1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ

156 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ý nghĩa vô cùng quan trọng và thiết thực, gắn trực tiếp với đời sống thậm chí là sinh mệnh của người dân miền Trung của việc dự báo thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGÔ THỊ PHÖ HÕA

BẢN TIN “DỰ BÁO THỜI TIẾT” TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH

CÁC ĐÀI ĐỊA PHƯƠNG TRUNG BỘ

( Khảo sát 3 Đài PTTH Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận trong

Trang 2

BẢN TIN “DỰ BÁO THỜI TIẾT” TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH

CÁC ĐÀI ĐỊA PHƯƠNG TRUNG BỘ

( Khảo sát 3 Đài PTTH Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận trong

Trang 3

MỤC LỤC

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Trung Bộ trong toàn cảnh địa lý, khí hậu Việt Nam

1.4 Vị trí của bản tin dự báo thời tiết đối với các đài PTTH Trung Bộ 21

Chương 2: Thực trạng truyền thông về dự báo thời tiết trên Đài PTTH Quảng Trị, Bình Định, Bình Thuận đối với công chúng

2.1 Những tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam và miền Trung 29

2.1.1 Tác động của Biến đổi khí hậu tại việt Nam 29 2.1.2 Những tác động của biến đổi khí hậu tới miền Trung Việt Nam 29 2.1.3 Những dự báo của các chuyên gia về thời tiết trong 6 tháng cuối

2.1.4 Biến đổi khí hậu bắt buộc phải trở thành vấn đề truyền thông lớn

2.2 Khảo sát Bản tin dự báo thời tiết của 3 đài: Quảng Trị, Bình Định và

2.3 Đánh giá thực trạng bản tin dự báo thời tiết của 3 đài truyền hình 49

Trang 4

2.4 Hiệu quả thông tin của Bản tin dự báo thời tiết trên 3 đài 57

Chương 3: Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình nâng cao chất lượng Bản tin

dự báo thời tiết của 3 Đài

3.1 Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện bản tin dự báo thời tiết 64 3.1.1.Bài học được rút ra từ chính cách thực hiện các bản tin dự báo

3.1.2 Bài học từ cách làm bản tin dự báo thời tiết của các đài truyền

3.2.1 Tạo cơ sở pháp lý trong việc thực hiện, phát sóng các bản tin dự

3.2.3 Mở thêm nhiều bản tin dự báo thời tiết chuyên biệt 82 3.3 Mô hình Bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình cho các Đài

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài

Theo cách phân vùng văn hoá được coi là hợp lý và khách quan hơn cả của

GS Trần Quốc Vượng, trong giáo trình “Cơ sở văn hoá Việt Nam Việt Nam” thì Việt Nam được chia làm 6 vùng văn hóa: Tây Bắc, vùng Việt Bắc, châu thổ Bắc

Bộ, Trung Bộ, Trường Sơn – Tây Nguyên và vùng văn hóa Nam Bộ [38, tr.212]

Cả 6 vùng này đều mang đặc thù địa lý, khí hậu chung của Việt Nam, song mỗi vùng cũng có những đặc điểm riêng Trong đó, Trung Bộ được biết đến là một dải

đất hẹp “ khúc ruột miền Trung” từ Quảng Bình tới Bình Thuận

Địa hình miền Trung hẹp theo chiều ngang Đông Tây, nếu quay mặt về hướng Đông thì trước mặt mỗi người dân Trung Bộ sẽ là biển Đông, sau lưng là dãy Trường Sơn Dãy núi này chạy suốt theo bờ biển, nên đồng bằng ở miền Trung rất hạn hẹp, ít phù sa và không màu mỡ Ngoài ra, địa hình miền Trung bị chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam bởi các đèo Dưới chân đèo là các sông lớn, nhỏ Sông, suối nhiều nhưng chiều dài các sông đa số ngắn và có độ dốc lớn Lưu vực các sông thường là đồi núi nên nước mưa đổ xuống rất nhanh Các cửa sông lại hay bị bồi lấp làm cản trở việc thoát lũ cho vùng đồng bằng, đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những đợt lũ kinh hoàng cho cư dân sinh sống ở miền Trung

Suốt dải đất miền Trung, đường bờ biển Việt Nam “ ưỡn” cong, “ lồi” ra phía sau biển Đông, chính vì thế mà dải đất này hằng năm luôn phải hứng chịu nhiều cơn bão biển

Chính điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn nên để định cư được vùng đất này, bắt buộc người Việt và người Chăm, chủ thể văn hoá miền Trung luôn phải thích nghi để sinh tồn, trong sự tận dụng và ứng phó với môi trường tự nhiên của chính mảnh đất miền Trung

Một trong những cách ấy là làm sao dự liệu diễn tiến của thời tiết để chủ động ứng phó, thích nghi Đặc biệt, với chiều dài hơn 1.000 km bờ biển, hàng năm những trận bão biển và gió mùa Đông Bắc đã gây nên những trận mưa lớn ở miền

Trang 6

Trung Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chịu ảnh hưởng của hiện tượng El Nino và La Nina, những trận bão biển và mưa lớn xảy ra càng khốc liệt hơn Mùa bão thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, và trung bình hàng năm có 4 cơn bão Theo số liệu mà PGS.TS Vũ Văn Tuấn (Tổng thư ký Hội Môi

trường và tài nguyên nước) công bố tại hội thảo “Kinh nghiệm phòng chống lụt bão sau 10 năm lũ lớn miền Trung - năm 1999” do Bộ nông nghiệp và phát triển nông

thôn tổ chức vào hạ tuần tháng 11/ 2009 tại Đà Nẵng cho thấy: Trong khi số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam tăng trong 10 năm trở lại đây thì số cơn bão đổ bộ vào khu vực miền Trung lại giảm, tuy nhiên cường độ tàn phá của bão khi vào miền Trung lại tăng một cách khốc liệt

Tương tự, số ngày mưa lớn và kéo dài ở miền Trung tăng lên nhiều hơn so với 10 năm trước Điều này kéo theo lũ ngày một khốc liệt với tần suất dày đặc Và hơn lúc nào hết, công tác dự báo thời tiết đối với các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam nói chung và ở miền Trung nói riêng sẽ giúp người dân miền Trung chủ động ứng xử với thời tiết, và nhất là phòng ngừa, ứng phó với thiên tai Với ý nghĩa vô cùng quan trọng và thiết thực, gắn trực tiếp với đời sống thậm chí là sinh mệnh của người dân miền Trung của việc dự báo thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng, nên tôi đã nghiên cứu việc dự báo thời tiết miền Trung như một vấn đề thông tin nóng làm chủ đề cho đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình

Nội dung các loại hình báo chí đều có dành riêng một phần “đất” nhất định cho dự báo thời tiết, song so với các loại hình báo khác, ở miền Trung thì các đài truyền hình (“báo hình”) có ưu thế hơn hẳn trong việc chuyển tải những thông tin về thời tiết này đến cho công chúng nghe nhìn Miền Trung Trước hết, đây là loại hình truyền thông bằng màn ảnh nhỏ khá phổ biến đối với người dân miền Trung, chỉ đứng sau loại hình báo phát thanh Tuy nhiên, mang đặc thù là loại hình dành cho công chúng nghe nhìn cộng với ưu thế ngôn ngữ hình ảnh-âm thanh của báo hình Ngoài âm thanh, hình ảnh, các chương trình dự báo thời tiết trên truyền hình còn có ưu điểm là đưa lên màn ảnh cả ngôn ngữ phi văn tự là biểu đồ, đồ thị,

