Công chúng truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận các chương trình văn nghệ trên HTV...56 Tiểu kết chương 2...64 Chương 3: BÀI HỌC THỂ NGHIỆM BẢN SẮC VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ TRONG CHƯƠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Mở đầu……….1 Chương 1: ĐẶC TRƯNG VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ VÀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH………8
1.1 Vùng văn hóa Nam Bộ trong không gian văn hóa Việt Nam…… 8 1.2 Phản ánh vùng văn hóa Nam Bộ bằng ngôn ngữ truyền hình…….17 Tiểu kết chương 1……… 26
Chương 2: PHÂN TÍCH BẢN SẮC VĂN HÓA VÙNG NAM BỘ TRONG QUY TRÌNH TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN HTV………27
2.1 Quy trình thực hiện các chương trình văn nghệ trên sóng HTV….27 2.2 Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và các chương trình văn nghệ mang bản sắc văn hóa vùng miền Nam Bộ……… 32
2.3 Bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ thể hiện qua nội dung và hình thức trong các chương trình văn nghệ trên HTV………42
2.4 Công chúng truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận các chương trình văn nghệ trên HTV 56
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3: BÀI HỌC THỂ NGHIỆM BẢN SẮC VÙNG VĂN HÓA NAM
BỘ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ CỦA HTV VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 66
3.1 Từ chương trình văn nghệ của HTV thể nghiệm sự bảo tồn và phát huy bản sắc vùng văn hóa Nam Bộ 66
3.2 Hạn chế từ thể nghiệm bản sắc văn hóa vùng miền trong các chương trình văn nghệ trên HTV……… 74
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng chương trình văn nghệ trên HTV 77 Tiểu kết chương 3……… 84
Kết luận………86
Trang 4Tài liệu tham khảo……… 88 Phụ lục
Trang 54 Biểu đồ 2.4: Các kênh truyền hình thường xem……… Trang 59
5 Biểu đồ 2.5: Các chương trình thường xem trên HTV………… Trang 60
6 Biểu đồ 2.6: Các chương trình ca nhạc được yêu thích………….Trang 62
7 Biểu đồ 2.7: Tỉ lệ nhóm các chương trình văn nghệ được khán giả TP HCM
theo dõi ở các kênh truyền hình………Trang 63
2 DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1: Mức độ yêu thích kênh HTVC Thuần Việt………Trang 37
2 Bảng 2.2: Độ tuổi công chúng của HTV Trang 54
3 Bảng 2.3:
Độ tuổi với các chương trình truyền hình yêu thích………… Trang 61
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, truyền hình nở rộ với hàng loạt đài truyền hình cũng như mạng lưới kênh truyền hình phủ sóng cả nước Người ta có thể xem truyền hình ở bất cứ đâu, với nhiều lựa chọn khác nhau Đặc biệt, trong lĩnh vực văn nghệ, càng ngày càng có nhiều kênh và nhiều chương trình xuất hiện thể hiện phương diện văn nghệ phong phú ở nước ta
Trong đó, phải kể đến việc nhiều kênh truyền hình từ Bắc, Trung, Nam đều không ngừng tìm tòi, khai thác các nét văn nghệ đặc sắc của người dân Nam Bộ Tuy nhiên, những chương trình khai thác các khía cạnh văn hóa của vùng này không phải chương trình nào cũng thành công như mong muốn Bởi văn hóa đặc trưng vùng miền của người dân Nam Bộ không chỉ đòi hỏi những người làm truyền hình phải hiểu rõ, hiểu kỹ càng, hiểu chi tiết mà còn yêu cầu sự thể hiện làm sao cho khán giả thấy hết được những nét tiêu biểu đó Do vậy, đi tìm những vấn đề để khiến tính đặc trưng của văn hóa vùng Nam Bộ hiện rõ nét trong các chương trình truyền hình và cách thưởng thức của công chúng thuộc vùng văn hóa Nam Bộ, để từ đó tìm ra các phương thức thực hiện hiệu quả hơn các chương trình truyền hình nhằm bảo vệ và gìn giữ những nét văn hóa bản địa, từ
cả hai phía HTV và công chúng HTV là điều cần thiết
Có thể nghiên cứu và lý giải công việc này bởi HTV là đài truyền hình lớn của khu vực Nam Bộ, chuyên khai thác các vấn đề của khu vực này và lớp khán giả ngày càng mở rộng, không chỉ ở Nam Bộ mà giờ đây còn trên khắp đất nước Những người làm truyền hình ở HTV đa phần là những người sinh ra và lớn lên
ở mảnh đất Nam Bộ, đã ngấm trong mình những nét văn hóa nơi đây, hiểu và cảm thụ sâu sắc những văn hóa đó Bên cạnh đó, HTV là đài truyền hình tiên phong trong quá trình cải cách các chương trình truyền hình, sao cho phù hợp với nhu cầu của khán giả, nhưng đồng thời lại gìn giữ được các nét văn hóa truyền thống của người dân Nam Bộ bao đời
Trang 7Trong các nhân tố gìn giữ và phát triển văn hóa bản địa của vùng văn hóa Nam Bộ, không thể không kể đến vai trò của báo chí truyền thông với các loại hình ngôn ngữ: báo in, báo nói, báo hình, báo ảnh, báo mạng Ngược lại, văn hóa bản địa Nam Bộ là cái nôi to lớn nuôi dưỡng cho từng chương trình, từng tác phẩm báo chí để vươn rộng tới công chúng tiếp nhận Nhất là ở trong các chương trình văn nghệ - những chương trình phản ánh đời sống văn hóa tinh thần với những giá trị văn hóa phi vật thể của con người Nam Bộ ở nơi đây
Văn hóa Nam Bộ không những luôn xuất hiện xuyên suốt tạo thành bản sắc riêng của chương trình văn nghệ cho Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, mà còn tạo thành một cách tiếp nhận riêng biệt, độc đáo của công chúng truyền hình đặc thù ở Nam Bộ
Do đó, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và có tính hệ thống để thấy được tác động tích cực của tính bản địa của vùng văn hóa Nam Bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là minh chứng hùng hồn cho cách truyền đạt thông tin đặc thù của những người làm truyền hình và cách tiếp nhận thông tin của công chúng cũng đặc thù tại khu vực Nam Bộ Từ đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm về việc tổ chức chương trình văn nghệ đặc thù, cũng như từng bước cải thiện và nâng cao cách thức tiếp nhận, thưởng thức của công chúng vùng văn hóa Nam Bộ với những chương trình văn nghệ của Đài truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, công trình nghiên cứu về văn hóa đặc trưng Nam Bộ có rất nhiều Trong khuôn khổ luận văn chúng tôi chỉ kể ra một số những tài liệu mà luận văn có sử dụng, trích dẫn, như:
- TS Lý Tùng Hiếu với đề tài nghiên cứu “Vùng văn hóa Nam Bộ: Định
vị và đặc trưng văn hóa”
Trang 8- GS.TSKH Trần Ngọc Thêm , chủ nhiệm đề tài “Những vấn đề xã hội - nhân văn khu vực Nam Bộ giai đoạn 2005-2010” trong đề án nghiên cứu khoa
học trọng điểm của Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh trong lĩnh vực KHXH
-NV giai đoạn 2005-2010, Đại học Quốc gia Tp HCM
- Hồ Tĩnh Tâm với tác phẩm “Từ Phương ngữ Nam Bộ đến Sáng tạo Văn bản thành văn – Tài sản vô giá của đời sống ngôn ngữ Nam Bộ”, trên Tạp chí
văn nghệ số 124
- GS TS Khoa học Vũ Minh Giang chủ nhiệm với Đề tài khoa học “Nam
Bộ từ khởi nguồn đến thế kỷ VII”
- PGS TS Lê Trung Hoa với “Từ điển địa danh Nam Bộ”, Trường Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn xuất bản
v v…
Bên cạnh đó, các tài liệu nghiên cứu về việc gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống, văn hóa vùng miền cũng đã được đề cập đến trong một số công trình đã được công bố, như:
- Nguyễn Cẩm Nam, luận văn thạc sỹ báo chí; “Tác động của văn hóa bản địa Nam Bộ trong công tác tổ chức và tiếp nhận chương trình thời sự, VH-
XH trên các Đài truyền hình Đông Nam Bộ (2001-2006)”, bảo vệ năm 2007 tại
Trường ĐH KHXHNV Hà Nội
- Ngô Thị Phương Thảo, luận văn thạc sỹ báo chí; “Vai trò của báo chí trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của văn hóa Việt Nam hôm nay”, bảo vệ năm 2001 tại Trường ĐH KHXHNV Hà Nội
- Chu Thu Hảo, luận văn thạc sỹ báo chí: “Báo chí với công tác phản ánh, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống”, bảo vệ năm
2002 tại ĐH KHXHNV Hà Nội
- Trịnh Liên Hà Quyên, luận văn thạc sỹ báo chí: “Báo Văn hóa với vấn
đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay”, bảo vệ
năm 2006 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trang 9- Hoa Thanh Tùng, luận văn thạc sỹ báo chí: “Vấn đề tiếp biến văn hóa trong các trò chơi truyền hình”, bảo vệ năm 2008 tại Học viện Báo chí và Tuyên
truyền
Những nghiên cứu trên đây đã ít nhiều đề cập đến báo chí địa phương; Những vấn đề về bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị văn hóa truyền thống nói chung, tuy chưa toàn diện và có nhiều nội dung không đề cập đến vùng miền văn hóa bản sắc Nam Bộ nhưng bước đầu, làm cơ sở cho những nghiên cứu có tính
hệ thống hơn của luận văn
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vùng văn hóa đặc trưng Nam Bộ trên các chương trình truyền hình văn nghệ trên sóng HTV thì đến thời điểm này chưa có
