin thông tin tư vấn của độc giả mang tính chất cá nhân

+ Các từ khóa nằm trong tin liên quan dẫn tới hiển thị kết quả tìm kiếm

ở những bài có nội dung hoàn toàn khác

+ Các từ khóa nằm trong phản hồi của độc giả

Với số lượng tin, bài khổng lồ như vậy, tác giả đã dùng lệnh lựa chọn ngẫu nhiên (randomize) của Excel để lựa chọn ra 10.000 tin, bài Sau đó loại

bỏ các tin, bài không phù hợp thu được kết quả 667 tin, bài với nội dung về các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô xe máy Một lần nữa sử dụng lệnh ngẫu nhiên của Excel chọn ra 500 bài báo điển hình để phân tích

- Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này bao gồm phỏng vấn sâu 9 người gồm:

+ Trưởng ban phụ trách chuyên mục ô tô, xe máy

+ Các nhà báo trực tiếp viết bài trong lĩnh vực ô tô, xe máy

Để phỏng vấn sâu, tác giả đã xây dựng câu hỏi dựa trên các lý thuyết về truyền thông và thông tin chuyên sâu về lĩnh vực ô tô, xe máy Với kết quả thu được, tác giả tiếp tục sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để đưa ra những nhận định khách quan nhất về việc truyền thông hình ảnh các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Trong xu thế hội nhập hiện nay, doanh nghiệp và báo chí có mối quan hệ

Trang 18

mật thiết với nhau Doanh nghiệp cần báo chí để xây dựng hình ảnh và phát triển kinh doanh của mình Bởi trên thực tế, thông tin trên báo chí có ảnh hưởng rất lớn đến sức mua của người tiêu dùng Ngược lại báo chí cũng cần đến doanh nghiệp như một đối tượng thông tin quan trọng và đối tượng đem lại nguồn thu quảng cáo cho tòa soạn Vì vậy, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp cũng như các đồng nghiệp trên cơ sở khoa học và tác dụng thực tiễn của việc truyền thông hình ảnh doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy

Ngoài ra, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp truyền thông tích cực cho cả các báo mạng điện tử và doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy Đối với các cơ quan báo chí, sẽ là các kiến nghị khi tác nghiệp, phản ánh

về doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy

sẽ là các gợi ý khi định hướng tổ chức xây dựng các thông điệp truyền thông

và hình ảnh trên báo chí

Cuối cùng, hy vọng luận văn sẽ góp thêm tài liệu tham khảo phục vụ cho

sinh viên báo chí, cán bộ làm công tác truyền thông cho các doanh nghiệp và những người quan tâm đến lĩnh vực này

7 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu 3 chương gồm:

 Chương 1: Lý luận chung về doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô,

xe máy và báo mạng điện tử

 Chương 2: Thực trạng hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử

 Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử

Trang 19

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP FDI TRONG

LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY VÀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

1.1 Doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy Việt Nam

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong các hình thức đầu tư quốc tế đặc trưng bởi sự di chuyển tư bản giữa các quốc gia Bởi vậy, khái niệm đầu

tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Direct Investment) vốn có lịch sử khá lâu đời với nhiều cách hiểu khác nhau Đặc biệt, khi nền kinh tế càng sôi động

và biến đổi không ngừng như hiện nay, ở mỗi thời điểm người ta lại xây dựng nên các cách định nghĩa FDI để phù hợp thực tiễn

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước

ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản

lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người

đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp

đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi

là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"[52]

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF-International Monetary Fund) lại có một định

nghĩa khác về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một công cuộc đầu tư

ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu

tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI[53]

Tại Việt Nam, việc xây dựng và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm

Trang 20

1987 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn về tư duy phát triển kinh tế trong lịch

sử Việt Nam thời hiện đại vì nó đã tạo ra nền tảng pháp lý cho việc hợp tác kinh doanh với nước ngoài, một vấn đề còn quá mới mẻ vào thời điểm đó Khái niệm luật đầu tư nước ngoài cũng được thể hiện cụ thể trong điều 2,

Luật này như sau: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài

đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này" Theo đó, "Nhà đầu tư nước ngoài có thể là tổ chức kinh tế hay cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam"[1]

Ngoài ra, theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế thị trường hiện đại, khái niệm

Đầu tư trực tiếp có thể hiểu là "đầu tư của các công ty hay cá nhân vào các

hoạt động kinh doanh của nước ngoài mà nhà đầu tư có mức độ kiểm soát đáng kể đối với hoạt động đó"[29; tr 67]

Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng chung quy lại có thể hiểu:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức các nhà đầu tư của nước này rót vốn vào nước khác bằng cách thiết lập một đơn vị kinh doanh mới hoặc hợp tác với cơ sở kinh doanh trong nước tạo ra lợi nhuận

Theo quy định tại chương V Luật Đầu tư về các hình thức đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư trực tiếp vào Việt Nam theo một trong các hình thức sau:

 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà

đầu tư nước ngoài

 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng

BTO, hợp đồng BT

 Đầu tư phát triển kinh doanh

 Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Trang 21

 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác

1.1.2 Đóng góp FDI vào nền kinh tế Việt Nam

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến cuối tháng 11/2012, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt 12,2 tỷ

USD với 980 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư và 406 lượt dự án

