Đó chính là sức mạnh của truyền thông, báo chí đã có một bề dày lịch sử phát triển khá lâu dài và đã được xã hội khẳng định, nó đã trở thành món ăn tinh thần hàng ngày không thể thiếu đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG CHÚNG VỚI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
HÀ NỘI - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG CHÚNG VỚI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Xuân Sơn
HÀ NỘI - 2007
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kỷ XX, loài người đã được chứng kiến một hiện tượng hết sức quan trọng, đó là sự bùng nổ thông tin Không có lĩnh vực hoạt động xã hội nào lại không chịu ảnh hưởng của sự bùng nổ này Nó có tác động mạnh
mẽ trên phạm vi toàn thế giới và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống
xã hội hiện đại Con người dù ở bất cứ đâu trên hành tinh này cũng đều có thể biết hàng loạt các sự kiện đang xảy ra trên thế giới mà không bị lệ thuộc hay
bị ngăn cản bởi không gian và thời gian Đó chính là sức mạnh của truyền thông, báo chí đã có một bề dày lịch sử phát triển khá lâu dài và đã được xã hội khẳng định, nó đã trở thành món ăn tinh thần hàng ngày không thể thiếu được đối với các tầng lớp dân cư và hình thành nên một thói quen tiếp nhận thông tin từ báo chí
Hiện nay, truyền hình là một phương tiện truyền thông hữu hiệu Mặc
dù ra đời muộn song truyền hình đã ngày càng khẳng định được vai trò hết sức quan trọng trong việc truyền đi và tiếp nhận thông tin của loài người Qua màn hình vô tuyến, người xem như được tận mắt trong thấy những sự kiện, hiện tượng và hành động, thái độ của con người như họ là người trực tiếp có mặt tại nơi diễn ra sự việc, hiện tượng ấy Hình ảnh và tiếng động hiện trường cộng với sắc thái của tình cảm thái độ người thực hiện chương trình được thể hiện bằng lời bình, nhạc, đã tác động tới người xem, cuốn hút và gây xúc cảm cho họ Việc khán giả được chứng kiến mọi sự việc, hiện tượng trên toàn cầu ngay tại nhà mình đã làm cho hầu hết gia đình nào cũng có ti vi Số gia đình có sử dụng ti vi đã lên đến con số hàng tỷ và truyền hình ngày càng thể hiện rõ sức mạnh truyền thông của mình
Mục đích nhắm tới của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng chính
là công chúng, phục vụ công chúng Báo chí không thể tồn tại bên ngoài xã hội,
Trang 4vì sứ mạng của báo chí trước hết đó là thỏa mãn các nhu cầu xã hội Bên cạnh
đó, xã hội hiện đại cũng không thể tồn tại mà không có báo chí, xã hội quan tâm đến việc phổ biến những thông tin có ý nghĩa xã hội quan trọng trên quy mô đại chúng Đó là sự phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các phương tiện thông tin đại chúng và xã hội, mang ý nghĩa nhiều mặt và đa dạng Các nhà báo và công chúng hưởng thụ thông tin đều tuân theo những luận thuyết và quan điểm cụ thể
về báo chí Những luận thuyết và quan điểm ấy quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, các hình thức và phương pháp hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng
Trong mối quan hệ với dư luận xã hội (hay chính là công chúng tiếp nhận) thì báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng Đầu tiên, phải kể đến vai trò khơi nguồn, tức là năng lực xã hội hóa các sự kiện và các vấn đề từ một góc phố, làng quê, ở một không gian hẹp thành sự kiện và vấn đề toàn xã hội, thậm chí toàn cầu Và ngược lại báo chí có thể nhanh chóng hoặc ngay lập tức đưa các sự kiện và vấn đề trên khắp hành tinh về đến góc nhà của mỗi người, vai trò này được truyền hình đảm nhiệm một cách tốt nhất Thứ đến, báo chí có vai trò phản ánh dư luận xã hội, phản ánh càng kịp thời, càng sâu sát và đầy đủ bao nhiêu thì báo chí càng sinh động và hấp dẫn bấy nhiêu Sau cùng, báo chí có vai trò định hướng và điều hòa xã hội, điều hòa tâm lý, tâm trạng xã hội, đây là vai trò có ý nghĩa quyết định hiệu quả tác động của báo chí
Đài truyền hình Việt Nam là Đài truyền hình quốc gia và là Đài truyền hình được sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhất Đồng thời, Đài cũng mang trọng trách lớn đó là định hướng dư luận xã hội, là cơ quan ngôn luận,
là công cụ thể hiện quyền lực chính trị của Đảng và Nhà nước, vừa là diễn đàn dân chủ thể hiện quyền lực của nhân dân, vừa là công cụ của nhân dân giám sát mọi tiến trình kinh tế xã hội, góp phần làm lành mạnh hóa các mối quan hệ trong xã hội Chính vì vậy, có thể coi công chúng là đối tác của báo chí nói chung và Đài truyền hình Việt Nam nói riêng Mối liên hệ giữa công chúng và Đài truyền hình Việt Nam ngày càng thể hiện rõ, đó là mối liên hệ bền chắc và không thể phủ nhận
Trang 5Những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam đã tạo ra một diện mạo hết sức mới mẻ cho xã hội Đời sống của các tầng lớp cư dân đang có những chuyển biến rõ rệt, chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao, kéo theo nhu cầu mọi mặt cũng thay đổi nhanh chóng và ngày một cao hơn
Vì thế mà sự đòi hỏi chất lượng các kênh truyền hình cũng phải được nâng cao Điều này đã tạo nên một lớp công chúng khác trước đây rất nhiều, một lớp công chúng truyền hình hiện đại Sự tham gia của công chúng vào công nghiệp truyền hình đang có xu hướng tăng mạnh, tạo nên mối liên hệ khăng khít giữa công chúng với Đài truyền hình
Để đáp ứng được tốt nhất những nhu cầu của công chúng hiện đại thì việc nghiên cứu và nắm bắt được nhu cầu hay sự quan tâm của họ đối với báo chí là có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nhà làm truyền hình, đặc biệt
là Đài truyền hình Việt Nam
Gần đây, Đài truyền hình Việt Nam đang thực sự chiếm được lòng tin yêu của công chúng, tạo được dư luận khá tốt bởi có sự tiến bộ vượt bậc cả về nội dung và hình thức Cơ chế quản lý đang dần thích nghi với cơ chế thị trường trong khi vẫn đảm bảo chức năng là cơ quan tuyên truyền của Đảng và Nhà nước Nhưng để có thể duy trì sự phát triển mạnh mẽ, Đài truyền hình Việt Nam cũng cần có những kế hoạch thực tế và thường xuyên để phát triển trong giai đoạn tiếp theo Những kế hoạch này phải được dựa trên cơ sở của
sự định hướng chiến lược, những cơ chế hiện hành và sự thay đổi trong tương lai Khả năng thích ứng với tình hình, bao gồm cả sự phát triển về kỹ thuật, kỹ năng và kinh tế, đặc biệt là khả năng nắm bắt đối tác - công chúng hiện đại, để
Trang 62 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, nghiên cứu về công chúng, dư luận xã hội đã được quan tâm từ lâu, ở nhiều cơ quan báo chí lớn trên thế giới đều có trung tâm nghiên cứu công chúng, dư luận xã hội của riêng mình
Tại Việt Nam, công chúng của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng cũng được quan tâm Cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công chúng trong nhiều năm qua, đặc biệt là công chúng của Đài truyền hình Việt Nam, vì đây là Đài truyền hình quốc gia, phủ sóng trên toàn quốc Tuy nhiên, sự nghiên cứu về công chúng thì không bao giờ cũ, bởi nhu cầu của công chúng luôn luôn thay đổi, nghĩa là công chúng luôn thay đổi Đặc biệt là trong thời đại thông tin đang là nhu cầu thiết yếu nhất và truyền hình là phương tiện đáp ứng nhu cầu này hữu hiệu nhất hiện nay
Có một số bài báo khoa học viết về vấn đề công chúng của báo chí nói
chung như: "Đối tượng tác động của báo chí và ý nghĩa của nó đối với hoạt
động của nhà báo" - Bài viết của PGS.TS Nguyễn Văn Dững trên Tạp chí Xã
hội học