đề tài nào đề cập Đây là luận văn lần đầu khảo sát góc nhìn văn hóa đặc trưng qua con mắt của những người làm truyền hình, của công chúng tiếp nhận qua các chương trình văn nghệ của HTV Như vậy, việc nghiên cứu thực trạng với những
ưu điểm, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra đối với các chương trình văn nghệ trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống vùng miền, để qua đó
đề xuất những kiến nghị, giải pháp cần thiết nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả của việc gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
- Nghiên cứu nét đặc sắc, mang tính bản sắc văn hóa vùng miền Nam Bộ qua sự phân tích nội dung, hình thức trong các chương trình truyền hình văn nghệ trên sóng HTV
- Qua đó tìm ra những nét đặc sắc về văn hóa Nam Bộ được thể hiện trong chương trình văn nghệ trên sóng HTV
- Mang đến cho công chúng những đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ qua từng chương trình văn nghệ và tiếp tục thúc đẩy việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy văn hóa đặc trưng vùng Nam Bộ của những người thực hiện chương trình
Trang 103.2 Nhiệm vụ
- Về mặt thực tiễn, với tư cách là một biên tập viên của HTV, người trực tiếp viết tin dựng bài cho các chuyên mục, việc thực hiện luận văn về đề tài đã nói ở trên, cũng là một cơ hội để người viết luận văn nghiên cứu vấn đề thể nghiệm bản sắc Nam Bộ trong tác nghiệp truyền hình để từ đó tổng kết và rút ra những bài học thực tiễn soi sáng cho công việc của bản thân cũng như các đồng nghiệp
- Khảo sát đối tượng công chúng truyền hình để đánh giá về nội dung cũng như hình thức thể nghiệm văn hóa đặc trưng vùng Nam Bộ từ chủ thể truyền hình
- Khảo sát đánh giá các kênh, các chương trình truyền hình văn nghệ của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Và một số đài truyền hình khác để so sánh, đối chiếu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động tổ chức của các chương trình văn nghệ về bản sắc văn hóa Nam
Bộ qua các kênh: HTV9, HTV7; HTVC Thuần Việt; HTVC Ca nhạc
Công tác thể nghiệm đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ qua ngôn ngữ truyền hình trong các chương trình văn nghệ trên HTV
Công chúng đặc thù tại khu vực Nam Bộ tiếp nhận, thưởng thức các chương trình văn nghệ trên HTV
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu các chương trình văn nghệ trên sóng HTV trong thời gian 2 năm (từ tháng 4.2010 đến 2012) và sự tiếp nhận, thưởng thức của công chúng HTV dành cho các chương trình văn nghệ trên HTV
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp tiến cận vấn đề bằng văn hóa học
- Phương pháp ứng dụng lý thuyết về văn hóa vùng để giải quyết vấn đề văn hóa vùng Nam Bộ
- Phương pháp ứng dụng lý thuyết về ngôn ngữ truyền hình vì nghiên cứu văn hóa vùng trong ngôn ngữ truyền hình, do loại hình truyền thông truyền hình chiếm ưu thế hơn cả trong việc thể hiện các chương trình văn nghệ
- Phương pháp điều tra và khái quát để làm rõ tác động của văn hóa vùng miền Nam Bộ đối với công chúng tiếp nhận qua các chương trình văn nghệ trên HTV
Luận văn được thực hiện trên cơ sở đường lối quan điểm chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương sở tại
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu Đặc trưng văn hóa vùng miền trong các chương trình văn nghệ Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện từ góc nhìn của
báo chí, từ ngôn ngữ của loại hình truyền hình nhằm xác định sự tác động của văn hóa bản địa trong các chương trình văn nghệ trên sóng HTV, với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ trong thời kỳ hội nhập văn hóa với toàn cầu
Từ những nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đưa ra những ưu điểm, hạn chế và khuyến nghị giúp HTV – cơ quan báo chí của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh có thêm cơ sở và định hướng trong tổ chức nội dung thông tin, nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông về gìn giữ, bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa
Trang 127 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm:
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG: Gồm 3 chương
Chương 1: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÙNG NAM BỘ VÀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH
Chương 2: PHÂN TÍCH BẢN SẮC VĂN HÓA VÙNG NAM BỘ TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN HTV
Chương 3: BÀI HỌC THỂ NGHIỆM BẢN SẮC VĂN HÓA VÙNG NAM BỘ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ CỦA HTV VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 13CHƯƠNG 1 ĐẶC TRƯNG VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ
VÀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH
1 1 Vùng văn hóa Nam Bộ trong không gian văn hóa Việt Nam
1.1.1 Không gian văn hóa và Lãnh thổ văn hóa Việt Nam
1.1.1.1 Không gian văn hóa
Để xác định vị trí của một đất nước, người ta cần định vị của quốc gia đó nằm trên toàn cảnh trái đất Còn để xác định vị trí của một nền văn hóa của một quốc gia, người ta không chỉ xác định tọa độ, ranh giới giữa các quốc gia, mà còn phải xác định nó dưới góc nhìn ba chiều: Chủ thể văn hóa – Không gian văn hóa – Thời gian văn hóa
Nói văn hóa trước hết phải nói tới con người với tư cách là chủ thể văn
hóa “Trong toàn bộ sự phát triển xã hội, con người luôn luôn tồn tại tới hai tư cách: vừa là chủ thể, vừa là đối tượng Với tư cách là chủ thể, con người thực hiện sự phát triển của xã hội, mà trước hết là sự phát triển lực lượng sản xuất Với tư cách là đối tượng, con người hưởng thụ những thành quả của sự phát triển đó Không có con người thì không có sự hưởng thụ cũng không có sự công hiến – nghĩa là không có sự phát triển Dĩ nhiên giả thiết ấy là không thể có được, nhưng nó cho thấy một điều trong tất cả những gì có thể nói được về sự tiến hóa của lịch sử trên trái đất, con người là trung tâm Hơn nữa cái vị trí trung tâm đó được đảm bảo bằng hai vế - cống hiến và hưởng thụ Ở con người, với tư cách là con người hai vế này có sự gắn bó chặt chẽ và luôn luôn cần giữ được sự cân đối trong từng hoàn cảnh lịch sử”. 1
Để có được một sự hình dung đầy đủ về không gian văn hóa Việt Nam chúng ta phải nắm rõ nguồn gốc và quá trình hình thành dân tộc Việt Nam vì cả
1
Vũ Cao Đàm: Chiến lược con người – Trong bàn về chiến lược con người (Nhiều tác giả) – Viện TTKHKT
Trung ương NxB Sự thật, 1990, Tr6
Trang 14thời gian văn hóa lẫn không gian văn hóa đều phụ thuộc và việc xác định chủ thể văn hóa
Người Việt và tuyệt đại bộ phận các dân tộc Việt Nam đều xuất phát từ một nguồn gốc chung là nhóm loại hình Indonesien Chính điều này đã tạo nên tính thông nhất – thống nhất trong sự đa dạng – của con người và văn hóa Việt Nam và rộng hơn là toàn vùng Nam Á Với 54 dân tộc người sống cùng nhau, người Kinh ( hay còn gọi là người Việt ) chiếm đến 90%, 10 % còn lại bao gồm
53 tộc người như: Chàm, Môn – Khmer, Tày, Thái, Nùng, Chăm… Như vậy, có thể nói rằng chủ thể của văn hóa Việt Nam ra đời trong phạm vi của trung tâm hình thành loài người phía Đông và trong khu vực hình thành của đại chủng
phương Nam
Trong phạm vi hẹp, không gian gốc của văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Nam – Á Có thể hình dung đó là một tam giác với cạnh đáy ở phía Bắc, nơi sông Dương Tử và đỉnh là vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Xét ở phạm vi rộng hơn, không gian tồn tại của văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonésian lục địa Tam giác rộng hơn này, vươn ra ngoài tam giác thứ nhất với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử ở phía Bắc, riêng đỉnh thì kéo tới vùng đồng bằng sông Mê kông ở phía Nam [32]
1.1.1.2 Lãnh thổ văn hóa
Qua từng thời kỳ lịch sử, lãnh thổ Việt Nam được mở rộng theo hướng từ Bắc vào Nam Theo đó, lãnh thổ văn hóa Việt Nam cũng phát triển theo hình dạng của lãnh thổ Việt Nam Thời kỳ đầu, lãnh thổ văn hóa Việt Nam bao gồm khu vực châu thổ sông Hồng ( đồng bằng Bắc Bộ hiện nay) Do đặc điểm địa lý chiến lược, trong tiến trình lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam mở rộng lãnh thổ sang phía Đông thì gặp Biển, phía tây bị các dãy núi hiểm trở của dãy Trường Sơn ngăn cản, phía Bắc là lãnh thổ của người khổng lồ Hán tộc, nên chỉ
có thể lần lượt chinh phục và khai phá về phía Nam
