Trên thực tế việc thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại các viện nghiên cứu khoa học còn rất nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế và đòi hỏi cần sớm có những chính s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TẠ DUY HIỂN
CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ TẠI CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU THUỘC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN XÃ HỘI HỌC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ
Hà Nội, 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TẠ DUY HIỂN
CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ TẠI CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU THUỘC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN XÃ HỘI HỌC)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chính sách
Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.70
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Xuân Long
Hà Nội, 2011
Trang 3Mục lục
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu 10
3 Mục tiêu nghiên cứu 12
4 Phạm vi nghiên cứu 13
5 Vấn đề nghiên cứu 13
6 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 14
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ 16
1.1 Khái niệm về KHXH, chính sách, thu hút, sử dụng cán bộ khoa học trẻ 16 1.1.1 Khái niệm về KHXH 16 1.1.2 Khái niệm chính sách 16 1.1.3 Khái niệm thu hút nhân lực KHXH 17 1.1.4 Khái niệm sử dụng nhân lực KHXH 19 1.1.5 Khái niệm cán bộ khoa học trẻ 20 1.2 Lý luận về thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ 20 1.2 1 Đặc điểm của cán bộ KHXH trẻ 20 1.2.2 Lý luận về thu hút cán bộ khoa học trẻ 24 1.2.3 Lý luận về sử dụng cán bộ khoa học trẻ 27 Chương 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ TẠI VIỆN XÃ HỘI HỌC 31
2.1 Đặc điểm Viện Xã hội học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam 31
Trang 42.1.1 Đặc điểm Viện Xã hội học 31
2.4 Thực trạng việc sử dụng cán bộ khoa học trẻ ở Viện Xã hội học 48
2.4.1 Thực trạng sử dụng nhân lực KHXH nói chung 48 2.4.2 Thực trạng sử dụng cán bộ trẻ ở Viện Xã hội học 51 2.4.3 Thực trạng thực thi các chính sánh liên quan tới sử dụng cán bộ tại Viện Xã hội
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ TẠI VIỆN XÃ HỘI HỌC 66 3.1 Kinh nghiệm thu hút và sử dụng cán bộ khoa học tại một số nước 66
3.2 Giải pháp đổi mới chính sách nhằm thu hút cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC 88
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
HỌ VÀ TÊN: TẠ DUY HIỂN
LỚP: CAO HỌC K13
KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ
Tên đề tài:
“Chính sách thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại các viện nghiên cứu
thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam”
(Nghiên cứu trường hợp Viện Xã hội học)
Kết cấu luận văn
LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Vấn đề nghiên cứu 10
6 Giả thuyết nghiên cứu 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ 13
Trang 61.1 Khái niệm về KHXH, chính sách, thu hút, sử dụng cán bộ khoa học trẻ 13
1.1.3 Khái niệm thu hút nhân lực KHXH 14 1.1.4 Khái niệm sử dụng nhân lực KHXH 15 1.1.5 Khái niệm cán bộ khoa học trẻ 16
1.2 Lý luận về thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ 17
1.2 1 Đặc điểm của cán bộ KHXH trẻ 17 1.2.2 Lý luận về thu hút cán bộ khoa học trẻ 20 1.2.3 Lý luận về sử dụng cán bộ khoa học trẻ 21
Chương 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ TẠI VIỆN XÃ HỘI HỌC 22
2.1 Đặc điểm Viện Xã hội học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam 22
2.4 Thực trạng việc sử dụng cán bộ khoa học trẻ ở Viện Xã hội học 30
2.4.1 Thực trạng sử dụng nhân lực KHXH nói chung 30 2.4.2 Thực trạng sử dụng cán bộ trẻ ở Viện Xã hội học 33 2.4.3 Thực trạng thực thi các chính sánh liên quan tới sử dụng cán bộ tại Viện Xã hội
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ TẠI VIỆN XÃ HỘI HỌC 43 3.1 Kinh nghiệm thu hút và sử dụng cán bộ khoa học tại một số nước 43
3.2 Giải pháp đổi mới chính sách nhằm thu hút cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã
3.3 Giải pháp Đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ
Trang 73.4 Giải pháp về thực hiện sự phối kết hợp giữa thu hút và sử dụng cán bộ khoa
3.4.1 Những vấn đề cơ bản thực hiện sự phối kết hợp 46 3.4.2 Chính sách đảm bảo thực hiện sự phối kết hợp 48 3.4.3 Giải pháp thực hiện sự phối kết hợp 49
KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO 53 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
KHXHVN Khoa học Xã hội Việt Nam
NCKH Nghiên cứu khoa học
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cán bộ khoa học trẻ có vai trò là đội ngũ nhân lực quan trọng trong phát triển KH&CN nói chung và khoa học xã hội nói riêng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, hoạt động KH&CN đang đặt ra cho nhóm cán bộ trẻ với những yêu cầu vừa là những chủ thể sáng tạo, cống hiến, vừa là nguồn “tài nguyên”, động lực trí tuệ hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức Làm gì để nguồn “tài nguyên” này được khơi dậy và được sử dụng có hiệu quả nhất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước? họ phải làm gì để có thể cống hiến nhiều nhất, đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội?
