1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam

102 534 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự động hoá với nền tảng ban đầu là ngành cơ khí, trong quá trình phát triển đã không ngừng vận động, trở thành một ngành tích hợp nhiều công nghệ, kỹ thuật của những ngành sản xuất khác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN MINH TÂM

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH TỰ ĐỘNG HOÁ CỦA ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2005 VÀ

KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Châu Á học

Hà Nội – 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN MINH TÂM

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH TỰ ĐỘNG HOÁ CỦA ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2005 VÀ

KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Châu Á học

Mã số: 60 31 50

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG THỊ HUỆ

Hà Nội – 2009

Trang 3

NỘI DUNG

Chương 1: Lịch sử phát triển ngành tự động hoá của Đài Loan 6

1.2 Tình hình kinh tế Đài Loan trước khi thực hiện chính sách phát triển

1.3 Quá trình phát triển ngành tự động hoá của Đài Loan 12 1.3.1 Khái lược sự phát triển của kỹ thuật tự động hoá 12 1.3.2 Các giai đoạn phát triển tự động hoá của Đài Loan 14 1.3.2.1 Giai đoạn 1 (1982 – 1990): “kế hoạch 8 năm tự động hoá sản

29

Trang 4

2.1.2 Ưu đãi tài chính 34 2.1.3 Phát triển kỹ thuật, chuyển giao công nghệ 36

2.2 Nhận xét về tỷ lệ hiểu biết, áp dụng chính sách ưu đãi của các doanh nghiệp Đài Loan

59

2.3.2 Công nghệ phát triển kéo theo phúc lợi xã hôi được nâng cao 61 Chương 3: Những kinh nghiệm tham khảo với Việt Nam 63 3.1 Một số nhận xét về chính sách tự động hoá của Đài Loan 63 3.1.1 Việc hoạch định và áp dụng chính sách của chính quyền Đài Loan phù hợp với mục tiêu phát triển sản xuất

63

3.1.2 Biện pháp thực hiện của các cơ quan chức năng Đài Loan linh hoạt hiệu quả

66

3.2.3 Các chính sách của nhà nước Việt Nam đối với ngành tự động hoá 77 3.3 Một số ý kiến rút ra từ kinh nghiệm của Đài Loan 81

Trang 5

3.3.3 Nghiên cứu gắn với sản xuất 85 3.3.4 Chính sách ưu đãi về thuế - kích cầu trong các doanh nghiệp áp dụng tự động hoá

87

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới hơn 20 năm nay, kinh tế xã hội đã

có những bước tiến vững chắc trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời sống người dân từng bước được nâng cao Những thành tựu trong 20 năm

ấy khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền trong mọi mặt đời sống kinh tế Tuy nhiên nếu so sánh vấn đề trong tầm khu vực hoặc quốc tế thì chúng ta rõ ràng là vẫn còn rất nhiều yếu kém Đặc biệt, do tâm lý ưa dùng hàng ngoại của người dân vẫn còn rất nặng

nề, thiết bị sản xuất ít đổi mới, không có tính linh hoạt, ai ai cũng rất thích thú ngưỡng mộ khi nghe đến tự động hoá nhưng bản chất của tự động hoá như thế nào thì không phải ai cũng hiểu thấu đáo

Đài Loan một hòn đảo nhỏ, tài nguyên không nhiều và cũng trải qua những giai đoạn khó khăn khủng hoảng, nhưng họ lại có một nền sản xuất phát triển với nhiều sản phẩm đứng đầu thị phần thế giới Một câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao nền sản xuất của Đài Loan lại có thể phát triển được như vậy, chúng ta có thể học được những gì từ sự phát triển của Đài Loan? Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò định hướng và thực thi chính sách hiện đại hoá của chính quyền Đài Loan trong suốt 60 năm qua, kể từ khi Quốc dân đảng xác lập quyền cai quản trên vùng đảo Đài Loan Trong quá trình tìm hiểu các chính sách và biện pháp phát triển sản xuất của Đài Loan điều khiến chúng ta đặc biệt quan tâm là chính sách phát triển tự động hoá của Đài Loan với mong muốn tìm một lời giải đáp cho nền tảng của sự phát triển vượt bậc trong nền sản xuất ở đây Đúng vậy, không phải ngẫu nhiên mà

Trang 7

hòn đảo nhỏ ấy lại có được thành tựu phát triển, nền sản xuất của họ lại có nhiều sản phẩm đứng đầu thị trường thế giới như hôm nay Có rất nhiều lý do

để lý giải điều ấy, trong đó chính sách phát triển tự động hoá, nâng cấp nền sản xuất của Đài Loan là nhân tố cực kỳ quan trọng

Cho đến nay, tự động hoá là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển sản xuất của bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới Tại Đài Loan, việc đưa ra các chính sách tự động hoá đã giữ vai trò tích cực thúc đẩy nâng cấp khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền sản xuất Kể từ khi Đài Loan đẩy mạnh

tự động hoá nâng cấp nền sản xuất toàn bộ nền sản xuất ở đây từ nông nghiệp đến công nghiệp và thương mại dịch vụ đã phát triển mạnh mẽ, đưa Đài Loan trở thành một nền kinh tế mới phát triển trên thế giới

Việt Nam chúng ta có những điều kiện kinh tế và xã hội khá giống Đài Loan, khi mới bắt đầu thực hiện công nghiệp hoá, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm phần lớn trong nền kinh tế, sản xuất lạc hậu, tài nguyên hạn chế và 75% diện tích cả nước là đồi núi Hơn nữa, hiện nay Việt Nam ta đã hội nhập, cánh cửa WTO đã rộng mở, làm thế nào để đón nhận được những cơ hội đang chờ đón cũng như vượt qua những thách thức là vấn đề mà của tất cả các ngành nghề và các tầng lớp trong xã hội cần quan tâm Để lành mạnh hoá nền sản xuất còn yếu kém cả về lượng và chất của ta để có thể thực sự gia nhập và phát triển trước những cạnh tranh và thách thức trên trường quốc tế thì nghiên cứu và học hỏi những kinh nghiệm của Đài Loan cũng là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Bởi vậy, nghiên cứu những chính sách phát triển nền công nghiệp tự động hoá đẩy mạnh nâng cao phát triển sản xuất của Đài Loan để tìm ra những điểm chung giữa hai nền kinh tế và rút kinh nghiệm cho quá trình phát triển nền sản xuất của Việt Nam là lý do để chúng tôi lựa chọn

Trang 8

đề tài nghiên cứu này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tự động hoá có vai trò then chốt trong sự phát triển của một nền kinh tế khi bước vào giai đoạn hội nhập phát triển Các chính sách về tự động hoá luôn được các quốc gia trên thế quan tâm và chú trọng từ lâu, nhưng đây là đề tài mới mẻ ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, các nghiên cứu về chính sách phát triển tự động hoá của Đài Loan chúng ta chưa có nhiều Bởi vậy, luận văn chủ yếu dựa vào các tài liệu của các nhà nghiên cứu Đài Loan và một số sách báo, mạng internet

Tại Đài Loan, các nghiên cứu về đề tài này rất phổ biến, từ cấp nhà nước đến các công trình nghiên cứu của các học giả Đài Loan Trong đó nổi bật có

tác giả Vương Kiện Toàn với “Chính sách hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh

nghiệp vừa và nhỏ”, tác giả Ngô Hồng Chương với công trình “Tình hình thực hiện thúc đẩy công nghiệp hoá” Năm 1993, học giả Ngô Vũ Hùng đưa

ra nghiên cứu “Đánh giá những ảnh hưởng của công nghiệp tự động hoá đến

ngành chế tạo ” Năm 1994, tác giả Uông Minh Tường đưa ra “Nghiên cứu những hiệu quả của chính sách khuyến khích phát triển kỹ thuật của chính quyền” Ngoài ra, chính quyền Đài Loan luôn điều tra, tập hợp các kết quả

thực hiện chính sách và đưa ra những điều chỉnh Bởi vậy, lượng tài liệu nghiên cứu về đề tài này của Đài Loan là rất lớn Dựa trên những nền tảng đó,

đề tài đã đi sâu tìm hiểu nghiên cứu và phân tích vấn đề đưa ra những đánh giá ban đầu, gợi mở cho Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

Tự động hoá với nền tảng ban đầu là ngành cơ khí, trong quá trình phát triển đã không ngừng vận động, trở thành một ngành tích hợp nhiều công nghệ, kỹ thuật của những ngành sản xuất khác nhau và ảnh hưởng đến tất cả những ngành sản xuất khác Bởi vậy, chính sách về tự động hoá của Đài Loan

là chính sách “động”, chính quyền Đài Loan đã dựa vào các điều kiện lịch sử

cụ thể, từng giai đoạn phát triển để đưa ra những chính sách phù hợp Bởi vậy, luận văn sẽ nghiên cứu chính sách tự động hoá của Đài Loan dựa trên cụ thể từng chính sách ưu đãi phát triển tự động hoá của chính quyền Đài Loan xuyên suốt qua các thời kỳ kể từ khi chính quyền Đài Loan chính thức đưa ra các chính sách chuyên biệt nhằm phát triển tự động hoá năm 1980 đến khi Đài Loan kết thúc kế hoạch lần thứ ba tự động hoá và điện tử hoá nền sản xuất năm 2005

