Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đề tài gốm sứ cũng như thương mại gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu, các học giả trong và ngoài nước đề cập
Trang 1F ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TƯỜNG VÂN
GỐM SỨ TRONG QUAN HỆ GIAO THƯƠNG VIỆT NAM – NHẬT BẢN THẾ KỶ XVII
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Hà Nội-2013
Trang 2F ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TƯỜNG VÂN
GỐM SỨ TRONG QUAN HỆ GIAO THƯƠNG VIỆT NAM – NHẬT BẢN THẾ KỶ XVII
Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Văn Kim
Hà Nội-2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
Chương 1 10
LỊCH SỬ QUAN HỆ GIAO THƯƠNG VIỆT NAM - NHẬT BẢN 10
1.1 Những mối liên hệ truyền thống Việt Nam - Nhật Bản 10
1.1.1 Những mối liên hệ thời cổ trung đại 10
1.1.2 Những mối liên hệ thời cận thế 12
1.2 Bối cảnh chung về kinh tế xã hội hai nước Việt Nam - Nhật Bản 16
1.2.1 Bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVII 17
1.2.2 Bối cảnh kinh tế xã hội Nhật Bản thế kỷ XVII 20
1.3 Khái quát về hoạt động thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVII 22
Chương 2 29
SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG GỐM SỨ VIỆT NAM - NHẬT BẢN 29
2.1 Gốm sứ Việt Nam 29
2.1.1 Sơ lược về lịch sử gốm sứ Việt Nam và các dòng gốm sứ tiêu biểu 29
2.1.2 Đặc trưng của gốm sứ Việt Nam 36
2.1.3 Gốm sứ Việt Nam tìm thấy ở Nhật Bản 39
2.2 Gốm sứ Nhật Bản 44
2.2.1 Gốm sứ Nhật Bản - lịch sử phát triển và những đặc trưng 44
2.2.2 Đặc trưng căn bản của gốm sứ Nhật Bản 53
2.2.3 Gốm sứ Nhật Bản tìm thấy ở Việt Nam 58
Chương 3 61
GỐM SỨ VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH MẬU DỊCH ĐÔNG Á 61
3.1 Gốm sứ Việt Nam trong hoạt động giao thương quốc tế 61
3.2 Gốm sứ Nhật Bản trong hoạt động giao thương quốc tế 65
3.3 Gốm sứ trong bối cảnh quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản 68
Trang 43.3.1 Đánh giá mối tương quan trong quan hệ thương mại gốm sứ 68
3.3.2 Triển vọng về con đường phát triển thương mại gốm sứ Việt Nam qua tham chiếu với thương mại gốm sứ Nhật Bản 95
KẾT LUẬN 108
PHỤ LỤC 121
Phụ lục 1 : Sơ lược về lịch sử gốm sứ Nhật Bản 121
Phụ lục 2 : Bản đồ gốm sứ Nhật Bản 121
Phụ lục 3 : Gốm sứ Việt Nam tìm thấy ở Nhật Bản 121
Phụ lục 4 : Gốm Hizen xuất khẩu sang Đông Nam Á (nửa cuối thế kỷ XVII) 127
Phụ lục 5: Tình hình xuất nhập khẩu gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản 128
Phụ lục 6: Mô hình phân tích SWOT 132
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Một phần bức tranh Giao chỉ độ hải đồ 16
Hình 1.2: Di cảo bức thư có tựa đề “An nam phó đô đường phúc nghĩa hầu Nguyễn” 24 Hình 1.3: Mật độ thương thuyền Nhật Bản đến Việt Nam thời kỳ Châu ấn thuyền 26
Hình 2.1: Gốm hoa nâu thời Lý - Trần 30
Hình 2.2: Hiện vật gốm sứ từ con tàu đắm ngoài khơi Cù Lao Chàm 33
Hình 2.3: Gốm Bát Tràng thế kỷ XVII 36
Hình 2.4: Gốm Yayoi và Jomon 45
Hình 2.5 : Các dòng gốm sứ tiêu biểu của Nhật Bản thế kỷ XVII : 1.Nabeshima, 2.Kakiemon, 3.Kutani, 4.Imari 53
Hình 2.6: Một số hiện vật bát sứ Hizen khai quật tại Hội An 59
Hình 3.1: Các mặt hàng gốm sứ Nhật do VOC xuất khẩu từ Nhật Bản đến Đàng Ngoài 72 Hình 3.2 : Sứ Hizen xuất khẩu sang châu Âu nửa cuối thế kỷ XVII 73
Hình 3.3 : Bản đồ hải trình của thuyền mành (tousen) 74
Trang 6sở những lý thuyết hiện đại về kinh tế, quản trị để nhín nhận mối quan hệ giao lưu thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVII Từ các kết quả đó, ta sẽ có thêm những khẳng định khoa học cho thành tựu thương mại gốm sứ song phương và đa phương trong bối cảnh kinh tế, xã hội thế kỷ XVII, tiến tới tham chiếu và vận dụng đến những vấn đề có ý nghĩa trong quan hệ hai nước trong hiện tại và tương lai
Ý nghĩa của đề tài:
Không giống như bất kỳ một loại hính sản phẩm nào, gốm sứ mang lại những thông điệp chình xác và khoa học và là những tư liệu quý giá phục vụ cho nghiên cứu
“Từ buổi bính minh của muôn vật, đời sống con người không bao giờ tồn tại mà không
tự biểu hiện trong một loại nào đó của tác phẩm đồ gốm” [60] Gốm sứ luôn là thực thể
quan trọng trong đời sống con người cũng như trong tiến trính lịch sử phát triển chung của nhân loại Ví vậy, nghiên cứu về gốm sứ, đặc biệt là gốm sứ trong quan hệ giao thương Việt Nam - Nhật Bản sẽ có rất nhiều ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hội nhập
và phát triển ngày nay Chình ví vậy, ở luận văn này tác giả không có ý định so sánh hơn kém về cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật gốm sứ giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản mà chỉ xác định đối tượng nghiên cứu là gốm sứ thương mại thế kỷ XVII và mong muốn làm sáng tỏ phần nào vai trò của gốm sứ trong mối quan hệ giao thương Việt Nam Nhật Bản thế kỷ XVII
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài gốm sứ cũng như thương mại gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu, các học giả trong và ngoài nước đề cập trong các công trính khoa học, trong các hội thảo quốc tế, trên các tạp chì nghiên cứu chuyên ngành trong thời gian qua Hàng loạt các hội thảo quốc tế, tọa đàm trao đổi học thuật được diễn ra sôi nổi trong suốt những năm từ 1998~2010 về các vấn đề liên quan đến lịch sử giao thương giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản Bên cạnh đó, hàng loạt các công trính khảo cổ, khảo
Trang 7cứu tại các địa điểm nổi bật ở cả hai nước đã đem lại nguồn tri thức mới rất dồi dào, mở ra những hướng phát triển nghiên cứu chuyên sâu và mới mẻ
Tác giả luận văn đặc biệt tiếp cận tới các công trính nghiên cứu của các nhà nghiên cứu người Nhật Bản như Sakurai Kiyohiro, Kukuchi Seiichi, Aoiki Michio, Uchida Kusuo, Yoshida Yasuko… và các nhà nghiên cứu người Việt Nam như Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Thừa Hỷ, Phan Hải Linh, Lâm
Mỹ Dung, Phạm Quốc Quân, Bùi Minh Trì, Hà Văn Cẩn… Các nhà nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề học thuật liên quan đến tri thức về lịch sử hính thành và phát triển gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản, về những di chỉ khảo cổ mang dấu ấn quan hệ ngoại giao thương mại Việt Nam - Nhật Bản, về bằng chứng xác thực mang tình định lượng để đánh giá các hoạt động xuất nhập khẩu và thương mại gốm sứ, cũng như những nhận định sâu sắc mang tình định hướng và mở ra triển vọng mới cho mối quan
hệ chiến lược Việt Nam - Nhật Bản
Tuy nhiên, chưa nhiều các công trính nghiên cứu có tình chất tham chiếu cụ thể
về mối tương quan trong quan hệ thương mại gốm sứ nói chung và quan hệ giao thương Việt Nam - Nhật Bản nói riêng, nếu có thí các dữ liệu thường chưa đầy đủ và mang tình chất định tình
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng
Gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản chế tác vào thế kỷ XVII được tím thấy từ các di tìch khảo cổ và mối quan hệ thương mại gốm sứ giữa hai nước vào thời kỳ này Tuy nhiên, do còn nhiều tranh luận về khái niệm, cách phân loại gốm và sứ nên nhằm hướng tới đối tượng nghiên cứu chình là quan hệ thương mại gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản, tác giả sử dụng chung khái niệm gốm sứ cho cả gốm và sứ Đã có nhiều nghiên cứu trính bày những quan niệm, những cách gọi xung quanh các thuật ngữ của nghề gốm (gốm, đất nung, sành, sứ…), những tiêu chì về việc phân loại cũng như quan niệm
về thẩm mỹ, về công dụng của gốm sứ khác nhau và tác giả đôi chỗ khi đưa ra ý kiến của mính cũng ủng hộ quan điểm này hay quan điểm khác So với nhiều loại hính nghệ thuật và nhiều loại hính sản phẩm đã từng tồn tại, gốm/đồ gốm có một niên đại sớm (thậm chì rất sớm) với một chặng đường phát triển khá dài và hầu như không bị đứt đoạn [107] Mỗi một giai đoạn trong lịch sử, chúng đều có một dấu ấn riêng và có thể định vị một tên gọi, một phong cách riêng Sự phong phú, đa dạng các loại hính trong lịch trính phát triển chình là nguyên nhân dẫn đến sự “chưa thể thống nhất” những quan niệm về gốm sứ Trong khi trính bày, tác giả cố gắng lược thuật những ý kiến, những
Trang 8quan điểm của các học giả với mục đìch đưa ra một mặt bằng tổng quan về lịch sử giao thương và những đặc trưng của gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản qua từng thời kỳ lịch sử
Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ thời gian và khả năng có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu dựa trên nguồn dữ liệu được tập hợp từ các công trính nghiên cứu về gốm sứ và hoạt động thương mại gốm sứ của các nhà khoa học trong và ngoài nước đăng trên các tạp chì, hội thảo và các nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, văn hóa và kinh tế xã hội của Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVII Bài viết cũng không đề cập sâu tới các kiến thức về
kỹ thuật, mỹ thuật, cũng như giá trị của các loại cổ vật gốm sứ mà chỉ đi sâu vào đánh giá giá trị thương phẩm của gốm sứ với tư cách là một loại hàng hóa thương mại từ đó chứng minh thêm về những mối liên hệ truyền thống và nền tảng cho quan hệ giao thương giữa hai nước trong quá khứ cũng như trong hiện tại
Về thời gian: Luận văn chọn bối cảnh thế kỷ XVII bởi lẽ với cả Việt Nam và Nhật Bản,
giai đoạn ghi nhận những bước thăng trầm đặc biệt trong lịch sử hính thành và phát triển gốm sứ và thương mại gốm sứ Luận văn cũng tập trung vào thế kỷ XVII được coi
là kỷ nguyên vàng của thương mại Đông Á và là thế kỷ nhiều biến động trong lịch sử nhân loại với sự phát triển đột phá của hoạt động ngoại thương nhằm tìch lũy tư bản và
tạo tiền đề tiên quyết cho sự thăng hoa của các cường quốc “tương lai” sau này
Về không gian: Quan hệ thương mại gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản và bối cảnh quốc tế
cũng như khu vực chi phối tính hính hoạt động này của hai nước trong thế kỷ XVII
Về lĩnh vực: Luận văn sẽ đi sâu vào phân tìch sự tồn tại và phát triển của gốm sứ Việt
Nam trong tham chiếu với gốm sứ Nhật Bản từ sản phẩm thủ công phục vụ sinh hoạt hàng ngày đến những bước tiến trở thành một loại mặt hàng thương phẩm có giá trị quan trọng trong cán cân thương mại hai nước vào thế kỷ XVII Ví vậy, luận văn sẽ đề cập trước nhất là lĩnh vực thương mại, sau đó là lĩnh vực kinh tế, xã hội và mỹ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn xuất phát từ cơ sở lý luận của một số lý thuyết về kinh tế chình trị như
lý thuyết về hàng hóa và thuộc tình của hàng hóa, lý thuyết về chiến lược kinh doanh,
lý thuyết về thương hiệu và chuỗi giá trị toàn cầu, lý thuyết về marketing thông qua quá trính thu thập tài liệu từ các dữ liệu lịch sử được các nhà khoa học cung cấp trên các bài viết trên các tạp chì khoa học và các hội thảo quốc tế, từ các nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử và văn hóa của các chuyên gia về Nhật Bản học, Việt Nam học, từ thư viện, báo chì, internet… bằng tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Pháp Tác giả đồng thời cũng cố gắng tiếp cận các kiến thức về mỹ thuật và kỹ thuật chế tác gốm sứ và khảo sát
