Trong lĩnh vực sáng tác, các cây viết có khuynh hướng phá bỏ hệ thống ước lệ của nền văn học cổ điển, hình thành văn xuôi và ra đời một số thể loại mới như tiểu thuyết, kịch nói cùng với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hồ Mộng Trần
HIỆN TƯỢNG GIAO THOA VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ THỜI KỲ 1930 – 1945
(KHẢO SÁT TRÊN TƯ LIỆU CỦA PHONG TRÀO TỰ LỰC VĂN ĐOÀN)
Luận văn thạc sĩ khoa học báo chí Chuyên ngành báo chí học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hồ Mộng Trần
HIỆN TƯỢNG GIAO THOA VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ THỜI KỲ 1930 – 1945
(KHẢO SÁT TRÊN TƯ LIỆU CỦA PHONG TRÀO TỰ LỰC VĂN ĐOÀN)
Luận văn thạc sĩ khoa học báo chí Chuyên ngành báo chí học
Mã số: 60.3201
Người hướng dẫn khoa học Tiến sĩ khoa học ngữ văn
ĐOÀN HƯƠNG
TP.HỒ CHÍ MINH 2006
Trang 3Hiện tương giao thoa văn học và báo chí TK 1930 - 1945
MỤC LỤC
Trang Mở đầu
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7
CHƯƠNG I Báo chí và văn học việt nam giai đoạn 1930 – 1945 1.1 Đặc điểm báo chí và văn học trước 1930
1.1.2 Thực trạng báo chí Việt Nam từ 1865 đến 1930 15 1.2 Giai đoạn 1930 – 1945 – Đỉnh cao của văn học
và báo chí Việt Nam
1.2.2.Thành tựu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 29 1.3 Vai trò của Tự lực văn đoàn trong tiến trình phát triển
báo chí và văn học giai đoạn 1930 – 1945 34
1.3.1 Ý thức đấu tranh xã hội – xây dựng tư tưởng
mới của Tự lực văn đoàn 36
Trang 43
1.3.2 Văn xuôi nghệ thuật tự lực văn đoàn - Một đóng góp
quan trọng trong tiến trình phát triễn văn học Việt Nam 41
1.3.2.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lý, tình cảm và
Khắc họa tính cách nhân vật 49 1.3.3.1 Ý thức đấu tranh xã hội – xây dựng tư tưởng
mới của Tự lực văn đoàn 55
1.3.3.2 Văn xuôi nghệ thuật Tự lực văn đoàn - Một đóng góp
quan trọng trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam
CHƯƠNG II Hiện tượng giao thoa báo chí và văn học 2.1 Mối quan hệ giữa báo chí và văn học
2.1.1 Là hiện tượng phổ biến và đặc thù
phát xuất từ bản chất của hoạt động báo chí và văn học 54 2.1.2 Mối quan hệ giữa văn học và báo chí
2.1.3 Vai trò của báo chí trong việc phổ biến tác phẩm văn học 60 2.1.4 Mối quan hệ của nhà văn với công chúng báo chí 64 2.2 Những cơ sở hình thành nên mối quan hệ báo chí và văn hoc
2.2.1 Yếu tố lịch sử, chính trị, văn hóa xã hôi 66 2.2.2 Báo chí và bước đầu của quá trình xã hội hóa chữ quốc ngữ 70 2.2.3 Báo chí giao lưu văn hóa phương Tây 73
CHƯƠNG III Giao thoa báo chí và văn học giai đoạn 1930 – 1945
Trang 53.1 Tự lực văn đoàn – Một điển hình giao thoa văn học và báo chí 753.1.1 Sử dung báo chí để chuyển tải văn học 76
3.1.3 Tìm kiếm và bồi dưỡng mầm non văn học 79 3.1.4 Tổ chức những cuộc thi sáng tác văn học trên báo 80 3.1.5 Đóng góp cho lý luận, phê bình văn học 82 3.2 Ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn đối với báo chí đương đại 86
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Về mối quan hệ văn học và báo chí, nhà văn – nhà báo Thiếu Sơn nhận định
rằng: “ trong những nước văn minh, văn học ra đời trước báo chí, nhưng ở Việt
Nam, chính báo chí đã tạo nên nền văn học hiện đại” 1 Trong thời đại bùng nổ
thông tin, đặc biệt là với sự phát triển của mô thức truyền thông mới nhờ phát triển Internet, những đặc trưng về các loại hình báo chí, công chúng báo chí có sự thay đổi Tác động qua lại giữa văn học và báo chí ngày càng chuyển đổi theo chiều hướng khác, trong đó, báo chí đã dần tách hẳn quỹ đạo văn chương ở nhiều cấp độ
để trở thành loại hình thông tấn chuyên biệt Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và báo chí – từ góc độ lý luận và thực tiễn – là vấn đề không mới nhưng vẫn rất cần thiết, đặc biệt là trong giai đoạn có sự thay đổi phương thức thu thập,
xử lý và tiếp nhận thông tin hiện nay Nhìn rõ ảnh hưởng của báo chí và văn chương trong truyền thống “nghề báo” Việt Nam còn có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng, phát triển tốt nền báo chí Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như trước yêu cầu bảo vệ bản sắc dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa, xu thế tích hợp các loại hình truyền thông
Báo chí Việt Nam xuất hiện khá muộn so với báo chí phương Tây và ra đời trong một bối cảnh rất đặt biệt Lúc đầu báo chí là công cụ của chế độ thực dân dùng để khai thác thuộc địa, báo chí lệ thuộc hoàn toàn vào chính quyền thực dân Pháp Chính phủ Pháp lúc bấy giờ có ý đồ thực hiện một cuộc chinh phục văn hóa lớn trên cả ba miền đất nước ta Nhưng với truyền thống tự chủ, bằng sự vân dụng thông minh và khéo léo của lực lượng sĩ phu yêu nước, báo chí Việt Nam sau đó lại trở thành vũ khí sắc bén để đấu tranh giành độc lập của các lực lượng cách mạng Do đó, lịch sử báo chí Việt Nam nói chung, quá trình phát triển báo chí Việt Nam nói riêng đã phản ánh sâu sắc những diễn biến chính trị, văn hóa, xã hội… của nước ta Nhận diện lại sự tác động, ảnh hưởng giữa văn học và báo chí trong
1 Xã hội học báo chí – Trần Hữu Quang – trg 52
Trang 7tiến trình hình thành và phát triển báo chí Việt Nam cũng như tìm ra những đặc điểm có tính quy luật trong quá trình tác động ấy là việc làm cần thiết
Khi báo chí xuất hiện, nền văn học mới cũng bắt đầu hình thành, văn học chữ quốc ngữ với những ảnh hưởng văn chương phương Tây về nội dung cũng như hình thức thể hiện Nền văn học mới vừa hình thành nên còn non trẻ và xa lạ với công chúng, các tác phẩm văn chương trong thời kỳ này phải sử dụng báo chí
để làm quen với độc giả
Sở dĩ cần quan tâm nhiều đến báo chí vì đó là bộ môn tiên phong của nền văn học mới Đồng thời đó cũng là môi trường nảy sinh và phát triển của tất cả các thể loại khác như: tiểu thuyết, thơ, văn nghị luận, phê bình… 2
Từ khi Gia Định Báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời tính đến nay báo chí Việt Nam có hơn 140 năm lịch sử, phân nửa chặng đường phát triển báo chí nước
ta ở trong trạng thái “văn - báo bất phân” Thời kỳ đầu, các tác phẩm văn học hầu hết đều xuất hiện trên báo, mãi đến những năm 30 đầu thế kỷ XX mới có ngành xuất bản, lúc đó mới có những tác phẩm văn học được xuất bản Phần lớn những nguời viết báo ở giai đoạn trước vừa viết văn vừa viết báo, họ sử dụng báo chí như một môi trường tập luyện Báo chí Việt Nam luôn xem văn học như một bộ phận rất quan trọng, tờ báo nào cũng có mục văn học
Báo chí Việt Nam ngay từ buổi đầu luôn luôn coi trọng mảng văn học trong
cả sáng tác và lý luận phê bình Gần như không có tờ báo nào, kể cả báo chuyên biệt về kinh tế và tôn giáo đều có chuyên mục văn uyển 3
Hơn nữa báo chí và văn học có mối quan hệ khăng khít và nhiều mặt tương đồng Cùng lấy ngôn ngữ làm phương tiện chuyển tải, đối tượng phản ánh là nhận thức về con người và tái hiện chiều sâu các sự kiện xã hội theo góc độ và chức năng của mình Những vấn đề nêu trên đã cho thấy những ảnh hưởng tất yếu, những tác động qua lại giữa báo chí và văn học là rất lớn Một số nhà nghiên cứu cho rằng báo chí là “bà đỡ” của văn học, nếu không có báo chí thì nền văn học
2 Những bước đầu báo chí tiểu thuyết và thơ mới – Bùi Đức Tịnh – trg 13
3 Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945 – Đỗ Quang Hưng - trg 180
Trang 8hiện đại Việt Nam không thể phát triển nhanh chóng như thế Không phủ nhận điều đó, nhưng chúng ta cũng phải xem xét những tác động, thúc đẩy của văn học
để báo chí có được tầm vóc như ngày nay Mối quan hệ có tính hữu cơ này là một vấn đề cần phải có một nghiên cứu sâu hơn, triệt để hơn nhằm rút ra những kết luận có tính chất thực tiễn trong hoạt động báo chí hiện nay cũng như trong quy hoạch lâu dài cho chiến lược phát triển báo chí
Để nghiên cứu vấn đề này, tác giả khảo sát sự cọ xát của văn học và báo chí giai đoạn 1930 – 1945, là một giai đoạn được đánh giá là có ý nghĩa to lớn trong tiến trình phát triển báo chí và văn học nước ta Trong cách phân kỳ lịch sử báo chí cũng như văn học, tất cả các nhà nghiên cứu văn học và báo chí như Nguyễn Việt Chước, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Ngu Ý, Phan Cự Đệ, Thanh Lãng… đều nhìn nhận giai đoạn này như một nét gấp nổi bật Báo chí và văn học thời kỳ này đã gặt hái được thành quả to lớn cả về mặt chất lượng cũng như số lượng Kỹ thuật viết
và phương pháp sáng tác được đổi mới, ngôn ngữ đạt đến trình độ hoàn chỉnh và văn phong ngày càng phong phú, cuốn hút được một lượng lớn độc giả rộng khắp, báo chí tạo cho văn học tính thống nhất trên toàn quốc, không còn sự phân biệt Bắc, Nam như trước Trong lĩnh vực sáng tác, các cây viết có khuynh hướng phá
bỏ hệ thống ước lệ của nền văn học cổ điển, hình thành văn xuôi và ra đời một số thể loại mới như tiểu thuyết, kịch nói cùng với sự xuất hiện thơ mới và những thể loại báo chí: ký sự, phóng sự, tùy bút… đã thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học
và báo chí
Những diễn biến lịch sử, xã hội thời kỳ này là nguyên nhân và điều kiện để văn học và báo chí Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển theo hướng sáng tác mới Một số sự kiện tạo ra sự chuyển biến sâu sắc trong tư tưởng, quan điểm và cả góc nhìn của những người làm công tác văn học và báo chí, trong đó tồn tại cả xu hướng tích cực lẫn tiêu cực và những khuynh hướng phát triển quy luật về mặt nội dung lẫn hình thức Chúng ta phải kể đến sự đóng góp rất quan trọng của phong trào Tự lực văn đoàn với hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay đã chú trọng việc đăng tải những tác phẩm văn, thơ, kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết, những bài viết phê
