Chỉ có giáo dục mới mới có thể nâng cao được tố chất con người và đào tạo ra những người lao động hiện đại mới”.[1, tr.98]Sau đó, đến năm 1995, tại Đại hội Khoa học kĩ thuật toàn quốc, t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-***** -
TRẦN THU QUỲNH NGA
CHIẾN LƯỢC “ KHOA GIÁO HƯNG QUỐC” VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRUNG QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học
HÀ NỘI – 11 / 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-***** -
TRẦN THU QUỲNH NGA
CHIẾN LƯỢC “ KHOA GIÁO HƯNG QUỐC” VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRUNG QUỐC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Mã số: 60 31 50
Người hướng dẫn khoa học: TS Nghiêm Thúy Hằng
HÀ NỘI – 11 / 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phạm vi tư liệu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1 12
CHIẾN LƯỢC “KHOA GIÁO HƯNG QUỐC” 12
1.1 Bối cảnh ra đời chiến lược 12
1.1.1 Tình hình thế giới 12
1.1.2 Tình hình trong nước 13
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” 18
1.3 Nội dung cơ bản của chiến lược 23
1.4 Chủ trương chính sách chủ yếu để thực thi chiến lược 34
1.5 Ý nghĩa hiện thực của chiến lược 38
CHƯƠNG 2 40
TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA CHIẾN LƯỢC “KHOA GIÁO HƯNG QUỐC” TỚI CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRUNG QUỐC 40
2.1 Nâng cao chất lượng giảng dạy 44
2.1.1 Cơ chế quản lý giáo dục đại học 44
2.1.1.1 Chuyển giao phần lớn các trường đại học từ trung ương về cho các tỉnh, thành phố quản lý 44
2.1.1.2 Nới rộng quyền quản lý các trường đại học, cao đẳng cho các địa phương 45
2.1.2.Đội ngũ giảng viên 46
2.1.3 Cơ sở vật chất 49
2.1.3.1 Xây dựng các phòng thí nghiệm, phòng nghiên cứu 49
2.1.3.2 Xây dựng hệ thống dịch vụ 50
2.1.4 Hợp tác quốc tế 51
2.2 Nâng cao chất lượng học tập 53
2.2.1 Môi trường học tập kết hợp lý thuyết với thực hành 53
2.2.2.Xây dựng các ngành khoa học trọng điểm 58
Trang 42.2.3.Chất lượng đào tạo 60
2.3 Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học 66
CHƯƠNG 3 72
LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM 72
3.1 Thực trạng chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam 72
3.1.1 Chất lượng giảng dạy 72
3.1.1.1 Phương pháp giảng dạy và kiểm tra - đánh giá 72
3.1.1.2 Đội ngũ giảng viên 73
3.1.2 Chất lượng học tập 75
3.1.2.1 Thái độ học tập 75
3.1.2.2 Chương trình đào tạo 76
3.1.2.3.Chất lượng đào tạo 77
3.1.3.Chất lượng nghiên cứu khoa học 79
3.2 Một vài suy nghĩ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho Việt Nam 82
3.2.1.Nâng cao chất lượng giảng dạy 82
3.2.1.1 Hoàn thiện chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy kết nối lý thuyết và thực hành 82
3.2.1.2 Đẩy mạnh đào tạo đội ngũ giảng dạy 84
3.2.1.3 Đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất 86
3.2.2 Nâng cao chất lượng học tập 91
3.2.3 Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học 95
3.2.3.1.Ổn định đời sống các nhà khoa bọc và khoa bảng 95
3.2.3.2.Tranh thủ sự hợp tác và hỗ trợ của các nhà khoa học gốc Việt đang làm ở nước ngoài 96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu sử dụng cho đánh giá và xếp hạng đại học do các nhóm truyền thông thực hiện 41 Bảng 2.2: Bảng xếp hạng tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp 61 Bảng 2.3: Số lượng chiêu sinh Thạc sỹ và số lượng Thạc sỹ ở các trường Đại học Trung Quốc giai đoạn 1993 - 2011 62 Bảng 2.4: Số lượng chiêu sinh Tiến sỹ và số lượng Tiến sỹ ở các trường Đại học Trung Quốc giai đoạn 1993 – 2011 63 Bảng 2.5: Phân bố cơ sở đào tạo NCS Thạc sỹ ở Trung Quốc 64 Bảng 3.1: Phần trăm các bài báo khoa học 1996 – 2005 tính cho từng nước và phân theo lĩnh vực nghiên cứu 80 Bảng 3.2: Số lần trích dẫn và không trích dẫn của các bài báo khoa học từ Việt Nam phân tích theo lĩnh vực nghiên cứu 80
Trang 6công nghệ, cơ cấu sản phẩm lẫn thể chế kinh tế Đó là "trạng thái chuyển đổi có ý nghĩa thời đại" với hàm ý một giai đoạn bùng nổ và tăng trưởng kinh tế cao kéo dài
trên phạm vi toàn cầu, gắn với bước chuyển từ nền công nghiệp cơ khí sang kinh tế tri thức
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, khoa học - kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất số một Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật của toàn nhân loại, tri thức đang tạo ra những động lực ngày càng to lớn cho phát triển kinh tế xã hội Thực tiễn phát triển của giai đoạn mới trong thế kỉ này đã cho thấy
rõ, tri thức ngày càng trở thành nhân tố có tính quyết định đối với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước và năng lực cạnh tranh quốc tế, nguồn nhân lực ngày càng trở thành tài nguyên chiến lược thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.Vấn đề giáo dục luôn là trọng tâm trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, phát triển giáo dục là nền tảng của phát triển xã hội, chính sách giáo dục phù hợp, tiến bộ là cơ sở quan trọng để phát triển đất nước
Tại Trung Quốc, giáo dục luôn được lưu tâm chú ý Ngay từ thập niên 70 của thế kỉ trước, khi Trung Quốc bắt đầu công cuộc cải cách mở cửa, Đặng Tiểu Bình
đã thể hiện quan điểm coi trọng nhân tài và giáo dục Trong bài phát biểu tại các địa phương phía Nam, ông nói : “Muốn phát triển nhanh kinh tế đất nước, cần phải dựa vào khoa học và giáo dục, phải trọng thị giáo dục, tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, làm nhiều hành động thiết thực đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và khoa học của đất nước” [1, tr.98]
Trang 7Trong công cuộc cải cách mở cửa, xây dựng và hiện đại hoá Trung Quốc, ưu tiên phát triển giáo dục giữ một vị trí chiến lược Bước sang giai đoạn sau, vai trò quan trọng và vị trí chiến lược này đã được nhấn mạnh nhiều lần Cụ thể là trong Báo cáo Chính trị của Đại hội 14 Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10 năm 1992), chủ tịch Giang Trạch Dân đã nhận định: “Khoa học tiến bộ, kinh tế phồn vinh và xã hội phát triển, về căn bản được quyết định bởi chất lượng lao động và vấn đề đặt ra trước mắt là phải bồi dưỡng một lượng lớn nhân tài Trung Quốc phải dốc sức phát triển giáo dục, phải đặt sự nghiệp giáo dục vào vị trí chiến lược và ưu tiên phát triển trong nền kinh tế quốc dân Hy vọng chấn hưng đất nước đặt vào giáo dục Chỉ có giáo dục mới mới có thể nâng cao được tố chất con người và đào tạo ra những người lao động hiện đại mới”.[1, tr.98]Sau đó, đến năm 1995, tại Đại hội Khoa học
kĩ thuật toàn quốc, tổng bí thư Giang Trạch Dân thay mặt Trung ương Đảng chính thức đề ra chiến lược “khoa giáo hưng quốc” với tinh thần “ Cần phải đưa giáo dục lên vị trí chiến lược ưu tiên phát triển, nỗ lực nâng cao trình độ tư tưởng và đạo đức văn hoá, khoa học kĩ thuật của toàn dân tộc, đây là kế hoạch lớn cơ bản, thực hiện hiện đại hoá Trung Quốc”[1, tr.117]
Chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” đã đem lại những biến đổi nhất định cho diện mạo của giáo dục Trung Quốc, thiết lập nền tảng và mở ra một tương lai mới
mẻ đầy lạc quan cho nền giáo dục và khoa học - kỹ thuật Trung Quốc Chiến lược
“Khoa giáo hưng quốc” là một chính sách lớn của Trung Quốc, được nhiều nhà nghiên cứu của Trung Quốc và Việt Nam quan tâm nghiên cứu, chiến lược này đã tạo điều kiện cho giáo dục đại học Trung Quốc có những bước đi vững chắc và nâng cao chất lượng, đóng góp thiết thực cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, hiện đại hoá theo chiều sâu và hội nhập quốc tế của Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục và khoa học có không ít những điểm tương đồng Trong vài năm trở lại đây, cải cách giáo dục cũng đang trở thành một đề tài nóng hổi được các chuyên gia, học giả và toàn xã hội quan tâm Việc nghiên cứu chiến lược “khoa giáo hưng quốc” của Trung Quốc vì vậy không chỉ góp phần nâng cao hiểu biết về
Trang 8Trung Quốc mà còn cho phép chúng ta có những so sánh và đưa ra những liên hệ, những bài học hữu ích đối với Việt Nam trên các vấn đề, lĩnh vực tương đương Trong bối cảnh Việt Nam đang có nhu cầu bức thiết về đổi mới toàn diện giáo dục đại học để tạo đà cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc nghiên cứu chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” và những tác động tích cực của nó đối với giáo dục đại học tại Trung Quốc có ý nghĩa thiết thực đối với Việt Nam, có thể góp phần tư vấn chính sách và đúc rút những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt nam
Sau một thời gian đọc tư liệu, tôi thấy nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam đã bước đầu nghiên cứu về chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” từ góc độ tìm hiểu hoặc phân tích chiến lược nhưng chưa có ai nghiên cứu tổng kết những tác động chính trị, xã hội cụ thể của nó , đặc biệt là tác động trong lĩnh vực giáo dục đại học Xuất phát từ nhu cầu thực tế và hứng thú của bản thân, chúng tôi quyết định chọn đề tài
“Chiến lƣợc “Khoa giáo hƣng quốc” và những tác động tích cực đối với vấn đề nâng cao chất lƣợng giáo dục đại học Trung Quốc” làm đề tài luận văn Cao học
Trang 9viết về sự thành công, những kinh nghiệm và bài học phát triển của các quốc gia như Mỹ, Đức, Anh, Nhật, Liên Xô, các nước NICs từ đó nêu lên vai trò to lớn của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia; và kiến nghị những chính sách để thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật
– 2005,上海社会科学院出版社,2006 (Viện Nghiên cứu và phát triển trí tuệ, Viện Nghiên cứu Khoa học Giáo dục thành phố Thượng Hải, Nghiên cứu sự phát triển giáo dục Trung Quốc thời kỳ mới 1983 – 2005, NXB Viện Khoa học Xã hội
Thượng Hải, 2006) đã phân tích bối cảnh vĩ mô phát triển giáo dục Trung Quốc, nghiên cứu về mô hình phát triển giáo dục đại học năm 2015, mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2020
Trang 10nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, vấn đề văn hóa trong sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa Trung Quốc