Hàng loạt các công trình nghiên cứu về công chúng với báo chí, nhu cầu của công chúng của PGS.TS Mai Quỳnh Nam được in trên tạp chí xã hội
học như: "Dư luận xã hội - Mấy vấn đề về lý luận và phương pháp nghiên
cứu", Xã hội học số 1 (49), 1995; "Văn hóa đại chúng và văn hóa gia đình",
Xã hội học số 4 (72), 2000; "Truyền thông và phát triển nông thôn", Xã hội
học số 3 (83), 2003;
Mặc dù đây chỉ là số ít được kể ra trong rất nhiều các công trình nghiên cứu, song đây vẫn là những công trình nghiên cứu mang tính chất chung công chúng, công chúng đối với báo chí và truyền thông đại chúng, công chúng của báo in chứ không phải về công chúng truyền hình hiện đại Chúng ta có thêm một khái niệm nữa, đó là công chúng truyền hình hiện đại
Trang 7Trước đây, có một số đề tài nghiên cứu về công chúng của báo chí nói chung như:
Năm 2000, tác giả Đỗ Thu Hằng, khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ khoa học Báo chí với đề
tài: "Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng thanh niên hiện
nay"
"Truyền thông đại chúng và công chúng, trường hợp Thành phố Hồ
Chí Minh" - Luận án Tiến sĩ Xã hội học của nhà báo Trần Hữu Quang cũng
được bảo vệ thành công năm 2000
Năm 2003, Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đã có
đề tài nghiên cứu cấp bộ với tên: "Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận sản phẩm
báo chí của sinh viên Hà Nội"
Năm 2005, Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Hà Nội đã có cuộc điều tra "Nhu cầu về truyền hình của sinh viên Hà Nội", hay cũng trong năm
2005, tác giả Vũ Phương Dung, Khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng đã bảo bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ Khoa học
Báo chí với đề tài: "Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận chương trình truyền hình
của sinh viên Hà Nội (Khảo sát các chương trình truyền hình trên sóng VTV1, VTV2, VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam)"
Nhưng công chúng của truyền hình Việt Nam rất lớn và công chúng truyền hình hiện đại không chỉ có thanh thiếu niên, sinh viên mà họ còn có nhiều ngành nghề khác nhau ở những tầng lớp khác và lứa tuổi khác nữa
Chính vì vậy, đề tài " Mối quan hệ giữa công chúng với truyền hình Việt Nam hiện nay" là một đề tài mới
3 Mục đích và nhiệm vụ
3.1 Mục đích
Trang 8- Luận văn có mục đích tìm ra các đặc điểm của công chúng truyền hình hiện đại
- Nghiên cứu tính đa dạng và phong phú trong nhu cầu của khán giả truyền hình tại thời điểm năm 2006, 2007
- Việc đáp ứng về nhu cầu của công chúng truyền hình hiện đại từ phía Đài truyền hình Việt Nam
- Tìm ra mối quan hệ giữa công chúng với Đài truyền hình Việt Nam
- Đưa ra những đề xuất khả thi để điều chỉnh chiến lược phát triển của truyền hình Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng chương trình truyền hình để đáp ứng được nhu cầu của công chúng truyền hình hiện đại một cách tốt nhất
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ các yếu tố có tác động đến sự thay đổi đặc điểm tâm lý của công chúng, dẫn đến công chúng truyền hình hiện đại thông qua mối liên hệ giữa công chúng với truyền hình, cụ thể là các chương trình truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam
- Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xã hội và sự tác động của nó đối với xã hội, con người Việt Nam trong 2 năm 2006, 2007 Đồng thời tiến hành khảo sát thực tế để tìm ra đặc điểm của công chúng truyền hình Việt Nam hiện đại
- Chỉ ra mối quan hệ giữa công chúng với truyền hình, trên cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp phục vụ cho sự phát triển của truyền hình Việt Nam trong thời gian hiện tại và trong tương lai
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Trang 9Đối tượng của luận văn này là công chúng truyền hình Việt Nam trong
cả nước Tuy nhiên, do điều kiện nghiên cứu, tôi xin lựa chọn một số công chúng tại các tỉnh thành đại diện cho mỗi miền
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Công chúng truyền hình sinh sống trên các địa bàn: Hà Nội, Bắc Kạn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Kon Tum
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Thứ nhất: Khi mới xuất hiện, truyền hình Việt Nam đã phải có công
chúng và tạo ra dư luận xã hội Trải qua thời gian, sự phát triển của truyền hình cũng như sự thay đổi về mức sống của công chúng đã làm thay đổi nhu cầu của công chúng Từ đó làm xuất hiện nhiều đặc điểm mới dẫn đến việc hình thành một kiểu công chúng truyền hình mới, vì thế mối quan hệ giữa công chúng với truyền hình Việt Nam cũng có sự thay đổi, khác biệt
- Thứ hai: Sự phát triển về kinh tế, văn hóa đã làm thay đổi cơ cấu dân
cư trong xã hội, quá trình phân tầng xã hội đang diễn ra sâu sắc, làm thay đổi đặc điểm công chúng và nhu cầu của họ đối với truyền hình Việt Nam
- Thứ ba: Tác động của truyền hình Việt Nam đến với công chúng là
rõ ràng, nhưng khi tác động đó có hiệu quả, tức là công chúng đã được định hướng theo một hướng nhất định, công chúng sẽ có sự thay đổi về hành vi, nhận thức, thì công chúng sẽ tác động trở lại với truyền hình Quá rình này là điều kiện để thay đổi phong cách làm việc, quy mô phát triển và cách thức phục vụ của truyền hình Việt Nam
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ đối tác của truyền hình Việt Nam, hay hiểu kỹ hơn
về thị trường của truyền hình Việt Nam
Trang 10- Làm rõ mối quan hệ giữa công chúng truyền hình với truyền hình Việt Nam, từ đó thấy được mức độ quan trọng của công chúng đối với Đài truyền hình Việt Nam
- Qua đây, Đài truyền hình Việt Nam hiểu rõ về công chúng để có sự đáp ứng nhu cầu một cách tốt nhất, khẳng định một mối quan hệ tốt đẹp giữa công chúng với Đài
Từ những ý nghĩa khoa học trên, luận văn sẽ có những ý nghĩa thực tiễn sau:
- Luận văn sẽ góp phần để Đài truyền hình Việt Nam xem xét, điều chỉnh xu hướng phát triển hiện tại và tương lai cho phù hợp với điều kiện kinh
tế, kỹ thuật, đặc biệt là tâm lý, thị hiếu của công chúng truyền hình
- Góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa truyền hình với công chúng Giúp Đài truyền hình Việt Nam sản xuất những chương trình hấp dẫn hơn, thiết thực hơn và tạo được nhiều thiện cảm hơn với công chúng truyền hình
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phân tích tài liệu
Đọc và tra cứu tài liệu, sách báo, hồ sơ, văn bản, có liên quan đến
đề tài
7.2 Quan sát thực tế
Nhằm thu thập những tư liệu thực tiễn về công chúng truyền hình và nhu cầu của họ đối với Đài truyền hình Việt Nam bằng cách xem trực tiếp các chương trình truyền hình được phát sóng trên các kênh truyền hình Việt Nam
và truyền hình cáp Việt Nam
7.3 Lập bảng ankét điều tra, khảo sát xã hội học
Trang 11Dựa vào mục đích, nhiệm vụ của đề tài, tác giả luận văn đưa ra hệ thống câu hỏi đối với công chúng truyền hình mang tính chất thăm dò ý kiến nhu cầu xem các kênh của Đài truyền hình Việt Nam
Số lượng phiếu phát ra dự kiến khoảng trên 1000 phiếu
7.4 Sử dụng các cuộc phỏng vấn sâu
Lấy ý kiến của các công chúng xung quanh mối quan tâm của họ đối với Đài truyền hình Việt Nam và sự tác động của các chương trình truyền hình Việt Nam đến họ
7.5 Thống kê, xử lý và phân tích số liệu
Sau khi tiến hành khảo sát xã hội học, thu thập các mẫu phiếu điều tra
để phân tích, tổng hợp căn cứ theo mục đích, nhiệm vụ của đề tài, phát hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng, bản chất và tính quy luật phát triển của công chúng, kiểm định các giả thuyết đã đặt ra