Trang 9bình… Những người chủ chốt phong trào đã tổ chức những cuộc dự thi văn chương những năm 1937, 1938, 1939 nhằm tìm kiếm, khích lệ những cây bút trẻ bước vào con đường sáng tác văn học
Trong thời kỳ đổi mới, báo chí và văn học có cơ hội khẳng định những thế mạnh đặc thù của từng ngành Để nghiên cứu hiện tượng giao thoa văn học và báo chí, chọn giai đoạn 1930 – 1945 là có tính bao quát hơn vì những sự kiện lớn của lịch sử văn học và báo chí Việt Nam thể hiện rất đậm nét trong giai đoạn này
2 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
Luận văn nghiên cứu những ảnh hưởng của lịch sử, chính trị, văn hóa xã hội… và những cơ sở hình thành nên mối quan hệ giữa văn học và báo chí trong từng chặng đường phát triển Luận văn mong muốn đóng góp một góc nhìn về mối quan hệ có tính quy luật giữa hai bộ môn văn học và báo chí, xác định những cơ sở vai trò, chức năng để hình thành nên mối quan hệ giữa văn học và báo chí, xem xét những tác động nhiều chiều của nó nhằm rút ra được quy luật thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa văn học lẫn báo chí
Luận văn đặt vấn đề và đánh giá lại những đóng góp những dòng văn học và những cây bút chủ chốt thời kỳ 1930 – 1945 Trả lại giá trị thực và công lao đóng góp của các nhà báo, nhà văn đã tạo được xu thế mới trong sáng tác văn học và tổ chức được cả hình thức lẫn nội dung trong tiến trình hiện đại hóa Hoạt động văn học và báo chí thời kỳ này đã ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động và khuynh hướng phát triển của báo chí đương đại,
Trong thời kỳ đổi mới, đất nước cần có một tầm nhìn về những giá trị thật, những đóng góp có giá trị trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, dẹp bỏ những cách nhìn hạn hẹp, máy móc Trước nay do hoàn cảnh chiến tranh liên miên, chúng ta phải đấu tranh một mất một còn trên các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… vì vậy chúng ta phải đặt cái nhìn có tính khuynh hướng trên mọi bình diện Ngày nay trên xu thế đổi mới, chúng ta cần phải có cái nhìn nghiêm túc, soi sáng toàn bộ những đóng góp cho sự thành tựu của nền văn học và báo chí của chúng
ta
Trang 10Hơn nữa đặt lại cách nhìn về những sáng tác văn học và những sáng tạo của những tác phẩm báo chí trong một giai đoạn được đánh giá là “một nét gãy” của lịch sử phát triển của nó là một việc cần thiết Chúng ta cũng cần phải đặt lại cách nhìn một cách mới mẽ hơn về một một phong trào lớn trong văn học và báo chí thời kỳ này là phong trào Tự lực văn đoàn
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong những công trình nghiên cứu về báo chí và văn học trước nay, những đóng góp của của các nhà văn, nhà báo được dánh giá tương đối chuẩn xác Qua công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí của TS Huỳnh Văn Tòng, GS Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Việt Chước… và các công trình nghiên cứu văn học giai đoạn 1930 – 1945 của GS Phan Cự Đệ, Thanh Lãng, Nguyễn Trác, Đái Xuân Ninh… có hướng nghiên cứu sâu về những yếu chủ quan và khách quan đã tác động đến sự phát triển của từng ngành riêng, về vấn đề giao thoa giữa văn học và báo chí các nhà nghiên cứu có điểm qua nhưng chưa đi sâu Trong tài liệu nghiên cứu “văn học Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945” của Bạch Năng Thi – Phan Cự Đệ đã dành
350 trang để trích đăng những bài viết của nhóm Tự lực văn đoàn đăng trên báo Phong Hóa và Ngày Nay Công trình nghiên cứu của Bùi Đức Tịnh – “Những bước đầu báo chí tiểu thuyết và thơ mới” hay trong “Hà Minh Đức tuyển tập” … cũng đã đề cập những đến sự giao thoa của văn học và báo chí
Trong thời kỳ miền Nam bị chiếm đóng, bối cảnh hoạt động và cái nhìn về văn học và báo chí ở hai miền ngược chiều nhau Ở các đô thị miền Nam có báo chí thân chính và báo chí đấu tranh, trong sáng tác văn học tồn tại hai khuynh hướng là phản động và dòng khuynh hướng đấu tranh cách mạng Ở miền Nam các nhà nghiên cứu đề cao quá mức dòng văn học lãng mạn và phong trào thơ mới Lúc này miền Bắc đi tập trung vào cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước do đó phải kích động lòng yêu nước và ý chí chiến đấu, tránh tư tưởng ủy mị, mơ màng nên dòng văn học lãng mạn và phong trào thơ mới ít được
đề cập đến hoặc được trình bày dưới một góc độ khác Như vậy việc nghiên cứu về
Trang 11văn học và báo chí Thời kỳ 1930 – 1945 cũng còn nhiều vấn đề cần phải đào sâu hơn
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và báo chí, những nét cơ bản
và những hệ quả tất yếu của nó Mối quan hệ này được đặt trên một tầm nhìn mới trong một giai đoạn mới mà cả văn học và báo chí phát triển một cách sôi động và cởi mở Những năm đầu thế kỳ XX, buổi sơ khai của cuộc giao lưu văn hóa Đông Tây đã mở ra một giai đoạn khá quan trong cho việc phát triển cho văn học và báo chí nước ta Hiện nay chúng ta mở rộng giao lưu văn hóa trên quy mô rộng khắp
và tiếp thu văn hóa thế giới có chọn lọc để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Như vậy nghiên cứu sự giao thoa của văn học và báo chí thời kỳ 1930 - 1945, rút ra những kinh nghiệm, chắt lọc những giá trị truyền thống
mà những người làm công tác văn hóa, văn nghệ thời kỳ đó đã thể hiện
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đời sống văn học thời kỳ 1930 – 1945, những sáng tác văn học đăng tải trên báo chí So sánh những sáng tác văn học trước đó được đăng trên các tờ Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn… với những sáng tác văn học đăng trên báo chí thời kỳ 1930 – 1945 như Tri Tân, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phong Hóa, Ngày Nay… Từ đó trình bày những yếu tố giúp cho báo chí và văn học đổi mới hình thức thể hiện và tạo cho ngôn ngữ văn học trong sáng, giàu có và hoàn chỉnh Những đóng góp của phong trào Tự lực văn đoàn đã thúc đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa văn học và báo chí với những thể loại mới như tiểu thuyết, thơ mới, kịch đăng trên hai tờ Phong Hóa
và Ngày Nay Văn học thời kỳ này vẫn còn âm hưởng cả phong cách truyện của văn học Trung Quốc và phong cách tiểu thuyết của văn học phương Tây, trong đó
có những cây bút nổi bật của phong trào Tự lực văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Trần Tiêu…
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
Luận văn được nghiên cứu theo một số phương pháp sau:
Trang 12 So sánh đối chiếu các tác phẩm văn học trước đó với các tác phẩm thời giai đoạn 1930 – 1945 để tìm những nét mới của văn học và báo chí trong giai đoạn này
Phân tích các tác phẩm, các dòng văn học mới xuất hiện trong giai đoạn này, đồng thời phân tích một số công trình nghiên cứu về báo chí và văn học giai đoạn 1930 – 1945
Tổng hợp các đánh giá về trào lưu văn học giai đoạn 1930 – 1945 để làm sáng những mối quan hệ cơ bản, có tính quy luật của hai bộ môn văn học và báo chí
Nghiên cứu lịch sử nhằm tìm được nguyên nhân, bối cảnh chính tri, văn hóa, xã hôi đã thúc đẩy sự phát triển của văn học và báo chí, những ảnh hưởng của các dòng văn hoc
Nguồn tư liệu đươc tham khảo để viết luận văn là các các kinh điển của ngành, các tác phẩn văn học và báo chí đã được đăng tải, các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được xuất bản và dùng để giảng dạy, một số bài nghiên cứu trên báo…
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Trình bày mối quan hệ, những tác động của văn học và báo chí; nghiên cứu
sự phát triển và những đóng góp của văn học và báo chí thời kỳ 1930 – 1945, từ đó chúng ta có thể chỉ ra được một hướng phát triển mới cho báo chí và văn học trong thới kỳ đổi mới
Trong giai đoạn phát triển sôi động và đa dạng với xu hướng mở ra thế giới của báo chí nước ta, nhu cầu thông tin nhanh nhẹn, kịp thời nhưng phải hấp dẫn, cảm thụ thẩm mỹ cao thì việc nghiên cứu giao thoa giữa văn học và báo chí sẽ có một phần đóng góp cho sự phát triển cả hai lĩnh vực một cách hoàn thiện hơn và cả hướng tiếp thu, hòa nhập với văn hóa bên ngoài cũng tinh lọc hơn
CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Trang 13Chương I: Báo chí và văn học giai đoạn 1930 - 1945
Chương này gồm: Đặc điểm báo chí và văn học trước 1930
- Giai đoạn 1930 – 1945 - Đỉnh cao của văn học và báo chí Việt Nam
- Vai trò của Tự lực văn đoàn trong tiến trình phát triển báo chí và văn học giai đoạn 1930 – 1945
Chương II: Hiện tượng giao thoa văn học và báo chí
Chương này gồm:
- Mối quan hệ giữa báo chí và văn học
- Những cơ sở hình thành nên mối quan hệ báo chí và văn học
Chương III: giao thoa văn học và báo chí giai đoạn 1930 - 1945
Chương này gồm:
- Tự lực văn đoàn – Một điển hình giao thoa văn học và báo chí
- Ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn đối với báo chí đương đại
Trang 14CHƯƠNG I BÁO CHÍ VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA BÁO CHÍ VÀ VĂN HỌC TRƯỚC 1930
1.1.1.Văn học Việt Nam trước 1930
Trước những năm 1930, văn học Việt Nam tồn tại hai dòng chính là văn
chương bình dân và văn chương bác học Mỗi dòng có tác giả, đề tài, công chúng, phương pháp truyền bá và được sáng tác theo quan điểm văn học, lý tưởng thẩm
mỹ riêng
Văn chương bình dân có một số thể loại nhất định và được sáng tác bởi nhân dân lao động, đó là ca dao, câu hát, bài vè bộc lộ trong cuộc sống thường ngày Nội dung kể những chuyện trong xóm làng mà họ xúc động, kể những chuyện ngang trái cần phê phán, ca ngợi các gương anh hùng, dũng cảm, nhân ái, hoặc những chuyện phi thường Văn chương bình dân có cái đẹp chất phác của chốn nông thôn với cây đa mái đình Thể loại vè là một loại văn chương truyền khẩu, cách đặt vè là sử dụng nhiều câu ngắn ăn vần với nhau rất dễ thuộc lòng nên
