1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế Trung Quốc dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của Mỹ từ năm 2007 đến năm 2009

104 632 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ, do những chính sách tín dụng dễ dãi của các ngân hàng và tổ chức đầu tư bất động sản, thông qua mối quan hệ kinh doanh chằng chịt của hệ th

Trang 1

đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

*****

kinh tế trung quốc d-ới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của mỹ

Trang 2

MỤC LỤC

Mục lục bảng 3

Danh mục ký hiệu các chữ viết tắt 4

Mở đầu 5

1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài 5

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Kết cấu của luận văn 9

Nội dung 10

CHƯƠNG 1: Khái niệm chung về khủng hoảng và khủng hoảng tải chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 10

1.1 Tổng quan về khủng hoảng: 10

1.2 Khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 và tác động của cuộc khủng hoảng 13

1.3 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 28

CHƯƠNG 2: Nền kinh tế Trung Quốc trước và trong khủng hoảng tài chính tiền tệ 2007 – 2009 45

2.1 Kinh tế Trung Quốc những năm đầu thế kỷ 21 đến trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 45

2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 2007 – 2009 tới nền kinh tế Trung Quốc 57

Trang 3

CHƯƠNG 3: Chính sách của Trung Quốc đối phó với cuộc khủng hoảng tài

chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009, kết quả và bài học rút ra 66

3.1 Chính sách của Trung Quốc đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 66

3.2 Kết quả phát triển kinh tế Trung Quốc 75

3.2.1 Những thành tựu đạt được: 76

3.2.2 Những hạn chế còn tồn tại: 89

3.3 Bài học kinh nghiệm và gợi ý chính sách 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 4

Mục lục bảng

Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 2000 – 2007 46 Bảng 2: Số lươ ̣ng ô tô thiêu thụ ở Trung Quốc giai đoa ̣n 2002-2007 48 Bảng 3 Tình hình suy giảm tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang các thị trường chủ yếu năm 2008 61 Bảng 4 Tình hình tín dụng của Trung Quốc năm 2009 86

Trang 5

Danh mục ký hiệu các chữ viết tắt

CDS Hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi (Credit Default Swap)

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

Security)

Trang 6

Mở đầu

1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài

Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, thế giới lại đứng trước một cuộc khủng hoảng tài chính mà mức độ nghiêm trọng và khả năng tàn phá lớn hơn gấp nhiều lần Xuất phát từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ, do những chính sách tín dụng dễ dãi của các ngân hàng và tổ chức đầu

tư bất động sản, thông qua mối quan hệ kinh doanh chằng chịt của hệ thống ngân hàng thời đại toàn cầu hoá, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều lĩnh vực và khu vực trên toàn thế giới

Cả thế giới bàng hoàng khi hàng loạt các định chế tài chính lớn lần lượt sụp đổ, tiêu biểu nhất là sự phá sản của Lehman Brothers, ngân hàng mà chỉ một năm trước đó còn được đánh giá là ngân hàng đầu tư bất động sản tốt nhất nước

Mỹ Tiếp đó là các tên tuổi như Bradford and Bingley (Anh), Hypo Real Estate (Đức), Fortis (Bỉ), Dexia (Pháp), Yamamoto Life (Nhật Bản)… Tính tới cuối tháng 11 năm 2008, số ngân hàng thương mại phá sản ở Mỹ đã lên tới 22 (trong

đó đứng đầu danh sách những thể chế tài chính xấu số này là Washington Mutual với tổng tài sản 307 tỉ USD), và chưa có dấu hiệu dừng lại Số ngân hàng nằm trong danh sách “có vấn đề”(1) vẫn tăng không ngừng, đạt tới con số

171 trong quý III/2008, mức cao nhất kể từ năm 1995

Dưới tác động của khủng hoảng tài chính, các hoạt động thương mại, đầu

tư, tiêu dùng của mỗi quốc gia đều sụt giảm mạnh, nguy cơ suy thoái kinh tế đang đe dọa Thậm chí, nhiều nước đang lâm vào tình trạng phá sản cấp quốc gia Những phản ứng bị động và lúng túng của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế cho thấy sự bất ngờ của thế giới trước cuộc khủng hoảng và tầm ảnh hưởng của

nó Sức tàn phá của “cơn sóng thần” tài chính đến từ Mỹ mạnh đến mức không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết cuộc khủng hoảng, mà đòi hỏi phải

có sự chung tay của cộng đồng quốc tế Khủng hoảng tài chính và cách giải

Trang 7

quyết hậu quả đang trở thành chương trình nghị sự hàng đầu trên thế giới hiện nay

Giới học giả và hoạch định chính sách ở hầu hết các nước trên thế giới đã rất lo ngại về quy mô và tính chất đặc biệt nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này Nhiều người cho rằng chỉ có thể so sánh cuộc khủng hoảng lần này với cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, cuộc khủng hoảng được nhấn mạnh như là điểm nút của sự phá hủy và sáng tạo khi đưa đến sự ra đời của một chủ nghĩa tư bản có điều tiết, sự gia tăng vai trò kinh tế của các nhà nước tư sản Lần này, cuộc khủng hoảng cũng bắt đầu từ khủng hoảng tài chính - tiền tệ trước hết lại cũng ở Mỹ - trung tâm phát triển nhất của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa; từ đó lan rộng sang các lĩnh vực khác và tác động với cường độ rất mạnh đến các nước Cuộc khủng hoảng phản ánh sự bất lực của các thể chế kinh

tế tân tự do, sự bất cập của mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, nhưng quy mô và tính chất của nó có nhiều điểm khác hẳn so với các cuộc khủng hoảng trước đó

Ngay sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, hầu hết các dự báo trên thế giới đã khá thống nhất khi cho rằng mức độ suy thoái của nền kinh

tế toàn cầu là nghiêm trọng, sâu sắc và kéo dài Cho đến quý II-2009, nhiều nền kinh tế đã thoát đáy khủng hoảng và đặc biệt từ cuối quý III-2009, một số nền kinh tế chủ chốt đã có tốc độ tăng trưởng dương khá cao, trong đó đặc biệt đáng chú ý là của nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ Trung Quốc hiện được coi như là niềm hy vọng giúp cho nền kinh tế Thế giới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và thực tế là nền kinh tế Trung Quốc đã thể hiện được ưu thế độc đáo của mình và

đã giành được nhiều thành công to lớn

Kinh nghiệm Trung Quốc ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, không chỉ cho trước mắt mà cho cả lâu dài Việc đánh giá đúng bản chất của cuộc khủng hoảng; phân tích một cách toàn diện và sâu sắc các giải pháp ứng phó trường

Trang 8

hợp của Trung Quốc sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm rất hữu ích cho việc hoàn thiện chiến lược và đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

- Khái quát và hệ thống hóa một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến cải cách kinh tế , trong đó tâ ̣p tru ng chủ yếu vào những cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về cải cách kinh tế ở Trung Quốc để đối phó với tác đô ̣ng xấu của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ

- Luận án chủ yếu tâ ̣p trung tìm hiểu , phân tích và đánh giá về những thay đổi về mă ̣t cơ cấu kinh tế hay những cải cách kinh tế chủ yếu do áp lực của cuô ̣c khủng hoảng này tạo ra nhằm giải đáp một số câu hỏi cụ thể sau đây :

+ Tại sao Trung Quốc phải thực hiện cải cách kinh tế ?

+ Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành cải cách kinh tế như thế nào để ứng phó, khắc phục và vượt qua cuô ̣c khủng hoảng mô ̣t cách nhanh chóng đến như

vâ ̣y? Mục tiêu và nội dung cơ bản của chương trình cải cách kinh tế là gì ? Dựa vào những cơ sở lý thuyết , thực tiễn và khuôn khổ , thể chế nào để tiến hành cải cách? Theo phương pháp , mô hình gì?

+ Chính phủ đã tập trung vào cải cách những khu vực chủ yếu nào trong nền kinh tế ? Tại sao lại tập tru ng chủ yếu vào các khu vực đó ? Nô ̣i dung cải cách cụ thể ở mỗi khu vực là gì ? Kết quả ra sao ? Triển vo ̣ng đến đâu ? Cần tiếp tục thúc đẩy cải cách theo hướng nào và tập trung vào những vấn đề gì ?

- Cung cấp những thông t in hữu ích, những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m và những

gơ ̣i ý mang tính tham khảo cho các nhà hoa ̣ch đi ̣nh chính sách cải cách kinh tế của Việt Nam và những ai quan tâm đến vấn đề này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứ u ở đây chính là các chính sách , biê ̣n pháp và thực tiễn cải cách kinh tế ở Trung Quốc trong giai đoa ̣n (2007-2010) Cụ thể là các chính sách , biê ̣n pháp cải cách của chính phủ Trung Quốc đối với bốn khu vực

Trang 9

đươ ̣c coi là tro ̣ng yếu và ưu tiên hàng đầu đó là : khu vực tài chính , khu vực công

ty, khu vực lao đô ̣ng , khu vực công cô ̣ng Ngoài ra còn đề cập đến một số cải cách chính sách kinh tế vĩ mô và những cải cách khác trong các lĩnh vực như thương ma ̣i, đầu tư, …

- Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung chủ yếu vào giai đoạn

2007-2010 Tuy nhiên , phạm vi nghiên cứu không hoàn toàn giới hạn trong khoảng thời gian nêu trên mà có sự mở rô ̣ng , liên hê ̣ và so sá nh với các giai đoa ̣n trước khủng hoảng và giai đoạn gần đây , đồng thời có sự so sánh với mô ̣t số nước trên thế giới và trong khu vực để thấy được những nét tương đồng và khác biê ̣t , tính phổ biến và tính đă ̣c thù

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng mô ̣t số phương pháp chủ yếu sau :

Duy vâ ̣t lịch sử và duy vâ ̣t biê ̣n chứng :

- Quá trình cải cách sẽ được xem xét qua các giai đoạn với những đặc trưng cụ thể của từng giai đoa ̣n

- Xem xét và phân tích cả hai mă ̣t của vấn đề (mă ̣t tích cực và mă ̣t ha ̣n chế; những thành công và thách thức ) để đảm bảo tính toàn diện và khách quan

- Phân tích thống kê , tổng hơ ̣p : thông qua viê ̣c sử dụng các số liê ̣u đã đươ ̣c chính thức công bố qua sách , báo, tạp chí, hô ̣i thảo v v… từ các tổ chức liên quan của Trung Quốc , thế giới và Viê ̣t Nam

- So sánh: phân tích trường hơ ̣p của Trung Quốc kết hơ ̣p so sánh với mô ̣t số nước trong khu vực và trên thế giớ i, để thấy được những nét tương đồng và khác biệt, tính phổ biến và tính đặc thù

Trang 10

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài trang bìa, bảng các ký hiệu viết tắt, mục lục, mở đầu, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Khái niệm chung về khủng hoảng và khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 Chương này nhằm làm rõ khái niệm khủng hoảng, tác động và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009

Chương 2: Kinh tế Trung Quốc trước và trong khủng hoảng tài chính tiền

tệ 2007 – 2009 Chương 2 tập trung vào việc xem xét, đánh giá tình hình kinh tế Trung Quốc trong thập niên đầu thế kỷ 21 cho đến trước khủng hoảng tài chính tiền tệ, sau đó phân tích và đánh giá những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ đến nền kinh tế Trung Quốc

Chương 3: Chính sách của Trung Quốc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009, kết quả và bài học rút ra Nội dung bao gồm những phân tích về chính sách của Trung Quốc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ, và những nhận xét đánh giá về kết quả của những chính sách này, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 11

CHƯƠNG 1: Khái niệm chung về khủng hoảng và khủng hoảng tải chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009

1.1 Tổng quan về khủng hoảng:

Khái niệm về khủng hoảng: Khủng hoảng là một giai đoạn hay một

trạng thái không ổn định , đă ̣c biê ̣t là khi có những thay đổi nghiêm tro ̣ng ngoài mong đơ ̣i hay những tình huống đã đến giai đoa ̣n nguy ki ̣ch

Khủng hoảng là sự hoảng loạn , sơ ̣ hãi ở quy mô lớn liên quan đến nhiều người, nhiều quốc gia , vùng và lãnh thổ Có các loại khủng hoảng như khủng hoảng chính trị , khủng hoảng kinh tế , khủng hoảng tài chính , khủng hoảng niềm tin…