Trang 9thực tế từ các bộ sưu tập tại các bảo tàng và bộ sưu tập cá nhân nhằm làm luận văn
thêm phong phú và sinh động Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê, so
sánh, phân tìch các số liệu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu kết hợp với việc khảo sát
thực tiễn để từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan nhất Trong luận văn,
tác giả cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp giữa những kiến thức
về lịch sử, văn hóa và kiến thức vể triết học, kinh tế, mỹ thuật bằng cả hai phương pháp
định tình và định lượng nhằm đưa ra một góc nhín mới cho vấn đề nghiên cứu
5 Đóng góp mới của luận văn
Trước đây có khá nhiều công trính nghiên cứu về lĩnh vực gốm sứ cũng như quan
hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVII Tuy nhiên, tác giả vẫn kỳ vọng bằng
một số phương pháp tiếp cận mới minh chứng một cách sáng tỏ và rõ ràng hơn những
nghiên cứu nhận định của các học giả về hoạt động thương mại gốm sứ Đông Á mà
Nhật Bản và Việt Nam là hai thực thể đóng vai trò quan trọng Có một thực tế thông
qua việc khai thác các cứ liệu lịch sử theo phương cách mới sẽ mang lại cái nhín nhiều
chiều phong phú hơn về cách thức “ứng xử” của người xưa trong từng hoàn cảnh cụ thể
Luận văn cũng mong muốn được đóng góp thêm trong việc lý giải về cách thức
tồn tại và phát triển của hoạt động thương mại gốm sứ hai nước trong đó nêu bật giai
đoạn phát triển trong thế kỷ XVII, giai đoạn mang tình bước ngoặt của lịch sử giao
thương Đông Á Thời kỳ này đã ghi nhận những bước thăng trầm trong lịch sử phát
triển thương mại gốm sứ cũng như nền kinh tế, xã hội, chình trị của hai nước; nó cũng
là tiền đề có tình quyết định cho những chuyển biến trong tương lai Với những gí nhín
nhận từ đây, ta có thể có lời giải đáp cho những gí chưa được biết đến trong quan hệ
Việt - Nhật bắt đầu từ khi mới hính thành và phát triển trở thành đối tác chiến lược như
ngày nay Từ những tham chiếu với thương mại gốm sứ Nhật Bản, chúng ta có thể
mạnh dạn đưa ra suy nghĩ, nhận định và đưa ra phương hướng phát triển cho nền
thương mại gốm sứ Việt đang tím điểm tựa để bước tới trong tương lai
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 03
chương:
Chương 1: Lịch sử giao thương Việt Nam - Nhật Bản
Chương 2: Sự hính thành và đặc trưng của gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản
Chương 3: Gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh mậu dịch Đông Á
Trang 10Chương 1
LỊCH SỬ QUAN HỆ GIAO THƯƠNG VIỆT NAM - NHẬT BẢN
1.1 Những mối liên hệ truyền thống Việt Nam - Nhật Bản
1.1.1 Những mối liên hệ thời cổ trung đại
Sự phát triển quan hệ nhiều mặt, đặc biệt là về thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản hiện nay đã được khởi nguyên từ mối liên hệ nhiều chiều trong lịch sử Cụ thể trong lĩnh vực văn hoá, mối liên hệ này đã được giới nghiên cứu khẳng định một cách khoa học
và có hệ thống Trong khuôn khổ của chương này, tác giả muốn khu biệt phạm vi nghiên cứu ở những mối liên hệ ìt được biết đến, từ thời kỳ cổ trung đại tới thời cận thế đánh dấu bằng sự kết thúc của Mạc phủ Edo và sự khủng hoảng của vương triều Nguyễn Mặc dù không nhằm mục đìch đối chiếu, so sánh giữa hai nền văn hoá nhưng việc nghiên cứu những mối liên hệ truyền thống cũng sẽ giúp nhín nhận và đánh giá đúng đắn hơn về những điểm tương đồng hay dị biệt giữa hai dân tộc
Ngay từ thời đá cũ, con người đã sinh sống trên lãnh thổ Nhật Bản Thời bấy giờ, vào thế Pleistocene, thời kỳ băng hà đạt đến mức độ tối đa, Nhật Bản vẫn là một bộ phận gắn liền với đại lục châu Á Đến thời hậu Pleistocene, cách đây khoảng 18.000~12.000 năm, Nhật Bản mới tách dần ra khỏi lục địa và tới thời Holocene thí hoàn toàn trở thành một quần đảo đơn biệt với các 4 đảo chình như ngày nay Như vậy từ thời tiền sử, con người vẫn có thể vượt qua đảo Tsushima để đến Triều Tiên, và từ Ryukyu, cư dân ở đây vẫn dựa vào chuỗi đảo trải dài xuống phìa Nam để vừa truyền tải, vừa duy trí những mạch nguồn văn hoá với khu vực Đông Nam Á…1
Dựa vào những kết quả nghiên cứu, nhà khảo cổ học người Nga P.I.Boriskovki đã cho rằng: Vào “sơ kỳ thời đại đồ đá mới ở miền Trung nước Nhật thể hiện những mối liên hệ với nền Văn hoá Hoà Bính, Bắc Sơn ở Việt Nam Trong thời đại đồ đá mới ở Nhật Bản, cũng như ở bán đảo Sakhalin và quần đảo Kurile, có những loại ríu mặt bằng hính bầu dục được mài qua loa ở lưỡi Những chiếc ríu này giống như những chiếc ríu của nền Văn hoá Hoà Bính I - III Loại ríu và thạch bôn được mài một mặt giống như những chiếc ríu ở Bắc Sơn II”.[107]
Mặc dù khả năng ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá Hoà Bình đến Nhật Bản vẫn chưa được xác định một cách chắc chắn nhưng những dấu vết rõ nét của văn hoá Hoà Bình cũng đã được tím thấy ở Indonesia Rất có thể từ đây, văn hoá Hoà Bình
đã ảnh hưởng xuống phương Nam, tới châu Úc rồi thông qua quần đảo Phillipines,
1 Trìch theo Nguyễn Văn Kim [10]
Trang 11qua nền văn hoá đá mới nổi tiếng này đã truyền đến Đài Loan, Ryukyu và Nhật Bản Khi viết về Đông Nam Á, nhà khảo cổ học người Mỹ W.G.Solheim II đã cho rằng: “Người Hoà Bính đã biết làm gốm vặn thừng cách đây một vạn năm Các văn hoá
đá mới ở Trung Quốc như Ngưỡng Thiều, Long Sơn đều bắt nguồn từ tiểu Văn hoá Hoà Bính và di động từ Nam lên Bắc Người Đông Nam Á đã dùng thuyền vượt biển từ 10.000 năm TCN đến Đài Loan và Nhật Bản, mang đến Nhật nghề trồng taro và các giống cây trồng khác”2
Khi nghiên cứu văn hoá Jomon - nền văn hoá đến nay vẫn đang được coi là thời
đại văn hoá tạo dựng những cơ sở hết sức quan trọng cho sự phát triển của văn hoá Nhật Bản từ 10.000 TCN đến 300 TCN, không ìt các nhà khoa học cho rằng, người Jomon có ngôn ngữ và văn hoá gần với khu vực Nam Trung Hoa và Đông Nam Á
Kế thừa truyền thống văn hoá Jomon, đến thời Yayoi (từ 300 TCN đến năm 250)
một số kiểu dáng mộ chum của thời kỳ này cũng chứng tỏ sự gần gũi với kiểu dáng và môtìp trang trì như các mộ chum thuộc văn hoá Sa Huỳnh - Nam Trung Bộ Việt Nam
Mô tìp trang trì rất đa dạng: dạng hính trụ, hính trứng, hính cầu; giữa trụ và trứng, được trang trì nhiều loại hoa văn, có chum trang trì văn đập xung quanh vai, có chum trang trì vặn thừng toàn thân, đa số các chum để trơn phần thân và đáy Cách thức bài trì trên nắp, quanh vai và thân mộ chum thường đặt đồ gốm như nồi bính niên, bát đèn; bên trong là đồ trang sức như khuyên tai hính bông hoa rau muống, hính đầu thú
Tuy nhiên cũng có những bằng chứng xác thực để nhiều nhà khoa học ủng hộ quan điểm về sự thiên di của một số nhóm người thời tiền sử Đông Nam Á đến Nhật Bản qua Đài Loan và Ryukyu Nội dung và cách luận giải trong một số truyện thần thoại, tập quán xã hội và kiến trúc cổ Đông Nam Á hiện vẫn được bảo tồn ở Nhật Bản
Có thể thấy ở văn hóa Jomon mang nhiều đặc tình của văn hoá Đông Nam Á mà tục lệ
cà răng, nhuộm răng, ở nhà sàn là tiêu biểu Ở Okinawa, các nhà khảo cổ cũng đã khai
quật được những mảnh gốm và ríu được chế tác từ ốc biển (loại ốc mặt trăng turbo) giống những hệ gốm - ríu của nền văn hoá Xóm Cồn (Cam Ranh, Khánh Hoà) hay
những hiện vật tương tự tím thấy ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) Hẳn là từ vài ngàn năm trước đã từng tồn tại “một dải văn hoá của cư dân thuộc ngữ hệ Nam Đảo ở ven biển và các đảo gần bờ biển thuộc biển Đông và vùng biển Tây – Nam Thái Bính Dương”[2]
Sự chia cắt tự nhiên của các vùng địa lý Nhật Bản, môi trường sống cũng như khả
năng giao hoà với các nền văn hoá khu vực cũng tạo nên sự đa diện của văn hoá Jomon
2
Trìch theo Nguyễn Văn Kim [44, tr.319]
Trang 12và các thời đại văn hoá tiếp theo Cùng với việc đi sâu nghiên cứu về mặt nhân chủng cùng các yếu tố môi trường, văn hoá và các thành tố liên quan khác, ngôn ngữ cũng là một đối tượng có vai trò quan trọng được tình đến Nhật ngữ là một ngôn ngữ đa âm tiết, có nhiều dạng biến cách, gắn với tiếng Triều Tiên, Altai Theo các chuyên gia, Nhật ngữ cũng được định hính từ sớm nên về sau mặc dù vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của Hàn ngữ, Hán ngữ và cả một số ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á nhưng nó vẫn là một ngôn ngữ riêng biệt, có cấu trúc, đặc tình ngôn ngữ riêng Ngôn ngữ của người Ryukyu với Nhật ngữ được coi là cùng một ngữ hệ trong khi đó tiếng Ainu lại khác biệt căn bản với Nhật ngữ Các nhà nghiên cứu cũng thấy tình chất đa dạng trong sự pha trộn của tiếng Nhật Ngoài việc chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hán ngữ và Hàn ngữ thí Nhật ngữ cũng đồng thời tiếp nhận những yếu tố ngôn ngữ của một số dân tộc khác ở cả hai khu vực Bắc Á và Đông Nam Á Gần đây trong công trính “Sự hính thành tiếng Nhật” trên
cơ sở nghiên cứu so sánh tiếng Tamil cổ với các tác phẩm văn học của Nhật Bản, giáo
sư ngôn ngữ học Ono Susumi cho rằng: “Tiếng Nhật có cấu trúc ngữ pháp và từ vựng rất gần với tiếng Tamil cổ Cũng theo giáo sư Ono, con đường truyền bá ngôn ngữ đó cũng đồng thời là con đường lan toả của cây lúa nước từ miền Nam Ấn Độ đến Nhật Bản” Những cứ liệu lịch sử cho thấy, các dòng thiên di lớn đến Nhật Bản đã kéo dài
đến tận thời Kofun và vào khoảng thế kỷ VIII thí sự thống nhất về ngôn ngữ và chủng
tộc đã hoàn thành [2]
Điều đó khẳng định rằng, những thành tố văn hoá của các dân tộc phương Nam đã
có một ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần tạo dựng nên nền văn hoá Nhật Bản giàu bản sắc từ thời cổ trung đại
1.1.2 Những mối liên hệ thời cận thế
Thời kỳ Bắc thuộc là thời kỳ mà mối liên hệ văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản đến nay còn ìt được biết đến Điều này cũng dễ hiểu, ví đồng thời với sự đô hộ của phong kiến phương Bắc tại Việt Nam thí đây cũng là thời kỳ mà Nhật Bản chịu những ảnh hưởng Hán hoá sâu sắc nhất Cái bóng quá lớn của Trung Hoa và Ấn Độ đã khiến cho mối liên hệ này dường như mờ nhạt đi Tuy nhiên, sử sách cũng đã ghi lại rằng: Giữa thế kỷ VIII, các nhà sư từ vùng Lâm Ấp (nay thuộc tỉnh Quảng Bính đến Quảng Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay) cũng đã sang Nhật Bản truyền đạo, biểu diễn
âm nhạc tôn giáo… [19]
Trong những buổi đầu bính minh của chế độ phong kiến Việt Nam, nhà Lý đã thực hiện nhiều chình sách kinh tế tìch cực và một chủ trương đối ngoại khá rộng mở với các nước trong khu vực và với Nhật Bản nói riêng Ví vậy, nhiều thuyền buôn nước