vè phát tán rông rãi ví dụ như bài vè cờ bạc, vè say rượu… còn thơ thì thường sử dụng lối thơ lục bát ví như Thơ Thầt Thông Chánh, Thơ Cậu Hai Miên…
Văn chương bác học do tầng lớp trí thức sáng tác, họ sử dụng văn chương
có mục đích rao truyền cái triết lý nho giáo, bảo vệ quyền lợi của chế độ phong kiến Các nhà nho thường sử dụng lối văn chương mượn cảnh diễn tình, bộc bạch tình cảm, suy nghĩ, quan điểm của mình Đó là những câu thơ, những bài văn xuôi
có vần Mỗi thể loại đều phải tuân theo những luật lệ nghệ thuật chặt chẽ, hạn chế
sự đa dạng của sáng tạo cá nhân Các nhà văn không quan tâm đến thực tế khách quan trong đời sống mà chỉ cốt làm sao nói lên cái ý tưởng, triết lý, nhân sinh của
giai cấp Họ sáng tác theo quan điểm “văn phải có đạo”, cái đẹp, cái hay của văn
chương trước hết là cái nghĩa lý Hình thức câu văn cân đối, hài hòa, trang nghiêm Văn được viết gọt dũa, hoa mỹ và sữ dụng nhiều điển tích Các nhà văn vẫn chuộng sự bình dị, tự nhiên nhưng lại bị gò bó bởi hình thức, rơi vào tính nguyên tắc nên văn chương quá cầu kỳ không thể nào biểu đạt được thực tế Hơn nữa
Trang 15người viết không coi trọng đời sống của nhân dân mà họ cho là tầm thường, thấp kém Nhà Nho viết văn không phải để cho nhân dân đọc Khi viết một tác phẩm, một áng văn chương, người viết không hề nghĩ đến việc công bố tác phẩm, họ không bao giờ quan tâm đến công chúng Hát xướng, ngâm vịnh là những hành động nhà Nho thời kỳ đó cho là một phương thức quan trọng để thể hiện tác phẩm văn chương của mình, họ sáng tác để tự thưởng thức và phục vụ cho một số ít
người “cùng đẳng cấp xã hội”
Cả văn chương bác học lẫn văn chương bình dân Việt Nam đều đậm đặc chất trữ trình, nhưng cả hai đều không cùng lý tưởng thẩm mỹ Tuy nhiên người nông dân cũng thích thú với những cách diễn đạt của lời thơ, câu chuyện mà ca dao, hò vè không thể nói lên được Văn chương bác học cũng phải đào sâu trong các thể loại dân tộc, sử dụng ngôn ngữ dân tộc để làm phương tiện sáng tác Đó là cầu nối để văn chương bình dân và văn chương bác học hội nhập vào nhau theo
mô hình nghệ thuật hóa văn chương bình dân và đại chúng hóa văn chương bác học, một quá trình thăng hoa của nền văn học nước nhà
Một chuyển biến lớn trong văn học Việt Nam, đó là xuất hiện nền văn học thị dân Buớc đường đô thị hóa đã dần hình thành một cấu trúc xã hội nước ta, xuất hiện một tầng lớp thị dân ngày càng đông đảo Tầng lớp thị dân đóng vai trò chính
là tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, họ có một lối sống, nếp nghĩ và sinh hoạt khác hẳn người nông dân ở nông thôn và cũng không thích ứng với đời sống cung đình của nho gia Tầng lớp nầy đòi hỏi một món ăn tinh thần mới, từ đó xuất hiện nền văn học thị dân với ảnh hưởng từ phương Tây khá rõ nét Lúc bấy giờ bên cạnh các nhà Nho là lực lượng sáng tác chủ yếu xuất hiện một lựïc lượng sáng tác mới,
đó là những người làm báo Một số nhà nho bằng con đường dịch thuật, phóng tác
đã chuyển sang viết tiểu thuyết, kịch để đáp ứng nhu cầu văn hóa, văn nghệ của tầng lớp thị dân Dần dần lực lượng sáng tác mới này ngày càng lớn mạnh lấn áp lực lượng sáng tác cũ, văn học thành thị thay cho văn học nông thôn, người trí thức tân học thay cho nhà nho làm chủ văn đàn Văn học mới ra đời khá mỏng manh, nội dung nghèo nàn, nghệ thuật ấu trĩ Sự phát triển nhanh chóng của thành
Trang 16thị, một số đông thanh niên tây học được học tập tại trường lớp ở bản địa, hoặc xuất dương du học tại các nước phương Tây đã tạo ra một lực lượng sáng tác hùng mạnh Văn học thành thị đã chiếm lĩnh trận địa, đẩy lùi nền văn học cũ đến khi nó biến mất trên văn đàn Việt Nam
Lực lượng sáng tác văn học thị dân có quan điểm văn học, lý tưởng thẫm
mỹ khác hẳn trước Văn học lấy đề tài là những sự kiện, vấn đề, con người trong đời sống xã hội Những cái tầm thường, những con người thuộc mọi tầng lớp trong
xã hội rất đời thường là chất liệu sáng tác văn học Văn học trọng sự thật hơn là nghĩa lý, mô tả cái đời thường thay cho giáo huấn truyền đạt, ký ngụ tâm sự,ï chỉ coi trọng đạo lý, khách thể không được tôn trọng Văn không còn gắn với lịch sử
và triết học nữa, văn học đã tách ra thành một nghệ thuật có tư duy thẩm mỹ chủ quan và liên hệ khách quan
Một hướng đi rất quan trọng trong lĩnh vực truyền bá văn học, đó là viết văn cho công chúng đọc, viết những cái gì quần chúng hiểu, nhìn thấy và cảm nhận được Báo chí, nhà xuất bản ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho việc công bố tác phẩm Người ta phiên âm các truyện Nôm ra chữ quốc ngữ, dịch các tác phẩm Trung Quốc, Pháp ra tiếng Việt, phiên dịch các áng văn cổ, sáng tác thơ văn mới
để đăng trên báo, in thành sách Một số người tây học, ảnh hưởng văn học nước ngoài viết những tác phẩm có nội dung và kết cấu theo kiểu văn chương phương Tây Từ những bài tường thuật, phóng sự, du ký đến truyện ngắn và kịch đã tạo nên một đời sống văn học khá phong phú ở giai đoạn này
Đi theo hướng cận hiện đại của thế giới, văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX không phải đoạn tuyệt với văn học truyền thống của dân tộc, mà phát triển lên để
có tính cách dân tộc cao hơn Sự va đập với văn học phương tây, nền văn học cận hiện đại đã đơm hoa kết trái trên cái nền văn học truyền thống, theo khuynh hướng sáng tác mới, có ý nghĩa đấu tranh cho độc lập, bảo tồn văn hóa và giữ vững phẩm giá dân tộc Truyền thống có vai trò quan trọng và quyết định đối với sự phát triển văn học Nhưng không phải lúc nào truyền thống cũng có tác dụng tích cực, tạo thuận lợi cho sự phát triển Văn học nước ta căn bản là sử dụng lối văn vần, văn
Trang 17xuôi cũng phải có tiết tấu, nhạc điệu hoặc viết theo lối văn biền ngẫu Đến thời kỳ cận hiện đại, văn xuôi phát triển khá nhanh chóng Đây là quá trình vượt thoát khỏi lối văn vần, văn biền ngẫu Văn xuôi thoạt đầu rất đơn sơ, thô kệch nhưng nó dùng tiếng nói thông tục để phản ánh chân thật hiện thực đời sống
Từ khi chiếm được Nam kỳ, Pháp đã chính thức hóa chữ quốc ngữ Một số nhà văn đã viết những tác phẩm văn học bằng chữ quốc ngữ Nhưng trong đời sống văn học thì chiếm giữ vị trí quan trọng vẫn là văn học nhà nho và văn học truyền khẩu của nông dân Văn chương chữ quốc ngữ còn xa lạ và chưa được chấp nhận vào đời sống văn học dân tộc Đến cuối thế kỷ XIX, người nông dân vẫn dùng hò vè để nói lên tâm tư nguyện vọng của mình, tố cáo nỗi khổ, sự áp bức bóc lột của người dân mất nước Nhà nho vẫn dùng thơ phú để phản ứng lại sự đổi thay tình thế và sự đổi ngôi trong xã hội đã bắt đầu từ sự phân rã giai cấp cũ, hình thành một giai cấp mới tích cực
Đến đầu thế kỷ XX, các dòng văn học cũ và mới đã xảy ra sự tranh chấp ở các thành thị là một sự kiện văn học có ý nghĩa lớn Các nhà nho mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục, lập nhà xuất bản, ra báo công khai tuyên truyền tư tưởng yêu nước và duy tân Thực dân Pháp đàn áp gắt gao, các nhà văn nhà thơ bị bắt bớ, tù đày, trường học, nhà xuất bản bị đóng cửa, tác phẩm văn học bị cấm lưu hành, văn học yêu nước suy thoái phải rút vào hoạt động bất hợp pháp Thực dân Pháp dùng báo chí và các tác phẩm văn học của phương Tây để truyền bá văn học pháp Một
số nhà văn, nhà báo đã tập trung thành một lực lượng sáng tác viết các tác phẩn thơ, kịch, tiểu thuyết theo tư tưởng Âu Tây
Năm 1887, quyển tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam có kết cấu theo kiểu Châu Âu: thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quảng – do nhà xuất bản J.Linage, Libraie Eduteur Như vậy năm 1887 là cột mốc của nền văn học chữ quốc ngữ, văn học Việt Nam chuyển mình sang một giai đoạn mới Văn học chữ quốc ngữ đã có chỗ đứng trên văn đàn, tiểu thuyết chương hồi bằng chữ Hán chữ Nôm mất dần chỗ đứng, mặc dù dòng văn học bác học của các nhà nho đã ảnh
hưởng sâu đậm và rất lâu dài trong xã hội ta Thầy Lazaro phiền đã mở đầu cho
Trang 18nền văn học chữ quốc ngữ, sau đó một loạt tác phẩm ra đời: Phan yên ngoại sử của Trương Duy Toản, Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Thiên Trung, Ai làm
được của Hồ Biểu Chánh, Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu…
Qua những tác phẩm ngày càng nhiều, một đội ngũ nhà văn viết bằng chữ quốc ngữ đã hình thành và lớn mạnh dần, họ đã chiếm ngự văn đàn Việt nam Từ
Nam kỳ, văn chương chữ quốc ngữ tràn ra Trung kỳ và Bắc kỳ với Giấc mộng con của Tản Đà năm 1916 và Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách năm 1925…
Văn học những năm cuối của thế kỷ XIX kéo dài đến năm 30 thế kỷ XX, đây là giai đoạn hình thành và chuẩn bị cho một tiến trình hiện đại ở giai đoạn tiếp theo Các nhà văn đi từ ghi chép lại những sự việc , con người, tình huống có thực gây tò mò, cảm động cho người đọc Hơn một bước nữa, nhà văn mô tả những quan hệ thực sự có tính bao quát hơn các diễn biến của đời sống xã hội Về thể loại
và đề tài văn học thời kỳ này đã có những chuyển biến khá căn bản, sử dụng những thể loại tương đối đầy đủ: Tường thuật, phóng sự, ký sự, du ký, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch và đề tài là những vấn đề mang tính xã hội Ngôn ngữ văn học lúc này sử dụng văn xuôi nghệ thuật, không còn dùng lối văn biền ngẫu, từ ngữ hoa mỹ, khuôn sáo nhiều điển tích như trước Văn học giai đoạn này phong phú ở khả năng phát triển linh hoạt, đa dạng Phải có cách nhìn nhận về tác phẩm cũng như tác giả mới thấy được xu hướng và ý nghĩa Văn học thời kỳ này là những viên gạch lót đường cho tiến trình phát triển văn học trong thời đại mới mà vẫn giữ vững truyền thống dân tộc