4 Phương pháp nghiên cứu

Do đối tượng nghiên cứu là “chính sách phát triển tự động hoá của Đài Loan” nên trong quá trình nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp và so sánh dữ liệu, phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic Bên cạnh đó, dựa trên số liệu đã được cung cấp luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá để nêu bật vị trí và thành tựu của các chính sách khuyến khích phát triển tự động hoá, nâng cao nền sản xuất của chính quyền Đài Loan

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được phân thành ba chương

Chương 1: Lịch sử phát triển ngành tự động hoá của Đài Loan giới thiệu

Trang 10

về sự phát triển của tự động hoá Đài Loan qua các thời kỳ bằng các kế hoạch phát triển tự động hoá của chính quyền Đài Loan và thành tựu kế hoạch đạt được Về cơ bản, từ năm 1982 đến năm 2005, ngành tự động hoá của Đài Loan đã phát triển qua 3 thời kỳ, kế hoạch lần thứ nhất từ 1982 đến 1990 kế hoạch 8 năm phát triển tự động hoá, tiếp đến là kế hoạch 10 năm (từ 1990 đến đầu năm 2000) và kế hoạch 5 năm 6 tháng tự động hoá và điện tử hoá nền sản xuất từ 2000 đến 2005 Cho đến nay, tự động hoá Đài Loan đã thực sự phát triển đưa nền sản xuất của hòn đảo này trở nên lớn mạnh, có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới và đặc biệt là có nhiều sản phẩm đứng đầu tại phần thế giới, như máy tính xách tay, chất bán dẫn…

Chương 2: Chính sách phát triển tự động hoá của Đài Loan luận văn

đi sâu vào giới thiệu và phân tích các chính sách nhằm khuyến khích phát triển tự động hoá của Đài Loan bao gồm: ưu đãi về thuế, ưu đãi cho vay, hỗ trợ tài chính, khuyến khích phát triển kỹ thuật, đổi mới thiết bị và đào tạo nhân lực

Chương 3: Những kinh nghiệm tham khảo với Việt Nam luận văn đưa

ra những nhận xét về biện pháp tuyên truyền nhằm thúc đẩy thực hiện chính sách tự động hoá của chính quyền Đài Loan và những thành tựu sau khi áp dụng chính sách phát triển tự động hoá nâng cao nền sản xuất của Đài Loan Tiếp đến, luận văn giới thiệu về tình hình phát triển của tự động hoá Việt Nam cũng như các chính sách của nhà nước ta, trong đó rút ra một số kinh nghiệm

áp dụng chính sách của doanh nghiệp và chính quyền Đài Loan

Trang 11

Kể từ cách mạng công nghiệp thế kỷ thứ XVIII, máy móc có thể thay thế con người trong việc sản xuất hàng loạt sản phẩm, góp phần làm giảm giá thành sản xuất, nâng cao năng suất lao động và trình độ của lực lượng sản xuất Những năm 1920, công ty Ford của Mỹ sau khi sử dụng dây chuyền sản xuất tự động hoá, giá thành sản phẩm giảm đến 62%, năng suất tăng lên đến

10 lần, bởi vậy kỹ thuật tự động hoá đã trở thành một đề tài thu hút nhiều công trình nghiên cứu

Khái niệm “tự động hoá” xuất hiện sớm nhất vào những năm 40 của thế

kỷ trước, người đầu tiên sử dụng là Phó tổng giám đốc hãng ô tô Fofd D.S Harder Lúc đầu người ta gọi đó là “triết học của chế tạo” Sau đó, John Diebold (1962) tiến thêm một bước coi tự động hoá là một cách tổ chức hoặc

Trang 12

phương thức quản lý sản xuất tận dụng một cách hợp lý, khoa học tư liệu sản xuất bao gồm máy móc, nguyên liệu và cả con người [22:16] Trong thời kỳ đầu phát triển, các định nghĩa thường thiên về diễn giải ý nghĩa của tự động hoá

Những năm 1970, tự động hoá đã phát triển với những máy móc thiết bị điều khiển, sản xuất hàng loạt sản phẩm nhằm tiết kiệm chi phí và nhân công lao động Thời kỳ này, các chuyên gia đã bắt đầu dùng các khái niệm “kỹ thuật” để định nghĩa tự động hoá, làm cho định nghĩa được cụ thể và khách quan hơn Simon (1977) đã coi tự động hoá là tổ hợp “người và các thiết bị điện tử” thành một hệ thống người máy phức tạp

Những năm 1980, định nghĩa về tự động hóa được chi tiết và rõ ràng hơn như Goover đã nói: “tự động hoá là công nghệ sử dụng máy móc phức tạp có

sự hỗ trợ của máy vi tính điện tử để sử dụng trong việc quản lý các thao tác sản xuất” Đồng thời, tự động hoá là một hệ thống tổ hợp, một phương pháp sản xuất tận dụng thích hợp các nguồn lực sản xuất như Mar Shall định nghĩa

“tự động hóa là sử dụng máy móc và các linh kiện điện tử để tự động quản lý sản xuất, nhằm thay thế các thao tác của con người trong kiểm nghiệm và đánh giá” Như vậy, phạm vi của tự động hoá đã mở rộng bao gồm cả quá trình sản xuất và khâu quản lý hành chính

Như vây, tự động hoá theo nghĩa hẹp là một kỹ thuật tích hợp thao tác, thiết bị, quy trình chế tạo cũng như kỹ thuật của nhiều ngành khác nhau Theo nghĩa rộng, nó được hiểu như sau:

Thứ nhất, đó là một hệ thống các thao tác sản xuất liên tục, hoàn chỉnh, là

sử dụng kỹ thuật điện tử và các thiết bị khác để quản lý và điều chỉnh sản lượng và chất lượng của sản phẩm

Trang 13

Thứ hai, tự động hoá là kết hợp phần mềm ứng dụng vi tính, máy cảm trắc, quản lý, kỹ thuật thông tin để thay thế và tiết kiệm nhân lực, nhằm tăng sức sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế

1.1.2 Đặc điểm của tự động hoá

Tự động hoá là một ngành tích hợp kỹ thuật, công nghệ của nhiều ngành nghề khác nhau, bởi vậy kỹ thuật và đặc trưng của tự động hoá cũng luôn phát triển qua các giai đoạn Cho đến nay, có thể tổng kết các đặc trưng của

tự động hoá như sau:

Thứ nhất, tự động hoá là kỹ thuật, công nghệ tích hợp của tất cả các kỹ

thuật liên quan đến quá trình điển khiển và công nghệ mang tính trí tuệ, người ta không ngừng thu hút, tổng hợp những kỹ thuật hiện đại để đổi mới, đưa vào điều khiển và hỗ trợ cho quá trình sản xuất từ khâu thiết kế đến khâu chế tạo và phân phối sản phẩm, để tạo nên phương pháp sản xuất có tính kỹ thuật cao, không ngừng đổi mới

Thứ hai, tự động hoá là một phương pháp của quá trình điều khiển có

tính mục đích và tính chuyên nghiệp cao Vốn đầu tư tự động hóa rất cao, nên thời gian thu hồi vốn là yếu tố quan trọng quyết định để doanh nghiệp có tiến hành tự động hóa hay không Kinh nghiệm trong quá trình quản lý sản xuất là do doanh nghiệp tự tích lũy cho riêng mình, các doanh nghiệp khác nhau có xu hướng phát triển tự động hoá khác nhau Bởi vậy, tự động hoá có tính chuyên môn cao, đồng thời chính tự động hoá tạo nên sự khác biệt của từng doanh nghiệp, giúp nâng cao tính cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp sản xuất

Trang 14

Thứ ba, công nghệ tự động hóa đã trở thành trọng tâm phát triển kinh tế

của các quốc gia, các thiết bị tự động hóa rất đa dạng về cả chất và lượng Bởi vậy việc thu thập thông tin, nghiên cứu và xử lý dữ liệu đều cần phải có bước tiến dài, mới kịp thời hỗ trợ cho việc thực hiện các chính sách phát triển

tự động hoá

Thứ tư, kỹ thuật tự động hoá ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề Kỹ

thuật tiến bộ đáp ứng được sức sản xuất lớn là nguồn gốc chính của phát triển kinh tế lâu dài, đồng thời thường biểu hiện ở nền sản xuất với sản lượng và chất lượng được nâng cao Về cơ bản, tự động hóa là sự biến đổi kỹ thuật mang tính toàn diện và ảnh hưởng của nó bao trùm lên hầu hết tất cả các ngành sản xuất Hiệu quả mà nó đạt được cần phải qua sự sáng tạo về kỹ thuật, được áp dụng và phổ cập kỹ thuật mới có thể phát huy được hết Đồng thời khi các doanh nghiệp quyết định tự động hóa cần phải tính đến nhiều yếu tố để cân bằng kinh tế