đăng ký tăng vốn đầu tư Lũy kế đến tháng 11, Việt Nam có 14.364 dự án còn hiệu lực với tổng số đăng ký gần 213 tỷ USD, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn thu hút lượng đầu tư lớn nhất, chiếm 69,8% tổng vốn đầu

tư Toàn quốc đã có 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm 5,05 tỷ USD, chiếm 41,5% tổng vốn đầu tư Mặc dù trong tình hình kinh tế khó khăn, theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn là địa chỉ hấp dẫn đầu tư đối với các nhà đầu tư thế giới Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2010 - 2012 của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy, Việt Nam đã thăng hạng 3 bậc, đứng thứ nhất trong ASEAN về mức độ hấp dẫn FDI và là một trong 10 nền kinh tế hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư Nhật Bản và các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á

Không thể phủ nhận, trong suốt những năm qua, FDI đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của đời sống kinh tế và xã hội của Việt Nam Đồng thời, các doanh nghiệp FDI cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam Vì vậy,

có thể đánh giá những tác động của FDI ở các lĩnh vực cụ thể sau:

 Về kinh tế

- Công nghiệp: Đầu tư FDI đem đến cho nền công nghiệp nước ta nhiều lợi ích và làm thay đổi đáng kể đời sống kinh tế ở Việt Nam Trước hết, đầu

Trang 22

tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào giá trị sản lượng công nghiệp, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước Vai trò của đầu tư nước ngoài trong cơ cấu công nghiệp cả nước đang ngày càng được củng cố Điều này được thể hiện thông qua tỷ trọng của đầu tư nước ngoài trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng dần từ 16,9% (1991) lên 23,65% (1995), 26,5% (1996) lên tới 41,3% năm 2000, và 36,4% (2006) và và cho đến mức 76,4% (năm 2011) với tổng vốn đăng ký (8,86 tỷ USD) [56] Tốc độ tăng trưởng cao của khu vực công nghiệp có vốn FDI đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cao tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp Chất lượng của các dự

án FDI vào lĩnh vực công nghiệp đang có sự cải thiện rõ rệt Có thêm nhiều

dự án quy mô lớn, áp dụng công nghệ hiện đại, nhiều dự án đầu tư theo các nhóm liên kết ngành đây cũng là cơ sở thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển trong thời gian tới Vì với lợi thế về máy móc thiết bị và kỹ thuật hiện đại, có thị trường ổn định, được khuyến khích bằng các cơ chế, chính sách ngày càng thông thoáng, khu vực có vốn FDI trong công nghiệp đã

và đang phát triển khá nhanh và ổn định, luôn có xu hướng tăng nhanh hơn các khu vực khác

Việc đầu tư nước ngoài trong công nghiệp phát triển nhanh cũng đã tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh, góp phần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước Khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp cũng được nâng cao thông qua việc áp dụng các công nghệ, máy móc và thiết bị sản xuất hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến từ các dự

án FDI, tạo điều kiện ra đời và thay đổi diện mạo của nhiều ngành công nghiệp như khai thác dầu khí, sản xuất, lắp ráp ô tô, điện tử và công nghệ thông tin, thiết

bị kỹ thuật điện và điện gia dụng, chế biến thực phẩm và đồ uống, các ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày dép thu hút hàng hàng trăm ngàn lao động

Trang 23

Ngoài ra, đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp đã và đang gián tiếp đào tạo cho Việt Nam một đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, được tiếp xúc với công nghệ mới, cũng như các kỹ năng quản lý tiên tiến, kỷ luật công nghiệp chặt chẽ

- Nông nghiệp: FDI đã bổ sung nguồn vốn đáng kể cho đầu tư phát triển nông nghiệp Hiện nay, tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài vào trong ngành nông nghiệp là chưa cao, giảm dần từ 8% (năm 2001) trong cơ cấu FDI của cả nước xuống còn 1% (năm 2011) Mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế song, các

dự án FDI đã góp phần không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, nâng cao giá trị xuất khẩu cho nông sản Việt Nam, trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng các công nghệ mới, có khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập

Các dự án đầu tư FDI vào nông nghiệp tuy không lớn nhưng đã tạo ra công ăn việc làm, thu nhập ổn định, giúp hàng vạn hộ nông dân tham gia lao động tạo nguồn nguyên liệu thường xuyên cho dự án hoặc theo mùa vụ (trồng mía đường, khoai mì…), góp phần quan trọng thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo Tính trung bình, đầu tư FDI vào nông nghiệp tạo ra tỷ lệ việc làm gián tiếp so với việc làm trực tiếp rất cao 34,5/1 Đặc biệt, ở một số địa phương, dự án FDI tạo việc làm cho khoảng 1/4 dân cư trên địa bàn

- Dịch vụ: Ngành dịch vụ càng ngày càng chiếm một thị phần lớn của thương mại toàn cầu Khu vực dịch vụ bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau từ

du lịch, tài chính cho đến lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục Các chuyên gia cho rằng lĩnh vực du lịch-dịch vụ đang là "điểm nóng" thu hút đầu

tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Các nhà đầu tư nước ngoài dường như không muốn chậm chân trước những cơ hội kinh doanh lớn trong lĩnh vực này khi mà Việt Nam đã là thành viên của (WTO)

Cơ cấu đầu tư trong thời gian qua rất khả quan, các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 24

đang dành sự quan tâm rất lớn cho các dự án xây dựng khu vui chơi, nghỉ dưỡng, khách sạn, sân golf quy mô lớn và chất lượng dịch vụ cao Chính điểm này đã góp phần giúp cho Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhiều du khách cũng như nhà đầu tư nước ngoài

 Về mặt xã hội:

- Xoá đói giảm nghèo: Hội nhập quốc tế là một trong những động lực chính để giảm nghèo và phát triển xã hội nói chung ở Việt Nam trong suốt 2 thập kỷ qua Các doanh nghiệp FDI đã đóng góp đáng kể vào nguồn ngân sách để Nhà nước có thể tăng chi tiêu ngân sách cho các lĩnh vực xã hội, cho các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, góp phần xoá đói giảm nghèo