Đó là những câu hỏi đang được đặt ra không chỉ mang ý nghĩa cấp thiết đối với chủ thể quản lý, các nhà hoạch định chính sách, bản thân nhà khoa học trẻ mà còn đối với toàn thể xã hội
Cùng với những ưu điểm như tính năng động, khả năng sáng tạo, tay nghề chuyên môn, khả năng tiếp thu, học hỏi nhanh, … đội ngũ cán bộ khoa học trẻ cũng còn đang thiếu nhiều điều kiện để phát huy Điều này liên quan tới vấn đề thu hút và sử dụng nhóm đối tường này sao cho có hiệu quả Trên thực tế việc thu hút và sử dụng cán
bộ khoa học trẻ tại các viện nghiên cứu khoa học còn rất nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế và đòi hỏi cần sớm có những chính sách phù hợp để tạo động lực cho họ có thể gắn bó hoạt động nghiên cứu khoa học, góp phần vào việc phát triển nền khoa học nước nhà
Vấn đề thu nhập là một trong những yếu tố rất quan trọng trong việc thu hút cán
bộ nghiên cứu trẻ Thu nhập giúp cán bộ nghiên cứu trẻ duy trì cuộc sống không chỉ cho bản thân mà còn đóng góp vào gia đình, nếu thu nhập không đáp ứng đủ nhu cầu cuộc sống thì khó đảm bảo cho hoạt động khoa học đạt được hiệu quả cao Trong vấn đề thu nhập thì tiền lương là công cụ khuyến khích cán bộ nghiên cứu trẻ cống hiến cho hoạt động khoa học
“Có thực mới vực được đạo” không chỉ mang ý nghĩa về tính triết lý mà nó còn
có ý nghĩa thực tiễn trong việc định hướng chính sách tăng thu nhập trong hoạt động nghiên cứu khoa học Chính sách tăng thu nhập đóng vai trò rất quan trọng đối với cán
bộ nghiên cứu trẻ nói riêng và nguồn nhân lực KH&CN nói chung nhằm thúc đẩy chất
Trang 9lượng, tính hiệu quả trong hoạt động nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, góp phần vào công cuộc phát triển đất nước Thông qua đó tạo cơ chế cho việc sử dụng cán bộ sao cho hiệu quả là yếu tố quan trọng trong định hướng chính sách cho nhóm đối tượng này
Trong những năm gần đây có rất nhiều chương trình, dự án có sự đầu tư của nhà nước cũng như các tổ chức ngoài nhà nước cho hoạt động đào tạo cho nhóm đối tượng
là cán bộ khoa học trẻ Việc được đi đào tạo (đào tạo trong và ngoài nước) đã và đang là lực hút với nhóm đối tượng này trong hoạt động khoa học Tuy nhiên, ở đây vẫn còn những bất cập cần cần có chính sách tháo gỡ như: chính sách thu hút cán bộ sau khi đã được đào tạo, chính sách sử dụng cán bộ, chính sách đãi ngộ cán bộ trẻ tài năng
“Sống lâu lên lão làng” đã và đang là hiện tượng tồn tại đã từ lâu nay tại các viện nghiên cứu nhà nước, chính điều này là yếu tố tác động rất lớn tới nhóm đối tượng cán
bộ khoa học trẻ Việc có được chính sách trong quy hoạch cán bộ trẻ sẽ là tiền đề rất quan trọng trong việc thu hút và sử dụng nhóm đối tượng này trong hoạt động của các viện nghiên cứu Thông qua chính sách quy hoạch cán bộ trẻ có thể coi đây là việc đánh giá đúng năng lực, coi trọng đóng góp của nhóm đối tượng này trong hoạt động tại các viện nghiên cứu Đánh giá đúng người - sử dụng đúng việc đã và đang là mục tiêu có tầm quan trọng vĩ mô trong việc sử dụng nhân lực tại các tổ chức cơ quan, đặc biệt tại các viện nghiên cứu
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa VIII, ngày 24/12/1996 về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhiệm vụ đến năm 2000 đã đánh giá khái quát nguồn
nhân lực khoa học và công nghệ nước ta là “Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy
tǎng về số lượng, nhưng tỷ lệ trên số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao, còn thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ Số đông cán bộ có trình độ cao đều đã đứng tuổi, đang có nguy cơ hẫng hụt cán bộ Không ít cán bộ khoa học và công nghệ chuyển đi làm việc khác hoặc bỏ nghề, gây nên sự lãng phí chất xám nghiêm trọng Cơ cấu và việc phân bố cán bộ khoa học và công nghệ chưa cân đối có nhiều bất hợp lý Nông thôn và miền núi còn thiếu nhiều cán bộ khoa học và công nghệ”, đồng thời đề ra nhiệm vụ phát triển
Trang 10nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đó là: “Có chính sách lương thoả đáng đối với
cán bộ nghiên cứu khoa học và triển khai Có chế độ thưởng, phụ cấp và trợ cấp cho các công trình khoa học và công nghệ có giá trị Có cơ chế để cán bộ khoa học và công nghệ bảo đảm thu nhập thích đáng thông qua việc tham gia các hợp đồng nghiên cứu- triển khai”
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa
học và công nghệ từ nay đến năm 2005 và đến năm 2010 đánh giá “Hoạt động khoa
học chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư ngân sách và đầu tư của xã hội cho phát triển khoa học và công nghệ còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ phục vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trình độ công nghệ, cơ sở vật chất và kỹ thuật của nước ta hiện nay còn thấp so với các nước trong khu vực Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ còn thiếu; cơ cấu ngành nghề và phân bố còn nhiều bất hợp lý” và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn
chế đó là “Công tác quản lý KH&CN còn mang tính hành chính; thị trường KH&CN
chưa phát triển; chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để vừa khuyến khích, vừa đòi hỏi doanh nghiệp đổi mới công nghệ; thiếu chính sách đối với cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là đối với các nhà khoa học có tài năng và trình độ cao”
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011-2020, mục những giải
pháp phát triển nhân lực có chỉ rõ: “Sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực phải dựa
vào năng lực thực và kết quả, hiệu quả công việc Khắc phục tâm lý và hiện tượng quá coi trọng và đề cao “Bằng cấp” một cách hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực”; “Đổi mới đào tạo và chính sách sử dụng cán bộ, công chức gồm: áp dụng các chương trình đào tạo công chức hành chính tiên tiến, hiện đại theo những tiêu chí, chuẩn mực quản trị hành chính của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng
hệ thống chức danh cán bộ, công chức với quy định rõ ràng, cụ thể về quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ gắn với trách nhiệm, quyền lợi và tăng cường đạo đức công vụ, kỷ cương, kỷ luật công tác; thực hiện khoán quỹ lương và cải cách chế độ tiền lương đối với các đơn vị hành chính công, đảm bảo cán bộ, công chức đủ sống bằng lương và từng bước có tích lũy; tổ chức thi vào các chức vụ lãnh đạo từ trung cấp trở xuống…”
Trang 11Vì những lý do nêu trên, tôi xin lựa chọn đề tài nghiên cứu “Chính sách thu hút
