7 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU - Bảng 2.1: Thống kê tin, bài viết về tái cơ cấu DNNN trên Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp năm 2012 - Bảng 2.2: T
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẬU HUY SÁU
BÁO CHÍ NGÀNH TÀI CHÍNH VỚI VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành Báo chí
Hà Nội, 2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẬU HUY SÁU
BÁO CHÍ NGÀNH TÀI CHÍNH VỚI VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Văn Hường
Hà Nội, 2013
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu Các số liệu trong luận văn
rõ ràng và trung thực, các kết luận của luận văn này chưa từng được công bố trong các công trình khác
Tác giả
Đậu Huy Sáu
Trang 4Nhân đây, tôi xin gửi lời cám ơn đến Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia
Hà Nội), các thầy, cô phụ trách công tác giáo vụ đã giúp đỡ, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành khóa học đúng tiến độ và chất lượng
Xin cảm ơn các anh, chị, em học viên lớp Cao học Báo chí K15
đã động viên, cổ vũ, giúp đỡ nhau trong quá trình học tập
Hà Nội, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Đậu Huy Sáu
Trang 55
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT………
DANH MỤC BẢNG BIỂU ………
MỞ ĐẦU………
1 - Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài……… ………
2 - Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài……….… ……
3 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……… …
4 – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài………….……… … …
5 –Phương pháp nghiên cứu……… ……….… …
6 – Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài……….… …
7 – Kết cấu luận văn……….………
2 3 4 4 6 8 9 9 10 11 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ……… 12
1.1 – Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến DNNN, tái cơ cấu DNNN……… 12
1.2 – Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ……… 17
1.3 – Vai trò của báo chí đối với tái cơ cấu DNNN………
Tiểu kết chương 1 ………
24 30 Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN BÁO CHÍ NGÀNH TÀI CHÍNH……… 32
2.1- Khái quát về Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính và Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp ……… 32
2.2- Nội dung thông tin tái cơ cấu DNNN trên báo chí ngành Tài chính ……… 39
2.3– Hình thức chuyển tải thông tin của báo chí ngành Tài chính về tái cơ cấu DNNN 57
2.4 – Đánh giá hiệu quả bước đầu của thông tin báo chí với hoạt động tái cơ cấu DNNN
Tiểu kết chương 2………
74 78 Chương 3: KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI ……… 79
3.1 – Một số kinh nghiệm rút ra qua công tác thông tin tuyên truyền của báo chí ngành Tài chính về tái cơ cấu DNNN……… 79
3.2 –Một số vấn đề đặt ra trong việc thông tin, tuyên truyền tái cơ cấu DNNN trên báo chí ngành Tài chính……… 83
3.3- Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền về tái cơ cấu DNNN đối với báo chí ngành Tài chính trong giai đoạn mới………
Tiểu kết chương 3 ……….………
92 100 KẾT LUẬN ……….……… 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….……… … 106
PHỤ LỤC ……….……… 111
Trang 6- NHTM: Ngân hàng thương mại
- NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- CP: Cổ phần
- TMCP: Thương mại cổ phần
Trang 77
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
- Bảng 2.1: Thống kê tin, bài viết về tái cơ cấu DNNN trên Thời báo Tài
chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp năm 2012
- Bảng 2.2: Thống kê tin, bài viết về thực trạng hoạt động của DNNN
trên Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp năm 2012
- Bảng 2.3: Thống kê bài viết về những bình luận, phân tích và ý kiến
đóng góp vào chính sách và triển khai tái cơ cấu DNNN Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp năm 2012:
- Bảng 2.4: Thống kê bài viết về tình hình triển khai thực hiện tái cơ cấu
DNNN trên Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp năm 2012:
- Bảng 2.5: Thống kê thể loại bài viết về tái cơ cấu DNNN trên Thời báo
Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp năm 2012
- Bảng 2.6: Thống kê thể loại bài phỏng vấn về tái cơ cấu DNNN trên
Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp 2012
- Bảng 2.7: Thống kê các chủ đề bài phản ánh trên Thời báo Tài chính
Việt Nam, Tạp chí Tài chính và Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp năm
2012 về chủ đề tái cơ cấu DNNN
- Bảng 3.1: Thống kê số lƣợng phóng viên, Biên tập viên của Thời báo
Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính và Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp
Trang 8tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 đã được Quốc hội thông qua; có sự thống nhất cao về nhận thức trong mọi cấp về đổi mới, sắp xếp và tái cơ cấu DNNN
Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW Đảng khóa XI (họp từ ngày 6 đến ngày 10/10/2011) đã xác định: Tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là một trong 3 nhiệm vụ cấp bách của quá trình tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế nước ta, bao gồm tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cấu trúc DNNN
mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước
Kể từ khi đất nước đổi mới (năm 1986) đến nay, khối các DNNN đã có những đóng góp tích cực và hiệu quả đối với đời sống kinh tế - xã hội và công cuộc xây dựng phát triển đất nước Tuy nhiên, cùng với sự hội nhập mạnh mẽ
và sâu rộng với đời sống kinh tế thế giới, với những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam nói chung và khối doanh nghiệp nhà nước Việt Nam nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, những yếu kém, không ít DNNN đã lâm vào cảnh nợ nần, thua lỗ, không những gây thiệt hại cho nhà nước, mà còn mang lại những ảnh hưởng xấu trong mắt người dân (Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Vinashin, Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam Vinalines…), vì vậy thực tiễn khách quan đòi hỏi cần phải có giải pháp để khắc phục để nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng với nhu cầu
và điều kiện phát triển mới
Trang 99
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nghị quyết số 94/NQ-CP ngày 27/9/2011 của Chính phủ, Bộ Tài chính được giao chủ trì xây dựng Đề án tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2011 – 2015 Ngày 21-11/2011, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định
số 2799/QĐ-BTC về việc thành lập Ban Chỉ đạo Đề án Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước
Với vai trò tiên phong trên mặt trận văn hóa – tư tưởng, báo chí Việt Nam đã mạnh mẽ phát huy truyền thống, góp sức hiệu quả cho công cuộc bảo
vệ, xây dựng và phát triển đất nước Trong công cuộc đổi mới, báo chí Việt Nam đã tích cực tham gia vào mọi hoạt động của đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội, trở thành một diễn đàn thông tin uy tín và hiệu quả, góp sức xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách, cũng như góp phần tháo gỡ những vướng mắc, tồn tại, hạn chế trên bước đường phát triển và đổi mới