Lịch sử nghiên cứu chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” còn phải kể đến một
loạt các luận văn của học viên cao học như: Nghiên cứu tư tưởng chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” của Giang Trạch Dân của học viên Đỗ Dương trình bày cơ sở
hình thành tư tưởng “Khoa giáo hưng quốc” của Giang Trạch Dân, nội dung của tư
tưởng, giá trị thực tiễn và ý nghĩa to lớn của nó, Luận về chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” của học viên Tôn Thúy Cúc nghiên cứu khá đầy đủ về hoàn cảnh ra đời,
quá trình hình thành và phát triển, thành tựu và tồn tại của chiến lược “Khoa giáo
hưng quốc”, Đẩy mạnh chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” và cải cách thể chế giáo dục đại học Trung Quốc sau khi gia nhập WTO của học viên Lý Tân tổng hợp
những cơ hội và thách thức mà giáo dục đại học gặp phải sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, phân tích thực trạng và những bất cấp của nền giáo dục đại học Trung Quốc, từ đó đưa ra những nhiệm vụ chiến lược cho công cuộc cải cách thể chế giáo dục đại học Trung Quốc…
* Tại Việt Nam có những tác giả và tác phẩm sau đây:
Quá trình cải cách giáo dục của CHND Trung Hoa thời kỳ 1978 – 2003(2006) của tác giả Nguyễn Văn Căn đã khái quát những diễn biến cụ thể của quá trình phát
triển và cải cách giáo dục ở Trung Quốc, qua đó làm rõ những thành tựu cơ bản và những hạn chế chủ yếu của sự nghiệp giáo dục đối với các cấp, các ngành học, các khu vực, các địa phương ở Trung Quốc trong thời kỳ 1978-2003 Đồng thời cuốn sách cũng hệ thống hoá quá trình phát triển và cải cách giáo dục ở Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 2003 thông qua việc sưu tầm, tập hợp và hệ thống một cách toàn diện và tương đối đầy đủ các nguồn tài liệu như các luật, chỉ thị, nghị quyết, chính sách giáo dục của nước CHND Trung Hoa trong thời kỳ 1978 -2003 đối với các cấp, các ngành học, các khu vực, các địa phương qua từng giai đoạn trên chặng đường 25 năm cải cách phát triển của nước CHND Trung Hoa Trọng tâm của cuốn sách là thời kỳ 1978 -2003 nhưng để có cái nhìn toàn diện hơn, phần đầu chúng tôi
có trình bày khái quát về tình hình giáo dục ở Trung Quốc từ năm 1949 đến năm
Trang 111978 Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của giáo dục Trung Quốc, cuốn sách gợi mở một số bài học tham khảo cho những người quan tâm đến giáo dục Trung Quốc và giáo dục Việt Nam.
TS Nguyễn Văn Căn, Cải cách giáo dục đại học Trung Quốc trong những năm thực hiện chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” đăng trên Tạp chí nghiên cứu
Trung Quốc số 1 năm 2006 căn cứ vào quá trình xác lập và hoàn thiện từng bước thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, giáo dục đại học cao đẳng ở Trung Quốc
đã có những cải cách cần thiết để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương và trên toàn Trung Quốc Bài viết trình bày ngắn gọn một số cải cách về quản lý, chế độ tuyển sinh, quan tâm đến đội ngũ giáo viên và đưa ra một số kết quả chủ yếu trong đào tạo và nghiên cứu khoa học
Tác giả Nguyễn Đắc Hùng trong công trình Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước (2007), NXB Chính trị Quốc gia đã đề xuất một số bài học kinh nghiệm về
giới định tiêu chuẩn phạm vi đánh giá, xây dựng chiến lược trọng tâm, bồi dưỡng, đãi ngộ, sử dụng và tôn vinh nhân tài ở Trung Quốc để Việt Nam tham khảo
GS.TS Nguyễn Văn Khánh (Chủ biên), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội – 2010 Sách được xây dựng trên cơ sở tập hợp những tham luận tiêu biểu của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tham dự ba cuộc hội thảo khoa học trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI” Công trình góp phần nhận thức, lý giải một số vấn đề cơ bản về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ đồng thời đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát
triển đất nước hiện nay Bài viết Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực là động tri thức – Bài học Minh Trị Duy tân và Trung Quốc Khoa giáo hưng quốc “chìa khóa phát triển và quản lý xã hội các nước Đông Á” của PGS Nguyễn Văn Hồng nhấn mạnh
Trang 12về việc chìa khóa giáo dục có ý nghĩ bắt đầu, và không ngừng tác dụng đối với một quốc gia muốn hưng thịnh [9, tr.431] Thực tế lịch sử cuộc cải cách Duy tân Minh
Trị của Nhật Bản và chiến lược Khoa giáo hưng quốc của Trung Quốc đã chứng
minh nguyên lý: Các nước Đông Á muốn phát triển bắt kịp thế giới phải nắm chắc chìa khóa giáo dục đào tạo và nắm khoa học kỹ thuật [9, tr.434] Cuối cùng tác giả
đưa ra đôi điều suy nghĩ về cải cách giáo dục và đào tạo sử dụng nhân tài của Việt Nam
Bài viết Nhận thức về chiến lược „Khoa giáo hưng quốc” xây dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc [6, tr.60-64], PGS Nguyễn Văn Hồng cho rằng
nhận thức về mối quan hệ giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra chính là yếu tố tạo nên thành công cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của Trung Quốc “Văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”[6, tr.61], Đảng Cộng sản
Trung Quốc kế thừa văn hóa ưu tú dân tộc, thời đại và bằng trải nghiệm của mình
đã tuyên bố chiến lược khoa học – kỹ thuật và giáo dục chấn hưng Trung Hoa
Đề cập trực tiếp tới việc đánh giá chất lượng giáo dục đại học có các bài viết
như: Xếp hạng đại học và chất lượng giáo dục [4, tr.105-119] của tác giả Nguyễn Tấn Đại, & Vũ Thị Phương Anh trong cuốn Xếp hạng đại học, chất lượng giáo dục
và hội nhập quốc tế của Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo đã
phân tích các xu hướng xếp hạng phổ biến trên thế giới (xếp hạng tổng thể toàn bộ trường đại học, xếp hạng theo đặc thù chuyên ngành) cũng như là những vấn đề cần lưu tâm khi sử dụng kết quả xếp hạng, qua đó nhấn mạnh sự cần thiết phải thiết lập các điều kiện cơ bản để tạo ra chất lượng thật sự, thay vì mải mê chạy theo thành tích xếp hạng với những con số không đánh giá được thực chất của nền giáo dục đại học Tác giả khuyến cáo các nhà chức trách và lãnh đạo nền giáo dục đại học Việt Nam trước khi đặt ra mục tiêu về vị trí xếp hạng cần phải quan tâm đến ý nghĩa thực
sự của chất lượng giáo dục đối với đối với người học nói riêng và đối với xã hội nói
Trang 13chung, để có sự đầu tư hợp lí vào việc xây dựng một chiến lược và tiến trình nâng cao chất lượng của hệ thống đại học nước nhà
Tác phẩm Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học tác giả Nguyễn Đức
Chính chủ biên được biên soạn trên cơ sở kết quả của công trình nghiên cứu cấp Nhà nước do chính Giáo sư làm chủ nhiệm đề tài, đã được Hội đồng khoa học Nhà nước chính thức nghiệm thu với mức đánh giá xuất sắc Cuốn sách cung cấp cho bạn đọc cơ sở lý luận khoa học về đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, những kinh nghiệm hay trong lĩnh vực này của nhiều nước tiên tiến trên thế giới và các nước đang phát triển trong khu vực trong đó có Trung Quốc Đây là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam cung cấp cho độc giả thông tin về một quy trình kiểm tra chất lượng hoàn chỉnh
Bên cạnh những công trình có tính chất tổng quan, còn có một số bài viết về
việc những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học như : Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học [43, tài liệu mạng] (2008) của GS Nguyễn Văn Tuấn, Xếp hạng đại học: Xu thế toàn cầu [41, tài liệu mạng]trong Bản tin ĐHQG Hà Nội số 246
tháng 8/2011 do Hồng Ngọt ghi lại từ cuộc phỏng vấn GS.TS Nguyễn Hữu Đức – Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội Chia sẻ những ghi nhận về xu hướng xếp hạng các trường đại học trên thế giới, GS.TS Nguyễn Hữu Đức đã giới thiệu bộ chỉ số cơ bản thông qua khảo soát khoảng 10 bảng xếp hạng đại học khác nhau: ARWU, QS Asia University Rankings, Webometrics và xu thế phát triển của xếp hạng đại học trong những năm tới GS cho biết ĐHQG Hà Nội đang tập trung thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển đến năm 2020, trong đó có đề xuất đề án phát triển ĐHQG Hà Nội đạt chuẩn quốc tế với một số mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm: Nâng cao sức cạnh tranh và uy tín của ĐHQGHN thông qua việc xây dựng và phát triển số lượng
và chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn, đầu ngành có nhiều công trình khoa học quốc tế và số lần trích dẫn cao, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trong đó có 15% sinh viên tốt nghiệp ra trường (25% sinh viên các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ và kinh tế) có năng lực chuyên môn và kỹ năng đạt chuẩn quốc tế, có thể làm việc hoặc tiếp tục học tập, nghiên cứu ở bất cứ cơ sở đào tạo, nghiên cứu và sản xuất nào ở trên thế giới, nâng
Trang 14cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, có các sản phẩm KH-CN đạt trình độ quốc tế
Nhìn lại tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài, tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu và các bài viết đã trình bày khá chi tiết về hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”; các tiêu chí để kiểm định đánh giá chất lượng giáo dục đại học… Tuy nhiên vẫn khuyết thiếu một bài viết đánh giá những tác động tích cực mà chiến lược mang lại cho chất lượng nền giáo dục đại học Trung Quốc, từ đó rút ra kinh nghiệm cho giáo dục đại học ở Việt Nam
Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài luận văn Chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” và những tác động tích cực đối với vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đại học Trung Quốc làm đề tài luận văn Cao học trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu đi
trước
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ bối cảnh ra đời và nội dung chủ yếu của chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”
Đánh giá những tác động tích cực của chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” đối với giáo dục đại học Trung Quốc, so sánh để làm rõ thực trạng chất lượng giáo dục đại học trước và sau khi có chính sách Khoa giáo hưng quốc