Trang 7

từ phía công chúng nghe nhìn, bởi tầm quan trọng và sự cần thiết lớn lao đối với đời sống hàng ngày, thậm chí hàng giờ hàng phút của người dân, nhất là ở Việt Nam Trong xã hội hiện đại, Việt Nam vẫn còn gần 70% tỷ lệ dân số là người nông dân, với nghề chính từ ngàn đời nay là nông nghiệp Từ cày cấy, gieo trồng đến gặt hái của người nông dân trên đồng ruộng; từ ra khơi đến vào lộng của người ngư dân đánh bắt tôm cá giữa biển khơi; từ vào rừng chặt cây đốn củi đến lên rẫy làm nương, tất thảy đều phải trông vào thời tiết mà quyết định nên khởi sự hay tạm ngừng sản xuất Vì thế thông tin thời tiết là thông tin được khán giả trông đợi và đón xem nhiều nhất trong các chương trình của nhà Đài

Tuy nhiên, với đặc thù là báo hình, kinh phí dành cho việc lưu trữ cao, đo đó hầu như tất cả các bản tin thời tiết (nằm cuối chương trình thời sự của đài) đều không được lưu trữ Vả lại, do đặc thù địa hình miền Trung dài và hẹp, nên các địa phương bị chia cắt và bao bọc bởi núi non, nên các đài khu vực Trung Bộ đã không thể phủ sóng rộng rãi, chỉ dừng ở phạm vi địa bàn mình quản lý, do đó rất khó khăn trong việc khảo sát cùng một lúc 11 đài truyền hình đại diện nằm dọc theo địa hình vùng văn hoá Trung Bộ Và cũng do vị trí công tác của mình, là phóng viên, biên tập viên Đài PTTH Bình Định, nên người viết luận văn đã lựa chọn 3 đài tiêu biểu, theo chiều dọc Miền Trung là: Đài PTTH Quảng Trị (nằm ở Bắc Trung Bộ), Đài PTTH Bình Định ( nằm ở khu vực Trung Trung Bộ) và Đài PTTH Bình Thuận ( nằm ở khu vực Nam Trung Bộ) Ba đài này, do nằm ở 3 vùng khác nhau của Trung

Bộ, qua khảo sát sẽ cho cái nhìn toàn cảnh về các bản tin dự báo thời tiết của khu vực Trung Bộ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trang 8

Dự báo thời tiết luôn luôn là vấn đề thông tin nóng, nhất là trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là sau sự cố đoán nhầm hướng đi của cơn bão Chanchu vào tháng 5/ 2006, gây những thiệt hại nghiêm trọng cho miền Trung và các vùng miền khác trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Tiếp đó trong năm 2008, công tác dự báo vẫn tiếp tục có những sai sót , chậm trễ trong dự báo bão số 7, số 10 và trận mưa lũ lịch sử vào cuối tháng 10, đầu tháng 11, năm 2008 tại Hà Nội gây bức xúc t rong dư luận Gần đây nhất , trong cơn bão số 9 đổ bộ vào cá c tỉnh miền Trung ngày 29/9/2009 lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cho rằng do dự báo sai nên tỉnh này bị thiệt hại nặng Sự tranh cãi giữa cơ quan khí tượng và những người “thụ hưởng” dịch vụ dự báo thời tiết qua các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam vẫn chưa có hồi kết Tuy nhiên, trên tinh thần phản biện xã hội, cũng thừa nhận vai trò của truyền thông trong phòng chống thiên tai thời gian qua vẫn còn quá mờ nhạt Có thể thấy lối diễn giải “đều đều” quen thuộc, những mô hình ngôn ngữ bản tin thời tiết dập khuôn, thiếu sự nhấn mạnh cần thiết, của các phát thanh viên thời tiết trên sóng truyền hình

và phát thanh, đã làm mất tác dụng cảnh báo của thông tin Các phóng viên báo viết thì bê nguyên xi bản tin cơ quan khí tượng cung cấp, với đầy đủ từ ngữ kỹ thuật chuyên biệt, lên trang in

Đây là vấn đề đã được đặt ra, mổ xẻ, thảo luận, rút ra bài học từ nhiều hội thảo:

-“Kinh nghiệm phòng chống lụt bão sau 10 năm lũ lớn miền Trung - năm 1999” tháng 11/ 2009 tại Đà Nẵng

- “Biến đổi khí hậu và phát triển đô thị” ngày 14-15/9/2010

- Hội thảo “Tư vấn về tính dễ tổn thương với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp và Đối thoại về chính sách xây dựng khả năng ứng phó trong nông nghiệp ở vùng Châu Á và Việt Nam”, ngày 21 -22/7/2011 tại Khách sạn Hà Nội

- Hội thảo tham vấn Quốc gia “Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam”, Ngày 21/3/2011 tại thành phố Tam Kỳ - Quảng Nam

Ngoài ra, nhiều tờ báo in lẫn điện tử đều dành sự đặc biệt quan tâm đến vai trò của truyền thông trong biến đổi khí hậu như: Dân trí, Đất Việt, Vietnamnet Riêng Tạp chí truyền hình cũng có nhiều bài viết về những đột phá trong việc thực

Trang 9

hiện Bản tin dự báo thời tiết trên VTV1 Tuy nhiên, những hội nghị, hội thảo và những bài báo cũng chỉ khai thác ở một góc độ nào đó liên quan đến việc biến đổi khí hậu hoặc vai trò của truyền thông, trong khi đó chưa đề cập nhiều đến các bản tin dự báo thời tiết ở báo hình đặc biệt là ở miền Trung, nơi mà thiên tai khốc liệt nhất trong 6 vùng văn hóa theo cách phân chia của Trần Quốc Vượng Qua tham khảo những khóa luận cũng như luận văn của các khóa trước thì cho đến thời điểm này chưa có một nghiên cứu khoa học chính thức và sâu sắc về vấn đề này Trong khi đề tài đòi hỏi phải nhìn ở cả 3 góc độ: văn hóa, báo chí và Pru Do vậy, đây cũng là một trong những hạn chế của tác giả trong quá trình thực hiện đề tài vì đề tài khá mới mẻ và nguồn tư liệu tham khảo còn rất ít

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trong phạm vi đề tài luận văn thạc sĩ, tác giả hy vọng có thể phác thảo được thực trạng về công tác dự báo thời tiết trên sóng truyền hình của các đài địa phương khu vực Trung Bộ thông qua 3 đài: Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận thể hiện qua các bản tin dự báo hàng ngày cũng như những bản tin dự báo thiên tai mang tính cấp bách

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài, tác giả cũng mong muốn nhận xét và đánh giá tương đối toàn diện về ưu điểm và hạn chế của các bản tin dự báo thời tiết với ngôn ngữ đặc thù trên các Đài truyền hình tiêu biểu của Miền Trung, đồng thời đề ra giải pháp truyền thông để có thể nâng cao chất lượng của bản tin theo hướng gần gũi, sát thực và dễ hiểu hơn đối với người dân Đây là cơ sở thông tin quan trọng để người dân miền Trung – vùng đất luôn đối mặt với những khắc nghiệt với thời tiết,

để tìm ra cách ứng xử văn hoá tốt nhất với thời tiết cũng như phòng chống thiên tai