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về công chúng và báo chí truyền hình Chương 2: Hiện trạng đáp ứng nhu cầu công chúng của Đài truyền
hình Việt Nam - Mối quan hệ giữa công chúng với Đài truyền hình Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp để đáp ứng nhu cầu tiếp
nhận truyền hình của công chúng
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHÚNG
VÀ CÔNG CHÚNG TRUYỀN HÌNH
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
1.1.1 Đặc điểm tác động của thông tin truyền hình tới khán giả
Truyền hình trước hết là một phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin, là loại báo chí đặc biệt Truyền hình có thể cung cấp cho công chúng khán giả nhiều loại thông tin với những tính chất khác nhau như: thông tin báo chí, thông tin chính trị, thông tin khoa học kỹ thuật, thông tin khoa học giáo dục, thông tin văn học nghệ thuật,
Ra đời với sự thừa hưởng thành quả của điện ảnh, phát thanh và báo in, Truyền hình đến với công chúng trước hết là bằng hình ảnh, những hình ảnh sống động, xác thực của đời sống Hình ảnh là yếu tố khách quan, chứa đựng sự sinh động của cuộc sống thực, không bị dàn dựng, chính hình ảnh là yếu tố đầu tiên và là yếu tố đem lại chất lượng thông tin cao cho truyền hình
Bên cạnh yếu tố hình ảnh còn có vai trò không thể thiếu được của âm thanh mà chủ yếu là lời nói Hình ảnh và âm thanh trong một tác phẩm truyền hình quan hệ với nhau một cách hữu cơ, gắn bó, chúng tạo tiền đề, bổ sung và nâng đỡ nhau, hòa quện với nhau trong một tổng thể, và cùng tác động đến công chúng khán giả một lúc
Ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh, trong đó hình ảnh
là yếu tố chính Truyền hình luôn phản ánh sự kiện, sự việc chân thực, khách quan và có địa chỉ rõ ràng, ngôn ngữ truyền hình có khả năng tác động nhanh, mạnh vào quá trình cảm nhận thông tin của khán giả
Hiện nay, xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang được thể hiện rõ nét
và sâu sắc trong các chương trình truyền hình, đặc biệt là những kênh truyền
Trang 13hình lớn, như Đài truyền hình Việt Nam chẳng hạn Truyền hình đã vượt ra khỏi những biên giới cứng, mặc dù vẫn là giao tiếp gián tiếp nhưng ở những chương trình phát trực tiếp, truyền hình đã có thể đưa người xem thực sự nhập cuộc, xóa bỏ ranh giới không gian và xóa bỏ những rào cản tâm lý, ngôn ngữ,
Với ký hiệu thông tin đặc trưng là hình ảnh và âm thanh tổng hợp, quá trình cảm thụ thông tin truyền hình của khán giả diễn ra với hiệu quả cao Những thông tin do truyền hình mang lại gây tác động mạnh mẽ vào quá trình nhận thức của khán giả, hiệu quả thông tin truyền hình có thể gây nên những dư luận rộng lớn nhờ tính xác thực, sống động, khả năng biểu cảm cao và phủ sóng rộng khắp Việc giao tiếp trên truyền hình hiện nay đã xóa bỏ được khoảng cách về không gian rộng lớn, đồng thời tạo được hiệu quả đặc biệt đối với công chúng Người xem không phải hình dung ra sự kiện mà là trực tiếp tham gia vào sự kiện, dẫn đến một hiệu ứng lan truyền, tạo ra dư luận xã hội
Thời điểm phát sóng và thời điểm thông tin đến với người xem là đồng thời, những thông tin bằng hình ảnh và âm thanh tạo cho khán giả cảm giác được chứng kiến như những sự kiện, sự việc thật đang diễn ra ngay trước mắt họ Hình ảnh trên truyền hình có độ tin cậy cao, bằng những hình ảnh có màu sắc kết hợp với âm thanh tạo nên các cung bậc, âm điệu đa dạng, truyền hình có khả năng tạo nên cảm giác chân thực, đầy đủ và chân thực cho người xem Về hình thức tồn tại, truyền hình cũng giống như sân khấu và điện ảnh,
có liên quan đến thời gian và không gian Tuy nhiên, thông tin truyền hình tự
do đi vào từng nhà Số người xem truyền hình là hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ người, nhưng với môi trường cảm thụ thông tin là các gia đình, nên chất lượng hình ảnh và quy mô của màn hình cũng rất khác với điện ảnh
Có thể nói truyền hình là một yêu cầu có tính chất tiền đề để có thể sáng tạo ra được những tác phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của công chúng
Trang 141.1.2 Vai trò, chức năng của truyền hình trong đời sống xã hội
Trước hết, phải khẳng định rằng, truyền hình là một loại hình truyền thông nằm trong hệ thống truyền thông chung nên nó cũng mang đầy đủ vai trò, chức năng của báo chí
Sự xuất hiện của truyền hình thực sự là một cuộc cách mạng trong thông tin đại chúng, tạo ra những điều kiện, khả năng tuyệt vời cho báo chí Công chúng của truyền hình được trực tiếp thưởng thức các buổi biểu diễn nghệ thuật, danh lam thắng cảnh trực tiếp tham gia vào các hoạt động văn hóa,
lễ hội, các cuộc thi đấu thể thao, các hội nghị, Bằng hình ảnh có màu sắc kết hợp cùng âm thanh với những cung bậc, âm điệu đa dạng, truyền hình có khả năng tạo nên những cảm giác chân thật, đầy đủ cho công chúng Đó chính là điều kiện tốt cho người xem truyền hình tiếp nhận thông tin Truyền hình trở thành một loại nhà hát, quảng trường công dân, trường học nhân dân, người hướng dẫn văn hóa đại chúng
Trong các chức năng của truyền hình, đầu tiên phải kể tới các chức năng tư tưởng Với khả năng tác động một cách rộng lớn, nhanh chóng và mạnh mẽ và toàn bộ xã hội, hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng,
cụ thể là truyền hình, có vai trò hết sức to lớn trong công tác tư tưởng.Việc giáo dục lý tưởng, giáo dục chính trị, xây dựng lối sống mới luôn gắn liền với việc
kế thừa và phát huy những giá trị tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Đấu tranh với những âm mưu, những luận điệu phản tuyên truyền, chống Đảng, chống chế độ là một nội dung và mục đích quan trọng của công tác tư tưởng của báo chí
Trên phạm vi toàn xã hội, nhiệm vụ đặt ra cho công tác tư tưởng chính
là liên kết những thành viên riêng rẽ của xã hội thành khối thống nhất trên cơ
sở một lập trường chính trị chung, thái độ trách nhiệm tích cực nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra Một khi nhận thức rõ tính ưu việt của chế độ xã hội, mục đích và kết quả hành động phù hợp với những lợi ích của mình, nhân
Trang 15dân sẽ tự giác thực hiện những nhiệm vụ to lớn của xã hội trên những vị trí công việc cụ thể, trong các lĩnh vực đời sống xã hội nhất định Nói một cách khác, nhân dân làm ra lịch sử theo ý thức của mình Cho nên việc tác động có định hướng vào ý thức của nhân dân chính là tác động có định hướng một cách gián tiếp vào tiến trình của lịch sử
Chức năng có tính mục đích đầu tiên trong hoạt động tư tưởng của báo chí chính là nâng cao tính tự giác của quần chúng nhân dân Để nâng cao tính
tự giác của quần chúng, nhiệm vụ đặt ra cho báo chí là phát triển nhận thức của họ Trình độ nhận thức chính là tiền đề qui định trình độ tự giác của nhân dân lao động Một khi đã được hình thành trong nhân dân lao động, tính tự giác sẽ trở thành động lực mạnh mẽ cho những hành động sáng tạo trong lao động sản xuất và xây dựng cuộc sống mới của họ
Tính tự giác cao của con người chỉ có thể hình thành trên cơ sở nhận thức một cách toàn diện và sâu sắc thế giới xung quanh những qui định của tự nhiên và xã hội, các quá trình và khuynh hướng vận động của đời sống xã hội
và lịch sử Tính tự giác được đặc trưng bởi sự nhận thức vị trí của mỗi cá nhân trong thế giới, trong các mối quan hệ xã hội, sự nhận thức mục đích ý nghĩa cuộc sống, những nhu cầu về lợi ích, con đường và phương tiện để thực hiện những nhu cầu đó