Rút ra một số kinh nghiệm tốt có thể áp dụng để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Việt Nam
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
*Nội dung và cơ chế thực thi Chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”
*Những tác động tích cực của chính sách đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học Trung Quốc (chỉ giới hạn phạm vi Trung Quốc đại lục không bao gồm Hồng Kông, Ma Cao)
Trang 15Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu những tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục đai học Trung Quốc, tạm thời chưa đề cập đến những tác động tiêu cực, mốc thời gian chủ yếu tập trung vào thời kỳ sau khi Trung Quốc có những văn kiện chính thức tuyên bố về chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” (Khoảng từ năm 1996 đến nay) Các số liệu nghiên cứu chỉ tập trung vào một
số số liệu chính thức được công bố trên các văn kiện, sách, báo, phương tiện thông tin đại chúng và một số số liệu nghiên cứu ở các địa phương tiêu biểu như Bắc Kinh, Quảng Đông, Thượng Hải, Quảng Tây, Vân Nam
Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc
Các website, bài viết từ các trang mạng của các cơ quan nghiên cứu về Giáo dục của Trung Quốc và mạng chính thức của Bộ Giáo dục Trung Quốc
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp , kế thừa tài liệu
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp nghiên cứu liên ngành đặc trưng của Trung Quốc học
Trang 16Chương 2: Tác động tích cực của chiến lược “Khoa giáo hưng quốc: tới chất lượng giáo dục đại học Trung Quốc Trên cơ sở phân tích những bộ chỉ số đánh giá chất lượng và xếp hạng các trường đại học trên thế giới, tác giả đưa ra những nhận định riêng về tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học Từ đó tập trung trình bày những tác động tích cực mà chiến lược đem tới cho nền giáo dục đại học Trung Quốc trên 3 khía cạnh nổi bật: nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học Song song với những tích cực, tác giả cũng đưa ra một vài điểm bất cập và tiêu cực mà giáo dục đại học Trung Quốc còn vấp phải
Chương 3: Liên hệ với Việt Nam Từ những phân tích về chất lượng giáo dục đại học Trung Quốc, thực trạng của chất lượng giáo dục đại học Việt Nam, tác giả đưa ra một vài suy nghĩ nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1 CHIẾN LƯỢC “KHOA GIÁO HƯNG QUỐC”
1.1 Bối cảnh ra đời chiến lược
tế và công bằng xã hội…Trong sự phát triển của cách mạng khoa học - kỹ thuật, xu thế toàn cầu hóa đã diễn ra như một làn sóng lan nhanh ra toàn thế giới Có thể nói, toàn cầu hoa đòi hỏi các quốc gia phải có lời giải đáp và sự thích ứng để vừa kịp thời vừa khôn ngoan nắm bắt thời cơ, tránh việc bỏ lỡ cơ hội và tụt hậu
Tháng 12/1989 tại cuộc gặp gỡ không chính thức ở đảo Manta, Mỹ và Liên Xô cùng nhau tuyên bố chấm dứt tình trạng “chiến tranh lạnh” kéo dài hơn 40 năm Sau nhiều năm trì trệ và khủng hoảng, đến năm 1989-1991, chế độ XHCN bị tan rã ở các nước Đông Âu và Liên Xô Thế hai cực của hai siêu cường không còn nữa và
Mĩ là cực duy nhất còn lại nhưng cũng giảm sút về sức mạnh Bài học của thời kỳ chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương thức quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn thất hoặc thất bại như
Trang 18hai nước Mỹ - Xô và “một bị thương, một bị mất” [8, tr.401] Trong khi đó phương thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu được nhiều tiến
bộ, kết quả như các nước Đức, Nhật và NICs Sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, mà chủ yếu là thực lực kinh tế và khoa học – kỹ thuật Hầu như tất cả các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm, bởi ngày nay kinh tế đã trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế Xây dựng sức mạnh của mỗi quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang trở thành hình thức chủ yếu trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc Sức mạnh của mỗi quốc gia là dựa trên nền sản xuất phồn vinh, nền tài chính vững chắc, một nền công nghệ có trình độ cao cùng với lực lượng quốc phòng hùng mạnh
1.1.2 Tình hình trong nước
Sau thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giành độc lập tự do, xây dựng xã hội dân chủ mới, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục chủ trương chuyển sang nhiệm vụ xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ cơ bản của toàn Đảng, toàn dân lúc này là tập trung lực lượng phát triển sức sản xuất xã hội, thực hiện công nghiệp hóa đất nước, từng bước thỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hóa ngày càng tăng của nhân dân [10, tr.69].Nhưng Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, mà đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông đã mắc phải hai sai lầm lớn về nhận thức Đó là sai lầm trong việc tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh trong nhận thức Chủ nghĩa Mác và đánh giá không đúng tình hình thực tế đất nước Từ đó dẫn tới việc đưa ra những chủ trương, quyết sách sai lầm, đi ngược với quy luật phát triển thông thường Quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội “dốc hết sức lực, vươn lên hàng đầu, xây dựng chủ nghĩa xã hội nhiều, nhanh, tốt, rẻ” của Mao Trạch Đông đã được nâng lên thành “Đường lối chung”, và đã tạo cơ sở lý luận và pháp lý cho sự ra đời của phong trào “Đại nhảy vọt” vào năm 1961; 10 năm động loạn bi thảm trong lịch sử khi Trung Quốc phát động cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” vào năm 1966, gây nên hậu quả nghiêm trọng làm cho nền kinh tế tiêu điều, đời sống nhân dân cơ cực, giới trí thức bị coi
Trang 19thường và đẩy vào kết cục bi thảm, đời sống chính trị rối ren, hệ giá trị truyền thống, di sản và thành tựu văn hóa bị hủy hoại, nền giáo dục bị tổn hại trầm trọng, khoa học kỹ thuật không có cơ hội phát triển
Trong giai đoạn này, Mao Trạch Đông đưa ra quan điểm: “Chế độ học tập nên rút ngắn lại, phải tiến hành làm cách mạng trong giáo dục, không thể để tồn tại hiện tượng những phần tử trí thức của giai cấp tư sản thống trị các trường học của chúng ta, như vậy không thể đi lên được ” [10, tr.169].Các thầy giáo phổ thông cũng như các giáo sư đại học bị bức hại hoặc phải đi “thâm nhập thực tế” ở rừng núi, nông thôn
Từ năm 1966, các trường học trong cả nước phải đóng cửa để “làm cách mạng” Đồng thời, Trung Quốc còn đưa ra chủ trương trong khoảng 7 năm tới đình chỉ việc đưa học sinh ra nước ngoài du học và từ chối học sinh nước ngoài đến Trung Quốc lưu học Các chủ trương biện pháp và cách đánh giá như vậy đã phủ định công sức lao động cần cù của hàng chục triệu trí thức trong 17 năm trước đó, đè nén tính tích cực của cán bộ, giáo viên trên mặt trận giáo dục Tình hình đó không những không tạo nên tiến bộ mới về giáo dục mà trái lại gây nên hậu quả trầm trọng và phá hoại chế
độ giáo dục, đảo lộn trật tự và hạ thấp chất lượng giáo dục đến mức chưa từng thấy Đến năm 1974 Trung Quốc phong trào “phê Lâm, phê Khổng” lại giáng xuống ngành giáo dục Trong các trường học, giáo viên không phải lên lớp để giảng bài, học sinh không phải lên lớp để học tập mà họ “ra ra vào vào" trên các giảng đường để “phê bình, đấu tranh” Sau thời kỳ này, những nét ưu tú trong truyền thống đạo đức luân lý Trung Quốc trước đây như “yêu già, giúp trẻ”, “kính thầy, yêu trò” bị phủ định sạch trơn và thay vào đó là “Triết học đấu tranh” Dưới tấm màn “Giữ cho đạo thầy tôn nghiêm”, nhiều nhà khoa học, nhiều giáo viên bị bức phải kiểm điểm, buộc phải nhận sự phê phán của học sinh
Trải qua 10 năm động loạn, "cách mạng văn hoá" đã làm cho nền giáo dục Trung Quốc bị tổn thất đặc biệt nghiêm trọng Số lượng các trường đại học và cao đẳng, số lượng giáo sư của các trường đại học cũng suy giảm nghiêm trọng Trong số này có một số bị bức hại đến chết trong các trại giam hoặc các cuộc đấu tố Không chỉ các trường đại học mà các trường trung cấp chuyên nghiệp cũng bị giảm về số lượng
Trang 20Trong khi đó do chủ trương “phải tuyển chọn học sinh trong hàng ngũ công nhân, nông dân có kinh nghiệm thực tiễn” nên các trường trung học lại tăng lên, nhưng do
số lượng học sinh tại trường không tăng nhiều và chất lượng đào tạo không cao nên cũng không thể coi đây là một thành tích được Sau này, Quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế giáo dục ngày 27 tháng 5 năm 1985 cũng thừa nhận "cách mạng văn hoá" không những không có tác dụng phát triển giáo dục mà còn làm thụt lùi chất lượng giáo dục đến mức có thể coi là thủ tiêu giáo dục.Giáo dục không chỉ là vùng trắng mà còn có thể coi là vùng tối trên bức tranh toàn cảnh xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ
Đứng trước yêu cầu của đông đảo cán bộ và quần chúng về việc sửa chữa sai lầm trong nhận thức và đường lối phát triển cũng như những lỗi lầm gây ra trong 10 năm “Cách mạng văn hóa”, Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã quyết tìm ra đường hướng sửa sai để phát triển, đáp ứng yêu cầu về một sự đổi thay căn bản nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường, theo đúng quy luật
Tháng 12 - 1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vạch ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế - xã hội Đường lối này được nâng lên thành đường lối chung qua Đại hội XII ( 9 - 1982 ), đặc biệt là đại hội XIII của Đảng ( 10 - 1987 ): lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm; Kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản: Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, kiên trì chuyên chính dân chủ nhân dân, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sán Trung Quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông; Tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn nhằm hiện đại hóa và xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ và văn minh Vậy chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc ở đây nghĩa là gì?