Trang 13ngoài đã thường xuyên đến cảng của Đại Việt để giao thương Ngoài thương thuyền Trung Quốc, chắc chắn đã có nhiều thuyền Đông Nam Á và khoảng từ cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, nhiều khả năng, thuyền buôn của vương quốc Ryukyu, một số bộ phận của lãnh thổ Nhật Bản ngày nay, cũng đến trao đổi hàng hoá tại Vân Đồn và một số thương cảng khác của Việt Nam
Thực tế cho thấy sự giao lưu kinh tế và văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản là xuyên suốt trong lịch sử nhưng đặc biệt hưng thịnh vào thế kỷ XV-XVII
Trong hành trính mậu dịch Đông Á, khu vực Đông Nam Á là nơi chuyển tiếp quan trọng trong nền thương mại hàng hải giữa Trung Hoa và vùng Tây Á Từ thế kỷ thứ III và IV, con đường thương mại hàng hải quốc tế nối liền Trung Hoa và thế giới
Ấn độ, Tây Á chạy từ các hải cảng ở vịnh Ba Tư và Hồng Hải đến bờ biển Ấn Độ, tới Sri Lanka, vịnh Bengal và bán đảo Mã Lai Hàng hóa sau đó được trao đổi ở một số địa điểm dọc theo eo đất Kra và chuyên chở qua bờ biển phìa đông của bán đảo Mã Lai Hàng hóa Tây Á từ đó tiếp tục cuộc hành trính đến Trung Hoa qua vịnh Thái Lan và bờ biển Phù Nam trên những thuyền Mã Lai Phù Nam là một trạm dừng chân quan trọng trên đường đến Nam Trung Hoa và là một nơi buôn bán sầm uất phát đạt, quy tụ nhiều thương gia quốc tế Vào khoảng thế kỷ thứ XV, có một sự đột biến quan trọng là sự chuyển hàng qua bán đảo Mã Lai lần lần được bãi bỏ, thay vào đó là con đường qua eo biển Malacca tới biển Java rồi thẳng lên Trung Quốc Chặng dừng chân cho các thuyền buôn là vùng Đông Nam đảo Sumatra và từ đó phát triển ra đế chế Srivijaya hùng mạnh, phát đạt nhờ sự buôn bán với Trung Hoa đời Đường Đến đầu thế kỷ 11, Srivijaya yếu dần ví sự cạnh tranh của các vương quốc mới ở đất liền như Angkor và Pagan, hai nền văn minh rực rỡ trong giai đoạn này
Trải qua thời gian, đến đầu thế kỷ XVII, bên cạnh các thương nhân Trung Hoa, thương nhân Nhật Bản trên các con thuyền châu ấn cũng đã đến Thăng Long - Kẻ Chợ Sau khi lệnh tỏa quốc, một số kiều dân Nhật Bản đã ở lại làm nghề môi giới, phiên dịch, hoa tiêu, thợ thủ công và diễn viên ca múa Nổi tiếng nhất là người phụ nữ tên là Ouru San có nhiều ảnh hưởng qua các hoạt động trung gian giới thiệu các nhân vật người nước ngoài với triều đính
Sau này, vào thế kỷ XV - XVII khi cuộc chiến tranh giành quyền lực và đất đai giữa các lãnh chúa diễn ra căng thẳng và quyết liệt nhưng kinh tế Nhật Bản lại có những chuyển biến rõ rệt Khởi đầu là vai trò của Ryukyu với tư cách là một bộ phận đại diện của lãnh thổ Nhật Bản ngày nay, đã mở rộng quan hệ ngoại thương đến các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Theo lịch sử Trung Quốc thời Minh ghi lại,
Trang 14do phải cùng chịu sự thần thuộc với Trung Quốc và Nhật Bản Ryukyu đã cử các đoàn thuyền tới hai nước này để truyền cống hàng năm và đồng thời cũng cử tới “An Nam”
89 thuyền (tình tới cuối thế kỷ XV) để thu mua tơ, vải thô, lụa đamát, lô hội, gỗ trầm hương, da cá mập, đường phổi, mật ong, tiêu, vàng, song mây…[17]
Cũng từ cuối thế kỷ XVII, do mối quan hệ buôn bán với Đông Nam Á ngày càng phát triển rộng mở nên nhiều cộng đồng người Nhật sống định cư ở nước bản địa và lập nên các khu phố Nhật, cảng Nhật Các tài liệu ghi chép về quan hệ thương mại Nhật Bản đã cho thấy, trong khoảng 30 năm (từ năm 1604 ~ 1634) Mạc phủ đã cấp tổng cộng 331 giấy phép (Châu ấn thuyền) cho thuyền buôn đi đến các nước Đông Nam Á
Số thuyền buôn đến các cảng thuộc lãnh thổ Việt Nam là khoảng 130, chiếm 36,61% Thuyền đến Đàng ngoài là 51 chiếc trong đó đến An Nam (nay thuộc Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) là 14 chiếc, Tonkin (Bắc Bộ) là 37 chiếc, chiếm 39,23%; thuyền Nhật đến Đàng trong (Hội An) là 79 chiếc, chiếm 60,76% trong tổng số thuyền đã đến Việt Nam Hàng hoá thuyền buôn Nhật thu mua gồm: Hàng đem đến bán: đồng, lưu huỳnh, gươm giáo, áo giáp, sơn…[1]
Hiện nay ở Nhật còn lưu giữ một tài liệu lịch sử hết sức quý giá về quan hệ quốc
tế của Nhật Bản thời Edo tên là Ngoại phiên thông thư (外蕃通書 Gaiban Tsusho)
Trong phần An Nam quốc thư có nội dung 56 bức thư của chúa Trịnh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn (Đàng Trong) gửi cho Mạc phủ Edo cùng với thư trả lời Có thể thấy rõ qua nội dung những bức thư và những nguồn sử liệu khác sự coi trọng rõ rệt mối quan
hệ với Nhật Bản, sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho thuyền buôn nước này đến giao thương của chình quyền phong kiến Việt Nam.[10]
Về phần mính, Mạc phủ cũng thể hiện thiện chì bằng việc gửi thư thông báo về
chế độ Châu ấn thuyền, gửi tặng vũ khì và sản vật cho vua chúa Đàng Trong và Đàng
Ngoài Mối quan hệ càng được thắt chặt hơn bởi những chình sách đối ngoại “kết thân”
do chúa Nguyễn chủ động, như việc năm 1619, Nguyễn Phúc Nguyên gả con cho Araki Soutarou, một thương nhân ở Nagasaki Sự giao hảo đặc biệt của chình quyền hai xứ - thông qua các thương nhân đã dẫn đến nhiều hiệp nghị quan trọng bên cạnh mục đìch phát triển kinh tế Chúa Nguyễn cũng cho phép thương nhân Nhật chọn địa điểm làm nơi cư trú buôn bán Vào giữa thế kỷ XVII, ở Hội An, khu phố dành cho người Nhật có chừng 60 gia đính sinh sống Khu phố Nhật có luật lệ, phong tục riêng có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng Ngoài giao lưu về kinh tế đương nhiên còn có sự giao lưu tự nhiên về văn hoá, phong tục tập quán Tác giả Greets đã viết những mô tả như sau về Hội An, “Có những làng có nhiều người gốc Nhật sinh sống, họ cho biết tổ tiên
Trang 15của họ từ Nhật đến nhưng bây giờ họ không còn nói tiếng Nhật nữa Những làng này chuyên sản xuất ra loại gốm sứ hoa lam trông rất giống gốm sứ Hizen sản xuất tại Nhật Bản”[1] Hiện nay tại Bảo tàng quốc gia Nhật Bản vẫn còn lưu giữ nhiều đồ gốm quý được sản xuất tại Việt Nam gọi là “gốm Cauchi” (Giao Chỉ) hay “gốm An Nam” Đồ gốm Nhật Bản mang phong cách “Cauchi” rất được ưa chuộng trong nghi lễ trà đạo của Nhật Bản Loại vải bông dệt bằng phương pháp thủ công truyền thống đang được khôi
phục ở Matsuzakada (tỉnh Mie) gọi là Liễu điều bồ tương truyền cũng có nguồn gốc từ
Việt Nam thế kỷ XVII Đặc biệt trong những nét đẹp văn hoá khiến Hội An được phong tặng là di sản văn hoá thế giới chình là nét đẹp của Chùa Cầu - công trính được các kiến trúc sư Nhật Bản xây dựng vào thế kỷ XVI.[4]
Bước sang thế kỷ XVIII - XIX, do chình sách đóng cửa của Mạc phủ và chình sách bế quan toả cảng của triều đính nhà Nguyễn, quan hệ Việt - Nhật có phần bị gián đoạn nhưng những mối liện hệ về kinh tế, văn hoá vẫn tiếp tục được duy trí Đó chình
là cơ sở xác lập truyền thống hữu nghị giữa hai nước để tạo nên nền tảng thiết yếu cho
sự phát triển quan hệ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau trong thời kỳ cận - hiện đại
Tại đô thị cổ Hội An (Quảng Nam), 3 ngôi mộ cổ của các thương gia Nhật Bản niên đại hơn 400 năm hiện còn nguyên vẹn là một di sản minh chứng cho quá trính giao thương, buôn bán và giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa người Việt và người Nhật vào một thời kỳ sầm uất, phồn thịnh của thương cảng Hội An Những di tìch này là bằng chứng về mối quan hệ tốt đẹp giữa thương nhân Nhật với cư dân Hội An vào giai đoạn thương cảng Hội An phát triển sầm uất đầu thế kỷ XVII.[49]
Qua công tác khảo cổ học, người ta tím thấy nhiều mảnh vỡ của các lọ cắm hóa, bính đựng rượu, chân đèn là gốm sứ Hizen xuất đi từ miền Arita - Nhật Bản Ngược lại, trong danh mục gốm sứ Việt Nam tím thấy ở Nhật Bản có một vài loại mang dáng dấp gốm Thanh Hà - Hội An Một số lượng lớn tiền đồng Nhật Bản thời Khoan Vĩnh - thế kỷ XVII cũng được tím thấy ở Hội An Điều này chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ, trước hết về quan hệ mậu dịch, dẫn đến giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản - Việt Nam.Các nhà khảo cổ Nhật Bản còn cho biết, sau những chuyến hải trính, tàu buôn Nhật Bản còn tím thấy những mẫu vật đặc trưng miền Trung Việt Nam là những đồ sành trong một số di tìch khảo cổ tại Nhật Bản [26]
Khá thú vị là trong kho tàng nghệ thuật của Nhật Bản có một bức tranh cuộn tại
chùa Jyomyo có tên là Giao Chỉ Quốc mậu dịch hải đồ của Mạc Phủ tả cảnh thuyền
buôn châu ấn của Nhật cập cảng Hội An thế kỷ XVII Người ta còn thấy cảnh thuyền
có khá nhiều mái chèo, thuyền buồm no gió chở những kiện hàng to lớn, lầu cao dựng
Trang 16bên bờ biển để quan sát cả một vùng biển mênh mông, cảnh người nông phu mải cày bằng trâu, người cưỡi voi
Hình 1.1: Một phần bức tranh Giao chỉ độ hải đồ
(Nguồn: [49,tr.7])
Nghệ nhân vẽ tranh còn đặc tả một số người mặc áo dài, đội nón lá, bên cạnh một
số dù lọng được cắm ven bờ biển, chắc là người dân Hội An thời đó Bức tranh hiếm hoi và độc đáo này còn vẽ một con trâu đang đằm mính dưới một dòng sông nhỏ, trên sừng trâu còn có một con chim đang đậu khá hữu tính Dường như khung cảnh của một miền biển xứ Quảng thời đó được mô tả khá sinh động từ con người đến cảnh vật Đó thực sự còn là tài liệu lịch sử quý giá để tím hiểu nước ta vào thế kỷ XVII
Như vậy, mặc dù Việt Nam và Nhật Bản nằm ở hai khu vực văn hoá khác nhau Nhật Bản là một nước Đông Bắc Á còn Việt Nam thuộc Đông Nam Á Tuy nhiên việc chia tách các khu vực văn hoá thực chất chỉ là biện pháp của các nhà khoa học trong quá trính nghiên cứu nhằm phân lập và tím ra những đặc điểm chung nổi bật của một thực thể văn hoá nào đó chứ hoàn toàn không có nghĩa chia cắt chúng một cách tuyệt đối Bởi cùng chung những hằng số tự nhiên và chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoàn cảnh lịch sử thí mối liên hệ văn hoá là hệ quả tất yếu giữa hai dân tộc Thực tế các kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giao lưu văn hoá giữa Nhật Bản và các nước trong khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam luôn là dòng chảy đa chiều
1.2 Bối cảnh chung về kinh tế xã hội hai nước Việt Nam - Nhật Bản
Thế kỷ XVII là một trong những thế kỷ bước ngoặt trong mối quan hệ lịch sử Đông - Tây Ở thời kỳ này, kinh tế các nước Đông Á vẫn phát triển dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp kết hợp thủ công nghiệp và thương nghiệp nhưng đã đạt đến một nền kinh tế hàng hóa với trính độ nhất định Sự phát triển của các đô thị với quy mô lớn, vai trò của các thương cảng quốc tế, sự lớn mạnh của tầng lớp thị dân và sự xuất hiện
Trang 17thường xuyên của giới thương nhân nước ngoài cùng với sự phát triển của các loại mặt hàng mang tình thương phẩm cao đã làm nên diện mạo của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ của các nước nói riêng và khu vực Đông Á nói chung Ví vậy mặc dù vẫn nằm trong phạm trù của chế độ phong kiến nhưng nhiều nước trong khu vực đã có những bước tiến phát triển của giai đoạn tiền tư bản chủ nghĩa
Trong khi đó, ở phương Tây, thế kỷ này cũng đang là đỉnh cao phát triển và thắng lợi của chủ nghĩa tư bản Đây cũng là thời kỳ của những phát kiến hàng hải ghi dấu bước chân của người phương Tây trên khắp thế giới, cùng với đó là sự bành trướng