Trang 15Hành trình Nam tiến kéo dài từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18, từ diện tích ban đầu đến khi hoàn thành gấp 3 lần và lãnh thổ Việt Nam về cơ bản được hình thành và tồn tại như hiện nay
Các triều đại phong kiến của Việt Nam liên tục mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, cho đến năm 1760, lãnh thổ văn hóa Việt Nam mở rộng đến mũi Cà Mau Đến thời kỳ phương Tây đô hộ, thực dân Pháp chia Việt Nam thành ba kỳ
để trị, bao gồm: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ Đến năm 1954, Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 Miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa Đến năm 1975, Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ
Trên bản đồ lãnh thổ Việt Nam hiện nay có hình dáng chữ S chạy dài theo hướng Đông Nam của bán đảo Đông Dương, từ Hà Giang đến Cà Mau, diện tích khoảng 322.885km2
1.1.2 Vùng văn hóa Nam Bộ trong 6 vùng văn hóa Việt Nam
Phải nói rằng, “sự thống nhất do cùng cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung của văn hóa Việt Nam, còn tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa” [46, tr31] Việc phân vùng văn hóa trong lãnh thổ Việt Nam hiện tại có nhiều cách phân chia, nhưng để có cái nhìn tổng quát thì cách phân thành 6 vùng của Trần Quốc Vượng được xem là khách quan và hợp lý hơn cả, bao gồm: “Vùng văn hóa Tây Bắc, Vùng văn hóa Việt Bắc, Vùng văn hóa Bắc Bộ, Vùng văn hóa Trung Bộ, Vùng văn hóa Tây Nguyên
và Vùng văn hóa Nam Bộ Trong đó Vùng văn hóa Nam Bộ - Chủ thể là người
Kinh, Chăm, Hoa: nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long, với khí hậu hai mùa (khô – mưa), với mênh mông sông nước và kênh rạch Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa ( Khmer, Ma, Xtiêng, Chơro, Mnông) Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ; bữa ăn giàu thủy sản; tính cách con người ưa phóng khoáng; tín ngưỡng tôn giáo tiếp nhận từ nước
Trang 16ngoài hết sức phong phú và đa dạng; sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây” [32, 39]…
Tiến trình văn hóa Việt Nam có thể được phân định thành 3 lớp theo cách tính của Trần Ngọc Thêm: lớp Văn hóa Bản địa, lớp văn hóa Giao lưu với Trung Hoa và khu vực, lớp văn hóa Giao lưu với phương Tây Ba lớp bao gồm 6 giai đoạn tương ứng: “Văn hóa tiền sử”, “Văn hóa Văn Lang – Âu Lạc”, “Văn hóa thời chống Bắc thuộc”, “Văn hóa Đại Việt”, “Văn hóa Đại Nam” và “Văn hóa hiện đại”
Đến nay, văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều biến động, nhưng do hoàn cảnh địa lý khí hậu và lịch sử xã hội riêng trong từng thời kỳ, nên dù biến động đến đâu, văn hóa Việt Nam vẫn mang trong nó những nét bản sắc không thể trộn lẫn
Theo đó, văn hóa vùng Nam Bộ mang đầy đủ các đặc trưng chung của văn hóa Việt Nam, và có một số điểm khác biệt so với các vùng miền khác
Vùng văn hóa Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh thành phố từ Bình Phước trở
xuống phía Nam và hai thành phố: Hồ Chí Minh và Cần Thơ
Khu vực này chia làm 2 vùng chính:
+ Vùng Đông Nam Bộ có 5 tỉnh và 1 thành phố, bao gồm: Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, thành phố Hồ Chí Minh
+ Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, còn gọi là Tây Nam Bộ, có 12 tỉnh
và 1 Thành phố, gồm: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố Cần Thơ
Đặc trưng văn hóa Nam Bộ được định hình qua cách thức sản xuất, tổ chức xã hội, tín ngưỡng – phong tục – lễ hội, văn học – nghệ thuật, cách thức ăn – mặc - ở - đi lại, giao lưu tiếp biến văn hóa
Hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước và trên mô ̣t vùng đất đa
tô ̣c người, văn hoá Nam Bộ có hai đặc trưng chủ đạo là đặc trưng đồng bằng
Trang 17sông nước và sự tiếp biến các yếu tố văn hoá của người Chăm, người Khmer, người Hoa vào văn hoá Việt trong vùng Xét về mức độ, những đặc trưng chủ
đạo này cũng là những nét đặc thù của vùng văn hoá Nam Bộ Bởi vì mặc dù đặc trưng đồng bằng sông nước cũng có mặt trong các vùng văn hoá ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, nhưng chỉ ở Nam Bộ yếu tố sông nước mới nổi lên thành một đặc trưng chủ đạo, chi phối toàn diện cuộc sống cũng như các thành tố văn hoá của các cộng đồng cư dân Bên cạnh đó, ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ đều có sự giao thoa văn hoá của các dân tộc khác nhau, nhưng chỉ ở Nam Bộ văn hoá các tộc người thiểu số chịu tác động nhiều đến dân tộc Việt trong vùng, đến mức làm cho nó trở nên vừa quen vừa lạ đối với chính người Việt đến từ miền Bắc, miền Trung
Hoạt động sản xuất của cư dân trên vùng đất phì nhiêu rộng lớn này mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với
tất cả các vùng miền khác Sở hữu một vùng sông nước lắm thuỷ sinh và được biển bao quanh hai phía, Nam Bộ cũng là một ngư trường giàu có nhất nước, là
cơ sở đề phát triển các nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản
Các nghề thủ công truyền thống cũng khá phát triển Bình Dương là nơi
có nhiều làng nghề truyền thống với các nghệ nhân điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và
tranh sơn mài Việc giao thương của vùng cũng mang đặc thù sông nước Từ
xưa, các trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông rạch, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá Chợ nổi đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá rất đặc thù của miền Tây sông nước, và được ngành du lịch khai thác như một sản phẩm du lịch độc đáo dành cho du khách
Về tín ngưỡng, là một vùng đất đa tộc người, Nam Bộ cũng là nơi gặp gỡ
các tín ngưỡng tôn giáo sẵn có từ Bắc Bộ, Trung Bộ, đồng thời là cái nôi sinh thành những tín ngưỡng tôn giáo mới Vì vậy, đây chính là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng tôn giáo ở Viê ̣t Nam
Trang 18Về lễ hội của người Việt Nam Bộ cũng rất đa dạng, bao gồm cả bốn loại
hình lễ hội chủ yếu ở Việt Nam: lễ hội nông nghiệp - ngư nghiệp; lễ hội tưởng niệm danh nhân - anh hùng dân tộc; lễ hội tín ngưỡng - tôn giáo; và hỗn hợp Tất
cả đều mang sắc thái Nam Bộ mặc dù nhiều lễ hội bắt nguồn từ Trung Bộ
Là vùng đất mới, nhưng Nam Bộ cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hoá như Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Đồng Nai; di tích
Rạch Gầm-Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, luỹ Pháo Đài, lăng Hoàng Gia, lăng Trương Định, lăng Tứ Kiệt ở Tiền Giang; Văn Miếu ở Vĩnh Long, v.v
Bên cạnh đó còn có các nét vă hóa của Người Khmer Nam Bộ , Người Hoa, Ngườ i Chăm cũng ít nhiều có ảnh hưởng tới nền văn hóa của ngườ i dân Nam Bộ
Cách thức ăn ở, mặc, đi lại của Nam Bộ cũng ảnh hưởng nhiều tới nền văn hóa, sự thể hiện văn hóa của người dân nơi đây Ví dụ như khăn vằn trong trang phục thường ngày của người dân Nam Bộ; Thuyền, bè là phương tiện chính dùng để đi lại ở vùng sông nước
Nhà ở của người Việt Nam Bô ̣ có ba loại chính : nhà đất cất dọc theo ven
lộ, nhà sàn cất dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước Nhà nổi trên sông nước là nơi cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán sỉ và bán
lẻ trên sông
Để đi lại, vận chuyển, các tộc người cư trú nơi đây đều phải lựa chọn
những phương tiện phù hợp với các địa hình đặc trưng của không gian Nam Bộ
Ở trên đất liền thì các cư dân Nam Bộ dùng xe bò, xe ngựa, xe đạp, xe thồ, xe tải Ở vùng sông nước thì dùng xuồng, ghe, tắc ráng, vỏ lãi, tàu, bè, bắc (phà),
cộ Ở miền Tây sông nước, xuồng ghe có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là
phương tiện vận chuyển tiện dụng cho tất cả mọi người, vừa là phương tiện mưu sinh và phương tiện cư trú của một số lớn cư dân làm nghề đò ngang, đò dọc, buôn bán và nuôi cá trên sông
Trang 19Không gian văn hoá Nam Bộ là phần mở rộng của không gian văn hoá Việt Nam trên một vùng đất mới mà ở đó, chung tay khai phá với người Việt còn
có các tộc người bản địa và các tộc người di dân Vì vậy, trên vùng đất này, ngay
từ đầu văn hoá của cư dân Việt, mà trong đó đã có sẵn yếu tố Chăm, đã giao lưu mật thiết với văn hoá của các cư dân Khmer, Hoa Trong thời cận đại và hiện đại, trong suốt một thời gian dài vùng đất này lại chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp rồi tiếp đó là văn hoá Mỹ Và từ năm 1975, nơi đây cũng trở thành một địa bàn biến đô ̣ng ma ̣nh mẽ về thành phần tô ̣c người không kém Tây Nguyên Vì vậy, Nam Bộ cũng là một vùng đất mà giao lưu , tiếp biến văn hoá đã và đang diễn ra với tốc đô ̣ rất nhanh Hệ quả là hầu như không có hiện tượng văn hoá nào
ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có bóng dáng của những nền văn hoá khác, đã hội tụ nơi đây trong hơn ba thế kỷ qua Cho nên, có thể nói, giao thoa văn hoá chính là mô ̣t trong những bản sắc của văn hoá Nam Bô ̣ Nó khiến cho văn hoá Nam Bộ vừa tương đồng, lại vừa khác biệt với cội nguồn của nó là văn hoá Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là văn hoá Nam Bộ chỉ là con số cộng các luồng văn hoá đã hội tụ nơi đây Trong quá trình giao thoa văn hoá, cư dân Việt nơi đây đã không tiếp thu trọn gói các nền văn hoá khác mà chỉ chọn lọc những yếu tố đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần để bổ sung vào hành trang văn hoá mang theo Vì vậy, văn hoá Việt nơi đây không tự đánh mất mình
mà chỉ tái tạo các giá tri ̣ văn hoá mà vùng đất này thu na ̣p được theo hướng làm cho nó thích ứng với văn hoá Viê ̣t , với nhu cầu của người Việt trên vùng đất mới Có thể nói, sự tái tạo các giá trị văn hoá đó cũng là một bản sắc của văn hoá nơi đây
Về ngôn ngữ và giọng nói của người dân Nam Bộ là một đặc trưng rất đặc biệt, qua đây để nhiều người nhận ra sự đặc trưng của vùng đất Nam Bộ Cũng như người Nam Bộ, ngôn ngữ Nam bộ rất chân quê và giản dị nhưng lại cực kỳ phong phú và đa dạng Nó phong phú và đa dạng đến mức không ai tài nào kể ra
Trang 20cho hết được cả trăm, thậm chí cả nhiều trăm từ/ tiếng riêng biệt, mà mới nghe qua, người ta tưởng chừng như dân gian đã sử dụng một cách tùy tiện, hoặc dư thừa không cần thiết, song nếu có để tâm tìm hiểu, người ta mới nhận ra rằng, ở mỗi một trường hợp, mỗi một tình tiết, dân gian đã sử dụng ngôn ngữ rất tinh tế, hình tượng và tất nhiên vô cùng chính xác
Người Nam Bộ còn có một giọng nói rất đặc trưng, vừa ngọt ngào vừa có chút nặng nề tùy theo từng tiểu vùng, song cơ bản là ngọt và thanh Họ nói rất nhanh, nhưng cũng rất tự nhiên và vui vẻ
1.1.3 Thành phố Hồ Chí Minh trong vùng văn hóa Nam Bộ
Phải xác định vị thế văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh trong vùng văn hóa Nam Bộ, bởi luận văn tìm tòi, nghiên cứu các chương trình văn nghệ trên sóng của đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, chứ không đi nghiên cứu các chương trình văn nghệ của các đài truyền hình khác trong khu vực Nam Bộ như: Đài truyền hình Đồng Nai, Đài truyền hình Bình Dương, Đài truyền hình Bà Rịa Vũng Tàu v v…và càng không đi vào nghiên cứu các đài truyền hình ở các khu vực khác Do đó, cần xác định rõ bản sắc văn hóa Nam Bộ của Thành phố Hồ Chí Minh để làm rõ hơn bản sắc văn hóa của các chương trình văn nghệ trên HTV
Thành phố Hồ Chí Minh được coi là “trung tâm” của Nam Bộ ở tất cả các phương diện sinh hoạt văn hóa
“Thành phố Hồ Chí Minh khi xưa là một khu vực của Vương quốc Phù Nam (thế kỷ 1 đến thế kỷ 7), rồi đến Chân Lạp (thế kỷ 8 đến thế kỷ 17) có tên gọi là Prey Nokor Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào thiết lập chính quyền tại khu vực này Kể từ thời điểm đó, khu vực Gia Định đã trở thành lãnh thổ của Đàng Trong Trong thời kỳ quân Tây Sơn tấn công Nguyễn Ánh, khu vực Cù Lao Phố (TP.Biên Hòa) sầm uất của người Hoa bị tàn phá, người Hoa đã chuyển qua lập phố chợ buôn bán ở Chợ
Trang 21Lớn Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ, chính quyền thực dân đã quy hoạch thành phố Sài Gòn làm thủ phủ Nam Kỳ và đã phát triển nơi này thành một thương cảng phục vụ cho xuất nhập khẩu của chính quyền thuộc địa Từ năm 1956, Sài Gòn trở thành thủ đô của Việt Nam Cộng hòa, thành phố đã được nâng cấp phát triển và bùng nổ dân số Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 Việt Nam thống nhất và đến năm 1976 thì thành phố Sài Gòn được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh
Từ rất sớm, nơi đây đã trở thành trung tâm thương mại sầm uất, giao lưu với nước ngoài rất nhộn nhịp, là nơi phát triển mạnh các nghề thủ công mỹ nghệ,
và là nơi tiếp xúc sớm nhất kỹ thuật của Châu Âu Do ảnh hưởng của quá trình hình thành và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hoá: có nền văn hoá mang dấu ấn của người Việt Nam, Hoa, Chăm, Khơ me, Ấn…và dòng văn hóa phương Tây” [20]
Cùng là sự hội tụ tinh hoa của nhiều nguồn văn hoá, nhưng TP Hồ Chí Minh và Hà Nội lại có sự khác biệt rõ rệt Nếu Hà Nội là một đô thị mang tính hướng nội, văn hoá Hà nội là sự chắt lọc tinh hoa văn hoá của mọi miền đất nước thì văn hoá TP Hồ Chí Minh vừa mang trong mình gam màu đa sắc hiện đại hướng ngoại, lại vừa kín đáo, gìn giữ được những dấu xưa trầm tích trong từng góc phố, từng mái nhà và trong nếp sinh hoạt của người dân
Một nét văn hoá cũng rất nổi tiếng tại thành phố này chính là nghệ thuật tài tử, cải lương - thính phòng TP Hồ Chí Minh nổi tiếng với những bài đờn ca tài tử, cải lương mùi mẫn lay động tâm hồn những ai đã từng thưởng thức Âm nhạc truyền thống của TP Hồ Chí Minh phát triển trong sự trưởng thành chung của âm nhạc cổ Nam Bộ Đặc điểm riêng của nó thu thập hầu như toàn bộ những thành tựu và tài năng âm nhạc của lục tỉnh (Bạc Liêu, Rạch Giá, Mỹ Tho, Cần Đước và các tỉnh miền Đông) Trong những năm 1954, ở đây lại du nhập thêm nhiều nhóm nhạc miền Bắc, miền Trung (đặc biệt là nhạc cổ Huế) Bên cạnh đó, nhạc cổ thành phố, đặc biệt là cải lương cũng đã tiếp nhận nhạc Phương Tây và
Trang 22nhạc Trung Quốc một cách chọn lọc để làm nên một nền nghệ thuật đặc sắc, phong phú và đa dạng như ngày nay
Tấm lòng người nông dân TP HCM cũng như người dân Nam bộ xưa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàng tha thứ cho những ai biết hối cải lỗi lầm, nhưng cũng không tha thử kẻ gian ác, điêu ngoa Họ coi trọng nhân-nghĩa-trí-dũng-liêm, lòng thương người bao la vô tận, nhưng rất ghét bọn gian tà, tham nhũng,
xu nịnh, những kẻ "tham phú phụ bần" Nếu ai là người lương thiện có đạo đức làm người, sống trung thực, nhân nghĩa dẫu từ đâu đến với xóm làng nào thì cũng được nông dân đón tiếp thân tình theo đúng nghĩa "tứ hải giai huynh đệ", sẵn sàng cưu mang giúp đỡ người đói rét, bệnh tật "anh em như thể tay chân" hay là "Bầu ơi thương lắy bl cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"
Với những đặc điểm trên, TP HCM được coi là một Nam Bộ thu nhỏ, một tiểu vùng đẹp nhất của không gian văn hóa vùng Nam Bộ, hội tụ đầy đủ các yếu
tố của bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ Chính vì thế, nhưng người thực hiện các chương trình văn nghệ trên sóng HTV đã cố gắng phản ánh đầy đủ các khía cạnh
văn hóa đặc trưng của tiểu vùng TP HCM, mở rộng ra là của vùng Nam Bộ
1.2 Văn hóa vùng Nam Bộ được thể hiện qua ngôn ngữ truyền hình
1.2.1 Lý luận chung về ngôn ngữ truyền hình
Mặc dù mỗi yếu tố là độc lập riêng, song không thể tách rời các yếu tố này trong các sản phẩm truyền hình Hình ảnh giải quyết những vấn đề trực
Trang 23quan, âm thanh giải quyết các vấn đề trừu tượng Vì vậy nếu thiếu một trong hai đặc tính đó thì không còn là sản phẩm của truyền hình nữa
Hình ảnh và âm thanh mà công chúng nhìn thấy và nghe thấy là thứ hình ảnh và âm thanh có tính khái quát cao Vì truyền hình không có thời gian để nhà báo kể chuyện dông dài, do đó hình ảnh và âm thanh phải được lựa chọn kỹ càng Ví dụ: truyền hình không thể theo một sự kiện khi nó kéo dài 24 giờ đồng
hồ, nhưng với một đoạn tin phát người xem có thể hình dung ra được trong khoảng 24 giờ đó đã diễn ra những gì
Ngôn ngữ truyền hình cũng mang trong mình tính thông tin cao, là ngôn ngữ nghe nghìn đặc trưng mà không loại hình nào có Chỉ cần xem một chương trình khán giả đều có thể nắm bắt được chuyện gì đã xảy ra, xảy ra như thế nào
mà không cần thiết phải trực tiếp chứng kiến sự kiện đó Một trong những đặc điểm khiến ngôn ngữ truyền hình khác biệt với các loại hình ngôn ngữ báo chí khác đó là nó có “khả năng cho người ta vừa nghe vừa nhìn sự kiện” [ 43, tr 153]
Trong truyền hình, khán giả chỉ nhận được những thông tin cốt lõi, ngay
cả với những chương trình không bó hẹp về thời gian và thời lượng phát sóng
Vì vậy ngôn ngữ truyền hình thể hiện luôn cô đọng, súc tích, từ ngữ được mài dũa gọn gẽ, những cảnh quay khúc chiết mang tính thông tin cao
Những BTV truyền hình nếu được ví von như những người ăn kiêng trên phương diện ngôn ngữ, “giống như những người quá trọng lượng, các BTV truyền hình cũng cần thực hiện nghiêm ngặt “chế độ ăn kiêng” đối với tin, bài của mình” [43, tr 153 ]