Khủng hoảng tài chính toàn cầu :

Khủng hoảng kinh tế là sự suy thoái các hoạt động kinh tế trầm trọng và lâu dài Suy thoái kinh tế có thể liên quan đến sự suy giảm đồng thời các chỉ số kinh tế của toàn bô ̣ hoa ̣t đô ̣ng kinh t ế

Khủng hoảng tài chính toàn cầu là tình trạng bất ổn định tài chính lan tỏa ,

có hiệu ứng dây chuyền và có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thế giới Khủng hoảng toàn cầu là hậu quả của sự suy giảm – suy thoái ké o dài , ảnh hưởng lớn đến tốc đô ̣ tăng trưởng kinh tế , gây trì trê ̣ ở hầu hết các nước

Trong nền kinh tế thế giới hiê ̣n đa ̣i , sự lây lan của khủng hoảng tài chính thường đi kèm với sự suy thoái kinh tế kéo dài Một số dấ u hiê ̣u của khủng hoảng tài chính là bẫy thanh khoản xảy ra từ ngân hàng , do ngân hàng thương mại (NHTM) không hoàn trả được những khoản tiền gửi của người gửi tiền , các khách hàng vay vốn , gồm cả các khách hàng được xếp loại tốt nhất , cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng ; và khi khủng hoảng tài chính xảy ra thì Chính phủ và Ngân hàng Trung ương (NHTW) có thể sử dụng nhiều

Trang 12

biê ̣n pháp, chính sách … để ổn định tâm lý n gười gửi tiền , hạn chế đến mức cao nhất tình tra ̣ng “tâm lý đẩy” , tránh sự sụp đổ mang tính hệ thống

Khủng hoảng tài chính thường bao gồm khủng hoảng tiền tệ , khủng hoảng ngân hàng , khủng hoảng nợ nần trong nền kinh tế và sự suy thoái nặng nề của thị trường chứng khoán

Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng

tiền nô ̣i tê ̣ dẫn đến sự thâm hụt phần lớn dự trữ ngoa ̣i tê ̣ và làm mất giá nhanh chóng đồng t iền nô ̣i tê ̣ hoă ̣c buô ̣c các cơ quan chức năng phải có các biê ̣n pháp phòng vệ bằng cách sử dụng một lượng dự trữ lớn hoặc sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành chính sách tiền tê ̣ liên quan đến quan hê ̣ tổng cung – cầu, tổng phương tiện thanh toán …

Khủng hoảng tiền tệ còn gọi là khủng hoảng cán cân thanh toán xảy ra khi giá trị của một đồng tiền thay đổi nhanh chóng làm suy giảm chức năng vốn có của đồng tiền

Theo nghĩa he ̣p , khủng hoảng tiền tê ̣ thường gắn liền với chế đô ̣ tỷ giá hối đoái cố đi ̣nh, tức trong mô ̣t hoàn cảnh hết sức bi ̣ đô ̣ng như kinh tế đi xuống hoă ̣c vấp phải làn sóng đầu cơ cực lớn , mô ̣t quốc gia đang áp dụng chế đô ̣ tỷ giá hối đoái cố đi ̣nh sẽ phải tiến hành điều chỉnh chế đô ̣ này ở trong nước và chuyển sang áp dụng chế đô ̣ tỷ giá hối đoái thả nổi và mức đô ̣ tỷ giá hối đoái mà thi ̣

trường quyết đi ̣nh thường cao hơn rất nhiều mức đô ̣ mà Chính phủ cố gắng duy trì Mức biến đô ̣ng tỷ giá hối đoái thường rất khó kiểm soát , hiện tươ ̣ng này chính là khủng hoảng tiền tệ Theo nghĩa rô ̣ng thì khủng hoảng tiền tê ̣ là hiê ̣n tươ ̣ng biến đô ̣ng tỷ giá hối đoái vượt quá pha ̣m vi ̣ m à một quốc gia có thể gánh chịu

Khủng hoảng ngân hàng là trạng thái theo đó các ngân hàng lâm vào tình

trạng mất khả năng thanh khoản do tiền gửi bị rút ồ ạt trong khi các khoản cho vay ra không thu hồi đươ ̣c , dẫn đến thu a lỗ nă ̣ng nề và bi ̣ phá sản Các ngân hàng buộc phải dừng việc thanh toán các cam kết của mình , hoặc để tránh tình

Trang 13

trạng này, Nhà nước buộc phải can thiệp bằng biện pháp hỗ trợ đặc biệt Khủng hoảng ngân hàng có thể bùng phát tại một ngân hàng và rất nhạy cảm , dễ dàng lan truyền ra toàn hê ̣ thống

Khủng hoảng nợ nần xuất hiê ̣n khi khoản vay nợ của quốc gia lớn hơn

khả năng trả nợ Có nhiều chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia trong đó quan trọng nhất là chỉ tiêu “thanh toán nợ nước ngoài”, tức tỷ lê ̣ giữa nguồn vay nước ngoài (kể cả gốc và lãi ) mà quốc gia này phải trả trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia này trong năm đó hoă ̣c mô ̣t năm trước đó Bình thường chỉ tiêu này thường nằm dưới 20% nếu vươ ̣t quá 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó đã quá lớn và khủng hoảng nợ nần đã xảy ra

Sự suy g iảm của thị trường chứng khoán (TTCK) là hiện tượng mất giá

đồng tiền của các cổ phiếu đang giao di ̣ch trên TTCK Nó xảy ra khi các thông tin về sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết không tốt , do sự biến đô ̣ng về chính tri ̣ của đất nước và thế giới , do thiên tai…, do tâm lý nhà đầu tư hoảng loạn dẫn đến việc rút tiền ồ ạt ra khỏi thị trường này Vì vậy , ngườ i mua cổ phiếu ngày càng ít , người bán ngày càng nhiều , cung lớn hơn cầu dẫ n đến cổ phiếu bi ̣ giảm giá đồng loa ̣t , xảy ra tình trạng “sập sàn”

Mối liên hê ̣ giƣ̃a khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tê ̣ : Suy

cho cùng thì khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tê ̣ có mối quan hê ̣ rất chă ̣t chẽ vì đều liên quan đến tính ổn định giá trị của đồng tiền của mỗi quốc gia ,

và cùng xuất hiện khi cam kết của Chính phủ , của NHTW hỗ trợ ổn định giá trị đồng tiền , lạm phát trong nước không còn đáng tin cậy Mô ̣t khi sự hỗ trơ ̣ của Chính phủ mất đi hoặc tạm ngừng thì kế hoạch ổn định tỷ giá sụp đổ , ngân hàng

sẽ mất khả năng thanh toán

Gần 80 năm sau cuô ̣c Đa ̣i khủng hoảng 1929, ngày nay thế giới lại đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Nhiều chuyên gia cho rằng có nhiều điểm tương đồng giữa hai cuô ̣c khủng hoảng toàn cầu này Có lẽ,

Trang 14

đây cũng là thời điểm thích hợp để điểm qua mô ̣t số cuô ̣c khủng hoảng trên thế giới, để học được những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m trong quá khứ

1.2 Khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 và tác động của cuộc khủng hoảng

Hê ̣ thống tài chính thế giới bất ổn Những diễn biến phức ta ̣p trên thi ̣

trường tài chính thế giới ngày càn g gia tăng Hê ̣ thống tài chính chứng kiến sự đổ vỡ hàng loa ̣t mô ̣t cách đáng kinh nga ̣c và chưa có tiền lê ̣ với số lượng các

đi ̣nh chế tài chính bi ̣ đổ vỡ , sáp nhập , giải thể hoặc quốc hữu hóa tăng nhanh chóng Các vụ lừ a đảo tài chính ta ̣i các công ty chứng khoán , các doanh nghiệp hàng đầu thế giới… bị phanh phui Tất cả làm cho lòng tin vào thi ̣ trường tài chính thế giới bị lung lay và suy giảm nghiêm trọng

Khởi đầu của cuô ̣c khủng hoảng tà i chính toàn cầu là sự đổ vỡ thi ̣ trường tín dụng dưới chuẩn của Mỹ vào tháng 7/2007 Năm 2007 có 3 ngân hàng ta ̣i

Mỹ sụp đổ, đến 2008 con số này đã là 25 và gần hết nửa đầu năm 2009, hơn 40 ngân hàng tiếp tục “ra đi” Đặc biê ̣t, sự sụp đổ, điêu đứng… của các tên tuổi lớn như Lehman Brothers , Washington Mutual Inc… hay AIG , Fannie Mae, Freddie Mac, Northern Rock… khiến cả thế giới chao đảo theo Toàn cầu hóa giúp liên thông thi ̣ trường tài chính thế g iới, nhưng cũng chính toàn cầu hóa cũng khiến sự ảnh hưởng lan truyền trong hệ thống tài chính thế giới thêm nghiêm trọng Không chỉ các đi ̣nh chế tài chính lớn ở Mỹ gă ̣p khó khăn , mà hệ thống tài chính toàn cầu đứng trư ớc nguy cơ sụp đổ khi cơn bão tràn qua châu Âu , châu Á, châu

Mỹ – Latinh… quâ ̣t ngã và làm lung lay hê ̣ thống tài chính của nhiều khu vực , nhiều quốc gia trên thế giới

Mỹ và EU lại một lần nữa rung chuyển , các nhà đầu tư trên thế giới không khỏi bàng hoàng khi tháng 12/2008, vụ lừa đảo lớn chưa từng có (50 tỷ USD) do nhà đầu tư kỳ cựu trên TTCK và là cựu chủ tịch sàn Nasdaq – Benard Madoff thực hiê ̣n bi ̣ phanh phui Là người sáng lập công ty đầu tư chứng khoán Bernard

L Madoff từ năm 1960, Madoff đã điều hành nhiều quỹ đầu tư với tổng số tài

Trang 15

sản quản lý lên tới 17 tỷ USD và lượng cổ phiếu giao dịch bình quân mỗi ngày lên tới 50 triê ̣u cổ phiếu Tại phố Wall, tên tuổi Bernard Madoff đã trở thành mô ̣t huyền thoa ̣i Lơ ̣i dụng ảnh hưởng và uy tín của Madoff ta ̣i phố Wall , quỹ đầu tư của madoff (hoạt động theo mô hình Ponzi ) đã thu hút được hơn 50 tỷ USD từ các nhà đầu tư (trong đó có nhiều ngân hàng lớn tại châu Âu ) Vụ Scandal đã đặt những câu hỏi lớn xoay quanh vai trò của hê ̣ thống giám sát tài chính Mỹ và gây tâm lý hoang mang cho nhiều nhà đầu tư trên thế giới Ngoài vụ lừa đảo “hiệu” Madoff, hàng loạt các vụ lừ a đảo lớn nhỏ khác cũng đươ ̣c phanh phui , không chỉ

ở Mỹ mà còn ở một số quốc gia khác

Song hành với sự sụp đổ của hàng loa ̣t đi ̣nh chế tài chính , thị trường chứng khoán của nhiều quốc gia cũng khuynh đảo TTCK thế giới cũng chứng kiến mô ̣t năm 2008 thua lỗ nă ̣ng nề , cũng là năm kết thúc 6 năm “hưng thi ̣nh” , chứng kiến những suy giảm kỷ lục kể từ Đa ̣i suy thoái năm 1929 Thượng Hải là

mô ̣t trong những TTCK có kết quả hoa ̣t đô ̣ng tồi tê ̣ nhấ t trong năm 2008 với mức giảm kỷ lục hơn 65% Nhiều chỉ số chứng khoán cũng chi ̣u chung số phâ ̣n : chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm tới 42,1% chỉ số chứng khoán FTSE 100 của Anh thua lỗ tới 31,3%; chỉ số chứng khoán CAC của Ph áp và DAX của Đức cùng chịu các mức độ sụt giảm trên 40%; chỉ số S &P/TSX của Canada mất giá khoảng 35%; chỉ số Bovespa của Brazil giảm 41,2%