của chủ nghĩa tư bản, mở ra Thời đại thương mại (thời đại hính thành và phát triển của
hệ thống thương mại thế giới)
Mặt khác chình sách hải cấm của Trung Quốc qua hai triều đại Minh, Thanh cũng
đã ảnh hưởng trực tiếp tới diện mạo của quan hệ giao thương tại Đông Á Nó đưa lại hệ quả tiêu cực cho sự tham gia tự do của nền kinh tế Trung Hoa vào hoạt động mậu dịch quốc tế nhưng mặt khác lại kìch thìch nền mậu dịch của các nước khác trong khu vực phát triển, tạo điều kiện để các nước mở rộng quan hệ buôn bán mà không bị hàng Trung Quốc cạnh tranh Từ đó, hàng hóa bản địa được mở rộng phạm vi và quy mô phân phối, trở thành hàng hóa quốc tế [31]
Trước những thay đổi mang tình cách mạng của thời đại vừa mang lại cơ hội cũng như thách thức, nhiều nước Đông Á đã có những diễn biến khác nhau trong đời sống kinh tế và xã hội nhằm thìch ứng hay đối phó với thời cuộc Trong bối cảnh chung của thế kỷ XVII, Việt Nam và Nhật Bản cũng không nằm ngoài những diễn biến đó
1.2.1 Bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVII
Thế kỷ XVII cũng là một giai đoạn có nhiều biến động với nền kinh tế xã hội của Việt Nam Từ thế kỷ XV, sau khởi nghĩa Lam Sơn, Việt Nam đã là một nước độc lập
và phát triển cường thịnh ở Đông Nam Á Kinh tế phát triển, đặc biệt là ngành thủ công nghiệp như gốm sứ đã xuất hiện nhiều trung tâm sản xuất nổi tiếng như Bát Tràng, Thổ
Hà, Phù Lãng Các thương cảng bắt đầu được hính thành và phát triển như Vân Đồn, Vạn Ninh, Hội Triều, Càn Hải, Hội Thống… Đến thế kỷ XVI, triều Mạc mặc dù không
ổn định và thống nhất về hành chình nhưng lại có chình sách kinh tế cởi mở nên thương nghiệp vẫn có điều kiện phát triển Sang đến thế kỷ XVII, sự phân chia chình quyền Đàng Trong - Đàng Ngoài gây tính trạng nội chiến nhưng cũng chình trong nhu cầu cạnh tranh, gây dựng lực lượng, chình quyền lại phải chú tâm chăm lo phát triển kinh tế
Trang 18và tranh thủ thúc đẩy ngoại thương để tìch lũy tư bản, mua sắm vũ khì, củng cố sức mạnh quân sự và sự giúp đỡ của nước ngoài
Vào thời Mạc, tính hính kinh tế xã hội Đại Việt có nhiều biến chuyển Vào thời kỳ này, hầu như phần lớn các quan hệ kinh tế thời Lê sơ đều bị phá vỡ, tạo nên một xu thế phát triển tự do trong các ngành nghề sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp… Với chình sách kinh tế rộng mở, nhà Mạc không chủ trương “trọng nông ức thương” hay “bế quan tỏa cảng”, nhờ đó, cho ngoại thương nước ta trong thế kỷ XVI
có những chuyển biến rất tìch cực [1]
Có nhiều giả thuyết về sự hưng thịnh của ngoại thương thế kỷ này, có thể do chình sách thả nổi về kinh tế của nhà Mạc, do sự quản lý lỏng lẻo, sự chú trọng chưa đầy đủ trong các chình sách kinh tế của nhà nước hay do sự thay đổi tư tưởng trong quan niệm vượt ra khỏi khuôn khổ Nho giáo Tuy nhiên có một thực tế lịch sử cho thấy rằng: trong giai đoạn giằng co về mặt quyền lực giữa hai thế lực Lê - Mạc, cả hai tập đoàn phong kiến này đều tím cách củng cố sức mạnh quân sự, tổ chức phòng thủ và tấn công nhau mỗi khi có điều kiện Bên cạnh đó, bối cảnh chung của thế giới và khu vực cũng có nhiều thuận lợi để nước ta tham gia vào các hoạt động mậu dịch hàng hải khu vực Đông Á Thế kỷ XVI - XVII là thời kỳ châu Âu bước vào các cuộc phát kiến và cạnh tranh quyết liệt về hàng hải Phương Đông với nguồn tài nguyên giàu có vừa trở thành nơi cung cấp nguồn sản vật dồi dào, vừa là thị trường lý tưởng tiêu thụ thương phẩm Nhín sang nước láng giềng Trung Quốc, ta thấy ngày từ thời Minh (1368 - 1644) Minh Thành Tổ đã nhiều lần phái Trịnh Hòa đưa các đoàn thuyền xuống vùng biển Đông Nam Á, Tây Á thậm chì đi rất xa tới lục địa châu Phi [31] Điều đó cho thấy đây
là giai đoạn hết sức thuận lời để nước ta khi đó có cơ hội nhín ra bên ngoài và hướng về phìa biển
Bằng việc mở rộng thông thương với nước ngoài qua con đường mậu dịch mà nền thủ công nghiệp của nước ta cũng ví đó mà phát triển Việc nhập khẩu hàng hóa cũng là cách nhập khẩu các kỹ nghệ mới và tranh thủ học hỏi bì quyết nghề nghiệp Đặc biệt trong nghề thủ công gốm sứ, nghề dệt… Cùng với các nền tảng kỹ thuật và mỹ thuật sẵn có ở bản địa, chúng ta cũng tạo dựng được nền sản xuất với những đặc trưng riêng
và ìt nhiều đã tạo dựng được chỗ đứng Chình sách cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài của triều Minh trong suốt gần 2 thế kỷ đã tạo thêm cơ hội thuận lợi để gốm sứ Việt Nam có mặt ở Đông Nam Á và phương Tây Ngay từ đầu thế kỷ XV, XVI, nghề gốm nước ta đã phát triển mạnh mẽ với vai trò của các trung tâm như Chu Đậu, Hợp Lễ, Bát Tràng… ngoài việc cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước, đồ cống phẩm,
Trang 19còn có một số lượng lớn mặt hàng cao cấp dùng để xuất khẩu Chình từ đây, dòng gốm thương mại đã có điều kiện phát triển mạnh
Tuy nhiên, Đại Việt khi đó cũng chỉ mới “nhín về biển” còn việc ra biển lớn thí còn rất nhiều hạn chế Tiến bộ về cách nhín nhận thương mại biển nhưng nhà Mạc cũng chỉ mới tìch cực đón các thương thuyền nước ngoài tới làm ăn buôn bán còn việc cử thương thuyền Đại Việt đi ra nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế, có chăng chỉ là thuyền buôn ven bờ từ vịnh biển này sang vịnh biển khác
Ngoài ra trong thời kỳ này, cả Đàng Trong và Đàng Ngoài đều có những biến chuyển to lớn về chế độ ruộng đất Ở Đàng Ngoài, chình quyền trung ương suy yếu và nhất là do hoàn cảnh chiến tranh, luật quân điền dần mất hiệu lực, ruộng đất tư hữu phát triển tương đối tự do đã làm thu hẹp đáng kể ruộng đất công làng xã Đến thế kỷ XVII không ìt những địa chủ giàu có sở hữu hàng trăm, hàng nghín mẫu ruộng, thậm chì còn hính thành hàng loạt trang trại tư nhân lớn khiến chình quyền hết sức lo ngại
Sở hữu tư nhân về ruộng đất còn đặc biệt phát triển ở Đàng Trong do chình sách
mở rộng công cuộc khai khẩn đất hoang của chúa Nguyễn Triều Nguyễn không chỉ khuyến khìch mọi người đi khai phá và còn cho phép chiếm làm ruộng đất tư, điều đó còn tạo nên sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất ở quy mô lớn, tạo điều kiện để có quỹ đất phát triển nền sản xuất lớn tập trung phục vụ cho kinh tế hàng hóa Ví vậy từ cuối thế kỷ XVI, Đàng Trong đã có những bước tiến to lớn và ở một số mặt còn vượt
do phường thủ công trong dân đảm nhiệm
Trong kỷ nguyên cát cứ và cạnh tranh đó, nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn với sự ra đời của nhiều làng nghề thủ công, sự mở rộng của mạng lưới chợ và phồn vinh của nhiều đô thị như Thăng Long - Kẻ Chợ, Phố Hiến,
Trang 20Thanh Hà, Hội An, Vũng Lấm, Gia Định, Đồng Nai, Mỹ Tho, Hà Tiên… Thủ công nghiệp và hoạt động thương mại trong nước càng trở nên sôi động khi Việt Nam bị cuốn vào những hoạt động thương mại quốc tế đang hết sức nhộn nhịp trên biển Đông thời bấy giờ Nhiều thương thuyền trung gian (Hà Lan, Trung Quốc, Đông Nam Á…)
đã đến Việt Nam để buôn bán, thiết lập thương điếm và duy trí mối liên hệ thương mại giữa Việt Nam với khu vực và thế giới
Từ sự phát triển khá mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa đó, trong thế kỷ XVII Việt Nam cũng trải qua những biến đổi sâu sắc về mặt xã hội Những quan niệm chuẩn mực của Nho giáo không còn thức thời nữa, trong đó quan niệm về vị thế của tầng lớp công, thương trong tứ dân đã có nhiều thay đổi Các đại thương nhân được chình quyền sủng ái, nhận được đặc ân và nhín nhận với vị thế cao trong xã hội Đối với thương nhân nước ngoài, chình quyền cũng áp dụng chình sách cởi mở hơn rất nhiều, đặc biệt
là các thương nhân Nhật Bản
Bối cảnh kinh tế xã hội đó đã đưa Việt Nam đứng trước cơ hội gia nhập hệ thống thương mại Đông Á, mở rộng quan hệ thông thương với thế giới
1.2.2 Bối cảnh kinh tế xã hội Nhật Bản thế kỷ XVII
Thế kỷ XVII cũng là một thế kỷ phát triển hết sức đặc biệt của lịch sử Nhật Bản Đây là thế kỷ mở đầu cho sự thống trị của Mạc phủ cũng là giai đoạn cuối cùng và cao nhất của chế độ phong kiến Nhật Bản, thời kỳ của những chuyển mính mạnh mẽ của Nhật Bản trên mọi phương diện, đặc biệt là kinh tế và xã hội
Dưới một thể chế chình trị quân sự mang tình chất quân phiệt, Nhật Bản thời kỳ này tồn tại cơ chế vận động song song: Mạc phủ đứng đầu là tướng quân ở Edo thay mặt Thiên Hoàng cai trị đất nước và các lãnh chúa cai trị khoảng 265 lãnh địa Các lãnh địa này đối với chình quyền và các phiên lân cận vừa là mối quan hệ phụ thuộc vừa là quan hệ đối trọng Tùy theo việc bị phân loại dựa vào mức độ thân cận với chình quyền trung ương mà các lãnh địa sẽ nhận được những chình sách đối xử khác nhau về việc ban cấp lãnh địa, tài sản, hính thức nghi lễ nghĩa vụ đóng góp… Các lãnh địa, đặc biệt
là các các phiên ở phìa Tây (外様大名 tozama daimyo) thực chất đã buộc phải phát
triển trong một cơ chế thống nhất từ trung ương nhưng vẫn phải tranh thủ củng cố kinh
tế, quân sự của mính trong tương quan với Mạc phủ và các lãnh địa thân tìn với Mạc phủ
Chế độ Mạc phiên thể chế (幕藩体制 bakuhan taisei) được Mạc phủ ngày càng siết chặt thời kỳ này đã để lại những hệ quả sâu sắc về kinh tế và xã hội Nhật Bản Việc
Trang 21luân phiên trính diện của các lãnh chúa khắp miền đất nước về Edo đã khiến phần lớn của cải của họ trải trên con đường duyên hải phìa Đông (東海道 - tokkaido) và dinh thự
thứ hai ở Edo đã khiến Edo và nhiều thành thị vốn là trạm nghỉ khác trở thành những địa điểm tập trung dân cư với số lượng lớn [79] Điều đó đã là phát sinh ra thứ văn hóa thị dân rất sớm trong lòng xã hội Nhật Bản, là tiền đề cho sự đồng nhất về văn hóa, tri thức và tư tưởng ở Nhật Bản từ giai đoạn này và về sau
Văn hóa thị dân phát triển mạnh mẽ cũng khiến cho tầng lớp thị dân chủ yếu là thương nhân và thợ thủ công ngày càng có tiếng nói ảnh hưởng trong xã hội Đẳng cấp
samurai ngày càng mất đi vai trò cũng như vị thế trong xã hội
Để duy trí sự hòa bính và ổn định của đất nước, năm 1635, chình quyền Edo đã đã tiến hành chình sách tỏa quốc Chỉ có một số tàu buôn của Hà Lan, Trung Quốc, Triều Tiên và Đông Nam Á được phép buôn bán với Nhật Bản, các giao dịch khác với bên ngoài bị hạn chế Chình sách đó thực chất không hoàn toàn tiêu cực mà là một biện pháp nhằm bảo vệ chủ quyền dân tộc, duy trí sự thống trị của Mạc phủ, khuyến khìch phát triển một nền kinh tế hướng nội, tránh những thâm hụt cán cân thanh toán nặng nề Việc phát triển một nền kinh tế hướng nội còn xuất phát từ nhu cầu bức thiết xây
dựng cơ sở kinh tế lãnh địa vững mạnh để chu cấp cho chế độ sankin kotai và duy trí
thế lực đã khiến Nhật Bản có những bước chuyển biến đáng kể về kinh tế nông nghiệp Ngay từ thế kỷ này đã xuất hiện những dấu hiệu của nền sản xuất nông nghiệp thâm canh, chuyên canh và quy mô lớn Kinh tế nông nghiệp đã vượt ra khỏi việc tự cung, tự cấp để tham gia vào thị trường hàng hóa Một bộ phận nông dân trở nên giàu có có khuynh hướng tách khỏi nông nghiệp đơn thuần, chuyển sang các ngành phi nông nghiệp như thủ công nghiệp hoặc thương nghiệp Bộ phận khác không có ruộng đất phải di cư về thành thị để tím kiếm việc làm cũng bổ sung vào thành phần thị dân tại đó