Ngôn ngữ truyền hình cũng có đặc trưng là dễ hiểu Vì không giống như các loại hình báo in có thể xem lại, truyền hình chỉ nhìn thấy 1 lần, nghe thấy 1 lần rồi trôi qua, vì thế nếu không có ngôn ngữ dễ hiểu và rõ ràng thì khán giả khó
có thể nắm bắt được thông tin BTV muốn truyền tải Tác phẩm Viết tin cho truyền hình của tác giả Edward Bliss và James L Hoyt “Viết tin cho truyền hình
Trang 24co mục đích rõ ràng Đó là nắm bắt các thành phần cơ bản của một câu chuyện
và giải thích cho chúng bằng ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu với người xem”
Ngôn ngữ truyền hình còn mang văn phong của khẩu ngữ trong đời thường Bởi viết cho truyền hình là viết cho người nghe chứ không phải viết cho người đọc, vì thế thông tin sẽ dễ dàng được tiếp nhận hơn khi khán giả được tiếp nhận các thông tin đó như “nghe” một người đang nói chuyện với mình Ngôn ngữ truyền hình không dùng những lập luận hay cấu trúc phức tạp, văn phong
“đại ngôn” hay “đao to búa lớn”, mà đó là thứ ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, nhưng không rập khuôn, sáo mòn
1.2.1.2 Các yếu tố cấu thành ngôn ngữ truyền hình
Ngôn ngữ truyền hình được hình thành trên cơ sở âm thanh và hình ảnh, thì tất nhiên nó phải dựa trên yếu tố cơ bản của hai thành phần này
Về hình ảnh, ngôn ngữ truyền hình sử dụng hình ảnh động, hình ảnh tĩnh Trong đó hình ảnh chủ yếu là hình ảnh động về hiện thực, hiện tượng có ý nghĩa
xã hội được ghi lại một cách đầy đủ, xác thực nhằm phản ánh một hoặc một số vấn đề nào đó Đây cũng chính là ưu điểm của truyền hình mà không loại hình báo chí nào có được Và điều này mang lại sự tin cậy cũng như thu hút sự quan tâm nhiều hơn đối với khán giả Bên cạnh đó, truyền hình còn sử dụng các hình ảnh tĩnh như: biểu đồ, bản vẽ, các mô hình, các hình ảnh chụp tư liệu, đồ họa, ảnh chân dung, văn bản chữ viết…những hình ảnh này giúp cho nội dung truyền tải của truyền hình hoàn thiện hơn
Về âm thanh, truyền hình sử dụng lời nói, âm nhạc, tiếng động để cùng hình ảnh mang lại cho khán giả những hiệu quả nhất Trong đó, lời nói bao gồm lời của BTV, PTV, PV và nhân vật Và lời của PTV hay BTV là những lời xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình, thể hiện bằng lời độc thoại và đối thoại Trong nhiều trường hợp, hình ảnh không thể lý giải được toàn bộ thông tin mà nó đang mang, thì lời nói sẽ là cách để khán giả dễ dàng hiểu hơn qua lời diễn giải
Trang 25Âm nhạc là thứ không thể thiếu trên truyền hình, bao gồm nhạc có lời và không lời Nhạc có lời là các ca khúc của các ca sĩ thể hiện, còn nhạc không lời chủ yếu là nhạc hiệu, nhạc nền, nhạc cắt trong các chương trình Đặc biệt trong các chương trình về văn nghệ thì việc sử dụng âm nhạc nhiều hơn so với các chương trình khác Đối với tác phẩm truyền hình, âm nhạc đưa đến độ “mềm” cho hình ảnh, tạo độ lắng cho lời bình và chiều sâu nội dung, giúp giảm âm thanh giả và lời bình chủ quan của tác giả Âm nhạc xuất hiện đúng lúc sẽ làm cho hình ảnh sống động, tạo điều kiện cho sự luân chuyển liên tục giữa các cảnh, giúp khắc họa được chiều sâu của nội dung Sự xuất hiện âm nhạc trong hình ảnh
sẽ tạo được tâm lý nhân vật rõ nét
Bên cạnh âm nhạc thì âm thanh trong truyền hình còn có tiếng động, đó là tiếng động hiện trường ghi lại từ hiện tượng khách quan ngoài cuộc sống và tiếng động kỹ thuật được tạo ra từ kỹ thuật bàn dựng Tiếng động ngoài hiện trường khiến người xem tin tưởng hơn vào tính trung thực của sự kiện Chương trình truyền hình nếu mất đi tiếng động này thì coi như mất giá trị về nội dung Ngoài ra việc sử dụng tiếng động kỹ thuật để bổ sung cho những trường hợp hiện trường không phù hợp hoặc thêm vào cho tác phẩm truyền hình thêm ý nghĩa, hiệu quả
1.2.2 Đặc trưng vùng miền văn hóa trong ngôn ngữ truyền hình của HTV
1.2.2.1 Sử dụng hình ảnh và âm thanh
Hình ảnh là âm thanh là hai yếu tố không thể tách rời vì “Hãy hình dung chúng như một chuỗi các bánh răng ăn khớp và nối tiếp nhau một cách liên tục, nhuần nhuyễn” [35, tr 56]
Trong ngôn ngữ truyền hình, hình ảnh được xem là yếu tố ngôn ngữ thứ nhất Chính nó mang lại đặc trưng, mang lại sức mạnh và sự nổi trội cho phương tiện truyền thông này Có thể nói, nếu không có hình ảnh thì báo hình không tồn tại, nhưng nếu không có âm thanh thì truyền hình vẫn chỉ nằm lại ở đầu thế kỷ
Trang 2620, thời kỳ của tiền truyền hình với các loại phim không có tiếng Chính vì thế
mà hình ảnh và âm thanh là hai yếu tố quan trọng không thể tách rời, có vai trò tương quan Tuy nhiên, sự tương quan này lại tùy thuộc vào việc ở mỗi chương trình thì yếu tố hình mạnh hơn hay tiếng mạnh hơn lại được xem xét cụ thể
Thường mối quan hệ này sẽ không có sự cố định, có lúc là 30% -70% nghiêng về hình ảnh khi hình ảnh ấn tượng mạnh, mà ở đó người xem không cần đến nhiều lời bình cũng có thể hiểu đang xảy ra chuyện gì
Khảo sát ở chương trình “thời sự” Phát sóng trên HTV9 hàng ngày Thì rõ ràng với loại hình này người xem không cần thiết phải nghe nhiều lời bình từ nhà Đài Bởi vì ngôn ngữ hình ảnh lúc này hiện lên rõ ràng Khán giả có thể xem tin về một đám cháy ở một tòa nhà mà chưa cần nghe cũng biết tin tức đó đang nói về sự việc: cháy một tòa nhà Những lời bình của BTV lúc này có tác dụng giúp người xem biết cháy ở đâu Âm thanh trong cảnh hỗn loạn của đám cháy chỉ phụ giúp cho người xem có thêm cảm xúc Còn hình ảnh đã nói lên phần chính của nội dung Lúc này thì lời bình chỉ có thêm thông tin bổ sung mà thôi
Ngược lại khi hình ảnh trìu tượng, khó hiểu thì 70%-30% nghiên về âm thành là điều hoàn toàn có thể cũng ở các bản tin, phóng sự Ví dụ như tin về việc số người thất nghiệp đang gia tăng, thì hình ảnh đơn thuần của nhiều nơi khiến khán giả mơ hồ, vì thế lời bình của tác giả lúc này là cần thiết và chỉ khi nghe được lời bình thì khán giả mới hiểu chương trình đang nói đến vấn đề gì
Khảo sát ở các chương trình văn nghệ thì mức độ phần trăm lại giao động nhiều hơn Với mỗi chương trình thể hiện lời ca tiếng nhạc lại bắt buộc phải có 50% -50% hình ảnh và âm thanh Bởi nếu hình ảnh và âm thanh không cùng đi kèm thì công chúng khó hiểu hết được nội dung cần truyền tải
Bên cạnh đó, HTV cũng không nằm ngoài xu thế của truyền hình hiện đại,
kế thừa từ điện ảnh những hình ảnh chuyển động và thành quả của phim có tiếng Hơn thế nữa, hình ảnh trên HTV còn được thừa hưởng những điểm mạnh của nền nghệ thuật thứ bày như montage, cỡ cảnh, góc máy mà điện ảnh sơ khai
Trang 27đã phải mất hàng chục năm thử nghiệm mới gặt hái được Và ngôn ngữ truyền hình gần như đồng nhất và kế thừa ngôn ngữ tạo hình điện ảnh Điều này càng thấy rõ hơn trong các chương trình văn nghệ khi thể hiện các vở kịch, nhạc kịch
Sự gần gũi về mặt hình thưc và thẩm mỹ xuất hiện ngay trong giai đoạn hình thành các chương trình và hình thức thể hiện là tạo hình cộng với lời nói, hoặc
có thể thấy ở một số các yếu tố quan trọng khác như: đoạn phim, khoảng cách, dựng phim…
“Truyền hình là một tổ hợp của nhiều thành phần nội dung, trong đó ngoài mảng báo chí còn có nhiều tác phẩm của những bộ môn nghệ thuật như điện ảnh, sân khấu, ca nhạc, mỹ thuật, kiến trúc Vậy có thể hiểu ngôn ngữ truyền hình như tổ hợp nhiều loại ngôn ngữ như ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tạo hình, ngôn ngữ sân khấu …[47, tr 9]
Sử dụng hình ảnh và âm thanh ở HTV không có nhiều khác biệt so với các đài truyền hình trong nước cũng như trên thế giới Điều khác biệt ở chỗ nó phải
“chạy” theo ý đồ của mỗi chương trình Nó phản ánh những nội dung khác biệt
so với nội dung ở các đài truyền hình khác Có thể kể ra ví dụ: Ở chương trình ca nhạc dân tộc trên sóng Đài Truyền hình Bắc Ninh, sẽ truyền tải bài Quan họ Bắc Ninh , với hình ảnh ca sỹ mặc áo tứ thân, đọi nói quai thao, đi gốc mộc, hát lời
ca “Người ơi người ở đừng về” Nhưng với chương trình ca nhạc ở HTV, khán giả sẽ thấy một ca sỹ mặc bộ quần áo bà ba, quàng khăn vằn, hát “Vàm Cỏ Đông
ơi hỡi dòng sông nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng…”
Vì thế có nói, mối quan hệ giữa hình ảnh và âm thanh là mối quan hệ luôn
có sẵn trong các chương trình truyền hình, đặc biệt là các chương trình liên quan đến nội dung văn nghệ Mối quan hệ này càng không thể thiếu của các chương trình văn nghệ - vốn dĩ cần phải tồn tại cả hình ảnh và âm thanh
Trang 281.2.2.2 Giọng nói, âm sắc của giọng nói và tốc độ của giọng nói
Giọng nói :