Bởi vậy, tự động hoá luôn được các nhà sản xuất tại các quốc gia tiên tiến tính đến khi muốn đổi mới dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và đẩy mạnh hình ảnh cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Nhưng khi đầu tư vào thiết bị tự động hoá, các doanh nghiệp cũng cần phải tính đến những vần đề như sau: thiết bị đắt, chi phí đầu tư lớn, bởi vậy phải là các doanh nghiệp có khả năng lớn về vốn mới nên thử nghiệm Ngoài ra, kỹ thuật tự động hoá yêu cầu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề vận hành, sử dụng máy móc thiết bị nên mỗi quốc gia để phát triển

tự động hoá cần phải đồng thời quan tâm đến sự phát triển của kinh tế xã hội

và tuyên truyền giáo dục và đào tạo

Trang 15

1.2 Tình hình kinh tế Đài Loan trước khi thực hiện chính sách phát triển tự động hoá

Vấn đề nhân lực: Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nền

sản xuất Đài Loan đã bắt đầu có những thay đổi, đặc biệt trong vấn đề nhân lực Trước hết, người lao động tham gia trực tiếp sản xuất ngày càng ít, chi phí đầu tư vào lao động ngày một tăng, vì trong lúc này nền kinh tế Đài Loan đang có sự chuyển dịch lao động lớn từ các ngành sản xuất sang ngành dịch

vụ Tiếp đến là sự gia tăng những tranh chấp giữa người lao động và chủ sử dụng, người lao động có sự so sánh về môi trường làm việc tốt xấu, phúc lợi nhiều ít, lương cao thấp, hơn nữa trình độ giáo dục của người lao động ngày càng nâng cao nên dần dần ít người chịu làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm và vất vả, dẫn đến việc các ngành tập trung nhiều lao động ngày càng thiếu nhân lực Hơn nữa, do chất lượng cuộc sống ngày một nâng cao, người dân cũng càng ngày càng chú trọng vấn đề môi phản đối những ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường Bởi vậy, trong lúc này thị trường lao động Đài Loan bất kể từ chất, lượng, đến cơ cấu lao động và kể cả người lao động cũng có sự thay đổi lớn, khiến cho nền kinh tế Đài Loan trước kia vốn dựa vào giá nhân công rẻ để cạnh tranh trên thị trường quốc tế nay đã mất đi

ưu thế cạnh tranh

Đồng lương tăng: Đồng lương thấp là một trong những yếu tố quan

trọng giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, theo sự phát triển của nền kinh tế và cục diện của thị trường lao động xuất hiện hiện tượng cung không

đủ cầu khiến đồng lương tăng vọt, dẫn đến giá thành sản xuất cũng tăng mạnh, kéo theo giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường

Trang 16

Giá đất tăng vọt: Giảm thuế đất, thuế sử dụng đất là những ưu đãi

nhằm khuyến khích đầu tư của các nước đang phát triển và Đài Loan cũng không phải là ngoại lệ Nhưng khi công nghiệp đã phát triển đến một trình độ nhất định, người nông dân dần dần hiểu được những nguồn lợi thu được từ việc phát triển công nghiệp không như họ tưởng thì họ từ ủng hộ chuyển sang đấu tranh, đòi tăng giá đất đền bù Ngoài ra, với một hòn đảo nhỏ bé mà 75% diện tích là núi như Đài Loan thì giảm giá đất không phải là một ưu thế

có thể duy trì lâu Bởi vậy, giá đất tăng đã ảnh hưởng không tốt đến việc khai thác đất sử dụng khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn

Đồng Đài tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh những của doanh nghiệp

vừa và nhỏ chuyên sản xuất các mặt hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, đặc biệt ảnh hưởng đối với những ngành nghề tập trung nhiều lao động

Những ảnh hưởng từ các nền kinh tế bên ngoài Đài Loan

Rào cản thương mại: Những năm 1980, môi trường kinh tế chung của

cả thế giới có hai trào lưu chính là phát triển với tốc độ chậm và chủ nghĩa bảo hộ mới ngày càng tăng mạnh Trong thế kỷ XX, thế giới đã trải qua hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ làm suy thoái kinh tế toàn cầu, tiếp đó là thương mại giữa các quốc gia khu vực giảm mạnh, nạn thất nghiệp ngày một nghiêm trọng, sức cạnh tranh trên trường quốc tế giảm sút đã khiến các quốc gia lần lượt áp dụng chính sách bảo hộ đối với nền sản xuất trong nước

Sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới phát triển: giai đoạn cuối Chiến

tranh lạnh, đặc biệt là sau khi Chiến tranh kết thúc, các nước thuộc thế giới thứ ba đã dần dần giảm bớt chi phí đầu tư vào quân sự, quan tâm nhiều hơn

Trang 17

đến phát triển kinh tế Bởi vậy, các nền kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á

và Trung Quốc ngày càng phát triển, tạo nên sự thay thế ưu thế cạnh tranh kinh tế của Đài Loan trên thị trường thế giới

Tất cả những yếu tố nêu trên là những tác động chủ quan và khách quan khiến nền kinh tế Đài Loan đang trên đà phát triển và chiếm ưu thế cạnh tranh trên thế giới đã dần mất sân chơi của mình Đứng trước nguy cơ bị mất

ưu thế cạnh tranh, mất thị trường, Đài Loan buộc phải dựa vào sự thay đổi cơ cấu của các ngành sản xuất để đưa ra những định hướng, chính sách phù hợp thích ứng với tình hình mới Tóm lại, áp lực để thúc đẩy tự động hoá chính là

từ thị trường, sự biến đổi của các ngành nghề và tình hình của cả nền kinh tế tạo nên Cũng có thể nói đó là những chất xúc tác khiến cho chính quyền Đài Loan phải tìm hướng đi mới, duy trì và đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, cũng bởi vậy tự động hoá tại Đài Loan có những cơ hội để phát triển trong những giai đoạn tiếp theo

1.3 Quá trình phát triển ngành tự động hoá của Đài Loan

1.3.1 Khái lược về sự phát triển của kỹ thuật tự động hoá

Về bản chất, tự động hoá là một “động thái” trong quá trình phát triển của kỹ thuật, bản thân tự động hoá đã vận động và phát triển theo thời gian

và các bước tiến bộ của kỹ thuật, nên phạm vi của tự động hoá tương đối rộng, bao gồm: các thiết bị sản xuất đơn nhất của thời kỳ đầu đến các thiết bị

và dây chuyền sản xuất “điều khiển kỹ thuật số điện tử” hết sức phức tạp ngày nay

Bảng 1.1 biểu hiện quá trình phát triển của kỹ thuật và các lớp kỹ thuật

từ cơ khí chế tạo đơn giản đến tự động hoá Trước những năm 1800 là thời

Trang 18

đại không sử dụng máy móc, cho đến khi Wasson phát minh ra máy hơi nước

là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Đến năm 1850 mới phát triển thành lớp kỹ thuật coi cơ khí làm chủ đạo, năm 1895 từ kỹ thuật cơ điện phát triển thành lớp bán tự động hoá Những năm từ 1895 đến 1930 do vận dụng

sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật điện tử và kỹ thuật nồi hơi tạo thành một lớp tự động hoá vi tính Năm 1930, xuất hiện rất nhiều các kỹ thuật điện

tử và thuỷ lực tạo nên một lớp tự động hoá giá thành rẻ,

Sau những năm 1960, ngành tự động hoá dần phát triển bao gồm những

kỹ thuật sản xuất như: quản lý kỹ thuật số (NC), quản lý kỹ thuật số trực tiếp (DNC), quản lý kỹ thuật số điện tử (CNC), quản lý thích ứng (AC), công nghiệp robot (IR), hệ thống chế tạo linh hoạt (FMS), máy vi tính điều khiển chế tạo (CIM) Trong đó phân thành hai chủng loại: thứ nhất là hệ thống chế tạo, sản xuất và tác nghiệp tự động hóa, có chức năng tự động hóa quá trình sản xuất từ thiết kế, chế tạo, lắp ráp bao gồm các loại hình tự động hoá: máy tính hỗ trợ chế tạo (CAM), máy tính hỗ trợ thiết kế (CAD) Loại hình thứ hai là hệ thống quản lý, thử nghiệm, giám sát quá trình sản xuất làm cho quy trình quản lý sản xuất, thử nghiệm được thực hiện hiệu quả như: hệ thống hoạch định yêu cầu vật tư (MRP)