Một trong những yếu tố làm nên sự đặc sắc của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc chính là việc Trung Quốc chủ trương xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa Văn minh tinh thần là sự sáng tạo của Trung Quốc, nhằm mục đính nâng cao
tố chất con người, tạo nên tính bền vững cho xã hội Trung Quốc, nhất là trong thời
Trang 21đại kinh tế mở cửa, hội nhập ngày nay Trung Quốc phải biết kế thừa những văn hóa
ưu tú của dân tộc mình, đồng thời cũng không ngừng học hỏi, trao dồi, nâng cao tư tưởng, đạo đức và văn hóa khoa học của toàn dân tộc, tiếp thu thành tựu của văn hóa thế giới để xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa Văn minh tinh thần
xã hội chủ nghĩa chính là kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa phương Đông và phương Tây Ngay từ khi Trung Quốc bắt đầu công cuộc cải cách
mở cửa, Đảng và Nhà nước đã xác định đồng thời xây dựng “hai nền văn minh” là văn minh vật chất và văn minh tinh thần, đặt nhiệm vụ xây dựng văn minh tinh thần
ngang hàng với nhiệm vụ xây dựng văn minh vật chất “Văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa xã hội, là sự biểu hiện quan trọng tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa” [14, tr.288]và giáo dục được coi là một khía cạnh, một mảnh ghép quan trọng của văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa
Trung Quốc nhấn mạnh, phải “lấy lý luận khoa học trang bị cho mọi người, lấy dư luận đúng đắn hướng dẫn cho mọi người, lấy tinh thần cao đẹp để đào tạo con người, lấy những tác phẩm ưu tú để cổ vũ mọi người, bồi dưỡng một thế hệ công dân xã hội chủ nghĩa có lý tưởng, có đạo đức, có văn hóa, có kỷ luật, nâng cao phẩm chất đạo đức tư tưởng và trình độ khoa học, văn hóa của toàn dân, đoàn kết
và động viên nhân dân các dân tộc xây dựng Trung Quốc thành quốc gia hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh” [11, tr.264]
Vì vậy, ngay sau khi lật đổ "bè lũ bốn tên" Trung Quốc đã quan tâm đến việc sửa chữa những sai lầm trong giáo dục, Trung Quốc lập tức mở cửa trường học và bắt đầu thực hiện những hình thức phục hồi chế độ dạy và học trong các trường học Trung Quốc ngày càng chú trọng, quan tâm, đầu tư cho giáo dục Giờ đây giáo dục
đã giữ vai trò tiên phong đối với sự phát triển kinh tế, xây dựng cường quốc hiện đại hóa Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm từ công cuộc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa của chính đất nước Trung Quốc, phân tích tình hình kinh tế, khoa học -
kỹ thuật và giáo dục, kinh nghiệm phát triển xã hội của các nước trên thế giới Trung Quốc đã chủ trương thực hiện chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” (chiến lược khoa học – kỹ thuật và giáo dục chấn hưng đất nước), dựa vào khoa học - kỹ thuật
Trang 22và giáo dục để thúc đẩy kinh tế phát triển, là con đường đúng đắn phù hợp với đất nước Trung Quốc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc
Từ cuối những năm 70 cho đến đầu những năm 90 thế kỷ XX, Đặng Tiểu Bình
đã hình thành và phát triển quan điểm “sự nghiệp hiện đại hóa phải dựa vào khoa học và giáo dục” Quan điểm ấy đã đặt cơ sở lý luận vững chắc cho việc đề xuất và thực thi chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”
Dựa theo tư tưởng chiến lược này, năm 1985 Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố quyết định cải cách thể chế khoa học - kỹ thuật và cải cách thể chế giáo dục, xác lập phương châm chiến lược “Phát triển kinh tế phải dựa vào khoa học - kỹ thuật, công tác khoa học - kỹ thuật phải hướng tới phát triển kinh tế” và “giáo dục phải phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục”
Năm 1992, Đại hội lần thức XIV của Đảng Cộng Sản Trung Quốc dựa trên lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, đã quyết định nhiệm vụ quan trọng những năm 90 là cải cách đất nước, Giang Trạch Dân tại đại hội chỉ rõ: “phải xây dựng nền kinh tế theo quỹ đạo phụ thuộc vào tiến bộ khoa học - kỹ thuật và đề cao nhân tố người lao động”
Năm 1993, Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Quốc Vụ viện phát hành
“Cương yếu cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc”, trong những nguyên tắc chủ yếu liên quan tới việc xây dựng hệ thống giáo dục chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc đã chỉ rõ: “giáo dục là cơ sở để xây dựng hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội, phải kiên trì vị trí chiến lược ưu tiên phát triển của giáo dục” Hơn nữa cương yếu cũng đề cập hành động quan trọng để thực hiện địa vị chiến lược giáo dục Năm 1994, Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Quốc Vụ Viện đã mở hội nghị về công tác giáo dục toàn quốc, quán triệt tinh thần của Đại hội toàn quốc lần III khóa 14 và Đại hội lần thứ XIV của Đảng, đẩy nhanh một bước thực thi chiến lược ưu tiên phát triển giáo dục, động viên toàn Đảng, toàn dân thực hiện
“Cương yếu cải cách và phát triển giáo dục”
Trang 23Năm 1995, Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Quốc Vụ Viện đã đưa
ra “Quyết định của Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Quốc Vụ Viện về việc tăng cường tiến bộ khoa học - kỹ thuật”, mở Đại hội khoa học - kỹ thuật toàn quốc, lần đầu tiên chính thức đề xuất thực thi chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” Tại Đại hội khoa học - kỹ thuật toàn quốc, Giang Trạch Dân chỉ ra rằng: “Khoa giáo hưng quốc là thực thi toàn diện tư tưởng khoa học - kỹ thuật là lực lượng sản xuất
số một, kiên trì giáo dục làm nền tảng, … ” Năm 1996, kỳ họp thứ IV khóa 8 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã chính thức đưa ra “kế hoạch 5 năm lần thứ 9 phát triển kinh tế và xã hội quốc dân và mục tiêu tới năm 2010”, “Khoa giáo hưng quốc” trở thành quốc sách cơ bản của Trung Quốc
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của chiến lƣợc “Khoa giáo hƣng quốc”
Quá trình này được chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn xác lập, giai đoạn phát triển.Trong mỗi giai đoạn, chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” lại được hoàn thiện hơn để phù hợp với tình hình trong ngoài nước
Giai đoạn chuẩn bị của chiến lƣợc “Khoa giáo hƣng quốc” bắt đầu từ năm
1978 khi Trung Quốc thực thi chính sách cải cách mở cửa đất nước cho đến năm
1995 khi mà chiến lược chính thức đề xuất Thời kỳ này gắn liền với những tư tưởng khoa giáo hưng quốc của Đặng Tiểu Bình
Đặng Tiểu Bình là hạt nhân thế hệ lãnh đạo thứ hai của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tổng công trình sư của công cuộc cải cách và mở cửa, ông đã đưa ra quan
điểm “Khoa học - kỹ thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu”① Đây chính là cốt lõi tinh túy trong quan điểm khoa học - kỹ thuật của Đặng Tiểu Bình
Dưới sự chỉ đạo của tư tưởng sáng tạo khoa học - kỹ thuật Đặng Tiểu Bình, đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật vượt qua mọi gian khó, nỗ lực sáng tạo và đã đạt được một loạt thành quả quan trọng Tháng 12/1987, xây dựng hệ thống tính toán
“Ngân hà” Ngày 20/02/1985 xây dựng trạm Nam Trường Thành Ngày 12/10/1985 lần đầu tiên tàu ngầm dưới nước phóng thành công tên lửa thể rắn, trở thành quốc
① 科学技术是第一生产力
Trang 24gia thứ 5 sau Mĩ, Liên Xô, Pháp, Anh có năng lực phóng tên lửa dưới nước Trung Quốc bước đầu hình thành cơ chế vận hành và hệ thống đổi mới quốc gia phù hợp với thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và quy luật phát triển của khoa học -
kỹ thuật, sáng lập một số trường đại học danh tiếng thế giới, không chỉ đạt được những thành quả khoa học - kỹ thuật quan trọng trình độ quốc tế, mà còn bồi dưỡng
và đào tạo một hệ nhân tài tố chất cao có ý thức và năng lực sáng tạo
Để xây dựng Trung Quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh giáo dục có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật, phát triển kinh tế - xã hội, vai trò quan trọng của nhân tài và tri thức trong sự nghiệp phát triển giáo dục Tóm lại, tư tưởng khoa giáo hưng quốc của Đặng Tiểu Bình vừa phù hợp với tình hình thực tế đất nước, lại có tính chỉ đạo chiến lược Nó là một bộ phận cấu thành lý luận xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc Dưới sự chỉ đạo của
tư tưởng Đặng Tiểu Bình, sự nghiệp khoa giáo đã phục hồi và phát triển tương đối nhanh chóng Tư tưởng khoa giáo hưng quốc của Đặng Tiểu Bình đã cung cấp lý luận vững vàng và cơ sở thực tiễn cho chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” của những năm 90 thế kỷ XX
Giai đoạn xác lập chiến lƣợc “Khoa giáo hƣng quốc”, trong giai đoạn này
Giang Trạch Dân với vai trò là hạt nhân thế hệ lãnh đạo thứ ba của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã đưa ra một loạt tư tưởng và lý luận mới cũng như những biện pháp thực thi trên lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và giáo dục, chính thức xác lập chiến lược
“Khoa giáo hưng quốc”