Đặc biệt, năm 2008 là năm TTCK Mỹ lập kỷ lục về những mức đáy mới , những lần suy giảm chưa từng có trong li ̣ch sử Chỉ số công nghiệp Dow Jones mất giá 33,84%, và đây là mức giảm tồi tệ nhất kể từ năm 1931 (khi chỉ số này sụt giảm tới 52,67%) Chỉ số Standard &Poors 500 giảm 38,49% và cũng là mức giảm ma ̣nh nhất trong 77 năm qua Chỉ số tổng hợp Nasdaq cũng giảm tới 40,54% trong năm 2008 (năm tồi tệ nhất kể từ khi chỉ số này ra đời năm 1971)

Cuô ̣c khủng hoảng tài chính đã gây ra suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu, và đươ ̣c đánh giá là trầm tro ̣ng nhất kể từ 80 năm qua Cuô ̣c khủng

hoảng đã làm cho nền kinh tế thế giới lâm vào suy thoái từ giữa năm 2008 vớ i

Trang 16

những diễn biến tồi tê ̣ , hâ ̣u quả vẫn chưa lường được , và chưa thể dự báo chính xác thời điểm phục hồi

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã sụt giảm nhanh chóng từ mức 5,2% năm

2007 xuống còn 3,4% năm 2008 Mức đô ̣ suy thoái kinh tế trong quý IV /2008 và quý I/2009 ở nhiều nền kinh tế phát triển và đang phát t riển xấu hơn dự báo

Tăng trưởng thương ma ̣i thế giới giảm nhanh từ 7,2% năm 2007 xuống 4,1% năm 2008 Cuối tháng 3/2009, theo báo cáo đánh giá thường niên về thương ma ̣i toàn cầu của Tổ chức Thương ma ̣i thế giới (WTO), mứ c suy gi ảm đươ ̣c dự báo sẽ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Hoạt động thương mại toàn cầu đã giảm đáng kể từ tháng 9/2008 Tính chung cả năm 2008, xuất khẩu vẫn tăng 2%, nhưng thấp hơn nhiều tốc đô ̣ tăng trưởng 6% của năm 2007 Hoạt động sản xuất ngưng trệ vì suy thoái toàn cầu có thể khiến thương mại toàn cầu năm 2009 giảm tới 10% (mức giảm lớn nhất trong 7 thâ ̣p kỷ qua)

Tổng giám đốc WTO , Pascal Lamy nhâ ̣n đi ̣nh rằng : “Suốt 30 năm qua, trong tất cả các hoa ̣t đô ̣ng kinh tế , thương ma ̣i là lĩnh vực luôn tăng ma ̣nh mẽ , với tốc đô ̣ tăng trưởng vượt GDP Nhưng khi sản xuất đình trê ̣ , nhu cầu hàng hóa giảm khiến thương mại lao dốc nhanh hơn tốc độ suy giảm chung của toà n

bô ̣ nền kinh tế Hê ̣ quả là hàng nghìn viê ̣c làm bi ̣ cắt giảm”

Do sức cầu yếu , thâm hụt thương ma ̣i của Mỹ cũng bi ̣ “chi ̣u trâ ̣n” Trong tháng 4/2009, thâm hụt thương ma ̣i Mỹ đã tăng lên 29,1 tỷ USD chủ yếu do hoạt

đô ̣ng xuất k hẩu bi ̣ suy giảm vì nhu cầu toàn cầu bi ̣ đóng băng Theo số liê ̣u của

Bô ̣ Thương ma ̣i Mỹ , tổng giá tri ̣ xuất khẩu giảm 8 tháng liên tiếp , tới mức thấp nhất kể từ giữa năm 2006, xuống còn 121,1 tỷ USD (tương đương 2,3%) Cũng trong tháng 4, nhâ ̣p khẩu giảm tháng thứ 9 liên tiếp nhưng với tốc đô ̣ thấp hơn

so với xuất khẩu (1,4%) Giá trị nhập khẩu 150,5 tỷ USD của tháng 4 cũng là giá trị nhập khẩu thấp nhất kể từ tháng 9/2004 Do Mỹ chiếm 15% tổng kim nga ̣ch nhâ ̣p khẩu hàng năm của thế giới , nên sự biến đô ̣ng của nền kinh tế Mỹ có tác

đô ̣ng đến nhiều nước xuất khẩu trên thế giới

Trang 17

Kết thúc quý I /2009, kinh tế Mỹ suy giảm 5,7% và ghi nhận 6 tháng tăng trưởng kém nhất tro ng 5 thâ ̣p kỷ Giá nhà đất , giá chứng khoán tụt giảm khiến người Mỹ nghèo đi đáng kể , khoảng 1,3 nghìn tỷ USD đã “bốc hơi” khỏi nước

Mỹ trong quý I /2009 Theo dự báo , đà suy giảm của kinh tế Mỹ sẽ chững la ̣i trong quý II/2009

Hiê ̣n nay, thâm hụt ngân sách cũng là vấn đề đau đầu của Chính phủ Mỹ khi thâm hụt ngân sách lên đến mức kỷ lục Suy thoái kinh tế khiến nguồn thu từ thuế giảm, trong khi vẫn phải tăng chi tiêu của Chính phủ nhằm kích th ích kinh tế Dự kiến, thâm hụt ngân sách của Mỹ sẽ ở mức kỷ lục từ Chiến tranh thế giới thứ hai và ở mức cao trong ít nhất 10 năm tới

Nhiều quốc gia trong khu vực kinh tế Eurozone đã và đang chi ̣u sự suy thoái nặng nề , kinh tế trong khu vực sụt giảm 2,5% trong quý I /2009, tỷ lệ thất nghiê ̣p lên tới 8,9% Các chỉ số về sản xuất công nghiệp , thương ma ̣i… đều đi xuống

Nhâ ̣t Bản nền kinh tế thứ hai trên thế giới cũng đang đối mă ̣t với đầy rẫy khó khăn do cuô ̣c khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra GDP quý IV /2008 giảm 3,2% so với quý trước đó và là mức giảm ma ̣nh nhất trong 35 năm qua Kinh tế Nhâ ̣t trong quý I /2009 giảm tới 15,4% so với cùng kỳ năm ngoái GDP

ba tháng đầu năm 2009 trải qua giai đoạn thụt lùi tồi tệ nhất , giảm 4% và đây là quý thứ tư liên tiếp GDP của Nhật suy giảm Hoạt động thương mại của Nhật tiếp tục suy yếu , trong tháng 5/2009, hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản sụt giảm đến 41%

Danh sách các nước rơi vào suy thoái kinh tế kéo dài ra Có lẽ chưa có và khó có thể có một con số thống kê đầy đủ và chính xác Không chỉ các nền kinh tế lớn mới bi ̣ khủng hoảng làm cho điêu đứng , rất nhiề u nền kinh tế lớ n nhỏ cũng không thoát khỏi vòng xoáy của cơn bão Cuối tháng 6/2009, gần 7.000 nhân viên (17% nhân lực) của hãng Hàng không Anh quốc (BA) đã nô ̣p đơn cắt giảm lương tự nguyện , trong đó có 800 người sẽ làm viê ̣c không lương tới 1

Trang 18

tháng nhằm giúp BA tiết kiệm được 10 triê ̣u bảng Anh trong thời kỳ khó khăn Trong bối cảnh nhu cầu đối với các loa ̣i hàng hóa và sản phẩm công nghiê ̣p của Canada yếu đi , xuất khẩu sụt giảm ma ̣nh trong vòng 3 tháng đầu năm 2009, tháng 4/2009 canada đã ghi nhâ ̣n mức thâm hụt thương ma ̣i kỷ lục , khoảng 163 triê ̣u USD Kinh tế Thụy Sỹ quý I /2009 suy giảm ma ̣nh nhất trong 15 năm, tỷ lệ thất nghiê ̣p tháng 4/2009 tăng lên mức cao nhất trong vòn g 3 năm qua Tình hình kinh tế của Nga , nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới đã giảm 9,5% trong quý I (mức giảm sâu nhất trong 15 năm trở la ̣i đây ) và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev dự kiến nền kinh tế Nga có thể co he ̣p hơn mứ c dự kiến ban đầu và thâm hụt ngân sách có thể đa ̣t đến 7% trong năm 2009

Trong khi đó , hầu hết các nước thuô ̣c khu vực Đông và Nam Á

(SEACEN) đều phải đối mặt với tình trạng lạm phát tăng cao trong nửa đầu năm

2008 và giảm dần vào cuối năm

Đến quý I /2009, theo thống kê , các ngành bị ảnh hưởng nhất lại là những ngành trước đây năng động nhất như xuất khẩu , xây dựng , khai thác mỏ , sản xuất… Ví dụ, Campuchia đã mất 300.000 viê ̣c làm trong ngành m ay mă ̣c (ngành xuất khẩu chủ chốt duy nhất của nước này ); ba tháng cuối năm 2008, tại Ấn Độ, hơn nửa triê ̣u người trong các ngành như nữ trang , ô tô, may mă ̣c mất viê ̣c làm

do ảnh hưởng của lạm phát tăng nhanh

Theo Ngân hàng thế giớ i (WB), sản lượng công nghiệp toàn cầu tính đến giữa năm 2009 thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm 2008 Thương ma ̣i thế giới đang sụt giảm kỷ lục trong 80 năm, và đặc biệt Đông Á thiệt hại nặng nề nhất Cũng theo báo cáo vào thá ng 3/2009 của WB, 94 trong 116 nước đang phát triển giảm tăng trưởng kinh tế (trong đó có 43 nước có tỷ lê ̣ nghèo khổ cao)

WB cũng cảnh báo các nước đang phát triển sẽ thiếu hụt tài chính từ 270 đến 700 tỷ USD , bao gồm thâm h ụt thương mại , nơ ̣ Chính phủ , nợ tư nhân… Chỉ khoảng 25% các nước đang phát triển có các biện pháp tài chính đủ để chống đỡ với sự sụt giảm kinh tế

Trang 19

Theo dự báo của IMF đưa ra tháng 4/2009, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2009 sẽ ở mức -1,3% và là lần suy giảm đầu tiên trong vòng 60 năm qua Nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ sẽ giảm tới 2,8% năm 2009, Nhâ ̣t Bản suy giảm mạnh nhất tới 6,2%; Nga giảm 6%, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu

Âu (Eurozone) giảm 3,7%; Đức giảm 5,6%; Anh giảm 4,1%; Mexico giảm 3,7%; Canada giảm 2,5% … Hai đầu tàu kinh tế mới nổi cũng tăng trưởng châ ̣m lại, Trung Quốc có thể chỉ tăng trưởng 6,5% và Ấn Độ 4,5% Kinh tế thế giới có thể tăng trưởng trở la ̣i trong năm 2010, nhưng chỉ ở mức 1,9%

Trong 6/2009, WB hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu Theo đó, kinh tế thế giới năm 2009 được dự đoán sẽ suy giảm 2,9%; kinh tế thế giới sẽ bắt đầu phục hồi vào cuối n ăm 2009 và tăng trưởng kinh tế năm 2010 là 2% Các nước đang phát triển sẽ tăng trưởng 1,2%, giảm so với mức dự đoán 2,1% WB đưa ra

3 tháng trước Tốc độ suy giảm kinh tế Mỹ sẽ là 3%; Nhâ ̣t là 6,8%, Eurozone là 4,5% Nguyên nhân của việc hạ mức dự báo là do WB lo ngại về việc thoái vốn tại các nước đang phát triển , nạn thất nghiệp và tình trạng sử dụng công suất không hết tiếp tục tăng lên… ta ̣o áp lực xấu cho nền kinh tế thế giới , cho dù thi ̣ trườ ng tài chính ở nhiều nước có sự ổn đi ̣nh trở la ̣i

Làn sóng phá sản gia tăng : Nhiều “đế chế” hùng ma ̣nh đã trụ vững hàng

trăm năm nay cũng bi ̣ ngã gục trước cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu

Hâ ̣u quả nghiê ̣t ngã mà cuộc khủng hoảng tài chính đã gây ra cho hệ thống tài chính toàn cầu đó là hàng loạt các định chế tài chính lớn bị phá sản , quốc hữu hóa hoặc bị các định chế tài chính khác mua lại