- Việc làm: Nguồn vốn FDI đã có tác động quan trọng trong tạo việc làm

và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam Đến nay, doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm trực tiếp cho trên 1 triệu lao động và khoảng 3 đến 4 triệu lao động gián tiếp với thu nhập cao hơn; người lao động được đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật, rèn luyện tác phong công nghiệp

Bên cạnh những đóng góp đáng kể, hoạt động FDI cũng đã bộc lộ những hạn chế như chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế, một số máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu đã được nhập khẩu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, quan hệ lao động giữa chủ đầu tư nước ngoài và nhân công Việt Nam còn nhiều xung đột…Bởi vậy, vấn đề đặt ra là cân bằng nguồn lợi do FDI mang lại nhưng vẫn đảm bảo không phá vỡ quy hoạch lâu dài của Việt Nam

1.1.3 Doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy tại thị trường Việt Nam

Công nghiệp ô tô, xe máy thường chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh

tế ở các nước phát triển và đang phát triển do những mặt mạnh của ngành công nghiệp này mà ít ngành khác có được: sản phẩm có giá trị gia tăng lớn,

Trang 25

tạo nhiều việc làm cho xã hội, tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác

So với các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia công nghiệp ô tô, xe máy Việt Nam phát triển muộn hơn khoảng 30 năm Tuy nhiên, với sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong nhiều năm qua, nước ta đang dần trở thành một thị trường hấp dẫn đối với ngành công nghiệp ô tô, xe máy Bước đầu Việt Nam đã có một ngành công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô thu hút được một nguồn vốn đầu tư lớn từ các đối tác nước ngoài, ngành sản xuất

xe máy đã đáp ứng được nhu cầu trong và ngoài nước Năm 2011 là năm sản lượng xe máy tại Việt Nam tăng mạnh nhất Theo số liệu của Bộ Công thương, năm 2011, Việt Nam đã sản xuất 3,7 triệu xe các loại, trong đó 5 doanh nghiệp xe máy có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm Honda, Yamaha, Suzuki, Piaggio và SYM Việt Nam tiêu thụ 3,37 triệu xe máy, tăng 30% so với năm 2010[57] Hiện tại, Việt Nam là thị trường xe máy lớn thứ 4 trên thế giới , sau Trung Quốc , Ấn Độ và Indonesia Việt Nam đã trở thành một địa chỉ hấp dẫn đối với nhiều nhà sản xuất xe gắn máy trong bối cảnh nhiều thành phố lớn trên thế giới hạn chế sử dụng dòng xe này Vì lẽ đó mà hàng loạt các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực xe máy mạnh tay đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất, lắp ráp với mục tiêu biến Việt Nam trở thành thị trường trung tâm xe máy của khu vực châu Á

Với chiến lược kinh doanh bài bản và sự tăng trưởng nhanh chóng, các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực xe máy đã nhanh chóng chiếm gọn thị phần của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp nội địa Theo Hiệp hội Ô tô, xe máy, xe đạp Việt Nam (VAMOBA), đỉnh cao của công nghiệp xe máy nội địa là năm

2000, 60 doanh nghiệp với sản lượng 2 triệu xe, nắm 80% thị trường Thế nhưng đến nay, chỉ còn chưa tới 10 doanh nghiệp xe máy nội địa và sản lượng chỉ quanh mức 50.000 xe/năm Trong khi nhu cầu xe máy tại thị trường Việt

Trang 26

Nam tăng đều 10%/năm, nhưng thị phần của doanh nghiệp vốn trong nước lại giảm từ 80% năm 2000 xuống còn 15% năm 2010

Doanh nghiệp xe máy nội không có cơ hội, còn đối với thị trường ô tô, vấn đề cũng nằm ở tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm thuộc khối doanh nghiệp FDI hầu như không đạt tiêu chuẩn Dưới góc độ tổng quan, ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam chủ yếu vẫn là lắp ráp, thiếu nhà cung cấp linh kiện nội địa, chuyển giao công nghệ cũng mới chỉ dừng ở lắp ráp Giá xe quá cao, thị trường hạn hẹp làm cho lượng xe tiêu thụ quá ít và các doanh nghiệp liên doanh không tích cực nội địa hoá Trong khi, Việt Nam đã ban hành chính sách ưu đãi cho ngành công nghiệp ô tô trong nước từ nhiều năm nay, với mong muốn xây dựng một ngành ô tô phát triển trong tương lai Để đánh đổi cho kỳ vọng về tỉ lệ nội địa hóa các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô

có thể mang lại là việc người tiêu dùng Việt Nam phải chịu mua ô tô với giá cao, tuy nhiên, mục tiêu đó vẫn không đạt được Đối với trường hợp của Toyota, nếu nhìn vào những con số thì doanh nghiệp này đã đáp ứng được quy định về tỉ lệ nội địa hóa phải đạt được sau 10 năm hoạt động (1996-2006)

là 30% Tuy nhiên, theo kết quả thanh tra của Bộ Tài chính vào cuối năm

2008, giá trị sản phẩm nội địa hóa của Toyota chỉ đạt 7% giá trị xe Tại Suzuki, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp hơn với chỉ 3% vào thời điểm thanh tra, trong khi yêu cầu trong giấy phép đầu tư là phải đạt 38,2% vào năm 2006 Ford Việt Nam còn đạt thấp hơn nữa, 2% Một số công ty khác cũng chỉ đạt 4% [54] Ông Jun Tokue, Trưởng phòng cấp cao phòng bán hàng ô tô Honda Việt Nam cho rằng: “Điều kiện nhà máy tại Việt Nam không đủ đáp ứng việc lắp ráp và sản xuất dòng xe này nên phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng” Người ta thấy rằng, các doanh nghiệp FDI về ô tô càng có động lực bỏ sản xuất chạy theo nhập khẩu khi mà các rào cản về thuế đang được dỡ