Trang 10

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích nội dung các bản tin dự báo thời

tiết trên sóng truyền hình của 3 đài: Đài PTTH Quảng Trị (Bắc Trung Bộ), Bình Định (Trung Trung Bộ) và Bình Thuận ( Nam Trung Bộ)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát của luận văn là một số bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình của 3 đài trong thời gian 6 tháng cuối năm 2010 Vì theo dự báo của các cơ quan khí tượng thủy văn trong năm 2010, do biến đổi khí hậu, Việt Nam sẽ hạn hán gay gắt hơn và bão nhiều hơn, Rõ ràng đây là mối lo ngại đối với cư dân miền Trung, những thiên tai “khôn lường” có thể sẽ xảy ra từ tháng 6 đến tháng 12 Trong đó, tháng 6 là đỉnh điểm của mùa khô, tháng 8 miền Trung bắt đầu hứng bão Do đó, ngoài bản tin thời tiết hàng ngày, trong giai đoạn 6 tháng khảo sát, tác giả sẽ có góc nhìn toàn diện để phân tích kĩ lưỡng về “dự báo hạn hán” và “dự báo bão lũ” ở cả 3 đài

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng thao tác phân tích tác phẩm báo chí, nghĩa là phân tích các bản tin dự báo thời tiết trong ngôn ngữ truyền hình để đánh giá chính xác thực trạng, cách chuyển tải thông tin của các đài truyền hình, từ đó đánh giá hiệu quả thực tế đối với công chúng nghe nhìn miền Trung đối với các bản tin thời tiết trên các đài truyền hình tiêu biểu của miền Trung Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số thao tác nghiên cứu khác như thống kê, phỏng vấn và điều tra xã hội học để phục

vụ nội dung khoa học của luận văn

6 Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài:

Trang 11

Về lý luận, luận văn mong muốn làm rõ vai trò của truyền thông trong việc dự báo thời tiết và ứng phó với thiên tai mà cụ thể là của loại hình báo hình ở một số đài khu vực Trung Bộ

Về thực tiễn, luận văn mong muốn đúc kết từ thực tế khảo sát để có thể đưa ra

mô hình dự báo thời tiết tốt nhất có thể, mục đích cuối cùng vẫn là hướng tới phục

vụ nhu cầu được dự báo thời tiết chính xác của khán giả, đây cũng là tiền đề để cải thiện tình hình kinh tế xã hội ở các tỉnh còn nghèo ở vùng Trung Bộ, thông qua việc giảm đi những rủi ro do thời tiết gây ra

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Trung Bộ trong toàn cảnh địa lý, khí hậu Việt Nam

Chương II: Thực trạng truyền thông về dự báo thời tiết trên Đài PTTH Quảng Trị, Bình Định, Bình Thuận đối với công chúng

Chương III: Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình nâng cao chất lượng bản tin dự báo thời tiết của 3 đài

Trang 12

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, trong khu vực Đông Nam Á ven biển Thái Bình Dương Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Cam-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, dài 1.650 km theo hướng Bắc Nam, phần rộng nhất trên đất liền khoảng 500 km; nơi hẹp nhất gần 50 km theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn từ góc nhìn địa – văn – hóa thì đặc điểm thì Việt Nam có 3 thông số chính

1.1.1 Xứ nóng,, ẩm, mưa nhiều

Kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, xét về tổng thể, Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có đặc trưng là một nước nhiệt đới gió mùa

ẩm Vì vậy, khí hậu nước ta mang đặc trưng là: nóng, ẩm và mưa nhiều, quanh năm

có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn Nhiệt độ trung bình năm từ 22°C đến 27°C và tăng dần từ Bắc vào Nam Mùa hè, nhiệt độ trung bình trên cả nước là 250C (Hà Nội

230C, Huế 250C, thành phố Hồ Chí Minh 260C), độ ẩm không khí trên dưới 84 %

Việt Nam cũng là quốc gia mưa nhiều, hàng năm có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình trong năm khoảng trên 2.000mm Cá biệt có nơi như như vườn quốc gia Bạch Mã ( Thừa Thiên Huế) đạt tới 7.977 mm) vào loại cao nhất thế giới [ 32, tr 28]

Trang 13

và thường gây ra lũ lụt Mang đặc điểm tự nhiên này, nên sông nước đã để lại dấu

ấn quan trọng trong tinh thần văn hóa người Việt Nam: Văn hóa nông nghiệp lúa nước

1.1.3 Giao điểm của các nền văn hóa, văn minh

Do vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đưởng hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á nói chung và Việt Nam từ lâu vẫn được coi là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải Thậm chí đến gần đây, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là "ống thông gió" hay "ngã tư đường"

Và tính chất ngã tư đường đã tạo cho Việt Nam sức sống và động lực phát triển Bốn dòng văn hóa lớn nhất Ấn - Hoa - Cận Đông - Tây gặp nhau, đan chéo nhau ở ngã tư này Điều đó tạo cơ hội cho Việt Nam biết tiếp thu, chắt lọc sự tinh hoa của các nền văn hóa, nhưng đặc biệt lại không làm mất đi bản sắc văn hóa riêng của mình, đề hình thành nên diện mạo văn hóa mới nhưng thấm đẫm bản sắc dân tộc

1.2 Ba hằng số của Văn hóa Việt Nam

Với các hằng số tự nhiên trên nên đã tạo cho dân tộc Việt ngàn đời nay là một dân tộc nông dân, với nghề trồng lúa nước, và ngàn đời nay, họ cư trú ở nông thôn, với những nguyên tắc tổ chức đặc thù của một xã hội nông nghiệp điển hình

Trang 14

Theo thống kê dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê, Ở Việt Nam có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này vào năm 1999 là 76,5%

Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên Do vậy, người nông dân phải dựa vào nhau để chống chọi lại với thiên tai Hơn nữa, nền nông nghiệp lúa nước lại mang tính thời vụ rất cao, điều đó có nghĩa là mọi người phải liên kết lại với nhau, hỗ trợ nhau cho kịp thời vụ

Nền văn hóa nông nghiệp, sản xuất lúa nước truyền thống của dân tộc ta đã

để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa, sinh hoạt, lao động Trải qua bao thế

hệ cha ông ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và dự báo những hiện tượng tự nhiên như nắng, mưa, gió rét, bão lụt có ảnh hưởng đến mùa màng, thời vụ Những kinh nghiệm máu xương của bao đời được tích tụ trong những câu tục ngữ, ca dao về trồng lúa, trồng cây, chăn nuôi Dựa vào quá trình quan sát thời tiết, sự vật, cha ông ta đã rút ra được những quy luật ngắn gọn, cụ thể về những biến động mưa, nắng và những kinh nghiệm đó trở thành cơ sở để quyết định cho

sản xuất mùa vụ và dự đoán được diễn tiến của thời tiết Chẳng hạn:

“Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút”

“Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật”

“Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”

“Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão”

“Én bay thấp mưa ngập cầu ao”

Trang 15

“Én bay cao mưa rào lại tạnh”

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

“Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước”

Với những câu ca dao, tục ngữ có vần có điệu, duyên dáng, sinh động, dễ nhớ…cha ông ta đã gửi gắm tình cảm gắn bó, hòa mình với thiên nhiên, đồng thời

ấp ủ khát vọng chinh phục, cải tạo thiên nhiên, đó là những cách nghĩ, nếp sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân nông nghiệp Người Việt xưa luôn có ý thức

về việc đúc rút, gìn giữ, lưu truyền những kinh nghiệm quí báu cho các thế hệ nối tiếp

1.2.2 Nông nghiệp

Chính điều kiện tự nhiên của vùng gió mùa Châu Á làm cho việc trồng lúa nước là sự lựa chọn tốt nhất, và thế là hình thành nền nông nghiệp lúa nước cùng với nó là “ văn minh lúa nước” như nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến Ngay trong tựa đề giáo trình “Việt Nam văn hóa sử cương”, học giả Đào Duy Anh đã ghi nhận

về nghề trồng lúa trên đất Việt của người Việt [ 2, tr.05] “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không một mẫu đất nào là không có dấu vết công trình thảm đạm kinh dinh của tổ tiên ta để giành lại quyền sống với tạo vật; suốt một dải Trung - Việt vào đến trung châu Nam Việt không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hi vọng cho tương lai Cái văn hóa của tổ tiên ta đã gây dựng trong hai nghìn năm để sinh trưởng giữa những điều kiện tự nhiên ác liệt ở xứ này, tất phải có sinh khí mạnh mẽ lắm.”

Trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, giáo sư Trần Ngọc Thêm đã định

vị ngay văn hóa Việt Nam là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp [25, tr.20] “ xứ nóng sinh ra mưa nhiều, tạo nên sông lớn với những đồng bằng trù phú” [ 32, tr.21]

Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát triển dân tộc và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là nền kinh tế chủ yếu của đất nước Nếu trên trái đất, diện tích đất trồng lúa chiếm 11% thì tại Việt Nam khắp nơi đều trồng lúa, nhất là ở các miền đồng bằng và trên thế giới số người được sống bằng lúa gạo là 50% thì tại Việt Nam là 100% Trên thực tế, việc sản xuất ra lúa

Trang 16

gạo là một hoạt động kinh tế đứng hàng đầu Những cánh đồng lúa trải dài từ khắp miền núi, đồng bằng đến cao nguyên, hình thành nên nhiều vùng thâm canh cây lúa Những vựa lúa lớn của nước Việt Nam cả về diện tích, sản lượng và chất lượng

có thể kể đến như đồng bằng sông Hồng thuộc khu vực phía bắc, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Nam Bộ

Trong những năm gần đây, cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của đất nước.Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới, sau Thái Lan về xuất khẩu gạo Năm 2010 Việt Nam xuất khẩu lượng gạo kỷ lục 6,8 triệu tấn

Bên cạnh nghề trồng trọt, theo học giả Đào Duy Anh chăn nuôi cũng được người Việt Nam chú trọng “ Nông nghiệp ở nước ta, từ xưa đã dùng trâu bò để cày cấy Hiện nay trâu bò vẫn là những súc vật tối cần thiết cho dân quê, cho nên trừ nhà bần cùng tiểu nông ra, thì những nhà trung nông và đại nông, nhà nào cũng nuôi trâu bò cả Ngoài trâu bò, người nhà quê thường nuôi lợn dê, gà, vịt để ăn thịt

và để bán Một mình xứ Bắc việt mỗi năm xuất khẩu đi Hương Cảng đến năm ba

ức gà vịt” [ 2, tr.59, 60]

Ngoài ra, với đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo, vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km² Điều kiện tự nhiên trên đã tạo điều kiện cho nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản phát triển từ rất sớm “ Ở khắp miền bờ biển Bắc Việt, Trung Việt cho đến Nam Việt, nhân dân chỉ sống về nghề chài lưới Phần nhiều nơi chỉ đánh cá để đem bán lại các chợ hay các thành phố ở gần, song những nơi có nhiều cá thì phơi khô hoặc làm nước mắm để đem bán đi

xa và xuất cảng, như Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Phan Thiết ở Trung Việt” [ 2, tr.60, 61]

Trang 17

Bản đồ nước Việt Nam

Đến thời điểm này, nghề đánh bắt hải sản của Việt Nam ngày càng phát triển, với đội tàu lên đến 130 ngàn chiếc, sản lượng khai thác cả năm 2010 lên 2.450,8 ngàn tấn Riêng hoạt động nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển nhiều

mô hình với các hình thức đối tượng nuôi đa dạng, phong phú cho hiệu quả kinh tế cao như: nuôi cá lóc trong bể xi măng, ao đất; cá diêu hồng, rô phi đơn tính nuôi trong bè, nuôi ba ba, ếch,… Trong nuôi nước lợ là tôm thẻ chân trắng trên cát cho năng suất bình quân 34 tấn/ha/năm (một năm nuôi 03 vụ) và lợi nhuận thu được rất cao, điều đó làm cho nhiều người dân và nhà doanh nghiệp đã và đang quan tâm

Trang 18

đầu tư vào nuôi trồng thủy sản Việt Nam đã trở thành 1 trong 10 nước có kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất thế giới Theo số liệu của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2010, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước đạt 4,94 tỷ USD

Trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển

1.2.3 Nông thôn

Với 90 % dân số theo nghề nông trước kia và hiện tại là hơn 70 % đã hình thành nên một đặc điểm đó là Ở Việt Nam, người nông dân sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều Họ sống cố định một chỗ, ở dưới một mái nhà với mảnh vườn của mình được bao bọc bởi luỹ trẻ làng bảo vệ Trong sản xuất, người nông dân phụ thuộc vào nhiều hiện tượng của tự nhiên như trời, đất, nắng, mưa Bởi vậy mà

họ rất tôn trọng, hoà thuận với tự nhiên và phụ thuộc vào nó Người Việt đã tích luỹ được những kinh nghiệm hết sức phong phú trong sản xuất Đó là hệ thống tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm chủ quan, cảm tính

1.3 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của Trung Bộ

Với nhiều góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu văn hóa cũng chia Việt Nam theo từng cách khác nhau Tuy nhiên, theo cách phân vùng văn hoá của

Trang 19

6 Vùng văn hóa Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai với hệ thống sông Cửu Long [ 38, tr.21]

Trang 20

Bản đồ phân vùng văn hóa Việt Nam

Trong đó, vùng văn hóa Trung Bộ là vùng đất gồm 11 tỉnh, thành gồm: tỉnh

Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và thành phố Đà Nẵng hiện nay Nói đến miền Trung như một tổng thể hệ thống nằm trong tổng thể hệ thống Việt Nam, người ta thường chú ý đến các đặc điểm sau đây:

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên Trung Bộ

- Dải đất hẹp chạy dài ven biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận

Địa hình miền Trung hẹp theo chiều ngang Đông Tây, nếu quay mặt về Đông thì trước mặt mỗi người dân Trung Bộ sẽ là Biển Đông, sau lưng là dãy Trường Sơn Bờ biển vùng duyên hải miền Trung dài hơn 1 1000 km Có nhiều

Trang 21

sông tương đối khá lớn, như sông Gianh ở Quảng Bình, sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, sông Hương ở Thừa Thiên- Huế, sông Vu Gia ở Đà Nẵng, sông Thu Bồn ở Quảng Nam, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi Sông, suối nhiều nhưng chiều dài các sông đa số ngắn và có độ dốc lớn Lưu vực các sông thường là đồi núi nên nước mưa đổ xuống rất nhanh Các cửa sông lại hay bị bồi lấp làm cản trở việc thoát lũ cho vùng đồng bằng

Bản đồ bờ biển miền Trung

Địa hình miền Trung Bộ chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam, bởi các đèo là những dãy núi đồi tách từ Trường Sơn đâm ngang ra biển Nếu tính từ Tam Điệp đèo Ba Dội thuộc xứ Thanh thì cứ một đèo, một đèo lại một đèo, lặp đi lặp lại qua đèo Hoàng Mai, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo Cả và hàng chục đèo nhỏ khác