Năm 2007, Mỹ chỉ có 3 ngân hàng “đô ̣i nón ra đi” Năm 2008, con số các ngân hàng Mỹ phá sản lên đến 25 và tiếp tục gia tăng trong năm 2009, bất chấp những nỗ lực của Chính phủ Mỹ nhằm chèo lái nền kinh tế Mỹ ra khỏi cuô ̣c suy thoái tồi tệ nhất sau chiế n tranh thế giới thứ hai Tính đến ngày 21/6/2009, nước

Mỹ đã có 40 ngân hàng bi ̣ đóng cửa , trung bình mỗi tháng có 7 ngân hàng bi ̣ giải thể

Trang 20

Theo thống kê của Chính phủ Mỹ , số đơn xin phá sản trong quý I /2009 đã tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2005 Văn phòng quản tri ̣ thuô ̣c các tòa án công bố số lươ ̣ng đơn xin phá sản tính từ tháng 1 đến tháng 3/2009 là 33,047 đơn, tăng 10% so với quý trước đó và tình tra ̣ng phá sản gia tăng chủ yếu là do thất nghiê ̣p gia tăng , giá nhà đất sụt giảm và thị trường tín dụng thắt chặt đã làm cho viê ̣c đương đầu với các chủ nợ trở nên khó khăn hơn

Thực tiễn kinh tế thế giới cho thấy sức tàn phá của cơn bão tài chính

khủng hoảng lầ n này là hết sức lớn Có thể đi sâu hơn về một số vụ phá sản , mua lại, quốc hữu hóa tiêu biểu

Sự kiê ̣n hai nhà cho vay thế chấp lớn nhất của Mỹ là Fannie Mae và

Freddie Mac tuyên bố mất khả năng thanh toán đã gây chấn đô ̣ng t hị trường tài chính thế giới Fannie Mae (Federal National Mortgage Association – Hiê ̣p hô ̣i vay thế chấp quốc gia – FNMA) đươ ̣c thành lâ ̣p từ năm 1938 nhằm hỗ trợ hàng triê ̣u gia đình không đủ khả năng mua nhà hoă ̣c có nguy cơ mất nhà do thiếu nguồn tài trợ vay vốn Freddie Mac (Feddral Home Loan Mortgage Corporation – Tâ ̣p đoàn cho vay mua nhà trả góp liên bang – FHLMC) đươ ̣c thành lâ ̣p từ năm 1970 nhằm ta ̣o thế ca ̣nh tranh với Fannie Mae Cả Fannie Mae và Freddie Mac là những nhà cho vay thế chấp khổng lồ của Mỹ , được Chính phủ Mỹ bảo trơ ̣ với nguồn vốn từ các thi ̣ trường tài chính quốc tế , chuyên mua các khoản vay mua nhà trả góp từ các ngân hàng và các hãng cho vay rồi bán la ̣i c ho các nhà đầu tư Fannie Mae và Freddie Mac chi ̣u trách nhiê ̣m cho các khoản nợ tri ̣ giá khoảng 5.300 tỷ USD trong tổng số 12.000 tỷ USD của thị trường vay nợ mua nhà tại Mỹ Cuô ̣c khủng hoảng nhà ở thứ cấp nổ ra làm Fannie Ma e và Freddie Mac bi ̣ tổn thất nă ̣ng nề Ngày 7/9/2008, Chính phủ Mỹ đã quyết định tiếp quản hai đi ̣nh chế này , vì nếu Fannie Mae và Freddie Mac sụp đổ sẽ gây tác động dây chuyền nghiêm tro ̣ng cho hàng loa ̣t ngân hàng và nhà đầu tư trên toàn cầu

Gây bàng hoàng cho cả thế giới là bài ho ̣c về vụ Lehman Brothers Nỗ lực tồn ta ̣i của Lehman Brothers đã hoàn toàn vô vo ̣ng sau khi mô ̣t số khách hàng tiềm năng như Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB), Ngân hàng Barclays Plc

Trang 21

của Anh và Bank of America (Mỹ) chính thức tuyên bố ngừng đàm phán với Lehman Brothers Ngày 15/9/2008, Lehman Brothers , ngân hàng đầu tư lớn thứ

tư của Mỹ, có lịch sử hoạt động 158 năm, với tổng tài sản trên 700 tỷ USD, đã tuyên bố phá sản với khoản nợ 613 tỷ USD Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loa ̣t giảm giá Đây được coi là vụ phá sản lớn nhất trong cuô ̣c khủng hoảng tài chính hiện tại và cũng là lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ Lehman cũng đã từng hy vọng sẽ được FED ra tay cứu giúp , nhưng có lẽ cả Phố Wall nhâ ̣n đươ ̣c mô ̣t bài ho ̣c rằng : FED và Bô ̣ Tài chính Mỹ không phải là những

“ông tiên” Theo nhiều chuyên gia kinh tế , nguyên nhân khiến Lehman “ra đi” là

vì Lehman cũng là một trong những nạn nhân của cơn bão tín dụng bắt nguồn từ cuô ̣c khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ta ̣i Mỹ

Còn Merrill Lynch đã ngay lập tức bi ̣ bank of America thôn tính và viê ̣c Bank of America mua lại Merrill Lynch là ngân hàng đầu tư với 94 năm li ̣ch sử ,

có tổng tài sản là 1,02 nghìn tỷ USD Trong năm 2007 và đầu năm 2008, Merrill Lynch đã thua lỗ trên 16 tỷ USD do khủng hoảng tín dụng , và đứng trước nguy

cơ sụp đổ Với tham vo ̣ng đứng đầu ngành ngân hàng nô ̣i đi ̣a của Mỹ , Bank of Amrica đã quyết đi ̣nh mua la ̣i Merrill Lynch với giá 50 tỷ USD Sau khi tiếp quản ngân hàng Merrill Lynch & Co, ngân hàng Bank of America đã vươ ̣t JPMorgan Chase & Co và Citigroup Inc để trở thành ngân hàng lớn nhất nước

Mỹ với tổng giá trị tài sản lên tới 2.700 tỷ USD

Tâm lý lo nga ̣i bao trùm lên toàn cầu khi đa ̣i gia bảo hiểm American

International Group (AIG) bên bờ vực phá sản AIG là tâ ̣p đoàn bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ với tổng tài sản 1,05 nghìn tỷ USD và 116.000 nhân viên AIG hoạt động ở 130 nước, với khoảng 74 triê ̣u khách hàng trên toàn thế giới và là hãng bảo hiểm lớn và có ảnh hưởng sâu rộ ng trong hê ̣ thống tài chính Mỹ nối riêng và ngành tài chính toàn cầu nói chung Trong vòng 9 tháng, cuô ̣c khủng hoảng tín dụng đã khiến AIG lỗ 18 tỷ USD AIG đã phải kêu go ̣i sự trợ giúp của FED AIG sụp đổ có thể khiến t hị trường tài chính chao đảo mạnh hơn Ngày 16/9/2008, Chính phủ Mỹ đã quyết định bơm 85 tỷ USD vốn của FED để cứu

Trang 22

“người khổng lồ” AIG rơi vào bi ki ̣ch như Lehman , đổi lại , Chính phủ Mỹ sẽ nắm giữ 80% cổ phần và thay thế ban lãnh đa ̣o của tâ ̣p đoàn này

Tin đồn Washington Mutual Inc sắp bi ̣ vỡ nợ khiến hàng loa ̣t khách hàng , chỉ trong vòng vẻn vẹn 10 ngày, đã ồ a ̣t đi rút 16 tỷ USD tiền gửi, đẩy ngân hàng này rơi vào thảm cảnh Chính những só ng gió quá lớn trên thi ̣ trường tài chính

Mỹ và khoản lỗ không thể gượng dậy đã khiến ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ – Washington Mutual Inc (WaMu) rơi vào tình trạng báo động khẩn cấp Được thành lập từ năm 1889, WaMu có tổng tài sản trị giá 307 tỷ USD , và là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất ở Mỹ WaMu đã lâm vào tình tra ̣ng thua lỗ nă ̣ng nề mô ̣t phần do các khoản nợ xấu liên quan tới cho vay cầm cố đi ̣a ốc , phần khác là do sự tháo cha ̣y của khách hàng gửi tiết kiệm Chính phủ Mỹ quyết định đóng cửa WaMu và chuyển nhượng la ̣i cho JPMorgan Chase với giá 1,9 tỷ USD Giá cổ phiếu ngân hàng này giảm 95% trong vòng 1 năm và chỉ còn 0,45 USD/cổ phiếu vào thời điểm bị tiế p quản Mô ̣t ngày sau quyết đi ̣nh của Chính phủ , WaMu nô ̣p đơn xin bảo hô ̣ phá sản , đánh dấu vụ sụp đổ của ngân hàng lớn thứ 6 nước Mỹ

và vụ phá sản ngân hàng thương mại lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ

Ngân hàng Northern Ro ck, ngân hàng lớn thứ 5 về cho vay thế chấp ở Anh cũng là mô ̣t trong những na ̣n nhân của cuô ̣c khủng hoảng tài chính toàn

cầu Thông tin cổ phiếu của ngân hàng này bi ̣ tụt giảm đến 32% khiến suốt hai ngày 14 và 15/9/2008, đường dây điê ̣n thoa ̣i của Northern Rock bi ̣ tắc nghẽn , trang web bi ̣ quá tải Ngày 15/9, cảnh tượng hỗn loạn đã xảy ra khi hàng trăm khách hàng của ngân hàng Northern Rock hốt hoảng “bủa vây” 72 chi nhánh của ngân hàng này để rút toà n bô ̣ tiền tiết kiê ̣m trước thời ha ̣n và Ngân hàng Anh đã phải chi viện cho Northern Rock 1 tỷ bảng Anh Trong các nguyên nhân khiến Northern Rock sụp đổ , có thể kể đến việc khi cho vay thế chấp bằng nhà đất , ngân hàng đã cho v ay nhiều gấp 125% giá trị nhà đất của người vay cầm cố , bất chấp những lời cảnh báo về sự không ổn đi ̣nh của nền kinh tế cũng như các dự báo về giá bất động sản tụt dốc Ngày 18/2/2009, cổ phiếu của Northern Rock đã

bị ngừng giao di ̣ch ta ̣i Sở Giao di ̣ch chứng khoán London , chốt la ̣i ở mức giá 90

Trang 23

pence/cổ phiếu Thị giá của northern Rock chỉ còn 379 triệu bảng Anh , giảm tới hơn 10 lần so với trước khi xảy ra khủng hoảng Không tìm được giải pháp nào khác cho Northern Rock , ngày 22/2/2009, Chính phủ Anh đã chính thức quốc hữu hóa Northern Rock Đây là vụ quốc hữu hóa đầu tiên ở Anh kể từ những năm 1970 trở la ̣i đây

Vụ phá sản của General Motors Corporation (GM) ngày 1/6/2009 là vụ phá sản lớn thứ 4 của Mỹ và là vụ phá sản lớn nhất trong ngành công nghiệp nước này Theo xếp ha ̣ng doanh số toàn cầu năm 2008, GM là hãng sản xuất ô

tô lớn thứ hai thế giới , sau Toyota Thành lập từ buổi bình minh của ngành công nghiê ̣p xe hơi thế giới , trong vòng 77 năm liên tục từ năm 1931 đến 2007, GM đã là hãng có doanh số ô tô hàng đầu GM sử dụng 244.500 nhân công trên toàn thế giới, bán và cung cấp xe dịch vụ ở 140 quốc gia Tại thời điểm nộp đơn xin phá sản, tổng tài sản của GM là 82,3 tỷ USD, trong khi số nợ lên tới 172,81 tỷ USD Chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục bơm tiền cho GM và chuyển 50 tỷ USD tiền nợ thành 60% cổ phiếu ta ̣i hãng xe mới hì nh thành sau phá sản Theo chuyên gia kinh tế Mark Vitner , GM phá sản là cú đánh chí ma ̣ng vào nền kinh tế , diễn ra đúng vào thời điểm những tia sáng hồi phục bắt đầu lóe lên

