1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống và 7 ngày vui sống

87 950 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --ooo-- NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ooo

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG

XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

Ở ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát ba chương trình truyền hình “Năng lượng cho phát triển đất nước”,

“S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống”

trên kênh VTV1 từ 05/2010-05/2011)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội- 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ooo

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG

XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

Ở ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát ba chương trình truyền hình “Năng lượng cho phát triển đất nước”,

“S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống”

Trang 3

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIỆN MẠO CỦA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 13

1.1 Khái niệm về xã hội hóa , xã hội hóa báo chí truyền thông và xã hội hóa truyền hình 13

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 17

1.3 Diện mạo của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay 20

1.4 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình……… 27

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT BA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH “NĂNG LƯỢNG CHO PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC”,“S VIỆT NAM- HƯƠNG VỊ CUỘC SỐNG” VÀ “7 NGÀY VUI SỐNG” VÀ TRÊN KÊNH VTV1Error! Bookmark not defined 2.1 Giới thiệu chung về các chương trình “Năng lượng cho Phát triển đất nước”, “S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” trên kênh VTV1 29

2.3 Thuận lợi và khó khăn trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở VTV1 42

2.4 Hiệu quả kinh tế của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 47 Chương 3: HIỆU QUẢ XÃ HỘI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH Ở ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 3.1 Hiệu quả xã hội của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình (nghiên cứu chương trình “Năng lượng cho phát triển đất nước”, “S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” 60

3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 69

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 85

Trang 4

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, cẩn trọng và trung thực

Xin được bày tỏ lòng trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí và Truyền thông- Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa học

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, người đã quan tâm, động viên khích lệ, nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, ngày 28 tháng 8 năm 2011 Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Trang 5

InfoTV Kênh Thông tin Tài chính KT và TTCK

O2TV Kênh Sức khỏe và Cuộc sống

PTTH Phát thanh Truyền hình

PVN Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

TvAD Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình

VTV Đài Truyền hình Việt Nam

VTV1 Kênh Thời sự Chính trị Tổng hợp

VTV2 Kênh Khoa học Giáo dục

VTV3 Kênh Thể thao Giải trí và Thông tin Kinh tế

VTV4 Kênh Truyền hình Đối ngoại

VTV5 Kênh Truyền hình Tiếng Dân tộc

VTV6 Kênh Thanh Thiếu niên

Trang 6

4

Bảng 2.1: Số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh truyền hình quảng bá 22

Bảng 2.2: Số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh truyền hình trả tiền 22 Bảng 2.3 Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đài TH

đặt hàng các đơn vị truyền thông tư nhân

63

Bảng 2.4.a Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đơn

vị truyền thông tư nhân chủ động đặt sóng và sản xuất toàn bộ chương trình

37

Bảng 2.4.b Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đơn

vị truyền thông tư nhân chủ động đặt sóng và sản xuất một phần chương trình

38

Bảng 2.5: Khái quát quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa “Năng lượng

cho phát triển đất nước” trên kênh VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam

40

Bảng 2.6 Chi phí sản xuất quy định cho chương trình Điểm hẹn văn hóa ở Thời điểm tháng

6 năm 2006 (chỉ tính riêng chi phí nhân công và chi phí sản xuất chương trình)

47

Bảng 2.8 Tổng hợp chi phí tiền công “Năng lượng cho Phát triển đất nước” trên VTV1 51

Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả nhận biết dấu hiệu xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 62 Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả nhận biết logo của các đơn vị phối hợp sản xuất chương trình

truyền hình với VTV

62

Bảng 3.4 Biểu đồ tổng hợp kết quả đánh giá của người xem về mức độ hấp dẫn của 3

chương trình truyền hình “Năng lượng cho phát triển đất nước”, “S Việt nam- Hương vị

cuộc sống” và “7 ngày vui sống”

66

Trang 7

5

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết mở đường cho hoạt động xã hội hóa một số lĩnh vực trong đời sống xã hội, cụ thể là: Nghị quyết 90/CP (ngày 21/8/1997) về phương hướng và chủ trương

xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và văn hoá của Chính phủ; Nghị định 73/1999/NĐ-CP về chủ trương xã hội hoá giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao Những chính sách này đã tạo động lực mạnh mẽ cho việc xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, thu hút và huy động được nhiều nguồn lực của các đơn vị, cá nhân trong xã hội vào tham gia vào các hoạt động này

Sau 7 năm triển khai Nghị quyết 90/CP, công tác xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao đã thu được những kết quả quan trọng nhưng việc

xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa được vẫn triển khai một cách thận trọng Riêng trong lĩnh vực phát thanh- truyền hình, năm 2005, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/04/2005 về đẩy ma ̣nh viê ̣c xã hô ̣i hóa các hoa ̣t

đô ̣ng giáo du ̣c , y tế , văn hóa và th ể dục thể thao ; viê ̣c xã hội hóa sản xuất các chương trình phát thanh- truyền hình mới phát triển mô ̣t cách rõ nét và ma ̣nh mẽ

Trước kia, chỉ có các đơn vị được Nhà nước giao nhiệm vụ sản xuất chương trình truyền hình (các Đài truyền hình Nhà nước) mới được tổ chức sản xuất chương trình Ngày nay truyền hình không chỉ là hoạt động sản xuất chương trình báo chí với chức năng tuyên truyền mà còn phát triển các chức năng khác như giải trí, cung cấp thông tin kinh tế, chỉ dẫn… Nhu cầu của công chúng cũng ngày càng

đa dạng và khắt khe hơn, đòi hỏi truyền hình phải ngày càng phong phú hơn, chất lượng cao hơn cả về nội dung và hình thức thể hiện Bên cạnh đó, các đài truyền hình đều đứng trước áp lực tăng kênh, tăng thời lượng, đa dạng hóa nội dung và hình thức thể hiện Truyền hình là ngành đòi hỏi kinh phí hoạt động và nguồn nhân lực lớn Tác phẩm truyền hình là sản phẩm của tập thể; Ekip làm chương trình có

Trang 8

6

thể gồm: phóng viên biên tập, phóng viên quay phim, kĩ thuật, lái xe…kèm theo đó

là hàng loạt các vị trí có liên quan như kĩ thuật dựng hình, kĩ thuật âm thanh, ánh sáng, sân khấu, dựng cảnh, đội ngũ trợ lý… Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao phó, đồng thời đáp ứng tốt những đòi hỏi ngày càng cao của công chúng, truyền hình Việt Nam không thể chỉ dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước để duy trì và phát triển hoạt động của mình, mà cần phải thu hút nguồn trí lực và tài lực của toàn xã hội

Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, do vậy, đã phát triển khá mạnh mẽ trong khoảng gần chục năm qua Nhờ có sự hợp tác với các đơn vị bên ngoài Đài Truyền hình mà rất nhiều chương trình đã được sản xuất và phát sóng mà không cần phải huy động kinh phí ngân sách của nhà Đài Hàng trăm công ty truyền thông ra đời, trong đó, rất nhiều công ty chủ động, tích cực hoạt động trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình Nhiều chương trình mới, thậm chí, kênh truyền hình mới đã ra đời, đặc biệt là các chương trình trò chơi giải trí, thông tin kinh tế và phổ biến kiến thức như “Ai là triệu phú” (VTV3- Đài Truyền hình Việt Nam), “Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn” (VTV1), “Hành trình kết nối những trái tim” (Đài Truyền hình Hà Nội…), “Như chưa hề có cuộc chia ly” (Trung tâm THVN tại Thành phố

Hồ Chí Minh), O2TV (Kênh VCTV10), Kênh VBC, Kênh RealTV… Khoảng mười năm nay, các hoạt động xã hội hóa truyền hình đã và đang được tổ chức thực hiện một cách sôi nổi ở Đài Truyền hình trung ương và các địa phương trên cả nước Tuy nhiên cho tới nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu hiệu quả của các hoạt động này, xét từ phương diê ̣n hiê ̣u quả kinh tế và hiê ̣u ứng đối với xã hô ̣i

Mặc dù hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong thời gian vừa qua đã thu được một số thành công nhưng trong lý luận và thực tiễn xã hội hóa hoạt động sản xuất truyền hình vẫn tồn tại những vấn đề cần phải được nghiên cứu Cho đến nay, khái niệm xã hội hóa truyền hình vẫn gây rất nhiều tranh cãi trong giới chuyên môn, các nhà nghiên cứu báo chí nói riêng và dư luận nói chung Bên cạnh đó, nhiều vấn đề bất cập của việc xã hội hóa truyền hình như chất lượng các chương trình có yếu tố xã hội hóa không đồng đều, việc “bán sóng” hoặc “bội

Trang 9

7

thực quảng cáo” trong các chương trình truyền hình cũng đã được dư luận đặc biệt quan tâm Ngoài ra, nhiều đơn vị xã hội hóa chỉ quan tâm vào sóng của đài truyền hình Trung ương hoặc các đài truyền hình lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mà không quan tâm đến các đài địa phương, khiến cho hoa ̣t đô ̣ng xã hội hóa chỉ tập trung vào mô ̣t số “tro ̣ng điểm”

Ngày nay, còn phải kể tới tác động của các yếu tố chính trị- kinh tế- xã hội, đặc biệt là cuộc khủng hoàng và suy thoái nền kinh tế thế giới 2008-2009 và sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương ma ̣i thế giới (WTO) cũng làm cho

xu hướng xã hội hóa truyền hình bị ảnh hưởng Điều này cũng làm gia tăng hơn nữa những tác động cả tích cực và tiêu cực của xu hướng xã hội hóa đối với truyền hình Còn nhiều vấn đề đang được đặt ra trong bối cảnh xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, người viết sẽ tập trung nghiên cứu về hiệu quả kinh tế và xã hội của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình Việt Nam (khảo sát kênh VTV1)