Dưới chân đèo là các sông lớn nhỏ, đều chảy ngang theo chiều Đông Tây ra biển, sông ngắn, nước biếc xanh, ít phù sa, châu thổ hẹp, nhiều cửa sông sâu tạo thành các vịnh, cảng Sát bờ biển, từ Quảng Bình trở vô Nam, Ngãi, Bình, Phú có các dải cồn cát chạy dọc dài bắc Nam ghi dấu những đường biển cũ ở giữa các dải

Trang 22

cồn cát là một vùng trũng nối phân bố xóm làng và ruộng lúa ngày nay Phần lớn đồng bằng của duyên hải miền Trung kém màu mỡ, việc canh tác lại càng khó khăn hơn trong điều kiện khí hậu vô cùng khắc nghiệt

- Địa hình ưỡn cong ra biển: tiền để để miền Trung hứng bão và nhiều thiên tai khác

Suốt dải đất miền Trung, đường bờ biển Việt Nam “ ưỡn” cong, “ lồi” ra phía sau biển Đông, chính vì thế mà dải đất này hằng năm luôn phải hứng chịu nhiều cơn bão biển

Hàng năm những trận bão biển và gió mùa Đông Bắc đã gây nên những trận mưa lớn ở miền Trung Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến động thời tiết trên toàn thế giới như El Nino và La Nina, những trận bão biển và mưa lớn xảy ra càng khốc liệt hơn Mùa bão thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, và trung bình hàng năm có 4 cơn bão

Hiện nay, ảnh hưởng và tác động của biến đổi khí hậu như sự nóng lên của trái đất, nước biển dâng, diễn biến của khí hậu ngày càng khắc nghiệt không còn là chuyện của thế giới, của những nhà khoa học mà nó đang trở thành một hiểm hoạ thực sự cho Việt Nam, trong đó có khu vực vùng duyên hải miền Trung

Vì vậy bão lũ và nước biển dâng của vùng duyên hải miền Trung còn nan giải hơn rất nhiều khi tính đến yếu tố liên quan bởi hiện tượng biến đổi khí hậu

Trong 4 thập kỷ qua, một thực tế có thể nhìn thấy được đó là cường độ và tần suất các dạng thiên tai ngày càng tăng lên và dữ dội hơn Trong thập kỷ 90, khu vực miền trung đã phải chống chịu hơn 15 cơn bão, trong đó một số cơn bão có sức gió giật mạnh trên cấp 12 gây hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản

Khí hậu, miền Trung lại có mùa mưa lệch pha với hai đầu Bắc Nam đất nước, ở miền Trung, lại gặp gió Tây rất khô nóng, thổi từ Lào qua (xưa người vẫn gọi là gió Lào tạo ra sự khô rang cho miền Trung)

Không chỉ có bão, miền Trung chịu ảnh hưởng ít nhất của 7 loại hình do thiên tai, hiểm họa khác: lũ (kể cả lũ quét), lụt, hạn hán, sạt lở đất, lốc, xâm nhập mặn và xói lở bờ sông

1.3.2 Đặc điểm xã hội Trung Bộ

Trang 23

vì nó mang tính khoa học hơn và chính xác hơn so với những kinh nghiệm đúc kết của ông cha Đó cũng là lý do để bản tin dự báo thời tiết trở nên ngày càng quan trọng hơn trong cuộc sống thường nhật của cư dân miền Trung – nơi thiên tai diễn

ra khắc nghiệt nhất

1.4 Vị trí của bản tin dự báo thời tiết đối với các Đài Phát thanh và truyền hình Trung Bộ

- Thời tiết là trạng thái khí quyển trong một khoảng thời gian ngắn tại một

địa điểm nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố như: nhiệt độ, áp suất, độ

ẩm, tốc độ gió, mưa…

Theo Bách khoa toàn thư Wkkipedia: Dự báo thời tiết là một nghành ứng dụng của khoa học và công nghệ để tiên đoán trạng thái và vị trí của bầu khí quyển trong tương lai gần Công tác dự báo thời tiết được thực hiện bằng cách thu thập số liệu về trạng thái hiện tại của bầu khí quyển và áp dụng những hiểu biết khoa học về các quá trình của khí quyển để tiên đoán sự tiến triển của khí quyển

Hiện nay, việc chuyển tải thông tin về môi trường - thời tiết, trong đó có thiên tai hiểm họa, được thực hiện qua các kênh truyền thông chính: truyền hình, phát thanh, báo chí (báo in, báo điện tử) và cả hệ thống đài phát thanh duyên hải

Trang 24

So với báo in, thì bản tin dự báo thời tiết ở loại hình phát thanh và truyền hình chiếm ưu thế hơn với diện phủ sóng rộng hơn Đặc biệt, vượt qua phát thanh với những lợi thế đặc thù riêng của loại hình báo hình mà bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình đã trở thành “ một phần không thể thiếu” trong cuộc sống hàng ngày đối với công chúng Nhận thức được tầm quan trọng của việc thông tin

về dự báo thời tiết, cùng với việc hoàn thành sứ mệnh vai trò của một cơ quan báo trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như phản hồi các ý kiến của mọi tầng lớp nhân dân đến với các Đảng, Nhà nước, thời gian qua đài truyền hình Việt Nam và cả các đài PTTH tỉnh, thành kể cả các Trung tâm truyền hình Việt Nam đặt tại Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và các kênh truyền hình cáp, Đài truyền hình kỹ thuật số cũng quan tâm đến việc chuyển tải những bản tin dự báo thời tiết cho công chúng Điều này được thể hiện là tất cả các Đài đều sản xuất bản tin dự báo thời tiết riêng

Tuy nhiên, dù mô hình của báo hình kéo đến đài huyện, song việc sản xuất các bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình cũng chỉ mới dừng lại ở đài tỉnh Điều này bắt nguồn từ thực tế dự báo thời tiết là bản tin khoa học – chuyên biệt, nên đài huyện chưa thể tự sản xuất được Cùng với đài truyền hình Trung ương, các Trung tâm truyền hình Việt Nam, các Đài truyền hình ở những tỉnh, thành trong cả nước, các đài PTTH Trung Bộ cũng ý thức rất rõ vai trò bản tin dự báo thời tiết đối với chính Đài của mình Chính vì thế, tuy có thời lượng tương đối ngắn, nhưng bản tin dự báo thời tiết luôn được xếp vào các khung giờ vàng của truyền hình địa phương

Thực tế, với một vùng đất rất khắc nghiệt như miền Trung – Việt Nam thì việc nắm bắt kịp thời những biến đổi của thời tiết sẽ giúp công chúng điều chỉnh cách sinh hoạt sao cho phù hợp và hơn nữa tránh những tổn thất trong nông nghiệp cày cấy, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản cũng như có thể tránh những tổn thất về tính mạng Bên cạnh các kênh truyền hình của đài truyền hình Việt Nam, thì 11 đài truyền hình Trung Bộ cũng đã dành một sự quan tâm đặc biệt đối với việc thực hiện và phát sóng các bản tin dự báo thời tiết

Trang 25

 Đài PTTH Quảng Trị ( QTV)

Ngày 20 tháng 7 năm 1955, cùng với sự hình thành đặc khu Vĩnh Linh, Đài Truyền thanh Vĩnh Linh được thành lập (Tiền thân của Đài PT&TH Quảng Trị ngày nay)