Đặc biệt, với sự kiê ̣n là nước đầu tiên phá sả n trên quy mô quốc gia vào tháng 10/2008, Iceland trở thành na ̣n nhân mang tầm quốc gia đầu tiên của cuô ̣c khủng hoảng tài chính toàn cầu Tháng 11/2007, Iceland đươ ̣c Liên hơ ̣p quốc xếp ha ̣ng là nơi sống tốt nhất trên thế giới Chưa đầy 1 năm sau , cuô ̣c khủng hoảng tài chính toàn cầu đã nhấn chìm hệ thống ngân hàng của quốc gia từng có thu nhâ ̣p đầu người cao nhất thế giới Chính phủ Iceland đã phải đóng cửa TTCK và quốc hữu hóa những ngân hàng hàn g đầu Đồng nội tệ krona bị mất giá trầm trọng và gần như bị xóa sổ Nguyên nhân Iceland phá sản phát sinh từ những khoản nợ khổng lồ của các ngân hàng lớn nhất nước này

Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao : Chính làn sóng phá sản và sa thải lao động

của các doanh nghiệp khiến tỷ lệ thất nghiệp ngày một tăng cao và trở thành một mối lo nga ̣i đối với nhiều nền kinh tế trên thế giới

Trang 24

Nhiều doanh nghiê ̣p không đủ sức chống đỡ la ̣i vòng xoáy của suy thoái nên đã buô ̣c phải cắt giảm nhân sự và ta ̣o nên làn sóng thất nghiê ̣p lớn Theo ước tính của Văn phòng lao động quốc tế (BTT) cuối tháng 5/2009, cuô ̣c khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể làm tăng số người thất nghiệ p trên thế giới lên tới con số kỷ lục khoảng 239 triê ̣u người ; số người thất nghiê ̣p trong năm 2009

sẽ tăng từ 39 đến 59 triê ̣u người so với năm 2007

Tháng 4/2009 đánh dấu tỷ lê ̣ thất nghiê ̣p cao nhất trong vòng 10 năm qua của khu vực đồng tiền chung châu Âu

Trong báo cáo công bố ngày 4/4/2009 của Chính phủ Mỹ , trong tháng 3/2009, 80.000 việc làm đã bi ̣ cắt giảm và đây là mức cắt giảm lớn nhất trong vòng 5 năm qua Đến cuối tháng 6/2009, số người thấ t nghiê ̣p ở Mỹ đã lên tới 627.000 ngườ i

Cũng theo cơ quan thống kê của Nhật Bản , tỷ lệ thất nghiệp đã tăng từ mức 5% của tháng 4/2009 lên 5,2% trong tháng 5/2009 và là mức cao nhất trong vòng 5 năm trở la ̣i đây

Trong khi đó ta ̣i Anh, theo kết quả điều tra của Hiê ̣p hô ̣i công nghiê ̣p Anh (CBI), các tổ chức dịch vụ tài chính của Anh đã cắt giảm 17.000 việc làm trong quý I/2009 và có thể cắt giảm 15.000 trong quý II và 13.000 viê ̣c làm trong quý III

Số người thất nghiê ̣p ta ̣i các quốc gia thuô ̣c Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lên tới khoảng 37,2 triê ̣u người năm 2008, và ước tính sẽ có 57 triê ̣u người mất viê ̣c làm ta ̣i 30 quốc gia thành viên của OECD tính đến cu ối năm 2010, với tỷ lê ̣ thất nghiê ̣p có thể đến 10% trong năm 2010 (mức cao nhất kể từ năm 1970)

Chi phí khổng lồ để khắc phục hậu quả khủng hoảng : Khoản tiền chi ra

để cứu nguy nền kinh tế thế giới trong cuộc khủng hoảng l ần này là lớn nhất trong li ̣ch sử Thiê ̣t ha ̣i tính ra tương đương 1/5 sản lượng kinh tế toàn cầu đã biến mất

Trang 25

Theo tính toán của IMF , chi phí để thế giới khắc phục hâ ̣u quả của cuô ̣c khủng hoảng là khoảng 11.9000 tỷ USD, tức mỗi người trong thế giới 6,7 tỷ dân này đã có thể có thêm 1.779 USD nếu cuô ̣c khủng hoảng không xảy ra Số liê ̣u của IMF cũng cho thấy Anh là quốc gia chi mạnh tay nhất cho các giải pháp

khẩn cấp để hỗ trơ ̣ ngành tài chính khỏi sụp đổ, với số tiền lên tới 1.227 tỷ bảng Anh (2.000 tỷ USD), tương đương 81,8% GDP

Những số tiền khổng lồ được chi ra để khắc phục hâ ̣u quả của khủng

hoảng khiến nhiều quốc gia phải đối mặt với tình trạng thâm hụt n gân sách Theo Telegraph, 20 nền kinh tế phát triển trên thế giới (G20) cũng đang đối mặt với tỷ lê ̣ thâm hụt ngân sách trung bình là 10,2% trong năm 2009, tỷ lệ lớn nhất kể từ Thế chiến 2 Bị thâm hụt lớn nhất là Mỹ với 13,5% GDP, Anh 11,6% và Nhâ ̣t 10,3%

Giá cả biến động mạnh: Khủng hoảng tài chính đã nhanh chóng tác động

vào các ngành sản xuất , xuất khẩu và di ̣ch vụ Cuô ̣c khủng hoảng khiến cho giá

cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giớ i rơi vào tình tra ̣ng mất ổn đi ̣nh Giá của hàng loạt mặt hàng tăng giảm một cách đột ngột , trong đó có nhiều mă ̣t hàng thiết yếu như xăng dầu , thép, nguyên liê ̣u , lương thực thực phẩm , dịch vụ vận tải biển…

Giá lương thực thực phẩm tăng cao và diễn ra trên pha ̣m vi rô ̣ng , đă ̣c biê ̣t

là thực phẩm tăng mạnh trong năm 2007 và đầu năm 2008 đã khiến hàng trăm triê ̣u người rơi vào tình tra ̣ng đói nghèo Theo Tổ chứ c lương thực và nông nghiê ̣p Liên hơ ̣p quố c (FAO), cuối năm 2007 có 36 nước rơi vào khủng hoảng lương thực thực phẩm và cần sự trợ giúp bên ngoài (trong đó : châu Phi có 21 nước, châu Á có 9 nước, châu Mỹ – Latinh có 4 nước) Đến tháng 5/2009, chỉ số giá thực phẩm củ a FAO thấp hơn 29% so với mức kỷ lục tháng 6/2008 nhưng vẫn cao hơn 10% so với mức thấp nhất vào tháng 2/2009 FAO dự đoán mức giá thị trường sẽ không thể giảm so với trước thời kỳ khủng hoảng lương thực và nguy cơ bất ổn đi ̣ nh giá cả vẫn luôn tiềm ẩn cho dù giá thực phẩm quốc tế đã giảm đi so với mức cao kỷ lục năm 2008

Trang 26

Thị trường xăng dầu đã trải qua những thời kỳ lên xuống mạnh mẽ Giá dầu tăng bất thường lên đến đỉnh điểm ở mức 147 USD/thùng, sau khi kinh tế toàn cầu xuống dốc , giá dầu tụt xuống mức 33 USD/thùng vào tháng 12/2008 Theo các nhà phân tích năng lượng năm 2008 là năm mà biến động của giá dầu thô đa ̣t tới đô ̣ ma ̣nh chưa từng có kể từ các cú s ốc dầu lửa vào cuối thập niên

1970 và đầu những năm 1980 Những đơ ̣t sóng này trên thi ̣ trường nhiên liê ̣u đã gây tác đô ̣ng tới toàn bô ̣ nền kinh tế thế giới Đáng chú ý là viê ̣c hai hãng sản xuất ô tô GM và Chrysler của Mỹ đ ã bị đẩy tới cảnh phải nộp đơn xin phá sản

do doanh số sụt giảm nghiêm tro ̣ng bởi khách hàng xa lánh những chiếc xe tiêu thụ nhiều nhiên liệu

Thị trường bất động sản Mỹ và nhiều nước trên thế giới có những giai đoa ̣n xuống dốc không phanh Trong năm 2007 gần 1,3 triê ̣u bất đô ̣ng sản ở Mỹ

bị tịch thu để thế nợ (tăng 79% so vớ i năm 2006) Theo Mortgage Bankers Association, thị trường bất động sản Mỹ vẫn đang trong tình trạng khá bi đát Lươ ̣ng bất đô ̣ng sản bán ra trong quý I /2009 đa ̣t 8,9 tỷ USD, rất thấp so với 43,4

tỷ USD của quý I /2008 và 125,5 tỷ USD của quý I /2007 Tỷ lệ thuê văn phòng dự báo sẽ tiếp tục giảm trong năm 2010

Trong điều kiê ̣n thi ̣ trường tài chính thế giới bước vào giai đoa ̣n khủng hoảng, lãi suất cũng biến động mạnh NHTW các nước liên tục cắt giảm lãi suất

để đối phó với suy thoái kinh tế Trên thi ̣ trường , lãi suất Libor kỳ hạn qua đêm ngày 17/9/2008 tăng lên kỷ lục 6,75%/năm, đến ngày 5/1/2009 lại giảm xuống mức thấp kỷ lục 0,105%/năm Trong khi đó lãi suất Libor kỳ ha ̣n qua đêm tăng

kỷ lục 6,87%/năm ngày 30/9/2008 và giảm xuống mức thấp kỷ lục là

0,11%/năm vào ngày 19/12/2008

Những diễn biế n phức ta ̣p, khó lường và những lo ngại về triển vọng kinh tế khiến nhu cầu thanh khoản USD của các ngân hàng trên toàn thế giới tăng đô ̣t biến, đẩy đồng USD tăng giá ma ̣nh so với các đồng tiền khác , bất chấp kinh tế

Mỹ đi xuống Ngoài ra , kỳ vọng kinh tế Mỹ sẽ thoát ra khỏi khủng hoảng sớm nhất so với các nền kinh tế khác vẫn còn ngâ ̣p trong suy thoái , và nguy cơ suy

Trang 27

thoái kinh tế tại những nền kinh tế đối trọng của Mỹ như khu vực đồng EUR , Nhâ ̣t Bản đã làm giảm đi lợi thế ca ̣nh tranh giữa các đồng tiền này với USD Theo số liê ̣u của FED , đồng tiền USD đã tăng giá 13% so với các đồng tiền chủ chốt khác trong năm 2008

Lạm phát gia tăng ở nhiều nước trên thế giớ i: Cuô ̣c khủng hoảng làm

cho nhiều nước phải “đau đầu” đối phó với tình tra ̣ng thâm hụt ngân sách cao , nguy cơ la ̣m phát do đã tung mô ̣t lượng tiền lớn cứu nguy cho hê ̣ thống ngân hàng và doanh nghiệp cũng như để kích cầu

Đặc biê ̣t, năm 2008, mức la ̣m phát cao nhất trong vòng nhiều năm là vấn

đề nan giải tại nhiều quốc gia ở châu Á Trong giai đoa ̣n giá cả hàng thực phẩm

và nhiên liệu tăng toàn cầu đã gây áp lực tăng lương mạnh mẽ và tỷ lệ lạm ph át trên khắp châu Á Lạm phát lõi (lạm phát không bao gồm giá lương thực và năng lươ ̣ng ) đã lên tới mức 8,7% trong tháng 5/2008 tại Indonesia ; 6,2% tại Philippines Lạm phát của Singapore trong tháng 6/2008 là 7,5%, đánh dấu mức cao nhất trong vòng 26 năm Tại Malaysia , con số này là 7,7%, cao nhất trong vòng hơn 27 năm qua Tại Nhật bản , lạm phát tháng 6/2008 ở mức 1,9%, cao nhất trong vòng 10 năm Viê ̣t Nam và Ấn Đô ̣ đều trải qua giai đoa ̣n tỷ lê ̣ la ̣m phát hai con số

An sinh xã hội bi ̣ ảnh hưởng : Cuô ̣c khủng hoảng tài chính toàn cầu có

những tác đô ̣ng đa chiều đến kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia Trong đó có thể thấy rằng , an sinh xã hô ̣i cũng là mô ̣t vấn đề cần quan tâm trong thờ i kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng Khủng hoảng kinh tế kéo nền kinh tế toàn cầu suy giảm , đi theo đó là tỷ lê ̣ thất nghiê ̣p gia tăng , giá cả lương thực , nhiên liê ̣u… có những giai đoa ̣n tăng ma ̣nh… khiến đời sốn g của người dân gă ̣p khó khăn Số tiền dành cho các Quỹ an sinh xã hô ̣i cũng bi ̣ ảnh hưởng