1.1.2.Thực trạng báo chí Việt Nam từ 1865 đến 1930
Từ khi nền báo chí Việt Nam được thiết lập, nó đã đóng một vai trò khá
quan trọng là giáo dục quần chúng và truyền bá tư tưởng Ảnh hưởng của báo chí còn lớn hơn ảnh hưởng của nhà trường, không những giáo dục cho lớp trẻ đi học
mà nó còn giáo dục cho tất cả những người biết đọc chữ quốc ngữ Trong giai đoạn đầu, báo chí nước ta gặp nhiều khó khăn, báo chí còn xa lạ với quần chúng
và chỉ có một số người là biết chữ quốc ngữ mới tiếp cận với báo chí Chính phủ thực dân chủ trương xã hội hóa chữ quốc ngữ, mở trường dạy chữ quốc ngữ, sử
Trang 19dụng chữ quốc ngữ trong các văn bản hành chánh, ngày càng nhiều người học chữ quốc ngữ, báo chí ngày càng phát triển cả về chất lượng lẫn số lượng và con số phát hành Tuy nhiên trong giai đoạn này báo chí Việt Nam bị khống chế hoàn toàn bởi luật lệ của người pháp áp đặt lên toàn cõi Đông Dương Tại Việt Nam chế
độ chính trị ở Nam Kỳ là xứ thuộc địa và Trung kỳ và Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, chế độ hoạt động báo chí của hai miền cũng khác nhau Ở Nam Kỳ là xứ thộc địa được áp dụng quyền tự do báo chí ban hành năm 1881 của quốc hội Pháp Tuy nhiên chính phủ thuộc địa lại không chịu thi hành, bãi bỏ hiệu lực pháp lý của nó Toàn quyền Đông Dương tùy tiện ký sắc lệnh ngày 30 tháng 12 năm 1898, buộc mọi tờ báo tiếng Việt tại Nam Kỳ phải làm đơn xin phép Như vậy báo chí tiếng Việt bị hạn chế hoàn toàn, báo tiếng Pháp vẫn phát triển Báo chí tiếng Việt ở Nam Kỳ gặp nhiều khó khăn, các tờ báo bị đóng của, người làm báo bị trục xuất, đưa ra tòa Xuất bản báo chí ở Bắc và Trung kỳ phải được viên khâm sứ cho phép Nam Kỳ là nơi báo chí Việt Nam xuất hiện trước tiên nên phát triển hơn Bắc và Trung kỳ
Từ khi báo chí tiếng Việt ra đời đế cuối năm 1929, từ Nam đến Bắc ước tính
có đến khoản 96 tờ báo lưu hành, có tờ sống đến mấy muơi năm như tờ Gia Định Báo, Lục Tỉnh Tân Văn… Cũng có tờ chỉ ra được một vài số rồi chết Điểm qua những tờ báo tiếng Việt tiêu biểu đã có những đóng góp sự phát triển báo chí và thúc đẩy văn học Việt Nam tiến đến con đường hiện đại hóa Qua đó chúng ta có nhìn thấy được bối cảnh hoạt động của nền báo chí ở nước ta giai đoạn 1865 đến
1930
- Gia Định Báo Tờ báo đầu tiên của nước ta do E Poteau, thông ngôn của Soái phủ Nam Kỳ, làm chủ bút được thành lập vào năm 1865 Đây là tờ công báo của chính phủ Pháp xuất bản bằng chữ quốc ngữ Đến đầu năm 1869 thì tờ Gia Định Báo được trao lại cho Trương Vĩnh Ký làm giám đốc và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút, lúc bấy giờ tờ báo mới không còn tính chất công báo Chúng ta phải thừa nhận dù tờ báo là của chính quyền thuộc địa tổ chức, nhưng nó đã đặt nền móng xây dựng nền báo chí Việt Nam Dưới thời của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của thì tờ Gia Định Báo có nhiều thay đổi và có nhiều bạn đọc hơn Từ một
Trang 20tờ công báo, Gia Định Báo đã trở thành một tờ báo có nhiệm vụ phát triển chữ quốc ngữ, khuyến khích dân chúng học chữ quốc ngữ và cổ động một lối học mới Đến tháng 9 năm 1908, Ông Diệp Văn Cương lên làm chủ bút và tờ Gia Định Báo hoạt động đến ngày 1 -1 -1910 thì đình bản hẳn
- Phan Yên Báo xuất bản năm 1898 do ông Diệp Văn Cương làm giám đốc
Tờ báo đã dám đăng những bài báo có nội dung chính trị, nhất là loạt bài “ Đòn cân Archimère” , trong bài này tác giả chỉ trích công khai chế độ thực dân nên tờ báo bị cấm lưu hành Cũng vì lý do này mà chính phủ Pháp ban hành sắc luật ngày
30 – 12 – 1898 để khống chế quyền tự do hoạt động báo chí ở Nam Kỳ
- Nông Cổ Mín Đàm, tờ báo kinh tế đầu tiên được xuất bản năm 1901 do Cavanaggio làm giám đốc và Lương Khắc Ninh làm chủ bút đây là tờ báo giới thiệu kinh nghiệm, cổ vũ đi vào thương trường , canh nông, kỹ nghệ Về văn chương thì tờ này cách viết văn còn rất thô sơ Sau này ông Canavago mất, tờ báo được giao lại cho ông Nguyễn Chánh Sắt
- Đại Việt Tân Báo xuất bản năm 1905, được một số cây bút có tiếng tăm tham gia như Phan Chu Trinh, Nguyễn Tư Giản, Dương Lâm… nên đã thu hút được những độc giả, mặc dù cách hành văn vẫn theo lối biền ngẫu vần điệu xưa
cũ
- Lục Tỉnh Tân Văn được thành lập vào năm 1907, Lúc đầu mỗi tuần ra một
số, sau này thì ra mỗi tuần 3 số, đến năm 1921 sáp nhập thêm tờ Nam Trung Nhật Báo phát hành hàng ngày Lúc đầu tờ Lục Tỉnh Tân Văn cổ xúy cho cuộc vận động Minh Tân, nội dung của tờ báo nổi bậc ở các điểm; kêu gọi cho cuộc vận Minh Tân, bài trừ hủ tục, bảo vệ lập trường dân tộc… Độc giả thời này rất thích các mục thời sự quốc tế, mục văn uyển, ngôn ngữ Những trang thơ Tờ Lục Tỉnh Tân Văn chủ trương chống Pháp và chế độ phong kiến, cổ vũ lòng yêu nước nhắm tới tầng lớp trí thức Về mặt văn học tờ báo này rất có giá trị khi tập trung được các cây bút nỗi tiếng thời bấy giờ như Trần Tuấn khải, Trương Duy Toản, Hồ Bá Bang… Lục Tỉnh Tân Văn là tờ báo rất có uy tín trong bước đầu báo chí Việt
Trang 21Nam, nó ảnh hưởng khá lớn đến quá trình phát triển của báo chí và văn học ở giai đoạn sau
- Đông Dương Tạp Chí xuất bản năm 1913 do F.H Schneider làm chủ và Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút Đông Dương tạp Chí là tờ báo quan trọng ở Bắc
kỳ của chính phủ Pháp dùng để trấn an dân chúng trước tình hình chính trị bất ổn
do những hoạt động vũ trang của Việt Nam Quang Phục Hội Tờ báo là cơ quan tuyên truyền văn minh phương Tây, văn minh Pháp, cổ xúy cho chủ thuyết “Pháp Việt đề huề” Đông Dương Tạp Chí có ảnh hưởng khá lớn trong việc phổ biến chữ quốc ngữ, hình thành nền văn học mới sau này Tờ báo đã tập hợp được một số trí thức tây học: Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phan Kế Bính, Tản Đà… Từ Đông Dương Tạp Chí, văn chương Việt Nam đã có lối hành văn một cách mạch lạc, trôi chảy, mở đầu cho nền văn học chữ quốc ngữ
- Nam Phong Tạp Chí do Phạm Quỳnh phụ trách phần chữ Quốc ngữ Người sáng lập là Louis Marty, thanh tra mật thám Đông Dương Tờ báo thực sự là một công cụ đắc lực của chính phủ bảo hộ dùng để truyền bá tư tưởng của nước Pháp vào xứ thuộc địa Toàn quyền Đông Dương là Albert Sarraut, nguyên là một ký giả nên rất có kinh nghiệm và rất xem nặng hiệu quả của báo chí trong đường lối cai trị các xứ thuộc địa Ngay khi bước chân lên xứ Đông Dương, ông đã tích cực hoạt động trong lĩnh vực báo chí nhằm chỉ đạo công tác thống trị văn hóa Tờ Nam Phong Tạp Chí được sự chỉ đạo trực tiếp của toàn quyền Đông Dương và tập hợp được khá nhiều cây bút tài hoa của tây học lẫn nho học như: Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến, Dương bá Trạc, Lê Dư, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Mạnh Bổng, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Đông Phục, Hoành Ngọc Phách, Trần Trong Kim,
Vũ Đình Long… Nam Phong Tạp Chí là một tờ báo được tổ chức rất quy mô và đầy đủ các mục như: Luận thuyết, văn học, triết học, khoa học, văn uyển, tạp trở, thời đàm… Tờ báo đã biên dịch, giới thiệu những tác gia nỗi tiếng của châu Âu Nam Phong Tạp Chí đã tạo dấu ấn cho sự nghiệp báo chí Việt Nam trên đường phát triển và có ảnh hưởng rất lớn về sau Một số nhà văn, nhà báo rất nổi tiếng ở giai đoạn sau nầy cũng bắt đầu thử bút trên Nam Phong Tạp Chí Bỏ qua bản chất
Trang 22chính trị của nó thì Nam Phong Tạp Chí đã có công xây dựng chữ Quốc ngữ trở thành ngôn ngữ thống nhất cho cả nuớc, đóng góp đắc lực vào việc làm cho văn chương chương Việt Nam vững chắc và phong phú hơn
- Hà Thành Ngọ Báo ra mắt độc giả vào năm 1927, chủ nhiện là Bùi Xuân Học, hai nhà báo Hoàng Tích Chu và Đỗ Văn du học ở Pháp về lo trình bày và nội dung Hai ông này đã kết hợp với một số cây bút có lối hành văn mới mẽ như Tạ Đình Bích, Vũ Đình Chí ( Tam Lang), Phùng Bảo Thạch… để cải cách cả hình thức lẫn nôi dung của tờ báo Bài vở sử dụng lối hành văn mới mẽ theo phương Tây, các bài xã luận gọn gàn, sắc sảo Đây quả là một cuộc cách mạng lớn trong báo chí Việt Nam cả về mặt nội dung lẫn hình thức Nhưng do vì người đọc chưa quen với lối văn chương này nên báo bán không chạy làm hai ông phải nghỉ việc
- Đông Tây Tuần Báo phát hành số đầu tiên vào năm 1929, Hoàng Tích Chu phụ trách phần nội dung và Đỗ Văn phụ trách cải tổ về hình thức Bị thất bại ở tờ
Hà Thành Ngọ Báo nhưng hai ông không chịu bó tay, cương quyết thực hiện sự cải cách báo chí theo hướng mơiù Lúc đầu tờ báo bị ế ẩm nhưng sau đó thì Đông Tây Tuần Báo chiếm được cảm tình nồng hậu của độc giả Đông Tây đem lại sự cải cách quan trọng cho báo chí Việt Nam sau này
Việc ấn hành báo chí trong giai đoạn nầy là một điều hết sức mới mẽ đối với người Việt Nam, Báo chí khởi đầu với những ảnh hưởng rất to lớn trong phát triển nền văn học Quốc ngữ Văn học Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa thông qua báo chí Những tác phẩm văn học đầu tiên sáng tác bằng chữ Quốc ngữ đều được báo chí chuyển tải Trong giai đoạn đầu, báo chí nước ta gặp nhiều khó khăn về cơ
sở kỹ thuật, phương thức phát hành chậm chạp của hệ thống bưu trạm, mặt bằng văn hóa của quần chúng (ít người biết chữ quốc ngữ) Nhất là thể chế chính trị chính quyền Pháp áp đặt lên đất nước ta Nước ta còn quá lạc hậu so với các nước phương tây về kinh tế, khoa học kỹ thuật Người dân chưa có nhu cầu đọc, người làm báo cũng xem sự nghiệp viết lách như một thú vui tinh thần hơn là một nghề ngiệp thật sự