Sự bùng nổ dân số tại các thành thị đã khiến sức ép dân số lên sản xuất nông nghiệp ngày càng lớn buộc phải mở rộng phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp, thương
nghiệp Mặt khác, trong thời kỳ hòa bính, đẳng cấp samurai ở thành thị được biết thành
các công chức hành chình được chình quyền giao cho quản lý, phụ trách các ngành sản xuất, buôn bán… Nhờ có được kinh nghiệm và lợi nhuận, lớp người này dần trở thành những thương nhân chuyên nghiệp có lợi ìch gắn với chình quyền Edo Bộ phận này được chình quyền nâng đỡ, bảo trợ về chình trị… Không chỉ hạn chế trong lĩnh vực đối nội mà còn được ưu ái trong quan hệ bang giao và buôn bán quốc tế Chình ví vậy các thương thuyền Nhật Bản đã có một thời kỳ hoạt động nhộn nhịp tại các thương cảng châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng
Trang 22Những biến chuyển kinh tế nêu trên đã gây nên những chấn động lớn về mặt xã hội Quan niệm về đẳng cấp sĩ, nơng, cơng, thương khơng cịn được coi trọng do những khuynh hướng phân hĩa tự nhiên Vai trị của đồng tiền và những lợi ìch kinh tế chi phối tồn bộ đời sống xã hội, gieo trong lịng nĩ những mầm mống của một xã hội tiền
tư bản chủ nghĩa
Như vậy, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã phát triển trong bối cảnh lịch sử khu vực và quốc tế như vậy, trong đĩ cĩ quan hệ giao thương gốm sứ, bắt đầu mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XVI và đạt đến phồn thịnh trong thế kỷ XVII, nhất là nửa đầu thế kỷ XVII Trong quan hệ thương mại đĩ khơng thể khơng kể đến vai trị của Hoa thương, thương nhân một số nước trong khu vực và các tập đồn buơn bán phương Tây trong quá trính phân phối
1.3 Khái quát về hoạt động thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVII
Mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được bắt nguồn từ khá sớm Tuy nhiên một cách chình thức về sự cĩ mặt của thương thuyền Nhật Bản tại các vùng biển của Việt Nam được ghi lại trong sử sách là từ sự kiện năm 1578 thuyền nhà buơn Trung Quốc chở đồ đồng, sắt, đồ gốm đến Quảng Nam thí bị hải tặc Nhật bắt và
kéo về Nhật Bản.Tiếp đĩ, trong Đại Nam thực lục tiền biên cĩ ghi lại sự kiện năm 1585,
Shirahama Kenki kéo theo 5 chiếc thuyền lớn đến cướp bĩc tại cửa Việt bị thủy quân của chúa Nguyễn tấn cơng tiêu diệt Sau này, tới năm 1601, trong bức thư gửi Tokugawa Ieyasu, chúa Nguyễn Hồng đã cĩ ý thanh minh và bày tỏ mong muốn tạo dựng quan hệ thơng thương giữa hai nước Thực tế theo ghi chép của Noël Peri, năm
1583 đã cĩ một tàu Nhật Bản đến Đà Nẵng (Torone) Đến năm 1592 cĩ hai thuyền
buơn của Suetsugu và Funamoto đã đến Đàng Trong Dưới thời Toyotomi Hideyoshi,
từ năm 1592 đến năm 1598, chỉ riêng cảng Satsuma đã cĩ 3 thuyền được cấp shuinjo
đến “Giao Chỉ” Mặc dù đây là những thống kê chưa đầy đủ nhưng đã phản ảnh sự cĩ mặt của khơng ìt thương thuyền Nhật Bản đến Việt Nam trước thế kỷ XVII [17]
Quan hệ giao thương giữa Nhật Bản và vương quốc Ryukyu với Việt Nam đã phát triển từ những thế kỷ XV - XVI Ryukyu với vị trì thuận lợi về địa lý, trong gần hai thế
kỷ trên đã giữ vai trị quan trọng trong việc trung chuyển hàng hĩa giữa khu vực Đơng Bắc Á và Đơng Nam Á nĩi chung, giữa Nhật Bản và Đại Việt thời bấy giờ nĩi riêng Tàu buơn của nước này đã đến các cảng Việt Nam để mua tơ sống, lụa điều, gốm sứ, hương liệu… Cịn tàu buơn Nhật Bản lại cập cảng Naha, trung tâm thương mại quốc tế của Ryukyu để mua về những sản vật của Đơng Nam Á Chỉ đến sau này trước sự cạnh
Trang 23tranh và uy hiếp bằng vũ lực của các đoàn thuyền buôn phương Tây, vai trò của Ryukyu mới bị suy giảm Giai đoạn sau đó khi có nhiều biến động về chình trị trong nước, lợi dụng tính trạng chình quyền trung ương không thể kiểm soát được an ninh, cướp biển Nhật Bản cũng đã tranh thủ mở rộng phạm vi hoạt động xuống khu vực Đông Nam Á Tới thế kỷ XVII, vào thời đại Châu ấn thuyền, để phá vỡ thế độc quyền của thương nhân phương Tây và Trung Quốc trên thị trường, Nhật Bản đã khuyến khìch nhiều đoàn thuyền buôn đến Việt Nam để thiết lập quan hệ thương mại Thậm chì,
do quan hệ buôn bán rộng mở, cộng đồng người Nhật đã lập nên phố Nhật Bản để sống định cư và thuận lợi cho công việc Trong khoảng 30 năm (1604 - 1634), Mạc phủ cấp tổng cộng 355 giấy phép cho thuyền buôn Nhật Bản đã ra nước ngoài, trong đó có 331
là những địa điểm thuộc Đông Nam Á Số thuyền buôn đến Việt Nam là 130 (36,61%) Thuyền đến Đàng Ngoài là 51 chiếc, trong đó 14 chiếc đến An Nam (Hưng Nguyên, Nghệ An), 37 chiếc đến Tonkin; đến Đàng Trong (Hội An) là 79 chiếc [44]
Trong Ngoại phiên thông thư có viết về quan hệ quốc tế của Nhật Bản thời Edo,
có ghi chép lại 56 bức thư của Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong gửi cho Mạc phủ từ năm 1601 đến năm 1694 Điều ấy cho thấy sự coi trọng của chình quyền phong kiến với mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản “thông qua thương nghiệp để nối tính hữu nghị giữa hai nước”[9] Vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, trong xu hướng mở rộng quan hệ thương mại quốc tế, nhiều thương gia Nhật Bản
đã đến Việt Nam để buôn bán Chủ yếu tập trung ở Phố Hiến (Đàng Ngoài) và Hội An (Đàng Trong) Thậm chì, có thể trong thời gian đó, một số thương thuyền từ Việt Nam cũng đã đến Nhật Bản và trực tiếp mua bán, trao đổi hàng hóa
Có thể nói dù bằng hính thức chình ngạch hay tiểu ngạch, Nhật Bản đã duy trí mối quan hệ giao thương với Việt Nam một cách thường xuyên và liên tục Một trong
số những cứ liệu quan trọng minh chứng cho quan hệ Việt Nam - Nhật Bản vào thế kỷ XVII là thông qua những bức văn thư ngoại giao chình thức giữa hai nước
Qua xem xét những bức thư ngoại giao giữa Chúa Nguyễn và Mạc phủ đều thấy
rõ một điểm quan trọng là cả hai bên đều rất quan tâm đến việc xây dựng mối quan hệ thương mại giữa hai bên Tuy mở đầu là xung đột đáng tiếc do Shirahama Akitaka bị nghi ngờ là hải tặc ở Cửa Việt năm 1600 và bị quân đội Chúa Nguyễn tấn công nhưng sau khi Chúa Nguyễn viết thư hòa giải với lời lẽ rất khôn khéo, trọng thị và Mạc phủ Tokugawa Ieyasu cũng sáng suốt dẹp tan hiềm khìch để bắt tay cùng Chúa Nguyễn mở cửa cho thương thuyền Nhật Bản đến vùng Thuận Quảng buôn bán Chình sự kiện này
đã tạo điều kiện cho Châu ấn thuyền từ Nhật Bản đến Đàng Trong sau đó Chình các
Trang 24văn thư ngoại giao này đã mở đường cho thời kỳ phát triển cực thịnh trong quan hệ ngoại thương giữa hai bên những năm đầu thế kỷ XVII
Văn thư ngoại giao vốn được xem là có niên đại sớm nhất vào năm 1601 do Đoan quốc công Nguyễn Hoàng gửi tướng quân Tokugawa Ieyasu Tuy nhiên mới đây, Bảo tàng quốc gia Kyushu lại mới công bố một bức thư có tựa đề An nam phó đô đường phúc nghĩa hầu Nguyễn gửi tới Nhật Bản, ghi nhận “dấu tìch” bang giao giữa chình quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong với Nhật Bản từ năm 1591, sớm nhất so với những
tư liệu hiện có
Hình 1.2 Di cảo bức thư có tựa đề “An nam phó đô đường phúc nghĩa hầu Nguyễn”
(Nguồn: [37])
Việc giao thiệp giữa hai nước thông qua việc cho biếu quà tặng dù không nhiều về
số lượng nhưng đã phản ánh phần nào đặc điểm chủng loại hàng hóa trao đổi giữa Đàng Trong và Nhật Bản lúc bấy giờ Không khó để thấy rằng những mặt hàng được đưa thành sản vật biếu tặng luôn là những sản vật mà mỗi nước có thế mạnh và đối phương đều rất cần thiết Chúa Nguyễn lựa chọn xuất đi những sản vật như kỳ nam, trầm hương, mật ong, lụa, gỗ quý… còn Nhật Bản khi đó nổi tiếng về sản xuất và buôn bán binh khì, thuốc súng, đồ đồng… nên những món đồ này cũng được dùng làm quà tặng
Về văn thư trao đổi giữa Đàng Ngoài với phìa Nhật Bản khá đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với văn thư trao đổi giữa Đàng Trong với Nhật Bản Các văn thư trên chủ yếu thuộc giai đoạn đầu thế kỷ XVII, tức là cũng tương đương với thời kỳ thương mại phát triển giữa Đàng Trong và Nhật Bản Qua nội dung trao đổi giữa hai bên, ta cũng có thể thấy các thương phẩm trao đổi giữa Đàng Ngoài và Nhật Bản không khác biệt nhiều so với
Trang 25Đàng Trong, ngay cả những quà tặng của hai bên cho nhau cũng gần như tương tự Phìa Nhật Bản thường tặng binh khì, thuốc súng, lưu huỳnh cho Đàng Ngoài, phìa triều Lê Trịnh thí trao đổi lại bằng những sản phẩm địa phương như kỳ nam, lụa, đồ mỹ nghệ
Do tính hính nội chiến, ta cũng có thể thấy rõ sự “cạnh tranh” trong chình sách ngoại giao của hai đàng trong quan hệ với Nhật Bản Ngay từ những năm 1604 - 1605, Nguyễn Hoàng đã chủ động đề nghị phìa Nhật Bản không cho thương thuyền đến buôn bán với Thanh Hóa và Nghệ An ví đó là những nơi “có thù địch” với ông Sau đó khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra, chúa Nguyễn Phúc Nguyên lại đề nghị phìa Nhật Bản không chở
đồ đồng, lưu huỳnh, vũ khì đến Đông Kinh Ở đây ta cũng thấy rõ chình sách hai mặt của Mạc phủ: họ vừa bán vũ khì cho Đàng Trong vừa bán cho Đàng Ngoài
Tuy nhiên không dừng lại ở quan hệ buôn bán, qua các tư liệu văn thư trên ta còn thấy được mối quan hệ bang giao rất đặc biệt giữa Nhật Bản và Đàng Ngoài Vào năm
1609, chình quyền Lê - Trịnh đã từng cứu sống và nuôi dưỡng 100 thuyền nhân Nhật Bản (chủ yếu là thương nhân) khi họ gặp nạn ở cửa biển Đại Nhai (Nghệ An), sau đó cấp lương thực và thuyền đi biển cho họ trở về nước Người Nhật cũng ví nghĩa cử này
mà sau đó gần 90 năm, khi đã đóng cửa với bên ngoài, vẫn ứng xử tốt đối với những kiều dân Việt Nam bị nạn và trôi dạt đến Nhật Bản
Không chỉ thể hiện tinh thần hữu hảo, quan hệ ngoại thương giữa hai bên còn tuân
thủ rất chặt chẽ quy định nghiêm ngặt của chế độ Châu ấn thuyền Để đảm bảo tinh
thần hòa hiếu giữa hai nước, chình quyền Lê - Trịnh luôn thận trọng trao đổi thông báo với các daimyo về những thương nhân có hành động cướp bóc ngang ngược với cư dân
và thương thuyền bản xứ và Mạc phủ cũng tỏ rõ thái độ hợp tác và nghiêm trị những kiều dân phạm pháp của mính ở nước ngoài theo luật pháp sở tại Có thể thấy bên cạnh các quan hệ về mặt ngoại thương (về cơ bản mang lại nguồn lợi cho cả hai bên), quan
hệ về ngoại giao cũng được củng cố tăng cường giữa cả hai Đàng với Nhật Bản đều được phát triển trong thời kỳ này
Trang 26Hình 1.3: Mật độ thương thuyền Nhật Bản đến Việt Nam thời kỳ Châu ấn thuyền
(Nguồn: [104])
Nhiều khả năng mật độ thuyền Nhật Bản đến Việt Nam chiếm số lượng lớn do chình sách của Mạc Phủ chỉ thị cho các chủ thuyền nên tránh những nơi đã có sự thâm nhập của Phương Tây, nhằm củng cố ảnh hưởng của Nhật Bản đến các nước trong khu vực Đông Á thời bấy giờ