Hiện nay, trong việc sử dụng giọng nói trên truyền hình ở mỗi đài truyền hình có một giọng đặc trưng khác nhau Tuy không có quy định chính thức nào quy định đài địa phương nào thì sử dụng giọng địa phương đó để đọc và dẫn trên truyền hình Hơn nữa, cũng khó để khẳng định đâu là giọng chuẩn trên truyền hình ở các địa phương vì mỗi nơi lại có nhiều giọng khác nhau Vì thế, thực tế hầu hết các đài truyền hình địa phương đều có sự lựa chọn giọng nói có phạm vi rộng để chọn làm giọng chuẩn Chẳng hạn từ tỉnh Thanh Hóa trở ra đều nói giọng Bắc, từ tỉnh Bình Thuận trở vào đều nói giọng Nam Tuy giọng Bắc và giọng Nam ở mỗi nơi đều có sự pha trộn âm ở mức độ nhất định Như ở khu vực Nghệ An, Thừa Thiên Huế tuy nói theo giọng Bắc nhưng sự pha trộn âm đặc trưng của vùng khiến giọng Bắc nghe nhẹ hơn, nhưng lại khó nghe do cách nói
đã mất một số thanh điệu Nhưng đây vẫn được coi là quy ước ngầm bấy lâu nay
ở các đài truyền hình Theo đó, các đài truyền hình phía Bắc lấy giọng Hà Nội là giọng chuẩn, trong khí đó, ở khu vực miền Nam thì lấy giọng của Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) làm giọng chuẩn
Các BTV, PTV, MC của các đài truyền hình miền Nam nói giọng thanh, nhẹ, nói đều đều, không lên cao khiến khán giả nghe thấy thoải mái, không có áp lực, vì thế các chương trình giải trí – văn nghệ của các đài khu vực này thường được công chúng khắp cả nước đón nhận nhiều hơn Trong khi đó các BTV, PTV, MC các đài phía Bắc do chất giọng khô, trầm, âm vực cao, mạnh mẽ, hào hùng nên phù hợp với các thể loại thời sự, chính luận hơn Vì lẽ đó mà thành công của các chương trình văn nghệ trên sóng HTV cũng nhờ đó mà có hiệu quả cao hơn
Ngoài việc sử dụng chất giọng thì việc sử dụng đơn giọng, đa giọng cũng
là một yếu tố cấu thành nên thành công của chương trình Trước đây hầu hết các đài truyền hình đều sử dụng đơn giọng (hoặc là giọng nam hoặc giọng nữ, hoặc
Trang 29chủ giọng của PTV, giọng đọc độc thoại) thì hiện nay đa số các tin bài trên truyền hình đã sử dụng đa giọng hơn
Việc sử dụng đơn giọng trên truyền hình đang có xu hướng giảm rõ rệt ở tất cả các đài truyền hình ở Việt Nam Cùng chung xu hướng đó, HTV thường chỉ sử dụng đơn giọng ở lời bình thời sự (Phương Thảo, Tấn Tài, Việt Phong) Tuy nhiên, việc sử dụng đơn giọng trong các chương trình gameshow hay văn nghệ lại không còn phù hợp, và không hấp dẫn, thu hút được người xem Chính
vì thế, các loại hình này thường sử dụng đa giọng, như chương trình “Thay lời muốn nói”, thường có 2 MC, 1 nữ và 1 nam hoặc cũng có khi là 2 nữ Việc sử dụng 2 giọng làm tăng tính hấp dẫn, người xem sẽ cảm thấy gần gũi hơn với chương trình
Ngoài ra, việc sử dụng đa giọng cũng khiến độ tin cậy cao hơn ở thông tin, ví như đối với một phóng sự, việc có lời của nhân vật sẽ khiến khán giả tin hơn vào thông tin mà người trả lời phỏng vấn nói, thay vì lời nói đó là của PV Hiện nay, việc sử dụng đa giọng còn được biến tấu nhiều hơn khi sử dụng giọng qua điện thoại, tư liệu, giọng nhiều nhân vật hơn ( trước đây thường phỏng vấn
từ 1-2 người, nay con số này tăng lên nhiều hơn), nhiều lứa tuổi khác nhau, làm cho thông tin trở nên “mềm” hơn và dễ tiếp nhận hơn
Âm sắc của giọng nói:
Âm sắc lời nói là chất giọng riêng của từng người, giống như khuôn mặt riêng của từng người vậy, không âm sắc của người nào giống người nào, đôi khi
có sự gần giống nhưng thực ra không thể giống 100% được Có người nói với giọng trầm ấm, có người nói với giọng thanh cao, có người lại nói với giọng nhỏ nhẹ, có người nói rất truyền cảm dễ nghe, có người lại nói rất khó nghe Điều này đều phụ thuộc vào âm sắc của từng người “Âm sắc ở truyền hình hay phát thanh đều được xác định dựa trên sự giao động của đồ thị, người ta có thể xác định được âm thanh gần hay xa, to hay nhỏ đều dựa vào điều này Vì thế, âm sắc
là đặc trưng của âm làm phân biệt các âm cùng độ cao và độ to” [2, tr 15]
Trang 30Sử dụng âm sắc lời nói của các BTV, PTV trên sóng HTV thường có điểm chung là thanh hơn so với các đài truyền hình khu vực miền Bắc và Miền Trung
Vì thế nên thường được yêu chuộng hơn khi thể hiện các chương trinh mang âm hưởng văn nghệ, bởi âm sắc này thường khiến người nghe cảm thấy nhẹ nhàng,
dễ chịu và thoải mái hơn Đây là ưu điểm của các BTV, PTV khu vực Nam Bộ, nhưng cũng chính vì thế mà các chương trình cần độ lên xuống, trầm hơn như chương trình thời sự thì hiệu qua không cao như mong muốn
Tốc độ của giọng nói:
Tốc độ nói cũng là một phần rất quan trọng, có ảnh hưởng khá nhiều đến
sự thành công của chương trình truyền hình Tốc độ nói của mỗi MC, BTV, PTV, PV khác nhau Có người nói với tốc độ bình thường, có người nói với tốc
độ nhanh, có người nói chậm, thậm chí có người nói với tốc độ cực nhanh hoặc rất chậm Đây cũng là một cách để tạo nên phong cách cho từng người
Thông thường các chương trình như thời sự, bình luân, phóng sự, các BTV và PT của HTV đều có tốc độ nói nhanh hơn Các chương trình tài liệu, phóng sự dài đều có tốc độ chậm hơn Và các chương trình về gameshow thì tốc
độ nói lúc nhanh lúc chậm tùy theo tình huống Tốc độ nói thông thường giao động khoảng từ 4 đến 5 tiếng/giây, tuy nhiên ở khoảng mức đó chỉ là tính tương đối vì tùy thuộc vào từng ngữ cảnh, trạng thái, tình cảm của từng người khi nói
mà tốc độ có sự biến chuyển Nhưng quy định chung không văn bản thì rõ ràng, tốc độ nói cũng phải làm sao để người nghe có thể nắm bắt được đủ thông tin, và
có sự yêu thích nhất định Quá trình nói vì thế cũng có sự phân chia các khoảng lặng khác nhau giữa các câu, từ Truyền hình khác phát thanh ở chỗ ngoài nghe khán giả còn được xem, và khi vừa được nghe vừa xem thì sự điều chỉnh này phải phù hợp nhau Việc nói quá nhanh hay quá chậm cũng làm ảnh hưởng đến
sự tiếp nhận thông tin của cả hai yếu tố hình ảnh và âm thanh
Ở các chương trình văn nghệ, thông thường tốc độ nói của BTV, PTV thường ở mức độ chậm rãi Bởi, thứ nhất do thời lượng chương trình khá dài,
Trang 31thông tin cần truyền tải không quá nhiều, không nhất thiết phải nói nhanh; Thứ hai nếu văn nghệ mà nói nhanh sẽ khiến công chúng không cảm thụ được, mất hiệu quả của chương trình
Tiểu kết Chương 1
Nam Bộ là một trong 6 vùng của Việt Nam được phân chia theo cách của
GS Trần Quốc Vượng, có bản sắc văn hóa riêng, khác biệt với các vùng văn hóa khác trong đất nước Văn hóa Nam Bộ là sự giao thoa của văn hóa Việt, văn hóa Khơme, văn hóa Chăm, văn hóa Trung Hoa và phương Tây Cộng thêm với điều kiện tư nhiện là khí hậu nóng quanh năm, nắng lắm mưa nhiều, với mênh mông
sông nước, kênh rạch chằng chịt, trời đất bao la, ruộng cò bay thẳng cánh, tạo
cho người dân Nam Bộ có cái nhìn phóng khoáng hơn, cách nói thẳng thắn, thật thà, tình yêu quê hương đất nước
Trong đó, TP HCM lại là tiểu vùng mang đầy đủ bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ, do đó có thể coi TP HCM là một Nam Bộ thu nhỏ
Bản sắc văn hóa đặc trưng vùng Nam Bộ được truyển tải tới công chúng Nam Bộ - chủ thể của vùng văn hóa này bằng ngôn ngữ truyền hình qua chương trình văn nghệ của các đài truyền hình ở Nam Bộ, loại hình báo chí thu hút nhiều công chúng vào loại bậc nhất ở vùng đất này
Với sự đặc sắc trong thể hiện âm thanh và hình ảnh, các chương trình văn nghệ của HTV mang đến cho công chúng “cái nhìn” thật nhất, rõ nét nhất và phong phú nhất, từ Lễ hội độc đáo vùng sông nước; Sân khấu với các nét đặc trưng về vọng cổ - cải lương – đơn ca tài tử…; Nghề truyền thống; Ngôn ngữ; Kiến trúc; Văn chương; Tín ngưỡng, tôn giáo; Phong tục tập quán…
Từ đó có thể tác động vào nhận thức với lớp công chúng xem truyền hình trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ
Trang 32CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH BẢN SẮC VĂN HÓA VÙNG NAM BỘ TRONG CÁC
CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN HTV
2.1 Quy trình thực hiện các chương trình văn nghệ trên sóng HTV
Nói đến các chương trình văn nghệ phát sóng trên HTV trước hết phải nói đến đội ngũ tạo ra những tác phẩm ấy Chương trình truyền hình là kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thể cơ quan đài: bộ phận lãnh đạo, bộ phận kỹ thuật,
bộ phận nội dung chương trình, bộ phận hậu cần,… tạo nên thuật ngữ chương trình truyền hình cả về mặt sáng tạo và sản xuất chương trình Trong đó bao gồm các quá trình sáng tạo ra nó từ nhiều công đoạn và tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau Bởi vậy việc, xây dựng chương trình phải có khoa học, có kế hoạch mới đảm bảo sự thống nhất trong quá trình truyền thông truyền hình Nếu xét về mức