Tháng 6 năm 1972, cùng với việc thành lập Ty Thông tin – Văn hoá Quảng Trị, Ban Quản lý truyền thanh Quảng Trị được thành lập Đến tháng 1 năm 1973, Đài Truyền thanh Đông Hà được thành lập trực thuộc Ban Quản lý Truyền thanh Năm 1976, sáp nhập ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Ngày 15 tháng 4 năm 1976, Đài Phát thanh Bình Trị Thiên được thành lập

Ngày 1 tháng 7 năm 1989 tỉnh Quảng Trị được lập lại Đài Phát thanh Quảng Trị được thành lập và tổ chức phát sóng chương trình phát thanh đầu tiên Đến ngày

17 tháng 11 năm 1992 UBND tỉnh Quảng Trị ra Quyết định số 701/QĐ-UB về việc thành lập Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Quảng Trị ( viết tắt là QTV) và chương trình Chào xuân Bính Thân (1992) được xem là chương trình truyền hình đầu tiên của Đài PT&TH Quảng Trị

Đến đầu tháng 7 năm 2009 Đài đã phát sóng chương trình địa phương trên 12h/ngày

Ngày 18/6/1992 hợp nhất Đài Phát thanh và Đài truyền hình Quy Nhơn thành Đài Phát thanh và truyền hình Bình Định ( viết tắt là BTV) Hiện tại chương trình truyền hình địa phương có thời lượng phát sóng 15 giờ /ngày

* Đài PTT&H Bình Thuận (BTV)

Trang 26

Đài được thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1977 Trước đây, đài chỉ phát sóng vài giờ mỗi ngày Thời gian còn lại tiếp sóng một số kênh của Đài truyền hình Việt Nam với những chương trình tin tức, chính trị là chính Những năm gần đây, yêu cầu phải phát triển để theo kịp xu hướng hội nhập của đất nước, BTV đã trang bị cơ sở

kỹ thuật tương đối để phát thanh và truyền hình liên tục trong ngày Thời lượng truyền hình địa phương là 24 giờ/ngày với những chương trình được đổi mới hoàn toàn

Từ ngày 1 tháng 10 năm 2007, BTV chính thức được đưa lên mạng truyền hình cáp Thành phố Hồ Chí Minh (HTVC)

Khảo sát ở 3 Đài: Đài PTTH Quảng Trị ( QTV), Đài PTTH Bình Định (BTV) và Đài PTTH Bình Thuận ( BTV) tất cả các Đài đều ưu tiên xếp bản tin dự báo thời tiết ngay sau bản tin thời sự địa phương và bản tin quốc tế

Ngoài bản tin dự báo thời tiết chính vào buổi tối 20h15, các Đài PT&TH Trung Bộ còn phát sóng lại bản tin này vào các khung giờ khác nhau để phục vụ nhu cầu của công chúng

- Những ưu thế đặc trưng của các bản tin dự báo thời tiết được thể hiện trên sóng truyền hình

Có nhiều ý kiến cho rằng, nhìn ở góc độ truyền thông phòng chống thiên tai thì hệ thống báo nói phát huy được hiệu quả hơn cả Chẳng hạn, một khi có bão, mọi loại hình khác đều ngưng hoạt động vì mất điện hoặc trục trặc kỹ thuật thì phát thanh vẫn hoạt động và cung cấp những thông tin mới nhất cho thính giả Nhìn ở

Trang 27

góc độ nào đó, thì ý kiến này hoàn toàn chính xác, tuy nhiên chỉ đúng với trường hợp ngư dân đang đánh bắt xa bờ và chỉ có 1 cách là đón nghe thông tin báo bão từ các Đài duyên hải Nhưng việc phòng chống thiên tai trên đất liền hoàn toàn khác,

“ phòng tránh” ở đây là việc đón bắt những thông tin để người dân dựa vào đó có cách ứng phó Trong khi đó chỉ với cách chuyển tải bản tin bằng âm thanh thì báo nói chưa giúp người dân định hình được diễn biến phức tạp của bão lũ bằng báo hình

Có thể nói truyền hình là loại hình truyền thông bằng màn ảnh nhỏ khá phổ biến đối với người dân miền Trung Mang đặc thù là loại hình dành cho công chúng nghe nhìn cộng với ưu thế ngôn ngữ hình ảnh-âm thanh của báo hình, ngoài

âm thanh, hình ảnh, các chương trình dự báo thời tiết trên truyền hình còn có ưu điểm là đưa lên màn ảnh cả ngôn ngữ phi văn tự là biểu đổ, đồ thị, bảng biểu và cả ngôn ngữ hình thể của MC bản tin dự báo thời tiết

MC dẫn thời tiết trên VTV1

Báo mạng Internet cũng đã hội đủ những yếu tố này, tuy nhiên với vùng đất còn nhiều khó khăn như miền Trung, thì tỷ lệ người dân sử dụng Internet còn khá hạn chế, việc tiếp cận với loại hình báo này dường như còn xa vời Trong khi đó, ở bất cứ gia đình nào cũng có ít nhất 1 chiếc tivi để giải trí, xem thông tin và xem dự báo thời tiết, điều chỉnh theo cách sống chung với những bất lợi về thời tiết vốn đã

là vấn đề nan giải của miền Trung

Trang 28

Không tốn một khoản phí nào (như mua báo in hay truy cập báo điện tử), chỉ cần bật nút công chúng miền Trung có thể nắm bắt những dự báo thời tiết mới nhất Hơn nữa, với những ưu thế chỉ có ở báo hình, loại hình báo này đã tạo điều kiện cho bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình trở thành lựa chọn số một cho bất

cứ công chúng nào quan tâm đến thời tiết

Trang 29

những trận gió Lào bỏng rát mà ngay cả nhà thơ Chế Lan Viên đã phải thốt lên “

Ơi gió Lào ơi, người đừng thổi nữa Cho ruộng đói mùa, cho những cánh đồng đói

cỏ Cho những đồng sim không đủ quả nuôi người”

Sống trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt như vậy, để định cư, sinh sống, buộc người miền Trung phải dự đoán thời tiết Điều này đã thể hiện rõ qua những câu ca dao của cha ông đúc kết từ hàng nghìn năm qua như : “Chuồn chuồn bay thấy thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” “ Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa” Song, thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, biến đổi khí hậu đã đưa thời tiết không còn theo một quy luật thời gian nữa, chính vì vậy những tổn thất về tài sản và con người ở miền Trung ngày càng nặng nề hơn Không thể dựa vào những đúc kết của cha ông để lại, buộc cư dân miền Trung phải theo dõi các bản tin dự báo thời tiết mang tính khoa học và chính xác hơn, lấy đó làm nền tảng để ứng xử với thiên nhiên

Nhận thức được điều này, các cơ quan truyền thông ở cả 4 loại hình báo chí

đã và đang nỗ lực để hoàn thành vai trò của mình khi chuyển tải những thông tin về thời tiết đến với cư dân miền Trung Vượt lên trên các loại hình báo chí khác, báo hình đã trở thành kênh cung cấp thông tin thời tiết quan trọng cho người dân miền Trung mà điểm nhấn là các bản tin dự báo thời tiết được phát sóng ít nhất 1 bản tin/1 ngày cung cấp những biến đổi thời tiết trong ngày hôm sau