Những thuyền châu ấn đến giao thương với Việt Nam, ngoài việc chuyên chở hàng hóa còn có thể chở từ 100~300 người Trong đó có hoa tiêu người Trung Quốc,
Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, ngoài ra còn có số lượng các giáo sĩ và phiên dịch [10] Thực tế cũng cho thấy rằng đến giao thương tại các cảng thị Việt Nam không chỉ có các thuyền châu ấn mà còn có thuyền được cấp phép đi nước khác ghé qua và các thuyền không có giấy phép Việc quản lý quan hệ thông thương này vào thời đó đã đặt ra yêu cầu tự nhiên cho mối liên hệ cấp chình quyền giữa hai nước
Ngoài ra, quan hệ giao thương Việt - Nhật không chỉ diễn ra song phương mà đã được thực hiện thông qua vai trò trung gian của lái buôn và chủ thuyền nước thứ ba người Trung Quốc, Hà Lan… hay qua công ty Đông Ấn Các thuyền buôn này thực chất đã xuất cảng và nhập bến tại các thương cảng Việt Nam và Nhật Bản mang theo hàng hóa bản địa đi khắp các nước Đông Á
Có thể thấy quan hệ giao thương giữa hai nước thời kỳ này khá phong phú về quy mô, mức độ và cả loại hính Ở phần tiếp theo, ta sẽ tập trung xem xét quan hệ giao thương Nhật Việt ở hai khìa cạnh Thứ nhất là, hoạt động của các thương thuyền Nhật Bản đến các cảng thị của Việt Nam Thứ hai là, hoạt động thương mại của người Nhật tại Việt Nam, đặc biệt
là cuộc sống buôn bán và sinh hoạt của người Nhật ở phố Nhật Bản
Theo mô tả của Iwao Seiichi, thương thuyền Nhật Bản vào Đàng Ngoài theo cửa sông Hồng Sau khoảng nửa tháng chờ đề kiểm tra hàng hóa và tiền bạc để nhận được
Đàng Ngoài, 51
Đàng Trong, 79
Chiêm Thành, 6 Khác, 225
Trang 27giấy phép, hàng hóa được chất lên các thuyền nhỏ theo dòng vào Đông Kinh Tại đây thương nhân phải ưu tiên bán hàng cho vua quan, tiếp đó thuyền hàng được đến khu vực buôn bán quy định (Phố Hiến) để bán cho dân địa phương Thương nhân Nhật Bản thường đến buôn bán từ tháng 6 đến tháng 8 Các mặt hàng được bán thường là đồ đồng, sắt, đồ gốm, ô, gương, tiền bạc… và mua về tơ sống, lụa vàng, quế… [1]
Việc buôn bán với Đàng Trong được tiến hành qua cửa biển Đà Nẵng (Toron)
Khi đến Toron, các chủ thuyền phải cử người thông báo cho chình quyền địa phương
và trưởng khu phố Nhật Bản để họ báo lên phủ chúa Nguyễn ở Thuận Hóa Sau đó các hàng hóa này cũng được kiểm tra danh mục và số lượng và ưu tiên bán giá gốc cho phủ chúa và các đại thần Hàng hóa tiếp tục được dỡ xuống các thuyền nan nhỏ chở đến bán
Hội An (faifo) Hàng hóa giao dịch với thương nhân địa phương chủ yếu là đồ đồng, sắt,
tiền đúc, ô… hàng thu về gồm tơ sống, lụa, trầm hương, long não, đường đen, hồ tiêu, mật ong, da cá mập…Tuy nhiên, chúa Nguyễn tạo điều kiện cho người Nhật buôn bán
tự do hơn so với Đàng Ngoài như cho mở chợ tại cảng, cho phép thuyền ở lại trong vòng 4 tháng Ngoài ra ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong, mặc dù thuyền buôn Nhật Bản có tải trọng và kìch thước lớn hơn nhưng mức thuế chỉ tương đương với các thuyền châu Âu
Hoạt động của các thương nhân Nhật còn ảnh hưởng nhiều tới đời sống của nông dân các vùng lận cận Để tập trung hàng cho các thương nhân Nhật Bản, các khu vực lân cận được khuyến khìch tập trung trồng dâu nuôi tằm, thậm chì bỏ cả việc trồng lúa, hoa màu và những ngành nuôi trồng truyền thống ngành sản xuất tơ sống ở Đàng Trong chia mùa thu hoạch thành hai theo thời gian thuyền cập cảng: tơ mới thu hoạch từ tháng
4 đến tháng 8 và tơ cũ thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 12 Có thể nói sự xuất hiện của các thương nhân người Nhật đã có thời kỳ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống kinh tế của
cư dân cả Đàng Trong và Đàng Ngoài
Ở Hội An, Phố Hiến hay một số địa phương khác ngày nay vẫn có những dấu tìch của việc hính thành khu phố Nhật Bản - nơi thương nhân Nhật Bản có thể ở lại không chỉ để trọ và buôn bán mà còn xây nhà cửa, thiết lập khu vực sinh sống riêng biệt và được trao quyền tự quản Giáo sĩ Christoforo Borri (1583-1632) đến Hội An năm 1621
đã miêu tả như sau: “có hai thành phố, một phố người Tàu và một phố người Nhật Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng Người Tàu có luật lệ và phong tục của người Tàu và người Nhật cũng vậy” 3 Thậm chì, ở “Giao Chỉ”
3 Trìch theo Nguyễn Văn Kim [23]
Trang 28lúc đó Thiên chúa giáo bị cấm ngày càng gay gắt thí người Nhật ở Hội An vẫn tiếp tục
đi lễ và theo đạo như khi ở Nhật Bản Vào những năm đầu thế kỷ, ở Hội An có khoảng
60 hộ gia đính (khoảng 200 đến 300) người Nhật sinh sống.Trong quá trính giao tiếp
với người Việt, một số người Nhật đã kết hôn với người Việt Tấm bia Phổ Đa sơn linh trung Phật ở chùa Non Nước có niên đại tạo lập năm 1640 đã ghi lại tên của 10 người
Nhật cúng của cải cho chùa Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng có một người con rể tên
là Araki Sutaro và hai người con nuôi tên Hunamoto Yabeiji và Toba là thương nhân và phái viên của Tokugawa tại Đàng Trong Đứng đầu khu phố Nhật Bản là trưởng khu
Từ năm 1633 đến năm 1672 có 6 Trưởng khu người Nhật đều được chúa Nguyễn giao giữ những chức vụ quan trọng như quan cảng vụ, thuế vụ [113]
Trang 29Chương 2
SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG GỐM SỨ VIỆT NAM - NHẬT BẢN
2.1 Gốm sứ Việt Nam
2.1.1 Sơ lược về lịch sử gốm sứ Việt Nam và các dòng gốm sứ tiêu biểu
Khái quát về lịch sử gốm sứ Việt Nam
Lịch sử gốm sứ Việt Nam có thể nói đã có một lịch sử phát triển lâu dài từ nền văn hóa Hòa Bính (8000BC), Bắc Sơn (6000BC), Phùng Nguyên (2000BC) và Đông Sơn (1000BC) đã phát triển rực rỡ trong nguồn mạch thống nhất của khu vực vừa có những bước phát triển độc lập và sáng tạo Xuất phát từ cái nôi của văn hóa dân tộc, cùng với sự bền vững đặc trưng của chất liệu, gốm sứ Việt cổ đã phác họa lên cả một nền văn minh rực rỡ với kỹ thuật điêu luyện nhưng vẫn mang vẻ đẹp hồn hậu, thuần khiết, tự nhiên Trong sự hòa quyện những nét bản sắc của nhiều dân tộc và vùng miền, đồ gốm Việt Nam đã được hính thành và phát triển theo những đặc trưng rất rõ nét Mỗi vùng, mỗi thời kỳ có những nét đẹp, tùy theo vật liệu, tùy theo kỹ thuật và nghệ thuật riêng
Đồ gốm Việt Nam đẹp, đa dạng, phong phú và giá trị hơn cả là đồ thời Lý - Trần
và Lê - Mạc phát triển từ thế kỷ XI - XII, kéo dài đến giữa thế kỷ XVII với một số lượng lớn được xuất cảng sang các nước Đông Nam Á, Nhật Bản, Triều Tiên, qua tận vùng Ả Rập từ thế kỷ thứ VII và đặc biệt được dự nhập mạnh mẽ trong giao thương quốc tế vào thế kỷ XIV - XVI
Gốm đất nung
Gốm đất nung của Việt Nam rất phong phú Có thể nêu lên một số điển hính: như gốm Phùng Nguyên, gốm Đồng Đậu, gốm Gò Mun Gốm đất nung Việt Nam không chỉ sớm phong phú về hoa văn, mà cũng phong phú về hính dáng Nhiều hính dáng cho đến sau này vẫn còn được bảo tồn trong các lò gốm dân gian, như loại vò có miệng loe đứng, cổ cao, bụng nở (Đồng Đậu); loại vò cũng như nồi cỏ miệng loe rộng, cổ ngắn, bụng nở (Đồng Đậu); loại vò, nồi, có miệng loe xiên, cổ thắt (Đồng Xấu); bát, bính, cốc, ống nhổ chân thấp, chân cao (Phùng Nguyên)… Ở miền Nam, gốm vùng châu thổ sông Cửu Long, quãng những thế kỷ đầu công nguyên, gốm Sa Huỳnh quãng thế kỷ thứ 5, cũng có nhiều hoa văn làn sóng, hính học, nhiều hính dáng rất gần gũi với gốm cổ vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Có hính dáng điển hính của gốm miền Nam như lu, chĩnh vẫn bảo tồn cho đến nay ở nhiều cơ sở sản xuất gốm trong Nam Riêng hính chĩnh khá giống hính một số gốm Đông Sơn được phát hiện khá nhiều Mối tương quan khá rõ nét giữa các nền nghệ thuật cổ xưa trên cùng một dải đất Việt Nam nói
Trang 30riêng, trên khu vực Đông Nam Á nói chung được phản ánh qua phong cách nghệ thuật
đồ đồng cũng như phong cách nghệ thuật đồ đất nung cùng thời [1]
Gốm hoa nâu và tiền thân của nó
Gốm hoa nâu vốn có từ trước thế kỷ 11, ra đời cùng với gốm men da lươn Việc
sử dụng đá son tô lên gốm vốn có từ thời nguyên thủy (gốm Phùng Nguyên) Giai đoạn tiêu biểu nhất của gốm hoa nâu, về mặt nghệ thuật cũng như kỹ thuật, là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII Nó mang rõ nét của loại gốm hoa nâu rất Việt Nam, không một loại gốm nước ngoài nào lẫn lộn được Gốm hoa nâu, thường thuộc loại sành xốp, men ngà bóng, hoa văn màu nâu Hoa được khắc vạch trên xương đất ướt trước khi tô màu Cũng có loại nền nâu, hoa văn trắng Dần về sau, gốm hoa nâu được thể hiện theo nhiều
kỹ thuật khác nhau nhưng căn bản vẫn là chất liệu: men tro, đá son, đá thối hoặc rỉ sắt, hoàn toàn giống nguyên liệu của gốm men da lươn
Hình 2.1: Gốm hoa nâu thời Lý - Trần
(Nguồn: [2])
Về hoa văn trang trì, đối với gốm men độc sắc, bên cạnh loại gốm trang trì hoa văn khắc chím còn phổ biến loại gốm có hoa văn in khuôn trong Đặc điểm phong cách của gốm hoa nâu là hính dáng đầy đặn, chắc khỏe, phù hợp với lối khắc, lối tô mảng to mảng nhỏ sâu nông tùy tiện, và trên nền rất thoáng Đề tài trang trì rất gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống của Việt Nam: tôm, cá, voi, hổ, chim khách, hoa sen, hoa súng, lá khoai nước, lá râm bụt, võ sĩ đấu giáo, cưỡi voi… Một số gốm hoa nâu về sau phỏng theo phong cách thể hiện của gốm hoa lam và mất dần vẻ đẹp độc đáo của gốm hoa nâu nhưng cho đến ngày nay, ở nhiều lò dân gian vẫn có những nghệ nhân dùng chất liệu và
kỹ thuật này để làm những tác phẩm riêng biệt
Gốm men ngọc
Gốm men ngọc cũng đã phát triển từ trước thế kỷ XI Một số lọ men ngọc thời kỳ đầu, có thể vào thế kỷ VIII, IX; dáng rất chắc khỏe, men phủ khá dầy Gốm men ngọc
Trang 31Việt Nam, với hoa văn khắc chím hoặc in nổi chủ yếu trong lòng bát, lòng đĩa dưới mầu men ngọc trong suốt, cho ta một vẻ đẹp dịu dàng sâu đậm Cũng có sản phẩm do việc nung lửa không đều, mà từ mầu ngọc xanh ngả sang mầu vàng úa, vàng nâu Đề tài trang trì thường là hoa lá, chim phượng, một số ìt có hính người lẫn trong hoa lá Hoa văn men ngọc có ảnh hưởng nhiều của hoa văn chạm khắc lên đá đương thời Gốm men ngọc thời
Lý rất tinh tế, xương đất được lọc kỹ, dày và chắc Lớp men gốm dày phủ kìn xương gốm, mịn, bóng, sờ có cảm giác mát tay Xương gốm và lớp men bám vào nhau rất chắc Men trong suốt, sâu thẳm, mịn, lấp lánh ánh sáng Gốm men ngọc xanh có điểm thêm các sắc vàng chanh, vàng xám nhạt, vàng rơm… Gốm men ngọc cũng rất thịnh hành ở những thế kỷ XI đến thế kỷ XIII, nửa đầu thế kỷ XIV Khi có gốm hoa lam và gốm nhiều mầu thí gốm men ngọc, cũng như gốm hoa nâu, phải nhường bước cho loại gốm mới nhưng vẫn khẳng định những giá trị vốn có trong lịch sử gốm sứ dân tộc
Gốm vẽ mầu trên men và gốm nhiều men mầu
Gốm vẽ mầu trên men dường như chỉ để xuất khẩu Hiện nay, mới phát triển các loại bát đĩa với hính dáng và xương đất giống các loại gốm hoa lam ở những thế kỷ XV, XVI Mầu trên men chủ yếu là mầu đỏ đậm, mầu xanh đồng, mầu lam nhạt Theo tư liệu trong nước và nước ngoài, đối chiếu với một số gốm cổ Việt Nam phát hiện tại Nhật Bản, Indonesia, Philippines, càng xác minh loại gốm này xuất bán tại các nước vùng Đông Nam Á khá nhiều ở thời điểm trên Gốm nhiều men mầu, thịnh nhất và đẹp nhất là ở thế