Theo báo cáo của WB , khủng hoảng kinh tế đang đe dọa đến việc thực hiê ̣n các mục tiêu xóa đói giảm nghèo toàn cầu Theo ước tính , năm 2009, tăng trưởng kinh tế châ ̣m la ̣i sẽ làm khoảng 46 triê ̣u người không thoát được nghèo (ở

Trang 28

mức 1,25 USD/ngày); khoảng 53 triê ̣u người khác vẫn sẽ nằm dưới mức 2 USD/ngày

Cuô ̣c khủng hoảng có nguy cơ đẩy thêm khoảng 100 triê ̣u người rơi vào tình trạng đói nghèo khi hàng chục triệu người tại các nước đang phát triển bị mất viê ̣c làm Theo dự báo của Tổ chức Lương thực và nông nghiê ̣p Liên hợp quốc (FAO), trong năm 2009 số người thiếu ăn trên thế gi ới sẽ vượt mức một tỷ (so vớ i 963 triê ̣u người vào cuối năm 2008)

Khủng hoảng niềm tin : Cuô ̣c khủng hoảng lần này có lẽ ghi dấu ấn cùng

với cuô ̣c khủng hoảng về niềm tin Sự sụp đổ của hàng loa ̣t các đi ̣nh chế tài chính lớn, các vụ siêu lừa đảo trên thị trường tài chính… khiến niềm tin của các nhà đầu tư bị lung lay Hiê ̣u ứng “tâm lý đẩy” lan tỏa Thế giới đã chứng kiến cảnh hàng loạt người đứng trước cửa ngân hàng đòi rút tiền , thị trườ ng chứng khoán tụt dốc thê thảm…

Người dẫn chương trình mô ̣t chuyên mục kinh tế của Mỹ đầu tháng

2/2009 đã nhấn ma ̣nh với khán giả : “Đừng tin phố Wall , cũng đừng tin cố vấn tài chính của chính bạn , hiê ̣n ta ̣i ba ̣n chỉ có thể dựa vào chính mình để quyết

đi ̣nh đầu tư mà thôi”

Có lẽ niềm tin hiện nay vẫn còn là một thứ hàng hóa “xa xỉ” không chỉ tại

Mỹ mà còn ở nhiều nước trên thế giới

Thách thức tâm lý: Bên ca ̣nh những con số rất cụ thể về tác đô ̣ng tiêu cực

của cuộc khủng hoảng tài chính như tỷ lệ thất nghiệp , số ngân hàng phá sản , tốc

đô ̣ tăng trưởng kinh tế giảm… , có những tác động tiêu cực khó có thể định lươ ̣ng đầy đủ thành những con số cụ th ể Có thể nói rằng , bên ca ̣nh khó khăn về kinh tế , tâm lý do khủng hoảng tài chính gây ra cũng là mô ̣t thách thức to lớn với nhiều quốc gia Đây được coi là mô ̣t làn sóng ngầm , có thể gây ảnh hưởng nghiêm tro ̣ng tới đời sốn g của hàng triê ̣u người

Thất nghiê ̣p tăng , tài sản bốc hơi theo sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, cơ hô ̣i kiếm tiền trở nên khó khăn… khiến nhiều gia đình ở nhiều quốc

Trang 29

gia trên thế giới rơi vào tình tra ̣ng căng thẳng , thậm chí ảnh hưởng đến ha ̣nh phúc gia đình Trên thực thế, theo các con số thống kê, cuô ̣c khủng hoảng đã ảnh hưởng nghiêm tro ̣ng đến tâm lý của hàng triê ̣u người Hàng trăm triệu người trên thế giới đã và đang lâm vào chán nả n, suy nhược thần kinh do lo lắng về công viê ̣c, về tiền ba ̣c… Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng cảnh báo cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể sẽ làm gia tăng hàng loạt các vấn đề về tâm lý , thâ ̣m chí dẫn tới tự sá t do con người phải đối phó với vỡ nợ nghèo đói và thất nghiê ̣p…

Tại Mỹ , theo kết quả của mô ̣t cuô ̣c khảo sát toàn quốc của công ty

Compsych ở Chicago công bố vào cuối tháng 12/2008: 92% số người làm công

ăn lương Mỹ cho biế t ho ̣ bi ̣ tỉnh giấc lúc nửa đêm Trong đó, 1/3 nói là do họ lo lắng về các khoản chi tiêu ; 1/3 số người do lo các khoản nợ ; 1/6 rất lo lắng về các món nợ thế chấp phải trả ; cũng 1/6 lo lắng về tài khoản của mình khi về hư u

Đáng chú ý là ta ̣i Nhâ ̣t Bản , trong những năm qua tỷ lê ̣ tự tử thường lên cao mỗi khi nước này rơi vào tình tra ̣ng kinh tế trì trê ̣ Trung bình có khoảng 90 người Nhâ ̣t tự tử mỗi ngày Với kết quả tăng trưởng kinh tế ở mứ c âm do tác

đô ̣ng của suy thoái kinh tế , Chính phủ Nhật Bản lo ngại số người tự sát sẽ tăng cao

1.3 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009

Bắt đầu từ điểm xuất phát và trung tâm của cuộc khủng hoảng là Mỹ, thông qua quan hệ mật thiết về tài chính nói riêng và kinh tế nói chung của Mỹ với nhiều quốc gia trên thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính đã lan rộng, dẫn tới

sự đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế ở nhiều quốc gia.Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng, nhưng tựu chung lại đều xoay quanh vấn

đề về lãi suất cơ bản, khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn, cơ chế giám sát, đòn bẩy tài chính …

Chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách nhà cho người thu nhập thấp: Nhằm vực dậy nền kinh tế suy thoái sau sự sụp đổ của ngành công nghệ

Trang 30

dot.com, cuối năm 2001, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã liên tục cắt giảm lãi suất xuống chỉ còn 1,75% Đến năm 2002, mặc dù nền kinh tế Mỹ đã phục hồi, nhưng mối lo ngại về suy thoái có thể quay lại đã khiến FED vẫn giữ nguyên mức lãi suất chủ đạo ở mức 1% trong suốt hai năm 2003 và 2004 Việc FED thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng với mức lãi suất thấp đã thúc đẩy việc mở rộng cho vay mua bất động sản

Năm 1995, chính quyền của Bill Clinton nới lỏng quy định về nhà đất bằng cách sửa lại Luật tái đầu tư công cộng, tập trung vào mục tiêu xã hội là giải quyết nhà cho người có thu nhập thấp Chính sách hỗ trợ nhà ở cho người dân

Mỹ đã khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Điều luật này cũng gia tăng sức ép lên các ngân hàng, khiến các ngân hàng tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền mua nhà Từ đó, cầu về nhà ở đã tăng cao trong suốt nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton và cả nhiệm của của Tổng thống Bush

Chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với chính sách nhà cho người có thu nhập thấp đã thúc đẩy mở rộng cho vay bất động sản, kể cả với những khách hàng không có điều kiện vay vốn, có thu nhập thấp Vì lãi suất cho vay thấp, điều kiện cho vay dễ dàng hơn nên nhu cầu mua nhà tăng lên rất cao, do đó giá bất động sản cũng được đẩy lên liên tục Tính từ năm 2001 khi FED bắt đầu giảm mạnh lãi suất đến năm 2005, tính bình quân, giá nhà tại mỹ đã tăng lên 54% Điều này đã dẫn đến tình trạng đầu cơ do dự đoán giá nhà sẽ còn tiếp tục tăng cao Với niềm tin giá nhà còn tăng cao, chỉ cần mua và bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lãi, kết quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất

kể giá trị thực và khả năng trả nợ Khi giá nhà đất giảm mạnh, khách hàng không trả được nợ, đã dẫn đến tình trạng xấu là nợ tăng nhanh chóng mặt và các ngân hàng bị mất khả năng thanh toán

Khủng hoảng cho vay nhà dưới chuẩn và khủng hoảng tín dụng:

Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và khủng hoảng nhà đất tại Mỹ Bong bóng bất động sản

Trang 31

càng lúc càng phình to đã khiến thị trường nhà đất, thị trường tín dụng Mỹ và nhiều quốc gia khác rơi vào tình trạng nguy hiểm

Thị trường bất động sản Mỹ sụp đổ được coi là nguyên nhân trực tiếp và

rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính Bắt nguồn từ việc FED thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng từ năm 2001 nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ

và liên tục hạ lãi suất đã dẫn đến việc các ngân hàng thương mại cũng theo đó hạ lãi suất với các khoản vay mua bất động sản

Cho vay cầm cố dưới chuẩn được xem là nguyên nhân gây ra những rối loạn trong hệ thống ngân hàng Mỹ, lây lan theo hiệu ứng dây chuyền và từ đó bùng phát thành khủng hoảng tài chính Rất nhiều ngân hàng lớn ở Mỹ đã sụp

đổ, một số bị sát nhập, một số phải xin chính phủ cứu trợ…

Cho vay dưới chuẩn: là hình thức cho vay chất lượng thấp với mức rủi ro cao Theo cẩm nang hướng dẫn của Bộ tài chính Mỹ năm 2001 thì “những người

đi vay dưới tiêu chuẩn thường có quá khứ tín dụng yếu, như thường có những khoản thanh toán quá hạn và có thể có những vẫn đề nghiêm trọng như phải ra tòa, phá sản Họ cũng có thể có khả năng thanh toán thấp xét trên những chỉ số như điểm tín dụng, tỷ lệ nợ trên thu nhập, hoặc một số tiêu chí khác…” Những năm đầu thế kỷ 21 cho đến trước khủng hoảng, khi bùng nổ giá nhà đất lên đến đỉnh điểm, số lượng các giấy tờ trong quy trình cho vay theo kiểu truyền thống

đã được giảm thiểu tới mức thấp nhất Khi đó, điểm tín dụng trở thành tiêu chuẩn duy nhất Nếu điểm tín dụng của cá nhân thấp thì khoản vay mang hình thức dưới chuẩn, tức khoản vay có chất lượng thấp hơn các khoản vay đạt chuẩn, được cho vay với đầy đủ cá giấy tờ cần thiết Ở Mỹ, những người đi vay dưới chuẩn thường có điểm tín dụng thấp hơn 620 (chiếm gần 25% dân số Mỹ)

Để bù đắp rủi ro, các khoản vay dưới chuẩn là những khoản vay có lãi suất cao hoặc người đi vay phải chấp nhận vay theo lãi suất AMR (Adjustable Rate Mortgage) với lãi suất ban đầu thấp, sau được điều chỉnh lên ở những mức cao hơn Vì vậy nhìn chung các khoản vay dưới chuẩn có lãi suất cao hơn lãi suất thị

Trang 32

trường và mức bù rủi ro này làm tăng thêm khó khăn tài chính cho người vay, đặc biệt là khi lãi suất thị trường tăng

Cho vay cầm cố dưới chuẩn là một trong những loại hình thuộc cho vay dưới chuẩn Cho vay cầm cố dưới chuẩn mới bắt đầu hình thành từ những năm đầu thập kỷ 90 và loại hình này phát triển rất mạnh mẽ từ đầu thế kỷ 21 Việc giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục của FED từ 6,5% xuống 1,75% vào năm

2001 và sự bùng nổ thị trường nhà đất Mỹ kéo theo sự gia tăng mạnh hoạt động cho vay cầm cố dưới chuẩn Từ năm 2004 đến 2006, cho vay cầm cố dưới chuẩn phát triển rất nhanh, chiếm 21% tổng các khoản cho vay cầm cố Năm 2006, tổng giá trị các khoản vay cầm cố dưới chuẩn lên đến 600 tỷ USD (bằng 1/5 thị trường cho vay mua nha ở Mỹ)

Lý do chính giải thích cho sự phát triển nhanh và mạnh của cho vay cầm

cố dưới chuẩn là việc giá nhà tăng khiến nhà đất trở thành mảnh đất béo bở để kiếm lời nhanh chóng Các nhà đầu cơ địa ốc đổ vốn vào thì trường này để thu lợi Giá nhà càng tăng, nhu cầu vay tiền ngân hàng mua nhà cũng tăng cao do người dân lo sợ không thể mua được nhà trong tương lai Về phía ngân hàng, các ngân hàng cũng đẩy mạnh cho vay mua nhà đất bởi nếu người vay không trả được nợ thì họ có thể bán nhà thế chấp để thu hồi vốn và đồng thời kiếm lời từ hoạt động cho vay Đối với các đối tượng vay dưới chuẩn, mức lãi suất, phí sẽ cao hơn bình thường để bù đắp rủi ro cho ngân hàng Nói cách khác, sự phát triển của hoạt động cho vay dưới chuẩn cùng với sự bùng nổ thị trường nhà đất