Đến năm 1985, do sự phát triển của kỹ thuật quang điện nên tự động hoá phát triển theo hướng hoàn toàn tự động hóa, trở thành một lớp tự động hoá tích hợp

Bảng 1.1 Sự tiến triển của tự động hoá qua các thời kỳ

Trang 19

Cho đến nay, tự động hoá vẫn không ngừng phát triển trở thành nhiều lớp kỹ thuật phức hợp có tác động đến mọi mặt của nền sản xuất từ nông nghiệp, công nghiệp đến thương nghiệp….Có thể nói, kỹ thuật tự động hoá

đã phát triển đa dạng, muôn hình vạn trạng vừa rõ nét và vừa âm thầm tác động đến từng lĩnh vực kinh tế xã hội cũng như sự phát triển chung của một quốc gia và toàn thế giới

1.3.2 Các giai đoạn phát triển tự động hoá của Đài Loan

1.3.2.1 Giai đoạn 1 (1982 – 1990): “kế hoạch 8 năm tự động hoá sản xuất”

Từ những năm 70 của thế kỷ trước, Trung tâm nguồn nhân lực thuộc bộ lao động Đài Loan đã phụ trách công tác tự động hoá, đó chính là bước khởi đầu của ngành tự động hoá tại Đài Loan Nhưng ở giai đoạn này tự động hoá phát triển vẫn chưa thực sự mạnh mẽ do các nguyên nhân sau: thứ nhất, lương nhân công của Đài Loan lúc đó vẫn rất thấp, trong khi thiết bị tự động hoá lại đắt do đó không thu hút được các nhà đầu tư mua sắm, đổi mới thiết

bị Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất vẫn chưa quen với kỹ thuật mới, đồng thời bản thân các kỹ thuật tự động hoá tại Đài Loan chưa thực sự hoàn thiện

Tổng hợp

Năm

Tự động hoá phức hợp Nén khí Thuỷ lực Cơ khí Cơ điện Điện tử Quang điện Máy tính 1985

Tự động hoá vi tính Nén khí Thuỷ lực Cơ khí Cơ điện Điện tử Máy tính 1960

Tự động hoá cơ bản Thuỷ lực Cơ khí Cơ điện Điện tử 1930

Bán tự động hoá Cơ khí Cơ điện 1895

Trước 1800

Cơ khí

Luỵện khoáng

Các lớp kỹ thuật

Trang 20

để có thể ứng dụng rộng rãi, gây nhiều rủi ro cho nhà đầu tư trong vận hành, bảo trì bảo dưỡng máy móc Bởi vậy, giai đoạn này hiệu quả của tự động hoá chưa có gì đáng kể

Trong thập kỷ 70 của thế kỷ trước, thế giới đã trải qua cuộc khủng hoảng dầu mỏ ảnh hưởng trực tiếp đến các nền kinh tế Đồng thời lương công nhân tại Đài Loan ngày một nâng cao, cộng với các yếu tố xã hội khác khiến các doanh nghiệp dần dần quan tâm đến tự động hoá sản xuất Đứng trước tình hình đó, năm 1979, Đài Loan thực hiện “Kế hoạch đào tạo, tuyên truyền kỹ thuật tự động hoá giá thành thấp” cung cấp dịch vụ kỹ thuật để cải thiện quy trình sản xuất và máy móc

Tháng 5 năm 1979, Viện hành chính Trung ương đưa ra “Dự án phát triển khoa học kỹ thuật” trong đó có bốn công nghệ trọng điểm đó là: công nghệ tự động hoá; công nghệ năng lượng; công nghệ viễn thông; công nghệ nguyên liệu Chính sách này là sự bắt đầu thúc đẩy công nghệ tự động hoá một cách có hệ thống tại Đài Loan

Tháng 11 năm 1980, Viện trưởng Viện hành chính Đài Loan đã phát biểu

ở hội công trình sư, coi tự động hoá là sự phát triển trong tương lai của Đài Loan [23, tr:28] Đây chính là điểm mốc quan trọng trong quá trình phát triển

tự động hoá của Đài Loan, tạo tiền đề cho hàng loạt những chính sách phát triển tự động hoá cũng như ngành tự động hoá của Đài Loan được quan tâm trong một giai đoạn dài liên tục, đưa Đài Loan trở thành một trong những nền kinh tế công nghệ cao phát triển trên thế giới

Tháng 12 năm 1981, kế hoạch 8 năm (1982-1990) phát triển tự động hoá, đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ tích cực công nghệ tự động, cải thiện cơ cấu các ngành sản xuất, khuyến khích và chỉ đạo đổi mới công nghệ và thiết bị,

Trang 21

lựa chọn các thiết bị tự động hoá, cải tiến phương pháp kinh doanh, nâng cao sức sản xuất và khai thác sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của Đài Loan trên thương trường quốc tế Tháng 7 năm 1982, Bộ Kinh tế Đài Loan chủ trì cùng các ban ngành có liên quan gồm: Bộ quốc phòng, Bộ xây dựng, Bộ tài chính, Bộ nội chính, Bộ giáo dục, Hội khoa học kỹ thuật đã thành lập “Ban thực hiện tự động hoá sản xuất” chịu trách nhiệm thúc đẩy ngành tự động hoá Ngoài ra, Hội kinh tế Đài Loan chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp giảm thiểu những rủi ro khi đầu tư vào thiết bị mới Có thể nói kế hoạch này đã bước đầu tạo ra cơ sở cho ngành tự động hoá của Đài Loan, tạo đà cho các bước phát triển tiếp theo của ngành tự động hoá Đài Loan

a Mục đích thực hiện chính sách sản xuất tự động hoá

“Kế hoạch thúc đẩy tự động hoá sản xuất Đài Loan” do “Ban thực hiện

tự động hoá sản xuất” thực hiện, mục đích nhằm thúc đẩy tự động hoá của Đài Loan bao gồm: tự động hoá trong sản xuất; phát triển ngành công nghiệp

tự động hoá; giảm tiêu hao tài nguyên cho các ngành tốn nhiều công sức lao động, tập trung nhân lực vào các ngành trí tuệ; nâng cao an toàn trong lao động và chất lượng cuộc sống

Công cuộc tự động hoá chủ yếu thông qua hoạt động của các nhà sản xuất, khó khăn của nó có thể xuất phát từ thông tin kỹ thuật hoặc từ quá trình chuyển giao kỹ thuật không đầy đủ làm cho các kỹ thuật tự động hoá không đạt được trình độ như mong muốn Mục tiêu của ngành công nghiệp tự động hoá là chế tạo máy móc, thiết bị, dây chuyền cho nền sản xuất, bởi vậy sản xuất tự động hoá càng phát triển thì giá thành thiết bị càng giảm, kích thích

Trang 22

nâng cao trình độ kỹ thuật Ngoài việc hỗ trợ về kỹ thuật, thiết bị cho nền sản xuất thì mục đích phát triển ngành công nghiệp tự động hoá còn là đổi mới thiết bị, sản phẩm tự động hoá mới, nâng cao nền sản xuất nội địa, giảm bớt

sự ỷ lại vào các thiết bị nhập khẩu

Nhưng trong giai đoạn đầu thực hiện kế hoạch tự động hoá, Đài Loan gặp phải rất nhiều khó khăn Thứ nhất, trong giai đoạn này Đài Loan không

đủ đội ngũ nhân công kỹ thuật và tài liệu kỹ thuật Cũng như các quốc gia khác trong giai đoạn bắt đầu phát triển từ một nền kinh tế chủ yếu dựa và nông nghiệp và các ngành sản xuất truyền thống, khi mới đưa ra kế hoạch này, mặc dù Đài Loan đã tính đến mọi vấn đề, đặc biệt là nhân lực, nhưng khi mới bắt đầu, chỉ có thể đào tạo ra một số ít chuyên gia tự động hoá, đối với những lao động phổ thông vận hành máy móc thậm chí cả những chuyên gia cũng không thể đủ để ngay lập tức lấp đầy các nhà máy xí nghiệp Hơn nữa, khi mới bước đầu tự động hoá, kinh nghiệm cũng chưa nhiều, các tài liệu tự nghiên cứu cũng không đủ, tài liệu nước ngoài có nhiều sự khác biệt khiến cho quá trình chuyển giao kỹ thuật chưa kiện toàn tạo nên những khó khăn tất yếu trong giai đoạn đầu tự động hoá tại Đài Loan

Tiếp đến là tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình tự động hoá Bởi thiết bị tự động hoá đắt, cần một thị trường phù hợp mới có thể ứng dụng được, trong khi đó Đài Loan với phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ kinh phí để tự trang trải mua sắm thiết bị Đồng thời như phân tích ở trên, các thiết bị được mua sắm với những

lý do về nhân lực và tài liệu đã không phát huy được hết hiệu quả, gây khó khăn cho quá trình tự động hoá của Đài Loan