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong lý luận về báo chí truyền thông của các nước tư bản, báo chí truyền thông là ngành công nghiệp cung cấp “nội dung thông tin giải trí” (media content) cho khách hàng Đây là ngành công nghiệp nhằm “sáng tạo ra một sản phẩm trí tuệ”, “đóng gói” và “tối đa hóa lợi nhuận bằng cách phân phối/bán sản phẩm đó càng nhiều lần càng tốt, cho đối tượng công chúng càng đông đảo càng tốt với giá cao nhất có thể” (Doyle 2005, tr.18) Và ở các nước đó, trong ngành công nghiệp truyền hình ở cả ba công đoạn nêu trên đều có yếu tố “xã hội hóa”, nghĩa là có sự tham gia của các tổ chức cá nhân khác trong xã hội, không chỉ có các đài truyền hình Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình hình chính trị- kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia

mà mức độ “xã hội hóa” ở từng công đoạn là khác nhau

Trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa, mô hình phát triển báo chí truyền thông có nhiều khác biệt với mô hình phát triển báo chí và truyền thông ở Việt nam Nhưng tựu trung, ngành truyền thông ở các nước này hầu hết phát triển dựa trên cơ

Trang 10

Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học, khóa luận và luận văn tìm hiểu về lĩnh vực truyền hình Xét riêng về hoạt động xã hội hóa trong

lĩnh vực truyền hình, có thể kể đến khóa luận “Bước đầu nghiên cứu vấn đề xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam” do tôi (Nguyễn Thị Tuyết Nhung) thực hiện và bảo

vệ thành công vào tháng 6 năm 2007 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đây là một trong những công trình khoa học ở cấp tương đương, lần đầu tiên nghiên cứu

về lĩnh vực này Tuy nhiên, khóa luận chỉ tập trung khảo sát chương trình “Làm giàu không khó” trên kênh VTV1 (Đài Truyền hình Việt Nam) từ tháng 1 đến tháng

5 năm 2007 Mặc dù khóa luận đã cố gắng chỉ ra ưu, nhược điểm của chương trình

“Làm giàu không khó”, cũng như một số bất cập trong quá trình truyền hình bắt đầu thực hiện xã hội hóa, nhưng đây mới chỉ là nghiên cứu bước đầu, ở quy mô nhỏ của một chương trình gameshow

Khóa luận Tốt nghiệp Đại học của Nguyễn Thanh Hà mang tên: Vấn đề xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình (Khảo sát các chương trình:

“Đuổi hình bắt chữ”, “Hộp đen”, “Cơ hội 999” từ tháng 1 đến hết tháng 8 năm 2009) bảo vệ tại Khoa Báo chí Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009) cũng đưa ra một số vấn đề mang tính chất khai phá về xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Đài Truyền hình Hà nội Các nội dung chủ yếu là: Một số chủ trương về Xã hội hóa các lĩnh vực trong đời sống

xã hội; thực trạng xã hội hóa sản xuất ba chương trình của Đài Truyền hình Hà Nội (đưa ra xuất xứ, hình thức sản xuất, luật chơi và cách chơi, ý kiến phản ứng của khán giả); đánh giá một số thành công và hạn chế của các chương trình trên; đưa ra một số giải pháp chung cho thúc đẩy xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Trang 11

hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình ở một đài truyền hình cấp tỉnh

Bên cạnh đó, có một số bài tham luận tại các hội thảo về xã hội hóa truyền hình như hội thảo tại Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (tổ chức ngày 05/01/2006 tại Nha Trang- Khánh Hoà) và lần thứ 26 (tổ chức ngày 11/01/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh) hoặc một số bài nghiên cứu đăng tải trên các báo và tạp chí trung ương và địa phương cũng đề cập đến vấn đề này Tuy có một số bài viết gần gũi với hướng nghiên cứu của đề tài, nhưng cho đến nay, chưa có một công trình khoa học ở cấp tương đương trùng lặp với ý tưởng nghiên cứu của chúng tôi Bởi vậy, đề tài hứa hẹn sẽ có nhiều đóng góp mới mẻ cho hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay

Phân tích thành công và hạn chế của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình dưới các bình diện: về kinh tế báo chí, về chất lượng chương trình,

về việc đa dạng hóa sản phẩm truyền thông đáp ứng nhu cầu của công chúng

Cuối cùng, đề tài nhằm mục đích đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

chất lượng việc XHH sản xuất chương trình truyền hình

Nhiệm vụ

Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề xã hội hóa một số lĩnh vực trong đời sống như y tế, giáo dục, thể dục thể thao, văn hóa,

Trang 12

Khảo sát đánh giá ý kiến của khán giả truyền hình đối với một số chương trình truyền hình có yếu tố XHH

Đề xuất những giải pháp và kiến nghị để thúc đẩy việc xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Đài truyền hình Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Đề tài sẽ sưu tầm, hệ thống các

văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí truyền thông, đặc biệt là lĩnh vực truyền hình Các tài liệu cụ thể là: Luật báo chí năm 1989

và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1992 Các văn bản quy phạm pháp luật: Nghị quyết Đại hội TW 5 khóa X của Ban chấp hành Trung ương Đảng về Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; Nghị quyết 90/CP (ngày 21/8/1997) của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các

hoạt động giáo dục, y tế và văn hoá; Nghị định 73/1999/NĐ-CP về chủ trương xã

hội hoá giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao; Thông tư số 19/2009/TT-BTTT 28/5/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông; Quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh và truyền hình

Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tư liệu, tài liệu, các luận văn và khóa luận liên quan đến đề tài Các bài báo liên quan tới vấn đề luận văn nghiên cứu trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở trung ương và địa phương

- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Đối tượng chịu tác

động trực tiếp, đối tượng hưởng lợi nhiều nhất của các chương trình truyền hình là

Trang 13

11

công chúng Hiệu quả đầu tiên cần được nghiên cứu của một chương trình truyền hình là hiệu quả truyền thông của nó Do vậy, đề tài thực hiện một điều tra xã hội học có quy mô nhỏ để đánh giá hiệu quả, chất lượng các chương trình truyền hình được xã hội hóa thông qua ý kiến của công chúng Cuộc điều tra được thực hiện bảng hỏi phát ra cho 300 mẫu là đối tượng học sinh sinh viên và công nhân viên chức đang sống và làm việc trên địa bàn thủ đô Hà Nội Các số liệu điều tra xã hội học bằng bảng hỏi thu được có giá trị cho nhóm mẫu này Trong thực tế, mẫu nghiên cứu còn nằm trong nhiều đối tượng khác, nhiều cộng đồng dân cư, khu vực địa lý… của thủ đô Hà nội Tuy nhiên, các nhóm mẫy này sẽ được khảo sát ở các nghiên cứu xã hội học khác, phục vụ các đề tài nghiên cứu khác phù hợp hơn

- Phương pháp quan sát trực tiếp: Do người thực hiện đề tài là cộng tác

viên tại Đài Truyền hình Việt Nam, nên tôi có điều kiện tiếp xúc, quan sát, tìm hiểu, tiếp cận thực tế sản xuất chương trình truyền hình, đă ̣c biê ̣t là các ch ương trìn h truyền hình có yếu tố xã hội hóa để phân tích, đánh giá, tìm ra sự đa dạng trong quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình, đồng thời, phát hiện những khó khăn, thuận lợi, thành công và hạn chế của các chương trình cụ thể

- Phương pha ́ p nghiên cứu trường hợp: Đề tài lựa chọn kênh truyền hình

để nghiên cứu là kênh VTV1

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Ngoài ra, người thực hiện đề tài sẽ

tiến hành gặp gỡ và phỏng vấn các nhà quản lý của Đài Truyền hình Việt Nam (như nguyên Phó Tổng giám đốc Trần Đăng Tuấn, mô ̣t số lãnh đạo các công ty truyền thông tham gia công tác xã hội hóa truyền hình như: Giám đốc công ty Motion Media; Giám đốc Công ty Truyền thông Đất Việt; Giám đốc Công ty Chu Thị ) Ngoài ra chúng tôi còn phỏng vấn một số nhà nghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam để tìm hiểu, thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia về vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như khảo sát, phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, suy luận…

Trang 14

12

5 Phạm vi nghiên cứu

Do khuôn khổ của luận văn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề XHH sản xuất chương trình ở Đài Truyền hình Việt Nam, khảo sát trên kênh VTV1- kênh Thời sự chính tri ̣ tổng hợp của Đài Truyền hình Viê ̣t Nam , từ thời điểm tháng 1 năm 2010 tới hết tháng 05 năm 2011

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đề tài là chỉ ra một cách hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, giải đáp những vấn đề cơ bản trong lý luận về xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình như: Xã hội hóa truyền hình là gì? Các hình thức của xã hội hóa truyền hình? Thực trạng xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam hiện nay; Hiệu quả của kinh tế và xã hội của xã hội hóa truyền hình?