Trải qua thời kỳ chuẩn bị của hai thế hệ thuộc tập thể lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” đã chính thức được xác lập vào những năm 90 của thế kỷ XX Năm 1992, Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác lập địa vị chỉ đạo của lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc của Đặng Tiểu Bình trong toàn Đảng, đồng thời chỉ ra rằng, Trung Quốc phải xây dựng kinh tế trở thành nền kinh tế dựa vào tiến bộ khoa học - kỹ thuật và đề cao tố chất người lao động, phải đặt sự nghiệp giáo dục ở vị trí chiến lược ưu tiên phát triển, ra sức nâng cao trình độ văn hóa khoa học và đạo đức tư
Trang 25tưởng của toàn dân tộc, đây chính là thực thi chính sách lớn cơ bản của sự nghiệp hiện đại hóa đất nước Năm 1993, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc
Vụ Viện đã ban hành “Cương yếu đổi mới và phát triển giáo dục Trung Quốc”, khẳng định vị trí chiến lược ưu tiên phát triển đối với sự nghiệp giáo dục, đồng thời xác lập nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của sự nghiệp giáo dục những năm cuối thế kỷ
XX Năm 1994, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng Quốc Vụ Viện tổ chức Hội nghị công tác giáo dục toàn quốc, động viên toàn Đảng toàn dân thực thi
“Cương yếu đổi mới và phát triển giáo dục Trung Quốc” Năm 1995 ban hành
“Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc Vụ Viện về việc thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật”, và triệu tập Đại hội khoa học - kỹ thuật toàn
quốc Tại Đại hội Giang Trạch Dân nhấn mạnh:“ Khoa giáo hưng quốc là dưới sự chỉ đạo của tư tưởng lấy khoa học - kỹ thuật làm lực lượng sản xuất hàng đầu, phải kiên trì giáo dục làm nền tảng, đặt khoa học - kỹ thuật và giáo dục nằm ở vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội; tăng cường thực lực khoa học - kỹ thuật và năng lực chuyển hóa lực lượng sản xuất hướng tới hiện thực của đất nước; nâng cao tố chất văn hóa khoa học - kỹ thuật của toàn dân”.② Đại hội
đại biểu nhân dân toàn quốc đã thông qua “Luật giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, là bộ luật giáo dục cơ bản quan trọng nhất, vị trí chiến lược của giáo dục đã có tính bảo đảm của luật pháp Năm 1996, kỳ họp thứ IV khóa 8 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã chính thức đưa ra “kế hoạch 5 năm lần thứ 9 phát triển kinh tế và xã hội quốc dân và mục tiêu tới năm 2010”, từ đây chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” trở thành quốc sách cơ bản của Trung Quốc Năm 1997, Đại hội Đảng lần thứ XV một lần nữa xác định chiến lược phát triển đất nước “Khoa giáo hưng
quốc”
Trên cơ sở của sự nghiệp khoa học - kỹ thuật và giáo dục thực tại, chiến lược
“Khoa giáo hưng quốc” tăng cường thúc đẩy thực thi phát triển khoa học - kỹ thuật
và giáo dục Lĩnh vực khoa học - kỹ thuật phải tiến hành từ việc tăng cường nghiên
② 科教兴国是指全面落实科学技术是第一生产力的思想,坚持教育为本,把科技和教育摆在经济、社 会发展的重要位置,增强国家的科技实力及向现实生产力转化的能力,提高全民族的科技文化素质
Trang 26cứu khoa học cơ bản, phát triển kỹ thuật mới công nghệ cao thực hiện sản nghiệp hóa, thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, tăng cường đội ngũ nghiên cứu, xây dựng hệ thống sáng tạo quốc gia…Lĩnh vực giáo dục phải tiến hành từ việc kiên trì phương châm “ba phương diện”, tăng cường giáo dục cơ sở, cải cách giáo dục đại học, tăng cường phát triển giáo dục nghề, cải cách thể chế giáo dục, không ngừng tăng nguồn đầu tư cho giáo dục, đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ giáo viên…
Do đó, tư tưởng khoa giáo hưng quốc được thai nghén từ thời Trung Quốc mới, trải qua hơn 40 năm đặc biệt là sau 20 năm kể từ khi cải cách, tư tưởng ấy cuối cùng đã chính thức được thực hiện Chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” đã mang lại những cơ hội phát triển mà trước nay chưa từng có đối với sự nghiệp khoa học - kỹ thuật và giáo dục của Trung Quốc, cũng từ đó cung cấp những động lực to lớn trước nay chưa từng có cho sự phát triển kinh tế - xã hội Chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” nhằm giải quyết vấn đề đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới của một quốc gia đang phát triển có hơn 1.3 tỷ dân với trình độ văn hóa thấp, chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” là nhằm thu hẹp khoảng cách giữa Trung Quốc với các quốc gia phát triển, đưa ra một con đường để giải quyết vấn đề lịch sử
- thực hiện hiện đại hóa Trung Quốc là quốc gia vẫn còn non yếu về cơ sở khoa giáo cho nên việc thực thi chiến lược cần phải thực hiện một cách toàn diện, đó có thể là một quá trình lâu dài, và con đường trước mắt còn rất nhiều chông gai, nhưng mục tiêu và phương hướng của chiến lược là không thay đổi
Giai đoạn phát triển chiến lƣợc “Khoa giáo hƣng quốc”, giai đoạn này gắn
liền với đại diện mới Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào, đối mặt với biến đổi cục diện thế giới, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm trong quá trình thực thi chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”, công tác giáo dục của Trung Quốc đưa ra những quan điểm mới, lý luận và cách thực thi mới trong hoàn cảnh mới, khiến cho chiến lược không ngừng phát triển
Phát biểu tại Đại học Thanh Hoa nhân 100 năm thành lập trường, vào ngày 24/4/2011, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào không quên kêu gọi sinh viên nuôi
Trang 27tham vọng, còn các giáo viên cần khuyến khích sinh viên phát huy cá tính bằng suy nghĩ độc lập “Tôi hy vọng các sinh viên trẻ cố gắng phát triển xuất sắc cả học thuật lẫn đạo đức, cả về tư tưởng đổi mới và những kinh nghiệm thực hành của họ và kết hợp chung sự phát triển của chúng với những đặc trưng cá nhân của mình” [31, tài liệu mạng] Không chỉ nuôi tham vọng, ông nhắc sinh viên cần cù và phấn đấu để xây dựng tương lai.Với các nhà giáo dục, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh, cần làm việc theo đạo đức nghề nghiệp và khuyến khích sinh viên phát huy cá tính theo suy nghĩ độc lập
Trong hội nghị tăng cường và trau dồi công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho sinh viên tại Bắc Kinh ngày 17 – 18/01/2005, Hồ Cẩm Đào đã nhận định: “phải thiết thực tăng cường và trau dồi công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho sinh viên, bồi dưỡng đội ngũ nhân tài có phẩm chất tư tưởng cao thượng, đạo đức tốt, có bản lĩnh và kiến thức phong phú thiết yếu về sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa; để lớp sinh viên bắt kịp tiến độ của thời đại, vận mệnh của tổ quốc và khí thế của dân tộc; đây là mục tiêu lớn để đảm bảo cho công cuộc xây dựng xã hội tiểu khang, thực hiện hiện đại hóa; nó cũng có ý nghĩa chiến lược lâu dài để đảm bảo cho sự trỗi dậy của dân tộc Trung Hoa” [48, tài liệu mạng].③
Tóm lại, những quan điểm khoa giáo hưng quốc của 3 thế hệ đại biểu Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào đều nhằm duy trì sự phát triển sự nghiệp khoa giáo, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ các phương diện kinh tế - xã hội đất nước Trong suốt quá trình thai nghén, hình thành và phát triển của chiến lược
“Khoa giáo hưng quốc”, sự nghiệp khoa giáo ở Trung Quốc ngày càng được chú trọng, mức độ phụ thuộc của sự phát triển kinh tế - xã hội vào khoa giáo ngày càng mật thiết, khoa học - kỹ thuật và giáo dục ngày càng có vị trí nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc
③ 切实加强和改进大学生思想政治教育工作,培养造就千千万万具有高尚思想品质和良好道德修养、 掌握现代化建设所需要的丰富知识和扎实本领的优秀人才,使大学生们能够与时代同步伐、与祖国 共命运、与人民齐奋斗,这对于确保实现全面建设小康社会、进而实现现代化的宏伟目标,确保实 现中华民族的伟大复兴,具有重大而深远的战略意义。
Trang 281.3 Nội dung cơ bản của chiến lƣợc
Dưới sự chỉ đạo của tư tưởng lấy khoa học - kỹ thuật làm lực lượng sản xuất
số một, phải kiên trì giáo dục làm nền tảng, đặt khoa học - kỹ thuật và giáo dục nằm ở vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội; tăng cường thực lực khoa học - kỹ thuật và năng lực chuyển hóa lực lượng sản xuất hướng tới hiện thực của đất nước; nâng cao tố chất văn hóa khoa học - kỹ thuật của toàn dân, xây dựng nền kinh tế dựa vào tiến bộ khoa học - kỹ thuật và đề cao tố chất của người lao động; gia tăng tốc độ xây dựng đất nước phồn thịnh
科教兴国战略的主要内容是:在科学技术是第一生产力思想的指导下,坚持教育为本,把科技和教育摆在经济、社会发展的重要位置,增强国家的科技实力及向现实生产力转化的能力,提高全民族的科技文化素质,把经济建设转移到依靠科技进步和提高劳动者素质的轨道上来,加速实现国家的繁荣昌盛。
Thực thi chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” vừa phải phát huy hết vai trò tác dụng của khoa học - kỹ thuật và giáo dục để chấn hưng phát triển đất nước, vừa phải bồi dưỡng vun đắp nền tảng chấn hưng đất nước – khoa học - kỹ
thuật và giáo dục
Trước mắt càng cần chú trọng tới khoa học - kỹ thuật và giáo dục, vì sự