Trang 23Về phương diện văn chương, báo chí đã tạo ra những trào lưu văn học, và những cách tân của báo chí đã tạo ra một diện mạo văn học mới mẽ hoàn toàn Tuy nhiên sự đóng góp của báo chí đối với văn học, vô hình chung nó đã tiếp tay cho chính quyền thực dân tuyên truyền văn hóa Pháp
Tuy nhiên , những phong trào văn học này đồng thời đã gây nên những hậu quả rất tai hại Trên thực tế nó đã vô tình hay cố ý phục vụ cho chính sách tuyên truyền văn hóa của thực dân pháp Đó là hậu quả của sự đam mê một nền văn chương lãng mạn trong giới trí thức trẻ tuổi Việát Nam lúc bấy giờ Ngoại trừ một
số tờ báo có tính cách thông tin và không có ảnh hưởng gì mấy đến quần chúng, còn lại một số tờ báo khác chỉ chú trong đến những vấn đề văn học, một thứ văn học đã lựa chọn, và kiểm soát được của chính quyền thuộc địa Mục đích của thứ văn chương lãng mạn này là làm cho giới trí thức Việt Nam lúc bấy giờ quên đi những phong trào cách mạng chống chính phủ thuộc địa, tạo nơi giới này một mặc cảm tự ti trước uy lực của người Pháp hầu dễ bề cai trị lâu dài trên đất nước Việt Nam Do đó ta thấy một số tri thức Việt nam bị ảnh hưởng một cách sâu đậm bởi nền văn hóa mới cho rằng đó là một nền văn minh hay nhất, tốt nhất, nến văn minh Pháp Thí dụ cụ thể nhất cho chính sách tuyên truyền văn hoá này của chính phủ Pháp là hai tờ tạp chí Đông Dương và Nam Phong 4
Quá trình phát triển báo chí Việt Nam giai đoạn 1865 đến 1930, tuy về mặt
số lượng tăng khá nhanh, nhưng chỉ có một số tờ báo là có uy tín mới sống được Những tờ báo do chính phủ Thực dân đứng ra tổ chức để làm công cụ tuyên truyền mới có cơ hội tồn tại Còn các tờ báo trung lập, hoặc có khuynh hướng cách mạng thì sẽ bị đình bản vì nhiều lý do: vì bị chính phủ ép buộc hoặc do không chịu đựng nổi về mặt tài chính, số lượng độc giả thời kỳ này rất hạn chế, trong lúc đó nhà nước lại nâng cao giá giấy, giá in ấn Những tờ báo thân Pháp thì được tài trợ tiền của để hoạt động Tuy nhiên giai đoạn nầy là giai đoạn chuẩn bị tiềm năng về con người, cơ sở văn hóa và vật chất lẫn tinh thần cho báo chí phát triển trong giai
4 Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 – TS Huỳnh Văn Tòng – trg 164
Trang 24đoạn kế tiếp, một giai đoạn quyết định trong tiến trình hiện đại hóa văn học và báo chí Việt Nam
1.2 GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 ĐỈNH CAO CỦA VĂN HỌC VÀ
BÁO CHÍ VIỆT NAM
1.2.1.Sự phát triển của báo chí
Theo mục lục báo chí Việt ngữ thì kể từ khi báo chí Việt Nam ra đời đến năm 1930, trong vòng 75 năm chỉ có 96 tờ báo ra đời Bước sang năm 1930, còn lại 30 tờ ra đời từ trước vẫn tiếp tục phát hành Tính từ năm 1930 đến 1945, chỉ vỏn vẹn 15 năm đã có thêm 500 tờ báo mới được xuất bản Báo chí thời kỳ này không những nổi trội về mặt số lương, mà nó còn hoàn chỉnh về mặt nội dung lẫn hình thức Báo chí nhờ sự phát triển về giao thông cũng như về dịch vụ bưu chính nên được phát hành rộng rãi từ Nam chí Bắc Báo chí Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945 đã đạt được những thành tựu đáng kể Sự phát triển ngôn ngữ, tư tưởng đã tạo cho văn phong báo chí ngày một mạch lạc, trong sáng với lối văn ngắn gọn dễ tiếp nhận Ngôn ngữ tiếng Việt cũng ngày càng giàu có về từ ngữ phổ thông cũng như các chuyên ngành khoa học, mỹ thuật, triết học… nhờ tiếp thu rộng rãi nền văn học Đông Tây Lưu hành rộng rãi báo chí đã tạo ra sự thống nhất ngôn ngữ của các miền Chúng ta đã có được một hệ thống ngôn ngữ thống nhất trên toàn quốc, ngôn ngữ vùng miền hòa vào ngôn ngữ quốc gia tạo được giá trị lớn trong di sản văn hóa dân tộc Hơn nữa báo chí nước ta cũng đã được quy hoạch theo mô hình báo chí hiện đại Xuất hiện các loại báo chí chuyên biệt để phục vụ cho nhiều đối tượng, nhiều tầng lớp xã hội như: báo văn học, báo cười, báo nghề nghiệp, báo khoa học, báo thể thao, báo tôn giáo, báo thiếu niên, báo phụ nữ, báo thiếu nhi… Như vậy báo chí Việt Nam trong thới kỳ này đã có một diện mạo hoàn chỉnh như hiện nay
Báo chí thời kỳ 1930 - 1945 lớn mạnh được là nhờ ảnh hưởng của sự phát triển của chính trị, kinh tế, xã hội… Đảng phái chính trị trong nước xuất hiện ngày càng nhiều Một tổ chức chưa chuẩn bị đủ sức mạnh đã nóng vội đi vào đấu tranh
vũ trang nên bị thất bại, như trường hợp Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn
Trang 25Thái Học, các lãnh tụ bị bắt và bị xử tử Một số đảng viên thoát được, tập trung vào các hoạt động đấu tranh thụ động bằng văn học và báo chí, tìm cách cải tổ xã hội trên con đường văn hóa Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã tạo một uy tín khá lớn trên vũ đài chính trị, hoạt động rất tích cực và được sự tín nhiệm của nhân dân Chính tình hình chính trị sôi động đã thúc đẩy báo chí nở rộ với nhiều khuynh hướng, đặc biệt là những tờ báo tiến bộ, có tinh thần yêu nước
và đấu tranh cách mạng như: Cờ Đỏ, Tạp Chí Cộng Sản, Tranh Đấu… Trong bối cảnh đấu tranh quyết liệt, báo chí bị kiểm soát ngặt nghèo, những tờ báo có tính chất đấu tranh cách mạng phải hoạt động bí mật Mặc dù sử dụng có hiệu quả dòng báo chí bí mật, Đảng ta cũng cài người vào các tờ báo, lợi dụng dòng báo chí công khai tuyên truyền, cổ động và tổ chức đấu tranh chính trị Năm 1936, mặt trận dân chủ bình dân thắng thế ở Pháp, cục diện chính trị có phần êm dịu, qui chế báo chí nới lỏng Các tờ báo chống đối của tổ chức cách mạng bước sang giai đoạn hoạt động công khai hợp pháp Báo chí lúc này chia thành ba xu hướng rõ rệt, một số tham gia vào công cuộc đấu tranh cách mạng, đòi quyền dân chủ, một phần có cảm tình với cách mạng, ủng hộ việc đấu tranh và một số khác vẫn bàng quan với diễn biến chính trị sôi động lúc bấy giờ
Sau năm 1930, báo chí tích cực cổ vũ cho các chương trình cải tiến xã hội, kêu gọi đoàn kết dân tộc Báo chí đăng tải nhiều bài về lịch sử dân tộc, tạo cho mọi người có sự hiểu biết truyền thống dân tộc, cảm thông sâu sắc về con người Mọi người phải hiểu rằng đất nước ta thống nhất, cách phân chia chính trị theo ba miền
là giả tạo, có ý đồ chia rẽ của bọn thực dân Báo chí đã làm cho ý thức dân tộc ta trưởng thành và cảm nhận sâu sắc trong lòng người dân Văn học yêu nước từ đó hình thành những phong trào với nhiều sắc vẻ phong phú ở chặng đường sau
Trong số bao nhiêu tiếng nói sắc bén hoặc hấp dẫn, êm ái hoặc sấm sét nói lên trong lòng đất Đông Dương, trong cuộc đấu tranh cho nhiều lý tưởng khác nhau, quả thật báo chí Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng, hàng ngũ báo chí lúc
Trang 26đầu thưa thớt, nhưng lần hồi thêm đông đảo, tăng thêm ảnh hưởng và tầm quan trọng 5
Đặc điểm của báo chí thời kỳ 1930 – 1945, ngoài một số tờ báo chuyên về văn học Các nhóm báo chí được thành lập ở miền Bắc có chủ trương phát triển văn học, nghệ thuật Những tờ báo của các nhóm báo chí đăng tải phần lớn những bài nghiên cứu, phê bình văn học, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch … Để thấy được nét đặc trưng báo chí trong sự nghiệp phát triển văn học ở giai đoạn này, chúng ta nghiên cứu một số tờ báo văn học và các nhóm báo chí
tiên ban biên tập có lời giới thiệu
Cải tổ lại nền văn học nước nhà, tryuền bá những tư tưởng phương Tây,
phát triển khoa học thực nghiệm, nghiên cứu về văn học cổ điển… nhằm cứu vãn đất nước, nâng cao tinh thần người dân Việt Nam
Tờ báo gặt hái nhiều thành công, được độc giả ưa chuộng Nội dung có nhiều bài vở giá trị về văn học, có những bài về khoa học thực nghiệm và những tiểu thuyết hấp dẫn
- Văn Học Tạp Chí là tờ nguyệt san do Dương Tụ Quân và Dương Bá Trạc làm chủ, ra mắt độc giả vào năm 1932 nội dung tờ báo gồm toàn những bài đề cập đến vấn đề văn học
- Tinh Hoa ra đời năm 1937, do Phạm Phú Thứ và Vũ Đình Liên tổ chức, tờ này dù tồn tại không lâu nhưng cũng gây được tiếng vang trong giới văn hoc
- Tao Đàn Tạp Chí: Do Tản Đà và Vũ Trọng Phụng cho ra mắt độc giả vào năm 1939 Tao đàn Tạp Chí kéo dài được 15 số, nhưng nó đã đóng góp rất lớn cho
5 Thần kinh Tạp Chí - số 16
Trang 27sự nghiệp văn học nước nhà Tao Đàn Tạp chí là nơi gặp gỡ hết các khuynh hướng nghệ thuật Tờ báo đã tập hợp một lực lượng khá hùng mạnh của nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau
- Trung Bắc Chủ Nhật ra đời năm 1940 của ông Nguyễn Doãn Vượng, được
sự trợ giúp của hai nhà báo chuyên nghiệp Vũ Bằng và Đào Trinh Nhất Tờ báo đã tập hợp những cây bút nỗi tiếng xứ Bắc: Vân Hạc Lê Văn Hòe, Sở Bảo Doãn Kế Thiện, Tam Hữu Mai Đăng Để, Hồ Khắc Tráng, Hồ Khắc Quảng, Nguyễn Dân Gián… Nội dung tờ báo có nhiều tin tức, hình ảnh, những bài nghiên cứu công phu, tổ chức những chuyên đề riêng Tờ báo dung hòa được học thuật phương Đông với nền văn hóa phương Tây bằng cách giới thiệu các tư tưởng mới của phương Tây và những nét đặc trưng của nền văn minh phương Đông Tờ báo được sự ủng hộ nồng nhiệt của độc giả ba miền
1.2.1.2.Các nhóm báo chí: Giai đoạn 1930 – 1945, báo chí xứ Bắc có ảnh hưởng
rất lớn đến sự thay đổi và trưởng thành nền văn học và báo chí nước ta Các nhóm báo chí cũng là một nét đặc thù của báo chí Bắc Kỳ, nó mở đầu cho việc hình thành hệ thống nhà xuất bản về sau
- Nhóm Tự lực văn đoàn do Nguyễn Tường Tam ( Nhất Linh) đứng ra sáng lập Năm 1930 du học ở Pháp về, Nguyễn Tường Tam tham gia hoạt động văn chương và báo chí Đầu tiên ông đứng ra thành lập tờ Cười nhưng thất bại Năm 1932, tờ Phong Hóa của Nguyễn Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai tuy rất có cảm tình của độc giả nhưng văn phong trên báo không phù hợp nên không có độc giả Nguyễn Tường Tam đứng ra điều đình để đổi mới tờ báo Phong Hóa số 14 đổi mới ra mắt độc giả vào ngày 12 tháng 9 năm 1932, với nội dung và văn phong mới mẻ của các cây bút: Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ cùng với một số anh em như Nguyễn Tường Long, Nguyễn Tường Cẩn, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Tường Lân, đặc biệt là cây bút chọc cười rất thành công là nhà thơ Tú Mỡ ( Hồ Trọng Hiếu) Phong Hóa đã được người đọc hoan nghênh, tờ báo tăng số phát hành nhanh chóng Đến đầu 1933, để tạo ra thế mạnh lâu dài Nguyễn Tường Tam thành lập Tực Lực Văn Đoàn Ngày 30 tháng 1 năm 1935, Tự lực văn đoàn tiếp