và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại các viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Viện Xã hội học)”
2 Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động khoa học và công nghệ của con người nói chung và của nhóm cán bộ nghiên cứu trẻ nói riêng từ lâu đã là một mảng chủ đề quan trọng, thu hút rất nhiều sự tham gia của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực xã hội học, triết học, tâm lý học, … Các nhà quản lý, tổ chức, hoạch định chính sách tiếp cận vấn đề ở rất nhiều góc độ khác nhau
Từ những năm 30 của thế kỷ XX một nhóm các nhà xã hội học đã gây sự chú ý đặc biệt với lý thuyết “tương tác biểu trưng” đặt giá trị vào trung tâm của các mối quan
hệ tương tác giữa cá nhân với cá nhân trong sự hình thành, phát triển của các khái niệm
và biểu tượng Các nhà xã hội học của nhóm “tương tác biểu trưng” đã cố gắng lý giải những nguyên tắc cơ bản từ phía giá trị, chuẩn mực tạo thành động lực và tính đa dạng trong hoạt động sáng tạo và thực tiễn của con người trong đó có hoạt động khoa học và công nghệ
Tại Việt Nam, trước yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đòi hỏi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách đối với cán bộ trẻ trong hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ
Năm 1995, GS Phạm Tất Dong chủ biên công trình “Trí thức Việt Nam thực tiễn
và triển vọng”(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) Đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Nhóm tác giả đã cố gắng tập hợp và đưa ra khái niệm trí thức, mô tả và phân tích những đặc trưng của trí thức Việt Nam, tình hình phân bố cơ cấu và hoạt động của đội ngũ trí thức thời kỳ đầu đổi mới Nhìn chung công trình đã mô tả một bức tranh tổng quát về trí thức Việt Nam, tuy nhiên chưa có những phân tích sâu sắc đối với những nhóm trí thức làm nghiên cứu khoa học, trí thức trẻ
Năm 2007, tác giả Ngô Thị Phượng với công trình “Đội ngũ trí thức khoa học xã
Trang 12hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới (Nxb Chính trị quốc gia)” đã mô tả toàn diện về cơ cấu đội ngũ trí thức khoa học nhân văn, những hoạt động nghiên cứu họ đang thực hiện, thuận lợi khó khăn, nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng và cả những vấn đề bất cập đặt ra từ phương diện chính sách Đây là công trình hướng tới nhóm đối tượng đặc thù vì vậy tác giả chưa có những so sánh cần thiết giữa trí thức khoa học xã hội và các nhóm trí thức khoa học khác, giữa khu vực nhà nước và khu vực phi chính phủ
Năm 2007, Đề tài độc lập cấp nhà nước “Đổi mới chính sách đối với trí thức khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được tiến hành với một nhóm các nhà khoa học do GS Nguyễn Hữu Tăng làm chủ nhiệm Đây là công trình nghiên cứu khá quy mô và toàn diện về chính sách liên quan đến trí thức hoạt động khoa học và công nghệ Nhóm tác giả đã tổng kết toàn bộ những quan điểm, chủ trương đường lối cơ bản của Đảng, chính sách của nhà nước liên quan đến phát triển khoa học và công nghệ thời kỳ đổi mới và những định hướng cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điểm nổi bật của công trình này là các tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, trưng cầu ý kiến đánh giá của các nhóm trí thức về các chính sách khoa học và công nghệ đang hiện hành Tuy nhiên công trình này mới chỉ tập trung vào
sự đánh giá các chính sách vĩ mô, chưa có đánh giá về chính sách cụ thể với đối tượng trí thức trẻ
Năm 2010, TS Nguyễn Thế Hưng với công trình “Đổi mới phương thức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tại các Viện nghiên cứu đa ngành (trường hợp Viện KHXHVN” đã trình bày thực trạng quản lý NCKH tại các cơ quan NCKH ở Việt Nam hiện nay (trong đó có Viện KHXHVN) là: các hình thức quản lý NCKH thường được quản lý theo lĩnh vực chuyên môn của đề tài hoặc theo cấp của đề tài; việc xây dựng kế hoạch NCKH ở từng đơn vị còn manh mún, rời rạc, không có tính chiến lược; phân bổ kinh phí cho NCKH chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước, cách phân bổ kinh phí dựa vào cấp độ đề tài và cấp duyệt của cơ quan quản lý khoa học; khâu tổ chức thực hiện kiểm tra còn nhiều bất cập, chủ yếu chỉ kiểm tra về tiến độ thực hiện, tài chính của đề tài, còn chuyên môn, nghiệp vụ thì chưa thật sự chú ý Tác giả chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, đó là: cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức tạo
ra sức ỳ không dễ khắc phục, chưa tạo được môi trường thuận lợi cho phát triển khoa
Trang 13học; kinh phí đầu tư cho NCKH còn thấp; lĩnh vực thị trường khoa học và công nghệ còn chậm phát triển; chưa có chế độ đãi ngộ hợp lý, chưa có chiến lược thu hút nhân tài trong công tác NCKH…
Trong đề tài KX.03.22/06-10 “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI” (2009-2010), TS Hoàng Thu Hương và Nguyễn Thị Kim Nhung đã phân tích và đưa ra một số nhận định như sau: việc sử dụng nguồn nhân lực hiện nay tuy đã có những biến chuyển và sự phân công công việc đã hợp lý hơn, tạo điều kiện cho đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học phát huy tương đối năng lực làm việc của mình nhưng trên thực tế, rõ ràng việc sử dụng này chưa đạt hiệu quả tối đa; vấn đề về phụ cấp hay những chính sách dành cho hoạt động chuyên môn thực hiện kém, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ phát huy năng lực của đội ngũ trí thức và là nguyên nhân của việc di chuyển nơi làm việc của đội ngũ này đến những công việc tốt hơn và đảm bảo cuộc sống đầy đủ hơn
Nhìn chung có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách đối với nhóm cán bộ trẻ trong hoạt động KH&CN Tuy vậy, vấn đề nghiên cứu về chính sách thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại các Viện nghiên cứu vẫn còn là chủ đề cần có những nghiên cứu cụ thể để đưa ra giải pháp thích hợp phục vụ cho việc hoạch định chính sách KH&CN, đồng thời gợi mở ra hướng tiếp cận mới trong việc hoạch định chính sách KH&CN
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản làm căn cứ để thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học thuộc Viện KHXHVN
- Đưa ra bức tranh hiện trạng về thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại Viện
Xã hội học
- Đề xuất những giải pháp tăng cường chính sách thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học, thông qua đó gợi suy cho các giải pháp chung về chính sách thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ ở các Viện nghiên cứu KHXH&NV ở nước ta
4 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Viện Xã hội học thuộc Viện KHXHVN