Phát huy những giá trị và truyền thống của dòng báo chí cách mạng, báo chí ngành Tài chính trong những năm qua đã thể hiện là kênh thông tin chính thống của Chính phủ và Bộ Tài chính về lĩnh vực tài chính – kinh tế, là diễn đàn tin cậy và hiệu quả trong lĩnh vực tài chính – kinh tế Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, trong thời gian qua, báo chí ngành Tài chính vẫn bộc lộ một số hạn chế, chưa phát huy hết hiệu quả những lợi thế của kênh thông tin chính thống của Bộ Tài chính – đôi lúc có những vấn đề “báo trong nhà” còn thông tin chậm hơn các báo bên ngoài ngành, thậm chí còn có những vấn đề mang tính “chuyên môn tài chính” còn để báo ngoài ngành đề cập sâu hơn, hấp dẫn hơn…
Việc triển khai tái cơ cấu DNNN được coi là một yêu cầu tất yếu, phù hợp với tiến trình chuyển đổi từ phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, để DNNN thực sự khẳng định vai trò then chốt của khu vực kinh tế nhà nước; Là quá trình tiếp tục của đối mới, sắp xếp DNNN được
Trang 1010
thực hiện một cách toàn diện từ hệ thống đến từng thực thể DNNN, đồng bộ, gắn với Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 -2015
Bộ Tài chính đƣợc giao là đơn vị chủ trì xây dựng Đề án tái cơ cấu DNNN và là đơn vị có trọng trách quan trọng trong việc triển khai đề án này Theo đó, báo chí ngành Tài chính nói riêng với thế mạnh của kênh thông chính thống của Bộ Tài chính, phải mang trên mình trọng trách đƣa những thông tin chính thống của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính lan tỏa một cách nhanh chóng, kịp thời và sâu rộng đến với mọi tầng lớp nhân dân Đồng thời cũng thu hút sự tham gia, góp sức của các giới trí thức, các chuyên gia kinh tế, các nhà quản lý, giới doanh nhân – doanh nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân vào xây dựng đề án và triển khai thực hiện đề án, từ đó tạo dựng sự đồng thuận xã hội cả về nhận thức và hành động, huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân để chung sức thực hiện thành công công cuộc tái cơ cấu DNNN
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, với kiến thức và kinh nghiệm nhất định
đã thu nhận đƣợc trong suốt thời gian học tập và làm báo tại một tờ báo là cơ quan ngôn luận của Bộ Tài chính, tác giả chọn đề tài “Báo chí ngành Tài chính với vấn đề tái cơ cấu DNNN” với mục đích cùng tìm kiếm giải pháp, cách thức hiệu quả hơn cho công tác thông tin, tuyên truyền về tái cơ cấu DNNN trên báo chí nói chung và báo chí ngành Tài chính nói riêng, góp phần tích cực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trong xu thế mới, cũng nhƣ giúp tác giả có thêm hiểu biết, kiến thức và kinh nghiệm phục vụ công việc của chính mình
2 – Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công cuộc tái cơ cấu DNNN đƣợc khởi động từ cuối năm 2011 với việc thực hiện Nghị Quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về Chiến lƣợc phát triển kinh tế -xã hội 2011 -2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
Trang 1111
hội 5 năm 2011 – 2015 Do đây là một chính sách mới, vừa được Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012, chính thức phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiê ̣p nhà nư ớc, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015”, nên chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào trực tiếp liên quan đến đề tài báo chí với vấn đề tái cơ cấu DNNN đã công bố tại các thư viện, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu ngành báo chí truyền thông
Tuy nhiên, thời gian qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu, các cuốn sách, luận văn, khóa luận có các vấn đề có liên quan đến đề tài như:
- “Báo chí góp phần hình thành và hoàn thiện chính sách tài chính đối
ngoại” – Luận văn Thạc sỹ truyền thông (2001) của tác giả Nguyễn Lê Anh,
bảo vệ tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền), Hà Nội
- “Báo chí góp phần hình thành và hoàn thiện chính sách tài chính ở
Việt Nam” – Luận văn Thạc sỹ truyền thông (2001) của tác giả Trần Đức
Khang, bảo vệ tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền), Hà Nội
- “Báo chí với công tác sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu
quả DNNN” – Khóa luận tốt nghiệp của chính tác giả (Đậu Huy Sáu - 2004),
bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội
- “Vai trò của báo chí trong phát triển doanh nghiệp” – cuốn sách do
TS Phạm Thắng – TS Hoàng Hải chủ biên, nxb Lao động, năm 2005
- “Tác động của báo chí đối với doanh nghiệp” – Luận văn Thạc sỹ
báo chí của tác giả Nguyễn Thanh Hương (2010), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 1212
Bên cạnh đó, cũng đã có một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn trên báo chí, các bài viết mang tính tham luận, phân tích, trao đổi, đóng góp ý kiến về vấn đề tái cơ cấu DNNN đăng trên các phương tiện thông tấn, báo chí của các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế, các nhà quản lý như: TS Lê Đăng Doanh,
TS Nguyễn Quang A, PGS.TS Trần Đình Thiên, TS Trần Du Lịch, TS Võ Trí Thành, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh…
Luận văn này là một trong những nghiên cứu mới mẻ, thông qua kinh nghiệm và thực tiễn hoạt động của chính tác giả trong nhiều năm làm báo ở một tờ báo chuyên ngành kinh tế - tài chính Nhất là việc tác giả luận văn đã thông qua việc khảo sát thông tin trên báo chí, mà tập trung là 3 tờ báo, tạp chí chuyên ngành của Bộ Tài chính là Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, cũng như thông qua việc tiếp xúc, khảo sát lấy ý kiến của các nhà quản lý, các nhà hoạt động chuyên môn, các đối tượng độc giả, các nhà báo chuyên viết về lĩnh vực doanh nghiệp, lĩnh vực tài chính – kinh tế… để thực hiện đề tài luận văn này
3 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 – Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Báo chí ngành Tài chính với vấn đề tái
cơ cấu doanh nghiệp nhà nước” là nhận diện, phân tích, đánh giá bước đầu thực trạng thông tin, tuyên truyền về hoạt động tái cấu trúc DNNN trên hệ thống báo chí ngành Tài chính, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của báo chí nói chung và báo chí ngành Tài chính nói riêng, góp phần thực hiện thành công tái cấu trúc DNNN theo tinh thần Nghị Quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 2011 -2020
Trang 1313
3.2 –Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tái cơ cấu DNNN và vai trò của báo chí đối với hoạt động này
- Phân tích, đánh giá thực trạng về cách thức tổ chức thông tin, nội dung thông tin về tái cơ cấu DNNN trên báo chí ngành Tài chính
- Nêu một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền về thực hiện tái cơ cấu DNNN trên báo chí nói chung, báo chí ngành Tài chính nói riêng
4 – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của báo chí ngành Tài chính với vấn đề thực hiện tái cơ cấu DNNN hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu là nội dung thông tin; cách thức tổ chức thông tin trên các báo Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp (các cơ quan báo chí thuộc Bộ Tài chính) về nội dung tái
cơ cấu DNNN trong năm 2012
Đây là ba cơ quan thông tin của Bộ Tài chính – đơn vị được Chính phủ giao chủ trì xây dựng đề án tái cơ cấu DNNN và cũng là đơn vị có vai trò chính trong việc triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu DNNN Trong đó Thời báo Tài chính Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tài chính; Tạp chí Tài chính là tờ tạp chí chuyên về thông tin lý luận nghiệp vụ của ngành Tài chính
và Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp là cơ quan thông tin của Cục Tài chính Doanh nghiệp – đơn vị được được Bộ Tài chính giao làm đầu mối thực hiện chức năng tham mưu cho Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp, cũng là đơn vị trực tiếp làm đầu mối xây dựng dự thảo
đề án tái cơ cấu DNNN
5 –Phương pháp nghiên cứu:
5.1 – Phương pháp luận:
Trang 1414
Đề tài luận văn này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống lý luận báo chí truyền thông; Chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tái cơ cấu DNNN; hệ thống văn bản pháp luật, điều hành của Chính phủ, Bộ Tài chính trong việc triển khai thực hiện tái cơ cấu DNN; định hướng và nội dung thông tin liên quan đến tái cơ cấu DNNN trên Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp trong năm 2012
5.2 - Phương pháp cụ thể:
+ Thống kê, khảo sát thực tế toàn bộ các số báo, tạp chí đã xuất bản trong năm 2012 của 3 cơ quan báo chí của Bộ Tài chính là: Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp
+ Thu thập thông tin tòa soạn của 3 cơ quan báo chí của Bộ Tài chính là: Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp
+ Nghiên cứu, khảo cứu tài liệu;
+ Thống kê, phân tích tài liệu; So sánh, đối chiếu;
+ Phân tích, tổng hợp; nhận xét, đánh giá và khái quát vấn đề;
+ Khảo sát độc giả; khảo sát các phóng viên
+ Thảo luận nhóm: Thảo luận với các đồng nghiệp, với các nhà quản lý báo chí trong hệ thống báo chí ngành Tài chính
6 – Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 1515
+ Cung cấp cơ sở lý luận, khoa học cho những người viết báo chuyên
về lĩnh vực kinh tế, tài chính, doanh nghiệp và những người làm quản lý các
cơ quan báo chí ngành Tài chính, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác định hướng dư luận, góp sức vào thực hiện hiệu quả công tác tái cơ cấu DNN
và đáp ứng nhu cầu của công chúng
+ Luận văn cũng góp phần làm giàu có, phong phú và hoàn thiện thêm lý luận báo chí truyền thông hiện đại
- Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động thông tin tuyên truyền về công tác tái cơ cấu DNNN của Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, do vậy luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các phóng viên, biên tập viên, cơ quan báo chí khảo cứu cho việc hoạch định tổ chức thông tin báo chí về công tác tái cơ cấu DNNN Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu, khảo sát và phân tích, tác giải đã đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin tuyên truyền về tái cơ cấu DNNN trên báo chí nói chung, báo chí ngành Tài chính và đặc biệt là Thời báo Tài chính Việt Nam trong thời gian tới
7 – Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tái cơ cấu DNNN và vai trò
của báo chí
Chương 2: Thực trạng thông tin tuyên truyền về tái cơ cấu DNNN trên
báo chí ngành Tài chính
Chương 3: Kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
thông tin tuyên truyền về tái cơ cấu DNNN trong giai đoạn mới
Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự các chương nói trên
Trang 1616
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ
1.1 – Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến DNNN, tái cơ cấu DNNN
1.1.1 – Khái niệm và đặc điểm DNNN
DNNN của Việt Nam được hình thành trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, hệ thống DNNN vừa được phát triển, mở rộng, vừa được sắp xếp, cơ cấu lại và từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường
DNNN có lịch sử tồn tại khá lâu và hiện đang giữ vai trò chủ đa ̣o trong điều kiê ̣n kinh t ế thị trường ở Việt Nam hiê ̣n nay Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về DNNN cũng có những đặc thù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn
Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, DNNN được quan niệm là những tổ chức kinh doanh do Nhà nước đầu tư
100% vốn điều lệ (Điều 1 Nghị định 388/HĐBT về ban hành quy chế về thành
lập và giải thể DNNN ngày 20 tháng 11 năm 1991) DNNN còn bao gồm cả
những tổ chức kinh tế hoạt động công ích của Nhà nước (Điều 1 Luật Doanh
nghiệp nhà nước năm 1995) DNNN theo cách hiểu này đã được tiếp cận điều
chỉnh bởi pháp luật có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình doanh nghiệp khác
về chủ sở hữu cũng như tổ chức và quản lý hoạt động của doanh nghiệp
Từ những thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2005 đã có định nghĩa mới về DNNN Theo Luật này, DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được
tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách
Trang 1717
nhiệm hữu hạn (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2005) Cũng có thể hiểu “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu
trên 50% vốn điều lệ” (Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005)
Một thay đổi mới nhất về khái niệm và đặc điểm về DNNN được qui định tại Nghị định 99/2012/NĐ-CP ngày 11/12/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN do Thủ tướng Chính phủ ban hành đã làm rõ khái niệm DNNN
Theo đó, “DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50%
vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”(Điều 2 và Điều 3, Nghị định 99/2012/NĐ- CP) - thay cho khái niệm: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” như cách hiểu trước đây
Với khái niệm mới này, các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp
Ngoài việc “định danh” rõ khái niệm về DNNN, Nghị định 99/2012/NĐ-CP còn khẳng định, Chính phủ thống nhất quản lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh
nghiệp (Điều 1, Nghị định 99/2012/NĐ-CP)
Nhà nước chỉ đầu tư vốn, tài sản vào doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực, khâu then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước
Trang 18và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), Tổng công
ty Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Lương thực miền Bắc và Tổng công ty Lương thực miền Nam Đối với DNNN mà Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ khác, Chính phủ chỉ quy định điều lệ mẫu
Chính phủ cũng chịu trách nhiệm quy định chế độ quản lý tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ, chế độ báo cáo và công khai tài chính, cơ chế giám sát, kiểm tra DNNN; quy định chế độ tuyển dụng, tiền lương, tiền thưởng của DNNN; quy định chế độ tiền lương, tiền thưởng
và các quyền lợi khác của chủ tịch và thành viên hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty, kiểm soát viên, tổng giám đốc (giám đốc) DNNN; quy định chế độ giám sát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, thực hiện chiến lược, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ được giao của DNNN…
Nghị định 99/2012/NĐ-CP khẳng định: “Bộ quản lý ngành là cấp trên trực tiếp của hội đồng thành viên tại tập đoàn kinh tế nhà nước” Vì vậy, bộ quản lý ngành có trách nhiệm đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, mục tiêu, nhiệm vụ và ngành, nghề kinh doanh của tập đoàn kinh tế nhà nước trực thuộc; tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể và yêu cầu phá sản tập đoàn kinh tế nhà nước do mình quản lý…