Trang 28tục cho ra mắt độc giả tờ Ngày Nay, tờ báo rất thành công trên lĩnh vực văn học và ảnh hưởng rất sâu rộng trong tiến trình hiện đại hóa văn học và báo chí Việt Nam
Về văn chương, nhóm Tự lực văn đoàn chủ trương dùng lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương An Nam Tự lực văn đoàn đề xướng một loại tiểu thuyết không phải tàu cũng không phải tây, mà là tiểu thuyết Việt Nam, với tâm lý hoàn cảnh Việt Nam, đồng thời thúc đẩy, mở màn một phong trào tiểu thuyết mới Ngoài những cây bút trụ cột, ở giai đoạn sau Tự lực văn đoàn tiếp nhận thêm những nhà văn, nhà thơ có giá trị như Đoàn Phú Thứ, Vi Huyền Đắc, Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh… Nhóm Tự lực văn đoàn là một hiện tượng mà chúng ta sẽ khảo sát kỹ ở phần sau
- Nhóm Tân Dân do Vũ Đình Long tổ chức, ông là nhà viết kịch quốc
ngữ đầu tiên: Chén thuốc độc và Tòa án lương tâm đăng trên tờ Hữu Thanh Vũ
Đình Long mở nhà xuất bản Tân Dân, chuyên in sách giáo khoa, truyện kiếm hiệp, tiểu thuyết bi tình dịch từ tác phẩm Tàu Năm 1934, ông cho ra đời tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy Chủ trương của tờ báo này là không có khuynh hướng chính trị hay khảo luận, chỉ đăng tiểu thuyết , thuần giải trí, mua vui Truyện ngắn, tiểu thuyết đăng từng kỳ rất hấp dẫn, lôi cuốn độc giả Tờ này đã tập hợp một số tác gia khá nổi tiếng như Ngọc Giao, Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… Đến năm 1936, nhóm này cho ra đời tờ Ích Hữu, với sự hớp tác của các nhà văn nhà báo, đứng đầu là Lê Văn Trương cùng Trương Tửu, Lê Tràng Kiều, Nguyễn Đình Lạp, Phạm Ngọc Khuê Ngoài ra nhóm Tân Dân còn cho ra đời thêm tờ Tao Đàn gồn các cây bút chủ chốt: Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Trong Thuật, Phan Khôi, Hoài Thanh, Trương Tửu, Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân Xét về hoạt động văn học
và báo chí trong vòng 10 năm tồn tại, nhóm Tân Dân cũng đã có công đóng góp khá lớn cho sự nghiệp phát triển văn học nước nhà, nuôi dưỡng những cây bút tài năng cho văn học Việt Nam
- Nhóm Tri Tân gồm có Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Đôn Phúc, Trúc Khuê, Thiếu Sơn, Chu Thiên, Khuôn Việt, Minh Tuyền, Phan Khắc Khoan,
Trang 29Nguyễn Huy Tưởng Tờ Tri Tân ra mắt độc giả năm 1941, do Hoa Bằng Nguyễn Thúc Trâm làm chủ bút Nhóm Tri Tân chủ trương củng cố tinh thần dân tộc, cung cấp tri thức văn hóa bản địa, tạo nền tảng để người Việt tiếp thu nền văn minh phương Tây được tinh lọc qua ý thức phương Đông
- Nhóm Thanh Nghị do một nhóm trí thức tây học tập hợp lại gồm Vũ Văn Hiền, Phan Anh, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Văn Can, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thiệu Lâu, Nguyễn Văn Huyên, Vũ Đình Hòe, Đinh Gia Trinh, Lê Huy Vân… Tờ Thanh Nghị ra số đầu tiên năm 1941 , tờ báo làm văn hóa công khai khi chế độ thực dân còn tồn tại Những bài báo đăng tải trên Thanh Nghị có nội dung
cổ động cho nền độc lập dân tộc, tạo cái không khí tự chủ ở mỗi người dân Việt
- Nhóm Hàn Thuyên cho ra tờ Văn Mới vào năm 1941 với các cây bút Trương Tửu, Nguyễn Đình Lạp, Đặng Thai Mai, Phạm Ngọc Khuê và chủ biên là Nguyễn Đức Quỳnh Tờ Văn Mới chuyên khảo cứu, phê bình văn học, triết học, sử học, xã hội học… nhóm Hàn Thuyên có cái nhìn tiến bộ hơn, họ muốn xây dựng một triết lý nhân sinh mới cho con người Việt Nam trên con đường xây dựng xã hội
- Nhóm báo chí cách mạng gồm những chiến sĩ cách mạng, tổ chức Cộng sản, các đoàn thể hoạt động bí mật và công khai trong thời kỳ này Báo chí cách mạng rất phong phú về mặt nội dung lẫn hình thức Nhóm này đã lợi dụng báo chí công khai để tức chức, tuyên truyền, cổ động và cho ra đời những tờ báo bí mật, chuẩn bị tiền đề cho cuộc cách mạng Việt Nam
Báo chí Việt Nam từ năm 1930 đến 1945 là giai đoạn chót của nền báo chí thuộc địa Theo thống kê thì ở đỉnh điểm của sự phát triển năm 1936, số đầu báo phát hành lên đến hơn 400 tờ Người làm báo chuyên nghiệp càng đông đảo, tính cách chuyên môn hóa nghiệp vụ thể hiện rõ nét, quá trình hiện đại hóa báo chí đã được định hình trong hoạt động báo chí nước ta vào giai đoạn này Các tờ báo có nội dung phong phú và hình thức trình bày đẹp, có đủ các loại báo chuyên biệt dành cho từng đối tượng riêng rẽ Nhìn lại một nền báo chí cách nay hơn sáu mươi
Trang 30năm mà đã phát triển như thế, hơn nữa lại là một nền báo chí nằm trong gọng kèm chính trị của thực dân,ï phát triển của báo chí thời kỳ nầy cần được nghiên cứu, rút tỉa kinh nghiệm và những bài học quý giá cho hoạt đông báo chí sau này
1.2.2 Thành tựu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Văn học Việt Nam từ 1930 đến 1945 phát triển một cách mới mẽ, có những thành tựu to lớn đóng góp cho tiến trình hiện đại hóa văn học nước ta Tình hình chính trị, xã hội Việt Nam lúc này rất phức tạp, do đó văn học cũng phát triển rất
đa dạng, các khuynh hướng văn học cũng dựa trên cơ sở ý thức giai cấp Thời kỳ này xuất hiện ba dòng văn học nổi trội: Dòng văn học cách mạng, dòng văn học lãng mạn và dòng văn học hiện thực phê phán Các dòng văn học này phát triển đan xen, thúc đẩy với nhau tạo ra bộ mặt văn học phong phú, sinh động đầy chất sống
Văn học cách mạng khởi đầu là phong trào thơ văn Xô viết Nghệ Tĩnh, nhũng bài vè, những bài hát dặm, những bài văn truy điệu khơi nguồn cho dòng chảy văn học cách mạng, kể từ đây văn học cách mạng trở thành một hiện tượng quần chúng, một dòng chảy liên tục qua các thời kỳ và lớn mạnh không ngừng
Nối tiếp theo thơ văn Xô viết nghệ Tĩnh là phong trào văn thơ trong tù: “ Tao đàn
ngục thất” ở Kontum năm 1932, cuộc thi thơ ở Hỏa Lò, Côn Đảo Trong những
nhà tù xuất hiện báo chính trị và văn nghệ như Xiềng Sắt ( Buôn Mê Thuột);
Thông Ngàn, Suối Reo (Sơn La); Lao Tù Tạp Chí ( Hà Nội); Anh Bình Minh (Hòa
Bình)… Trong những thời điểm thuận lợi, văn học cách mạng phát triển mạnh mẽ các thể loại từ thơ ca đến chính luận, phóng sự, bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết…
Về mặt hình thức, văn học cách mạng đã có bước nhảy vọt, lối hành văn thoát ra khỏi phong cách ước lệ cổ điển của văn học cũ Văn học cách mạng thời kỳ này đã đánh dấu một bước tiến triển mới mẻ theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh và có một diện mạo mới Dòng văn học cách mạng đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với văn học dân tộc, trở thành dòng văn học chủ lưu từ sau ngày giành được độc lập năm
1945 Từ đó đến nay văn học cách mạng có những thành tựu khá rực rơ,õ với đội ngũ nhà văn, nhà thơ cách mạng nổi danh: Nguyễn Ái Quốc, Hải Triều, Tố Hữu,
Trang 31Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyên Hồng… đến Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu… Các thế hệ nhà văn, nhà thơ đã kế tục nhau xây dựng nền văn học cách mạng có khuynh hướng vững chắc, đóng góp lớn lao cho sự phát triển văn học nước nhà Văn học cách mạng để lại một gia tài văn chương đồ sộ trên thi văn đàn Việt Nam, nó đã thực hiện được những bước đi vững vàng, độc đáo trong lịch sử văn học nước nhà
Văn học hiện thực phê phán hình thành, phát triển mạnh mẽ trong những năm 30 thế kỷ XX, văn học hiện thực phê phán nảy sinh từ những nguyên nhân xung đột ý thức xã hội Con đường hình thành dòng văn học hiện thực phê phán phản ánh quá trình đấu tranh xã hội, trong một bối cảnh lịch sử sôi động và ảnh hưởng của các hình thái ý thức Các nhà văn tiến bộ là những người gần gũi với giai cấp công nhân và nông dân Trong một xã hội thực dân nữa phong kiến văn học hiện thực phê phán vạch trần những áp bức bất công Thời kỳ nàøy, văn đàn Việt Nam xuất hiện những đại biểu sáng giá của dòng văn học hiện thực phê phán: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tam Lang…
Các nhà văn hiện thực phê phán đã chịu sự tác động sâu sắc tư tưởng Mác xít, chủ nghĩa xã hội khoa học Sách báo Cộng Sản đã ảnh hưởng đến khuynh hướng và tài năng của họ Thực tiễn đấu tranh của phong trào cách mạng cũng như ánh sáng của chủ nghĩa xã hội đã giúp các nhà văn hiện thực phê phán thấy rõ hơn vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan mô tả những mâu thuẫn nội tại của giai cấp quan lại phong kiến và nông dân nghèo, hai cây bút phóng sự nổi tiếng xứ Bắc là Vũ Trọng Phụng và Tam Lang đi sâu vào đời sống nhiễu nhương, táo tợn của tầng lớp thị dân mới bị tha hóa bởi những chính sách ngu dân và trụy lạc hóa của chính quyền thực dân Chúng ta dễ dàng nhận thấy quan điểm duy vật biện chứng trong tác phẩm của một số nhà văn hiện thực phê phán, bằng phương thức nhìn nhận, đánh giá vấn đề xã hội Ảnh hưởng của phong trào cách mạng quần chúng tạo cho dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam có những sắc thái riêng trong việc xây dựng các nhân vật điển hình của thời
Trang 32đại, họ là những người nông dân nghèo, phản ánh đúng thực chất một nước nông nghiệp lạc hậu trong chế độ phong kiến phương Đông Văn học hiện thực phê phán và văn học cách mạng có nhiều ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau Một số nhà văn cách mạng sử dụng văn học hiện thực phê phán để đấu tranh công khai trên báo chí và một số nhà văn hiện thực phê phán cũng viết được một số tác phẩm