Đề tài nhằm phát hiện và đưa ra một số giải pháp để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện xã hội hoá truyền hình Từ đó kiến nghị các giải pháp hợp lý cho phát triển xu hướng này, đặc biệt là ở kênh VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam

Đồng thời đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích về vấn đề này cho các đơn

vị, cá nhân làm truyền hình, tham gia công tác XHH truyền hình, hoặc giảng dạy về truyền hình

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục; luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và diện mạo của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng và hiệu quả kinh tế của hoạt động xã hội hóa sản xuất ba chương trình truyền hình “Năng lượng cho Phát triển đất nước” , “S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” và trên kênh VTV1

Chương 3: Hiệu quả xã hội và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Đài Truyền hình Việt Nam

Trang 15

Từ sớm, Các Mac (Karl Marx) và V.I Lê-nin (Vladimir Ilyich Lenin) đã đưa

ra quan điểm về xã hội hóa nhưng lại chỉ tập trung nghiên cứu về xã hội hoá tư liệu sản xuất trong chế độ xã hội chủ nghĩa

Quan điểm về xã hội hoá của Các Mac: Từ “xã hội hoá” theo truyền thống

có hai nghĩa chính, một nghĩa nhìn từ phía chủ nghĩa tư bản, một nghĩa nhìn từ phía nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Xã hội hoá theo Các Mac là: “sự tiến xa hơn nữa của quá trình xã hội hoá lao động… thành khai thác xã hội, và do đó, là tư liệu sản xuất chung” và hai là “sự tiết kiệm mọi tư liệu sản xuất trong sử dụng như là tư liệu sản xuất của lao động tập thể, xã hội hoá” cho phép chúng ta hình dung từ “xã hội hoá” theo nghĩa mặt biểu hiện của lao động tập thể, đã thành đơn vị đo đếm được, tập hợp được, phân phối được, trả lương hàng loạt được, trên binh diện toàn xã hội (hay toàn cầu), và vì thế có thể khai thác hay bóc lột được Tiến trình xã hội hoá lao động bao gồm sự biến dạng lao động đơn thuần thành lao động với tư cách tư liệu sản xuất chung, tập thể Vậy, “xã hội hoá lao động” gồm việc biến cá thể độc lập thành chỉ còn một mặt biểu hiện đơn thuần của con người toàn diện (50)

Quan điểm của V.I Lê-nin về xã hội hoá: Nghĩa thứ hai của từ “xã hội

hoá” theo V.I Lê-nin cũng vẫn đặt trên cơ sở mặt biểu hiện cấp cao của lao động/tư liệu sản xuất trên bình diện toàn xã hội trong giai đoạn nhà nước thay mặt xã hội làm chủ, tổ chức lao động, quản lý sản xuất, “kiểm kê và phân phối hợp lý” tư liệu sản xuất xuyên qua luật pháp và chính trị, toàn phần hay gần toàn phần V.I Lê-nin viết: “Khi chúng ta vẫn còn trong khuôn khổ sản xuất hàng hoá và tư bản chủ nghĩa, bãi bỏ tư hữu đất đai là quốc hữu hoá đất đai Từ „xã hội hoá‟ chỉ biểu lộ khuynh hướng, ước mơ, một bước sửa soạn tiến tới chủ nghĩa xã hội.” (trích trong

Subservience to the bourgeoisie in the guise of “economic analysis” (50)

Trang 16

Theo GS.TS Võ Tòng Xuân- Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học An giang:

“Vấn đề xã hội hoá suy cho cùng là khuyến khích nhân dân bỏ vốn đầu tư vào

những chương trình công cộng Gần đây Chính phủ từ Trung ương đến các địa phương muốn đẩy mạnh xã hội hoá những lãnh vực mà Nhà nước không đủ sức đầu

tư như y tế, giáo dục, cầu đường nông thôn Bên cạnh đấy, lòng từ thiện của dân chúng cũng luôn luôn được khơi dậy mỗi khi thiên tai xảy đến các vùng lãnh thổ”(51) Trong bài viết này tác giả đề cập tới một quan niệm khác về xã hội hoá: Các hoạt động xã hội hoá được thực hiện dưới hình thức từ thiện Tức là, thay vì hoạt động nhà nước trong các chương trình kinh tế xã hội người ta kêu gọi các cá nhân và tổ chức trong xã hội làm việc thiện Bản chất của các hoạt động này vẫn là huy động nguồn lực của xã hội vào các lĩnh vực thay vì sử dụng vốn Nhà nước

Theo Từ điển tiếng Việt, “xã hội hoá” nghĩa là : Làm cho trở thành của chung của xã hội (34, tr1140)

Tuy nhiên, có người hiểu xã hội hoá nghĩa là: xã hội góp tiền vào để làm việc

gì đó trong một lĩnh vực nào đó Thông thường người ta hiểu “xã hội hoá” một cách phiến diện về lý luận, hàm nghĩa là: biến một trách nhiệm nào đó thành trách nhiệm

Trang 17

15

chung của xã hội Thực ra đây chỉ là một trong rất nhiều nghĩa của từ này “Một số người cho rằng, xã hội hóa là tạo điều kiện cho quá trình phát triển tư nhân mà không chú trọng đến mục tiêu và định hướng xã hội” (52) Một ví dụ tiêu biểu của

sự nhầm lẫn có thể nhắc đến như sau: giáo dục ở Việt Nam vốn là nhà nước lo, thì

“xã hội hoá giáo dục” nghĩa là mọi người phải tự trả phí

Trong tiếng Anh, từ socialize có hậu tố ize” bắt nguồn từ hậu tố iser”, izare”, “-izein” trong tiếng Pháp cổ, tiếng Latin và tiếng Hi Lạp; dịch ra tiếng Việt,

“-nó mang nghĩa “hóa” Vậy, về ngữ nghĩa chân phương nhất, hiểu theo kiểu bổ ngang bổ dọc chữ ra thì xã hội hóa có nghĩa là làm cho trở nên giống như xã hội, hòa nhập vào với xã hội

Chúng ta thường dịch xã hội hoá là socialize, có một cách khác để dịch từ này ra tiếng Anh là mobilizing (nghĩa là huy động, động viên, làm cho ai/cái gì trở nên sẵn sàng phục vụ cộng đồng) Như vậy, xã hội hoá còn được hiểu là huy

động, động viên, ai hoặc cái gì đó vào những lĩnh vực hoạt động của xã hội Với ví

dụ về ngành giáo dục, xã hội hoá theo nghĩa này, xã hội hoá giáo dục không phải là đóng tiền để làm giáo dục mà là huy động mọi người tham gia làm giáo dục

Vậy xã hội hoá là gì?

Hiện nay còn rất nhiều ý kiến tranh luận về cụm từ xã hội hoá Mỗi người đưa ra quan điểm về xã hội hoá dưới góc nhìn của mình với các đối tượng xã hội hoá khác nhau Tuy nhiên, trong luận văn này, thừa nhận cách hiểu xã hội hoá là huy động nguồn lực của cả xã hội vào một lĩnh vực, một hoạt động nào đó, mà trước kia chỉ có các đơn vị nhà nước tham gia

1.1.2 Xã hội hoá trong lĩnh vực báo chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng

Với cách hiểu trên, xã hội hoá báo chí là huy động các nguồn lực xã hội vào hoạt động báo chí Xã hội hoá trong lĩnh vực báo chí truyền thông là khái niệm rất rộng: bao gồm xã hội hoá sáng tạo tác phẩm báo chí, xã hội hoá công tác phát hành báo chí Trong đó xã hội hoá sáng tạo tác phẩm báo chí, hoặc xã hội hoá “làm báo”

Trang 18

Hiện nay chúng ta đã và đang được nghe nhắc nhiều đến việc mua bản quyền các chương trình truyền hình- một xu thế chủ yếu thể hiện tính chuyên nghiệp của ngành truyền hình hiện đại, góp phần đưa truyền hình của ta tiến kịp và hội nhập với trình độ của thế giới Đài Truyền hình, khi đó không phải “ôm đồm” toàn bộ các khâu sản xuất chương trình mà thay vào đó có thể đặt hàng một số đơn vị bên ngoài (chuyên làm về một lĩnh vực nào đó của truyền hình) hoặc phối hợp với họ để tổ chức sản xuất chương trình Điều đó có được là do ngày càng có nhiều các đơn vị bên ngoài kể cả nhà nước và tư nhân có khả năng đảm nhiệm một phần hoặc toàn toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình Và đài truyền hình

có thể tiếp nhận các chương trình đủ tiêu chuẩn để có thể phát sóng

Thực chất, vấn đề kinh tế và nhân lực là hai yếu tố chi phối chủ yếu quá trình

xã hội hoá sản xuất truyền hình của nước ta Ở một khía cạnh nào đó, các đơn vị ngoài đài truyền hình nếu có nhu cầu đều có thể lập công ty, phát triển tổ chức sản xuất chương trình truyền hình, chỉ miễn sao đảm bảo vấn đề vốn và nhân lực hoạt động Về phía các đài truyền hình, muốn đặt hàng chương trình nào đó để phát sóng cũng cần phải có sự đảm bảo về kinh phí Tuy nhiên, cốt lõi của vấn đề xã hội hoá

sản xuất chương trình truyền hình không phải là tiền mà là sự huy động nguồn lực

(vốn và nhân lực) của các đơn vị, tổ chức, cá nhân không thuộc đài truyền hình tham gia vào quá trình sản xuất chương trình; nhằm giảm bớt áp lực cho các đài truyền hình cũng như tạo hiệu quả tốt cho các chương trình truyền hình Và tất

cả các yếu tố này phải hướng đến một mục tiêu là nâng cao chất lượng các chương trình thu hút sự quan tâm và ủng hộ của công chúng

Trang 19

17

Như vậy, xã hội hoá truyền hình là tạo những điều kiện tốt nhất để cho các tổ chức cá nhân có thể hợp tác bình đẳng với các đài truyền hình để sản xuất chương trình truyền hình Tuy nhiên, khi đó các đài truyền hình phải sẵn sàng và chấp nhận cạnh tranh với các đối tác không nằm trong hệ thống truyền hình hiện nay

Xã hội hoá truyền hình khác với tư nhân hoá, thương mại hoá lại càng không phải là “chia lô bán sóng truyền hình” Nhiều người đã hết sức lo ngại về hệ quả xu thế này Quan niệm cho rằng thực chất đây có phải là tư nhân hoá truyền hình, là thương mại hoá báo chí, là “bán sóng truyền hình” là chưa chính xác

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa

“Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu.” [(1), tr 3, mục IV.4] “Xã hội hoá” tiêu biểu bằng loại doanh nghiệp cổ phần Trong nghĩa “xã hội hoá sở hữu” doanh nghiệp cổ phần có nhiều người góp vốn làm cổ phần viên, bầu theo số cổ phiếu

“Đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương pháp giáo dục theo hướng

„chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa‟, nâng cao chất lượng dạy và học” [(1),tr 3]