Việc nâng cao trình độ và mở rộng giới hạn nhận thức nhằm hình thành sự tự giác trong nhân dân lao động đòi hỏi báo chí phải quan tâm tới việc thông tin một cách đầy đủ, sinh động các sự kiện, hiện tượng hết sức phong phú của tự nhiên và xã hội, phân tích các mối quan hệ bên trong và giữa chúng với nhau, chỉ ra những biểu hiện cụ thể của những mối quan hệ đó Như vậy thông tin báo chí mang đến cho công chúng bức tranh toàn cảnh về hiện tượng
mà chính họ cũng là nhân vật hoạt động trong đó Hơn hết các loại hình truyền thông khác, truyền hình cho phép công chúng, khán giả chứng kiến gần như trực tiếp vào các hoạt động diễn ra, các thông tin, sự kiện, Hơn thế nữa, báo chí
Trang 16giúp cho công chúng nhìn nhận, đánh giá bức tranh ấy, xác định được tính chất hoạt động của mình trong đó và định hướng các hành vi ý thức, các hành động tương lai của mình ở đây, yêu cầu về sự định hướng toàn diện của quần chúng xã hội trở thành chức năng mục đích của các phương tin thông tin đại chúng
Để thực hiện sứ mệnh của mình, nhiệm vụ đặt ra cho báo chí là khẳng định những yếu tố tích cực, phát hiện và phản ánh những cái mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phê phán những tàn dư của chế độ cũ, những quan niệm, lối sống lỗi thời trong nội bộ nhân dân, phát huy những trí tuệ tài năng và những tiềm lực của đất nước, nhằm đặt ra và giải quyết những vấn đề chính trị to lớn Truyền hình là phương tiện truyền thông thực hiện sứ mệnh này khá tốt, với lợi thế về sự kết hợp hình ảnh và âm thanh, và sự kết hợp lồng ghép với các loại hình nghệ thuật khác như kịch, điện ảnh, truyền hình đã trở thành công cụ tuyên truyền đắc lực trong công cuộc cải cách, giáo dục tư tưởng cho quần chúng Những chương trình mang hình ảnh xác thực, những tin bài mang tính thời sự, đồng thời có sự xuất hiện, tham gia của những người trong cuộc đã làm cho hiệu quả thông tin tăng lên rất nhiều Những phim ảnh, kịch, đã góp phần không chỉ làm nhiệm vụ giải trí cho người xem mà qua đó cũng có những bài học được rút ra một cách khéo léo, tránh được áp lực từ sự giáo điều và mang lại hiệu quả tuyên truyền cao
Truyền hình có vai trò quan trọng trong việc hình thành và hướng dẫn
dư luận xã hội, trong đó phải kể đến chức năng giáo dục, các kênh truyền hình đều phải có chức năng này Chẳng hạn, kênh VTV2 của Đài truyền hình Việt Nam được gọi là kênh khoa giáo, trong đó khai thác chủ yếu về mặt giáo dục khoa học, giúp cho không chỉ tầng lớp thanh thiếu niên, mà là mọi tầng lớp Người già có thể hiểu biết thêm về kiến thức sức khỏe của mình, chăm sóc bản thân, người trung niên có thể hiểu biết những kiến thức về khoa học, tự nhiên, thiên nhiên, những nhà kinh doanh tìm hiểu về kinh tế, các phương
Trang 17cách làm giàu và kiến thức pháp luật, đối với các em học sinh sinh viên thì kiến thức được phổ biến trên kênh này hết sức hữu ích,
Với tình hình phát triển kinh tế nhanh chóng như hiện nay, truyền hình không còn xa lạ với hầu hết quần chúng Việc mỗi nhà có ít nhất một chiếc tivi đang khẳng định vai trò không thể thiếu được của truyền hình Song hành cùng báo in, phát thanh và báo điện tử, truyền hình vẫn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống quần chúng Báo chí là những phương tiện quan trọng trong việc hình thành ý thức lịch sử - văn hóa của xã hội Bằng khả năng thông tin phong phú
và tác động rộng lớn của mình, truyền hình có tác dụng như một trường đại học đại chúng trong việc giáo dục và truyền thụ những tri thức, những giá trị lịch sử - văn hóa Có thể, truyền hình không thể trang bị cho các thành viên trong xã hội một hệ thống tri thức lịch sử, văn hóa như nhà trường, song nó có khả năng to lớn trong việc thẩm định và cổ vũ cho những giá trị lịch sử, văn hóa, tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hình thành ý thức tích cực của mỗi công dân và của
cả xã hội hay là đại bộ phận các thành viên xã hội
Chức năng kế tiếp của truyền hình đó là quản lý và giám sát xã hội, truyền hình đăng tải, bình luận, giải thích, phân tích các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Thông tin đến cho nhân dân lao động nội dung các văn kiện tài liệu của Đảng và Nhà nước, giải thích cơ sở khoa học, thực tiễn và phương pháp, cách thức thực hiện đường lối và chủ trương đó Lợi thế của truyền hình đó là hình ảnh và lời nói, nhiều khi là những nhân vật trực tiếp ban hành luật hoặc chuyên gia hiểu luật, đường lối, chính sách đó sẽ xuất hiện và giải thích trực tiếp nên tránh được sự giáo điều, khô khan của những văn kiện, công chúng dễ nhớ và sẽ làm theo hiệu quả hơn Truyền hình phản ánh, phân tích tình hình thực tế, tình trạng công việc ở từng địa phương, khu vực hoặc một khâu mắt xích nào đó của một quá trình kinh tế xã hội Kết quả của hoạt động này là thông tin một bức tranh toàn diện về sự vật với những mối quan hệ phức tạp của nó, tạo điều kiện cho các cấp lãnh đạo, cơ quan quản lý, người
Trang 18cán bộ lãnh đạo có đầy đủ các dữ kiện để đưa ra những quyết định quản lý mới Truyền hình đã là một phương tiện truyền thông hữu ích trong việc thông xin xác thực và làm bằng chứng cho sự phát triển của xã hội Truyền hình phát hiện nhanh chóng những vấn đề bị làm sai của các đơn vị, các cơ sở, thậm chí là các
cá nhân trong xã hội, đó là truyền hình đã làm tốt chức năng giám sát và kiểm tra của mình, hết sức tích cực trong cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực của đời sống kinh tế xã hội, trong tổ chức Đảng và các cơ quan Nhà nước
Hoạt động giám sát, kiểm tra của báo chí có ý nghĩa xã hội to lớn, song đó là công việc phức tạp và khó khăn, đòi hỏi những người thực hiện phải có trách nhiệm công dân cao Truyền hình là phương tiện thực hiện vai trò này khá hiệu quả, không thể có sự dối trá trên truyền hình vì là hình ảnh thực, âm thanh thực
Một chức năng cuối cùng và cũng đang là xu hướng của truyền hình hiện nay đó là khai sáng và giải trí Có lẽ chưa bao giờ người dân Việt Nam lại có thể được giải trí trên truyền hình nhiều như bây giờ, qua đó công chúng được nâng cao tri thức mà vẫn có thể giải tỏa những căng thẳng của công việc thường ngày Truyền hình nâng cao trình độ hiểu biết, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân lao động, giúp cho mỗi thành viên của xã hội có cơ hội không ngừng bổ sung những kiến thức, làm phong phú đời sống tinh thần của mình
Truyền hình tạo nên điều kiện quan trọng cho sự tăng cường giao lưu văn hóa, làm cho các dân tộc hiểu biết lẫn nhau Những giá trị văn hóa của mỗi dân tộc, bây giờ truyền hình đã trở thành những tài sản, giá trị chung cho
cả nhân loại hiện đại Sự hiểu biết và đời sống tinh thần của con người có khả năng để nâng cao, trở nên phong phú với sự tiếp thu hợp lý và phê phán đúng đắn những tri thức của cả thế giới về văn hóa, nghệ thuật
Xã hội ngày càng phát triển, trình độ giáo dục chung của công dân ngày càng cao, sự hình thành nhân cách, lối sống văn hóa của con người chịu
Trang 19ảnh hưởng của càng nhiều yếu tố phong phú Truyền hình khi thực hiện các chức năng khai sáng, giải trí đã đề cập đến rất nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau, những khía cạnh rất phong phú của đời sống con người, hình thành nên một nền văn hóa toàn diện, lành mạnh và tiên tiến Cùng với những nội dung trên việc đáp ứng các nhu cầu xã hội thông qua việc quảng cáo, chỉ dẫn, dự báo thời tiết, thông báo giá cả thị trường, thông tin những hiện tượng kỳ lạ,