ở Mỹ là hệ quả của việc giảm lãi xuất xuống mức thấp kỷ lục, các tiêu chuẩn cho vay nới lỏng và hội chứng đầu cơ nhà đất của dân Mỹ

Việc những người đi vay cầm cố dưới chuẩn bị phá sản với số lượng lớn

đã gây thiệt hại cho những người cho vay cầm cố và khiến cho giá nhà đất sụt giảm, đồng thời gây ra những thất thoát khổng lồ cho những định chế tài chính

có dính dáng đến cho vay cầm cố dưới chuẩn

Trang 33

Lãi suất tăng lên, giá cả bất động sản giảm nhanh chóng đã gây khó khăn cho hoạt động cho vay cầm cố dưới chuẩn Khủng hoảng trên thị trường cho vay cầm cố dưới chuẩn đã xảy ra khi một loạt các vụ tịch thu tài sản trên thị trường này gia tăng ở Mỹ vào năm 2006 và lây lan thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào tháng 7 năm 2007

Đầu năm 2007, chủ nợ cho vay dưới chuẩn lớn là New Century Financail sụp đổ đã để lại cho ngân hàng Barclay một khoản thua lỗ 900 triệu USD Tháng

2 năm 2007, HSBC báo cáo những khoảng thua lỗ khổng lồ phát sinh từ việc cho vay dưới chuẩn trên thị trường Mỹ Rất nhiều ngân hàng đầu tư lớn của Mỹ

và nhiều ngân hàng Pháp, Đức, Canada … cùng chịu chung số phận Cuộc khủng hoảng đã làm cho hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng bị thiệt hại nặng nề, một số công ty cho vay cầm cố dưới chuẩn phải đệ đơn xin phá sản

Sự sụp đổ của Lehman Brothers 158 năm tuổi, ngân hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất ở Mỹ, và hàng loạt các tên tuổi khác cũng gặp khó khăn là hệ quả của hoạt động cho vay dưới chuẩn Gian lận trên thị trường cho vay cầm cố cũng trở thành hiểm họa với nền kinh tế Mỹ Theo FBI, năm 2007 có 1.200 trường hợp và cũng trong năm 2007 này, có đến 278 vụ kiện dân sự đã được nộp lên tòa án liên bang liên quan đến cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn

Những sai lầm của hệ thống ngân hàng Mỹ trong việc cấp tín dụng quá dễ dãi, nhất là cấp tín dụng cho kinh doanh bất động sản đã châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng Trong thời đại toàn cầu hóa, khi các định chế tài chính toàn cầu có mối quan hệ tín dụng đan xen lẫn nhau, cuộc khủng hoảng tài chính của nền kinh tế lớn nhất thế giới này đã nhanh chóng lan sang các nước khác như hiệu ứng domino

Bong bóng bất động sản: Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm

cho bong bóng bất động sản Lợi nhuận đã tạo động lực khiến cho các ngân hàng xem nhẹ khả năng chi trả của khách hàng, đẩy mạnh cho vay cầm cố bất động sản Dư nợ cho vay cầm cố bất động sản tăng từ 160 tỷ USD (năm 2001)

Trang 34

lên 540 tỷ USD (năm 2004) và nhảy vọt lên 1.300 tỷ USD vào năm 2007 Ước tính đến cuối quý III năm 2008, hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền

đi vay với 1/3 các khoản này là nợ khó đòi

Tỷ lệ sở hữu nhà trên toàn nước Mỹ giai đoạn 1980 – 1994 gần như không đổi ở mức 64% Năm 2004, con số này lên tới đỉnh điểm là 69,2% Nhu cầu tăng khiến giá nhà tăng theo Lãi suất thấp, cho vay dễ dàng đã khuyến khích người dân mua nhà từ nguồn vay càm cố, do đó đã đẩy giá nhà liên tục leo thang, tăng 10% năm 2002 và tăng bình quân trên 25%/năm giai đoạn 2003 –

2005 Tính chung giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2006, giá nhà tại Mỹ tăng 124%

Bong bóng nhà đất kéo dài suốt giai đoạn 2001 – 2005 Sự phục hồi kinh

tế cùng với xu hướng lạm phát gia tăng đã thúc đẩy FED tăng lãi suất trở lại Đến tháng 8 năm 2005, lãi suất liên ngân hàng định hướng của Mỹ đạt mức 3,75%/năm FED đã tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 Lãi suất tăng đã trở thành áp lực lớn cho những người vay mua nhà Tại thời điểm này, thị trường bất động sản bắt đầu có dấu hiệu đóng băng và sụt giảm

Bong bóng nhà đất bắt đầu xì hơi Năm 2006 thị trường bất động sản Mỹ sụt giảm mạnh Tháng 8 năm 2006, chỉ số xây dựng nhà của Mỹ sụt giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm trước Các chủ đất rơi vào cảnh khó khăn tài chính do lãi suất tăng làm tăng giá trị phải thanh toán cho các khoản vay cầm cố hàng tháng Bên cạnh đó, giá nhà giảm làm giá trị tài sản cầm cố giảm xuống thấp hơn mức tiền vay để mua nhà Tỷ lệ vỡ nợ của người vay tăng lên, nhất là những người vay dưới chuẩn vốn thường xuyên ở trong tình trạng khó khăn tài chính Trong hoàn cảnh đó, các công ty cho vay lại nhanh chóng đẩy mạnh hoạt động xiết nợ

Năm 2007, giá nhà tiếp tục giảm Doanh số bán nhà chưa bao giờ thấp đến vậy kể từ năm 1989 Giá nhà mới tại Mỹ giảm gần 10% trong tháng 9 năm

Trang 35

2007, là mức giảm cao nhất trong suốt 4 thập kỷ gần đây Trong năm 2007, doanh số nhà tại Mỹ giảm đến 22%

Bong bóng bất động sản Mỹ sụp đổ đã gây tâm lý hoang mang Ngành công nghiệp cho vay cầm cố dưới chuẩn sụp đổ Giá nhà đất giảm quá mạnh, việc bán nhà thu hồi vốn là rất khó khăn, chính vì thế, việc xiết nợ tài sản tăng gấp 2 lần so với năm 2006 cũng không thể bù đắp thua lỗ của những định chế tài chính hoạt động liên quan đến lĩnh vực này Giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Mỹ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản Lãi suất tiếp tục tăng càng khiến giá nhà suy giảm hơn nữa, và đã ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực cho vay đủ tiêu chuẩn

Năm 2007 có gần 1,3 triệu bất động sản ở Mỹ bị tịch thu để thế nợ, tăng 79% so với năm 2006 Ngày càng nhiều chủ nhà đất tiếp tục nhận được thông báo tịch thu tài sản để thế nợ, cụ thể, theo thống kê, cứ 519 hộ thì một nhận được hồ sơ tịch thu tài sản để thế nợ trong tháng 4 năm 2008 Nhiều ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính khác trên thế giới đã báo cáo lỗ khoảng 435 tỷ USD tại thời điểm 17/7/2008 Kết thúc năm 2007, ngành kinh doanh bất động sản Mỹ suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản

Nhìn chung, trong suốt gần 3 năm từ 2002 đến 2005, tín dụng mua nhà gia tăng đã đẩy giá nhà lên cao, tạo nên bong bóng bất động sản tại Mỹ Nguyên nhân khởi tạo nên bong bóng bất động sản có thể tóm gọn trong một số điểm chính sau:

- Chính sách hạ thấp lãi suất của FED bắt đầu từ năm 2001 nhằm giúp kinh

tế Mỹ thoát khỏi trì trệ

- Chính sách của chính phủ Mỹ khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà (phần lớn được thực hiện thông qua hai công ty được chính phủ bảo trợ là Fannie Mae và Freddie Mac)

Trang 36

- Sự biến các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư khiến thị trường tín dụng để phục vụ thị trường bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hay các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản, mà đã hình thành một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả từ nước ngoài

- Nạn đầu cơ quá mức liên quan đến các khoản vay thế chấp mua nhà

- Sự thất bại trong việc quản lý rủi ro của chính phủ, các định chế tài chính, các doanh nghiệp

Chứng khoán hóa các khoản vay trên thị trường cho vay thế chấp bất động sản: Có nhiều quan điểm cho rằng yếu tố làm nên sự khác biệt và cũng

góp phần khiến cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng hơn là do các sản phẩm tài chính mới, cụ thể là các công cụ tài chính phái sinh dựa trên tài sản thế chấp

Sức hấp dẫn của thị trường tín dụng thế chấp bất động sản Mỹ trong thời kỳ tăng trưởng cao đã lôi kéo các nhà đầu tư ở nhiều nước trên thế giới lao vào thị trường tín dụng thế chấp bất động sản Các khoản vay dưới chuẩn, các khoản

nợ khó đòi bất động sản được chứng khoán hóa và bán ra thị trường tài chính trên diện rộng, không chỉ ở Mỹ mà còn ra nhiều quốc gia khác trên thế giới Các

tổ chức tài chính như ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán …, coi các hợp đồng cho vay bất động sản làm tài sản đảm bảo để phát hành ra thị trường tài chính quốc tế với tên gọi Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (Mortgage Backed Securities MBS)

Chính sách của chính phủ Mỹ về phương diện sở hữu nhà ở được thực hiện qua hai công ty được chính phủ bảo trợ là Fannie Mae và Freddie Mac Như đã phân tích ở trên, chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách nhà cho người

có thu nhập thấp đã thúc đẩu người dân vay tiền ngân hàng mua nhà Những yếu

tố này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Fennie Mae và Freddie Mac có nhiệm vụ

hỗ trợ chức năng thị trường cho vay thế chấp bằng cách mua lại các khoản vay

và chứng khoán hóa các khoản vay của các ngân hàng thương mại, biến các

Trang 37

khoản vay này thành các MBS, sau đó bán lại cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns, Merrill Lynch …

Bản thân các tổ chức giám định hệ số tín nhiệm cũng đánh giá cao loại sản phẩm phái sinh này Và các MBS được các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí trên toàn thế giới mua mà không nhận thức được mức độ rủi ro do các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm là không đủ tiêu chuẩn Trong thời kỳ giá bất động sản tăng cao, các chứng khoán có bất động sản thế chấp tăng cao đã tạo điều kiện cho các ngân hàng đầu tư sinh lời lớn, và bởi vậy, các ngân hàng đầu tư tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa hoạt động kinh doanh đầy rủi ro nhưng sinh lời cao Chính vì thế, thị trường bất động sản không chỉ là sân chơi duy nhất cho các ngân hàng thương mại hay các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản, mà đã trở thành sân chơi mới cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Mỹ

Việc hình thành, mua bán và bảo hiểm MBS rất phức tạp nên đã diễn ra gần như ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ Chính sự thiếu kiểm soát cần thiết nên lòng tham, tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến đối với các nhà đầu tư Về phía các ngân hàng thương mại, vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến các khoản vay này thành MBS nên các ngân hàng thương mại cũng mạo hiểm hơn trong việc cho vay, coi nhẹ việc đánh giá khả năng trả nợ của người vay