Trang 32kỷ X, XVII Giai đoạn này, nghệ thuật điêu khắc gỗ ở các đính chùa đạt đến đỉnh cao Gốm dùng vào việc thờ cúng cũng bắt chước điêu khắc gỗ; rất nhiều lư hương, chân đèn, gốm chạm trổ công phu theo kiểu nghi môn, cửa võng, với đề tài rồng, phượng, hạc, tôm,
cá, người y hệt kiểu chạm gỗ đương thời Hiện vật được phủ các mầu men vàng đậm, xanh đồng, lam, trắng ngà chảy bóng và trong suốt quyện vào nhau; lại có mảng để mộc không men Tất cả tạo nên một loại men hòa sắc đẹp, quý và rất đặc biệt thuần Việt
Một số dòng gốm đỉnh cao của dân tộc
Gốm Chu đậu
Ðồ gốm Chu Ðậu hính dáng thanh tao, nước men trong mà mỏng, hoa văn đầy hính ảnh đời sống thôn làng Việt Nam Ðồ gốm Chu Ðậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ XIV, rực rỡ nhất vào thế kỷ XV, XVI rồi tàn lụi vào đầu thế kỷ XVII Gốm Chu Đậu tàn lụi vào đầu thế kỷ XVII và bị lãng quên trong một thời gian khá dài Gốm Chu Ðậu chỉ được biết đến và tím hiểu từ khi người ta thấy một bính cao cổ men trắng xanh, hoa văn cánh sen và hoa mẫu đơn, với câu “Thái Hoà bát niên Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút” ở Viện bảo tàng Topkapi Thổ Nhĩ Kỳ Ðồ gốm Chu Ðậu được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ, đính chùa, từ đường và nhiều nhất là dưới các tàu buôn chím ngoài khơi Hội An, Ðà Nẵng…
Từ cuối thế kỷ XIV, ta thấy phát triển loại men, loại hoa văn vô cùng độc đáo, rất cao cả về kỹ thuật lẫn mỹ thuật Trong số các chủng loại gốm Chu Ðậu được chú ý nhất
là gốm hoa lam, gốm men tam thái và gốm men màu được thể hiện bằng những họa tiết trang trì đặc sắc Họa tiết trên gốm chủ yếu được vẽ bằng bút lông theo lối phóng bút
và công bút Hoa lá là hoa văn chủ đạo với các loại hoa sen, hoa cúc, hoa phù dung, đào, lựu, trúc, rong rêu… Bố cục hoa văn trên các sản phẩm đĩa thường vành hồi văn hoa lá chạy tròn theo mép đĩa, chủ yếu là hoa cúc dây, cánh sen… Ở giữa lòng đĩa thường phối hợp trang trì các mô tìp khác như hoa, lá, tôm, chim, rồng, phượng, phong cảnh Ðối với các sản phẩm như lọ, bính, bát, liễn bên ngoài được thể hiện các đường hồi văn chạy quanh thân sản phẩm Mô tìp hoa văn thảo mộc trên gốm Việt cổ xuất hiện khá nhiều trên bát, đĩa là hoa cúc đóa, cúc dây, mẫu đơn…; kết hợp với chim, cá… làm tăng sự phong phú cho các họa tiết cũng như ý nghĩa của đề tài
Trang 33Hình 2.2: Hiện vật gốm sứ từ con tàu đắm ngoài khơi Cù Lao Chàm
(Nguồn: [34])
Được bao quanh bởi nhiều con sông lớn, gốm Chu Ðậu có những điểu kiện thuận lợi để đưa đi khắp mọi nơi Từ Chu Đậu, gốm sứ có thể chuyển đồ lên Thăng Long, ra Phố Hiến, Vân Ðồn để bán trong nước, để xuất cảng ra nước ngoài Người ta cũng có thể chuyên chở đất sét mịn mua từ Hố Lao (Ðông Triều, Quảng Yên) chỉ cách đó 30km một cách nhanh chóng, dễ dàng Chủng loại đồ gốm Chu Ðậu rất phong phú: Bát chân cao, bát chân thấp, tô, đĩa, chén, tước, bính, ấm, âu, chậu, lu, hũ, chậu, bát hương, bát trầm, chân đèn, hộp, lọ, bính vôi, nghiên mực, có cả nghiên mực hính con trâu, con cua, rồi lại còn đồ chơi của trẻ em như các hính tượng con gà, con cóc, con lợn, người cưỡi ngựa…
từ các món đồ dùng trong nhà người dân, trong đính chùa, trong nhà giới trưởng giả, cho đến đồ xuất cảng… Tiêu biểu nhất là loại bính tỳ bà, loại bính này được tím thấy từ các tàu buôn đắm ngoài khơi Hội An - Ðà Nẵng, được đặt làm riêng phục vụ cho xuất khẩu
Đồ gốm Chu Đậu ghi dấu tài năng và cá tình của thợ gốm rất rõ rệt Nhiều loại gốm quý có ký tên người làm và đề rõ năm tháng, như vợ chồng Ðặng Huyền Thông - Nguyễn Thị Ðỉnh, vợ chồng Ðỗ Xuân Vi - Lê Thị Ngọc, vợ chồng Bùi Duệ - Lê Thị Cận, Ðặng Hữu, Ðặng Tình Không, rồi bà họ Ðỗ ở Phủ Quốc Oai, bà họ Bùi ở Phủ Nam Sách… Tuy nhiên, sau thế kỷ XVII, nghề làm đồ gốm ở đây tự nhiên mất tìch, không còn lò gốm, không còn người làm đồ gốm Dấu vết chím sâu dưới lòng đất, biến hẳn trong ký ức dân làng
Ðồ gốm Chu Ðậu vốn rất được ưa chuộng ở thị trường Nhật Bản, thị trường Ðông Nam Á và thị trường Ả Rập ví có phẩm chất rất cao, men rất trắng, rất mịn, hoa văn rất
Trang 34linh động, sắc sảo Gốm Chu Đậu được đưa tới Nhật Bản từ rất sớm, thậm chì có những ảnh hưởng nhất định đến Trà đạo Nhật Bản Các ấm, bát uống trà của Trà đạo Nhật chình là những món đồ gốm Chu Ðậu nhập cảng từ Việt Nam qua Những tổ sư của Trà đạo Nhật Bản quý chuộng đồ Chu Ðậu hơn cả đồ Trung Hoa và Triều Tiên Nhiều món
đồ đã trở thành bảo vật được lưu giữ trong các gia tộc qua nhiều thế kỷ
Gốm Bát Tràng
Làng nghề nổi tiếng này hính thành từ thời Lý, Trần và thường cung cấp cống phẩm cho nhà Minh Sản phẩm của Bát Tràng gồm bát, đĩa, chậu, ấm, bính vôi, bính hoa, gạch, ngói, bính hương, chân đèn Men trang trì có phong cách đặc trưng riêng; hính dáng sản phẩm dày dặn chắc khỏe Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kỳ khác nhau để tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau Men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chí đến đen sẫm Men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kỹ thuật men lam Men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hính đồ gốm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, men này mỏng, màu vàng ngà, bóng thìch hợp với các trang trì nổi tỉ mỉ Men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra một dòng tam thái rất riêng ở thế kỷ XVI - XVII Men rạn chỉ xuất hiện từ cuối thế kỷ XVI và phát triển liên tục qua các thế kỷ XVII - XIX Sản phẩm gạch Bát Tràng cũng rất nổi tiếng, dùng lát nhiều sân chùa và đường làng Mỹ thuật đồ gốm Bát Tràng phát triển gần như song song với gốm Chu Ðậu Hầu hết, đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ Do tình chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả mầu ngà, đục Bát Tràng cũng là làng gốm
có các dòng men riêng từ loại men xanh rêu cùng với nâu và trắng cho đến men rạn với cốt gốm xốp có mầu xám nâu
Thời gian đầu, hính thức trang trì trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chím, tô men nâu theo kỹ thuật gốm hoa nâu thời Lý - Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam Khoảng thời gian này đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam đồng thời xuất hiện những đồ gốm hoa nâu vẽ theo gốm hoa lam Đề tài trang trì còn giới hạn trong các
đồ án hoa lá, tiếp nối gốm hoa nâu thời Trần Thế kỷ XVI, cùng với việc xuất hiện những chân đèn, lư hương có kìch thước lớn hơn, kỹ thuật trang trì chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trính độ tinh xảo Đề tài trang trì phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn
Trang 35thuỷ Trang trì vẽ men lam còn giữ được nhịp độ phát triển, nhiều loại văn hính học và hoa lá còn thấy gần gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ở Chu Đậu Thế kỷ XVII,
kỹ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh tế, cầu kỳ, gần gũi với chạm
đá và gỗ Đề tài trang trì tiếp nối thế kỷ XVI, đồng thời xuất hiện các đề tài trang trì mới:
bộ tứ linh, hổ phù, nghê, hạc Những đề tài chạm nổi, để mộc điển hính khác như bông cúc hính ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hính lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn - Thọ… Việc sử dụng men lam kém dần, tuy đề tài trang trì vẽ tương đồng với chạm nổi Thế kỷ XVII xuất hiện dòng gốm men rạn với sự kết hợp trang trì đề tài nổi bật như rồng, tứ linh, hoa lá, cúc - trúc - mai Trong khoảng thời gian này còn xuất hiện loại gốm nhiều màu, nổi trội nhất là màu xanh rêu với các đề tài trang trì độc đáo: hoa sen, chim, nghê, hính người
Men xanh rêu
Thế kỷ XIV - XIX men xanh rêu được dùng khá nổi trội cùng với men trắng ngà
và nâu Men xanh rêu, men ngà và nâu tạo ra loại Tam thái riêng của gốm Bát Tràng thế kỷ XVI - XVII Trên chân đèn men xanh rêu tô lên những bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen các bông hoa tròn hính bánh xe, các hính rồng, các bông hoa nổi đường diềm quanh vai Men xanh rêu còn dùng vẽ mây, tô lên nhiều góc mảng diềm,
đế và các cột dọc của long đính; men rêu sắc sẫm ở các cột vuông mô hính nhà 2 tầng hay một số mảng đường diềm lư hương chữ nhật Men xanh rêu, dù ở các sắc độ khác nhau nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất lớn ví chỉ thấy trên đồ gốm Bát Tràng thế kỷ XVI – XVII và có thể xem đây là một dữ kiện đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ gốm Bát Tràng trên nhiều loại hính khác nhau
Men rạn
Đây là một loại men độc đáo tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương gốm và men Cho đến nay các tài liệu gốm men cổ ở Việt Nam xác nhận mang men rạn chỉ được sản xuất tại lò gốm Bát Tràng từ khoảng cuối thế kỷ XVI và kéo dài tới đầu thế
kỷ XX Lư hương khắc minh văn sản xuất vào cuối thế kỷ XVI thể hiện lớp men rạn trên 2 phần dưới của lư hương tròn có thể xem là tiêu bản gốm men rạn sớm nhất Men rạn có sắc ngà xám các vết rạn chạy dọc và ngang chia ra nhiều hính tam giác, tứ giác Những hiện vật men rạn này rêu có trang trì nổi, ngoài men rạn ra không còn loại men nào khác, đó là những tiêu bản men rạn chuẩn mực của Bát Tràng vào thế kỷ XVII Gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có minh văn, thể hiện bằng khắc chím hay viết bằng men lam dưới men trắng Một số minh văn cho biết rõ năm sản xuất, họ tên quê quán tác giả chế tạo cùng họ tên, có khi là cả chức tước của người đặt hàng Trong số các
Trang 36loại minh văn đó, có rất nhiều minh văn là do nghệ nhân đề tự chình tên mính để một phần thể hiện rõ nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, phần khác là thể hiện bút tìch cá nhân
Hình 2.3: Gốm Bát Tràng thế kỷ XVII
(Nguồn: [2])
2.1.2 Đặc trƣng của gốm sứ Việt Nam
Từ thế kỷ XIV, nhất là trong thế kỷ XV và XVII, cùng với sự phát triển của kỹ nghệ chế tác đồ gốm, Việt Nam đã chình thức trở thành quốc gia xuất khẩu đồ gốm quan trọng trong hệ thống thương mại quốc tế trên biển Nếu xét gốm sứ Việt Nam trong dòng chảy của ba thế kỷ này, qua tham khảo các nghiên cứu của các học giả, ta thấy thế kỷ XIV là giai đoạn mở đầu, thế kỷ XV là giai đoạn hưng thịnh, đỉnh cao và
thế kỷ XVII là giai đoạn sau cùng
Đồ gốm sứ Việt cổ truyền đã phát triển với tinh thần bản sắc dân tộc hết sức mạnh
mẽ mặc dù dường như đã bị kím nén từ hơn một nghín năm Bắc thuộc, cũng như bao nhiêu thăng trầm biến cố của lịch sử góp phần nền tảng cho một nghệ thuật tạo hính riêng biệt Việt Nam phát triển phong phú và rực rỡ Người thợ Việt Nam đã tạo nên những dáng kiểu, sắc men và hoa văn rất thuần Việt, thể hiện một tinh thần sáng tạo vừa bay bổng phóng túng lại vừa đảm bảo tình hữu dụng trong đời sống hàng ngày Nhiều thử nghiệm về sắc men, dáng kiểu, nhiều hoa văn đẹp lạ không thể thấy được ở văn hoá các nước trong khu vực mà tiêu biểu là gốm sứ Trung Hoa vốn nhiều khuôn khổ gò bó Nghệ thuật tạo hính đặc sắc này của văn hoá Việt có thể tóm tắt qua các điểm chình: (1) Kiểu dáng, (2) Nước men, (3) Chất đất, (4) Hoa văn