Trang 23

b Kết quả thực hiện kế hoạch lần thứ nhất

Sau 8 năm thực hiện kế hoạch tự động hoá sản xuất, ngành tự động hóa Đài Loan đã có những chuyển biến rõ rệt, rất nhiều doanh nghiệp đã quan tâm áp dụng công nghệ tự động hóa, đồng thời hiểu biết hơn về tầm quan trọng của kỹ thuật này Theo thống kê của Ban cố vấn Viện hành chính điều tra tự động hóa tại 5 ngành nghề lớn là điện tử cơ điện, cơ khí, gia công nhựa, dệt và gia công thực phẩm đã đạt được những quy mô nhất định, trong đó ngành thực phẩm đạt tỷ lệ tự động hóa cao nhất là 73%, ngành gia công nhựa thấp nhất là 41%, bình quân tỷ lệ tự động hóa trong các ngành nêu trên là trên 50% [25, tr:60] Kéo theo đó là tiềm lực của các doanh nghiệp sử dụng

tự động hóa được đẩy mạnh trên cả thị trường Đài Loan và quốc tế Trong quá trình phát triển sôi động của tự động hoá như vậy, các doanh nghiệp Đài Loan đã chuyển hướng chú trọng đến chất lượng sản phẩm hơn là mở rộng sản xuất Đồng thời những doanh nghiệp kinh doanh tốt, nhưng chưa cải tiến

kỹ thuật cũng dần dần tự lập nên quan niệm về tự động hóa và coi trọng việc đào tạo lao động, tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất trên mọi mặt, quy hoạch lên mục tiêu cải tiến kỹ thuật công nghệ trong sản xuất Hiệu quả lớn nhất đối với tự động hoá Đài Loan trong kế hoạch thực hiện tự động hoá lần một, đó là các kỹ thuật, thiết bị và dây chuyền tự động hóa mà các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất có tính khả thi và hiệu quả cao và dần dần được các nhà sản xuất tại Đài Loan chú ý và chọn dùng trong quá trình đổi mới trang thiết bị của họ

Từ các kết quả trên có thể thấy xu hướng đi theo con đường tự động hoá của các doanh nghiệp Đài Loan đã hình thành rõ nét Đài Loan thực hiện

“Kế hoạch thúc đẩy ngành tự động hoá” là phù hợp với kế hoạch chung phát

Trang 24

triển nền kinh tế của hòn đảo này nhằm nâng cao nền sản xuất đi theo hướng

tự động hoá, cải thiện cơ cấu công nghiệp Kết quả cho thấy, tự động hoá có ảnh hưởng tích cực và thúc đẩy quá trình nâng cấp các ngành sản xuất của Đài Loan Bởi vậy, trong thời gian chính quyền Đài Loan đề ra chính sách tự động hoá đã chú trọng đến tình hình thực tế để đẩy mạnh quảng bá tự động hoá, các chính sách này được thể hiện rõ trong “kế hoạch 10 năm tự động hoá sản xuất”

1.3.2.2 Giai đoạn 2 (1990 – 2000) “kế hoạch 10 năm tự động hoá sản

xuất

a Bối cảnh của kế hoạch tự động hoá lần thứ hai

Việc đưa ra kế hoạch tự động hoá sản xuất lần hai bắt nguồn từ việc thời

kỳ thúc đẩy tự động hoá trong giai đoạn một của Đài Loan đã đạt mức tự động hoá trên 50%, kế hoạch đã có ảnh hưởng tích cực đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm của nền sản xuất Đài Loan cũng như nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế Nhưng trước tác động của môi trường kinh tế bên trong và bên ngoài, các doanh nghiệp Đài Loan đã dần mất đi ưu thế cạnh tranh Tuy vậy, theo báo cáo điều tra về tự động hoá sản xuất, các doanh nghiệp Đài Loan trong quá trình khai thác, nhập thiết bị và công nghệ tự động hoá đã xuất phát từ quan điểm “học hỏi” Bởi vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh và duy trì những thành quả của quá trình tự động hoá, ngày 6 tháng 12 năm 1989, Viện hành chính Đài Loan thông qua “Kế hoạch 10 năm

tự động hoá nền sản xuất Đài Loan” Phạm vi bao gồm: tự động hoá ngành chế tạo, tự động hoá thương nghiệp, tự động hoá xây dựng và tự động hoá nông nghiệp nuôi trồng mà chủ yếu là ngư nghiệp

Trang 25

b Quá trình thực hiện kế hoạch

Trong nội dung của “kế hoạch 10 năm tự động hóa sản xuất Đài Loan”, ngoài tự động hoá công nghiệp còn có tự động hóa ngư nghiệp và nuôi trồng,

tự động hóa xây dựng (theo bảng 1.2) nhưng để tiếp tục duy trì những thành tựu đạt được trong tám năm trước, trọng tâm của kế hoạch lần hai chủ yếu là ngành tự động chế tạo Cục công nghiệp Bộ kinh tế Đài Loan phụ trách việc thúc đẩy và quy hoạch thực hành “kế hoạch tự động hóa sản xuất” bao gồm các nội dung chính như sau:

Trang 26

Bảng 1.2: Phạm vi của kế hoạch tự động hoá nền sản xuất

Tự động thu hoạch nông sản phẩm

Nhà máy chế biến thực phẩm tự động hóa Nông nghiệp Tự động rắc phân bón và thuốc trừ sâu

Tự động thu hái quả

Tự động hóa nông Tự động xử lý các phế thải (ngư nghiệp) Tự động đánh bắt thủy hải sản

Tự động hóa Kỹ thuật thi công tự động

Ngành xây dựng Hệ thống tự động quản lý xây dựng

Các thiết bị tự động trong quá trình xây dựng

Tự động hóa trong sản xuất vật liệu xây dựng

Trang 27

Từ bảng trên đây có thể thấy kế hoạch lần này đã áp dụng tự động hoá đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế Đài Loan: từ sản xuất đến phân phối sản phẩm, từ nông nghiệp đến chế tạo và xây dựng Theo đó, có thể thấy tự động hoá đã có mặt ở những lĩnh vực mà trước kia chúng ta tưởng rằng máy móc không thể thay thế con người được

Để thực hiện tốt mục tiêu tự động hóa sản xuất, Ban chỉ đạo kế hoạch tự động hóa sản xuất liên bộ bao gồm Bộ quốc phòng, Bộ xây dựng, Bộ tài chính, Bộ nội chính, Bộ giáo dục, Bộ khoa học công nghệ, cùng thúc đẩy thực hiện chính sách Đồng thời mời những người từ cấp thứ trưởng trở lên tham gia vào ban chỉ đạo

c Kết quả thực hiện kế hoạch lần thứ hai

Với những mục tiêu nâng cấp nền sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, Đài Loan đã từng bước cắt giảm chính sách bảo hộ sản xuất nội địa, hoàn thiện môi trường cạnh tranh tự do Bởi vậy, trên cơ sở của kế hoạch tám năm lần thứ nhất, kế hoạch lần này đã đi sâu vào từng thành phần, từng lĩnh vực, ngành nghề trong nền kinh tế Đài Loan

Từ năm 1991 đến năm 2000, chính sách đầu tư của chính quyền Đài Loan cho một nền sản xuất với nguồn nhân lực 1240 người/năm, kinh phí đầu

tư là 1,86 tỷ NT Ngoài ra, còn có sự phối hợp đầu tư của các doanh nghiệp trong quy hoạch, giáo dục và cải thiện thiết bị, chi phí khoảng 69,26 tỷ NT Dưới sự hỗ trợ của chính quyền Đài Loan, kế hoạch lần này đã đạt được những mục tiêu:

Tỷ lệ phổ cập tự động hóa từ năm 1990 là 50% lên đến năm 2000 là

80%, tỷ lệ tự cung cấp thiết bị tự động hóa từ 41 % lên đến 60%, phổ cập

Trang 28

nhân lực tự động hóa từ 7,5% lên đến 13,5% [30, tr:2]

Thúc đẩy việc đầu tư vào thiết bị của các nhà sản xuất: từ 110 tỷ Đài tệ

(NT) năm 1990 nâng lên 1100 tỷ NT năm 2000.[30, tr:2]

1.3.2.3 Giai đoạn 3 (2000- 2005)- “tự động hoá và điện tử hoá

nền sản xuất”

a Mục tiêu duy trì sự phát triển của tự động hoá

Đến cuối những năm 90 của thế kỷ trước, nhu cầu về mạng internet và điện tử trên toàn cầu phát triển mạnh, đặc biệt là ngành bán dẫn, điện tử và ngành thiết bị điện Việc thiết lập hệ thống số hoá công nghệ cao, B2B (từ doanh nghiệp đến doanh nghiệp) là yếu tố tiên quyết để tạo ưu thế cạnh tranh của một công ty trên thị trường Lúc này, để đáp ứng nhu cầu của thời đại thông tin, tự động hoá càng cần phải tăng tốc hướng đến phát triển chính xác hoá, chi tiết hoá, hiệu quả hoá, internet hoá, điện tử hoá và trí tuệ hoá