độ cơ cấu thì nội dung chương trình truyền hình trước tiên phải hướng tới tư tưởng, chủ đề Có thể nói tư tưởng là điểm xuất phát để xác định cách thức và khuynh hướng của chương trình Làm sao để chương trình hay và có tác dụng thiết thực, hiệu quả là vấn đề cần được chú ý Sự tác động về mặt tư tưởng được biêu hiện trong toàn bộ những yếu tố cơ cấu của chương trình từ thông tin, lựa chọn, bố cục sự kiện, thông qua sự phân tích đánh giá về mặt tư tưởng đến tất cả các thể loại, từ thông báo tin tức đến phân tích, tổng hợp, đánh giá,…
Để xây dựng một chương trình truyền hình ở HTV qua các bước như sau:
- Lập kế hoạch tuyên truyền cho từng kênh, từng chương trình từ tổng thể đến cụ thể, thường do các vị trí lãnh đạo đảm nhiệm, bao gồm: Ban Tổng Giám đốc đài, các Trưởng Ban Nội dung
- Bố cục chương trình là sự phân bố và sắp xếp tin bài vào các vị trí xác định, trình bày sao để công chúng theo dõi một cách thuận lợi, nhanh nhất và rõ nét trong việc tiếp cận thông tin Bước này do: Trưởng - phó Ban nội dung, Trưởng – phó phòng nội dung phụ trách
Trang 33- Phân định thời gian phát sóng có thời lượng được xác định; vào lich cố định và có tín hiệu, nhác hiệu riêng Do Tổ chức sản xuất chương trình phụ trách
- Thực hiện nội dung chương trình: các Biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên
Tuy nhiên, quá trình có sự tác động qua lại, ví dụ ngay cả BTV, PV đều
có thể đưa ra ý tưởng thực hiện chương trình, các Trưởng – phó phòng nội dung
và Ban Tổng giám đốc xem xét và đồng ý cho thực hiện Tất nhiên, những nội dung được duyệt thực hiện và phát sóng phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản của tư tưởng, chính trị và định hướng của Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, của Thành ủy, UBND, HĐND thành phố Hồ Chí Minh
Ý đồ sản xuất các chương trình văn nghệ mang bản sắc văn hóa vùng miền Nam Bộ không nằm ngoài ý nghĩa bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị
di sản văn hóa vùng mà tất cả nhân lực thực hiện phải nắm rõ
Bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ chính là bản sắc văn hóa của chủ thể những người sống tại vùng Nam Bộ, mà trong đó người Việt chiếm chủ đạo Do quá trình lao động sáng tạo để tồn tại, con người tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mình, có nét độc đáo riêng, nên bản sắc văn hóa của dân tộc đó không thể là
yếu tố tĩnh mà là yếu tố động, luôn luôn động Văn hóa là nền tảng yếu tố tinh
thần của dân tộc, giữ lại những cái cốt lõi vừng bền, nhưng vừa tiếp thu cái mới, gạn lọc tinh hoa những giá trị văn hóa từ bên ngoài để phù hợp hơn với cái của mình, thành văn hóa đặc thù của riêng mình
Nam Bộ từ miền đất hoang vu rừng thẳm, nhiều sông rạch, đầm lầy, trên rừng nhiều thú dữ, rắn độc và động vật quý Dưới nước tôm cá bạt ngàn, còn có
cá sấu, cá mập Người nông dân Nam Bộ lao động cần cù, dũng cảm Thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, cải tạo tự nhiên, phòng chống thú dữ trên rừng, dưới nước
để sản xuất và bảo vệ sản xuất Người cùng xóm làng, họ hàng cưu mang đùm
Trang 34bọc lẫn nhau “thương người như thể thương thân”, giúp đỡ nhau từ chén cơm,
manh áo cho đến qua trình sản xuất
Tuy rằng những người đến lập nghiệp vùng này đến từ nhiều vùng ở miền Trung, miền Bắc nhưng sau nhiều thập kỷ, cộng với sự giao thoa với các tộc người khác như Khơme, Chăm, Trung Hoa và người Tây âu, cộng với điều kiện
tự nhiên, điều kiện sản xuất sinh sống bị thay đổi, đã khiến văn hóa cũng có sự thay đổi lớn
Quá trình chuyển đổi và thích ứng với môi trường đó đã dần dần hình thành và phát triển ở người di dân những lối sống, tính cách sắc thái văn hóa mang tính tiêu biểu địa phương Vì thế, chủ thể của vùng văn hóa Nam Bộ nổi tiếng là phóng khoáng: “trọng nghĩa khinh tài” (Trịnh Hoài Đức); “dám làm ăn lớn” (Lê Quý Đôn); “hiếu khách hơn bất kỳ nơi nào khác ở Châu Á” (Fanlayson)
và thậm chí là “làm bao nhiêu ăn nhậu bấy nhiêu, được đến đâu hay đến đó” Vì thế, các chương trình văn nghệ trên sóng HTV phải đảm bảo thể hiện bằng hình ảnh và âm thanh sao cho hội tụ đầy đủ các nội dung, cũng như đáp ứng được các yêu cầu sao cho phù hợp với lối sóng, tính cách của những người dân nơi đây
Với tư cách là một bộ phận của văn hóa Việt Nam, văn hóa Nam Bộ có những nét tương đồng với cái chung nhưng vẫn có những cái khác biệt rõ nét Sự tương đồng và khác biệt đó phải được xem xét một cách vừa tổng thể vừa chi tiết làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình truyền hình Xây dựng chương trình văn nghệ vì thế phải xác định được đâu là điểm khác biệt và đâu là điểm tương đồng, vừa làm cho khán giả biết được văn hóa Nam Bộ nằm trong cái nôi chung của văn hóa Việt Nam mà vẫn toát lên được cái đặc sắc riêng biệt
Tuy nhiên, thể hiện bản sắc văn hóa bằng các chương trình văn nghệ - danh từ này xưa nay thường được hiểu theo ba nghĩa chính, bao gồm: là cái nghề văn, là nghệ-thuật của văn chương hay nghệ-thuật làm văn, là văn-chương và nghệ-thuật [28, tr 6]
Trang 35Như vậy, các chương trình văn nghệ trên HTV thể hiện bản sắc văn hóa người Nam Bộ qua các loại hình nghệ thuật: văn chương (trong truyền hình thường sử dụng phim tài liệu thay thế); ca nhạc; múa; âm nhạc; sân khấu; điện ảnh; kiến trúc và mỹ thuật (hai loại hình này thường được lồng ghép trong các loại hình nghệ thuật trước) Và các chương trình văn nghệ này sử dụng tư liệu khác với sự thể hiện của những chương trình truyền hình khác như thời sự, phóng sự về những nội dung như kinh tế, xã hội, tài chính, thể thao…
Với những đặc trưng về văn hóa và tính cách của người Nam Bộ như vậy thì rõ ràng, nhu cầu theo dõi về nội dung này của người Nam Bộ cũng rất cao Chính vì thế, các chương trình văn nghệ trên truyền hình cho khu vực này phải
có cách thức thể hiện và thời gian pháp sóng phú hợp với tính cách, tâm lý, nếp sinh hoạt của người dân bản địa xác định địa bàn phát sóng, từng nhóm đối tượng khán giả là cơ sở để xây dựng bản sắc riêng độc đáo nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả của chương trình
Lấy chương trình ca nhạc dân tộc “Đờn ca tài tử - Hồn quê Nam Bộ”, do Ban Văn nghệ phát sóng trên HTV9 vào ngày 20 tháng 8 năm 2011, phân tích để thấy rõ hơn ý đồ thực hiện của chủ thể những người thực hiện của HTV
Yêu cầu đặt ra cho chương trình là vừa phác họa được loại hình ca cổ này trong đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ, vừa thể hiện được các bản ca còn lưu giữ từ xưa đến nay, vừa cho khán giả thấy được loại hình này đã phát huy, thay đổi thế nào trong thời đại mới
Do đó, ý tưởng thực hiện chương trình ban đầu xuất phát từ NSUT Lê Thụy – Phó Ban Văn nghệ của HTV, với phương châm phải đạt được mục đích như yêu cầu đã đặt ra Ý tưởng này sau đó được trình tới Ban Tổng giám đốc Đài, trực tiếp phụ trách mảng nội dung thời điểm năm 2011 là Phó Tổng Giám đốc Mã Diệu Cương Được sự đồng ý của Phó Tổng giám đốc Đài, ý tưởng được giao cho Biên tập viên Thu Hồng để thực hiện
Trang 36Với kinh nghiệm 15 năm là BTV của Ban Văn nghệ, BTV Thu Hồng bắt đầu quá trình lên kịch bản với vốn kiến thức về văn hóa có sẵn, tìm tòi, nghiên cứu thêm để bổ sung thông tin và các tiết mục ca nhạc cho chương trình Sau đó, một kịch bản truyền hình về “Đờn ca tài tử - Hồn quê Nam Bộ” được hình thành
và bắt đầu đi vào sản xuất và phát trên sóng HTV9
Chương trình mở đầu bằng hình ảnh và lời giới thiệu về loại hình Đờn ca tài tử - một bộ môn nghệ thuật không thể thiếu trong đời sống tin thần của hầu hết người dân Nam Bộ Điều khiến người dân Nam Bộ xem đoạn phóng sự ngắn giới thiệu này nhận rõ đây là đặc trưng của vùng Nam Bộ bởi những hình ảnh làng quê Nam Bộ với những kênh rạch, người dân chèo ghe qua lại Nền nhạc là tiếng đàn được sử dụng như đàn cò, đàn nhạc, đàn tranh, đàn tì bà, đàn kim, đàn tam, sáo …người Nam Bộ nghe qua là có thể nhận ra ngay bởi tiếng nhạc này đã thấm sâu vào tâm thức họ từ nhỏ
Chuyển sang phần biểu diễn ca khúc, công chúng càng dễ dàng nhận thấy điều thân quen qua lời ca tiếng nhạc Bởi các ca khúc như “Giang Nam Cửu khúc”, trích đoạn “Ngũ Đối Ai”, trích đoạn “Bình Bán Chấn”, trích đoạn “Lý giao duyên”, đều là những ca khúc hay nổi tiếng, được truyền từ đời này sang đời khác mà người dân Nam Bộ ít nhiều đều thuộc
Chương trình còn ghi nhận sự phát huy của loại hình ca cổ này với một số