Từ “xã hội hoá” ở đây được dùng với nghĩa huy động nguồn lực của toàn dân vào hoạt động của các lĩnh vực này Như vậy, xã hội hoá là việc đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện trong nhiều lĩnh vực mà trước hết là trong sản xuất kinh doanh và trong y tế giáo dục Tuy nhiên hình thức xã hội hoá đối với mỗi ngành lại

có sự khác biệt tuỳ theo đặc trưng của từng ngành

Từ giữa những năm 1990 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết… mở đường cho hoạt động xã hội hóa một số lĩnh vực trong đời sống xã hội, cụ thể là: Nghị quyết 90/CP (ngày 21/8/1997) về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và văn hoá của Chính phủ; Nghị định 73/1999/NĐ-CP về chủ trương xã hội hoá giáo dục, y tế, văn

Trang 20

18

hoá, thể thao; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao Những định hướng này đã tạo động lực mạnh mẽ cho việc xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục,

y tế, văn hóa, thể dục thể thao, thu hút và huy động được nhiều nguồn lực của các đơn vị, cá nhân trong xã hội vào tham gia vào các hoạt động này

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí truyền thông

Sau thời gian triển khai Nghị quyết 90/CP, công tác xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao đã thu được những kết quả quan trọng , tuy nhiên việc xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa được triển khai một cách thận trọng Riêng trong lĩnh vực phát tha nh-truyền hì nh, phải đến năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP (ngày 18/04/2005) về đẩy ma ̣nh viê ̣c xã hô ̣i hóa các hoạt động giáo dục , y tế, văn hóa và thể du ̣c thể thao ; viê ̣c xã hô ̣i hóa phát thanh - truyền hình mới phát triển một cách rõ nét và mạnh mẽ

Văn bản quy phạm pháp luật mới nhất về lĩnh vực này cho tới nay là Thông

tư số 19/2009TT-BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình Phát thanh, truyền hình Văn bản này có quy định cụ thể, chi tiết những quy định về phạm vi, nghĩa vụ, quyền hạn của các bên tham gia liên kết, các dạng hình thức liên kết, các chương trình không được tham gia liên kết…Cụ thể như sau:

Đối tác liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình là tổ chức có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh đang hoạt động theo pháp luật Việt Nam tham gia hợp tác với các đài phát thanh, truyền hình để tạo ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết

Quyền lợi của đối tác thực hiện việc liên kết sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình được trả bằng quyền lợi từ hoạt động quảng cáo, tài trợ hoặc từ nguồn thu phí phát thanh, truyền hình theo một phương thức nhất định khi phát sóng chính sản phẩm liên kết của đài phát thanh, truyền hình

Trang 21

19

Hình thức hoạt động liên kết có thể là Trao đổi bản quyền chương trình hoàn chỉnh; trao đổi bản quyền định dạng chương trình; tổ chức sản xuất chương trình hoặc một phần chương trình; hoặc tổ chức sản xuất toàn bộ kênh chương trình

Tuy nhiên, không thực hiện hoạt động liên kết đối với các chương trình phát thanh, truyền hình thời sự, chính trị Đối với các đài phát thanh, truyền hình có từ

02 (hai) kênh chương trình quảng bá trở lên, phải xác định 01 (một) kênh thời sự - chính trị tổng hợp; và các chương trình thực hiện hoạt động liên kết trong kênh thời

sự - chính trị tổng hợp không được vượt quá 30% (ba mươi phần trăm) tổng thời lượng chương trình phát sóng lần 1 (một) của kênh này

Đài phát thanh, truyền hình trước khi thực hiện hoạt động liên kết đối với các sản phẩm liên kết là kênh chương trình, chương trình định kỳ phải đăng ký với

Bộ Thông tin và Truyền thông

Hồ sơ đăng ký bao gồm các thông tin về tên, nội dung, định dạng chương trình, thời điểm, thời lượng, kênh phát sóng của sản phẩm liên kết; tên, địa chỉ và năng lực của đối tác liên kết, hình thức liên kết, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm xem xét và có văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận hoạt động liên kết Trường hợp không chấp thuận, Bộ Thông tin và Truyền thông phải nêu rõ lý do

Đài phát thanh, truyền hình chỉ được thực hiện hoạt động liên kết sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thông tin và Truyền thông

Thông tư được coi là văn bản mở đường cho việc liên kết một cách công khai, hợp pháp của các đài phát thanh truyền hình với các đơn vị khác

Trang 22

bộ số nhân lực này được chuyển về thuộc biên chế của Đài Truyền hình Việt Nam), chương trình “Lao động và công đoàn” hợp tác với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, chương trình “Truyền hình Vì an ninh Tổ quốc” phối hợp với Bộ Công an,

“Truyền hình Quân đội” phối hợp với Bộ Quốc phòng

Nguyên nhân chủ yếu của sự hợp tác này là những khó khăn về tài chính của Đài truyền hình khi mới thành lập và các ngành có nguyện vọng tham gia làm truyền hình để tuyên truyền về hoạt động của tổ chức mình Các hình thức xã hội hoá này dần dần được kết thúc theo hai hướng: một số chuyên mục chuyển hẳn về Đài Truyền hình Việt nam quản lý (như chương trình “Phụ nữ”, “Lao động và Công đoàn”…), một số khác đi theo hướng chuyên nghiệp, chủ động tổ chức sản xuất, chỉ gửi chương trình phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam (“Truyền hình Thanh niên”, “Truyền hình Vì trẻ em”, “Truyền hình Vì an ninh Tổ quốc”, “Truyền hình Quân đội Nhân dân”…)

Đứng trước tình hình mới của đất nước trong thời kì Đổi mới Đảng và nhà nước ta đã có những văn bản pháp luật quan trọng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của chính phủ ngày 16 tháng 1 năm 2002 qui định về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu và Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định này; Nghị định Số 43/2006/NĐ-CP ngày 24

Trang 23

21

tháng 5 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Là những đơn

vị sự nghiệp có thu, đối với Đài truyền hình Việt Nam nói chung và các Đài truyền hình trong hệ thống của cả nước nói chung đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển xu hướng và các hoạt động xã hội hoá truyền hình

Ở Việt Nam, xã hội hoá truyền hình manh nha và bắt đầu nở rộ vào cuối thập niên 90 của thế kỉ XX, do thời kỳ này nền kinh tế hàng hoá phát triển, nhu cầu quảng cáo cũng tăng lên Kinh tế thị trường cho phép hàng loạt các công ty tư nhân

về truyền thông, quảng cáo, các hãng phim tư nhân ra đời và hoạt động mạnh mẽ Nhờ có sơ sở pháp lý là các Nghị định nói trên, các Đài truyền hình mạnh dạn hơn trong việc thử nghiệm và thúc đẩy xã hội hoá truyền hình

Năm 2006, có 40 chương trình của VTV được xã hội hoá (theo số liệu công

bố tại Hội thảo Xã hội hoá truyền hình tháng 1/2006, trong khuôn khổ Liên hoan phim truyền hình toàn quốc lần thứ 25) Đến nay con số các chương trình được xã hội hoá đã tăng lên nhiều, đặc biệt là các chương trình văn hoá, giải trí

1.3.2 Sự tăng trưởng số lượng của hoạt động xã hội hóa truyền hình

Giai đoạn sau năm 2006 tới trước khi Việt Nam chịu ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái nền kinh tế thế giới (2009- 2010) là thời kỳ ghi nhận sự phát triển có thể gọi là “ bùng nổ” của các chương trình truyền hình xã hội hóa Theo thống kê chưa đầy đủ của các cơ quan chức năng, trên cả nước có tới 600 đơn vị có

đủ tư cách pháp nhân để tham gia sản xuất một phần hoặc toàn bộ chương trình truyền hình Trong đó phải kể đến các hãng phim tư nhân và các công ty truyền thông có tên tuổi như: Lasta, Thiên ngân, Thế giới Mới, BHD, FPT, TV Plus, Sunrise… Bên cạnh đó, còn hàng trăm công ty truyền thông nhỏ khác, tham gia hỗ trợ một phần trong các khâu đoạn khác nhau của sản xuất chương trình truyền hình Nhiều tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan quản lý cũng thành lập các đơn vị sự nghiệp có thu (theo tinh thần Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ) với chức năng tổ chức và liên kết sản xuất chương trình truyền hình Chỉ tính riêng Đài Truyền hình

Trang 24

22

Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) đã có tới 27 là đối tác sản xuất phim, Đài Truyền hình Việt Nam có 20 đối tác

Số lượng chương trình, cũng ngày một gia tăng Ở Đài truyền hình Việt Nam

từ 2006, số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa là 40, thì trong năm 2010 là khoảng 500 chương trình Và con số này hứa hẹn sẽ còn tăng cao hơn nữa trong thời gian tới, khi các công ty truyền thông tham gia một cách sâu sắc hơn nữa vào quá trình sản xuất, khai thác, cung ứng các chương trình truyền hình khác nhau cho đài truyền hình để phát sóng Các Đài truyền hình địa phương cũng nằm trong xu thế này, đặc biệt là các Đài của các tỉnh thành phố lớn như Hà nội, Thành phố Hồ chí Minh, Cần Thơ, Bình Dương, Đồng Tháp, Đồng Nai…

Bảng thống kê số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh sóng của Đài Truyền hình Việt Nam

Bảng 2.1: Số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh truyền hình quảng bá (Đơn vị: chương trình)