Kỹ thuật tự động hoá đã có ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển của nền sản xuất Đài Loan Để tiếp tục những kết quả của hai kế hoạch trước, cuối năm 1999, Đài Loan đã đưa ra kế hoạch lần thứ ba là 5 năm 6 tháng được thực hiện từ đầu năm 2000 đến giữa năm 2005 với tên gọi “tự động hoá và điện tử hoá nền sản xuất”

Cho đến nay, xu hướng phát triển kỹ thuật tự động hoá của Đài Loan vẫn coi yêu ứng dụng của ngành công nghiệp chế tạo là tiêu chí chủ đạo Đài Loan căn cứ vào nhu cầu sử dụng để chia tự động hoá thành: tự động hoá thiết kế, gia công chế tạo có máy tính hỗ trợ, tự động lắp ráp, tự động kiểm nghiệm, tự động đóng gói, tự động nhập, rút nguyên liệu, tự động bảo dưỡng,

tự động lưu kho, tự động chuyển hàng và hệ thống dây chuyền tự động toàn

Trang 29

nhà máy, kết hợp sản xuất với vận hành quản lý Các chức năng kể trên đã được hoàn thiện, sự phát triển kỹ thuật phải đảm bảo tính liên hoàn, tổng hợp, chi tiết và chính xác hoá

Ngoài những ngành công nghệ cao đòi hỏi kỹ thuật tinh vi, các nhà sản xuất Đài Loan đã chuẩn bị cơ sở và thực lực cạnh tranh cho những thiết bị tự động hoá đơn lẻ và hệ thống tự động hoá cục bộ, đặc biệt là các hệ thống tự động hoá có liên quan đến dây chuyền chế tạo và hệ thống kho hàng Tiếp đến là hệ thống dây chuyền sản xuất toàn nhà máy như: hệ thống quản lý thông tin vận hành toàn nhà máy (MES) và hệ thống chỉnh hợp toàn bộ các máy, trình tự chế tạo, dây chuyền chuyển kho, dây chuyền quản lý kiểm tra

và đảm bảo chất lượng sản phẩm Với sự ủng hộ mạnh mẽ của chính quyền Đài Loan, các cơ quan nghiên cứu như Viện cơ khí, Trung tâm kim loại đã đưa ra các dự án thực hiện và cơ sở lý luận từng bước thiết lập phương thức hợp tác, ứng dụng kỹ thuật kết hợp sản xuất với học tập và nghiên cứu

Các ngành sản xuất Đài Loan đã dần bước đến tự động hoá hoàn toàn thay thế

phương pháp sản xuất truyền thống tự trước khi kế hoạch tự động hoá ra đời

Nguồn: Trung tâm nguồn nhân lực (Bộ Lao động)

Trang 30

b Nội dung và kết quả của kế hoạch tự động hoá lần thứ ba

Kế hoạch lần này của Đài Loan được chia thành hai nội dung chính là tự động hoá và điện tử hoá nền sản xuất, nhưng với phạm vi của luận văn chỉ trích lược và phân tích các nội dung về tự động hoá

Trong nội dung về tự động hoá được chia thành các mục tiêu chính như sau:

Đào tạo kỹ thuật tự động hoá các ngành sản xuất thông thường và đào tạo kỹ thuật tự động hoá trong các ngành sản xuất trọng điểm: Nhằm mục

tiêu thúc đẩy tự động hoá trong toàn bộ nền sản xuất, chính quyền Đài Loan

đã giao cho các cơ quan hữu quan tổ chức các khoá học chỉ đạo doanh nghiệp tiến hành tự động hoá dây chuyền sản xuất hiện có, đồng thời thúc đẩy ngành sản xuất tự động hoá và ngành dịch vụ liên quan để nâng cấp nền sản xuất thúc đẩy kinh tế phát triển Đến cuối năm 2004, “kế hoạch” đạt được những kết quả như sau:

Bảng 1.3 Kết quả thực hiện đào tạo kỹ thuật tự động hóa trong các ngành sản xuất thông thường

44.840 54.740 79.350 95.110 282.190

Trang 31

(1000NT)

Vốn đầu tư phần cứng

(1000NT)

21.650 276.810 628.880 1.078.380 1.941.250 3.946.960

Nguồn: Cục công nghiệp Bộ Kinh tế Đài Loan năm 2005

Theo kết quả được thể hiện ở bảng 1.3 thì đến năm 2004 đã có 425 nhà sản xuất xin phép được đào tạo kỹ thuật, chính quyền Đài Loan đã hỗ trợ 282.190.000 NT, hàng năm đều đầu tư bổ sung cho những dự án đặc thù Từ biên độ tăng dần như trên, có thể thấy trong 4 năm đầu của kế hoạch, tổng số các nhà sản xuất được đào tạo đã gần đạt mục tiêu là 600 nhà sản xuất do Cục công nghiệp đặt ra trong giai đoạn đầu tiên của kế hoạch, chắc chắn là đến năm 2005 thì đã vượt mục đích đề ra

Ngành sản xuất trọng điểm là những ngành sản xuất then chốt trong nền kinh tế, có thị trường tiềm năng rộng lớn, hiệu quả của tự động hóa có thể phát huy tối đa Tập san tự động hóa do Cục công nghiệp Đài Loan xuất bản

đã chỉ rõ: kế hoạch đào tạo kỹ thuật tự động hóa trong các ngành sản xuất trọng điểm được bắt đầu tuyên truyền từ năm 2002, đến năm 2005 đã chọn được hơn 20 ngành sản xuất trọng điểm, có ảnh hưởng sâu rộng đối với việc nâng cấp nền sản xuất Cho đến năm 2004, tổng cộng đã tổ chức được 23 cuộc họp tuyên truyền, vận động, tiến hành kiểm tra định kỳ được 508 nhà máy sản xuất, chuẩn đoán thực địa và đào tạo trước cho 626 nhà máy, biên tập được 18 cuốn chỉ dẫn tự động hóa cho các ngành sản xuất Đến giữa năm

2005, các dự án đào tạo tự động hóa cấp bộ chiếm 47% Có thể thấy việc chủ động hỗ trợ đào tạo có hiệu quả rất lớn đối với những ngành sản xuất trọng điểm, thậm chí vận dụng vào toàn bộ nền sản xuất Nhưng trong quá trình

Trang 32

thực hiện phương pháp này đã nảy sinh một số vấn đề như: năng lực của chính các đơn vị đào tạo kỹ thuật không vững, không thể đáp ứng một cách toàn diện những nhu cầu về tự động hóa của ngành sản xuất trọng điểm Đồng thời, sở trường chính của các đơn vị đào tạo cũng còn hạn chế, không thể giải quyết có hệ thống những phát sinh của các ngành sản xuất Bởi vậy,

để giải quyết các vấn đề trên, các đơn vị đào tạo Đài Loan đã xóa bỏ chủ nghĩa vị bản, thu hút nhân lực, chuyên gia làm cho đội ngũ đào tạo càng mạnh mẽ và có thể cung cấp các tri thức kỹ thuật một cách toàn diện nhất cho nhà sản xuất

Với nội dụng chi tiết và biện pháp thực hiện rõ ràng, kế hoạch lần này

đã đi vào chiều sâu, thúc đẩy tự động hoá trên từng ngành nghề lĩnh vực và

đi vào từng doanh nghiệp Đặc biệt, nền kinh tế Đài Loan với đặc điểm là các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu, dân số ít, sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu thì mục tiêu đào tạo kỹ thuật tự động hoá cho các ngành sản xuất thông thường và ngành sản xuất trọng điểm đã thực sự có tác dụng thúc đẩy nâng cấp toàn bộ nền kinh tế Với những thành công như trên có thể thấy trên nền tảng của hai kế hoạch tự động hoá lần một và lần hai, kế hoạch lần thứ ba này

đã thực sự đóng vai trò lớn trong quá trình nâng cấp nền sản xuất Đài Loan

Khuyến khích phát triển kinh doanh dịch vụ tự động hoá: Kinh doanh

dịch vụ tự động hoá là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình phát triển

tự động hoá Từ năm 1993, Cục công nghiệp thuộc Bộ kinh tế Đài Loan đã nới lỏng việc xin phép đăng ký kinh doanh ngành dịch vụ công trình tự động hoá cho các doanh nghiệp tư nhân nhằm đẩy mạnh sự phát triển của ngành này và cung cấp các thiết bị tự động hoá cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