bỏ nhanh chóng theo các cam kết thương mại quốc tế

Trang 27

Nhìn chung các mục tiêu lâu dài của Chính phủ đối với thị trường ô tô,

xe máy Việt Nam tại các doanh nghiệp FDI hầu như chưa đạt được Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy đã mang lại rất nhiều sự thay đổi và lợi ích cho sự phát triển đời sống kinh tế của Việt Nam

1.2 Báo mạng điện tử Việt Nam và mối quan hệ với các doanh nghiệp FDI

1.2.1 Khái niệm báo mạng điện tử

Cho đến nay khái niệm báo mạng điện tử vẫn chưa có sự thống nhất Sau

15 năm kể từ khi xuất hiện ở Việt Nam, loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ world wide web, với ngôn ngữ HTML, chưa được gọi với cái tên chung nhất Các cụm từ báo mạng, báo online, báo trực tuyến, báo điện tử, báo mạng điện tử,…vẫn đang được sử dụng với tần suất như nhau trong các lĩnh vực cụ thể

Thực tế, trên thế giới, loại hình báo chí này cũng có nhiều tên gọi khác nhau như "Online Newspaper" - báo chí trực tuyến, E-journal (Electronic journal) - báo chí điện tử, "e-zine" (Electronic magazine) - tạp chí điện tử

Và do đó cũng có một số cách hiểu và định nghĩa về loại hình báo chí này Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa: “ Báo điện tử hay báo mạng là loại báo được xuất bản bởi Tòa soạn điện tử mà người ta đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng khi có kết nối Internet”[58]

Tại Luật báo chí sửa đổi và bổ sung một số điều Luật báo chí năm 1999

đề cập đến báo điện tử: “Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên

mạng thông tin máy tính bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài” (Điều 3- Các loại hình báo chí - NXB Chính trị Quốc gia) [35;tr

8]

Ông Thang Đức Thắng, Tổng biên tập tờ VnExpress – tờ báo điện tử lớn

Trang 28

nhất Việt Nam hiện nay cho rằng: “Báo điện tử là tờ báo thực hiện chức năng

báo chí bằng phương tiện Internet” [35;tr 8]

Theo cách định nghĩa đơn giản nhất, báo điện tử là loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, là những trang báo điện tử độc lập hay là sự nối dài của báo in có sẵn như: Nhân dân điện tử, Lao động điện tử Hay báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet

Tuy nhiên, theo một cách hiểu rộng và phổ biến nhất, trong phạm vi Luận văn này, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử Bởi, báo mạng điện tử là tên gọi cho phép hiểu rõ ràng đặc trưng của loại hình báo chí này Báo mạng điện tử là sản phẩm của sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, hoạt động nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, số hóa, các máy tính nối mạng và các phần mềm ứng dụng Thêm vào đó, tên gọi này cũng cho thấy bản chất của loại hình báo chí này đó là tính kết nối rộng, tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thì, phi định kỳ, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế, cách lưu thông tin dưới dạng siêu văn bản, các trang báo được

tổ chức thành từng lớp

Cũng từ các cách định nghĩa trên, trong luận văn này, báo mạng điện tử

được hiểu là loại hình báo chí chuyển tải thông tin trên mạng Internet thông qua các phương tiện kỹ thuật có kết nối

Với báo mạng điện tử, một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải bao gồm ít nhất từ hai trong những thành phần sau trở lên Đó là: văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic), âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation) và gần đây nhất là các chương trình tương tác (interactive program)

Một trong những mốc quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của tính đa phương tiện trên báo mạng điện tử là sự ra đời của world wide web vào đầu

Trang 29

những năm 1990 Với khởi đầu là những trang web đơn giản được viết bằng ngôn ngữ siêu văn bản HTML (HyperText Markup Language), sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và thế giới lập trình đã giúp số lượng các

“phương tiện” được tích hợp trên các trang web ngày một đông đảo

1.2.2 Đặc điểm truyền thông của báo mạng điện tử

Báo mạng điện tử là phương tiện truyền thông đại chúng ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác như: truyền hình, báo in, phát thanh…Tuy nhiên, với khả năng đa phương tiện và tích hợp thông tin, báo mạng điện tử nhanh chóng trở thành một kênh truyền thông vô cùng hiệu quả Bản thân nó mang trong mình sức mạnh của phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống, nhưng do kết hợp với mạng máy tính mà nó có chức năng ưu việt nổi trội

Tại Việt Nam, chỉ một tháng sau khi nước ta nối mạng Internet, tạp chí Quê hương (tạp chí của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài) đã trở thành tờ báo mạng điện tử đầu tiên mở đường cho một loại hình báo chí mới hình thành ở Việt Nam Ngay sau đó, hàng loạt các cơ quan báo chí đã tiến hành thử nghiệm và lần lượt xuất bản ấn phẩm của mình trên Internet như báo Nhân dân, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam Đến nay, hầu hết các cơ quan báo chí lớn như Tiền Phong, Lao Động, Thanh niên, Tuổi trẻ, Thông tấn xã Việt Nam… đều đã có phiên bản điện tử Những tờ báo mạng điện tử độc lập của Việt Nam cũng lần lượt xuất hiện Đầu tiên là tờ Tin nhanh Việt Nam (VnExpress.net) ra mắt độc giả, tiếp đến là VietNamNet và VnMedia Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 3/2012, cả nước có 61 báo, tạp chí điện tử, hơn 1000 trang thông tin điện tử đang hoạt động [58] Như vậy, tính từ thời điểm Tạp chí Quê hương – tờ báo mạng điện tử đầu tiên của Việt Nam được đưa lên mạng Internet vào ngày 31/12/1997, đến nay, hệ thống báo mạng điện tử ở nước ta đã và đang phát