Trang 25

23

Hiện nay, các chương trình truyền hình xã hội hóa không chỉ nằm trong các kênh sóng quảng bá, mà còn xuất hiện nhiều trên các kênh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam Truyền hình cáp Việt Nam hiện nay có 15 kênh sóng: VCTV1 - Kênh giải trí tổng hợp, Phim Việt - Kênh phim việt, Thể thao TV - Kênh thể thao, VCTV4 - Kênh văn nghệ, Real TV - Kênh Truyền hình thực tế, VCTV6 - Kênh Khoa học và Giáo dục, VCTV7 - Kênh Phim truyện nước ngoài, Bibi - Kênh phim hoạt hình, Info TV - Kênh thông tin tài chính Kinh Tế và Thị trường chứng khoán, 02 TV - Kênh sức khỏe và cuộc sống, TV Shopping - Kênh bán hàng qua truyền hình, Style TV - Kênh phong cách sống, Invest TV - Kênh Truyền hình Đầu

tư, Bóng đá TV - Kênh chuyên bóng đá, Du lịch - Kênh Truyền hình về du lịch

Số lượng các chương trình xã hội hóa trên các kênh truyền hình trả tiền đang tăng dần Ngoài một số kênh xã hội hóa như O2TV, InforTV, Style –TV; các kênh truyền hình cáp khác từ chỗ chỉ sử dụng chủ yếu chương trình dạng khai thác (tiếp sóng hoàn toàn hoặc thu chương trình của nước ngoài và “bắn” phụ đề tiếng Việt) Kênh phim truyền hình Việt Nam- VCTV2 là kênh có số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa tương đối cao Đây là kênh có dạng chương trình truyền hình xã hội hóa đầu tiên được phát sóng với các phim do hãng phim tư nhân sản xuất Kênh thể thao, kênh phim hoạt hình và kênh phim truyện nước ngoài chủ yếu sử dụng các chương trình truyền hình khai thác

1.3.3 Đối tượng tham gia xã hội hóa

Các công ty truyền thông, công ty quảng cáo: Hiện nay có rất nhiều công

ty truyền thông tham gia vào hoạt động truyền hình Các công ty này hoạt động theo sản xuất nhiều dạng, nhiều phần khác nhau của một chương trình Một số công ty tiêu biểu là Công ty quảng cáo Đất Việt, Công ty Tổ chức sự kiện Việt, Công ty truyền thông BHD, Minh Quang, Hoàng Gia Media, Vietbook Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay trên cả nước có khoảng 600 công ty truyền thông có chức năng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình và hàng ngàn công ty khác tham gia các hoạt đông hỗ trợ sản xuất chương trình truyền hình

Trang 26

24

Các hãng phim tƣ nhân: Qui định 50% thời lượng phim trến sóng truyền

hình phải là phim Việt Nam khiến cho điện ảnh và phim truyền hình là lĩnh vực được xã hội hoá rất sớm Hiện nay lượng các hãng phim tư nhân và các công ty truyền thông tham gia sản xuất toàn bộ hoặc hợp tác sản xuất phim với các trung tâm sản xuất phim của Đài truyền hình đã lên tới con số hàng chục Từ một số phim truyền hình đầu tiên do tư nhân sản xuất được phát sóng từ năm 2005, cho đến nay

đã có tới hàng trăm phim được sản xuất theo phương thức này

Ba công ty Phước Sang, Ánh Việt, BHD đã bắt tay để sản xuất nên phim Áo lụa Hà Đông Phim này có được sự đón nhận nồng nhiệt từ phía khán giả Sau đó là Mười- một phim kinh dị cũng có chi phí lớn không kém cũng được sản xuất MT Pictures sản xuất bộ phim Tuyết nhiệt đới Lasta sản xuất và cho lên sóng đều đều mỗi ngày một tập phim hướng đến khán giả bình dân, ví dụ: “Mộng phù du”, “Nhịp đập trái tim”, “Chuyện tình yêu”, “Anh chỉ có mình em”, “Vòng xoáy tình yêu” cũng có một số lượng khán giả nhất định Các phim này được chiếu trên “Giờ vàng phim Việt” trên sóng HTV (Truyền hình thành phố HCM) Nhiều phim đã đạt giải trong các liên hoan phim trong nước và quốc tế

Các Cơ quan báo chí khác: Bao gồm Báo Mạng Điện tử và báo In như Thanh niên, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh và Vietnamnet Ban biên tập báo

điện tử VietNamNet đã thử nghiệm sản xuất các đoạn audio và videoclip từ năm

2003 Đến tháng 2/2004 Công ty phần mềm và truyền thông VASC đã chính thức thành lập bộ phận VietnamnetTV; tập trung nhân lực và tài lực sản xuất các nội dung đa phương tiện bổ trợ cho các bài viết trên báo điện tử Vietnamnet với các nội dung bao gồm âm thanh, hình ảnh động của các buổi phỏng vấn trực tuyến, bàn tròn trực tuyến, một số tin và phóng sự ngắn về các vấn đề xã hội tiến tới sẽ là các chương trình thời sự, tin tức, giải trí phục vụ mọi đối tượng bạn đọc qua Internet

Đặc biệt, các khán giả ở Hà Nội có cơ hội được xem các chương trình của VietnamnetTV qua hệ thống truyền hình cáp của Đài Truyền hình Hà Nội (HCTV), phát liên tục từ 8 giờ đến 24 giờ Về thời lượng các chương trình do VietnamnetTV: 30% là tự thực hiện, 70% còn lại là khai thác từ các nguồn khác VietnamnetTV

Trang 27

Các bộ, ngành: Hiện nay, nhiều bộ ngành cũng có tham gia hoạt động sản

xuất chương trình truyền hình Rõ rệt nhất phải kể tới trường hợp các chương trình

“Truyền hình Thanh niên” của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh, “Truyền hình Quân đội Nhân dân” của Bộ Quốc phòng, “Vì An ninh Tổ quốc” và “Văn hóa nghệ thuật Công an nhân dân” của Bộ Công an, “Truyền hình Công thương” của Bộ Công thương… Ngoài ra, phải kể đến Tổng cục Du lịch Việt Nam hợp tác với VTV thực hiện “Việt nam vẻ đẹp tiềm ẩn”- chương trình về du lịch, giới thiệu vẻ đẹp phong cảnh, tiềm năng đất nước con người Việt Nam giới thiệu trên kênh VTV1, hệ thống truyền hình cáp và kênh VTV4 ra khắp thế giới

“Truyền hình Vì trẻ em” của Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em là một minh chứng cho đối tượng xã hội hoá truyền hình này

1.3.4 Hình thức xã hội hóa

Đài truyền hình đặt hàng các chương trình với các đơn vị ngoài Đài:

Đơn vị ngoài Đài truyền hình thực hiện toàn bộ chương trình và “bán” cho các đài

để phát sóng Các đó đơn thực hiện toàn bộ các vấn đề có liên quan tới chương trình như: đề tài, tổ chức sản xuất, nội dung chương trình…Cho tới nay, VTV đã có nhiều chương trình truyền hình xã hội hoá kiểu “mua đứt, bán đoạn” như vậy: “Văn bản pháp luật”, “Hành trình Xanh”, “S Việt Nam- Hương vị cuộc sống”…

Các đơn vị ngoài Đài truyền hình tham gia vào một trong các khâu của

tổ chức sản xuất chương trình truyền hình, phối hợp với lực lượng nhân lực, thiết bị kĩ thuật của Đài: Đơn vị bên ngoài có thể tham gia tìm nguồn tài chính,

tìm mẫu kịch bản, phối hợp ở một hay nhiều khâu sản xuất chương trình…Bên cạnh

Trang 28

26

“Làm giàu không khó”, một ví dụ tiêu biểu của hình thức xã hội hoá này là chuơng trình “Sức sống mới” Đây là chương trình do VTV hợp tác với Công ty Truyền thông Chu thị để thực hiện Mọi hoạt động tổ chức sản xuất chương trình này được VTV giám sát và quyết định nội dung Năm 2011, một chương trình mới được phát sóng vào khung giờ 10h45 đến 11h hằng ngày cũng do Công ty Truyền thông Chu thị sản xuất là “7 ngày vui sống” được phát sóng từ tháng 5 Hoặc chương trình “Gõ cửa ngày mới” cũng do công ty TV- Plus đảm nhận toàn bộ qui trình sản xuất phối hợp cùng Ban Thời sự- Đài truyền hình Việt Nam, phát sóng trong chương trình

“Chào Buổi sáng” Về nội dung, chương trình luôn phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của VTV

Các đơn vị tổ chức, doanh nghiệp tham gia tài trợ cho việc sản xuất các chương trình truyền hình và ít nhiều có can thiệp tới nội dung và hình thức thể hiện của chương trình đó Tuy nhiên, sự can thiệp đó không sâu, đơn vị phối hợp

chỉ quan tâm tới vấn đề quảng cáo, quảng bá hình ảnh Họ không tham gia sản xuất chương trình mà chỉ quan tâm tới quyền lợi của họ là các quảng cáo (dưới các hình thức như spot, panel, logo tên nhà tài trợ, đọc tên nhà tài trợ trong chương trình, đưa slogan của nhà tài trợ vào chương trình, thực hiện những chương trình mang tính quảng bá cho hình ảnh, thương hiệu của nhà tài trợ và lĩnh vực mà họ hoạt động…)

Ví dụ tiêu biểu là chương trình “Tạp chí phụ nữ” (09/2006-03/2007), “Doanh nhân Việt Nam” (Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự), “Game Show Đấu trường 100”,

“Đối mặt” (Ban Thể thao Giải trí và Thông tin Kinh tế)

Như vậy, có thể nói trong quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền

hình, dù ở dưới dạng này hay dạng khác, tên gọi này hay tên gọi khác…thì việc huy động thêm các nguồn lực khác của xã hội vào sản xuất chương trình truyền hình đã được thực hiện từ lâu Từ năm 1997 tới nay, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành quy định ở các mức độ khác nhau những vấn đề liên quan tới tổ chức việc xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Thực tiễn đôi khi đi trước

lý luận và các văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, các cơ quan quản lý nhà nước cũng đã có nhiều cố gắng trong việc nắm bắt và ban hành kịp thời các văn bản