Trang 1919
Bộ quản lý ngành cũng được giao trách nhiệm đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, khen thưởng, kỷ luật chủ tịch hội đồng thành viên; đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển 5 năm của tập đoàn kinh tế nhà nước trực thuộc
Ngoài ra, bộ quản lý ngành được giao nhiệm vụ phê duyệt chủ trương góp vốn, nắm giữ, tăng, giảm vốn của tập đoàn kinh tế nhà nước; việc tiếp nhận doanh nghiệp tự nguyện tham gia làm công ty con, công ty liên kết; phê duyệt chủ trương vay, cho vay, mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của DNNN; phê duyệt chủ trương vay nợ nước ngoài của tập đoàn kinh tế nhà nước…
Nghị định 99/2012/NĐ-CP giao nhiệm vụ cho bộ quản lý ngành thực hiện giám sát, kiểm tra thường xuyên và thanh tra việc chấp hành pháp luật; việc quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn; việc thực hiện chiến lược,
kế hoạch; việc thực hiện chế độ tuyển dụng, tiền lương, tiền thưởng của tập đoàn kinh tế nhà nước…
Như vậy, khái niệm và đặc điểm DNNN đến nay đã được thống nhất
và nêu cụ thể tại Nghị định 99/2012/NĐ-CP Đây cũng là những qui định mới nhất được áp dụng hiện nay và cũng làm cơ sở cho Đề án tái cơ cấu DNNN đang triển khai thực hiện hiện nay
1.1.2 – Khái niệm về cơ cấu và tái cơ cấu
- Theo cuốn sách Từ điển tiếng Việt (2007), do cố Giáo sư Hoàng Phê chủ biên đã có một số định nghĩa về từ “cơ cấu”:
Ở dạng danh từ: (1) Cơ cấu là nguyên tắc kết hợp và hoạt động của các chi tiết máy trong cùng một chỉnh thể, theo những quy luật nhất định (2)
Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh
Trang 2020
thể: cơ cấu của nền kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đại biểu quốc hội, cải tổ cơ cấu
tổ chức quản lý hành chính [39,Tr 348]
Ở dạng động từ: Cơ cấu là tổ chức, sắp xếp các thành phần, bộ phận trong một chỉnh thể nhằm thực hiện chức năng chung: cơ cấu lại danh mục đầu tư, tái cơ cấu ngân hàng [39, Tr 348]
Qua khảo cứu và thu thập các khái niệm về cơ cấu, có thể hiểu “cơ cấu” như sau: Cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng nào đó, kể cả số lượng và chất lượng, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó trong một thời gian nhất định
Cơ cấu của một đối tượng được thể hiện bằng hai đặc trưng chính, đó
là các bộ phận cấu thành nên đối tượng và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành đó
- Tái cơ cấu: Tái cơ cấu là cụm từ thường được sử dụng trên báo chí thời gian qua, song khái niệm về cụm từ này chưa thấy được đề cập chính danh trong các cuốn từ điển tiếng Việt hiện nay Qua khảo cứu, tác giả luận văn chọn lọc một số ý kiến, một số qui ước sử dụng được coi là phổ biến và
dễ hiểu hiện nay như sau:
+ Theo cuốn cẩm nang “Thuật ngữ kinh tế - thường được sử dụng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn”, xuất bản lần thứ 2 có bổ sung (phát hành ngày
3/1/2013), thì: “Tái cơ cấu là sắp xếp, thay đổi cơ cấu về nguồn lực của một
tổ chức, doanh nghiệp hay nền kinh tế để tạo nên một cơ cấu mới hợp lý, hiệu quả hơn Nguồn lực ở đây có thể là nhân lực, tài sản, vốn, nợ vay, tài nguyên” [55]
+ Còn theo học giả Michael Hammer và James A Champy (học giả người Mỹ) đưa ra lần đầu từ những năm đầu 1990 và phát triển trong cuốn sách Reengineering the Corporation (Tái cấu trúc Tổng công ty): tái cơ cấu
Trang 2121
(Reengineering) là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, mà thường là một công ty Ngoài việc tổ chức cho một công ty về các mảng chức năng (như là sản xuất, kế toán, tiếp thị, v.v ) và xem xét các nhiệm vụ mà mỗi chức năng thực hiện Việc tái cơ cấu còn phải chú ý tới các quy trình hoàn thiện từ khâu tìm kiếm các nguyên liệu, cho tới các khâu sản xuất, tiếp thị và phân phối Công ty cần được tái cơ cấu qua một loạt các quy trình
Từ các cơ sở nêu trên, “tái cơ cấu” có thể hiểu là quá trình khảo sát, đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho đối tượng đó nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra trong những điều kiện, hoàn cảnh luôn thay đổi
Tái cơ cấu doanh nghiệp, về bản chất cũng có thể hiểu đơn giản chính
là sự hoán đổi về sở hữu doanh nghiệp, hoặc là sự thay đổi chiến lược kinh doanh, làm mới mình cho phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển
1.2 – Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
1.2.1 – Thực trạng hoạt động và sự cần thiết tái cơ cấu DNNN:
DNNN của Việt Nam được hình thành trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, hệ thống DNNN vừa được phát triển, mở rộng, vừa được sắp xếp, cơ cấu lại và từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường
Báo cáo Tổng kết 10 năm sắp xếp và cổ phần hóa của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp đã đưa ra số liệu tổng hợp của 10 tập đoàn, 75 tổng công ty (không bao gồm Vinashin và 11 tổng công ty đang thực hiện cổ phần hoá hoặc mới thành lập đã nêu lên thực trạng hoạt động của các tập đoàn
kinh tế, tổng công ty Nhà nước - tính đến 31/12/2010) cho thấy: “DNNN
Trang 22Tuy vậy, báo cáo của Chính phủ cũng cho thấy, thời gian qua DNNN
đã bộc lộ nhiều sự bất cập, yếu kém, thực trạng đó cho thấy đã đến thời điểm phải khẩn trương, tái cơ cấu toàn diện để thích ứng với những điều kiện hoàn cảnh trong giai đoạn mới, cụ thể như:
- Hiệu quả và sức cạnh tranh thấp mặc dù nhận được khá nhiều ưu đãi về nguồn lực: Theo số liệu tại bản Báo cáo Tổng kết 10 năm sắp xếp và cổ
phần hóa của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp [21], DNNN
phải sử dụng tới 2,2 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu năm 2009, trong khi
đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ cần 1,2 đồng vốn và doanh nghiệp FDI
là 1,3 đồng (mức trung bình của toàn bộ doanh nghiệp Việt Nam là 1,5 đồng)
Báo cáo này cũng cho biết, năm 2010 tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu của các tập đoàn kinh tế chỉ ở mức 16,5% tương đương với chi phí vay vốn trung bình của các tổ chức tín dụng trong cùng năm; 80% tổng số lợi nhuận trước thuế tập trung tại một số ít các tập đoàn: Dầu khí, Viễn thông Quân đội, Bưu chính Viễn thông, Than khoáng sản Việt Nam và Công nghiệp
Trang 2323
62.800 tỷ đồng, Vinacomin 20.500 tỷ đồng và Vinashin 19.600 tỷ đồng), tương đương 8,76% tổng dư nợ tín dụng toàn ngành ngân hàng và chiếm 52,66% dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước.[21]
Có đến 30/85 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu trên 3 lần, đặc biệt có 07 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ trên 10 lần (như TCT Xây dựng công nghiệp; TCT Xây dựng Công trình giao thông 1; TCT Xây dựng Công trình giao thông 5; TCT Xây dựng Công trình giao thông 8; TCT Xăng dầu quân đội; TCT Thành An; TCT Phát triển đường cao tốc) [21]
Tình hình tài chính tại nhiều tập đoàn, tổng công ty chưa đảm bảo các yêu cầu về an toàn tài chính, đang tiềm tàng nhiều nguy cơ rủi ro và đổ vỡ khi kinh doanh không hiệu quả Mức lỗ bình quân của các tập đoàn, tổng công ty còn lớn: theo báo cáo thống kê mức lỗ bình quân của một DNNN cao gấp 12 lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước
Một số tập đoàn, tổng công ty trong những năm vừa qua đã tham gia góp vốn vào ngân hàng thương mại cổ phần, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty bảo hiểm, bất động sản Việc đầu tư này chưa thực sự hợp lý khi nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính còn hạn chế Mặt khác việc đầu tư vào những lĩnh vực này ở cuối chu kỳ tăng trưởng kinh
tế và bắt đầu của xu hướng khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán thấp nên hiệu quả đầu tư không cao hoặc không có hiệu quả
- Việc thực hiện vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với kinh tế của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước còn hạn chế: Nhiều lĩnh
vực quan trọng DNNN giữ thị phần lớn nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế như: cung cấp điện cho sản xuất và tiêu dùng nhưng vẫn thiếu điện; tham gia điều tiết thị trường chưa hiệu quả
Trang 2424
Trong một số ngành, lĩnh vực các thành phần kinh tế khác có thể tham gia nhưng DNNN vẫn giữ thị phần lớn tạo ra tình trạng độc quyền của DNNN, trong khi đó một số lĩnh vực kinh tế tư nhân không tham gia nhưng DNNN cũng chưa làm hoặc làm chưa hiệu quả nên đã bị chi phối bởi sản phẩm, hàng hoá từ nước ngoài (như sản xuất giống, cây trồng, vật nuôi)
Khu vực DNNN sử dụng nhiều tài sản, đất đai, nhưng hiệu quả sử dụng thấp, lãng phí, thậm chí sai mục đích (như cho thuê, để hoang )
- Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa bắt kịp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường; chậm đổi mới, năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản trị doanh nghiệp còn yếu kém, bất cập Năng lực quản trị doanh
nghiệp còn yếu, chưa thay đổi để thích ứng cơ chế thị trường và xu thế hội nhập; trình độ công nghệ của đa số DNNN vẫn ở mức thấp so với các nước trong khu vực, việc đổi mới công nghệ chưa đồng đều và còn chậm Tính tuân thủ pháp luật về chế độ tài chính, công khai thông tin, báo cáo còn chưa được quan tâm đúng mức Hệ thống quản trị nội bộ trong các doanh nghiệp tuy đã hình thành nhưng không đáp ứng được yêu cầu quản lý, giám sát các nguồn lực được giao Sự phân giao nhiệm vụ và thực thi vai trò đại diện chủ sở hữu trong một số DNNN còn chưa rõ ràng, có sự chồng chéo, chưa thống nhất…
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và từ thực trạng hoạt động bộc
lộ nhiều yếu kém của hệ thống DNNN, việc triển khai tái cơ cấu DNNN được Chính phủ nhìn nhận là cần thiết và đã đến thời điểm phải khẩn trương, tái cơ cấu toàn diện để thích ứng với những điều kiện hoàn cảnh trong giai đoạn mới Việc tái cơ cấu cũng được xác định không chỉ cần thiết đối với bản thân khu vực DNNN mà còn trực tiếp phục vụ và hỗ trợ cho nhiệm vụ tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu
Đồng thời, vấn đề triển khai tái cơ cấu DNNN là yêu cầu tất yếu, phù hợp với tiến trình chuyển đổi từ phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát
Trang 2525
triển theo chiều sâu, để DNNN thực sự khẳng định vai trò then chốt của khu vực kinh tế nhà nước; Là quá trình tiếp tục của đối mới, sắp xếp DNNN được thực hiện một cách toàn diện từ hệ thống đến từng thực thể DNNN, đồng bộ, gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 -2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 -2015 Đặc biệt là thời điểm năm
2012 được xác định là cột mốc thực hiện tái cấu trúc mạnh mẽ trên các lĩnh vực của nền kinh tế mà Chính phủ hoạch định
1.2.2 – Quan điểm và mục tiêu tái cơ cấu DNNN:
Đề án Tái cơ cấu DNNN [24] được phê duyệt đã nêu rõ quan điểm và mục tiêu của vấn đề thực hiện tái cơ cấu DNNN Cụ thể:
- Về quan điểm:
1 Phải quán triệt chức năng của Nhà nước là điều tiết vĩ mô nền kinh
tế thông qua sử dụng các công cụ điều tiết, trong đó công cụ quan trọng là DNNN (xu hướng lâu dài là nhà nước giảm điều hành quá trình kinh tế cụ thể, tập trung thực hiện chức năng ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm dịch vụ công)
2 Tái cơ cấu không phải là hạn chế, làm giảm vai trò của DNNN mà phải làm cho DNNN mạnh hơn, thực sự trở thành nòng cốt của kinh tế nhà nước, góp phần để kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quá trình tái cấu trúc phải quán triệt thực hiện các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN đã được xác định trong các nghị quyết của Đảng
3 Tái cơ cấu DNNN phải thực hiện trên cả phương diện vĩ mô (điều chỉnh lại chính sách, khung pháp lý, phân bổ lại nguồn lực, cơ cấu sở hữu, quản lý của khu vực DNNN) và cả phương diện vi mô (điều chỉnh lại sở hữu,
mô hình, cơ chế hoạt động, quản trị, bố trí lại nguồn lực ở từng TĐKT, TCT nhà nước), đồng thời phải gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình
Trang 2626
tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, phù hợp với chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 2011-2020
4 Vừa thực hiện tái cơ cấu hệ thống DNNN (trên 5 phương diện chủ yếu: ngành nghề; tài chính; quản trị DN; quản lý nhà nước; hệ thống pháp luật), vừa thực hiện tái cấu trúc theo thực thể (tại mỗi DN, TĐKT, TCT nhà nước); triệt để sắp xếp, tổ chức lại DNNN theo ngành, lĩnh vực kinh doanh, không phân biệt cấp, cơ quan quản lý để gắn được với quy hoạch ngành, lĩnh vực, tiết kiệm nguồn lực nhà nước, thúc đẩy đầu tư xã hội
5 Kiên định về mục tiêu và nguyên tắc, mềm dẻo trong hình thức và phương thức tổ chức thực hiện; không tuyệt đối hóa, duy ý chí trong quá trình tái cấu trúc; phải tôn trọng nguyên tắc thị trường, không sử dụng mệnh lệnh hành chính trong mua - bán, sáp nhập DNNN
- Về mục tiêu:
1 Nâng cao năng lực hoạt động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của khu vực DNNN và từng DNNN tương xứng với nguồn lực được giao
2 Lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo cơ cấu tài chính hợp lý cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của DNNN, nhất là TĐKT, TCT nhà nước
3 Đảm bảo cho TĐKT, TCT nhà nước làm tốt vai trò công cụ điều tiết vĩ mô, là đầu tàu định hướng sự phát triển, tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy các DN thuộc thành phần khác cùng phát triển
4 Đặt DNNN đặc biệt là TĐKT, TCT nhà nước trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các DN khác; nhất quán và kiên trì thực hiện nguyên tắc thị trường trong hoạt động của DNNN
5 Hình thành các DNNN có quy mô lớn, hầu hết đa sở hữu, có vai trò đầu tàu, dẫn dắt, điều tiết kinh tế trong phạm vi quốc gia; một số TĐKT nhà
Trang 271 Tập trung phát triển DNNN trong những ngành, lĩnh vực quan trọng
có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đảm bảo cân đối lớn (tiền tệ, điện, lương thực, giao thông, vận tải hàng không, đường sắt, viễn thông, dầu khí, xăng dầu, khai thác tài nguyên khoáng sản, xây lắp); ngành độc quyền tự nhiên ; dịch vụ công; ổn định kinh tế vĩ mô và quốc phòng, an ninh và trên một số địa bàn quan trọng Hoạt động kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ công ích thực hiện thông qua đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch;
2 Thực hiện triệt để hơn phân định và tăng cường chức năng quản lý nhà nước và chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu trên cơ sở hoàn thiện cơ chế phân cấp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước theo nguyên tắc phải có một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính theo dõi việc sử dụng vốn, tài sản nhà nước và phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN,