Trang 30

Đặc thù của vùng đất “núi cách núi”, địa hình này làm cho sự lan tỏa thông tin hẹp hơn, thường bó khung trong vị trí 1 tỉnh Điều này là khó khăn đối với các đài kỹ thuật số hay truyền hình cáp nhưng lại là thuận lợi cho các đài địa phương khi tránh được sự “ cạnh tranh gay gắt” về mặt thông tin của hàng chục kênh truyền hình cáp và kỹ thuật số Bản thân các đài địa phương khu vực Trung Bộ đã nhận thấy vai trò cực kỳ quan trọng của bản tin dự báo thời tiết đối với công chúng và thậm chí là đối với bản thân các đài truyền hình Điều này được thể hiện rõ qua việc xếp bản tin vào những khung giờ vàng của đài, ngay sau bản tin thời sự ở các đài địa phương

Những vấn đề lý luận chung của chương 1 sẽ là cơ sở lý thuyết để khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng truyền thông về dự báo thời tiết của các đài PTTH Trung

Bộ trong chương 2

Trang 31

2.1.1 Tác động của Biến đổi khí hậu tại việt Nam

Hiện nay, ảnh hưởng và tác động của biến đổi khí hậu như sự nóng lên của trái đất, nước biển dâng, diễn biến của khí hậu ngày càng khắc nghiệt không còn là chuyện của thế giới, của những nhà khoa học mà nó đang trở thành một hiểm hoạ thực sự cho Việt Nam

Theo Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) thì Việt Nam nằm trong 5 nước hàng đầu trong số các nước trên thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu

Những biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam:

- Thứ nhất là làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán xảy ra bất thường với sự gia tăng tần suất và cường độ

- Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,3o C

- Xu thế biến đổi của lượng mưa trên phần lãnh thổ Việt Nam, lượng mưa giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11, hiện tượng mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc và Bắc Trung Bộ

- Mực nước biển dâng lên trung bình 0,435 cm đến 0,635 cm năm

2.1.2 Những tác động của biến đổi khí hậu tới miền Trung Việt Nam

Miền Trung là khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu Trong 4 thập kỷ qua, một thực tế có thể nhìn thấy được đó là cường

độ và tần suất các dạng thiên tai tại miền Trung ngày càng tăng lên và dữ dội hơn

Trang 32

- Bão, Lũ lụt

Hàng năm những trận bão và gió mùa Đông Bắc đã gây nên những trận mưa lớn ở miền Trung Những năm gần đây, do ảnh hưỡng của biến động thời tiết trên toàn thế giới như El Nino và La Nina, những trận bão và mưa lớn xảy ra càng khốc liệt hơn Mùa mưa bão thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, và trung bình hàng năm có 4 cơn bão

Mưa lớn điển hình là vào năm 1999 với những trận mưa liên tục từ ngày 18 tháng 10 đến ngày 06 tháng 11 đã nâng mực nước các sông lớn ở miền Trung đến

độ cao chưa từng thấy Với lượng mưa 1384 mm tại Huế trong vòng 24 giờ (từ 7 giờ sáng ngày 2 đến 7 giờ sáng ngày 3 tháng 11) , làm mực nước sông Hương lên cao gần 6 m, cao hơn mực nước trận lụt năm 1953 đến 0.46 m Lượng mưa vào ngày 2 tháng 11 tại Huế là lượng nước mưa lớn thứ nhì trên thế giới, sau kỷ lục

1870 mm đo được tại Cilaos, đảo Réunion vào ngày 16 tháng 3 năm 1952 Tiếp đến là các trận mưa lớn đã xãy ra từ ngày 01 đến ngày 07 tháng 12, nhất là ở hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi Lượng nước mưa lên đến 2192 mm ở thượng lưu sông Tam Kỳ và 2011 mm ở gần Ba Tơ Đặc điểm của trận lụt năm 1999 là nước

lũ dâng cao rất nhanh nhưng xuống chậm, làm nhiều nơi bị ngập lụt đến 3-4 ngày

Trang 33

Quang 4.9 13.9 24.6 152.7 308.1 202.0 233.9 165.8 137.3 32.1 7.7 1.3

Hà Nội 4.9 8.0 49.1 74.3 229.0 242.4 550.5 215.7 154.6 78.8 1.2 3.6 Bãi

Cháy 0.8 20.2 55.6 133.6 223.6 213.1 320.6 177.3 296.7 120.4 1.7 3.7 Nam

Định 4.9 3.0 114.8 214.4 249.2 180.6 325.6 146.7 316.9 65.9 5.5 16.1

Vinh 37.2 19.6 92.4 84.7 123.3 3.5 108.5 339.9 373.8 108.6 61.1 56.6 Huế 257.0 24.1 86.8 149.0 220.3 106.0 78.5 99.0 1288.6 833.8 331.5 334.5

Đà

Nẵng 159.5 23.3 23.0 179.9 65.3 36.2 186.5 152.8 1375.7 455.8 194.4 165.4 Qui

Nhơn 77.7 31.1 28.4 184.3 338.7 48.4 57.4 54.3 362.9 566.2 475.1 49.1

Pleiku 0.3 5.0 9.6 144.4 266.0 128.5 652.4 566.5 645.3 217.9 89.3 0.2

Đà Lạt 3.1 70.5 135.1 248.7 166.7 162.9 219.5 199.7 298.7 265.7 77.6 0.9 Nha

Trang 35.4 21.8 50.3 203.1 214.2 46.8 35.3 40.9 207.8 168.2 326.2 42.5 Vũng

Tàu 0.0 8.0 1.6 70.2 277.7 96.7 203.3 71.7 165.9 244.7 22.7 0.2

Cà Mau 22.7 101.3 2.2 201.4 342.4 169.3 413.5 210.1 488.3 208.0 65.6 19.6

Bảng 2.1: Lượng mưa các tháng năm 2009 ( Số liệu của Tổng cục thống kê)

Khác với sông Hồng ở miền Bắc, các sông ngòi ở miền Trung không có hệ thống

đê để ngăn lũ Ngoài ra cũng không có các hồ chứa nước lớn ở vùng thượng lưu để điều tiết nhằm giảm thiểu lũ lụt ở vùng đồng bằng, vì vậy các khu dân cư ở hai bên

bờ sông bị ngập tràn mỗi khi có mưa to

Trang 35

Hình ảnh lũ lụt ở miền Trung

Trang 36

Theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn: Bão lũ có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây Có tới 80 đến 90% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của bão, lũ Trung bình số người chết và mất tích hàng năm do bão, lũ gây

ra là trên 750 người Năm thiệt hại đặc biệt lớn là bão Linda (1997) với số người chết và mất tích lên đến trên 3.000 người Bão, lũ cũng làm tổn thất về kinh tế hàng năm là 1,5% GDP; trong đó, năm 2006, thiệt hại nặng nề nhất là 18.500 tỷ đồng

Trong khi đó, bão, lũ tại miền Trung chiếm 65% của cả nước, các cơn bão thường xảy ra dồn dập trong thời gian ngắn, có khi trong 1 tháng bị ảnh hưởng của 2-3 cơn bão có cường độ lớn và mỗi khi lũ xuất hiện thì xảy ra rất nhanh, chảy xiết

và gây thiệt hại nặng nề

Nguyên Cục trưởng Cục đê điều và phòng chống lụt bão Nguyễn Ty Niên

trong “Hội nghị 10 năm kinh nghiệm phòng chống lũ lụt tại miền Trung”, chỉ ra

rằng: Mười năm qua, năm nào miền Trung cũng gặp nhiều thiên tai Đặc biệt, dấu

ấn về trận lũ lịch sử năm 1999 mãi mãi là ám ảnh đối với những người làm công tác phòng chống lụt bão và người dân vùng bị ảnh hưởng Đây là trận lũ khủng khiếp chưa từng xảy ra trong lịch sử Bởi chỉ trong vòng 1 tháng (từ tháng 11 đến tháng 12-1999) liên tiếp xảy ra 2 đợt , lũ đặc biệt lớn, trên cùng một khu vực và đã làm trên 1.000 người chết, 52.000 ngôi nhà bị trôi, thiệt hại hơn 5.400 tỷ đồng Và