Kiểu dáng
Trang 37Tô, chén, đĩa: Tô chén thường có chân khá cao Nhiều bát nhỏ và đĩa nhỏ có hính
con rùa hay cá nổi giữa lòng, khi đổ nước vào ta có cảm giác như nhín xuống lòng
giếng, lòng ao, thấy cá và rùa bơi ở giữa Lư hương, bát hương, chân đèn: Lư hương
khá to, cao khoảng 25 - 40cm Nhiều chân đèn hai hay ba tầng cao khoảng 75 - 85cm,
dùng để cắm nến Bình, ấm, âu, hũ, bình vôi: Đủ mọi loại, đủ cỡ lớn nhỏ, sản xuất trong
nhiều trăm năm Có nhiều ấm hính chim, hính thú, hay có nhiều ấm mà vòi, quai là
hính đầu thú Hộp trang sức: Hộp nhỏ, thường là hính tròn, để đựng phấn hay dầu trang
sức phụ nữ Những hộp này có lẽ là để xuất cảng sang vùng Ả Rập nhiều hơn là để bán trong nước Hộp làm vào thế kỷ XIV, XV, XVI thường màu trắng ngà, trơn, trên nắp vẽ hoa, cành màu chàm, hay vẽ hồi văn Những hộp này nhỏ hơn, đường kình độ 3cm tới 6cm Một số hộp tím được trong khi khai quật mộ cổ ở Philippines, Indonesia Một số lớn tím được trong vài năm gần đây, khi vớt các xác tàu buôn cổ chím ở Hội An, Đà Nẵng Có những hộp màu xám đậm, có hộp hính bì ngô hay hính tròn, nhưng chung quanh chia làm nhiều phần (6 hay 8) trang trì, tạo nên ấn tượng là hộp thật sự có nhiều
cạnh Gạch trang trí, ngói: Men trắng xanh, tím thấy trên tường nhà thờ Hồi Giáo ở
Indonesia và ở mộ cổ ở Philippines (cùng các ấm, bính, tô, đĩa Việt Nam) [38]
Về mặt kiểu dáng, mặc dù chịu ảnh hưởng từ gốm sứ Trung Hoa nhưng gốm sứ Việt vẫn có những đặc trưng rất riêng biệt Khác với gốm sứ Trung Hoa, đồ bính, ấm,
lọ Việt Nam thường không có quai cầm, hoặc thay vào đó là những trang trì đậm chất bản địa Đông Nam Á như hính đầu rồng, hính vòi voi, hính đầu chim, hính makara, gurada (makara: thủy quái của thần thoại Ấn Ðộ, gurada: chim thần của thần Vishnu -
Ấn Ðộ giáo)… Ngoài ra, đồ gốm Việt Nam còn khác đồ Trung Hoa ở các điểm: (1) trong lòng tô hay đĩa thường sót lại các dấu in của con kê (dùng ngăn đĩa, tô chồng lên nhau khi nung) hay (2) trong lòng đĩa, tô khi men còn ướt, trước khi nung, thường bị cạo đi một vòng hính vành khăn để trơ lại đất mộc, và (3) miệng tô, đĩa cũng thường để mộc, không men Đây là những cách đơn giản, để tránh cho các món đồ không bị dình chặt vào nhau khi nung và tiết kiệm được diện tìch lò Ngược lại, người thợ Trung Hoa không bao giờ để trơ đất mộc ở chỗ nào, họ rất tỉ mỉ trong việc pha men, tráng men và xếp nung Họ muốn món đồ được toàn hảo Người thợ Việt thường chú trọng đến vẻ đẹp giản dị, tự nhiên, không bận tâm đến những tiểu tiết gò bó
Nước men
Những điểm khác biệt chình giữa nước men của đồ gốm Trung Hoa và đồ gốm Việt là: Nước men Việt thường rất mỏng, men pha loãng, tráng không đều, trong khi đó, nước men Trung Hoa rất dày, bóng và đều khắp Lò gốm Việt có độ nung thấp, thường
Trang 38không ngấm sâu vào chất đất nên nhiều vật tìch tím được có những phần đã tróc mất men (Lò gốm Trung Hoa có độ nung rất cao, men bền) Chân đế và dưới đáy đồ Việt thường được để mộc Dưới đáy thường được tô một lớp son nâu đậm (điểm không hề thấy trong đồ gốm Trung Hoa) Nước men Việt rạn tự nhiên, rất đẹp Màu men thay đổi
từ trắng ngà sang vàng hồng, nâu với rất nhiều sắc từ nhạt đến đậm, nâu đen, nâu đỏ, xanh cánh lục biếc, xanh chàm, xanh lam nhạt, xanh lam đậm…
Chất đất
Đồ gốm Việt Nam dưới thời Bắc Thuộc thường làm bằng đất sét, pha cát và vỏ sò hến nghiền nát Sang đời Lý, nhiều món đồ không còn pha cát nữa, chất đất mịn hơn
Đồ Chu Đậu làm bằng cao lanh trắng mịn Đồ men ngọc (celadon) đời Lý cũng khác đồ
men ngọc Trung Hoa ở chỗ chất đất không pha bột đá, đồ dày hơn, men mỏng, gõ vào tiếng kêu không thanh và không ngân lâu bằng
Hoa văn
Hoa văn thường được vẽ bằng sáu kỹ thuật chình:
- Dùng khuôn mẫu in rập lên đồ mới nặn cho hoa văn in lên (nổi hay chím) trước khi tráng men và nung (gọi là ám họa)
- Dùng bút vẽ lên mặt đồ đã khô, trước khi tráng men và nung
- Tráng men màu nhạt, dùng dao nhỏ hay mảnh tre cạo bỏ men theo hính định trước, rồi dùng men màu đậm vẽ trong chỗ đã cạo, nhưng lại để chừa nét viền không men
- Ngược lại với cách trên Tráng men màu nâu đậm lên toàn bính hay ấm, rồi dùng mảnh tre cạo theo hính định sẵn, tạo nên hoa văn màu nhạt, không men trên nền men nâu đậm
- Tráng men màu nhạt rồi nhỏ vài giọt men màu khác lên một hay vài chỗ, để cho giọt men này chảy tự nhiên
- Tráng men xong rồi nhỏ những giọt nước lên, hay tạt nước vào để nước làm men chảy loang, tạo nên những hính tự nhiên [1]
Trên đây là những kỹ thuật thuần Việt Đồ gốm Trung Hoa không bao giờ được trang trì bằng cách này Phát triển từ ban đầu thô sơ với việc dùng mũi nhọn, lưỡi dao tre… rồi bút lông, nét vẽ trên đồ gốm thế kỷ XVII đã trở nên rất linh động, thể hiện rõ ràng từng bản sắc cá nhân của người nghệ sĩ Đặc biệt mỗi loại hoa văn trên gốm sứ đều thể hiện nhiều đề tài phong phú
Về đề tài họa tiết, khác với gốm sứ Trung Hoa thường được trang trì tỉ mỉ theo một chỉnh thể nhất định thí gốm sứ Việt phong khoáng với nhiều đề tài phong phú vô cùng mà rất linh động Hoa mẫu đơn trở nên phổ thông, được vẽ nhiều hơn hoa sen
Trang 39Chim sẻ, chim chìch choè nhảy múa, ca hót, giang cánh bay, hay đứng trên cành mai nở, đậu trên khóm trúc là những đề tài thường thấy Hính ảnh chim hạc, chim công xoè cánh trong vườn mẫu đơn, chìch chòe bay trên cánh đồng, giữa cây giữa lá, cảnh chim bói cá bắt mồi trên ao sen, cá bống, cá chép, chuồn chuồn, tôm, đàn vịt bơi dưới ao sen
có bươm bướm bay la đà, cảnh sơn thủy có đảo, có núi, có cây, có lâu đài, cảnh hươu nai chạy nhảy, hính con nghê cùng cành mai, khóm trúc, bao quanh bởi hoa mẫu đơn Trong lòng bát cũng thường thấy vẽ bụi lan, cây lúa, tàu lá chuối, vành quanh miệng đĩa chén là những vòng hoa cúc, hoa sen, vòng quanh bính, ấm là những ô vẽ ngựa, vẽ hoa, vẽ sóng nước, vẽ cây lúa, đặc biệt là những ô xen kẽ dương bản và âm bản, ô trắng hoa xanh, ô xanh hoa trắng rất đẹp Rồng cũng là đề tài lớn, được vẽ thường trên bính, trên nậm và nhiều nhất là trên chân hương, chân đèn nhưng là con rồng Việt Nam, thân dài, uốn khúc, uyển chuyển, chân như chân gà, bờm tóc dài, có râu và có túm lông ở khuỷu chân, vẫn giữa cây giữa lá, là phối hợp mà nghệ sĩ Trung Hoa không bao giờ vẽ,
ví với họ, rồng chỉ đi cùng với mây, cao xa trên trời thôi, không gần gũi với dân gian như con rồng - rắn của chúng ta Nếu nhín vào gốm Chu Đậu như một điển hính thí sẽ thấy vẻ đẹp của gốm sứ Việt thật sống động, chi tiết, bố cục chặt chẽ, cân đối
Qua các hiện vật gốm sứ, ta sẽ tím thấy một cách khái quát cả sắc thái hội họa cổ truyền của ông cha Những nét vẽ trên gốm cổ cho ta thấy không chỉ cách vẽ, cảm nhận cái đẹp mà còn cả quan niệm sống, cá tình của người thợ gốm dân gian Việt cổ Ta cũng thấy ảnh hưởng Trung Hoa trên các nét vẽ Việt Nam thực sự không nhiều và kỹ nghệ thuật vẽ hính trên đồ gốm của ông cha ta, dưới đời Lý, đời Trần, đời Hậu Lê, đời Mạc đã rất cao Những hính vẽ ấy thường là những hính ảnh của sinh hoạt dân gian, của những biểu tượng nông thôn, của hồn Việt tinh khiết nên dù giản dị vẫn giữ một thị phần đáng kể trên thị trường thế giới bên cạnh đồ gốm sứ Trung Hoa Tuy nhiên nếu chỉ qua những hính vẽ trên đồ gốm ấy thí khuôn khổ, màu sắc và chất liệu còn thu gọn tài năng của người nghệ sĩ rất nhiều, hẳn đó chỉ là hính ảnh thu gọn của một nền mỹ thuật đã từng phát triển rất rực rỡ nhưng không còn một loại hính nghệ thuật nào có sức sống lịch sử như gốm sứ được truyền lại tới ngày nay
2.1.3 Gốm sứ Việt Nam tìm thấy ở Nhật Bản
Từ những di tìch thời trung cổ, cận đại của Nhật Bản, những năm gần đây đang phát hiện được đồ gốm sứ sản xuất tại Đông Nam Châu Á như Việt Nam, Thái Lan, Myanmar Trong số đồ gốm sứ của Đông Nam châu Á được phát hiện tại Nhật Bản có nhiều gốm sứ Việt Nam Gốm sứ cổ nhất là gốm Việt Nam vẽ hoa văn màu sắt tại di tìch Dazaihu tỉnh
Trang 40Fukuoka được phát hiện cùng với mảnh gỗ shobata có ghi năm 1330 (Gentoku năm thứ 2)
nên đây là đồ của nửa đầu thế kỷ XIV Với vai trò là một bộ phận của lãnh thổ Nhật Bản ngày nay, Ryukyu đã có nhiều bằng chứng cho thấy vương quốc này đã trực tiếp có những giao lưu gốm sứ với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam
Gốm Việt Nam được tím thấy ở Nhật Bản thông qua những cuộc khai quật và khảo cứu rất lớn Gốm Việt Nam được tím thấy trong các di chỉ hào thành Nhật Bản và lưu truyền trong bảo tàng và các gia đính có truyền thống lâu đời ở Nhật Bản đã được tập hợp tại một số các cuộc triển lãm vào các năm 1992, 1996, 1997 [63]
Việt Nam được biết đến với hai dòng gốm tiêu biểu là Chu Đậu và Bát Tràng Hiện này có khoảng trên 20 bảo tàng ở Nhật Bản có sưu tập đồ gốm Việt Nam nhưng những món đồ quý nhất phần lớn thuộc về Bảo tàng Mỹ thuật Fukuoka và Bảo tàng Gốm sứ Kyushu Tại các bảo tàng này có các cổ vật thuộc các dòng gốm Việt Nam thời Bắc thuộc; gốm men ngọc thời Lý - Trần; gốm hoa nâu thời Lý - Trần; gốm hoa lam thời Lê; gốm xanh trắng và gốm màu Chu Đậu, gốm thời Mạc và một số đồ sứ ký kiểu thời Lê - Trịnh và thời Nguyễn
Căn cứ vào nghiên cứu gốm sứ Việt Nam những năm gần đây qua phương pháp khảo cổ học, ta thấy gốm sứ Việt Nam có ý nghĩa rất lớn với Trà đạo Nhật Bản Để biết những gốm sứ Việt Nam đã được sử dụng trong trà đạo Nhật Bản có thể có 3 cách phân
tìch, thứ nhất là nghiên cứu Trà hội ký, thứ 2 là nghiên cứu gốm sứ được lưu truyền
trong các gia đính Nhật Bản, thứ 3 là nghiên cứu gốm sứ Việt Nam được khai quật tại các di chỉ Nhật Bản
Trước đó, gốm Việt Nam trong trà hội ký được ghi là Karamono do các trà nhân thời
kỳ Momoyama hoặc Edo của Nhật Bản có xu hướng gọi chung Karamono (tức là gốm sứ
Trung Quốc) đối với tất cả đồ gốm sứ mang từ nước ngoài sang Căn cứ vào nghiên cứu của ông Tani, chúng ta biết được rằng, gốm sứ Việt Nam chắc chắn đã được sử dụng trong hội trà đạo nhưng chưa biết rõ rằng đó là dụng cụ nào một cách cụ thể
Gốm sứ Việt Nam được khai quật trong các di chỉ Nhật Bản cho phép chúng ta kết luận rằng các gốm sứ Việt Nam có niên đại từ nửa thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XVII
đã được xuất sang Nhật Bản Tại di tìch khảo cổ hào thành Sakai, người ta bắt gặp bát men trắng, nồi sành, lọ sành Việt Nam cùng với những dụng cụ trà đạo khác như cho thầy gốm sứ Việt Nam đã trở thành dụng cụ trà đạo rất được người Nhật ưa thìch Gốm
sứ Việt Nam cũng được lưu truyền cất giữ cẩn thận trong các gia đính Nhật Bản qua mấy thế kỷ Mặc dù chưa có thật nhiều dữ liệu cụ thể nhưng có thể nói gốm sứ Việt Nam có một vị trì khá đặc biệt và trang trọng trong nhà của người Nhật