Trang 14- Đối tượng nghiên cứu: giải pháp về mặt chính sách nhằm thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học
- Khách thể nghiên cứu: cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ năm 2001 - 2011
- Làm sao để phối hợp giữa hai yếu tố thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ?
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Thu hút cán bộ khoa học trẻ vào làm việc tại Viện Xã hội học phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chính sách thu nhập, tạo môi trường làm việc tốt, cơ hội được tiếp tục đào tạo và nâng cao trình độ, tiếp cận được với đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, cơ hội thăng tiến,
- Việc sử dụng cán bộ khoa học trẻ hiện còn nhiều hạn chế như: bố trí cán bộ không đúng chuyên môn, đánh giá cán bộ chưa đúng,
- Tăng cường sự phối kết hợp giữa hai yếu tố thu hút và sử dụng đem lại hiệu quả trong việc thu hút được cán bộ tốt vào làm việc tại các Viện nghiên cứu, đồng thời phát huy được tối đa năng lực cán bộ, nâng cao hiệu quả quản lý, đem lại hiệu quả cho hoạt động khoa học tại các Viện nghiên cứu
- Việc tìm hiểu các vấn đề lý luận về sự phối kết hợp hai yêu tố thu hút và sử dụng cán bộ trẻ là tiền đề cho chính sách đồng bộ với hoạt động của Viện nghiên cứu
nói chung, của nhóm cán bộ khoa học trẻ nói riêng
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 15Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tiến hành trong Luận văn là phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, phỏng vấn chuyên gia, điều tra bằng bảng hỏi về các vấn đề liên quan
Thông qua tìm hiểu cơ cấu tổ chức, bộ máy, hoạt động của Viện Xã hội học để có cái nhìn tổng quan về vấn đề thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại đây
Dựa trên cơ sở hệ thống dữ liệu, công trình khoa học đã được nghiên cứu liên quan tới vấn đề nhân lực khoa học và công nghệ nói chung, đối tượng cán bộ khoa học trẻ hoạt động tại các Viện nghiên cứu nói riêng tiến hành rà soát các vấn đề làm cơ sở cho hoạt động thu hút nhân lực vào làm việc tại các Viện, đồng thời tìm hiểu các hình thức sử dụng nhân lực sao cho có hiệu quả
Trên quan điểm của các chuyên gia, nhà quản lý đưa ra bức tranh toàn cảnh về việc sử dụng cán bộ tại Viện nghiên cứu Bên cạnh đó tìm hiểu bản thân cán bộ khoa học trẻ trong mối tương quan với hoạt động sử dụng cán bộ của các nhà quản lý Từ đó
đề xuất giải pháp tạo môi trường cho việc thu hút cán bộ và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học trẻ
Thông qua phương pháp điều tra xã hội học, bằng bảng câu hỏi đặt vấn đề và tìm câu trả lời từ 24 cán bộ khoa học trẻ, làm cơ sở cho việc đưa ra khuyến nghị về chính sách cho hoạt động quản lý nhân lực KH&CN nói chung, nhân lực KHXH&NV nói riêng
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về thu hút và sử dụng nhân lực KH&CN nói chung, nhân lực KHXH&NV nói riêng
Kết quả nghiên cứu của Luận văn cũng góp phần làm rõ những luận cứ khoa học trong việc hoạch định chính sách thu hút và sử dụng nhân lực, đặc biệt là cán bộ khoa học trẻ tại các Viện nghiên cứu lĩnh vực KHXH hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn
Trang 16Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp vào việc nhìn nhận thực trạng về về thu hút và sử dụng cán bộ khoa học hiện nay, đặc biệt là đội ngũ cán bộ khoa học trẻ
Giải pháp về mặt chính sách đóng vai trò là cơ sở thúc đẩy cho việc hoàn thiện hệ thống chính sách về KH&CN nói chung, chính sách về nhân lực KHXH&NV nói riêng
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ
1.1 Khái niệm về KHXH, chính sách, thu hút, sử dụng cán bộ khoa học trẻ
1.1.1 Khái niệm về KHXH
Luật KH&CN ban hành năm 2005 định nghĩa “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” KHXH là một bộ phận cấu thành của khoa học, nghiên cứu những mối liên hệ phổ biến, phát triển của những mối quan hệ con người trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Hướng đích cuối cùng của hoạt động nghiên cứu KHXH là giúp cho con người và xã hội được phát triển một cách toàn diện, thích ứng với mọi đổi thay của môi trường tự nhiên, xã hội và
tư duy
Theo hướng dẫn về thống kê các lĩnh vực KH&CN1, KHXH bao gồm: tâm lý học, kinh tế và kinh doanh, khoa học giáo dục, xã hội học, pháp luật, khoa học chính trị, địa lý kinh tế và xã hội, thông tin đại chúng và truyền thông, KHXH khác
1.1.2 Khái niệm chính sách
Theo thư viện từ điển tiếng việt online thì Chính sách được định nghĩa là: sách
lược và các chủ trương, biện pháp cụ thể để thực hiện đường lối và nhiệm vụ trong một thời kì lịch sử nhất định 2
James E.Anderson đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có
mục tiêu, mà một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm” 3
PGS.TS Vũ Cao Đàm nêu một định nghĩa cụ thể hơn là: “Chính sách là một tập
hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa
ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ
1 [1,tr 4]
2 [49]
3 [18]
Trang 18nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.” 4
1.1.3 Khái niệm thu hút nhân lực KHXH
Theo quan điểm của tác giả luận văn này, thu hút nhân lực KHXH là việc thực hiện hoạt động thu hút với đối tượng là nhân lực KHXH Nhân lực KHXH là bộ phận của nhân lực KH&CN nói chung
Theo định nghĩa của UNESCO, nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ5
OECD cho rằng: nguồn nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau: (i) Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó
về một chuyên môn khoa học và công nghệ (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn được gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo6); (ii) Không được đào tạo chính thức như đã nói ở điều a) nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc
Từ định nghĩa của UNESCO và OECD có thể hiểu nhân lực KHXH là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KHXH trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ Ngoài ra, nhân lực KHXH còn được đào tạo trình độ chuyên môn KHXH nhất định
Theo thư viện từ điển tiếng việt online thì thu hút được định nghĩa là: động từ chỉ việc tạo nên ấn tượng mạnh mẽ để người khác quan tâm và dồn mọi sự chú ý vào Xem xét khái niệm “thu hút” trong bối cảnh hai chủ thể A và B, một bên là đối tượng thực hiện hoạt động thu hút (A), một bên là đối tượng được thu hút (B); khi B tiến sát đến A thì có nghĩa rằng quá trình thu hút đã thành công, trường hợp đặc biệt đó là sự biến đổi