Trang 29

27

để điều chỉnh các hoạt động này Ở Việt Nam, cho tới nay chúng ta vẫn chưa thừa nhận sự tồn tại của báo chí tư nhân, nhưng việc liên kết với tư nhân để sản xuất các chương trình truyền hình đã từng bước được thừa nhận về mặt pháp lý Điều quan trọng là phải nghiên cứu để thấy rõ hiệu quả kinh tế và tác động về mặt xã hội của hoạt động này nhằm có những điều chỉnh kịp thời trong thực tiễn

1.4 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

1.4.1 Hiệu quả kinh tế của xã hội hóa truyền hình trong khuôn khổ luận

văn này được trên cơ sở xem xét để cùng thực hiện nhiệm vụ sản xuất chương trình truyền hình, nếu sử dụng hình thức xã hội hóa (liên kết với các đơn vị tư nhân để sản xuất chương trình) thì các Đài sẽ tiết kiệm được những hạng mục chi phí nào Theo quy định của Nhà nước thì ngày nay với nhiều hình thức khác nhau, các cơ quan báo chí được xác định là đơn vị sự nghiệp có thu Tuy nhiên, theo Luật Báo chí, cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và là diễn đàn của quần chúng nhân dân Cơ quan báo chí không phải là

cơ quan kinh doanh do vậy, xã hội hóa truyền hình là hoạt động nhằm mục tiêu tiết kiệm nhiều hơn là mục tiêu thu lợi nhuận Nếu xem xét hiệu quả hoạt động này thông qua so sánh chi phí sản xuất của hai chương trình cụ thể sẽ đem tới các nhìn phiến diện do cách thức hoạt động của đài truyền hình và các đơn vị tư nhân tham gia liên kết là rất khác nhau

1.4.2 Hiệu quả xã hội của xã hội hóa truyền hình được xác định ở hai mức

độ khác nhau Mức độ đơn giản là các chương trình truyền hình xã hội hóa đã thu hút sự quan tâm và đánh giá về chất lượng của chương trình và các yếu tố liên quan tới xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của người xem Mức độ cao hơn là các chương trình này tác động làm thay đổi hành vi của người xem truyền hình Mục tiêu cao nhất của truyền thông đại chúng là sự thay đổi nhận thức dẫn tới thay đổi hành vi Tuy nhiên, trong giới hạn về dung lượng và thời gian thực hiện luận

Trang 30

28

văn, chúng tôi chỉ cố gắng nghiên cứu hiệu quả của xã hội hóa truyền hình ở mức

độ đơn giản: sự quan tâm và đánh giá của người xem về sự quan tâm và đánh giá về chất lượng của chương trình và các yếu tố liên quan tới xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của người xem thông qua một cuộc điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên quy mô nhỏ như đã trình bày ở trên

Trang 31

29

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT BA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

“NĂNG LƯỢNG CHO PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC”,“S VIỆT NAM- HƯƠNG

VỊ CUỘC SỐNG” VÀ “7 NGÀY VUI SỐNG” VÀ TRÊN KÊNH VTV1

2.1 Giới thiệu chung về các chương trình “Năng lượng cho Phát triển đất nước”, “S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” và trên kênh VTV1

2.1.1 Chương trình Năng lượng cho phát triển đất nước

“Năng lượng cho Phát triển đất nước” là chương trình truyền hình thuộc dạng Bản tin chuyên ngành được phát sóng với thời lượng 5 phút/số vào 21h30 các ngày từ thứ 2 tới thứ sáu hàng tuần trên kênh VTV1, 17h30 trên VTV3 và 3h sáng trên VTV4 Đây là chương trình được sản xuất dưới hình thức xã hội hóa do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) và Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp thực hiện Kinh phí thực hiện giai đoạn đầu của chương trình là 20 tỷ VNĐ/ năm Chương trình được bắt đầu lên sóng vào ngày 15 tháng 7 năm 2010 Cho tới hết tháng 5 năm 2011, số lượng các chương trình phát sóng đã lên tới hơn 180 số

Bản Đề án xây dựng chương trình đã nêu rõ: Bản tin “Năng lượng cho Phát triển đất nước phát sóng” trên kênh VTV1 được xây dựng nhằm nghiên cứu tổng thể các dữ liệu thông tin, tình hình thực tế, phân tích khả năng phát triển một kênh thông tin chuyên biệt cho Tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam Được sản xuất bằng thể loại phóng sự thực tế ra đời với tư cách là hoạt động truyền thông thực tiễn cho các định chế tài chính của PVN, hỗ trợ tư vấn cho người tiêu dùng và doanh nghiệp cách thức đầu tư hiệu quả Chương trình hội tụ được ba yếu tố: thông tin, giáo dục

và định hướng giải trí Chương trình mang tính chất chuyên biệt về định hướng thị trường nhằm tôn vinh thương hiệu và chứng minh được sự phát triển ổn định của Tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam

Bản tin phản ảnh về vấn đề năng lượng chuyên biệt ra đời sẽ nhấn mạnh hơn nữa tầm ảnh hưởng của thương hiệu PVN, đi sâu vào vấn đề trọng tâm của nền kinh

tế Việt Nam Đây là cơ hội để quảng bá một cách tổng thể và toàn diện nhất hình

Trang 32

30

ảnh và uy tín của PVN trên thương trường và trong toàn xã hội Đây là kênh thông tin truyền thông truyền tải định hướng chính xác của PVN, giải tỏa những bất cập hiện tại, gia tăng vị thế trên thị trường quốc tế, dễ dàng tiếp cận đầu tư nước ngoài

Mục tiêu của chương trình là trở thành một trong những bản tin thời sự hấp

dẫn nhất trong ngày với các nội dung thông tin, các chỉ số năng lượng cập nhật nhất Trở thành mô hình hợp tác tiêu biểu giữa VTV với các tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam; Phục vụ xây dựng hình ảnh và quảng bá thương hiệu cho PVN, và mang lại cho đông đảo khán giả truyền hình một kênh thông tin bổ ích, góp phần phổ biến

và nâng cao nhận thức của xã hội đối với hoạt động của Tập đoàn; chương trình sẽ thu hút đông đảo người xem, tạo cơ sở tốt để kinh doanh trong lĩnh vực truyền hình, đặc biệt là kinh doanh tài trợ - quảng cáo, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn cũng như của các công ty thành viên…

Đối tượng khản giả mục tiêu: Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những

biến động trong chỉ số năng lượng nói riêng và kinh tế nói chung, các doanh nghiệp, tầng lớp trí thức, thế hệ trẻ, kiều bào ở nước ngoài, các nhà lãnh đạo và nhà quản lý

Định hướng nội dung chương trình: Xuất phát từ slogan của Tập đoàn

“Năng lượng cho Phát triển đất nước”, Bản tin được định hướng để phát triển trở thành một kênh thông tin có ảnh hưởng lớn trong đời sống, theo hướng cung cấp các thông tin kinh tế xã hội, chỉ số năng lượng bổ ích hấp dẫn, có vai trò như một nguồn cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về năng lượng cho số đông công chúng Chương trình đề cập toàn diện tới nhiều vấn đề trọng tâm của ngành Dầu khí Việt Nam như: tình hình sản xuất và khai thác năng lượng thế giới và trong nước; vai trò của năng lượng; an ninh năng lượng trên biển Đông; năng lượng với việc kìm chế lạm phát; bình ổn giá cả, an sinh xã hội (nhấn mạnh tính chất đặc thù của lao ngành dầu khí); những đóng góp của của ngành dầu khí với phát triển kinh tế đất nước…

Cũng trong bản đề án này, VTV và PVN đã đưa ra hình thức hợp tác xây dựng và sản xuất chương trình “Năng lượng cho phát triển đất nước” Chương trình được phát trên kênh VTV1 với thời lượng phát sóng 5 phút/số với mục tiêu đưa

Trang 33

31

chương trình thành kênh thông tin mang đặc trưng tin tức chuyên ngành và tương tác mang dấu ấn đặc thù của ngành dầu khí

Phạm vi phát sóng: Toàn quốc

Quy trình sản xuất: VTV là đơn vị chủ đạo kết hợp hoạt động của các đơn

vị ngoài Đài (xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình)

Nhân sự: Nhân lực để phục vụ sản xuất “Năng lượng cho Phát triển đất

nước” cần ít nhất 10 người do Ban thời sự VTV làm nòng cốt, cùng với sự hỗ trợ thông tin từ phía PVN đồng thời kết hợp với các đơn vị tham gia xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Như vậy, PVN vừa là đơn vị tài trợ kinh phí cho hoạt động sản xuất vừa là đầu mối cung cấp thông tin chuyên sâu về các vấn đề phát triển của lĩnh vực năng lượng nói chung và ngành dầu khí nói riêng VTV là đơn vị nòng cốt trong xây dựng và duy trì hoạt động của chương trình VTV không chỉ dành nguồn nhân lực của Ban Thời sự cho việc sản xuất chương trình, các đơn vị tham gia xã hội hóa truyền hình cũng được huy động để tham gia vào quy trình sản xuất chương trình truyền hình Trong quá trình thực hiện bản tin từ tháng 7 năm 2010 tới nay, các đơn

vị xã hội hóa này góp phần lớn vào quy trình sản xuất chương trình, giúp chương trình “chạy‟ đều trên sóng Chưa có trường hợp nào nhà sản xuất không cung cấp kịp băng để phát sóng

2.1.2 Chương trình „S Việt Nam – Hương vị cuộc sống‟

Tiếp nối thành công của chương trình truyền hình về chủ đề du li ̣ch “ Viê ̣t Nam vẻ đẹp tiềm ẩn”, Hãng hàng không Quốc gia Viê ̣t Nam (Vietnam Airlines) tiếp tục phối hợp với Đài Truyền hình Viê ̣t Nam VTV1, Công ty Truyền thông Ch uyển

đô ̣ng (Motion Media) và Công ty Truyền thông Vietpictures để cho ra đời phiên bản mới mang tên “S - Việt Nam – Hương vi ̣ cuô ̣c sống”