phát triển ổn định lâu dài cũng như phát triển trước mắt của quốc gia thì phải làm tốt từ nền tảng này Nâng cao hiệu suất cống hiến của người lao động đối với việc tăng trưởng kinh tế, nhanh chóng xây dựng xí nghiệp khoa học - kỹ thuật cao, đồng thời cần phải tăng cường nâng cao tố chất toàn dân tộc, tăng cường giáo dục cơ sở, chú trọng bồi dưỡng nhân tài, coi trọng công trình nghiên cứu có tính sáng tạo Khoa học - kỹ thuật và giáo dục có hai vai trò lớn là: vừa có thể đáp ứng cho sự phát triển kinh tế xã hội trước mắt, lại vừa là nền tảng cần và đủ để đáp ứng cho sự phát triển ổn định và lâu dài Khoa học - kỹ thuật và giáo dục ngày nay có thể đáp ứng nguồn nhân tài, tri thức, kỹ thuật
Trang 29cho sự phát triển kinh tế xã hội Từ đó mang lại hiệu quả cho nền kinh tế xã hội Đó chính là cái lợi có được khi chúng ta biết đầu tư cho khoa học - kỹ thuật và giáo dục
1.3.1.Khoa học - kỹ thuật là lực lượng có tính quyết định tới việc thúc đẩy phát triển tiến bộ xã hội
Ngay từ năm 1975 đến trước cuộc cải cách mở cửa, Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Trung Ương Đảng Cộng sản đã tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống những quan điểm sai lầm của bè lũ bốn tên: coi “Tri thức là những kẻ xấu xa”, “thà cần những người lao động không có văn hóa”, “tri thức càng nhiều càng phản động” Đặng Tiểu Bình đã phê phán và đưa ra quan điểm đúng đắn “ khao học kỹ thuật là lực lượng sản xuất, nhân viên khoa học kỹ thuật là người lao động” Quan điểm này đã thu hút được cả một đội ngũ đông đảo trí thức khoa học đang bị nghi ngờ, coi thường, bị đầy dọa ra vùng viễn biển, hầm mỏ, tham gia lao động cơ bắp để
“cải tạo” trở về phấn khởi lao động sáng tạo cống hiến cho công cuộc hiện đại hóa đất nước
Tháng 3 năm 1978 tại lễ khai mạc Đại hội Khoa học toàn quốc, Đặng Tiểu
Bình nhấn mạnh: “Bốn hiện đại hóa quan trọng nhất là hiện đại hóa khoa học - kỹ thuật Không hiện đại hóa khoa học - kỹ thuật, cũng không thể có nền kinh tế phát triển tốc độ cao.” [15, tr.86]④ Khi đó, địa vị chiến lược của khoa học - kỹ thuật trong sự nghiệp hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc đã bắt đầu được xác lập Cùng với sự phát triển sâu rộng của công cuộc cải cách mở cửa, năm 1988 tại bài phát biểu tổng kết sức mạnh của xu thế phát triển đương đại và sự phát triển kinh tế xã hội thế giới đã khẳng định vai trò mấu chốt của khoa học - kỹ thuật trong
sự phát triển của xã hội loài người và vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng xã
hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc : “Mac từng nói, khoa học - kỹ thuật là lực lượng sản xuất, thực tế chứng minh điều đó là đúng Theo tôi, khoa học - kỹ thuật là lực
④ 四个现代化,关键是科学技术现代化。没有现代科学技术,就不可能建设现代农业,现代工业,现 代国防。没有科学技术的高速发展,也就不可能 有国民经济的高速度发展
Trang 30lượng sản xuất hàng đầu” [16,tr.274]⑤ Đồng thời đây cũng thể hiện sự phát triển mang tính sáng tạo của học thuyết Mac về lực lượng sản xuất
Đặng Tiểu Bình đã đưa ra con số so sánh thật khích động và đáng lo lắng: Mỹ
có 120 vạn người làm công tác nghiên cứu, Liên Xô có 90 vạn, còn Trung Quốc chỉ
có 20 vạn, mà bao gồm cả người già yếu, bệnh tật, người không dùng được Có lẽ đằng sau những con số trên, ông còn trăn trở là Trung Quốc có tới trên 1 tỷ dân cư,
so với Mỹ, Liên Xô đông gấp 4.5 lần mà tỷ lệ đội ngũ khoa học kỹ thuật lại quá thấp Đó chỉ là sự thiếu hụt một đội ngũ khoa học ngay từ con số đơn thuần mà chưa nói đến những cơ sở về chất vốn tri thức và sự đồng bộ tổ chức hợp lý của nó Mục đích cuối cùng của phát triển khoa học - kỹ thuật là để phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội Thời đại của nền kinh tế tri thức là một minh chứng hùng hồn Đặng Tiểu Bình rất chú trọng vấn đề kết hợp giữa khoa học và kinh tế
Năm 1985, tại Hội nghị công tác khoa học - kỹ thuật toàn quốc có phát biểu: “Hiện tại cần đẩy mạnh giải quyết sự kết hợp với kinh tế, đẩy mạnh nghĩa là sau khi giải quyết vấn đề nhận thức, phương châm cần phải giải quyết vấn đề thể chế” [16,
tr.108]⑥ Cải cách thể chế kinh tế và thể chế khoa học - kỹ thuật sẽ bước đầu thực hiện phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học - kỹ thuật, bước đầu giải quyết vấn đề tách rời mối liên hệ khoa học - kỹ thuật và kinh tế, giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất
Giang Trạch Dân là hạt nhân thế hệ lãnh đạo thứ ba của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trên cơ sở những kinh nghiệm hiểu biết về công tác khoa học - kỹ thuật trong nhiều năm cùng những kiến giải độc đáo về xu thế phát triển khoa học - kỹ thuật trên thế giới hiện nay, Giang Trạch Dân tiếp thu và phát huy tư tưởng “khoa học -
kỹ thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu” của Đặng Tiểu Bình Năm 1994, trong lời
mở đầu cuốn sách “Tri thức cơ sở khoa học - kỹ thuật hiện đại”(Cán bộ tuyển đọc)
có đoạn: “Khoa học - kỹ thuật là động lực chính phát triển sức sản xuất, là tiêu chí
⑤ 马克思说过,科学技术是生产力,事实证明这话讲得很对。依我看,科学技术是第一生产力
⑥ 现在要进一步解决和经济结合的问题。所谓进一步,就是说,在方针问题、认识问题解决之后还要 解决体制问题
Trang 31chính tiến bộ xã hội nhân loại Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, mỗi bước đột phá của khoa học - kỹ thuật đều làm tạo bước tiến mạnh mẽ cho xã hội nhân loại và làm thay đổi sâu sắc lực lượng sản xuất.”⑦ “Khoa học - kỹ thuật ngày càng thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội và phát triển kinh tế, trở thành nhân tố linh động nhất thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại, xét cho cùng khoa học - kỹ thuật là lực lượng có tính quyết định sự tiến bộ của
xã hội hiện đại” [17, tr.101]⑧ Quan điểm về động lực khoa học - kỹ thuật của Giang Trạch Dân là sự kết hợp giữa quan điểm “lực lượng sản xuất là lực lượng quyết định cuối cùng đến sự phát triển của xã hội nhân loại” của Mác và quan điểm
“khoa học - kỹ thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu” của Đặng Tiểu Bình Quan
điểm trên xác định rõ khoa học - kỹ thuật hiện nay đã trở thành lực lượng quyết định thúc đẩy tiến bộ xã hội, là vấn đề then chốt trong cuộc cạnh tranh sức mạnh tổng hợp với các nước trên thế giới, cho thấy sự liên hệ tất yếu, nội tại của khoa học
- kỹ thuật và sự nghiệp hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, là cơ sở lý luận vững chắc để xác lập chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”
Đồng thời Giang Trạch Dân cũng rất chú trọng tới các vấn đề sản xuất trong quá trình ứng dụng khoa học - kỹ thuật, xây dựng quan điểm lý luận khoa học - kỹ thuật độc đáo của riêng mình: Khoa học - kỹ thuật không có thế giới, cần phải tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế về khoa học - kỹ thuật Giang Trạch Dân chỉ rõ:
“Trong thế kỷ XXI, vấn đề khoa học - kỹ thuật sẽ ngày càng trở thành vấn đề quan trọng Vấn đề hạt nhân là tiến bộ khoa học - kỹ thuật phục vụ cho toàn nhân loại, phục vụ cho sự nghiệp tiến bộ, phát triển và hòa bình thế giới, mà không nguy hại tới nhân loại Xây dựng và hoàn thiện quan điểm khoa học này, tôn trọng và hợp lý quyền bảo hộ tri thức, chính sách chỉ đạo lợi ích chung của các quốc gia đối với
⑦ 科学技术是生产力发展的重要动力,是人类社会进步的重要标志。纵观人类文明的发展史,科学技 术的每一次重大突破,都会引起生产力的深刻变革和人类社会的巨大进步
⑧ 科学技术日益渗透于经济发展和社会生活各个领域,成为推动现代生产力发展的最活跃的因素,并 且归根到底是现代社会进步的决定性力量
Trang 32việc nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và ứng dụng nó Đó là những vấn đề lớn mà chúng ta cần phải chú trọng giải quyết trong thế kỷ XXI” [17, tr.217]⑨
Trên cơ sở quan điểm khoa học của Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân thế
hệ thứ 4 Hồ Cẩm Đào đã tổng kết tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới, đã đưa ra quan điểm phát triển khoa học – một quan điểm phát triển hoàn toàn mới để duy trì phát triển nội tại Ngày 17/12/2004 tại buổi học 18 của Bộ Chính trị
Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào trình bày quan điểm: “cần phải kiên trì gây dựng và thực hiện quan điểm phát triển khoa học…cố gắng phát huy vai trò to lớn của sự sáng tạo và tiến bộ khoa học - kỹ thuật trên con đường phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy hơn nữa sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa” [27, tài liệu mạng]⑩ Có thể thấy rằng, muốn thực hiện quan điểm phát
triển khoa học bắt buộc phải dựa vào sự sáng tạo và tiến bộ khoa học - kỹ thuật Dù cho kết cấu kinh tế có ưu hóa, nền kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ cũng không thể
xa rời sự sáng tạo và tiến bộ của khoa học - kỹ thuật Vấn đề mà quan điểm phát triển khoa học nêu ra chính là chúng ta phải có nhận thức sâu sắc hơn về khoa học -
kỹ thuật, chúng ta phải đề cao khoa học - kỹ thuật và cả việc ứng dụng khoa học -
kỹ thuật
1.3.2 Giáo dục là nền móng xây dựng đất nước
Ngày nay, sự phát triển của một quốc gia được người ta nhìn nhận và so đo bằng những con số kinh tế, vì đây là mặt nổi nhất, có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của con người Những con số sản xuất công nghiệp, những thành tựu sản xuất nông nghiệp, buôn bán trao đổi trên thị trường, những thu nhập – đó là những nhân
tố trực tiếp để khẳng định, chứng minh cho sự phát triển Nhưng chúng ta biết, sự