Sự hình thành nền văn hóa, về mọi phương diện của nó, gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động tư tưởng và quản lý xã hội Truyền hình thực sự đã phối hợp các chức năng của mình và thể hiện vai trò to lớn trong việc phát triển xã hội nói chung
1.1.3 Công chúng báo chí và công chúng truyền hình
Công chúng với nghĩa là một danh từ để chỉ một tập hợp xã hội được cấu thành một cách phức tạp bởi nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, mỗi người đều đang sống trong những mạng lưới xã hội và những mối quan hệ xã hội nhất định Khi nghiên cứu về công chúng của một phương tiện thông tin đại chúng, thì không thể tách rời những độc giả hay khán giả ra khỏi môi trường sống của họ, mà ngược lại, phải đặt họ vào trong các hoàn cảnh sống cũng như các mối quan hệ xã hội của họ
Công chúng báo chí là hầu hết toàn bộ công chúng của xã hội, trong
thời đại sống bằng thông tin hiện nay thì công chúng của báo chí quả thật là rất lớn Tuy nhiên cũng cần khẳng định, công chúng của báo chí chủ yếu là những người có tri thức, học vấn nhất định Chẳng hạn như là công chúng của báo
in thì điều tối thiểu đó là phải biết chữ, đầu óc bình thường có khả năng tư duy, đối với truyền hình thì công chúng còn rộng lớn hơn nhiều vì không cần đến khả năng biết chữ, mắt có thể nhìn, tai có thể nghe, thậm chí truyền hình còn phục
vụ cả cho người khiếm thị nữa, đều có thể tiếp nhận thông tin qua truyền hình
Công chúng báo chí nước ta hết sức đa dạng và phân tán Đó là một thực thể xã hội rộng lớn, hết sức phong phú và đa dạng, có sự khác biệt nhau
Trang 20về lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, địa bàn cư trú, nghề nghiệp, mức sống,
sở thích Đối tượng công chúng có thể là một cộng đồng người trong một thôn xóm, khối phố cho đến cộng đồng to lớn có phạm vi toàn quốc Đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ, thời gian, mục đích tiếp cận thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trước kia khi báo chí chưa phát triển, công chúng báo chí có phần "dễ tính", họ tiếp nhận báo chí, đọc hết những gì mà báo chí cung cấp, từ đầu chí cuối Báo chí xuất bản theo chỉ tiêu phân bổ của Nhà nước từ đó chuyển xuống các bưu cục Số lượng báo chí không nhiều, số lượng đầu báo có hạn nên công chúng thời kỳ bao cấp được được bao cấp về kinh tế, và bao cấp cả
về văn hóa nên công chúng tiếp nhận thông tin một cách thụ động Sau cải cách, đi đôi với sự phát triển của kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật Báo chí cũng có sự phát triển rõ rệt, hệ thống thông tin đại chúng với nhiều loại hình, các báo tăng số lượng phát hành, nội dung thông tin phong phú đa dạng, đề cập đến mọi lĩnh vực, mọi ngóc ngách của đời sống xã hội Chưa bao giờ con người lại được sống trong một môi trường truyền thông đa dạng, phong phú
và nhiều chiều như hiện nay Công chúng báo chí hiện nay không còn là đối tượng thụ động, chỉ biết tiếp nhận những nội dung thông tin báo chí cung cấp như trước kia Bởi thế nên trước mỗi sự kiện, sự việc được thông tin trên báo chí có thể nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau, hình thành dư luận xã hội rộng rãi Từ vai trò là đối tượng tiếp nhận thông tin thụ động, công chúng đã tiến lên vai trò chủ động, trực tiếp tham gia vào quá trình truyền thông Họ có quyền nhất định trong việc lựa chọn những thông tin mà họ quan tâm và thích thú Như vậy, công chúng có vai trò như một yếu
tố quyết định trong quá trình truyền thông Họ có quyền chọn những thông tin hữu ích Ở đây, đối tượng truyền thông chủ động linh hoạt muốn được nghe, nói và tham gia vào quá trình truyền thông Đây là một xu thế của công chúng báo chí và cũng là xu thế của báo chí hiện đại
Trang 21Công chúng báo chí Việt Nam mang những nét đặc trưng riêng biệt
So với các nước trong khu vực Việt Nam là nước có tỷ lệ người biết chữ cao,
có truyền thống hiếu học Đối tượng truyền thông ở nước ta là những người cần cù chịu khó nhưng cũng nhạy bén trong việc tiếp cận các thông tin kỹ thuật tiên tiến Song cũng còn những hạn chế nhất định do lối tư duy mạng nặng tính bảo thủ còn rơi rớt lại Do đó hiểu đặc điểm công chúng và đáp ứng
nhu cầu của công chúng là điều cần thiết Mác từng nói: "Báo chí không phải
là cái gì khác mà là sự diễn đạt tâm tư tình cảm hàng ngày của nhân dân và thành thực chia sẻ với họ niềm hy vọng và nỗi lo âu, tình yêu và lòng căm thù của họ" (Các Mác và Ăngghen bàn về vấn đề báo chí)
Đặc điểm của công chúng truyền hình là những nét riêng biệt của công
chúng truyền hình so với công chúng báo chí nói chung và công chúng của các loại hình nghệ thuật khác trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng
Đối với báo in, công chúng có thể tiếp cận các ấn phẩm qua hệ thống phát hành báo chí trong cả nước, đối với phát thanh chỉ cần một chiếc radio nhỏ, một đôi pin là có thể "bắt sóng" và có thể mang đi mọi địa hình mọi thời điểm để tiếp nhận thông tin nhưng với truyền hình việc tiếp nhận thông tin có phần "đòi hỏi" hơn về phần phương tiện thu hình, hệ thống đường truyền tải điện lưới Trước kia hệ thống chuyển tải điện năng của chúng ta chưa rộng khắp, chưa về các vùng nông thôn và chưa lên được tới vùng sâu vùng xa thì khái niệm truyền hình vẫn còn là một cái gì đó xa vời Một số nơi chúng ta thấy có những máy thu hình chạy bằng ắc quy, mặc dù bà con đã khắc phục tình hình thiếu thốn khó khăn để đến với truyền hình nhưng số lượng máy thu hình hoạt động tiếp sóng theo kiểu đó vô cùng ít Và vì vậy, công chúng truyền hình giai đoạn này còn hạn chế, chủ yếu ở những vùng thành thị, những vùng được phủ điện lưới quốc gia Rất nhiều năm trở lại đây, điều kiện điện lưới được khắc phục, điện đã về với bà con vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng bà con dân tộc thiểu số, bên cạnh đó là sự phát triển của kinh
Trang 22tế, xã hội người đã đủ điều kiện để mua máy thu hình, số lượng người dân tiếp cận với truyền hình đã tăng lên nhanh chóng và số lượng công chúng tiếp nhận thông tin trên truyền hình cũng tăng lên rất nhanh Do tác động của địa
lý, địa bàn cư trú không có tính quy tụ mà rải rác, phân tán nên công chúng của truyền hình rất đa dạng và tính chất tiếp nhận thông tin cũng sẽ có sự khác biệt
1.1.4 Công chúng truyền hình hiện đại
Công chúng truyền hình cũng như công chúng báo chí của chúng ta hiện nay không còn thụ động trong việc tiếp nhận thông tin Nếu như trước đây, khi truyền hình mới ra đời, lớp công chúng truyền hình mới hình thành rất ấn tượng và bị hấp dẫn bởi loại hình báo chí mới mẻ này Công chúng thường theo dõi hết những giờ phát sóng ít ỏi của chương trình truyền hình ở thời kỳ đầu, họ tiếp nhận thông tin mà truyền hình mang đến một cách bị động, tuy nhiên thì công chúng vẫn hài lòng vì có truyền hình để xem đã là cả một sự tiến bộ
Cùng với sự phát triển của kinh tế, trình độ dân trí được cải thiện và nâng cao, công chúng có thể tự nhận thức và đánh giá được thông tin Bên cạnh đó là tốc độ của truyền hình, các chương trình ngày càng phong phú và
đa dạng, với nhiều chương trình hấp dẫn được phát 24/24h, trong khi đó công chúng lại ngày bận rộn với công việc của cuộc sống hàng ngày, thời gian dành cho xem truyền hình do đó mà ít đi nên công chúng ngày càng có xu hướng chủ động chọn lọc tiếp nhận những chương trình, thông tin mà mình quan tâm, yêu thích, phục vụ cho lợi ích của bản thân