Định hướng nội dung chương trình: Chương trình gồm bốn hê ̣ thống chủ

đề lớn là: Ẩm thực, Lễ hội, Nghỉ dưỡng và Phượt nhằm mục đích giới thiệu vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, văn hóa Việt Nam trên khắp dải đất hình chữ S Chương

Trang 34

32

trình đươ ̣c đầu tư bài bản và kĩ lưỡng từ khâu lên format chương trình đến việc lựa chọn chủ đề và nhân vâ ̣t trải nghiệm Với sự tham gia cố vấn của đa ̣o di ễn người Pháp Daniel Roussel , “S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” đươ ̣c thực hiê ̣n theo phong cách truyền hình hiê ̣n đa ̣i , lôi cuốn, truyền tải mô ̣t cách chân thực và sinh

đô ̣ng nét đẹp muô n màu của đất nước Việt Nam cũng như cảm xúc của nhân vâ ̣t tham gia trải nghiê ̣m

“S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” là chương trình chuyên biệt về du lịch, vì vậy rất nhiều khuôn hình được trau chuốt để có những hình ảnh đẹp nhất, công phu nhất, thu hút người xem trải nghiệm khám phá Tuy nhiên, chương trình cũng lưu giữ được những khoảnh khắc thâ ̣t bình di ̣ , thân quen nhưng có sức lay đô ̣ng lòng ngườ i

Đối tƣợng khán giả mục tiêu: Những người ưa du lịch, ưa khám phá, các

hành khách của VietnamAirlines, những người dân Việt nam nói chung…

Phạm vi phát sóng: Chính thức lên sóng từ ngày 15/09/2010, chương trình

“S Việt Nam - Hương vị cuộc sống đươ ̣c” phát sóng liên tu ̣c trên kênh VTV 1 vào 19h55‟ các ngày thứ 2, thứ 4, thứ 6, Chủ nhật và phát lại vào 7h20‟ các ngày kế tiếp Từ ngày 04/04/2011, chương trình đổi giờ phát sóng và tăng thời lượng lên tất

cả các ngày trong tuần Hai số cuối tuần sẽ hé lộ cho khán giả những diễn biến hậu trường của đoàn làm phim và những tập phim sẽ phát sóng

Quy trình sản xuất: Công ty Truyền thông thực hiện dưới sự giám sát chặt

chẽ của VTV

Nhân sự: Ê-kíp thực hiện c hương trình mong muốn gia tăng hơn nữa tính

tương tác với khán giả thông qua viê ̣c mời khán giả tham gia chương trình vớ i t ư cách là nhân vật trải nghiệm , cũng như chia sẻ bài viết , cảm xúc của khán giả trên các trang thông t in điê ̣n tử chính thức của c hương trình (http:www.s-vietnam.com)

và đây cũng chính là chủ đề thứ năm trong hệ thống chủ đề của chương trình

Trang 35

33

2.1.3 Chương trình „7 ngày vui sống‟

Thế giới hiện đại đã tạo ra nhiều tiện nghi vật chất phục vụ đời sống Tuy nhiên, sự tiện nghi không chỉ mang lại giá trị tiện ích cho cuộc sống mà còn tạo ra những thay đổi không tích cực của đời sống xã hội và hoạt động cá nhân Sự thụ động của con người trong thế giới hiện đại dẫn đến chất lượng cuộc sống của mỗi người đang bị giảm sút, thêm nữa ý thức cá nhân và cộng đồng của mỗi người chưa cao Theo con số thống kê không chính thức,mỗi ngày có 31 người chết do tai nạn giao thông Khoảng 10 triệu dân Việt Nam đang có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường vì lối sống không lành mạnh, thiếu vận động và ăn uống không hợp lý Khoảng 10% dân số bị ngộ độc thực phẩm mỗi năm do nguồn nước nhiễm bẩn, rau

củ, trái cây chứa chì, dư lượng thuốc trừ sâu, ý thức vệ sinh kém trong quá trình chế biến…

Mục tiêu và định hướng nội dung chương trình: Hàng triệu người Việt

Nam đang phải đối mặt với nguy cơ bệnh về đường hô hấp do môi trường ô nhiễm, bụi bẩn và khí thải Làm sao để có thể sống khỏe, sống vui, sống khôn ngoan giữa những vấn đề bất ổn trong cuộc sống hàng ngày? Đó chính là lý do Đài truyền hình Việt Nam phối hợp cùng Công ty Chu Thị sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình “7 ngày vui sống” dành cho tất cả các khán giả xem truyền hình từ nông thôn đến thành thị, đặc biệt là những khán giả ở độ tuổi 25 – 45 luôn mong muốn học hỏi và khám phá để cuộc sống trở nên ngày càng hoàn hảo và tốt đẹp hơn

Phạm vi phát sóng: toàn quốc

Quy trình sản xuất: công ty Truyền thông Chu thị thực hiện sản xuất

chương trình, “đặt” sóng và kêu gọi quảng cáo

Định hướng nội dung: “7 ngày vui sống” với mỗi ngày là một thông điệp,

câu chuyện, thông tin để mỗi ngày sống vui và khỏe mạnh:

+ Thứ 2: Mua sắm thông minh: Những thông tin tư vấn về sức khỏe trong

mua sắm thực phẩm mỗi ngày, đồ dùng trong nhà, đồ chơi cho trẻ em, đồ dùng cá nhân trong sinh hoạt hàng ngày

Trang 36

34

+ Thứ 3: Kỹ năng sống khỏe: Các vấn đề về an toàn giao thông, lao động,

môi trường xung quanh con người, cuộc sống hàng ngày… Phân tích và hướng dẫn

an toàn lao động, quyền lợi bảo hiểm, lái xe an toàn, xử lý rác thải ra môi trường…

+ Thứ 4: Thực phẩm an toàn: Bao gồm những thông tin về các loại thực

phẩm, thức ăn chế biến, các chất dinh dưỡng, thành phần có hại, có lợi cho sức khỏe của mỗi cơ thể, mỗi căn bệnh….Ngoài ra còn có các thông tin về cách chế biến thức

ăn như thế nào sẽ có hại cho sức khỏe, cách khắc phục…

+ Thứ 5: Dƣợc phẩm đúng cách: Thông tin các loại thuốc trên thị trường,

thuốc kê toa, OTC, cách tự chữa bệnh của mỗi cá nhân, sức khỏe cá nhân, sức khỏe giới tính, tuổi dậy thì, sức khỏe trong sinh hoạt vợ chồng…

+ Thứ 6: Phong cách sống vui: Phong cách sống của cá nhân, thể dục thể

thao, chăm sóc tinh thần, hành vi ứng xử… của con người bao gồm( trẻ em, người già, người bệnh, phụ nữ, nam giới )

+ Thứ 7: Nhà cửa sạch xanh: Các vấn đề về sinh hoạt trong gia đình,

chung cư, xử lý rác, sử dụng nguồn điện, nước sinh hoạt, các thiết bị máy móc trong nhà, tình trạng nhà cửa…

+ Chủ Nhật: Đẹp mà vẫn khỏe: Việc làm đẹp cơ thể, khuôn mặt, tóc tai,

mỹ phẩm trang điểm, quần cáo, giày dép, thuốc làm đẹp, ăn uống, giấc ngủ, giải phẫu thẩm mỹ Các tác hại của việc làm đẹp không đúng cách Cách làm đẹp hiệu quả, an toàn cho sức khỏe…

“7 ngày vui sống” cung cấp cho khán giả xem truyền hình những thông tin hữu dụng và chính xác để xử lý một cách thông minh mọi tình huống, sống chủ động vui tươi mỗi ngày với các chuyên mục thú vị và hấp dẫn hấp trong chương trình như: cách chăm sóc bảo vệ sức khỏe, trang trí nhà cửa và làm đẹp, xây dựng

kỹ năng và phong cách sống hiện đại

“7 ngày vui sống” phát sóng hàng ngày từ Thứ Hai đến Chủ Nhật trên VTV1 lúc 10h45 – 11h, phát lại lúc 17h15 – 17h30 cùng ngày Thời lượng chương trình 15 phút Số đầu tiên của chương trình được phát sóng vào ngày 4/4/2011 MC chương trình: Thúy Hạnh (Người mẫu, MC Sức sống mới – VTV…), Đình Hiếu

Trang 37

35

(Diễn viên, MC Sức sống mới – VTV…), Bá Niên (MC Mr Vietnam 2010, Ca nhạc trực tiếp – BTV, Miền ký ức – BTV…), Thanh Điền (MC Yêu thương cuộc sống – HTV, Dù bạn ở đâu – VTV…), Lê Quí Bình (Diễn viên…)

2.2 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa

2.2.1 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa với sự tham gia của các công ty truyền thông tư nhân

Các chương trình truyền hình xã hội hóa hiện nay được tổ chức dưới nhiều hình thức phong phú Mỗi cách tổ chức sản xuất này phù hợp với các dạng quan hệ khác nhau giữa các đơn vị tham gia tổ chức sản xuất chương trình truyền hình

Dạng chương trình Đài Truyền hình đặt hàng các đơn vị truyền thông

tư nhân tổ chức sản xuất chương trình

Ở dạng chương trình này, Đài Truyền hình đưa ra ý tưởng và khoán toàn bộ quy trình sản xuất chương trình cho công ty truyền thông tư nhân tổ chức sản xuất Công ty đó tự tổ chức tiền kỳ và hậu kỳ chương trình Sau khi sản xuất hoàn thiện chương trình, băng đĩa chương trình sẽ được VTV duyệt và tổ chức phát sóng Các chương trình hiện nay chủ yếu được làm theo dạng này (ví dụ: “Thăng long ký sự”,

“Mê kông ký sự”, “Người Hà Nội”…) Tất cả các chương trình kể trên đều do Đài Truyền hình đặt hàng các đơn vị truyền thông tư nhân tổ chức sản xuất và chuyển sản phẩm cuối cùng phục vụ phát sóng