có yếu tố tích cực cách mạng Trong quá trình phát triển, một bộ phận của dòng văn học hiện thực phê phán hòa vào dòng chảy cách mạng, tạo sức mạnh cho sự phát triển dòng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, dòng văn học chủ lưu của dân tộc sau khi giành được độc lập
Văn học lãng mạn ra đời trong bầu không khí bi quan, dao động do các phong trào cách mạng bị đàn áp, một số chiến sĩ cách mạng hy sinh hoặc bị giam cầm Sau vụ thất bại ở Yên Bái, Nguyễn Thái Học lên đoạn đầu đài, một bộ phận tiểu tư sản trí thức rút lui khỏi vũ đài chính trị Con đường văn chương được chọn lựa như một lối thoát của họ
Các tầng lớp tư sản dân tộc dân tộc và tiểu tư sản trí thức Việt Nam tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa 6
Không làm cách mạng, tầng lớp tiểu tư sản có ý thức xây dựng một nền văn hóa mới cho dân tộc Họ có quan niệm rằng không đánh Pháp, không làm cách cách mạng thì họ làm văn chương để tỏ lòng yêu nước Dù không thể hiện bằng những hành động tích cực nhưng những nhà văn, nhà thơ vẫn ấp ủ tinh thần dân tộc Các nhà văn lãng mạn chọn con đường đấu tranh đòi quyền sống cá nhân, bằng con đường văn chương họ đấu tranh giải phóng cái tôi cá nhân ra khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến Tuy rằng trước những năm 30 của thế
kỷ XX đã có những tác phẩm có tính chất lãng mạn như khối tình con của Tản Đà,
Giọt lệ thu của Tương phố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách… Nhưng đại biểu của
dòng văn học lãng mạn là tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và phong trào thơ mới giai đoạn 1930 – 1945
6 Chủ nghĩa Mac và văn hóa Việt Nam – Trường Chinh
Trang 33Có nhiều cách đánh giá khác nhau về trào lưu văn học lãng mạn thời kỳ 1930 – 1945, đứng trên góc nhìn văn học thì dòng văn học lãng mạn có những đóng góp hết sức quan trọng và cần thiết trong việc đổi mới nền văn học Việt Nam, đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đường hiện đại hóa và tạo cho ngôn ngữ văn học trong sáng, giàu có hơn Dòng văn học lãng mạn đã làm một cuộc cách mạng lớn trong phương thức sáng tác văn xuôi lẫn thi ca, phá bỏ toàn bộ hệ thống thi pháp cổ điển, thay thế bằng một phương pháp sáng tác mới, ảnh hưởng chủ yếu hệ thống thi pháp phương Tây
Trong lịch sử văn học Việt nam chưa lúc nào có được bộ mặt văn học phong phú như thời kỳ 1930 – 1945 Dòng văn học cách mạng mang uy thế tiến công mạnh mẽ, lột trần tội ác của chủ nghĩa thực dân, bọn phong kiến tay sai đồng thời vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng Dòng văn học cách mạng luôn bị cấm đoán , đàn áp do đó tác phẩm chỉ lưu hành bí mật hoặc bán công khai Sau khi đất nước độc lập, dưới ánh sáng dẫn đường của Đảng, dòng văn học cách mạng đã chuyển mình một cách mạnh khỏe và trong sáng trở thành trào lưu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, dòng văn học chủ lưu của đất nước ta ngày nay Dòng văn học hiện thực phê phán lên án chế độ thực dân, phong kiến mục nát, bóc lột tàn tệ
và làm tha hoá con người Dòng văn học hiện thực phê phán cũng luôn bị kiểm duyệt, cắt xén thô bạo Một bộ phận của dòng văn học hiện thực phê phán ảnh hưởng của học thuyết Mac xít, có yếu tố cách mạng tích cực, hòa vào dòng văn học hiện thực xã hôi chủ nghĩa sau này Dòng văn học lãng mạn với đường lối đấu tranh ôn hòa nên được tồn tại công khai Dòng văn học lãng mạn tuy không đóng góp được nhiều trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng lại có công đóng góp rất lớn trong sự phát triển văn học nước nhà Một số nhà văn, nhà thơ giác ngộ con đường đấu tranh giải phóng dân tộc như chế Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân… đã đóng góp rất nhiều cho trào lưu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sau này Trong hoàn cảnh chia cắt đất nước năm 1954, dòng văn học lãng mạn còn tiếp tục phát triển rất mạnh mẽ trong vùng bị tạm chiếm
Trang 34Văn học Việt Nam đương đại được kế thừa dòng văn học cách mạng, hấp thu tinh hoa của hai dòng văn học hiện thực phê phán và văn học lãng mạn Thành tựu của nền văn học mới lấy tiền đề từ những nhân tố hình thành và phát triển của văn học giai đoạn 1930 – 1945
1.3 Vai trò của Tự lực văn đoàn trong tiến trình phát triển báo chí và
văn học giai đoạn 1930 - 1945
Phong trào Tự lực văn đoàn là một hiện tượng khá đặc thù và có một ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình phát triển nền văn học và báo chí Việt Nam Tự lực văn đoàn đặt ra “Tôn chỉ” sáng tác, Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn gồm 10 điểm:
1 Tự sức mình làm ra những sách có giá trị văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi, mục đích làm giàu thêm văn sản nước nhà
2 Soạn những sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho người và xã hội ngày một hay hơn lên
3 Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những sách có tính cách bình dân và cổ động người khác có tư tưởng bình dân
4 Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam
5 Lúc nào cũng mới trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ
6 Ca tụng những nét hay, vẽ đẹp của nước ta mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tính cách trưởng giả, quý phái
7 Tự do cá nhân
8 Làm cho người ta hiểu rằng đạo Khổng không hợp thời nữa
9 Đem những phương pháp khoa học Thái Tây áp dụng vào văn chương
An Nam
10 Theo 1 trong 9 điều này cũng được miễn là đừng trái với những điều khác
Trang 35Không phải tất cả những cây bút trong Văn Đoàn đều thể hiện được tôn chỉ
đó, chỉ có những người chủ xướng phong trào Tự lực văn đoàn là có thống nhất với nhau về quan điểm cũng như cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề trong sáng tác của mình
Tự lực văn đoàn ra đời từ năm 1933, nhưng thực sự những thành viên của văn đoàn đã hoạt động trong lĩnh vực văn chương và báo chí trước đó Số thành viên của văn đoàn gồm có: chủ soái là Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh, Bảo Sơn), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo, Tứ Ly), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Trần Khánh Giư (Khái Hưng, Nhị Linh), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mở), Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ, Lê Ta), sau này gia nhập thêm Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu) và Trần Tiêu Ngoài ra văn đoàn còn được sự cộng tác của nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng như Đoàn Phú Thứ, Trần Thanh Tịnh (Thanh Tịnh), Cù Huy Cận (Huy Cận), Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường…
1.3.1 Ý thức đấu tranh xã hội - xây dựng tư tưởng mới của Tự lực văn đoàn
Sự ra đời của Tự lực văn đoàn ít nhiều chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và Duy Tân đầu thế kỷ Phong trào vận động giải phóng dân tôc, hướng vào cuộc duy tân tự cường và cứu quốc Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn là mong muốn xây dựng một nền văn chương thuần túy chất Việt Nam trên căn bản truyền thống dân tộc Xây dựng một nền văn học có chất liệu “An Nam” bằng cách tiếp thu có điều kiện nền văn minh Thái Tây (điểm 9 trong tôn chỉ) Tự lực văn đoàn đã
áp dụng một kỹ thuật viết hoàn toàn mới mẻ theo phong cách phương Tây Câu văn ngắn gọn, trong sáng dễ hiểu khác hẳn với lối văn biền ngẫu, nặng nề từ ngữ hán việt, dùng nhiều điển cổ như trước đây Sự đóng góp lớn nhất của văn đoàn này là áp dụng kỹ thuật viết tiểu thuyết hiện đại phương tây vào quá trình sáng tác nhằm đổi mới nền tiểu thuyết Việt nam từ cách kết cấu, xây dựng nhân vật, diễn đạt nội tâm, một cách gọn gàng, trong sáng và hấp dẫn Tự lực văn đoàn nắm bắt thị hiếu của lớp độc giả mới, tầng lớp tiểu tư sản thành thị, tầng lớp mới hình thành cần có món ăn tinh thần hợp khẩu vị
Trang 36Văn đoàn đề xướng quan điểm “Tôn trọng tự do cá nhân”, chống lại lễ giáo phong kiến, đề cao tự do yêu đương cho giới trẻ, đấu tranh cho cái tôi cá nhân
Chủ trương “lúc nào cũng vui vẻ, trẻ trung yêu đời Không có tính cách trưởng giả
quí phái Làm cho người ta biết là đạo Khổng không phù hợp nữa Đem phương pháp khoa học Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam”
Cuộc đời hoạt động báo chí và văn học của Nguyễn Tường Tam, chủ soái Tự lực văn đoàn, bắt đầu vào năm 1933 Nguyễn Tường Tam mua lại tờ Phong Hóa của Nguyễn Xuân Mai và tổ chức đổi mới hoàn toàn từ nội dung lẫn hình thức Ông chủ trương dùng tiếng cười hài hước để đánh vào những tệ đoan,
hủ tục của xã hội phong kiến Tiếng cười của Phong Hóa là vũ khí sắc bén tấn công vào những thói “dỏm dí” của đám quan lại và tay sai chuyên hà hiếp dân lành Năn 1936 tờ Phong Hóa bị đình bản, trước đó văn đoàn đã kịp cho ra tờ Ngày Nay Chủ đích của nhóm Tự lực văn đoàn là cổ động cho lối sống mới tiến
bộ, nâng cao tầm nhận thức và cải tạo bộ mặt buồn tẻ của nông thôn Việt Nam thời bấy giờ Phê phán tất cả những cái mà họ cho là phong kiến, lạc hậu nên đôi khi có những hành động chỉ trích thái quá Nhưng nụ cười của tờ Phong hóa và ngày nay
đã nhắm đúng mục tiêu, đối tượng và có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội lúc bấy giờ Từ khi tờ Phong Hóa đổi mới ra đời, những mẫu chuyện nhỏ, những bài thơ trào lộng và những mẫu biếm họa đã chỉa mũi đã kích vào những hủ tục, quan niệm lạc hậu của người nông dân nghèo Bọn quan lại phong kiến và tay sai cũng nhứt nhối vì với sự chỉ trích của hai tờ báo này Như vụ chỉ trích tên phó toàn quyền Đông Dương Châtel, y là một tên quỷ quyệt hiếu sắc Tờ Phong Hóa đã in một biếm họa gây cho độc giả một trận cười Nội dung biếm họa vẽ Lý Toét ở quê