ca khúc được ngay chính người dân Nam Bộ thể hiện Những “Ca sỹ nhà vườn” này vừa góp phần gìn giữ lời ca, tiếng nhạc không bị mai một, vừa cho ra đời những lời hát mới dựa trên bản nhạc xưa, tạo thêm sự mới mẻ và phát huy thêm cho loại hình “Đờn ca tài tử”
Hơn thế nữa, với đặc tính đồng bộ của hình ảnh và âm thanh, truyền hình
có khả năng cao trong việc phát đi thông điệp và tác động mạnh nhất trong các loại hình báo chí Bởi khi xem truyền hình thì cùng lúc thị giác, thính giác của con người được tác động bởi những hình ảnh chuyển động và những âm thanh sống động trên màn hình Nếu như báo in, báo mạng, báo phát thanh phải buộc
Trang 37người ta phải đọc, nghe và buộc người ta phải hình dung sự kiện qua những lời miêu tả của tác giả thì truyền hình lại cho người ta thấy thông tin của sự kiện thấy không gian nơi diễn ra sự kiện và những chủ thể đang tham gia sự kiện ấy một cách chân thực Tính chân thực đã tạo cho người xem độ tin cậy khi đón nhận những thông tin mà truyền hình chuyển tải đến Vì thế, khi những người dân Nam Bộ xem chương trình này, họ có thể nhận ra vùng đất, làng quê mà chương trình đang nói đến Họ có thể bắt gặp người thân, người quen qua hình ảnh trên truyền hình Chính điều đó khiến họ cảm thấy thân thuộc, gần gũi hơn, nhớ lâu hơn những điệu nhạc cổ
Mặt khác đó là những hình ảnh được ghi lại từ nhiều góc độ khác nhau của ống kính máy quay và mầu sắc sinh động cảu hình ảnh cho ngừơi xem cảm hứng và tạo cho họ như đang được tham gia vào sự kiện Ví như ngay chính những người dân vùng quê được “lên” truyền hình trong chương trình văn nghệ
đó, họ sẽ phấn trấn khi nhìn thấy hàng cau nhà mình ở góc độ khác, thấy cha – ông – chú mình hát lời ca sao mà hay đến thế Những điều đó là dòng nước ngầm thấm sâu hơn về một nét văn hóa đặc trưng vùng Nam Bộ, nơi họ đang sinh sống
Để làm nên thành công cho các chương trình truyền hình, “ekip” thực hiện đã phải lên một kịch bản và phân công rõ ràng từng ví trí Nếu như biên tập là người đưa ra ý tưởng, tìm tòi chi tiết nội dung về ý tưởng đó, lên kịch bản chi tiết cho chương trình thì các vị trí khác cũng góp phần quan trọng không kém Ví như đạo diễn hình, quay phim phải lựa chọn cho được những góc quay, cảnh quay đẹp, phù hợp với nội dung và tiêu chí thể hiện đã đưa ra trong kịch bản
2.2 Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và các chương trình văn nghệ mang bản sắc văn hóa vùng miền Nam Bộ
2.2.1 Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 38“Ở Việt Nam, truyền hình ra đời khá muộn so với nhiều nước trên thế giới Ngày 7-9-1970 được đánh giá là mốc ra đời của ngành truyền hình Việt Nam Tiềm năng của truyền hình rất lớn, tuy ra đời muộn hon so với báo in và phát thanh nhưng truyền hình đã thực sự trở thành phương tiện truyền thông đại chúng thu hút đông đảo công chúng khán giả, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình không thể thiếu trong mỗi gia đình” [26]
Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh là đài truyền hình do nhà nước Việt Nam quản lý, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Tên viết tắt của đài là HTV lấy từ tiếng Anh Ho Chi Minh City Television và tên này
có trong biểu trưng của đài
Đối tượng phục vụ chính của HTV là nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh lân cận Hiện tại HTV đang thực hiện việc mở rộng vùng phủ sóng ở các tỉnh, thành nhằm phục vụ đông đảo nhân dân tất cả Việt Nam (Hiện nay các tỉnh ở Việt Nam không có sóng analogue HTV, có thể xem HTV qua vệ tinh; cable (HCTV, VCTV, DTH); DVB-T (VTC) và HTV online)
HTV trực tiếp sản xuất 3 kênh truyền hình quảng bá, 4 kênh truyền hình
kỹ thuật số và 13 kênh truyền hình cáp
“Trong các chương trình tin tức, giải trí của mình, HTV mua bản quyền từ nhiều hãng truyền hình khác nhau như: Reuters, AP, BBC, Discovery Channel
và nhiều hãng khác” [40]
“Tiền thân của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh là Đài truyền hình Giải phóng bắt đầu phát sóng từ ngày 1 tháng 5 năm 1975 Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 là Đài truyền hình Sài Gòn (Việt Nam Cộng Hòa), thành lập năm 1965, phát sóng đầu tiên ngày 7 tháng 2 năm 1966 và lần cuối cùng ngày 29 tháng 4 năm 1975 Thời điểm đó tại Sài Gòn có hai đài truyền hình sát cạnh nhau ngay khu trung tâm: đài truyền hình của quân đội Mỹ (kênh 7) và đài truyền hình Sài Gòn (kênh 9) Trong khi ở miền Nam lúc đó có tới năm đài truyền hình (Sài
Trang 39Gòn, Cần Thơ, Huế, Nha Trang, Qui Nhơn) thì ở miền Bắc truyền hình chưa hết giai đoạn thử nghiệm”[40]
Sau khi tòa nhà trung tâm được khánh thành vào đầu năm 2006, với thiết
bị, công nghệ hiện đại, đài truyền hình này đang từng bước chuyển sang kỹ thuật
số và một nguồn nhân lực giỏi HTV đang cố gắng phấn đấu để trở thành một tập đoàn truyền thông lớn mạnh trong khu vực Đông Nam Á HTV hiện là một trong hai đài truyền hình lớn nhất Việt Nam sau Đài truyền hình Việt Nam
Mặc dù là đài truyền hình lớn nhưng thực tế, HTV vẫn là đài truyền hình địa phương, phản ánh thông tin chính khu vực Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh Do vậy, HTV vẫn giữ vai trò là một đài truyền hình phản ánh thông tin mọi mặt của Thành phố Hồ Chí Minh, với đầy đủ các chức năng của một cơ quan báo chí đặt tại địa phương
Trong hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam, bên cạnh các cơ quan báo của Trung ương, còn có hệ thống báo chí của các địa phương Báo chí địa phương là một bộ phân quan trọng cấu thành nền báo chí cách mạng Việt Nam
“Ở các địa phương, hệ thống các báo đảng do Tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo quản lý, còn các đài phát thanh, truyền hình do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý Các cơ quan báo chí này làm nhiệm vụ không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cơ quan tuyên truyền, giải thích vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách mà còn định hướng chính trị, tư tưởng cho nhân dân trước các sự kiện, vấn đề trong tỉnh, thành, khu vực, trong nước cũng như quốc tế HTV cũng bao hàm đầy đủ các yếu tố đó” [41]
Trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, những năm qua, HTV đã không ngừng đổi mới, cải tiến các chuyên mục, chương trình…phù hợp với nhu cầu của công chúng, góp phần to lớn trong việc động viên tinh thần thi đua lao động, làm việc, học tập trong các tầng lớp nhân dân Cổ vũ những nhân tố mới, những điển hình tiến
Trang 40tiến, góp phần tích cực trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương; đem đến cho công chúng địa phương những thông tin bổ ích, thiết thực, gắn với cuộc sống hàng ngày của họ
So với các đài truyền hình trung ương, HTV có lợi thế là nắm chắc hoàn cảnh cụ thể, phong tục tập quán địa phương, đi sâu vào từng đối tượng riêng biệt,
từ đó thông tin gần gũi, góp phần tác động vào tư tưởng, tình cảm của người dân địa phương một cách trực tiếp
Mỗi địa phương đều có những truyền thống và đặc điểm riêng biệt về đời sống kinh tế - xã hội, có sắc thái riêng trong tâm lý của công chúng báo chí Công chúng địa phương thích báo chí ở tại địa phương mình vì họ luôn luôn muốn biết được những thông tin của địa phương mình, những thông tin đã và đang diễn ra xung quanh mình Đó chính là lợi thế của hệ thống báo chí ở địa phương
Là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và là diễn đàn của nhân dân, báo chí địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc giữ vững sự ổn định chính trị, thúc đẩy công cuộc đối mới về mọi phương diện, góp phần nâng cao dân trí và dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương
Với những yếu tố đó HTV vừa mang tính chất là đài truyền hình khu vực vừa là một đài truyền hình địa phương với những phản ánh mọi mặt về Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ Và chính điều này khiến HTV trở thành Đài truyền hình nắm rõ nhất bản sắc văn hóa vùng Nam Bộ trong hệ thống các đài truyền hình ở Việt Nam
2.2.2 Giới thiệu các chương trình văn nghệ trên HTV góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Nam Bộ
Nhắc đến các chương trình văn nghệ trên HTV trước tiên phải kể đến kênh truyền hình Thuần Việt trên hệ thống truyền hình cáp HTVC Thuần Việt là kênh văn nghệ đặc sắc, mang sắc màu quê hương đặc trưng Nam Bộ Là Kênh giải trí tổng hợp, nơi tập trung các chương trình văn nghệ đặc sắt nhất của Nam