Trang 33

để các doanh nghiệp được tham gia vào quá trình phát triển tự động hoá nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình tự động hoá Sau khi thực hiện đăng

ký tác nghiệp, tự động hoá đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, đồng thời có nhiều ảnh hưởng hiệu quả cho các doanh nghiệp sản xuất tự động hoá tại Đài Loan Để nâng cấp hơn nữa ngành dịch vụ công trình tự động hoá tại Đài Loan, tháng 3 năm 2000, Cục công nghiệp đã điều chỉnh Tiêu chuẩn thẩm duyệt đăng ký kinh doanh dịch vụ công trình tự động hoá, điều chỉnh này bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm 2001

Đào tạo nhân lực tự động hoá: Cũng như hai kế hoạch trước, chính

quyền Đài Loan luôn đặt vấn đề đào tạo nhân lực là một mục tiêu quan trọng trong tất cả các thời kỳ phát triển của tự động hoá Kế hoạch này tiếp tục chú trọng đào tạo các kỹ sư trong ngành tự động hoá và công nhân kỹ thuật nhằm

hệ thống hoá thiết kế quy hoạch hệ thống tự động hoá Thực hiện kế hoạch lần này, Ban tự động hoá uỷ thác cho các đơn vị học thuật điều tra tình trạng cung cấp nhân lực trong các doanh nghiệp để đưa ra các phương án đào tạo nhân lực theo từng năm Sau khi có kết quả điều tra, Ban tự động hoá đưa ra

kế hoạch đào tạo và cung cấp nhân lực tự động hoá, các đơn vị học thuật sẽ chịu trách nhiệm hoàn thiện giáo trình cơ bản, các đơn vị sản xuất cùng phối hợp để biên soạn các giáo trình đào tạo chi tiết và chuyên ngành hơn, sau đó phân chia ra thành các khu vực đào tạo nhân lực tại trung, nam, bắc Đài Loan Trong 5 năm từ 2000 đến 2005 Đài Loan đã đào tạo được 27.350 lượt người [30, tr:2]

Trang 34

Chương 2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TỰ ĐỘNG HOÁ CỦA ĐÀI LOAN

Để ngành tự động hoá phát triển, không thể chỉ dựa vào một doanh nghiệp hay một hiệp hội nào mà cần có sự chỉ đạo, đốc thúc và hoạch định chính sách của chính quyền Trong chương 2, luận văn sẽ đi sâu phân tích từng chính sách nhằm làm rõ mục đích, nội dung và phương pháp thực hiện các chính sách cũng như tác động của nó đến toàn bộ nền sản xuất của Đài Loan Trong kế hoạch khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào tự động hoá, chính quyền Đài Loan trợ giúp và khuyến khích các doanh nghiệp trên 5 phương diện chủ yếu: Ưu đãi về thuế, ưu đãi tài chính, khai thác thiết bị, phát triển kỹ thuật và đào tạo nhân lực Các chính sách này không tách rời riêng biệt mà có tác dụng bổ sung hỗ trợ cho nhau, tao điều kiện phát triển tự động hoá trên mọi mặt

2.1 Các chính sách ưu đãi phát triển tự động hoá của chính quyền

Đài Loan

2.1.1 Ưu đãi về thuế

Chính sách ưu đãi thuế đối với ngành tự động hoá được phản ánh trong

“Điều lệ thúc đẩy nâng cấp nền sản xuất” bao gồm 4 nội dung như sau:

(i) Mua sắm thiết bị tự động hoá được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

từ 10-20%

(ii) Mua kỹ thuật tự động hoá được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp 10% (iii) Đầu tư vào nghiên cứu phát triển tự động hoá có thể được giảm 15-20% thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 35

(iv) Đầu tư đào tạo nhân lực tự động hoá được giảm 15% thuế thu nhập doanh nghiệp

Dù là công ty sản xuất của tư nhân, công ty công hữu, công ty dịch vụ kỹ thuật tư nhân thực hiện các hoạt động như nêu trên chi phí của (i), (ii), (iv) trong cùng một năm tính thuế đạt trên 600.000NT, thực hiện mục (iii) trong cùng một năm tính thuế đạt trên 2.000.000 NT hoặc đạt 2% lợi nhuận thuần trở lên đều có đủ điều kiện làm thủ tục nhận ưu đãi Các doanh nghiệp có đủ điều kiện sẽ thông qua các đơn vị quản lý như Cục công nghiệp Bộ kinh tế, Ban quản lý khu chế xuất gia công và Ban quản lý khu công nghệ thực hiện thủ tục nhận ưu đãi

Về cơ bản, chính sách ưu đãi thuế đã mở đường cho doanh nghiệp Đài Loan trong việc nhận những ưu đãi mua sắm thiết bị và kỹ thuật sản xuất Đồng thời, thủ tục xin ưu đãi thông thoáng đơn giản tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp nhận các ưu đãi của chính quyền Nhưng hạn chế của chế độ ưu đãi là số thuế phải đóng góp trong cùng một năm tính thuế của doanh nghiệp phải đạt đến 600.000 NT mới được miễn giảm 10- 20% chi phí mua sắm thiết bị tự động hoá hoặc kỹ thuật tự động hoá, đạt đến 2.000.000

NT mới được miễn giảm 15-20% chi phí nghiên cứu tự động hoá

2.1.1.1 Chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp xử lý tốt

sự cố máy tính năm 2000 (Y2K)

Tự động hoá cũng là sử dụng các thiết bị vi xử lý giải quyết các chương trình có chức năng đặc biệt hoặc chương trình điều khiển quản lý dữ liệu Nếu thời gian trong bộ vi xử lý hoặc thời gian của hệ thống có bất kỳ sai sót nào thì máy vi tính hoặc bộ vi điều khiển sẽ mất đi công năng vốn có của nó, nếu

Trang 36

như doanh nghiệp không xử lý được có thể dẫn đến tình trạng hệ thống thiết

bị tự động hoá gặp phải những sự cố rất khó có thể giải quyết

Để đối phó với tình trạng này, chính quyền Đài Loan đưa ra chính sách thưởng cho các doanh nghiệp xử lý được sự cố Y2K Quy định về thuế chỉ rõ: các công ty trong giai đoạn từ 1/1/1997 đến 31/12/1998 giải quyết được sự cố Y2K thì các chi phí nghiên cứu phát triển đạt đến 20% bao gồm: lương nhân công, chi phí mua sắm thiết bị phần cứng và phần mềm, chi phí giúp công ty khác xử lý sự cố đều có thể được áp dụng theo quy định hoàn giảm thuế cho nhà đầu tư

Như vậy, cũng là một bộ phận trong chính sách ưu đãi thuế của chính quyền Đài Loan nhưng chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp tự giải quyết được vấn đề Y2K đã cởi mở hơn so với các ưu đãi về thuế khác để các doanh nghiệp phát triển tự động hoá, bất kể các doanh nghiệp dù tự giải quyết được sự cố này trước thời hạn hoặc giải quyết cho các doanh nghiệp khác đều có thể xin ưu đãi miễn giảm thuế Nhưng chính sách vẫn có những điểm chưa rõ ràng là tỷ lệ miễn giảm thuế cho doanh nghiệp còn phụ thuộc vào vốn điều lệ của doanh nghiệp, cũng như ngành nghề của doanh nghiệp Ở điểm này chính sách tạo nên sự mơ hồ gây ra quan hệ “xin cho” giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý

2.1.1.2 Tình hình thực hiện chính sách

Về cơ bản, Bộ Kinh tế Đài Loan đã dựa trên thời điểm then chốt là những thay đổi tình hình kinh tế trong và ngoài Đài Loan để trực tiếp cải thiện thể chất cho nền sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên trường quốc tế Do nhận thấy được ý nghĩa của việc tiếp tục thực hiện chính

Trang 37

sách và cần thiết phải thay đổi phương hướng khuyến khích, cũng như để doanh nghiệp có thể kịp thời ứng phó với những diễn biến của môi trường đầu

tư, Cục công nghiệp Bộ kinh tế đã soạn thảo ra bản thảo thay đổi “Điều lệ thúc đẩy nâng cấp nền sản xuất”, sau đó ngày 25 tháng 03 năm 1999 được Viện hành chính thông qua Điều lệ này là tiền đề cho việc tiếp tục thực hiện chính sách trong giai đoạn ba từ năm 2000 đến năm 2005 với kế hoạch “Tự động hoá và điện tử hoá nền sản xuất”

Theo niên giám phát triển công nghiệp năm 1997 của Cục công nghiệp Bộ Kinh tế Đài Loan, dựa theo quy định miễn giảm thuế mua thiết bị tự động hoá trong “Điều lệ thúc đẩy nâng cấp nền sản xuất” thì tổng số tiền phê duyệt mua thiết bị tự động hoá cho các dự án năm từ 1991 đến năm 1997 là 1.350,2 tỷ