kể cả TĐKT, TCT nhà nước đặc biệt
3 Đổi mới cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với TĐKT, TCT nhà nước và cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại DN; tách biệt thực hiện quyền chủ sở hữu đối với quyền chủ động sản xuất kinh doanh của DN;
4 Đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, chú trọng vào các TĐKT, TCT theo hướng giảm số lượng DNNN và giảm vốn nhà nước tại DN; thực hiện đa dạng hoá sở hữu trong các DNNN, thu hút các nhà đầu tư chiến lược tư nhân
Trang 286 Thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của DNNN, đặc biệt là TĐKT, TCT Nhà nước trong những lĩnh vực, ngành nghề độc quyền tự nhiên;
7 Chuyển đổi các doanh nghiệp, ban quản lý rừng hoặc giải thể các nông, lâm trường, phù hợp với các chính sách về quản lý đất đai, về rừng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế
1.3 – Vai trò của báo chí đối với tái cơ cấu DNNN
Trong những năm qua, báo chí Việt Nam đã ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng cao hơn nhu cầu của độc giả và góp sức ngày càng hiệu quả hơn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, vào công cuộc xây đắp cho xã hội ngày giàu mạnh, công bằng, văn minh
Theo số liệu báo cáo tại Hội nghị Cán bộ báo chí toàn quốc triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2013, do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với
Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ngày 19/3/2013 tại Hà Nội cho biết: Tính đến tháng 2/2013, có 812 cơ quan báo chí
in trên cả nước với 1084 ấn phẩm Trong đó, báo có 197 cơ quan (gồm 84 cơ quan báo chí Trung ương và 127 tạp chí địa phương)
Cả nước có 74 báo, tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội, 1.174 trang thông tin điện tử tổng hợp; có 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, trong đó, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam,
Trang 2929
Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC phủ sóng toàn quốc; có 172 kênh chương trình phát thanh và truyền hình quảng bá, gồm 99 kênh truyền hình, 73 kênh phát thanh…
Cả nước có gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, hàng trăm phóng viên đang hoạt động báo chí chuẩn bị đến thời hạn cấp thẻ; hơn 19.000 hội viên Hội Nhà báo Việt Nam
Phát huy truyền thống của báo chí cách mạng, các loại hình báo chí ngày này cũng đã luôn thể hiện vai trò của một lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa đã luôn bám sát quan tâm và phản ánh về mộ mặt của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, trong đó hoạt động của DNNN cũng là một đề tài luôn được báo chí phản ánh dưới nhiều góc độ
Trong Hội nghị giao ban báo chí toàn quốc năm 2012, Ban Tuyên giáo
Trung ương đã đưa ra đánh giá: “Báo chí phát huy tính chủ động, sáng tạo,
tích cực tuyên truyền các giải pháp điều hành kinh tế-xã hội của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ Báo chí cũng đã tập trung phản ánh một số nhiệm
vụ cấp bách mà Đảng, Nhà nước đang chỉ đạo như tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tài chính tiền tệ, giá cả thị trường, quản lý và sử dụng đất đai, xuất khẩu hàng hóa, xóa đói giảm nghèo ” [4]
Tái cơ cấu DNNN là một chủ trương lớn và đang được bắt đầu triển khai Sự đóng góp của báo chí vào đề tài này thể hiện ở những khía cạnh sau:
1.3.1 – Báo chí thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động của DNNN
Hệ thống DNNN được hình thành trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, DNNN được xác định là nền tảng để đáp ứng những nhu cầu của xã hội Bám sát với thực tiễn, báo chí Việt Nam qua các thời kỳ đã kịp thời bám
Trang 3030
sát, góp sức đưa các chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các chỉ đạo điều hành của Chính phủ đến với cộng đồng DNNN và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội để động viên cho sự phát triển của hệ thống DNNN
Đồng thời báo chí đã nêu và ghi nhận vai trò tích cực và quan trọng của DNNN nói chung, các TĐKT, TCT nhà nước nói riêng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các DNNN, mà trọng tâm là các TĐKT, TCT đã bảo đảm sản xuất, cung ứng các sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế
Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, hệ thống doanh nghiệp nói chung và các TĐKT, TCT nhà nước nói riêng gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên nhìn vào những mặt tích cực đạt được, báo chí đã mạnh mẽ động viên cộng đồng doanh nghiệp nói chung và khối các DNNN nói riêng đã duy trì được hoạt động và có đóng góp quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong nhiều lĩnh vực nhằm ổn định kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội
Trong công cuộc đổi mới, hệ thống DNNN vừa được mở rộng, phát triển, vừa được đổi mới, sắp xếp, từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, báo chí cũng đã luôn tích cực góp phần phổ biến các kiến thức mới, kinh nghiệm, đồng thời góp phần thúc đẩy hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý, giúp cho công tác quản lý, chỉ đạo và hoạt động của DNNN ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của từng giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế - xã hội đất nước và thế giới
Phát biểu đánh giá về vai trò của báo chí đối với việc thông tin tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, đồng chí Đinh Thế Huynh - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã nói:
Công tác báo chí năm qua đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, trong
đó, nổi bật nhất là công tác thông tin, tuyên truyền đưa Nghị quyết Đại hội
Trang 3131
XI, các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ vào cuộc sống gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh "Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;" tuyên tuyền thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (giải pháp kìm chế lạm phảt, duy trì tăng trưởng hợp lý, cơ cấu lại nền kinh tế ); tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vùng trời, vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn
Năm 2012, báo chí cách mạng Việt Nam tiếp tục có bước phát triển mới, trong đó, đáng ghi nhận là sự phong phú, đa dạng của thông tin và các sản phẩm thông tin truyền thông Nhiều cơ quan báo chí tích cực đổi mới nội dung, phương thức chuyển tải thông tin, nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ người làm báo Trong điều kiện có nhiều khó khăn (phát triển báo in, thu hút quảng cáo ), nhiều cơ quan báo chí đã chủ động tháo gỡ khó khăn, động viên, phát huy nhân lực, tâm huyết, lòng yêu nghề của người làm báo để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.[30]
1.3.2 – Báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội về tái cơ cấu DNNN
Cùng việc tích cực tham gia động viên những mặt tích cực của hệ thống DNNN, khuyến khích nhân rộng những điển hình tích cực giúp DNNN phát huy những mặt lợi thế, nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh trong từng giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế… báo chí cũng tích cực tham gia công tác phản biện xã hội, góp sức hạn chế, giảm thiểu những khó khăn, hạn chế của hệ thống DNNN