Trang 30

triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Với những ưu thế vượt trội của mình về khả năng đa phương tiện, tính tức thời và phi định kỳ, tính tương tác, báo mạng điện tử đang thực sự trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với công chúng

Báo mạng điện tử có sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa

là không chỉ văn bản, hình ảnh mà cả âm thanh, video và các chương trình tương tác khác Không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang, không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên báo mạng điện tử có khả năng truyền tải thông tin đi khắp toàn cầu với số lượng không giới hạn Thông tin trên Internet nói chung và báo mạng điện tử nói riêng có tính thời sự rất cao Thông tin trên báo mạng được các phóng viên thu thập tại hiện trường đến khi thành bài lên trang với tốc độ vô cùng nhanh, cập nhật thường xuyên và liên tục, không như các loại hình báo chí khác phải chờ đầy đủ các tin, bài mới lên khuôn in hay lên chương trình phát sóng

Báo mạng điện tử là một kho thông tin khổng lồ được lưu trữ, giúp người đọc không chỉ xem các tin, bài hiện tại, mà còn đọc được những tin, bài trong quá khứ Hơn thế, nó còn cung cấp cho người đọc một công cụ tìm kiếm thông tin khoa học và hiệu quả Với những ưu thế không thể phủ nhận, báo mạng điện tử đang trở thành kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn Báo mạng điện tử có nhiều ưu thế vượt trội so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác ở khả năng tương tác, tương tác qua lại giữa báo chí với công chúng và giữa công chúng với nhau qua nhiều kênh thu nhận Báo mạng điện tử chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực tuyến… nhằm tăng mối quan hệ giữa toà soạn với độc giả, độc giả với nhau, tạo cơ hội cho độc giả có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích

Bên cạnh những ưu thế rõ rệt, báo mạng điện tử cũng có những hạn chế

Trang 31

nhất định Với việc phải chạy đua về tính thời sự, thông tin trên báo mạng điện tử thường hay gặp sai sót hơn các loại hình báo chí khác Thêm vào đó, việc nhiều đối tượng có thể làm báo mạng điện tử cũng gây ra những khó khăn trong việc quản lí thông tin Không ít các bài viết kém chất lượng, các bài viết đưa những thông tin sai lệch, gây hoang mang dư luận đã được đăng tải mà chưa có sự kiểm duyệt chặt chẽ Ngoài ra còn có hiện tượng sao chép bài từ báo này sang báo khác mà không trích rõ nguồn khiến cho hoạt động của báo mạng điện tử ít nhiều bị lộn xộn

Một vấn đề khó khăn của báo mạng điện tử đó chính là sự phổ cập ở các vùng sâu vùng xa Đối tượng tiếp cận báo mạng điện tử chủ yếu là những người trẻ những người nắm bắt và tiếp thu sản phẩm công nghệ một cách nhanh chóng hoặc là những người có điều kiện tiếp cận với Internet Điều này

tỏ ra hạn chế đối với công chúng vùng sâu vùng xa, những nơi chưa có mạng Internet hoặc những người không không biết sử dụng mạng Lúc này, báo phát thanh, báo hình hay báo in bộc lộ rõ những ưu việt hơn báo mạng điện

tử Cùng với đó, muốn xem được báo mạng điện tử, chúng ta phải bỏ một khoản tiền không nhỏ để mua các thiết bị có thể truy cập, sau đó phải đăng kí kết nối mạng và chi trả phí hàng tháng Trong khi đó, tiền bỏ ra mua tờ báo giấy hay đài radio lại có chi phí thấp hơn

Nhìn chung, dù còn tồn tại những nhược điểm nhưng đó là rất ít so với những lợi thế vượt trội mà báo mạng điện tử đem lại cho người tiếp cận Bởi vậy, hệ thống báo mạng điện tử đang ngày một lớn mạnh và phát triển, hứa hẹn nhiều thành công hơn nữa trong tương lai

1.2.3 Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp và mối quan hệ với báo mạng điện tử

1.2.3.1 Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp

Trong một vài năm trở lại đây, khái niệm hình ảnh doanh nghiệp ngày

Trang 32

càng được phổ biến và nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp, đối tác, khách hàng Các chiến lược xây dựng hình ảnh doanh nghiệp được đẩy mạnh

và đa dạng thông qua nhiều công cụ khác nhau Bởi vậy, đã có nhiều hội thảo, nhiều diễn đàn bàn luận, nghiên cứu về khái niệm hình ảnh doanh nghiệp cũng như các vấn đề liên quan trực tiếp đến xây dựng hình ảnh doanh nghiệp Trong cuốn sách Corporate communication a guide to theory and practice của tác giả Joep Cornelissen, hình ảnh doanh nghiệp (Corporate

Image) được định nghĩa như sau: Hình ảnh doanh nghiệp chính là việc doanh

nghiệp được nhìn nhận như thế nào Nó là một hình ảnh đại diện cho doanh nghiệp được chấp nhận thông qua các công cụ quan hệ công chúng và hình thức thương mại [7;tr 64]

TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho

rằng: Hình ảnh doanh nghiệp được hiểu là suy nghĩ, cảm nhận của người

khác, tức là của người tiêu dùng, của các cơ quan quản lý Nhà nước, đối tác làm ăn về doanh nghiệp, chứ không phải là của chính doanh nghiệp đánh giá

về mình Mỗi doanh nghiệp dù nhỏ bé nhất đều phải nhận biết về vai trò hình ảnh doanh nghiệp và nỗ lực xây dựng hình ảnh của mình[60]

Theo ông Hoàng Hải Âu, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Giải pháp thị

trường Hoàng Gia Việt Nam, hình ảnh doanh nghiệp là diện mạo của một

doanh nghiệp được xác định thông qua tất cả các yếu tố mang tính thông tin cho phép ta phân biệt một doanh nghiệp này với một doanh nghiệp khác Nói cách khác, hình ảnh doanh nghiệp chính là sự nhìn nhận của cộng đồng về một doanh nghiệp thông qua các thông tin mà doanh nghiệp ấy thể hiện ra,

dù họ có hay không có chủ định[60] Cần nhấn mạnh rằng mỗi đối tượng

khác nhau (người tiêu dùng, đối tác, chính quyền và các cơ quan chức năng…) sẽ có một mối quan tâm và cách nhìn nhận khác nhau đối với hình ảnh doanh nghiệp Các nghiên cứu công phu đã cho thấy, ngày nay hình ảnh

Trang 33

doanh nghiệp đóng một vai trò mang tính quyết định đối với thành bại của doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã khẳng định người tiêu dùng quyết định mua hàng dựa trên nhận thức của họ về thương hiệu nhiều hơn là tính thực tế của bản thân sản phẩm

Còn GS Đào Nguyên Cát, Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam

nhận định: Hình ảnh doanh nghiệp là sự phản ánh chính xác nhất vị trí của

doanh nghiệp trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh, trong đánh giá của khách hàng, trong vị thế khu vực và trên thế giới [60]

Hình ảnh doanh nghiệp gắn liền với sự định vị sản phẩm và thị trường,

có ảnh hưởng tới hiệu quả của họat động tiếp thị Hiệu quả của các thông điệp nhất quán với hình ảnh doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghịêp tiết kiệm thời gian

và tiền bạc bởi các thông điệp sẽ hỗ trợ cho nhau, hỗ trợ việc bán các sản phẩm Hình ảnh doanh nghiệp được phổ biến qua nhiều yếu tố của nhận diện thương hiệu như truyền thông và các hoạt động thương mại Ở vai trò phổ biến hình ảnh doanh nghiệp, truyền thông đại chúng là kênh mang lại hiệu quả cao và tức thời nhất

Bởi vậy, có thể hiểu khái niệm hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp như sau:

Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp là hình ảnh doanh nghiệp trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Nội hàm của khái niệm này chính là sự nhìn nhận của 3 đối tượng: truyền thông, công chúng và nội bộ doanh nghiệp về những thông tin mà doanh nghiệp thể hiện ra dù họ có hay không có chủ định

Trong xu thế bùng nổ của công nghệ, thông tin về hầu hết các doanh nghiệp, cả chính thống và tin bên lề, đều có thể tìm thấy trên internet chỉ sau vài click chuột Internet đã mở ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp, nhưng kèm theo đó cũng có không ít những sự cố khó kiểm soát, thậm chí khủng

Trang 34

hoảng uy tín nghiêm trọng Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư cho việc xây dựng và bảo vệ hình ảnh doanh nghiệp trên Internet nói chung và báo mạng điện tử nói riêng

1.2.3.2 Mối quan hệ giữa hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp và báo mạng điện tử

Báo mạng điện tử không những là kênh cung cấp thông tin cho doanh nghiệp mà còn là kênh quảng bá sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đối với cộng đồng Với ưu thế là phương tiện truyền thông chính thống, phổ biến được cộng đồng dân cư chú ý nhất, báo mạng điện tử được xem là kênh chính quảng bá thương hiệu của Toyota, Honda, Mercedes, Piaggio…Hơn thế, khả năng đa phương tiện của báo mạng điện tử giúp cho các doanh nghiệp đa dạng hóa hình thức quảng bá thương hiệu như quảng cáo, ảnh, video, flash…Báo mạng điện tử giúp cho quá trình hội nhập thế giới của các thương hiệu tại Việt Nam nhanh chóng hơn, đưa tên tuổi của doanh nghiệp đến gần

khách hàng hơn thông qua các bài viết, bài PR, quảng cáo hay các sự kiện

Thêm vào đó, các vấn đề kinh tế sôi động và biến đổi từng giờ luôn là mảng đề tài hết sức phong phú, mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận cho báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng Người ta có thể thấy, ở bất

cứ những hội nghị, hội thảo, tọa đàm nào có nội dung về hoạt động, chính sách, môi trường kinh doanh liên quan đến doanh nghiệp đều có sự tham gia tích cực, đông đảo của báo chí Chuyển tải thông tin doanh nghiệp, doanh nhân là báo mạng điện tử đã mang hình ảnh thương hiệu đến với cộng đồng trong nước và thế giới

Tuy nhiên, thông tin từ báo mạng điện tử luôn có tính hai mặt, nếu như

đó là sự phản ánh trung thực, tích cực thì nó sẽ có tác dụng hữu hiệu, thúc đẩy

sự phát triển của doanh nghiệp Ngược lại, nếu những thông tin thiếu căn cứ, phản ánh không khách quan thì sẽ làm tổn hại đến hình ảnh, uy tín của doanh