⑨ 在21世纪,科学伦理的问题将越来越突出。核心问题是,科学技术进步应服务于全人类,服务于世 界和平、发展与进步的崇高事业,而不能危害人类自身。建立和完善高尚的科学伦理,尊重并合理 保护知识产权,对科学技术的研究和利用实行符合各国人民共同利益的政策引导,使21世纪人们应 该注重解决的一个重大问题
⑩ 要坚定不移地树立和落实科学发展观…充分发挥科技进步和创新在经济社会发展中的巨大作用,更 好地推进我国社会主义现代化建设
Trang 33phát triển này đều do con người mà có, nói cho cùng là nhờ trí tuệ lao động của con người tạo nên
Trí tuệ của một dân tộc, tố chất của một dân tộc là cơ sở bền vững quyết định
sự phát triển tốc độ lâu dài Đó là cách nhìn của tầm xa có tính chiến lược: “Muốn bốn hiện đại hóa phải dựa vào tri thức, dựa vào nhân tài Chính sách sai có thể dễ dàng sửa chữa, còn tri thức thì không thể lập tức có được, nhân tài cũng không phải một hai ngày mà đào tạo được, chính điều đó phải nắm lấy giáo dục Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài là kế lớn căn bản dài lâu” “Giáo dục là sự nghiệp căn bản nhất của một dân tộc”, đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng là nâng cao tố chất người
lao động và bồi dưỡng nhân tài Phát triển giáo dục không chỉ là điều kiện tất yếu để duy trì tăng trưởng kinh tế, phát triển khoa học - kỹ thuật, và vì tiến bộ của toàn xã hội; phát triển giáo dục còn là con đường tất yếu để nâng cao tố chất toàn dân tộc, tạo bước đột phá cho sự nghiệp hiện đại hóa đất nước
Đặng Tiểu Bình thể hiện quan điểm của mình về vai trò, vị trí của giáo dục đối
với sự nghiệp phát triển đất nước: “thực hiện bốn hiện đại hóa, khoa học là then chốt, giáo dục là cơ sở, nhân tài là căn bản”, 11 “phát triển nhanh nền kinh tế, tất phải dựa vào khoa học và giáo dục”, 12 “tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài”
Trong xã hội hiện đại, giáo dục có nhiệm vụ quan trọng là phụ trách việc bồi dưỡng nhân tài khoa học - kỹ thuật, nâng cao tố chất của người lao động Phát triển giáo dục không những là điều kiện cần có để sáng tạo khoa học - kỹ thuật, duy trì tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội; mà đó còn là con đường bắt buộc để nâng cao tố chất dân tộc, tạo nên ưu thế về nguồn nhân lực, tạo bước đột phá cho sự nghiệp hiện đại
hóa đất nước Cho nên Đặng Tiểu Bình từng nói: “Đất nước chúng ta một tỷ dân, giáo dục nâng cao thì ưu thế vượt trội về nhân tài không có quốc gia nào có thể sánh được, có ưu thế nhân tài, lại có chế độ xã hội chủ nghĩa tiên tiến, mục tiêu của
11 实现四个现代化,科技是关键,教育是基础,人才是根本
12 经济发展地快一点,必须依靠科技和教育
Trang 34chúng ta là có thể đạt được…” [16, tr.120]13 Chính quyền trung ương phải cố gắng nắm bắt giáo dục, hơn nữa phải nắm bắt từ bậc tiểu học, đây là cái nhìn có tính chiến lược Nếu toàn Đảng không đề xuất được nhiệm vụ như vậy, thì sẽ lỡ việc lớn,
sẽ phải gánh chịu trách nhiệm lịch sử Nhân tài đã trở thành một trong những nguồn tài nguyên chiến lược của thời đại kinh tế tri thức
Trên cơ sở lý luận giáo dục của Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đưa ra quan điểm giáo dục là nền móng xây dựng đất nước, và nhấn mạnh giáo dục là cơ
sở của tiến bộ khoa học - kỹ thuật “Xã hội phát triển, kinh tế phồn vinh, khoa học -
kỹ thuật tiên tiến, quyết định ở việc nâng cao tố chất người lao động, bồi dưỡng thế
hệ nhân tài” [29, tài liệu mạng]14 Muốn nâng cao tố chất người lao động và bồi dưỡng thế hệ nhân tài thì phải dựa vào giáo dục Quan điểm “giáo dục là nền móng xây dựng đất nước” mang dáng dấp của thời đại: Xã hội hiện đại đặc biệt là thời đại kinh tế tri thức, vai trò xã hội của giáo dục không thể như “học nhi ưu tắc sĩ” của xã hội cổ đại, mà phải truyền bá tri thức văn hóa khoa học, thúc đẩy tiến bộ khoa học -
kỹ thuật, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao tố chất toàn dân để từ đó thúc đẩy các phương diện phát huy sức mạnh Giáo dục có tính sản xuất, giáo dục là lực lượng sản xuất cơ sở, kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ tất phải dựa vào giáo dục Trong bối cảnh đó, Giang Trạch Dân đã đưa ra quan điểm mới về vai trò của đội ngũ cán bộ
khoa học - kỹ thuật: “Cán bộ khoa học - kỹ thuật là người phát triển lực lượng sản xuất….tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, động viên tính chủ động, sáng tạo của cán bộ khoa học - kỹ thuật, là tiền đề cho việc giải phóng lực lượng lao động khoa học - kỹ thuật” [17, tr.23]15.Những năm gần đây, những quyết sách của Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Quốc Vụ Viện liên quan tới cải cách và phát triển
13 一个十亿人口的大国,教育搞上去了,人才资源的巨大优势是任何国家比不了的。有了人才优势, 再加上先进的社会主义制度,我们的目标就有把握达到。
14 科技进步、经济繁荣和社会发展,从根本上说取决于提高劳动者的素质,培养大批人才
15 科学技术人员是新的生产力的开拓者…尊重知识,尊重人才,充分调动广大科技人员的积极性、主 动性和创造性,是解放科技生产力的前提。
Trang 35giáo dục đã chứng minh việc thực thi vị trí chiến lược ưu tiên phát triển giáo dục là nội dung cốt lõi của chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”
1.3.3 Nâng cao năng lực sáng tạo
Khoa học - kỹ thuật muốn tiến bộ, thì sự sáng tạo là then chốt Trong thời đại kinh tế tri thức, năng lực sáng tạo của một quốc gia đặc biệt là năng lực sáng tạo tri thức và sáng tạo khoa học - kỹ thuật là nhân tố quan trọng quyết định địa vị của quốc gia đó trên trường quốc tế, Ngay từ rất sớm Đặng Tiểu Bình đã chỉ rõ tính quan trọng của sự sáng tạo khoa học - kỹ thuật Năm 1978, khi nói về vấn đề áp
dụng kỹ thuật tiên tiến và phương pháp quản lý cải tạo xí nghiệp, đã chỉ rõ: “Muốn nâng cao trình độ quản lý và khoa học - kỹ thuật, không có sự sáng tạo là không được” [15, tr.131]16
“Nắm vững kỹ thuật mới phải học hỏi và có sự sáng tạo” [15,
tr.51]17
Trong bài phát biểu tại Đại hội Viện sĩ lần thứ năm của Viện công trình Trung
Quốc Giang Trạch Dân đã chỉ rõ: “Lịch sử nhân loại, chính là quá trình không ngừng sáng tạo, không ngừng tiến bộ Không có sáng tạo thì không có tiến bộ nhân loại, không có tương lai nhân loại” “Sáng tạo là linh hồn tiến bộ dân tộc, là động lực của một quốc gia phát triển” [17, tr.42]18 Tháng 08/1999, tại Đại hội sáng tạo
khoa học - kỹ thuật toàn quốc do Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc
Vụ Viện triệu tập, Giang Trạch Dân đã chỉ rõ: “Sáng tạo khoa học - kỹ thuật ngày càng trở thành tiêu chí và cơ sở quan trọng để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất của xã hội ngày nay, ngày càng quyết định đến tiến trình phát triển một quốc gia, một dân tộc Nếu như không thể sáng tạo, thì dân tộc khó có thể hưng thịnh, khó có được chỗ đứng trên trường quốc tế” [17, tr.57]19 Trước tiên Trung
Quốc phải giải quyết các vấn đề về sự bất hợp lý của kết cấu kinh tế, trình độ lao
16 要提高我们的技术水平、管理水平,没有一定的创造性不行
17 掌握新技术,要善于学习,更要善于创新
18 整个人类历史,就是一个不断创新、不断进步的过程。没有创新,就没有人类的进步,就没有人类 的未来。”,“创新是一个民族进步的灵魂,是国家兴旺发达的不竭动力。
19 科技创新已越来越成为当今社会生产力的解放与发展的重要基础和标志,越来越决定着一个国家、 一个民族的发展进程。如果不能创新,一个民族就难以兴盛,难以屹立于世界民族之林。
Trang 36động khoa học - kỹ thuật thấp, năng suất lao động thấp, chất lượng tăng trưởng kinh
tế không cao…cần phải thực hiện phát triển kinh tế xã hội tốc độ nhanh, tăng cường khả năng cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp quốc gia, phát triển nền kinh tế tri thức, học hỏi những kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là khả năng tự tìm tòi, tự sáng tạo Là một đất nước đang phát triển, Trung Quốc cần phải có khả năng chủ động sáng tạo, nắm chắc quyền chủ động trong phát triển khoa học - kỹ thuật Quan điểm của Giang Trạch Dân đã chỉ rõ phương hướng phát triển khoa học - kỹ thuật Trung Quốc, là động lực tinh thần để phát triển sự nghiệp khoa học - kỹ thuật trong thời đại mới
Hồ Cẩm Đào đề cập tới chiến lược phát triển đất nước, những mục tiêu và yêu cầu sáng tạo cụ thể Ngày 09/01/2006, tại Đại hội khoa học - kỹ thuật toàn quốc Hồ
Cẩm Đào có bài phát biểu với tiêu đề “kiên trì đi theo con đường sáng tạo tự chủ đặc sắc Trung Quốc, nỗ lực phấn đấu xây dựng quốc gia theo mô hình sáng tạo”
Quốc gia theo mô hình sáng tạo là việc coi sáng tạo khoa học - kỹ thuật là chiến lược cơ bản để phát triển đất nước, đề cao năng lực sáng tạo khoa học - kỹ thuật, xây dựng ưu thế cạnh tranh cho đất nước Thế giới đã công nhận có khoảng 20 quốc gia thuộc mô hình sáng tạo như: Mĩ, Nhật Bản, Phần Lan, Hàn Quốc… Đó là những quốc gia có chỉ số sáng tạo tổng hợp cao, mức độ cống hiến của tiến bộ khoa học -
kỹ thuật trên 70%, đầu tư cho phát triển nghiên cứu thường chiếm 2% GDP, số lượng bản quyền sáng chế phát minh chiếm 99% tổng số lượng trên thế giới Trước kia năng lực sáng tạo khoa học - kỹ thuật Trung Quốc còn yếu kém, theo báo cáo nghiên cứu có liên quan, năm 2004 năng lực sáng tạo khoa học - kỹ thuật của Trung Quốc nằm trong danh sách 49 quốc gia chủ yếu (chiếm 92% GDP thế giới), Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 24, vẫn còn kém xa so với tiêu chuẩn của một quốc gia theo
mô hình sáng tạo [28, tr.92] Do đó, Trung Quốc xác định phải làm cho sáng tạo khoa học - kỹ thuật trở thành động lực nội tại của sự phát triển kinh tế - xã hội
“Ngày nay, ai nắm giữ ưu thế về tri thức và sáng tạo khoa học - kỹ thuật, người đó
Trang 37sẽ nắm được quyền chủ động phát triển” [48, tài liệu mạng]20 Hồ Cẩm Đào cũng