ra Hà Nội, tay ôm một con gà mái để biếu cho phó toàn quyền Đông Dương – con
gà mái dịch sang tiếng Pháp là la poule (trong tiếng Pháp la pouple còn có nghĩa là con đĩ) Một lần khác họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ cái chuông ở chùa Cổ Lễ than thở về việc người ta sắp “ đem chuông đi đánh xứ người” ám chỉ việc bọn thực dân vơ vét đồ đồng ở nước ta, kể cả đồ thờ cúng ở chùa chiền miếu mạo, đem về Pháp đúc súng đạn phục vụ chiến tranh
Trang 37Năm 1937 Tự lực văn đoàn thành lập Hội Ánh Sáng, đây là một tổ chức từ thiện tham gia hoạt động cứu tế xã hội, quyên góp tiền bạc để làm nhà “ánh sáng” cho người nghèo Trên báo Ngày Nay, Tự lực văn đoàn mở mục “Bùn lầy nước đọng” để tuyên truyền cho Hội Ánh Sáng Những thiên phóng sự về cuộc sống ngột ngạt, tối tăm ở nông thôn Việt Nam, những bài viết về cải cách hương thôn, một số tác phẩm Gia đình, Con đường sáng… thể hiện ý tưởng cải cách xã hội Trong Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Tối tăm… Nhất Linh đã thể hiện nỗi cảm thông chân thành khổ cực của người dân quê sau lũy tre làng Hội Ánh sáng đã thu hút một số trí thức, viên chức, nghệ sĩ ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Sơn Tây, Nam Định Hội đã xây dựng hai căn nhà kiểu mẫu ở Kiến An và làng kiểu mẫu ở huyện Bất Bạc
Tôn chỉ tôn chỉ của Tự lực văn đoàn có chủ trương “theo chủ nghĩa bình
dân, soạn những sách có tính cách bình dân và cổ động người khác có tư tưởng bình dân” và “ca tụng những nét hay, vẽ đẹp của nước ta mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tính cách trưởng giả, quý phái” Như vậy thì phong trào xã hội hướng theo chủ nghĩa
bỉnh dân đã hình thành từ khi mới thành lập văn đoàn chứ không phải Tự lực văn đoàn chạy theo mắt trận dân chủ là do sức ép của của không khí chính trị và thị hiếu của độc giả thời đó Trên báo Tin Tức, cơ quan ngôn luận của mặt trận dân chủ Bắc kỳ, Nhất Linh đã phát biểu:
Tôi vẫn tha thiết mong cho đám bình dân thiệt thòi và thấp kém trong xã hội có quyền sống mà họ thiếu thốn Tôi đã thất vọng nhiều lần, thất vọng như bao nhiêu người khác đã quá mong mỏi ở những nơi không nên mong mỏi Mặt trận Bình dân Đông Dương mới thành lập đem lại cho tôi một tia sáng hy vọng Lấy trách nhiệm là một nhà văn cùng với những người đồng chí khác, tay cầm tay đứng trong hàng ngũ, tôi xin hết sức giúp một phần nhỏ mọn vào công cuộc đòi quyền sống của hết thảy anh em bị thiệt: Mặt trận bình dân
Qua phát biểu trên, Nhất Linh đã nói lên cái khuynh hướng bình dân của Tự lực văn đoàn đã được cổ xúy trước khi mặt trận Bình dân thắng thế
Trang 38Về nội dung tư tưởng, tác phẩm của Tự lực văn đoàn nói lên sự đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, giải phóng cái tôi cá nhân ra khỏi sợi dây ràng buộc bởi
tư tưởng Nho giáo, đề cao tư tưởng cá nhân, đòi quyền tự do cá nhân, đề cao hạnh phúc cá nhân
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn mang tính chất luận đề phản ánh cho tư tưởng
đấu tranh mới, cũ đang diễn ra mạnh mẽ trong tầng lớp thị dân của chúng ta lúc bấy giờ Cái “mới” ở đây là tư tưởng tự do cá nhân tư sản, cái “cũ“ là luân lý, tập
tục, lễ giáo phong kiến lạc hậu Tự lực văn đoàn đã dứng về cái mới để đã kích
những cái cổ hũ, lạc hậu và phê phán những những “con người” đại diện cho nền
luân lý lễ giáo phong kiến không còn hợp thời Tính cách nhân vật đáng phê phán như bà Án (Nửa chừng xuân – Khái Hưng), bà Phán Lợi (Đoạn Tuyệt – Nhất Linh) đã gieo vào lòng người đọc một lòng căm ghét không phải chỉ một cá nhân nào đó mà là sự xăm ghét cả nền luân lý lễ giáo khắt nghiệt Hình ảnh nhửng cô gái mới như Mai (Nữa chừng xuân), Loan (Đoạn tuyệt)… là hình ảnh minh chứng sinh động cho chủ trương cổ vũ quan niệm sống mới: tự do cá nhân, tự do trên quan niệm tình yêu, tự do xây dựng hạnh phúc lứa đôi Tác phẩnm của Tự lực văn đoàn trong thời kỳ này xây dựng hình tượng những đôi trai gái mới tự do yêu đương, bất chấp mọi ràng buộc của gia đình, lễ giáo phong kiến Sự thức tỉnh mạnh mẽ của cá nhân trong lĩnh vực tình yêu, hôn nhân nhằn thoát khỏi xiềng xích khuôn phép bất nhân Đây là một bước tiến quan trọng trong lịch sử, xây dựng tư tưởng xã hội mang mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo phù hợp với quan điểm đạo
đức của nhân dân Trong Lạnh lùng Nhất Linh lên án lễ giáo phong kiến, tập tục
cổ truyền đã trói buộc, giam hãm tình cảm con người một cách tàn nhẫn Ông đã xây dưng hình vật Nhung, người phụ nữ góa chồng lúc mới 20 tuổi, thế mà vì chút danh hảo, vì tấm bảng “tiết hạnh khả phong” có từ mấy đời trước của nhà chồng, nàng đã phải chịu cảnh giá lạnh phòng không, sống dối lòng mình và dối người để bảo vệ cái danh tiếng hảo đã lỗi thời Khái Hưng đã tích cực phê phán cái ngục tù
của đại gia đình phong kiến qua tác phẩm Thoát ly Tác giả đã đưa hình ảnh
Hồng, người phụ nữ hiền dịu, dễ thương nhưng nhu nhược không dám đấu tranh,
Trang 39không dám đối mặt với cuộc sống Hồng đã sống mòn mỏi cả tinh thần lẫn thể xác
để rồi cuối cùng chết trên giườn bệnh không một ai săn sóc Trong thoát ly đã nói
lên sự khát khao vô tận của một con người đòi hỏi một cuộc đời tự do, một tình yêu chân thật, giản dị Nhưng xã hội đã khắt nghiệt đẩy Hồng vào cõi chết mới
giúp nàng thật sự “thoát ly” cảnh địa ngục gia đình Trong tiểu thuyết Gia đình,
Khái Hưng vạch trần những mâu thuẫn trong các gia đình quan lại phong kiến, những bất đồng diễn ra trong sự xung đột có tính giai cấp Nga và An là một đôi
vợ chồng trẻ, họ có thể xây dựng một gia đình êm ấm, hạnh phúc Nhưng vì sự rẩy rúng của những người trong gia đình nên sự mâu thuẫn giữa đôi vợ chồng trẻ xãy
ra An là một thanh niên có chí khí vốn khinh ghét chốn quan trường Nhưng vì nhu nhược, không chịu được sự dằn vặt của Nga, An đã cố hết sức để được ra làm quan Chốn quan trường không thích hợp đã làm An thất bại tiêu tán tài sản lại
càng phải chuốt lấy cái thối nát, mục rỗng của chốn quan trường Gia đình đã đưa
ra vấn đề: hạnh phúc gia đình chỉ có được khi tách khỏi đại gia đình phong kiến, sống biệt lập để gắn hạnh phúc của mình với hạnh phúc của số đông là người nông dân Gia đình phong kiến và tư sản là một thứ địa ngục mà quan hệ giữa những người thân thích ruột rà là những sự ganh tị, ghen ghét, hằn học nhỏ nhen
Trong ý thức dân tộc, Tự lực văn đoàn đã nói lên những khát vọng dân tộc dân chủ của đông đảo quần chúng Chủ yếu là tiếng nói của tầng lớp tiểu tư sản thành thị Họ đòi hỏi tự do cá nhân, giải phóng bản ngã, đấu tranh cho tự do trong tình yêu, tự do trong hôn nhân, đòi quyền sống cho người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, đại gia đình phong kiến Tự lực văn đoàn đã kích gay gắt bọn quan lại phong kiến và chĩa mũi hài hước chế nhạo bọn thực dân Pháp Họ tỏ lộ thái độ cảm thông đối với đời sống nghèo khổ của người dân quê Một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn đề cao tinh thần dân tộc, Hình ảnh người
khách chinh phu trong thơ Thế Lữ hay hình tượng nhân vật trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Tiêu sơn tráng sĩ của Khái Hưng nói lên tình cảm yêu nước, yêu dân,
muốn xây dựng xã hội mới, chối bỏ cái xã hội thối nát đương thời Tuy nhiên con đường đấu tranh của họ yếu ớt, mơ hồ và nhuộm màu sắc cải lương chủ nghĩa Tự
Trang 40Lực văn đoàn đã thể hiện tinh thần dân tộc trong phạm trù ý thức hệ tư sản, họ không dám đối đầu trực tiếp với kẻ thù Tuy vậy tinh thần dân tộc của họ cũng gây được ảnh hưởng phần nào đến con đường phát triển xã hội, nhất là trong lĩnh vực
tư tưởng, văn học và nghệ thuật
1.3.2 Văn xuôi nghệ thuật Tự lực văn đoàn - Một đóng góp quan trong trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam
Tự lực văn đoàn đã có những đóng góp lớn vào quá trình hiện đại hóa văn
học Các nhà thơ mới trong văn đoàn đã góp phần làm phong phú thế giới nội tâm con người, cho chúng ta thấy một đất nước quê hương với thiên nhiên đầy cảm xúc
và thanh sắc, mang đến một “cái tôi cá thể hóa” 7 trong cách cảm thụ thế giới thi
ca Tự lực văn đoàn cũng đã xây dựng thành công rực rỡ một nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Văn đoàn này đã đóng góp vào tiếng nói và câu văn dân tộc một lối văn trong sáng, giàu chất nghệ thuật và đậm nét Việt Nam
Tự lực văn đoàn đã có công lớn trong việc đổi mới nền văn học vào những
năm 30 của thế kỷ, đổi mới từ những quan niệm xã hội như mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồngxã hối cho đến việc đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đường hiện đại hóa, làm cho ngôn ngữ văn học trở nên trong sáng và giàu có hơn Công cuộc đổi mới đó đã diễn ra dưới những ảnh hưởng của các trào lưu văn học, triết học của phương Đông và phương Tây, nhất là của văn học Pháp 8
Những năm đầu thế kỷ XX, một số tác phẩm văn xuôi đã xuất hiện trên văn đàn Việt Nam Nhìn chung những tác phẩm này có kết cấu, nghệ thuật xây dựng tác phẩm còn hạn chế và bộc lộ rõ nét ảnh hưởng của truyện Tàu Đến khi Tự lực
văn đoàn hình thành, thể loại tiểu thuyết của các tác gia này như Hồn bướm mơ
tiên, Đoạn tuyệt, Nữa chừng xuân, Gánh hàng hoa… đã tạo cho văn xuôi Việt
Nam tiến một bước dài đến sự mẫu mực và hoàn chỉnh như ngày nay
Trần Đình Hựu trong bài viết: Tự lực văn đoàn nhìn góc độ tính liên tục
của lịch sử, qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử phương đông có nhận xét
7 Văn học Việt Nam 1900 – 1945 – Nhiều tác giả – trg 553
8 Tự lực văn đoàn con người và văn chương – Phan Cự Đệ – trg 37