Trang 38

36

VTV: Đài Truyền hình Việt nam

CT TT: Công ty Truyền thông

Bảng 2.3 Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đài TH đặt hàng các đơn vị truyền thông tư nhân

Dạng chương trình đơn vị truyền thông tư nhân chủ động „đặt‟ sóng và

tổ chức sản xuất chương trình

Dạng chương trình này đòi hỏi tính chủ động cao hơn của các công ty truyền thông tư nhân Họ vừa là đơn vị đưa ra ý tưởng về tổ chức chương trình, book sóng các Đài truyền hình, xin tài trợ…Trong quá trình tổ chức sản xuất chương trình, tùy thuộc điều kiện khác nhau về kỹ thuật và kinh tế, các đơn vị này có thể phối hợp với Đài truyền hình trong một khâu nào đó thuộc tiền kỳ hoặc hậu kỳ tổ chức sản xuất Tuy nhiên, đơn vị truyền thông tư nhân vẫn đóng vai trò chủ yếu trong sản xuất

Trang 39

37

chương trình, còn Đài truyền hình đóng vai trò duyệt nội dung, phát sóng chương trình

VTV: Đài Truyền hình Việt nam CTTT: Công ty Truyền thông

Bảng 2.4.a Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đơn vị truyền thông tư nhân chủ động “đặt” sóng và sản xuất toàn bộ chương trình

DUYỆT

PHÁT SÓNG

Trang 40

38

VTV: Đài Truyền hình Việt nam

CTTT: Công ty Truyền thông

Bảng 2.4.b Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đơn vị truyền thông tư nhân chủ động „đặt‟ sóng và sản xuất một phần chương trình

2.2.2 Quy trình sản xuất các chương trình truyền hình “Năng lượng cho phát triển đất nước”, “S Việt Nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống”

- Lập kế hoạch (Lịch thực hiện chương trình): Người chịu trách nhiệm tổ

chức sản xuất của Ban Thời sự đưa ra lịch thực hiện nội dung cho mỗi tuần vào ngày cuối cùng của tuần trước đó Lịch này dựa trên số nội dung đã và đang khai thác được, cũng như phụ thuộc vào dòng thời sự chủ lưu trong thời gian đó có các nội dung liên quan tới năng lượng Điều này được thực hiện khá tốt và rõ nét, đặc

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2004), Tình hình phát triển và quản lý báo chí qua 20 năm đổi mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát triển và quản lý báo chí qua 20 năm đổi mới
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Năm: 2004
3. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao, Hội Nhà báo Việt Nam (2002), Tiếp tục thực hiện chỉ thị 22 CT-TW của Bộ Chính trị khóa VIII để đỏi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí xuất bản, NXB CTQG, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục thực hiện chỉ thị 22 CT-TW của Bộ Chính trị khóa VIII để đỏi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí xuất bản
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao, Hội Nhà báo Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2002
4. Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa Thông tin (1997), Kỷ yếu Hội thảo Báo chí- Xuất bản toàn quốc, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Báo chí- Xuất bản toàn quốc
Tác giả: Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa Thông tin
Nhà XB: Hà nội
Năm: 1997
6. Bộ thông tin và Truyền thông, Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009, quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009, quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh truyền hình
7. Bộ Văn hóa- Thông tin (2005), Tài liệu Hội nghị bàn về lĩnh vực Truyền hình trả tiền, Hà nội, 2006. Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị bàn về lĩnh vực Truyền hình trả tiền
Tác giả: Bộ Văn hóa- Thông tin
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2005
8. Phillip Breton, Serge Proulx (1996), Bùng nổ truyền thông- Sự ra đời của ý thức hệ mới, NXB Văn hóa- Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phillip Breton, Serge Proulx (1996), "Bùng nổ truyền thông- Sự ra đời của ý thức hệ mới
Tác giả: Phillip Breton, Serge Proulx
Nhà XB: NXB Văn hóa- Thông tin
Năm: 1996
9. Cac Mac và F. Ăngghen (1995), Cac Mac và F. Ăngghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cac Mac và F. Ăngghen toàn tập
Tác giả: Cac Mac, F. Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
11. Chính phủ, Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao
12. Đài Truyền hình Việt Nam (2005), Kỷ yếu 30 năm xây dựng và trưởng thành Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu 30 năm xây dựng và trưởng thành
Tác giả: Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2005
14. Eric Flkhtelius (2002), 10 bí quyết kỹ năng nghề báo (Bản dịch của Nguyễn Văn Dững, Hoàng Anh, Ngọc Oanh), NXB Lao động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 bí quyết kỹ năng nghề báo
Tác giả: Eric Flkhtelius, Nguyễn Văn Dững, Hoàng Anh, Ngọc Oanh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2002
15. Grabennhicop A.A(2003), Báo chí trong kinh tế thị trường, NXB Thông tân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí trong kinh tế thị trường
Tác giả: Grabennhicop A.A
Nhà XB: NXB Thông tân
Năm: 2003
16. Khoa Báo chí (2005), Báo chí -Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học KH XH-NV, Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí -Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Khoa Báo chí
Năm: 2005
17. Nguyễn Văn Dân (Chủ biên) (2001), Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế, NXB Khoa học Xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
18. Tạ Ngọc Tấn (2001) Truyền thông Đại chúng, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông Đại chúng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
19. Vũ Thị Thu Hà (2007), Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình hiện nay, Luận văn Cao học, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thu Hà
Năm: 2007
20. Nhiều người (2005), Báo chí- Những vấn đề Lý luận và Thực tiễn (T1-6), NXB ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí- Những vấn đề Lý luận và Thực tiễn (T1-6)
Tác giả: Nhiều người
Nhà XB: NXB ĐHQG HN
Năm: 2005
21. Lê Thanh Hà (2009), Vấn đề xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình, Khóa luận Tốt nghiệp Đại học (tại chức), Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình
Tác giả: Lê Thanh Hà
Nhà XB: Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
22. Vũ Đình Hòe (Chủ biên) (2000), Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quản lý, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quản lý
Tác giả: Vũ Đình Hòe (Chủ biên)
Năm: 2000
23. Phạm Đình Huỳnh, Phạm Chiến Khu (1995), Nghiên cứu Xã hội học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Xã hội học
Tác giả: Phạm Đình Huỳnh, Phạm Chiến Khu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
24. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh truyền  hình trả tiền (Đơn vị: chương trình) - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.2 Số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh truyền hình trả tiền (Đơn vị: chương trình) (Trang 24)
Bảng 2.1: Số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh truyền  hình quảng bá (Đơn vị: chương trình) - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.1 Số lượng chương trình truyền hình xã hội hóa trên các kênh truyền hình quảng bá (Đơn vị: chương trình) (Trang 24)
Bảng 2.3. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội  hóa dạng Đài TH đặt hàng các đơn vị truyền thông tư nhân - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.3. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đài TH đặt hàng các đơn vị truyền thông tư nhân (Trang 38)
Bảng 2.4.a. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội  hóa dạng Đơn vị truyền thông tư nhân chủ động  “đặt”  sóng và  sản xuất toàn bộ  chương trình - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.4.a. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đơn vị truyền thông tư nhân chủ động “đặt” sóng và sản xuất toàn bộ chương trình (Trang 39)
Bảng 2.4.b. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội  hóa dạng Đơn vị truyền thông tư nhân chủ động „đặt‟ sóng và sản xuất một phần  chương trình - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.4.b. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa dạng Đơn vị truyền thông tư nhân chủ động „đặt‟ sóng và sản xuất một phần chương trình (Trang 40)
Bảng 2.5: Khái quát quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.5 Khái quát quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa (Trang 42)
Bảng 2.6. Chi phí sản xuất quy định cho chương trình Điểm hẹn văn hóa ở  Thời điểm tháng 6 năm 2006 (chỉ tính riêng chi phí nhân công và chi phí sản xuất  chương trình) (Đơn vị: nghìn đồng) - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.6. Chi phí sản xuất quy định cho chương trình Điểm hẹn văn hóa ở Thời điểm tháng 6 năm 2006 (chỉ tính riêng chi phí nhân công và chi phí sản xuất chương trình) (Đơn vị: nghìn đồng) (Trang 49)
Bảng 2.7. Cách tính nhuận bút ( Đơn vị  : Giá thành sản xuất tác phẩm) - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.7. Cách tính nhuận bút ( Đơn vị : Giá thành sản xuất tác phẩm) (Trang 52)
Bảng 2.8. Tổng hợp chi phí tiền công Bản tin Năng lượng cho Phát triển đất  nước trên VTV1 (Đơn vị: nghìn đồng) - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.8. Tổng hợp chi phí tiền công Bản tin Năng lượng cho Phát triển đất nước trên VTV1 (Đơn vị: nghìn đồng) (Trang 53)
Bảng 2.9. Chi chức danh sản xuất chương trình - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 2.9. Chi chức danh sản xuất chương trình (Trang 54)
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả nhận biết logo của các đơn vị phối hợp sản xuất  chương trình truyền hình với VTV (Đơn vị: số lượng: người; tỷ lệ:%) - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả nhận biết logo của các đơn vị phối hợp sản xuất chương trình truyền hình với VTV (Đơn vị: số lượng: người; tỷ lệ:%) (Trang 64)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả số người xem chương trình - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả số người xem chương trình (Trang 66)
Bảng 3.4. Biểu đồ tổng hợp kết quả đánh giá của người xem về  mức độ hấp  dẫn của 3 chương trình truyền hình “Năng lượng cho phát triển đất nước”, “S Việt  nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Khảo sát ba chương trình truyền hình  Năng lượng cho phát triển đất nươc ,S Việt Nam-Hương vị cuộc sống  và 7 ngày vui sống
Bảng 3.4. Biểu đồ tổng hợp kết quả đánh giá của người xem về mức độ hấp dẫn của 3 chương trình truyền hình “Năng lượng cho phát triển đất nước”, “S Việt nam- Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w