B thành A’, điều đó có nghĩa rằng quá trình đó tạo nên một chỉnh thể mới mang màu sắc B được thể hiện trong A
4 [46,tr 1]
5 [33]
6 [51]
Trang 19Như chúng ta đã biết, hoạt động “thu hút đầu tư” trong lĩnh vực thương mại Đó
là việc tạo ra môi trường thuận lợi của bên kêu gọi đầu tư với nhà đầu tư với các chính sách về ưu đãi thuế, ưu đãi về thuê mặt bằng, ưu đãi về thủ tục đầu tư … Và trong lĩnh vực thu hút nhân lực khoa học và công nghệ, mà cụ thể là đối tượng nhân lực KHXH thì yếu tố tiên quyết đặt ra là vấn đề bên thực hiện việc thu hút phải tạo ra được yếu tố thuận lợi là cơ sở cho hoạt động thu hút của mình
Thu hút nhân lực KH&CN là sự di chuyển nhân lực KH&CN có định hướng từ các nguồn cung cấp nhân lực KH&CN đến nơi cần thu hút phục vụ mục tiêu phát triển, được thực hiện bởi cơ chế chính sách của chủ thể quản lý
Như vậy thu hút ở đây đề cập đến chính là sự huy động trí tuệ của nhân lực KH&CN từ các nguồn cung cấp nhân lực KH&CN ở mọi nơi trong địa bàn, ngoài địa bàn, trong nước, ngoài nước để phục vụ phát triển kinh tế xã hội một vùng nào đó hoặc một ngành, một lĩnh vực nào đó.”7
Trên quan điểm thu hút là quá trình mở, trong đó thu hút thể hiện trên cả hai phương diện bên thực hiện hoạt động thu hút và bên được thu hút, chúng tương tác với nhau Do đó bên cạnh quá trình thu hút xuất hiện hiện tượng phản thu hút, hệ quả của việc thực hiện thu hút nhưng sử dụng không hợp lý Quá trình này thường diễn ra trong hoạt động thu hút được thực hiện với đối tượng được thu hút nằm ngoài chủ thể thực hiện thu hút
Thu hút là quá trình đóng thì khi mà hoạt động thu hút được thực hiện với đối tượng nằm trong chủ thể thực hiện thu hút Quá trình thường phát huy hiệu quả với những nhân tố tích cực trong chủ thể, bên cạnh đó nó có nhược điểm là ảnh hưởng tới khả năng đào thải, hiện tượng phản thu hút có khả năng phát triển
1.1.4 Khái niệm sử dụng nhân lực KHXH
Theo thư viện từ điển tiếng việt online “Sử dụng: là động từ dùng để chỉ hành
động lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó” 8Trong Viện nghiên cứu thì hoạt động sử dụng là hành động của cấp quản lý đối với cán bộ nhằm phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học
7 [11, tr 33]
8 [51]
Trang 20Sử dụng nhân lực là sự đối xử của tổ chức đối với nhân viên và nhà quản lý làm việc cho tổ chức đó.9
Qua tìm hiểu khái niệm về “sử dụng nhân lực”, ta có thể quan niệm “sử dụng nhân lực KHXH” được sử dụng trong Luận văn là sự đối xử của tổ chức (Viện KHXHVN và các viện nghiên cứu trực thuộc) đối với cán bộ công chức, viên chức và nhà quản lí làm việc cho tổ chức đó Sử dụng nhân lực KHXH là một bộ phận cấu thành của Quản lý nguồn nhân lực khoa học
Theo quan điểm của tác giả Luận văn thì hoạt động sử dụng nhân lực KHXH và
sử dụng nhân lực KH&CN có tính tương đồng, có cùng đặc điểm là đều thuộc vào Quản lý nguồn nhân lực khoa học
Quản lý nguồn nhân lực khoa học là sự tác động có định hướng, có mục đích, có
kế hoạch và có hệ thống thông tin đến đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nhằm đạt được các mục đích phát triển của tổ chức, hay phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, của đất nước
Leonard Nadler trong cuốn “Phát triển nhân lực KH&CN” (New York , 1980) đưa ra quan điểm về việc sử dụng nhân lực KH&CN bao gồm các yếu tố:
1.1.5 Khái niệm cán bộ khoa học trẻ
Trong nghiên cứu này, đối tượng cán bộ khoa học trẻ được xác định là những người thuộc đối tượng cán bộ viên chức, hợp đồng có thời hạn, có tuổi đời nằm trong khoảng 25-35 tuổi và đang làm việc và công tác tại các Viện nghiên cứu thuộc Viện KHXHVN
9 [53]
Trang 21Ở đây cần phân biệt rõ cán bộ khoa học trẻ là đội ngũ kế cận của nhóm cán bộ nghiên cứu cao tuổi, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành
1.2 Lý luận về thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ
1.2 1 Đặc điểm của cán bộ KHXH trẻ
Cán bộ KHXH trước hết là người lao động sáng tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội, đó không phải là quá trình vốn có, tự nhiên xuất hiện mà được tiến hành trên cơ sở một hệ thống các quy tắc, nguyên lý, phương pháp nhất định Các quy tắc, nguyên lý và phương pháp đó đóng vai trò là phương tiện và công cụ để xử lý và giải thích các hiện tượng xã hội và quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu
Cán bộ KHXH phải là người có hệ thống tri thức khoa học, phương pháp nghiên cứu, lao động khoa học hay là người lao động sáng tạo Sáng tạo là sự tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, hay tìm ra cách giải quyết mới, phương pháp mới Sự sáng tạo không phải ai cũng có và không phải xuất hiện bất kỳ lúc nào Sự sáng tạo khoa học thường có mầm mống và tích lũy dần qua giáo dục, đào tạo và nảy sinh trong quá trình nghiên cứu Việc trang bị kiến thức, môi trường hoạt động, điều kiện sống cũng như các quan hệ xã hội, tuổi tác là những yếu tố tác động đến lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ NCKH Chính sách quan trọng đối với đội ngũ này là tạo điều kiện vật chất và tinh thần, môi trường dân chủ để phát huy sáng tạo của họ
Cán bộ KHXH là người thể hiện quan điểm cá nhân trong nghiên cứu khoa học Điều đó được thể hiện ở khả năng độc lập và tự chủ trong khám phá, sáng tạo mang nét
cá tính và năng lực của cá nhân nhà khoa học Tùy theo trình độ học vấn, tư chất, thể lực và môi trường xã hội mà cá tính và năng lực cá nhân hình thành và phát huy khác nhau
Cán bộ KHXH luôn gắn liền với yếu tố rủi ro trong các kết quả nghiên cứu khoa học Việc thành công hay thất bại của nghiên cứu khoa học có nhiều khi chỉ được thể hiện sau khoảng thời gian rất dài, hay còn gọi là độ trễ về thời gian trong các kết quả nghiên cứu
Cán bộ KHXH là người hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với hệ tư tưởng chính trị Họ là người đưa ra quan điểm lý luận, chân lý gắn liền với lợi ích giai cấp, lợi
Trang 22ích chính trị thông qua người sử dụng và mục đích sử dụng Chính trị đặt ra cho cán bộ KHXH phải đưa ra luận cứ cho xây dựng đường lối chính sách giai cấp, chính Đảng
Như đã trình bày Đối tượng cán bộ khoa học trẻ xác định trong luận văn thuộc nhóm đối tượng có độ tuổi từ 25 đến 35 tuổi Cán bộ khoa học trẻ là lực lượng kế cận cho đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia nghiên cứu trong các lĩnh vực
Cán bộ khoa học được xác định thuộc nhóm đội ngũ trí thức Theo từ điển Triết học “Trí thức là tập đoàn người gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức”10