Trang 35

nghiệp, thậm chí kìm hãm sự phát triển doanh nghiệp Thực tế, nhiều doanh nghiệp phản ánh về sự thiếu tích cực của báo chí, chủ yếu là phản ánh thông tin không chính xác Nhược điểm này thể hiện ở báo mạng điện tử khá rõ nét xuất phát từ chính ưu điểm của báo mạng điện tử là tính tức thời, nhanh chóng Nhiều thông tin chưa kiểm duyệt chặt chẽ đã được tung lên mạng, chỉ nhằm mục đích cạnh tranh tính thời sự với các tờ báo mạng khác Vì vậy, doanh nghiệp rất cần có sự hỗ trợ thông tin từ báo mạng điện tử với những bài viết khách quan, phản ánh chính xác sự việc Cũng như vậy, doanh nghiệp cần chủ động hợp tác cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho báo mạng điện tử tác nghiệp, đây vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi của doanh nghiệp Như vậy, báo mạng điện tử đóng một vai trò quan trọng không thể phủ nhận đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và xây dựng hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp nói riêng Đặc biệt với mặt hàng thiết yếu của cuộc sống như ô tô, xe máy, báo mạng điện tử là nguồn tham vấn quan trọng cho người tiêu dùng, là kênh quảng bá sản phẩm, uy tín và hình ảnh nhanh nhạy của doanh nghiệp Đó là lý do khiến mối quan hệ giữa hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp trong lĩnh vực ô tô, xe máy và các báo mạng điện tử ngày càng bền chặt

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Kể từ khi nước ta mở cửa đón các dòng vốn FDI, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của đất nước, làm thay đổi diện mạo trên mọi mặt kinh tế xã hội của Việt Nam Dòng vốn FDI đã đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp sản xuất Việt Nam, đầu tư vốn vào nông nghiệp, làm sôi động ngành dịch vụ còn non trẻ, để từ đó tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động và xóa đói giảm nghèo ở nhiều vùng miền Một trong những lĩnh vực đầu tư FDI thành công nhất tại Việt Nam đó là sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy Cho đến nay, thị trường này đã nằm gần như hoàn toàn trong tay các doanh nghiệp FDI và không còn nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nội địa

Giai đoạn từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế toàn cầu khủng hoảng đã ảnh hưởng không nhỏ tới các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam Tuy nhiên, theo dự báo, thị trường tiêu thụ xe máy của khu vực châu Á vẫn tăng trưởng đều đặn và Việt Nam kỳ vọng trở thành trung tâm của thị trường châu Á Đồng thời việc sản xuất ô tô của Việt Nam cũng được đầu tư phát triển Mặc

dù vậy, nằm trong hoàn cảnh khó khăn chung của tình hình kinh tế thế giới, các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy đang phải sản xuất dè chừng và liên tục giảm dự báo doanh số bán Khi đó, các phương tiện truyền thông đại chúng được lựa chọn như một công cụ tối ưu để doanh nghiệp quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm cũng như xử lý các vấn đề khủng hoảng

Với ưu thế là loại hình báo chí tiên tiến, tích hợp khả năng đa phương tiện, báo mạng điện tử có thể đưa thông tin đến người đọc một cách nhanh nhất và đầy đủ nhất Tuy chưa có một khái niệm chính xác về loại hình báo chí này, nhưng nó đang được công chúng sử dụng ngày càng phổ biến, nhất là tại một nước có tốc độ phát triển Internet cao như hiện nay Việt Nam Đó là lý

Trang 37

do mà nhiều doanh nghiệp FDI tìm đến báo mạng điện tử để nắm bắt thông tin, quảng cáo và cải thiện cái nhìn của công chúng đối với sản phẩm…Trên thực tế, báo mạng điện tử đã trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng, doanh nghiệp với các cơ quan quản lý Đồng hành cùng thị trường

ô tô, xe máy trong suốt thời gian vừa qua, báo mạng điện tử góp phần xây dựng hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực này và

góp phần tạo ra những biến chuyển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

2.1 Vài nét về các tờ báo được khảo sát

Luận văn tiến hành khảo sát trên 3 tờ báo có những đối tượng độc giả điển hình Đó là:

Giao diện trang Tin nhanh Việt Nam (VnExpress.net)

- VnExpress.net (VnExpress): Báo Tin nhanh Việt Nam được thành lập bởi tập đoàn FPT vào ngày 26/2/2001 và được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép số 511/GP – BVHTT ngày 25/11/2002 Đây là

tờ báo điện tử đầu tiên tại Việt Nam không có phiên bản báo giấy Theo bảng xếp hạng của trang Alexa, VnExpress luôn nằm trong số 10 trang mạng điện

tử có số người truy cập lớn nhất Việt Nam và cũng theo bảng xếp hạng này VnExpress hiện nằm trong top 300 website được truy cập nhiều nhất thế giới

Theo thống kê dẫn từ Google Analytics, VnExpress hiện có hơn 17 triệu độc

Trang 39

giả thường xuyên (unique visitors), với khoảng 34 triệu lượt truy cập (pageviews) mỗi ngày (độc giả trong nước chiếm hơn 80%, 7% ở Mỹ, 13%

từ các nơi khác) Trung bình mỗi ngày VnExpress cập nhật khoảng 170 đầu

mục tin bài, trong đó phần nhiều là sản phẩm do phóng viên, biên tập viên thực hiện.Trong hai năm 2005 và 2006, Vnexpress liên tục đoạt Cúp vàng Công nghệ thông tin và truyền thông do Hội tin học ViệtNam tổ chức