Sản phẩm phái sinh MBS không chỉ được tạo ra ở Mỹ mà rất nhiều nước khác cũng thực hiện tương tự và phát hành các trái phiếu loại này trên thị trường tài chính nước mình Hơn nữa, vì tin tưởng vào các sản phẩm phái sinh này, các

tổ chức tài chính các nước cũng tham gia mua MBS của Mỹ Theo ước tính của Hiê ̣p hô ̣i hoán đổi chứng khoán phái sinh (International Swaps and Derivatives),

số các MBS đã lên đến 12 nghìn tỷ USD, trong đó có đến 4 nghìn tỷ USD là nợ xấu

Trang 38

Bên cạnh MBS còn xuất hiện một loại hợp đồng có tên Hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi (Credit Default Swap CDS) CDS ra đời năm 1995 và được sử dụng chủ yếu để tự bảo hiểm rủi ro Trường hợp bên mua CDS không trả được

nợ thì bên bán CDS sẽ đảm bảo hoàn trả nợ vay cho bên mua CDS Các CDS được giao dịch thường xuyên trên thị trường phi tập trung OTC và các hợp đồng này được các công ty bảo hiểm bán ra Theo báo cáo của ISDA, tính đến 30/6/2008, tổng số các CDS tại Mỹ vào khoảng 35 nghìn tỷ USD và trên thế giới

là khoảng 54,6 nghìn tỷ USD

Vì có sự khác nhau về rủi ro của các loại MBS nên các công ty bảo hiểm như AIG cũng nhảy vào bán bảo hiểm cho các nhà đầu tư MBS, tức các CDS, với mục đích đảm bảo cho các nhà đầu tư MBS sẽ được bồi thường trong trường hợp người đi vay không trả được nợ và làm cho MBS mất giá Như vậy các CDS

đã “bảo hiểm” cho các chứng khoán thế chấp đầy rủi ro

Bong bóng thị trường bất động sản bị vỡ, các hợp đồng cho vay dưới chuẩn không có khả năng thanh toán, giá trị bất động sản đi xuống thảm hại, thấp hơn cả các khoản nợ vay phải trả Thị trường bất động sản liên tiếp hạ nhiệt khiến người đi vay vốn đã khó có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó bán bất động sản để trả nợ hoặc bán được với giá rất thấp Thị trường bất động sản mất giá và đóng băng khiến tình hình càng trở nên căng thẳng, tồi tệ hơn Hậu quả để lại là một số lớn các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để đảm bảo cho các MBS là nợ khó đòi Điều này khiến MBS mất giá trên thị trường thứ cấp, thậm chí không còn mua bán được trên thị trường, gây ảnh hưởng dây chuyền đến giá trị và tính thanh khoản không chỉ một vài loại MBS và cho toàn bộ các MBS Bản thân các ngân hàng, các nhà đầu tư nắm giữ những MBS này không những

bị lỗ nặng mà còn mất cả khả năng thanh toán

Các nhà đầu tư mua nhà không trả được nợ khiến các ngân hàng mất khả năng thanh khoản, và tác động trực tiếp đến các công ty bảo hiểm phải bồi thường cho ngân hàng từ những hợp đồng CDS Khi các khoản nợ khó đòi, nợ xấu ngày càng tăng, mức độ rủi ro mất thanh khoản này cũng tăng theo Chính

Trang 39

vì các công ty bảo hiểm lao vào bảo hiểm cho quá nhiều các khoản vay được hình thành từ nợ xấu nên việc bồi thường đã trở thành gánh nặng lớn, làm rối loạn tình hình tài chính Mặc dù mục đích của các CDS này là nhằm giảm rủi ro cho những khoản cho vay bất động sản, nhưng trái lại nó lại tạo ra hiệu ứng sụp

đổ dây chuyền và khiến rủi ro bị đẩy lên cao hơn

Không chỉ ở Mỹ, nhiều thị trường tài chính khác trên thế giới cũng bị rung động theo, bởi nhiều định chế tài chính lớn trên thế giới đã đầu tư vào MBS Tổng số nợ bất động sản khó đòi và số MBS nợ xấu đã gây ra hiệu ứng domino Bear Stearns, Indy Mac, Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers Merrill Lynch, Washington Mutual, Wachovia, Morgan Stanley, Goldman Sách

… của Mỹ, New Century Financial, Northern Rock, HBOS, Bradford & Bringley của Anh, Dexia của Pháp – Bỉ – Luxembourg, Fortis, Hypo của Đức –

Bỉ, Glitner của Iceland … hoặc bị lung lay hoặc phá sản Tập đoàn tài chính và bảo hiểm hàng đầu trên thế giới AIG bị khốn đốn cũng một phần là do đầu tư vào MBS và phần lớn là do các CDS

Các công cụ phái sinh trên thị trường cho vay thế chấp bất động sản đã trở thành một vòi bơm tiền vào quả bóng bất động sản với vòng luẩn quẩn: cho vay thế chấp – chứng khoán hóa các khoản cho vay – dùng tiền thu được lại tiếp tục cho vay … Tỷ phú Warren Buffet đã nói rằng phái sinh tài chính là “vũ khí có sức tàn phá ghê gớm” Nói cách khác, đây là hậu quả của sản phẩm tài chính hiện đại nhưng lại thiếu cơ chế giám sát hiệu quả

Tóm lại, căn nguyên của cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ sự vỡ nợ các khoản cho vay cầm cố mua nhà dưới chuẩn của các ngân hàng Mỹ, sau đó đã lan rộng sang các tổ chức tài chính và các nhóm tài sản khác Bên cạnh đó, các sản phẩm tài chính của Mỹ trên thị trường đầu tư quốc tế nhanh chóng làm lây lan cuộc khủng hoảng ra các trung tâm tài chính thế giới Chính tính phức tạp của quá trình chứng khoán hóa đã làm cho việc đánh giá các khoản nợ dưới chuẩn cùng quy mô bất ổn trở thành một thách thức khôn lường và đồng thời tạo ra một đặc tính chưa có tiền lệ trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này

Trang 40

Buông lỏng quản lý, giám sát đối với hoạt động tài chính: Chính sự

buông lỏng quản lý và giám sát của các cơ quan chức năng đối với hoạt động tài chính, đặc biệt là đối với các hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, cùng với việc không tuân thủ kỷ luật thị trường là thủ phạm gây ra khủng hoảng

Theo giáo sư kinh tế đạt giải Nobel năm 2001, Joseph E Stiglitz: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của mình, đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ đã không làm những gì mà nó đáng ra phải làm – chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà sụt giảm mạnh”

Nhằm khắc phục ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái năm 1929, Quốc hội

Mỹ đã ban hành đạo luật Glass – Steagall năm 1933 Đạo luật này đã chấm dứt

sự kết hợp giữa hai mô hình ngân hàng thương mại và kinh doanh chứng khoán; phân biệt khắt khe giữa hoạt động ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng đầu tư; tách bạch rõ ràng giữa hoạt động cho vay truyền thống của ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay, đầu tư có độ rủi ro cao của ngân hàng đầu tư Theo tinh thần của đạo luật Glass – Steagall, ngân hàng thương mại chỉ được thực hiện cho vay đối với các hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro trên cơ sở đảm bảo tài sản của người vay Đồng thời các ngân hàng đầu tư và các công ty môi giới và tự doanh chứng khoán mới được phép thực hiện các dịch vụ có mức độ rủi ro cao, như cho vay kinh doanh chứng khoán, bất động sản … Sự tách biệt này có mục đích nhằm phân biệt rạch ròi mức độ rủi ro và tránh gây ra sự mập mờ, khó hiểu cho người dân khi gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng; và để các nhà đầu tư xác định chấp nhậm mức độ rủi ro với đồng vốn của

họ khi quyết định có những kế hoạch đầu tư mạo hiểm Ngoài ra, việc phân biệt này cũng là để minh bạch hóa các hoạt động ngân hàng vì đó là nền tảng của cả một hệ thống ngân hàng ổn định, tạo nên sức mạnh cho hệ thống tài chính và kinh tế phát triển bền vững Đạo luật Glass – Steagall đã giúp kinh tế xã hội Mỹ

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. George Cooper (2008), Nguồn gốc cuộc khủng hoảng tài chính, dịch: Minh Khôi - Thủy Nguyệt, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc cuộc khủng hoảng tài chính
Tác giả: George Cooper
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2008
2. Song Hongbing (2008), Chiến tranh tiền tệ, dịch: Hồ Ngọc Minh, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh tiền tệ
Tác giả: Song Hongbing
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2008
3. Batson A. (2009). China Rises on Power of Stimulus tại http://online.wsj.com/article/SB124768125855446621.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: China Rises on Power of Stimulus
Tác giả: Batson A
Năm: 2009
4. Công báo thống kê phát triển kinh tế quốc dân và xã hội năm 2009 nước CHND Trung Hoa, tại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công báo thống kê phát triển kinh tế quốc dân và xã hội năm 2009 nước CHND Trung Hoa
7. World Economic Outlook: Crisis and Recovery April 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crisis and Recovery
8. Jean Pisani-Ferry and Indhira Santos (2009), "Reshaping the Global Economy" Finance and Development, March Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reshaping the Global Economy
Tác giả: Jean Pisani-Ferry and Indhira Santos
Năm: 2009
9. IMF (2009), World Economic Outlook: Crisis and Recovery, April Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Economic Outlook: Crisis and Recovery
Tác giả: IMF
Năm: 2009
14. “Barnsley Building Society rescued” (12/2008), BBC News Sách, tạp chí
Tiêu đề: Barnsley Building Society rescued
15. U.S. Bank Acquires All the Deposits of Two Southern California Institutions: Downey Savings & Loan Association, Newport Beach and PFF Bank & Trust, Pomona, Thông cáo báo chí, 22 tháng 11 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Downey Savings & Loan Association, Newport Beach and PFF Bank & Trust, Pomona
16. Bank Closing Information for Miami Valley Bank, Lakeview, Ohio, FDIC (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank Closing Information for Miami Valley Bank
18. Brown, Bill (2008), "Uncle Sam as sugar daddy; MarketWatch Commentary: The moral hazard problem must not beignored," MarketWatch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Uncle Sam as sugar daddy; MarketWatch Commentary: The moral hazard problem must not be ignored
Tác giả: Brown, Bill
Năm: 2008
19. The China Post: "Hong Kong falls into recession: government", ngày 17/12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hong Kong falls into recession: government
20. The New York Times: "A United Image, Battered by Reality" 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A United Image, Battered by Reality
21. Khủng hoảng tài chính toàn cầu có ảnh hưởng chủ yếu nào đối với Trung Quốc tại http://zhidao.baidu.com/question/80497485.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính toàn cầu có ảnh hưởng chủ yếu nào đối với Trung Quốc
22. Michael Bristow (2008). Khủng hoảng lan tỏa đến Trung Quốc, BBC News tạihttp://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/star/2008/11/081113_china_crisis_html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng lan tỏa đến Trung Quốc
Tác giả: Michael Bristow
Năm: 2008
23. Năm 2020: Trung Quốc - thị trường tiêu thụ ô tô lớn nhất toàn cầu tại http://www.vinacorp.vn/news/nam-2020-trung-quoc-thi-truong-tieu-thu-o-to-lon-nhat-toan-cau/ct-361417 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2020: Trung Quốc - thị trường tiêu thụ ô tô lớn nhất toàn cầu
25. Phân tích tin tức: Khối lượng tiền cho vay tăng mới tiếp tục suy giảm, thời gian tới tính lưu động vẫn được đảm bảo,http://news.xinhuanet.com/fortune/2010-01/15/cotent_12817768_1.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tin tức: Khối lượng tiền cho vay tăng mới tiếp tục suy giảm, thời gian tới tính lưu động vẫn được đảm bảo
26. Số liệu thống kê chủ yếu tháng 12/2009 và cả năm, tại http://www.stats.gov.cn/tjfx/jdfx/t20100120_402615511.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê chủ yếu tháng 12/2009 và cả năm
27. Tân Hoa xã (2009). Tháng 11 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên trong năm tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước, ngày 11-12-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháng 11 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên trong năm tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước
Tác giả: Tân Hoa xã
Năm: 2009
28. Tình hình vận hành thị trường bất động sản toàn quốc năm 2009, tại http://www.stats.gov.cn/tjfx/t20100119_402614823.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình vận hành thị trường bất động sản toàn quốc năm 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 2000 – 2007 - Kinh tế Trung Quốc dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của Mỹ từ năm 2007 đến năm 2009
Bảng 1 Một số chỉ tiêu kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 2000 – 2007 (Trang 47)
Bảng 3. Tình hình suy giảm tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Trung  Quốc sang các thị trường chủ yếu năm 2008 - Kinh tế Trung Quốc dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của Mỹ từ năm 2007 đến năm 2009
Bảng 3. Tình hình suy giảm tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang các thị trường chủ yếu năm 2008 (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w