Trí thức là người lao động trí óc, nhưng lao động trí óc là một khái niệm rộng, nó bao hàm cả những người lao động trí tuệ ở mức giản đơn đến phức tạp và những sự hao phí năng lượng thần kinh trung ương khác nhau Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là người đó phải có trình độ cử nhân “Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức” nhưng điều này chưa đủ, mà “muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” Có nghĩa rằng, học vấn đại học mới chỉ là điều kiện cần, quan trọng là phải sử dụng có hiệu quả tri thức trong đời sống xã hội, phục vụ dân sinh
Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển như ngày nay, cơ hội học tập và mở mang kiến thức ở trong và ngoài nước được mở ra và ngày càng phát triển Cùng với quá trình đó thì đội ngũ cán bộ khoa học trẻ ngày càng phát triển hơn về số lượng lẫn chất lượng, điều đó được thể hiện ở sự gia tăng về mặt số lượng cử nhân tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ Cán bộ khoa học trẻ là đối tượng luôn thể hiện được sự khát khao,
nỗ lực vươn lên trên con đường nâng cao trình độ học vấn
Ngay trong nhóm cán bộ khoa học trẻ 25-35 tuổi có đặc điểm là sự khác biệt về trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng Điều đó được thể hiện ở những cán bộ khoa học được đào tạo ở nước ngoài so với cán bộ được đào tạo ở trong nước, điều đó được thể hiện ở khả năng ngoại ngữ, khả năng tiếp cận nguồn tài liệu trên thế giới, tiếp cận với phương pháp khoa học mới, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu khoa học… Và cũng
10 Từ điển Triết học, 1986, trang 598
Trang 23chính vì vậy, xu hướng ra nước ngoài để học tập và nghiên cứu đã và đang là đích hướng tới của nhiều cán bộ khoa học trẻ hiện nay
Một đặc điểm khác của cán bộ khoa học trẻ đó là sự khác biệt trong cơ cấu vùng miền, dân tộc Trong những năm qua, cán bộ khoa học trẻ chủ yếu tập trung ở các Viện nghiên cứu nằm ở khu vực trung tâm, khu đô thị, thành phố lớn trên cả nước, sự phân
bố không đồng đều giữa các khu vực trên cả nước đã và đang là trở ngại lớn trong định hướng phát triển các đơn vị nghiên cứu vùng Bên cạnh đó, cơ cấu về dân tộc trong hoạt động khoa học cũng như đội ngũ cán bộ khoa học trẻ thể hiện sự chênh lệch rõ nét Bộ phận những cán bộ khoa học trẻ là cán bộ người dân tộc thiểu số là rất hạn chế so với cán bộ khoa học là người kinh Chưa có một đánh giá cụ thể nào trên quy mô lớn về vấn
đề này, tuy nhiên nó là yêu cầu đặt ra trong định hướng phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Cán bộ khoa học trẻ tại các Viện nghiên cứu trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam hoạt động chung trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, trong đó phân ra nhiều ngành cụ thể: Triết học, Hán Nôm, Xã hội học, Tâm lý học, Gia đình và Giới … Lĩnh vực nghiên cứu của các Viện chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, gắn liến với nó là hệ thống cơ sở lý luận phản ánh hệ tư tưởng chính trị xuyên suốt cơ cấu, chức năng, nhiệm
vụ trong mỗi tổ chức
Đặc điểm đội ngũ cán bộ khoa học trẻ thể hiện ở vị trí trong tổ chức, mức thu nhập trong hoạt động khoa học Cán bộ khoa học trẻ không phải là đối tượng nắm giữ vai trò chủ đạo trong các hội đồng khoa học hay các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong tổ chức Viện Họ đóng vai trò là nhân viên thực hiện nhiệm vụ khoa học, các công việc liên quan phục vụ hoạt động nghiên cứu chung Họ là đối tượng nắm giữ một phần vai trò trong các hoạt đông nghiên cứu khoa học chung của Viện, có vị trí và vai trò nòng cốt trong các hoạt động đoàn thể, là chủ thể được hướng tới của các hoạt động tập huấn, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn Chính vì những hạn chế về sự tích lũy kiến thức, nền tảng khoa học mà hoạt động tạo thu nhập hạn chế hơn so với đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ có thâm niên trong hoạt động nghiên cứu
Cán bộ khoa học trẻ cũng giống như những nhóm cán bộ khác, mang trong mình những đặc điểm tạo nên sự khác biệt
Trang 241.2.2 Lý luận về thu hút cán bộ khoa học trẻ
Như chúng ta đã biết, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang diễn ra ngày càng phổ biến hơn tại các cơ quan, đơn vị Nhà nước Dòng chất xám này đang dịch chuyển
từ khu vực Viện nghiên cứu sang khu vực tư nhân, khu vực có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và trở nên phổ biến Trước thực trạng về sự thiếu hụt cán bộ, đặc biệt là các cán bộ trẻ thì yêu cầu đặt ra là phải đổi mới chính sách nhằm thu hút cán bộ khoa học trẻ vào làm việc tại các Viện nghiên cứu Để thu hút được cán bộ khoa học trẻ có thể tiến hành theo lộ trình ngắn hạn và dài hạn Lộ trình ngắn hạn đảm bảo đáp ứng được yêu cầu cấp bách trước mắt, tuy nhiên không đảm bảo tính bền vững và có hiệu quả lâu dài Theo lộ trình dài hạn thì việc thu hút cán bộ trẻ nhằm giải quyết vấn đề mang tính chiến lược, đảm bảo tính bền vững của tổ chức, đem lại hiệu quả lâu dài
Dù có thực hiện thu hút cán bộ khoa học trẻ theo lộ trình ngắn hạn hay dài hạn thì vấn đề đặt ra với tổ chức các Viện nghiên cứu là cần quan tâm đến vấn đề này một cách thường xuyên và đồng bộ Bên cạnh hoạt động thu hút cán bộ luôn cần có hoạt động đào thải cán bộ “Thu hút” và “đào thải” tạo nên chu trình khép kín, tạo động lực cho sự phát triển đối với vấn đề nhân sự Thông qua chu trình đó mà sự sàng lọc về chất lượng đội ngũ cán bộ có cơ sở để thực hiện và tạo bước chuyển biến mới trong tổ chức Viện nghiên cứu
Xét về mặt bản chất của “thu hút” là phải tạo ra được sự quan tâm, hướng chú ý của các chủ thể khác nhau đến một hướng nhất định Vậy trong môi trường Viện nghiên cứu cần có yếu tố nào tạo nên sự “thu hút”?
Theo Luận văn thì thu hút cán bộ khoa học trẻ cũng giống như môi trường điện cực, ở đó luôn tồn tại hai cực: cực âm (-) và cực dương (+) Nếu coi yếu tố thu hút cán
bộ khoa học trẻ là cực dương (+), thì những yếu tố được coi là cực âm (-) để tiến hành quá trình “thu hút” với nhóm đối tượng cán bộ khoa học trẻ Xin nêu lên 6 yếu tố:
Trang 255 Cơ hội được đào tạo
6 Phù hợp chuyên môn được đào tạo
Nếu xem sử dụng nhân lực là sự đối xử của tổ chức với các cá nhân trong tổ chức
đó, ta có thể thấy:
- Xét từ chính sách đối xử, sử dụng nhân lực là một quá trình bao gồm các chính sách tiếp nhận, bố trí nhân lực, phân công công việc, thử việc, thuyên chuyển, luân chuyển cán bộ, đề bạt, bổ nhiệm, xuống chức, kỷ luật, tinh giản biên chế, thôi việc và nghỉ hưu