NT Theo quy định, khi mua các thiết bị tự động hoá sản xuất tại Đài Loan sẽ

có ưu đãi cao hơn, nhưng theo bảng 2.1 có thể thấy: tuy rằng con số các dự án mua thiết bị sản xuất tại Đài Loan ngày một tăng nhưng nếu so sánh với con

số tăng chóng mặt của các dự án nhập khẩu thiết bị thì vẫn còn nhiều hạn chế Năm 1990, số tiền mua thiết bị sản xuất tại Đài Loan cao hơn 33,6 tỷ NT so với con số mua các thiết bị nhập khẩu là 22,6 NT, nhưng hai năm sau đó năm

1992 số tiền nhập khẩu thiết bị của Đài Loan tăng lên gần gấp ba là 74,9 tỷ

NT trong khi số tiền các dự án bỏ ra mua thiết bị sản xuất tại Đài Loan chỉ tăng đến 39,4 tỷ NT, đến năm 1997 số tiền chi cho các thiết bị nhập khẩu gấp

5 lần số tiền mua các thiết bị được sản xuất tại Đài Loan

Bảng 2.1: Số tiền phê chuẩn cho các dự án mua thiết bị tự động hoá được nhận ưu đãi miễn giảm thuế

Đơn vị: trăm triệu NT

Trang 38

Nguồn: Cục công nghiệp Bộ Kinh tế niên giám phát triển công nghiệp năm

1997 Trung Hoa Dân Quốc (Trang 1026)

Từ năm 1993 đến năm 1998, tổng số tiền miễn giảm thuế là 65,1 tỷ NT, chiếm khoảng 0,89% tổng số thuế thu được (xin xem bảng 2.2) trong đó số tiền miễn giảm thuế trong năm 1998 đã tăng mạnh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng

số thuế thu được trong năm

Bảng 2.2: Số tiền miễn giảm thuế trong giai đoạn 2 thực hiện kế hoạch tự động hoá

Đơn vi: tỷ NT, %

Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 Tổng

Số tiền miễn giảm thuế 5 7,5 7,1 6,6 11,9 27,1 65,1

Chiếm tỷ lệ số thuế trong

Trang 39

cầu của định hướng phát triển, chính sách ưu đãi về thuế chỉ được đầu tư vào những doanh nghiệp đã thông qua các chương trình đào tạo nâng cao năng lực sản xuất, sau đó Ban tự động hoá tư vấn cho doanh nghiệp làm thủ tục xin ưu đãi ngay từ khi họ bắt đầu thực hiện việc mua sắm Điều này đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp hiểu rõ hơn chính sách ưu đãi và dễ dàng nhận được những ưu đãi của chính quyền

2.1.2 Ưu đãi tài chính

Ngoài chính sách ưu đãi về thuế, trong kế hoạch tự động hoá, chính quyền Đài Loan còn hỗ trợ “ưu đãi tài chính”

2.1.2.1 Sự cần thiết phải đặt ra chính sách ưu đãi tài chính

Trong quá trình thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành tự động hoá, một việc quan trọng nhất đó chính là khuyến khích doanh nghiệp mua sắm thiết bị tự động hoá để nâng cao năng suất Nhưng vốn mua sắm thiết bị là rất lớn nên

để tránh rủi ro, doanh nghiệp rất mong muốn được chính quyền cho vay vốn lãi suất thấp để mua thiết bị Bởi vậy, từ năm 1983, Viện hành chính Đài Loan

đã cùng Ngân hàng Giao thông, Ngân hàng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đài Loan hùn vốn tiến hành cho vay lãi suất thấp, đưa hạng mục “mua sắm thiết

bị tự động hoá” vào danh mục để các nhà đầu tư mua sắm thiết bị tự động hoá nhận được ưu đãi

Từ năm 1990, Viện hành chính khai thác vốn và Ngân hàng Giao thông, Ngân hàng Trung ương và nhiều đơn vị khác cùng phối hợp thực hiện chủ trì cho doanh nghiệp vay ưu đãi với lãi suất thấp để mua sắm thiết bị tự động hoá

Trang 40

2.1.2.2 Mục đích và nội dung của chính sách ưu đãi tài chính

Nội dung chính sách nhằm khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp mua thiết bị tự động hoá, nguồn tài chính do Viện hành chính khai thác vốn và Ngân hàng Trương Ương Đài Loan cung cấp một phần

Đài Loan quy định 4 khoản vay ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư kỹ thuật và thiết bị tự động hoá bao gồm:

a Khoản cho các doanh nghiệp vay để mua thiết bị tự động hoá sản xuất tại Đài Loan: phạm vi sử dụng là dành cho các doanh nghiệp tư doanh cũng

như công doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ mua sắm các thiết

bị tự động hoá của các nhà sản xuất Đài Loan Các thiết bị được duyệt mua phải phù hợp với những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật tự động hoá Trong

đó đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần đáp ứng những điều kiện:

“Tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ” của Viện hành chính, đồng thời là doanh nghiệp phù hợp với đối tượng đảm bảo đồng vốn tín dụng của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Đài Loan đều được duyệt cho vay

b Mua sắm thiết bị máy móc tự động hoá nhập khẩu: Phạm vi là các

doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư mua sắm thiết bị tự động hoá, trong các ngành ngành thương nghiệp, ngành xây dựng, phần mềm điện tử đều được phê duyệt cho vay Chính sách ưu đãi là con đường mở ra cho doanh nghiệp

và giới học thuật Đài Loan tiếp cận với các thiết bị, kỹ thuật mà Đài Loan chưa sản xuất được, tạo điều kiện cho nhà sản xuất tự động hoá tại Đài Loan

có cơ hội giao tiếp xúc với những kỹ thuật và công nghệ hiện đại hơn để tự hoàn thiện mình

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS- TXKH Nguyễn Xuân Quỳnh (2008) Tính ứng dụng và phát triển của tự động hoá Tự động hoá ngày nay số 3 -2007 (tr 3-6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự động hoá ngày nay
2. Vũ Minh Tiến (2007), Cần có sự đột phá trong chính sách sử dụng cán bộ khoa hoc kỹ thuật, - Tự động hoá ngày nay số 4-2007, tr 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Tự động hoá ngày nay
Tác giả: Vũ Minh Tiến
Năm: 2007
3. Thanh Tú (2007) Tự động hoá đòn bẩy năng lực cạnh tranh - Tự động hoá ngày nay số 4-2007 tr 16- 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Tự động hoá ngày nay số 4-
4. Trịnh Đình Đề (2006) Tự động hoá là nền tảng của Công nghê cao – Tự động hoá ngày nay 998), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 998)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
5. Walden bello và stephanie rosenfeld (1996), Mặt trái của những con rồng, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trái của những con rồng
Tác giả: Walden bello và stephanie rosenfeld
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.3.    Kết  quả  thực  hiện  đào  tạo  kỹ  thuật  tự  động  hóa  trong  các  ngành sản xuất thông thường - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
ng 1.3. Kết quả thực hiện đào tạo kỹ thuật tự động hóa trong các ngành sản xuất thông thường (Trang 30)
Bảng 2.2: Số tiền miễn giảm thuế trong giai đoạn 2 thực hiện kế hoạch tự  động hoá. - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
Bảng 2.2 Số tiền miễn giảm thuế trong giai đoạn 2 thực hiện kế hoạch tự động hoá (Trang 38)
Bảng 2.3: Các dự án cho vay mua thiết bị được phê duyệt - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
Bảng 2.3 Các dự án cho vay mua thiết bị được phê duyệt (Trang 41)
Bảng  2.7:  Nhu  cầu  nằm  ngoài  chính  sách  khuyến  khích  phát  triển  tự  động hoá của doanh nghiệp Đài Loan - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
ng 2.7: Nhu cầu nằm ngoài chính sách khuyến khích phát triển tự động hoá của doanh nghiệp Đài Loan (Trang 57)
Bảng  2.8:  Tình  hình  doanh  nghiệp  Đài  Loan  nắm  bắt  những  chính  sách ưu đãi của chính quyền - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
ng 2.8: Tình hình doanh nghiệp Đài Loan nắm bắt những chính sách ưu đãi của chính quyền (Trang 59)
Bảng  2.9:  Quan  hệ  giữa  quy  mô  doanh  nghiệp  với  việc  áp  dụng  kỹ  thuật và đào tạo nhân lực - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
ng 2.9: Quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp với việc áp dụng kỹ thuật và đào tạo nhân lực (Trang 61)
Bảng 2.10. Quan  hệ quy  mô doanh nghiệp và sự hiểu biết  về chính sách - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
Bảng 2.10. Quan hệ quy mô doanh nghiệp và sự hiểu biết về chính sách (Trang 62)
Bảng  2.11:  Quan  hệ  giữa  quy  mô  doanh  nghiệp  và  nhu  cầu  đối  với  các  chế độ ưu đãi - Chính sách phát triển ngành tự động hóa của Đài Loan từ năm 1980 đến năm 2005 và kinh nghiệm với Việt Nam
ng 2.11: Quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và nhu cầu đối với các chế độ ưu đãi (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w