Thực tế từ khi đất nước đổi mới đến nay, báo chí đã luôn quan tâm, sát sao với hoạt động của DNNN, thể hiện như một lực lượng giám sát hoạt động của DNNN Những vấn đề tiêu cực, những khiếm khuyết, yếu kém của hệ
Trang 32cơ chế chính sách và hoạt động của DNNN
Thời gian gần đây, trên các phương tiện báo chí xuất hiện khá nhiều các hạn chế, yếu kém, dẫn đến hoạt động thu lỗ, thất thoát tiền của Nhà nước của một số TĐKT, TCT nhà nước như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines)… đã được báo chí phản ánh mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận
Báo chí thời gian qua cũng vào cuộc những vấn đề khá gai góc và tiềm ẩn những mối nguy hại đối với hoạt động ổn định, bền vững của DNNN,
đó là việc trào lưu các DNNN đầu tư dàn trải, đầu tư vào những lĩnh vực hoạt động trái nghề, kinh doanh ngoài ngành… cũng đã tạo được hiệu ứng xã hội tốt, từ đó thúc đẩy sự quyết liệt của các cơ quan chức năng trong việc chấn chỉnh lại các qui định đầu tư của hệ thống các TĐKT, TCT nhà nước…
Nhìn nhận về vai trò của báo chí, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền
thông phát biểu rằng: “Trong những năm qua, hoạt động báo chí đã đạt được
những thành tích đáng ghi nhận, góp phần vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, ổn định chính trị xã hội, hội nhập quốc tế Đặc biệt, thời gian gần đây, báo chí đã nêu cao trách nhiệm chính trị, tập trung cao độ cho công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần NQ
TW 3 và 4 Khóa 11 Báo chí đã góp phần thiết thực vào việc tạo sự đồng thuận xã hội, xây dựng quyết tâm của toàn quân, toàn dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội thành công,
Trang 33từ chiều rộng sang chiều sâu
Tái cơ cấu DNNN cần có một quá trình, không thể chủ quan nóng vội nhưng cũng không thể chậm chễ Đây là một nhu cầu tất yếu khách quan, là một giải pháp kịp thời và đúng đắn để nâng cao chất lượng phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển trong khu vực và thế giới… thì việc nhận thức đúng đắn, đồng nhất là một yêu cầu bắt buộc và quan trọng để thực hiện thành công công cuộc tái cơ cấu DNNN
Với chức năng thông tin nhanh, lan tỏa rộng, báo chí được xác định là một phương tiện truyền thông hiệu quả để tạo sự chuyển biến trong nhận thức
và tạo sự đồng thuận của toàn xã hội Qua thực tế hoạt động của báo chí,
Trang 3434
Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan chức năng, cộng đồng doanh nghiệp, người dân luôn có sự đánh giá cao vai trò và đóng góp của báo chí
Tại hội nghị báo chí năm 2012, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ
Thông tin và Truyền thông cũng đã đưa ra nhận định: “Trong bối cảnh tình
hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp nhưng có thể nói báo chí đã làm tốt vai trò, trách nhiệm là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước
và diễn đàn của nhân dân, với những kết quả đáng ghi nhận: Trong năm qua, báo chí trong cả nước đã thực hiện đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước, thông tin nhanh nhạy, đầy đủ, toàn diện về mọi diễn biến của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội ở trong nước và quốc tế,
là diễn đàn thực sự tin cậy của nhân dân
Công tác báo chí năm qua đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, trong
đó, nổi bật nhất là công tác thông tin, tuyên truyền đưa Nghị quyết Đại hội
XI, các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ vào cuộc sống gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh "Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;" tuyên tuyền thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (giải pháp kìm chế lạm phảt, duy trì tăng trưởng hợp lý, cơ cấu lại nền kinh tế ); tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vùng trời, vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn…”.[4]
Tiểu kết chương 1
DNNN được xác định là một lực lượng chủ đạo, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế DNNN quan các giải đoạn đã phát huy hiệu quả, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Kể từ khi nền kinh tế Việt Nam được vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là trong quá trình phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, năng lực cạnh tranh và hoạt động của
Trang 3535
hệ thống DNNN tuy đã có nhiều bước phát triển được ghi nhận, những cũng
đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả trong công tác quản lý điều hành và hoạt động của chính nó
Đánh giá và xác định rõ tình hình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo thực hiện cuộc tái cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW Đảng khóa XI đã xác định: Tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là các TĐKT, TCT nhà nước là một trong 3 nhiệm vụ cấp bách của quá trình tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế nước ta
Công cuộc triển khai thực hiện tái cơ cấu DNNN được đánh giá là một nhu cầu tất yếu khách quan, là một giải pháp kịp thời và đúng đắn để nâng cao chất lượng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân… Theo đó, việc thông tin về vấn đề tái cơ cấu DNNN vừa là nhu cầu tự thân của báo chí, nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng trước một vấn
đề thu hút sự quan tâm của người dân, cũng vừa là chức năng của báo chí để giám sát, hạn chế những mặt hạn chế, thúc đẩy nhân rộng những nhân tố tích cực, thiết thực góp sức thực hiện thành công công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Trang 3636
Chương 2:
THỰC TRẠNG THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN BÁO CHÍ NGÀNH TÀI CHÍNH
2.1- Khái quát về Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Tài chính
và Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp
2.1.1- Thời báo Tài chính Việt Nam
Thời báo Tài chính Việt Nam là cơ quan của Bộ Tài chính, là diễn đàn của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và của toàn dân về lĩnh vực tài chính – kinh tế Ra đời từ ngày 2/9/1993, xuất bản 1 số báo/tuần với 16 trang – gồm 15 trang tiếng Việt và 1 trang tiếng Anh Đến tháng 9/1998, Thời báo Tài chính Việt Nam tăng kỳ xuất bản lên 2 số báo/tuần
Từ tháng 7/1999 đến nay, Thời báo Tài chính Việt Nam xuất bản 3 số báo trên tuần – phát hành vào thứ hai, tư, sáu hàng tuần và 1 tờ đặc san phát hành hàng tháng (kể từ 1/2013, Thời báo Tài chính Việt Nam dừng xuất bản
ấn phẩm Đặc san hàng tháng); từ năm 2005 – 2011 Thời báo Tài chính Việt Nam xuất bản ấn phẩm tiếng Anh – Vietnam Financial Review và dừng xuất bản ấn phẩm này kể từ tháng 1/2012 Thời báo Tài chính Việt Nam hiện hoạt động theo Giấy phép xuất bản số 53/GP-BVHTT ngày 29/1/2002
Số lượng phát hành hiện nay đạt khoảng 10.000 đến 11.000 tờ/kỳ, với phạm vi phát hành rộng khắp trên toàn quốc – trong đó phát hành trong nội bộ ngành Tài chính chiếm khoảng 60% tổng số lượng phát hành Từ 1/8/2012, Thời báo Tài chính Việt Nam chính thức đưa Phòng Báo điện tử đi vào hoạt động, để chuẩn bị cho việc triển khai xuất bản Thời báo Tài chính Việt Nam điện tử trong năm 2013