Công chúng, đối tượng truyền thông chủ động linh hoạt, không chỉ muốn nghe mà muốn nói, muốn tham gia vào các chương trình truyền hình Đây được xem là xu thế của truyền thông hiện đại Công chúng truyền hình ở đây vừa đóng vai trò là đối tượng phản ánh vừa là người tiếp nhận các chương trình truyền hình Công chúng cũng là nguồn đề tài để các nhà làm truyền
Trang 23hình khai thác, sản xuất các chương trình truyền hình, đi sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, tạo sự gần gũi với công chúng
Trong xã hội thông tin hiện nay, con người của xã hội hiện đại đã và đang chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều loại thông tin được mang tới từ các loại phương tiện thông tin khác nhau Chính vì thế, đã tạo ra những lớp công chúng của từng loại hình báo chí riêng biệt, có thể một cá nhân tiếp nhận thông tin từ nhiều loại phương tiện thông tin đại chúng nhưng sự tiếp nhận của từng loại rõ ràng là có sự khác biệt, và họ trở thành công chúng riêng biệt đối với từng loại hình báo chí
Thực tế trên các kênh của Đài truyền hình Việt Nam hiện nay, trong các chương trình có sự tham gia của công chúng rất nhiều Người dân được tham gia các chương trình phỏng vấn, tọa đàm, đối thoại, được nêu ý kiến, thắc mắc hay gọi điện trực tiếp tới chương trình, Đặc biệt là sự tham gia của công chúng vào các chương trình trò chơi truyền hình, một loại chương trình đang phát triển rất mạnh vì tính chất thú vị, bổ ích và hấp dẫn đối với họ Vì thế, số lượng cũng như phạm vi công chúng không ngừng phát triển và mở rộng, tạo thành một lớp công chúng truyền hình khác trước rất nhiều, có thể gọi đó là công chúng truyền hình hiện đại
1.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CHÚNG TRUYỀN HÌNH 1.2.1 Các yếu tố chính trị
Trong mọi hoạt động của xã hội, thì chính trị đã, đang và sẽ giữ một vai trò hết sức quan trọng Các thể chế chính trị nói chung luôn vận hành theo những nguyên tắc chung bảo đảm cho sự tồn tại và sự phát triển của một xã hội Ảnh hưởng của chính trị bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội, không bỏ qua một lĩnh vực nào, trong đó có báo chí
Cũng giống như các sản phẩm văn hóa - tư tưởng khác, báo chí chịu
sự chi phối mạnh mẽ của chế độ chính trị Nội dung báo chí thể hiện chủ
Trang 24trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, hình thức thì phải phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Vì thế, chế độ chính trị xã hội nào thì nền báo chí ấy Do đó một nền báo chí phát triển phải thể hiện được bộ mặt chính trị đương thời Nhà cầm quyền ban hành các văn bản pháp luật, các quy định hoạt động báo chí, những đòi hỏi về báo chí có nội dung đi ngược lại chủ trương chính sách quan điểm của Nhà nước sẽ không được phép đáp ứng, lưu hành và phổ biến Báo chí là công cụ quản lý xã hội của Nhà nước, không Nhà nước nào lại không nắm lấy công cụ, vũ khí sắc bén này Nói như vậy có nghĩa là những nội dung báo chí mà công chúng hưởng thụ cũng chịu ảnh hưởng của chính trị Hay nói một cách khác nhu cầu hưởng thụ thông tin qua báo chí của công chúng mang tính định hướng của Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc
Truyền hình nằm trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng
do đó nằm trong phạm vi ảnh hưởng và quản lý hệ thống chính trị Những ảnh hưởng ở đây thể hiện ở tôn chỉ, mục đích của thể loại báo hình Truyền hình chịu ảnh hưởng của chính trị từ việc lựa chọn mục tiêu, sử dụng các giải pháp
để thực hiện mục tiêu đó, khả năng kiểm soát và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực có sẵn của truyền hình (bao gồm cả tiềm lực tự nhiên và năng lực sáng tạo của đội ngũ những người làm truyền hình), việc cho phép hình thành các cơ chế để quần chúng tham gia vào quá trình thực hiện các chương trình của truyền hình một cách có hiệu quả Như vậy có thể thấy rằng chính trị có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đối với các hoạt động của truyền hình, khả năng tác động vào công chúng để có thể tạo ra một sự thay đổi đối với công chúng truyền hình ở những giai đoạn khác nhau, tạo cho công chúng có nhận thức và khả năng nhất định để hiểu biết về nền chính trị, dân tộc, lịch sử, hệ thống chính trị của đất nước mình, mức hiểu biết của công chúng về các vấn đề trên truyền hình, về quá trình thực thi các chính sách của Nhà nước, ý kiến của người dân về vấn đề này Tất cả các loại hình báo chí đều có khả năng tạo lập quan hệ giữa chính trị và các cá nhân trong cộng đồng và ngược lại Nhưng
Trang 25riêng với truyền hình do bản thân nó đã chứa đựng khả năng rất lớn về vấn đề này, dựa trên cơ sở các mối quan hệ xã hội, chính trị có tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội nói chung và truyền hình nói riêng, chính trị có khả năng tạo ra sự huy động, nhất là tạo ra cơ chế thích hợp để bộ máy của các Đài truyền hình phát triển Truyền hình vừa là công cụ phương tiện tuyên truyền của Đảng và Nhà nước nhưng cũng là đơn vị sản xuất, vừa có ý nghĩa về kinh tế, vừa có ý nghĩa về văn hóa Đối với công chúng truyền hình, chính trị có thể đưa ra chính sách để phát triển nhanh hơn, nâng cao trình độ học vấn của công chúng, truyền hình là kênh thông tin vô cùng hiệu quả Lớp công chúng truyền hình vừa có khả năng sáng tạo ứng dụng các thành quả phát triển của nhân loại đã đạt được, đây có thể coi là lớp công chúng lý tưởng của truyền hình Họ biết tiếp nhận thông tin từ truyền hình, có khả năng phân tích tổng hợp những thông tin ấy và vận dụng sáng tạo vào cuộc sống, không dừng ở đó lớp công chúng này còn có thể tham gia tích cực vào các chương trình truyền hình, trở thành mắt xích quan trọng trong đó
1.2.2 Các yếu tố kinh tế
Trong lịch sử sinh ra và phát triển qua hàng vạn năm của con người, tất cả các quá trình đều gắn liền với các điều kiện kinh tế để phục vụ mục đích mưu sinh Trải qua từng thời kỳ, con người từ chỗ là một thực thể gắn bó với
tự nhiên đã tách ra từng bước chế ngự tự nhiên bằng niềm tin và sức mạnh của mình Với sự phát triển của điều kiện kinh tế, con người có thể vươn lên
tự khẳng định mình Đây chính là yếu tố có tính quyết định làm thay đổi nhu cầu của con người nói chung trong các thời kỳ Trước hết, nó làm thay đổi nhu cầu của con người ở tất cả các khía cạnh, trong đó có nhu cầu hưởng thụ Điều kiện kinh tế ngày càng phát triển tạo cho con người ngày càng có nhiều nhu cầu phong phú đa dạng để phục vụ cuộc sống Trong mối quan hệ biện chứng, nhu cầu con người kích thích sự phát triển kinh tế của xã hội ở trình
độ sản xuất, lực lượng sản xuất và các mối quan hệ kinh tế trong đó Nền kinh
Trang 26tế ngày càng phát triển, đời sống vật chất ngày càng cao thì càng thỏa mãn được nhu cầu ngày càng tăng của con người trong đời sống thực tại
Theo quan niệm của C.Mác thì: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp
thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là các cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức-xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực tại đó" (Mác và Ăngghen toàn