tuyên bố mục tiêu phát triển khoa học - kỹ thuật Trung Quốc trong 15 năm tới: Năm
2020 xây dựng quốc gia theo mô hình sáng tạo, làm cho phát triển khoa học - kỹ thuật trở thành trụ cột phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020 mức độ cống hiến của tiến bộ khoa học - kỹ thuật với tăng trưởng kinh tế phải nâng cao từ 39% hiện tại đến trên 60%, tỷ trọng đầu tư nghiên cứu phát triển của toàn xã hội phải nâng cao từ 1.35% GDP đến 2.5% GDP [49, tài liệu mạng] Xây dựng đất nước theo mô hình sáng tạo là một quyết sách chiến lược, có liên quan tới cục diện xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa thế kỷ mới, có liên quan tới vận mệnh và tiền đồ cả dân tộc Trung Hoa, cũng là sự sáng tạo to lớn trong lý luận xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa
Dưới sự chỉ đạo của lý luận sáng tạo và quan điểm phát triển khoa học - kỹ thuật, chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” đã đạt được những bước đi quan trọng Đề cao năng lực sáng tạo tự chủ được đặt ở vị trí nổi bật trong công tác khoa học - kỹ thuật, tăng cường năng lực sáng tạo tự chủ đã trở thành chiến lược quốc gia, được quán triệt đến các địa phương, các ngành nghề, các lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa Dựa vào tiến bộ khoa học - kỹ thuật để duy trì sự phát triển xã hội, dựa tiến bộ khoa học - kỹ thuật để thực hiện các chiến lược như: gia tăng tốc độ sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế đất nước, tiếp tục cải cách thể chế giáo dục và sự xâm nhập mạnh mẽ của khoa học -
kỹ thuật, tăng cường xây dựng thể chế sáng tạo quốc gia, ưu tiên phát triển giáo dục
để đảm bảo nền tảng cho sáng tạo khoa học - kỹ thuật, tăng cường xây dựng đội ngũ
có trình độ khoa học - kỹ thuật… Đối diện với sự cạnh tranh của nền kinh tế tri thức, chúng ta phải kiên trì nâng cao năng lực tự chủ nghiên cứu, tăng cường bồi dưỡng lực lượng khoa học - kỹ thuật mới, nhanh chóng xây dựng hệ thống sáng tạo khoa học - kỹ thuật hoàn chỉnh, bao gồm hệ thống sáng tạo tri thức với hạt nhân là các cơ quan nghiên cứu khoa học quốc lập và mô hình nghiên cứu khoa học trong
20 当今时代,谁在知识和科技创新方面占据优势,谁就能够在发现上掌握主动
Trang 38các trường đại học, hệ thống sáng tạo kỹ thuật với chủ thể là các nhà máy xí nghiệp
và xã hội Hệ thống sáng tạo khoa học - kỹ thuật này phải trở thành cơ sở để kinh tế
- xã hội phát triển lâu dài, trở thành cái nôi bồi dưỡng và nâng cao tố chất nhân tài, trở thành lực lượng hậu thuẫn cho sức mạnh tổng hợp của quốc gia và khả năng cạnh tranh quốc tế
1.3.4 Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài
Nhân tài là nguồn tài nguyên quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội Tiến trình xây dựng hiện đại hóa đất nước quyết định nhiều ở việc sử dụng nguồn nhân lực và tố chất của người lao động
Báo cáo tại Hội nghị cán bộ từ cấp thứ trưởng trở lên của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính quyền và quân sự ngày 02/11/1978 với tiêu đề “Cán
bộ cao cấp cần phải đi đầu phát huy truyền thống tốt đẹp của Đảng” đã đưa ra vấn
đề xây dựng chế độ chức danh khoa học, vấn đề xây dựng chức danh khoa học, vấn
đề đào tạo và khẳng định nhân tài, đề bạt và chế độ đãi ngộ tiền lương, chống lại chế độ bình quân chủ nghĩa, chống lại cách nhìn cứ như là thủ trưởng đơn vị thì lương cao nhất cơ quan Trung Quốc đã có cách nhìn nhận, đánh giá khoa học mới: Nghiên cứu viên giỏi có thể lương cao hơn viện trưởng, lương giáo sư có thể cao hơn lương hiệu trưởng “Cần phải chú ý giải quyết tốt vấn đề đãi ngộ đối với số trí thức cao cấp, phát huy tích cực, tôn trọng họ, chắc chắn sẽ có một lớp người cống hiến ngày càng nhiều” “Phải nắm vững công tác đào tạo, bồi dưỡng tuyển chọn nhân tài mới có thể tiến hành được 4 hiện đại hóa”
Định hướng giáo dục tuyển chọn nhân tài và có chính sách đãi ngộ khích lệ, xây dựng thành chế độ và thành nếp nghĩ giải phóng tư tưởng có một ý nghĩa thực
tế quan trọng Điều này có một ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với công cuộc cải cách của Trung Quốc
Đề đào tạo và tập hợp được đội ngũ nhân tài đất nước không chỉ có nhận thức
lý luận mà phải bắt tay thực thi Chính phủ Trung Quốc đã đặt vấn đề bắt đầu từ đào tạo ươm mầm nhân tài, quan tâm từ giáo dục trẻ em đến trung ương, đại học
Trang 39Nguyên tắc được đề ra rất cơ bản theo phương châm phổ cập và nâng cao, và phải bắt đầu từ tuyển chọn nghiêm túc công bằng qua thi cử, nghiêm minh nhất loạt Chú trọng chăm lo đời sống đội ngũ giáo viên, tôn trọng vai trò người thầy, bồi dưỡng chuyên môn, tư tưởng, tạo điều kiện để cán bộ khoa học chuyên tâm nghiên cứu Cần phải tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài
Kết quả chính sách tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài nằm ngay ở sự gia tăng ngày một nhiều số lượng lưu học sinh, nghiên cứu sinh, các cán bộ Trung Quốc đi tu nghiệp ở nước ngoài Trung Quốc cũng có số lượng khá đông người Hoa
là những nhà khoa học lớn kỹ nghệ gia, nhân viên kỹ thuật tiên tiến ở hàng chục nước trên thế giới như: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản…Cũng với tầm nhìn chiến lược như vậy, Trung Quốc đã triển khai kế hoạch mở cửa đón mời, tạo điều kiện sinh hoạt tốt cho các nhà khoa học là Hoa kiều phục vụ tổ quốc Đồng thời tiếp thu và khai thác có hiệu quả các thành tựu khoa học mà các quốc gia phát triển và nhân loại đã đạt được Trung Quốc mời các học giả nổi tiếng nước ngoài đến giảng bài, Trung Quốc coi đó là cách tốt để khai thác chất xám
Cách nhìn nhận đúng đắn về nhân tài, thu hút chất xám, sử dụng nguồn trí tuệ nhân tài nước ngoài đào tạo phục vụ cho con đường phát triển của Trung Quốc phát huy hiệu quả, góp phần làm giàu mạnh thêm cho lực lượng nhân tài còn thiếu hụt chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, tiến hành công cuộc 4 hiện đại hóa một cách
có hiệu quả
1.4 Chủ trương chính sách chủ yếu để thực thi chiến lược
Đặc trưng quan trọng của sự phát triển kinh tế thế giới ở những thập niên cuối của thế kỷ XX là khoa học công nghệ cao nhanh chóng được áp dụng vào sản xuất Chính vì vậy nhằm mục đích bắt kịp và đón đầu tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, ngay từ năm 1987 Trung Quốc đã có "kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật công nghệ cao" mà Trung Quốc gọi là "kế hoạch 863" Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch là theo dõi sự phát triển của thế giới về công nghệ tiên tiến
và đề xuất kế hoạch thực hiện phù hợp với Trung Quốc, trong đó ưu tiên công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, công nghệ vũ trụ,
Trang 40công nghệ lade, năng lượng mới và vật liệu mới, bao gồm 7 trọng điểm Các trọng điểm này được ưu tiên bố trí đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật giỏi để tiến hành nhiệm vụ nghiên cứu
Tháng 4 năm 1991, việc tập trung xây dựng một loạt các trường đại học và các ngành khoa học trọng điểm được đưa vào “Đề cương kế hoạch 5 năm lần thứ 8 và quy hoạch 10 năm phát triển xã hội và kinh tế quốc dân” trình Hội nghị lần thứ tư Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc khoá 7 phê chuẩn
Tháng 12 năm 1991, Uỷ ban Giáo dục quốc gia cùng với các các bộ ngành liên quan đã đệ trình lên Quốc vụ viện Trung Quốc và các cấp lãnh đạo báo cáo chuyên môn về vấn đề “Công trình 211” Ngày 26 tháng 8 năm 1992, kỉ yếu hội nghị Uỷ ban thường vụ Quốc vụ viện lần thứ 111 đã chỉ rõ: “Hội nghị đồng ý về nguyên tắc ý kiến quy hoạch “Công trình 211” nhằm xây dựng khoảng 100 trường đại học trọng điểm hướng tới thế kỉ 21 mà Uỷ ban giáo dục và các bộ ngành liên quan đề xuất”
Ngày 29 tháng 10 năm 1992, hội nghị Uỷ ban thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tổng bí thư Giang Trạch Dân chủ trì đã thảo luận về dự thảo “Đề cương cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc” Hội nghị cho rằng vấn đề xây dựng 100 trường đại học trọng điểm mà đề cương đưa ra là vô cùng quan trọng, thông qua việc xây dựng thành công các trường đại học này có thể tác động tích cực tới tất cả các trường trong cả nước
Tháng 1 năm 1993, trong văn kiện “Ý kiến về việc cải cách và tích cực phát triển giáo dục đại học và phổ thông” của Quốc vụ viện Trung Quốc gửi tới Uỷ ban Giáo dục quốc gia đã xác định rõ mục tiêu xây dựng của “Công trình 211”
Ngày 13 tháng 2 năm 1993, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và Quốc
vụ viện Trung Quốc đã chính thức ban hành “Đề cương cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc”, trong đó chỉ rõ “Cần tập trung các nguồn lực toàn diện từ Trung ương đến địa phương nhằm xây dựng thành công 100 trường đại học trọng điểm và một loạt các chuyên ngành và ngành khoa học trọng điểm”
Tháng 7 năm 1993, Uỷ ban giáo dục quốc gia Trung Quốc đã công bố “Một số
ý kiến về việc tập trung xây dựng một loạt trường đại học và ngành khoa học trọng