- Xét từ các hoạt động đối xử, sử dụng nhân lực cần nhấn mạnh đến các hoạt động phát hiện các khả năng, tiềm năng của người lao động, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các khả năng, tiềm năng đó phát triển, đưa ra các biện pháp khai thác
có hiệu quả các tiềm năng đó
- Xét từ nghệ thuật đối xử, sử dụng nhân lực cần chú ý đến việc xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp tạo động lực lao động cho người lao động trong tổ chức
và nghệ thuật ứng xử của những nhà quản lí đối với nhân viên dưới quyền nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Quá trình sử dụng cán bộ khoa học trẻ là hệ thống bao gồm công đoạn: tuyển dụng, bố trí, luân chuyển, đánh giá, đãi ngộ cán bộ
Trang 26Chương 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ TẠI VIỆN XÃ HỘI HỌC
Nghiên cứu thực trạng thu hút và sử dụng cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học góp phần quan trọng trong việc nhận diện vấn đề nghiên cứu được đặt ra với Luận văn Thông qua đó, cung cấp luận cứ quan trọng trong việc đề xuất giải pháp mang tính chính sách chung thu hút và sử dụng nguồn nhân lực KHXH nói chung, nhân lực KHXH tại Viện Xã hội học nói riêng
2.1 Đặc điểm Viện Xã hội học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
2.1.1 Đặc điểm Viện Xã hội học
2.1.2 Đặc điểm Viện KHXHVN
2.2 Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học hiện nay
Viện Xã hội học có số lượng cán bộ trong biên chế tính đến ngày 15/6/2010 là 52 người (tuổi bình quân cán bộ trong biên chế là 46 tuổi) Số cán bộ hợp đồng có thời hạn
là 6 người; số cán bộ là cộng tác viên của các phòng nghiên cứu và nghiệp vụ là 12 người Số cán bộ làm công tác quản lý từ cấp phó phòng trở lên là 20 người Tính theo nhóm độ tuổi 25-35 tuổi là đối tượng của luận văn nghiên cứu thì Viện Xã hội học hiện
có 24 cán bộ, trong đó bao gồm số cán bộ thuộc nhóm đối tượng thuộc biên chế của Viện, nhóm cán bộ hợp đồng dài hạn, nhóm cán bộ là cộng tác Viên (nhóm đối tượng hiện đang công tác tại các Viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam)
Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi anket với 24 trường hợp thuộc nhóm cán bộ khoa học trẻ làm việc tại Viện Xã hội học do tác giả Luận văn thực hiện cho thấy, bên cạnh vấn đề về sự già hóa của đội ngũ cán bộ nghiên cứu thuộc biên chế trong Viện là sự chênh lệch rất lớn về tỷ lệ giới tính (đặt trong môi trường có sự lựa chọn cân đối giữa tỷ
lệ nam và nữ tham gia nghiên cứu của luận văn) Trong tổng số trường hợp trả lời phỏng vấn có tới 83,3% là nữ, số trả lời là nam chỉ chiếm 16,7%
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ giới tính tham gia trả lời phỏng vấn (Tỷ lệ: %)
Trang 2783.3%
Nam Nữ
(Số liệu theo kết quả nghiên cứu của tác giả)
Theo thống kê về số lượng cán bộ khoa học trẻ là đoàn viên thanh niên tại Viện
xã hội học, trong tổng số 26 cán bộ đoàn viên thì chỉ có 5 cán bộ đoàn viên là nam giới,
so với 21 cán bộ đoàn viên là nữ giới
2.3 Thực trạng thu hút cán bộ khoa học trẻ tại Viện Xã hội học
2.3.1 Thực trạng thi hành chính sách thu hút cán bộ khoa học trẻ ở Viện Xã hội học
Các chính sách của Nhà nước đã được Viện Xã hội học thực hiện nhằm tạo môi trường thuận lợi thu hút cán bộ khoa học trẻ vào làm việc, đáp ứng nhu cầu bổ sung nguồn cán bộ trẻ hiện đang ngày càng trở nên thiếu hụt, hạn chế tình trạng lão hóa cán
bộ nghiên cứu tại Viện
- Tổ chức hoạt động chuyên môn:
Trong những năm gần đây, Viện tập trung các công trình nghiên cứu, sản phẩm khoa học để đưa ra đầu sách phục vụ nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu trẻ tiếp cận với nguồn tài liệu mới, phong phú hơn Ngoài ra việc khai thác sử dụng 40 đầu tạp chí tiếng Anh và các bài dịch hàng năm do JDP tài trợ góp phần rất lớn vào việc khắc phục tình trạng thiếu thông tin nghiên cứu chuyên ngành tại nước ngoài Thúc đẩy hoạt động công nghệ thông tin, đăng tải các công trình, kế hoạch nghiên cứu của Viện lên tạp chí Xã hội học, website nhằm cung cấp thông tin, thu hút lực lượng nghiên cứu trẻ tham gia vào hoat động chuyên môn khoa học, chương trình nghiên cứu thực địa trên địa bàn tạo
cơ hội cho cán bộ nghiên cứu trẻ được trải nghiệm nghiên cứu thực tế, học hỏi kinh nghiệm của nhà khoa học có kinh nghiệm, thâm niên nghiên cứu
Chi đoàn thanh niên là lực lượng thúc đẩy hoạt động chuyên môn khoa học bằng nhiều hoạt động sinh hoạt chuyên môn và văn hoá văn nghệ, góp phần động viên cán bộ
Trang 28khoa học trẻ (đa số là các cán bộ hợp đồng cấp phòng) tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, học tập và đào tạo tại Viện Tổ chức thường xuyên các sinh hoạt khoa học thông qua việc mời các nhà khoa học trong và ngoài Viện đến thuyết trình, trao đổi học thuật
Hằng năm Viện đều cử cán bộ tham gia các diễn đàn khoa học, các buổi hội thảo trong và ngoài nước, tuy nhiên tỷ lệ số cán bộ trẻ được cử đi tham dự các cuộc hội thảo tại nước ngoài còn rất hạn chế - đối tượng được lựa chọn tham dự các cuộc hội thảo này chủ yếu dành cho cấp quản lý, lãnh đạo, nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia có thâm niên nghiên cứu Cơ hội dành cho cán bộ khoa học trẻ được học tập và nâng cao trình
độ chuyên môn còn khá hạn chế Các hoạt động tham dự hội thảo, sinh hoạt khoa học đối với cán bộ trẻ chủ yếu thực hiện tại Viện hoặc tại một số cơ quan nghiên cứu trong nước
Bên cạnh những hoạt động chuyên môn kể trên, theo cơ chế chung của Viện KHXH Việt Nam, có một số đề tài nghiên cứu được giao cho chi đoàn thanh niên thực
hiện Chi đoàn Viện Xã hội học được giao đề tài cấp Viện "Hỗ trợ kỹ năng viết báo cáo
khoa học cho cán bộ nghiên cứu trẻ" Chi đoàn Viện Thông tin KHXH được đảm
nhiệm đề tài "Xây dựng CSDL Tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề KHXH" Chi đoàn Viện Nghiên cứu Tôn giáo được giao thực hiện đề tài về "Tình hình thời sự tôn giáo tín
ngưỡng Việt Nam năm 2004" v.v Có thể thấy, việc giao cho chi đoàn thực hiện các đề
tài cấp Viện đã góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu chuyên môn của đội ngũ cán
bộ khoa học trẻ
- Cơ chế làm việc tại cơ quan:
Hiện nay cán bộ trẻ có thể làm việc tại nhà hoặc làm việc tại Viện nhưng có một
số ngày nhất định phải đến trực ở phòng làm việc Khi đi công tác phải có sự cho phép của trưởng phòng và có giấy xin phép
Cơ chế làm việc tại Viện Xã hội học tạo điều kiện khá thuận lợi cho nhóm cán bộ khoa học trẻ, giúp họ có thời gian dành cho nghiên cứu Đồng thời môi trường làm việc được tiếp xúc với các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu có kinh nghiệm, thâm niên công tác là yếu tố giúp cán bộ khoa học trẻ được học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn
Trang 29- Vấn đề đào tạo:
Trong thời gian qua Viện đã tích cực duy trì và củng cố những quan hệ truyền thống và mở thêm quan hệ mới với các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học nước ngoài Một trong các mục tiêu hướng tới là việc tìm kiếm các đối tác mới, hợp tác phát triển dài hạn trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu để bổ sung cho một số dự án
Bên cạnh đó Viện cũng tận dụng cơ hội của các Chương trình đào tạo sau đại học
ở nước ngoài (như của Ford Foundation, Fullbright, Asian Fellowship, Harvard Yenching, v.v ) để cử được các cán bộ nghiên cứu trẻ theo học, chuẩn bị bổ sung lực lượng nghiên cứu cho thế kế kế cận là định hướng cụ thể và mang tầm chiến lược phù hợp với công tác tổ chức của Viện hiện nay
Năm 2008, Viện có 2 cán bộ mới biên chế nhận được học bổng làm tiến sỹ tại Nhật Bản và Đại học tổng hợp Provenee (Pháp), 1 cán bộ nhận được học bổng làm thạc
sỹ tại Đại học quốc gia Singapore (NUS)
Công tác đào tạo sau đại học được duy trì thường xuyên với 2 bậc đào tạo thạc sỹ
và tiến sỹ xã hội học Có 2 cán bộ trẻ mới được biên chế đang theo học hệ thạc sỹ và 3 cán bộ đang làm nghiên cứu sinh tại Cơ sở đào tạo của Viện
Tháng 8/2008, Cơ sở đào tạo tiếp nhận 6 thí sinh trúng tuyển cao học (trong đó
có 2 cán bộ đang làm hợp đồng tại Viện) và 7 thí sinh trúng tuyển nghiên cứu sinh, là cán bộ thuộc cơ quan ngoài Viện Xã hội học
- Tổ chức cán bộ, quy hoạch cán bộ, đề bạt cán bộ
Trước đòi hỏi về thực tiễn, hiện nay Viện đang hoàn thiện phương thức hoạt động, tổ chức đối với các phòng chức năng nghiệp vụ như Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo, Phòng Hành chính Tổng hợp, Tạp chí Xã hội học Hình thành và đưa vào hoạt động Trung tâm Dịch vụ tư vấn, cùng với Trung tâm Điều tra DLXH Tuy nhiên, để đáp ứng được cơ cấu tổ chức của Việc thì việc luân chuyển cán bộ trẻ sang làm việc tại các
bộ phận chức năng đã và đang dẫn tới tình trạng bố trí sắp xếp cán bộ không phù hợp với chuyên môn được đào tạo và không đáp ứng được nguyện vọng, nhu cầu của cán bộ khoa học trẻ tại Viện
Năm 2008, Viện Xã hội học có những thay đổi nhân sự quan trọng Đó là việc bổ
Trang 30sung đội ngũ cán bộ nghiên cứu trẻ thông qua kỳ thi tuyển viên chức (tháng 6/ 2008) Trong tổng số 15 ứng viên dự thi, có 9 ứng viên đã trúng tuyển, gồm có 4 thạc sỹ, 5 cử nhân chuyên ngành Xã hội học Trong số 5 cử nhân, có 2 ứng viên đang học cao học tại
Cơ sở đào tạo sau đại học Viện Xã hội học
Sau khi có quyết định của Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam về việc tuyển dụng biên chế đối với 9 ứng viên trúng tuyển, Viện trưởng Viện Xã hội học đã ký quyết định phân công các cán bộ mới được biên chế về các phòng chuyên môn và chức năng (tính từ ngày 1/8/2008), phân công cán bộ hướng dẫn cho các cán bộ thuộc diện tập sự 12 tháng (từ 1/8/2008- 1/8/2009)
Do nhu cầu bổ sung cán bộ làm công tác thư viện, Viện Xã hội học đã có đơn đề nghị Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cho phép tuyển 3 cán bộ làm công tác thư viện Việc thi tuyển được thực hiện theo quy định của Bộ Nội vụ và Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam Kết quả có 3 ứng viên trúng tuyển và hiện đang làm việc tại thư viện Viện Xã hội học (từ 1/12/2008)
Về mặt đề bạt cán bộ, trong những năm gần đây không có trường hợp cán bộ trẻ nào được đề bạt vào chức danh quản lý từ cấp phòng trở lên
2.3.2 Thực trạng về môi trường thu hút cán bộ khoa học trẻ ở Viện Xã hội học
Thu hút cán bộ khoa học trẻ là hoạt động không chỉ dừng lại ở việc thu hút cán
bộ vào làm việc tại các Viện nghiên cứu, mà hơn nữa là việc giúp cán bộ khoa học trẻ gắn bó với Viện nghiên cứu, đóng góp vào hoạt động khoa học cũng như hình thành nên đội ngũ chuyên gia khoa học kế cận các thế hệ đi trước
Nghiên cứu về các yếu tố thu hút nhóm cán bộ khoa học trẻ vào làm việc tại Viện
Xã hội học cho thấy: 100% số người được hỏi cho rằng họ vào làm việc tại Viện vì lý
do “phù hợp chuyên môn được đào tạo”, lý do tiếp đến đó là “môi trường làm việc” chiếm tỷ lệ 75% số người được hỏi lựa chọn, lý do “cơ hội được đào tạo” chiếm 66.7%,
lý do có nhà quản lý giỏi và cơ hội thăng tiến cùng chiếm 29.2% sự lựa chọn, tỷ lệ thấp nhất được lựa chọn trong các lý do đưa ra đó là lý do về “thu nhập” với 8.3% sự lựa chọn Qua đây có thể thấy, mục đích chính của nhóm cán bộ nghiên cứu trẻ khi xác định vào làm việc tại các Viện nghiên cứu chủ yếu là do họ xác định công việc phù hợp
Trang 31với chuyên môn được đào tạo, bên cạnh đó có môi trường làm việc cũng như có được
cơ hội được đào tạo Mặt khác, tỷ lệ số người cho rằng yếu tố thu nhập là lý do khiến họ làm việc tại các Viện nghiên cứu là rất thấp Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng nhu cầu về thu nhập lại là tác nhân quan trọng mang tính then chốt của hoạt động việc làm đối với người lao động, và trong hoạt động khoa học có được thu nhập tốt là cơ sở cho hoạt động khoa học tốt và hiệu quả
Biểu đồ 2.5: Lý do thu hút cán bộ trẻ vào làm việc tại Viện nghiên cứu (Tỷ lệ %)
8.3
75 66.7 29.2
29.2
100
Phù hợp chuyên môn đào tạo
Cơ hội thăng tiến Nhà QL giỏi
Cơ hội đào tạo Môi trường làm việc Thu nhập
(Số liệu theo kết quả nghiên cứu của tác giả)
Điều mâu thuẫn ở đây là vấn đề cán bộ khoa học trẻ xác định thu nhập không phải là lý do khiến họ muốn vào làm việc tại Viện nghiên cứu, nhưng khi hỏi về vấn đề thu nhập hiện nay có làm cho bạn yên tâm hoạt động khoa học không thì câu trả lời chủ yếu tập trung vào phương án là không yên tâm Vậy vấn đề đặt ra là đầu vào các cán bộ khoa học trẻ không xác định vấn đề thu nhập trong hoạt động khoa học của mình, nhưng trong hoạt động thực tiễn, họ nhận ra rằng thu nhập lại là vấn đề khiến họ không yên tâm hoạt động khoa học, ảnh hưởng tới chất lượng các nghiên cứu, cũng như chất lượng hoạt động của cả Viện nghiên cứu
Lý do được nhiều cán bộ khoa học trẻ lựa chọn nhất khi muốn vào làm việc tại Viện nghiên cứu đó là vấn đề “phù hợp chuyên môn được đào tạo”; tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vị trí cán bộ không được bố trí đúng với vị trí tuyển dụng, biểu hiện rõ nhất đó là sự luân chuyển cán bộ nắm giữ vị trí giữa cán bộ chuyên môn sang làm nghiệp vụ, hành chính, tổ chức … đáp ứng yêu cầu về vấn đề tổ chức cán bộ của đơn vị nghiên cứu
Bên cạnh những mặt tích cực như “Việc điều động cán bộ nghiên cứu trẻ sang