tập, NXB Chính trị quốc gia, tập 13, năm 1993) Theo đó các vấn đề thuộc về thượng tầng kiến trúc bao gồm cả các vấn đề như: đạo đức, lối sống, nhu cầu theo nghĩa rộng nhất là sự khúc xạ tất cả các mặt khác nhau của hình thái kinh tế xã hội và cuộc sống thường nhật của con người và cộng đồng xã hội Yếu tố kinh tế bao gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn luôn chi phối lối sống, đạo đức và các chuẩn giá trị xã hội của các giai cấp, tầng lớp xã hội Trong đó trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất, cụ thể là trí lực và công cụ sản xuất là những yếu tố năng động và quyết định tới sự phát
triển của nền kinh tế Đặc biệt, "đây cũng là chỉ số quan trọng nhất để đánh
giá chất lượng sống, nhịp độ, phong cách sống văn minh" (Triết học xã hội,
A.G.Xpirkin, NXB Tuyên huấn 1989)
Đối với truyền hình và công chúng truyền hình yếu tố kinh tế được coi như là một điều kiện tiên quyết Trước hết, đối với các chương trình truyền hình phải có điều kiện kinh tế để nâng cấp máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng chương trình Đối với công chúng, kinh tế phát triển cũng đồng nghĩa với mức sống của người dân được nâng cao, kéo theo nhu cầu hưởng thụ văn hóa phát triển Yếu tố kinh tế có vai trò lớn trong việc biến nhu cầu tiềm năng thành nhu cầu thực tế, tất nhiên điều kiện kinh tế chưa phải là điều kiện đủ Nhưng một điều hiển nhiên là nếu nhu cầu vật chất chưa được thỏa mãn thì sẽ khó có sự thỏa mãn nhu cầu tinh thần Như vậy có thể nói rằng điều kiện kinh
tế xã hội tỉ lệ thuận với nhu cầu của công chúng nói chung và công chúng truyền hình nói riêng
Trang 27Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy rằng truyền hình có thể xuất hiện trong điều kiện kinh tế eo hẹp nhưng để nó trở thành một loại hình báo chí phổ biến rộng rãi, hoạt động với đầy đủ các chức năng thì yếu tố kinh
tế đóng vai trò quan trọng
Truyền hình có khả năng đến với tất cả các tầng lớp dân chúng rộng rãi nhất thậm chí đến với các tầng lớp nằm ngoài vùng ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng khác Có được khả năng ấy là do truyền hình
có các đặc điểm về bản chất vật lý, nó quyết định tính chất đặc thù của truyền hình với tư cách là phương tiện truyền thông đại chúng Nên có thể nói, trong các điều kiện ảnh hưởng tới truyền hình và công chúng truyền hình thì kinh tế yếu tố chi phối toàn bộ
1.2.3 Các yếu tố văn hóa - xã hội
Văn hóa là những giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo ra,
mà như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:" Nói tới văn hóa là nói tới một
lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải
là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức mạnh dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống chính trị, tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ và không ngừng lớn mạnh" (Văn
hóa và đổi mới, Phạm Văn Đồng, NXB Chính trị Quốc gia, 1994)
Văn hóa văn nghệ từ xưa đến nay đều lấy con người làm đối tượng phản ánh, con người là khách thể của văn hóa Văn hóa do con người tạo ra và hướng con người tới sự phát triển toàn diện về chân thiện mỹ
Công chúng truyền hình là một bộ phận người trong xã hội, yếu tố văn hóa tác động đến công chúng truyền hình, hướng tới mục tiêu nâng cao đời
Trang 28sống tinh thần của họ Công chúng tiếp nhận văn hóa từ nhiều môi trường, nhiều yếu tố tác động khác nhau, trong đó có sự tác động của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng Việc tiếp nhận thông tin có định hướng trên truyền hình đã giúp công chúng truyền hình không phải trải qua quá trình sàng lọc thông tin Bởi những thông tin trên truyền hình đã được sàng lọc, biên tập tỉ mỉ, phù hợp với định hướng phát triển của xã hội Đây là ưu thế cho công chúng truyền hình hưởng thụ những thông tin văn hóa, tư tưởng, tình cảm, phẩm chất, trí tuệ, lành mạnh để phát triển một cách tốt nhất Bằng vốn văn hóa có được của mình, công chúng sẽ tiếp cận, nhận thức và đánh giá trên nền văn hóa có sẵn Đây là điều kiện để phát triển con người lành mạnh, góp phần xây dựng một lối sống văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc và nâng cao hơn nữa vai trò của văn hóa đối với đời sống
1.2.4 Các yếu tố khoa học kỹ thuật
Thời đại khoa học kỹ thuật với sự bùng nổ của thông tin và những thành tựu vượt bậc của con người đã đánh thức những nhu cầu khát vọng, trạng thái, tình cảm vô cùng phong phú và sâu sắc của con người Theo như
Alvin Toffler đã dự báo:"Nền văn minh làn sóng thứ ba sẽ dựa trên thông tin
tác động qua lại với nhau nền thông tin này sẽ chuyển thành hình ảnh đa dạng và cá nhân hóa cao vào dòng trí tuệ xã hội việc computer hóa xã hội sẽ không phi cá nhân hóa các mối quan hệ con người" (Cú sốc tương lai, Alvin
Toffler, NXB Thông tin lý luận, 1992) Sự đa dạng, phong phú nhiều chiều và hài hòa của con người là xu hướng mang tính quy luật trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay
Chúng ta đang sống trong xã hội mà sự chuyển biến của nó dưới tác động của khoa học kỹ thuật là hết sức nhanh chóng Sự ra đời của hàng loạt các thế hệ máy tính đã đem lại sự biến đổi quan trọng về diện mạo của nền văn hóa và kinh tế, nó cung cấp khối lượng thông tin khổng lồ một cách nhanh chóng, chính xác, liên tục và rộng khắp Cuộc cách mạng về khoa học
Trang 29kỹ thuật đã thực sự làm thay đổi cuộc sống của con người từ nếp sống truyền thống của những làng quê đến phương thức sản xuất của các đơn vị doanh nghiệp ở thành thị
Đối với một xã hội luôn biến chuyển thì kiến thức và thông tin là nguồn lực vô cùng quan trọng Vì vậy, nhu cầu về thông tin là một trong những nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người Như vậy, lượng công chúng báo chí sẽ tăng trong đó có công chúng truyền hình Nhịp sống ngày càng gấp gáp, thời gian dành cho việc tiếp cận thông tin của công chúng truyền hình cũng ít hơn dẫn đến cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng truyền hình có nhiều thay đổi Chính truyền hình cũng là một sản phẩm của những thành tựu khoa học và công nghệ
Như vậy, yếu tố khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng lớn đến công chúng truyền hình và yếu tố này ngày càng có nhiều sự biến đổi vượt bậc và ngày càng có nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển chung của công chúng
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG CHÚNG TRUYỀN HÌNH HIỆN ĐẠI
1.3.1 Đặc điểm xã hội học của công chúng truyền hình hiện đại và đặc điểm tâm lý tiếp nhận truyền hình của công chúng hiện đại
1.3.1.1 Mức sống
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta hiện nay thì mức sống của người dân được nâng cao rõ rệt Chuyện mỗi nhà có một chiếc tivi không còn là điều khó khăn, thậm chí có nhà có tới vài ba chiếc, mà không chỉ là tivi xem ăngten mà là chảo, là cáp Mặc dù mức sống ở nông thôn còn nhiều khó khăn nhưng nhu cầu về thông tin đã tỏa lan khắp nên chiếc tivi là người bạn thân thiết của mỗi nhà Trong khuôn khổ của một luận văn, tác giả xin được lấy ví dụ từ nghiên cứu xã hội học của bản thân với bảng hỏi xã hội học trên 8 tỉnh thành
Trang 30THU NHẬP BÌNH QUÂN CỦA GIA ĐÌNH
Số lượng % % Người trả lời % Cộng dồn
Không có 16 1,6 1,6 1,6 Dưới 200 40 3,9 3,9 5,5 201-800 304 29,7 29,7 35,2 801-2000 401 39,2 39,2 74,4 2001-4000 193 18,9 18,9 93,3 Trên 4000 64 6,3 6,3 99,5 Không trả lời 5 ,5 ,5 100,0 Tổng số 1023 100,0 100,0
GIA ĐÌNH CÓ BAO NHIÊU TV
Số lượng % % Người trả lời % Cộng dồn
Không có 41 4,0 4,0 4,0
1 chiếc 720 70,4 70,4 74,4 2-3 chiếc 244 23,9 23,9 98,2
Có từ 4 chiếc trở lên 18 1,8 1,8 100,0 Tổng số 1023 100,0 100,0