Giao diện trang Thời báo Kinh tế Việt Nam điện tử (Vneconomy.vn)

- Vneconomy.vn (Vneconomy): Báo mạng điện tử của Thời báo Kinh tế Việt Nam – tờ báo có tuổi đời 20 năm gắn liền với lĩnh vực kinh tế, sáng lập ra giải thưởng Thương hiệu mạnh Việt Nam nhằm ghi nhận những

nỗ lực xây dựng và phát triển hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp, khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp phát triển VnEconomy hiện đang là

tờ báo điện tử chuyên về kinh tế có số lượng độc giả đông đảo hàng đầu tại Việt Nam, với các thông tin kinh doanh và tài chính được cập nhật liên tục trong ngày

Trang 40

Giao diện trang Diễn đàn doanh nghiệp điện tử (Dddn.com.vn)

- Dddn.com.vn (Dddn): Báo Diễn đàn Doanh nghiệp điện tử được triển khai từ năm 2002 dựa trên phiên bản báo giấy Diễn đàn doanh nghiệp của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam Tờ báo là tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam, là nơi giao lưu trực tuyến giữa các Doanh nghiệp và Chính phủ, góp phần thúc đẩy việc thực hiện các cải cách và tăng cường tính minh bạch trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp và khuyến khích đầu tư

2.2 Đánh giá chung việc thể hiện hình ảnh truyền thông của doanh doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử hiện nay

2.2.1 Nội dung thể hiện

Là một phần thiết yếu của cuộc sống hiện đại, các phương tiện giao thông đã trở thành đối tượng truyền thông thường xuyên trên báo mạng Với

sự đa dạng về đề tài, các tin, bài về chủ đề này nhận được khá nhiều sự quan tâm của công chúng Trong 3 tờ báo mạng điện tử được khảo sát đều có

chuyên mục riêng cho Ô tô và Xe máy Tại VnExpress là chuyên mục Ô tô, xe

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Al Ries& Laura Ries, ng.d Vũ Tiến Phúc (2005), Quảng cáo thoái vị & PR lên ngôi, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng cáo thoái vị & PR lên ngôi
Tác giả: Al Ries, Laura Ries, Vũ Tiến Phúc
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
5. Ann. Gregory, (2007), Sáng tạo chiến dịch PR hiệu quả, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo chiến dịch PR hiệu quả
Tác giả: Ann. Gregory
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2007
6. David Meerman Scott, (2008), Quy luật mới của Pr và tiếp thị, NXb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy luật mới của Pr và tiếp thị
Tác giả: David Meerman Scott
Nhà XB: NXb Trẻ
Năm: 2008
7. Joep Cornelissen, (2008), Corporate communication a guide to theory and practice, SAGE Publications Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate communication a guide to theory and practice
Tác giả: Joep Cornelissen
Nhà XB: SAGE Publications Ltd
Năm: 2008
8. Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
9. Nguyễn Văn Dững (chủ biên), (2006), Truyền thông - lý thuyết và kỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - lý thuyết và kỹ
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Dững, (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
11. Hà Minh Đức (1994), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 1
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
12. Hà Minh Đức (1996), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 2
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
13. Hà Minh Đức (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 3, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 3
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
14. Đinh Thị Thúy Hằng, (2007), PR kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp, NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PR kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2007
15. Đinh Thị Thúy Hằng, (2008), PR- Lý luận và ứng dụng, NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PR- Lý luận và ứng dụng
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2008
16. Đinh Thị Thúy Hằng, (2010), Ngành PR tại Việt Nam, NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành PR tại Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2010
17. Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Đinh Văn Hường, (2006), Các thể loại báo chí thông tấn. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
20. Nhiều tác giả, (2005), Nghề Quan hệ công chúng (PR), NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề Quan hệ công chúng (PR)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2005
21. Nhiều tác giả, (2006), Việt Nam 20 năm đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam 20 năm đổi mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
22. Nhiều tác giả, (2007), 20 năm Đầu tư nước ngoài: Nhìn lại và Hướng tới, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm Đầu tư nước ngoài: Nhìn lại và Hướng tới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2007
23. Trần Quang Lâm, An Như Hải, (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Quang Lâm, An Như Hải
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
1. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29 tháng 12 năm 1987 http://thuvienphapluat.vn/archive/Luat-dau-tu-nuoc-ngoai-tai-Viet-Nam-1987-4-HDNN8-vb37468.aspx Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP  FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO - Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam
HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO (Trang 1)
HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP  FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO - Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam
HÌNH ẢNH TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI TRONG LĨNH VỰC Ô TÔ, XE MÁY TRÊN BÁO (Trang 2)
Hình thức  hoạt động  xã  hội chủ  yếu  mà doanh  nghiệp thực  hiện  là  tổ  chức các sự kiện - Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam
Hình th ức hoạt động xã hội chủ yếu mà doanh nghiệp thực hiện là tổ chức các sự kiện (Trang 51)
Bảng  thời  gian  đăng  tải  bài  viết  được  phân  chia  theo  các  mốc:  Từ  1/7/2011 – 1/12/2011 là thời điểm từ giữa năm 2011 đến vụ nổ xe máy Honda  xảy ra tại Bắc Ninh - Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam
ng thời gian đăng tải bài viết được phân chia theo các mốc: Từ 1/7/2011 – 1/12/2011 là thời điểm từ giữa năm 2011 đến vụ nổ xe máy Honda xảy ra tại Bắc Ninh (Trang 62)
Bảng mã phân tích hình ảnh truyền thông của DN FDI ô tô, xe máy  trên báo mạng điện tử - Hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam
Bảng m ã phân tích hình ảnh truyền thông của DN FDI ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w