Kể từ khi ra đời cho đến nay, Thời báo Tài chính Việt Nam đã xây dựng và mở rộng vùng phát hành rộng khắp toàn quốc, thông qua hệ thống
Trang 3737
các ngành dọc của Bộ Tài chính và hệ thống độc giả mọi thành phần trên toàn quốc Với vị thế của một tờ báo chuyên ngành tài chính – kinh tế, Thời báo Tài chính Việt Nam tự cân đối thu chi thông qua hoạt động thu hút quảng cáo, phát hành và thực hiện hạch toán theo cơ chế của một đơn vị sự nghiệp công lập, có thu tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động (theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP
và hiện tại là Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ)
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ khoảng năm 2005 đến 2008, hoạt động thu hút tài chính của Thời báo Tài chính Việt Nam gặp khó khăn, doanh thu quảng cáo và phát hành có sự giảm sút mạnh, dẫn đến không đảm bảo cân đối thu – chi cho hoạt động, Thời báo Tài chính Việt Nam đã đƣợc điều chỉnh mô hình hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập có thu, tự chịu một phần kinh phí hoạt động từ năm 2009 đến nay (theo Nghị định 43/2006/NĐ-
CP của Chính phủ)
Cơ cấu tổ chức của Thời báo Tài chính Việt Nam hiện tại gồm có:
- Ban Lãnh đạo: Tổng Biên tập và 1 Phó Tổng Biên tập
- 1 Chi nhánh phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
- 1 Văn phòng đại diện Bắc Miền trung đóng tại TP Vinh - Nghệ An Qua thực tiễn hoạt động, với việc bám sát các vấn đề trọng tâm hoạt động của ngành để thông tin đến bạn đọc, đƣa những thông tin về cơ chế
Trang 3838
chính sách tài khóa - chính sách tiền tệ mới, bám sát hơi thở của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội… của đất nước, Thời báo Tài chính Việt Nam đã tạo ra một diễn đàn trao đổi nhiều chiều, phục vụ nhu cầu thông tin - trao đổi của mọi thành phần trong xã hội Qua đó, Thời báo Tài chính Việt Nam đã góp sức tích cực vào thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và chuyên môn của Bộ Tài chính, góp sức thực thi hiệu quả công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội nói chung và nền tài chính quốc gia nói riêng ngày càng minh bạch, công bằng và lành mạnh…
Tuy nhiên, do tính định kỳ (3 số báo/tuần), nội dung 16 trang báo/số báo, nên trong thời gian qua Thời báo Tài chính Việt Nam đã bộc lộ nhiều hạn chế, kể cả về “độ trễ” thời gian chuyển tải thông tin, cả hạn chế về thời lượng chuyển tải thông tin Trong khi đó các phương tiện truyền thông khác như các tờ nhật báo (báo in), các tờ báo điện tử, truyền hình… đã phát huy lợi thế, đăng tải thông tin sớm hơn, lan tỏa nhanh hơn… Đó là một hạn chế của
tờ Thời báo Tài chính Việt Nam báo in trong môi trường cạnh tranh thông tin giữa các phương tiện truyền thông đang diễn ra quyết liệt hiện nay
Song do ở các phương tiện truyền thông khác với nhiều lý do khác nhau, các thông tin về cơ chế chính sách, về quản lý điều hành của ngành Tài chính nhiều khi đã được các phương tiện truyền thông khác đăng tải chưa đầy
đủ, có lúc thiếu chính xác, chưa khách quan, thậm chí không đúng với bản chất của vấn đề Thực tế này đã xảy ra khá nhiều trong thời gian qua, gây nên những khó khăn không đáng có cho công tác quản lý điều hành hoạt động tài chính quốc gia
Để nâng cao năng lực hoạt động nhằm đáp ứng những nhiệm vụ của một kênh thông tin chính thống về lĩnh vực tài chính – kinh tế, cũng như đáp ứng nhu cầu tự thân nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình, Thời báo Tài chính Việt Nam đã và đang triển khai xuất bản Thời báo Tài chính Việt
Trang 3939
Nam điện tử - một kênh thông tin phát hành qua mạng Internet, nhằm tăng cường hiệu quả kênh thông tin, tuyên truyền về lĩnh vực kinh tế tài chính và
để đáp ứng với nhu cầu độc giả, đáp ứng xu thế phát triển mới của báo chí
Tờ Thời báo Tài chính Việt Nam điện tử đã và đang thực hiện xây dựng, đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động báo điện tử
và kế hoạch đưa vào hoạt động chính thức từ tháng 9/2013
Trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển, với những giai đoạn thăng trầm, Thời báo Tài chính Việt Nam đã luôn kiên định với chức năng, nhiệm vụ là cơ quan ngôn luận của ngành Tài chính, tập trung năng nhiệm vụ chính là chuyển tải thông tin về chủ trương, đường lối, các cơ chế, chính sách, của Nhà nước về lĩnh vực tài chính; là diễn đàn của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và của toàn dân về lĩnh vực tài chính – kinh tế Qua đó, Thời báo Tài chính Việt Nam đã đồng hành cùng hệ thống báo chí toàn quốc góp sức xây dựng và phát triển đất nước, phụng sự vì sự một xã hội ngày càng giàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh
1.1.1 - Tạp chí Tài chính
Tạp chí Tài chính giữ vai trò là cơ quan thông tin lý luận và nghiệp vụ của ngành Tài chính; là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Bộ Tài chính, được thành lập ngày 7/11/1963 với tiền thân là Tập san Tài chính - Kế toán Trải qua hành trình gần 50 năm trưởng thành và phát triển, Tạp chí Tài chính đã ghi dấu ấn với các mốc thời gian như sau:
+ Thời kỳ 1963 - 1982: Tập san Tài chính - Kế toán, xuất bản mỗi tháng một kỳ; là cơ quan ngôn luận của ngành Tài chính; Tháng 12/1983, Tập san Tài chính - Kế toán chuyển thành Tạp chí Tài chính, chịu sự lãnh đạo
và chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Trang 4040
+ Thời kỳ 1996 - 2002: Tháng 1/1996, Tạp chí Tài chính chuyển về trực thuộc Viện Khoa học Tài chính Từ tháng 1/2002 đến 12/8/2002: Tạp chí Tài chính trực thuộc Học viện Tài chính Thời kỳ từ 2002 đến nay Tạp chí Tài chính thành đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính, giữ vai trò là cơ quan thông tin lý luận và nghiệp vụ của ngành Tài chính; là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc
Bộ Tài chính Tạp chí Tài chính hoạt động theo giấy phép xuất bản số 1536/GP-BTTT-ngày 23/09/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông Chỉ số ISSN - 005 - 56
- Tạp chí Tài chính xuất bản các ấn phẩm:
+ Tạp chí Tài chính: Tạp chí khoa học, chuyên về thông tin nghiên cứu lý luận và nghiệp vụ kinh tế - tài chính Xuất bản mỗi tháng 1 kỳ, phát hành định kỳ giữa tháng Số lượng phát hành khoảng 4.500 tờ/kỳ xuất bản
+ Tài chính và Đầu tư: Ấn phẩm dành cho doanh nghiệp, nhà quản lý
và các nhà đầu tư Tài chính và Đầu tư xuất bản mỗi tháng 1 kỳ, in 4 màu, phát hành định kỳ cuối tháng
Số lượng phát hành khoảng 4.000 tờ/kỳ xuất bản
+ Trang Điện tử Tạp chí Tài chính: Địa chỉ: http://tapchitaichinh.vn và http://FinancePlus.vn Nội dung phong phú, với nhiều bài phân tích, bình luận chuyên sâu các vấn đề kinh tế - tài chính trong nước và quốc tế
+ Các ấn phẩm không định kỳ: Tổ chức xuất bản nhiều sách nghiệp vụ
và sách phục vụ cho các hoạt động của Bộ Tài chính và các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ như: Reforming Việt Nam - Xuất bản năm 2000; Hỏi - đáp về chế độ tài chính dành cho đơn vị sự nghiệp có thu - Xuất bản năm 2002; Renovation and Development - Xuất bản năm 2006; Đặc san đối ngoại Kinh
tế - Tài chính Việt Nam xuất bản định kỳ hàng năm…
- Cơ cấu tổ chức của Tạp chí Tài chính bao gồm: Ban Biên tập, phóng viên, bạn đọc; Ban Tài chính Điện tử; Ban Trị sự (Hành chính, Tài vụ và