Nhìn vào bảng thống kê, chúng ta có thể thấy, trong hơn 1000 người được hỏi ở 8 tỉnh thành khác nhau đã nêu lên rằng mức sống của người dân ngày nay là khá cao Thu nhập bình quân của gia đình trung bình nhiều nhất là
từ trên 800.000đ đến 2 triệu đồng, đối với cuộc sống ở nông thôn, những người lao động phổ thông như vậy được xem là chấp nhận được Đồng thời cũng tương quan với bảng thống kê của câu hỏi có bao nhiêu chiếc tivi trong mỗi gia đình, đa số là mỗi gia đình có 1 chiếc Như vậy, mức sống của công chúng truyền hình khá ổn định
1.3.1.2 Giới tính
Trang 31Công chúng của truyền hình nói riêng và báo chí nói chung không phân biệt giới tính Truyền hình phục vụ thông tin cho mọi người bất kể nam hay nữ, cũng có một số chương trình dành riêng cho phụ nữ, hay đàn ông nhưng không phải chỉ mỗi phụ nữ hay đàn ông xem được mà cả hai giới này đều có thể theo dõi Cũng theo bảng thống kê dưới đây thì phái nam và nữ đều có mối quan tâm đến truyền hình ngang nhau, sự chênh lệch là không đáng kể Nói về tâm
lý tiếp nhận thông tin thì những người thuộc phái mạnh có cách tiếp nhận có chủ đích hơn, mang tính chất phục vụ cho công việc nhiều hơn Sở dĩ, phái nữ không có nhiều sự quan tâm đến truyền hình vì lý do thời gian, họ phải lo chuyện nội trợ cùng với công việc xã hội nên họ tiếp nhận truyền hình với tâm
lý cần thông tin khoa giáo
TƯƠNG QUAN 2 CHIỀU GIỚI TÍNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ TIẾP NHẬN
THÔNG TIN (ĐIỀU TRA NĂM 2006 - 2007)
Giới tính Tổng Nam Nữ
Mức độ xem truyền hình
Thường xuyên SL 445 323 768
% cột 77,1% 72,4% 75,1% Thỉnh thoảng SL 127 111 238
% cột 5,9% 11,7% 8,4%
Trang 32Trao đổi thông tin nhận
được từ truyền hình với ai
Gia đình SL 255 260 515 % cột 44,2% 58,3% 50,3% Đồng nghiệp SL 167 96 263 % cột 28,9% 21,5% 25,7% Hàng xóm/bạn bè SL 133 80 213 % cột 23,1% 17,9% 20,8%
người khác
Chia sẻ thông tin này với người khác SL 187 137 324 Bản thân đóng góp
vật chất Bản thân đóng góp vật chất SL 148 132 280
% cột 35,1% 38,7% 36,7% Vận động người khác
cùng đóng góp vật chất
Vận động người khác cùng đóng góp vật chất
SL 133 90 223
% cột 31,1% 28,3% 29,9%
Sẽ làm gì sau khi tiếp
nhận thông tin thường
xuyên trên truyền hình
Tìm hiểu xem thông tin đó đúng hay sai
SL 334 249 583
% cột 57,9% 55,8% 57,0% Thay đổi thái độ và quan
điểm về vấn đề nêu ra
SL 139 91 230
% cột 24,1% 20,4% 22,5% Giữ nguyên thái độ, quan
điểm cũ
SL 103 104 207
% cột 17,9% 23,3% 20,2% Không trả lời SL 1 2 3
Trang 33chúng truyền hình Việt Nam nhưng đó cũng là những đại diện tiêu biểu, đặc trưng cho từng vùng miền của Tổ quốc Với số lượng phiếu phát ra và thu về đầy đủ đã phản ánh phần lớn tâm lý tiếp nhận của công chúng đối với Đài truyền hình Việt Nam trong thời gian gần đây nhất
1.3.1.3 Trình độ học vấn
Trình độ học vấn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thói quen, nhu cầu
và khả năng tiếp nhận thông tin của công chúng Nhu cầu của công chúng lớn hay nhỏ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố trình độ học vấn Như đã nói ở những phần trước, truyền hình với đặc thù là sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh nên công chúng sẽ được mở rộng ra rất nhiều vì khắc phục được khó khăn của công chúng không biết chữ Đặc biệt, với Đài truyền hình Việt Nam, mức phủ sóng rộng khắp, các chương trình phong phú và khá đầy đủ nên công chúng cũng đa dạng về trình độ học vấn Bảng thống kê về tương quan hai chiều học vấn và tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng trên 8 tỉnh thành đối với các chương trình phát sóng của Đài truyền hình Việt Nam đã cho thấy thực tế là những người có trình độ học vấn ở tầm cao như đại học, cao đẳng là xem truyền hình nhiều nhất Đây cũng phản ánh mối quan tâm hàng đầu của lớp công chúng truyền hình này, họ cần thông tin, cần giải trí trên truyền hình nhiều hơn so với các lớp công chúng khác Đặc biệt, đối với những người không biết chữ thì tỉ lệ người theo dõi các chương trình truyền hình lại khá cao, với đặc trưng là lời nói và hình ảnh, truyền hình thực sự đã xóa đi giới hạn của tri thức, tạo điều kiện lớn cho sự tuyên truyền của Nhà nước cũng như sự phát triển của công chúng
TƯƠNG QUAN 2 CHIỀU HỌC VẤN VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ KHI TIẾP NHẬN TT
Mù chữ ktl Mức độ Thường SL 17 237 57 311 139 4 3 768
Trang 34lớn nội
dung
SL 12 224 48 270 82 1 2 639
% cột 57,1% 82,4% 71,6% 64,0% 35,2% 20,0% 66,7% 62,5% Nhớ một
phận nội
dung
SL 5 30 13 116 118 2 284
% cột 23,8% 11,0% 19,4% 27,5% 50,6% 40,0% 27,8% không
nhớ nội
dung gì
% cột ,4% 1,5% 1,2% 5,6% 40,0% 2,2% Tổng số SL 21 272 67 422 233 5 3 1023
nghiệp
SL 11 118 11 110 11 1 1 263
% cột 52,4% 43,4% 16,4% 26,1% 4,7% 20,0% 33,3% 25,7% Hàng SL 2 38 10 94 67 2 213
Trang 35TƯƠNG QUAN 2 CHIỀU TUỔI VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ KHI TIẾP NHẬN THÔNG
thoảng
SL 5 12 50 23 31 18 37 43 19 238
% cột 22,7% 30,0% 38,8% 17,3% 23,0% 20,5% 28,5% 19,1% 16,2% 23,4
% Hiếm khi SL 4 1 1 1 4 2 3 16
% cột 3,1% ,8% ,7% 1,1% 3,1% ,9% 2,6% 1,6% Không
bao giờ
Tổng số SL 22 40 129 133 135 88 130 225 117 1019
Trang 36quen
SL 10 12 64 76 60 33 52 107 42 456
% cột 45,5% 30,0% 49,6% 57,1% 44,4% 37,5% 40,0% 47,6% 35,9% 44,7
% Tình cờ SL 2 2 22 7 15 11 12 9 6 86
nghiệp
SL 2 29 50 51 31 36 47 17 263
% cột 5,0% 22,5% 37,6% 37,8% 35,2% 27,7% 20,9% 14,5% 25,8
% Hàng
Trang 37Công chúng truyền hình được chia ra hai địa bàn chính là nông thôn
và đô thị Những công chúng sống ở thành thị do có nhiều nguồn để thu thập thông tin nên thời gian dành cho các kênh truyền thông cũng bị san sẻ bớt, nhưng thực tế điều tra lại cho thấy, lượng người xem truyền hình ở thành thị vẫn đông, đã chứng tỏ đặc điểm tiếp nhận thông tin của công chúng là thích được xem thông tin, được thấy mình như tham gia vào sự kiện, hiện tượng nên chọn truyền hình Và trong truyền hình, công chúng có thể tham gia vào các trò chơi, có thể thấy mình trên tivi, đó cũng là một trong số các nguyên
Trang 38nhân khiến công chúng ở nông thôn rất thích xem truyền hình Xem bảng thống kê để thấy rõ nhất sự tương quan giữa những công chúng truyền hình ở nông thôn và công chúng truyền hình thành thị
TƯƠNG QUAN 2 CHIỀU NƠI Ở HIỆN NAY VÀ THỜI LƯỢNG XEM TRUYỀN
HÌNH
Nơi ở hiện nay A Total
Đô thị Nông thôn
Thời lượng xem
% cột 24,6% 18,5% 21,9%
Trang 39ktl SL 28 9 37
% cột 5,0% 2,0% 3,6% Tổng số SL 564 459 1023
% cột 27,5% 20,9% 24,5% ktl SL 22 7 29
% cột 3,9% 1,5% 2,8% Tổng số SL 564 459 1023
% Cột 100,0% 100,0% 100,0%
1.3.1.6 Nghề nghiệp
Bất cứ những làm nghề gì, kể cả thất nghiệp thì họ vẫn có nhu cầu nắm bắt thông tin và giải trí Đó là nguyên do những người làm việc theo giờ giấc (công nhân viên chức) và những người có quỹ thời gian rảnh nhiều nhất (nội trợ, thất nghiệp và hưu trí) là những công chúng xem truyền hình nhiều nhất Tuy nhiên với những nghề nghiệp khác, do không có điều kiện về mặt thời gian hay kinh tế không thể theo dõi truyền hình thường xuyên thì họ lại
có chủ đích xem truyền hình để học hỏi và tham gia vào truyền hình, nghĩa là truyền hình mang lại nhiều hiệu quả hơn với những đối tượng này
TƯƠNG QUAN NGHỀ NGHIỆP VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ KHI TIẾP NHẬN TT
Nghề nghiệp người trả lời Total
Trang 40Công chức
Công nhân
Nông dân
Buôn bán/dịch
vụ
Lực lượng
vũ trang SV/HS
Hưu trí/ nội trợ/
thất nghiệp
phận nội
dung
% cột 15,9% 36,3% 50,9% 30,2% 14,3% 22,0% 26,3% 16,7% 27,8% Không
nghiệp
% cột 46,6% 27,5% 4,2% 11,1% 57,1% 11,9% 6,8% 33,3% 25,7%