“thảm họa” thiên tai đó lại xảy ra đúng 10 năm sau, năm 2009 2 đợt bão lũ liên tiếp xảy ra trong tháng 9 và 10-2009 đã tàn phá, nhấn chìm cả miền Trung, làm gần

300 người chết và mất tích, gần 100 ngàn ngôi nhà bị sập, trôi, tốc mái; thiệt hại gần 20 ngàn tỷ đồng

Những đợt bão lũ gây thiệt hại nặng nề tại miền Trung thời gian qua:

- Năm 1964, 2 cơn bão liên tiếp Iris và Joan đổ bộ vào Phú Yên và Bình Định, làm chết hơn 7.000 người

- Năm 1985 cơn bão Cecil cấp 12 đổ bộ vào Quảng Trị – Thừa Thiên-Huế gây chết hơn 800 người ở vùng phá Tam Giang

- Năm 1989, 3 trận bão cấp 12 đổ bộ liên tiếp vào Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh làm chết 484 người

Trang 37

- Biển dâng: Mực nước biển dâng và sự không ổn định của địa mạo ở vùng

ven biển miền Trung ngày càng diễn biến phức tạp Mực nước biển dâng bao gồm : dâng do thủy triều , dâng do bão , lũ, dâng do biến đổi khí hậu Vì vậy những năm gần đây, tình hình bờ biển bị xâm thực xảy ra nhiều hơn Sự đe dọa của mực nước biển dâng lên các khu dân cư và cơ sở hạ tầng dọc bờ biển là thường xuyên hơn

Đã nhiều năm qua, cứ đến mùa mưa bão, người dân sống dọc ven biển của các địa phương vùng ven biển miền trung thường rơi vào trạng thái lo lắng bởi nạn xâm thực của sóng biển Cứ vào mỗi mùa mưa bão, nhà cửa, đất đai và nhiều tài sản khác bị sóng cuốn ra biển

Hình ảnh Người dân phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng

đóng kè chắn sóng

Trang 38

Điển hình trong nhiều năm qua, gần 100 hộ dân sống dọc biển Nam Ô, thành phố Đà Nẵng luôn phải sống trong nỗi ám ảnh bởi sự xâm thực của sóng biển 750ha đất sản xuất, đất sinh hoạt của người dân nơi đây đang ngày càng bị thu hẹp bởi biển ngày càng “ăn” sâu vào đất liền

Trong các trận bão cuối năm 2007 và 2008, tại phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, nước biển đã ăn sâu vào đất liền, cuốn trôi nhà cửa và ao tôm của 16 hộ chuyên nuôi tôm giống Cạnh đó, một đoạn đê dài gần 2 km chạy dọc sông Cu Đê, đoạn cầu Nam Ô, thuộc phường Hòa Hiệp Bắc cũng bị sạt lở nghiêm trọng, đe dọa đến sự an toàn của cầu Nam Ô Sóng biển xâm thực đã đánh sập và hư hỏng hàng chục căn nhà Sóng biển cũng đã ăn sâu 100m vào khu vực dân cư phía Bắc ghềnh Nam Ô, gần 40 ngôi mộ buộc phải di dời khẩn cấp trước khi

bị nước biển nhấn chìm

Tại tỉnh Quảng Nam, dự án kè Tam Thanh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng

từ năm 2006 nhưng đến nay hơn 50 hộ dân sống khu vực này vẫn bị sóng biển đe dọa Từ năm 2003, Nhà nước đã đầu tư 60 tỷ đồng để xây dựng 3 km kè biển Tam Thanh và 1km kè sông và đưa vào sử dụng từ giữa năm 2006 Thế nhưng, đến cuối năm 2006, sóng biển đã làm sạt lở gần 100m ở khu vực dốc ông Dũ và ông Ổi

Nhiều đoạn của tuyến đê ngăn mặn tại huyện Tuy Phước (tỉnh Bình

Định) bị sạt lở gần hết

Trang 39

Tỉnh Bình Định hiện có 105 km đê ngăn mặn và gần 390 km đê sông, là một trong những địa phương có hệ thống đê nhiều nhất miền Trung Thế nhưng, phần lớn tuyến đê này cũng đã bị xuống cấp, có nhiều đoạn bị sạt lở sâu vào thân đê, đe dọa cuộc sống của hàng ngàn hộ dân khi có mưa bão

Bên cạnh đó, hệ thống đê khu Đông của sông Hà Thanh có chiều dài trên 50

km, từ TP Quy Nhơn đến phía đông Tuy Phước, Phù Cát càng đáng lo ngại hơn Theo Chi cục Quản lý đê điều Bình Định (thuộc Sở NN-PTNT), hệ thống đê này vẫn còn 25 km chưa từng được tu bổ trong hơn 10 năm qua nên nguy cơ vỡ đê rất lớn

Ngoài những hiểm họa trên, miền Trung Việt Nam là khu vực chịu nhiều thiên tai khác như lũ, lũ quét, hạn hán, sạt lở đất, lốc và tình trạng xói lở bờ sông

Những biến động sâu sắc về môi trường tự nhiên và về kinh tế -xã hội nêu trên không những có ảnh hưởng đến sự phát triển của vùng duyên hải miền Trung

mà còn đối với cả nước

2.1.3 Những dự báo của các chuyên gia về thời tiết trong 6 tháng cuối năm

Biển đổi khí hậu làm cho quy luật về khí hậu thay đổi, nhiều địa phương, trong đó đặc biệt là Trung Bộ xuất hiện những đợt nắng nóng lên tới trên 40 độ C Với những bất thường đó, dự báo bão lũ năm nay cũng có nhiều bất thường Năm nay, trên biển Đông có thể có khoảng 10 - 12 cơn bão, trong đó có 5 - 6 cơn bão ảnh hưởng đến nước ta

Dự báo ở Bắc Trung Bộ: Vào tháng 10/2010 có khả năng xảy ra 1 - 2 đợt lũ vừa, một số nơi có khả năng xảy ra lũ lớn cục bộ Ở Trung Trung Bộ, từ tháng 10 - 12/2010, trên các sông có khả năng xảy ra 2-3 đợt lũ, một số nơi có lũ lớn Ở Nam

Trang 40

Từ tháng 5/7, khí hậu trái đất đã chuyển sang trạng thái trung tính (không El Nino, không La Nina) Tuy nhiên, El Nino bao giờ cũng có độ trễ (khoảng từ 3-6 tháng) của nó Như vậy, có nghĩa là dù El Nino đã kết thúc nhưng nó vẫn còn ảnh hưởng tới những tháng tiếp theo Dự báo, trong tháng 7 này, biểu hiện của El Nino vẫn còn tiếp tục Có lẽ phải sang đến tháng 8/2010 trở đi, khi mùa mưa bão chính thức bắt đầu thì El Nino mới hết

Tuy nhiên, theo ông Lê Thanh Hải có thể trong cuối năm 2010 sẽ xuất hiện

La Nina, điều này cùng với quan điểm của một số nghiên cứu của thế giới Vì thế, Trung tâm khí tượng thủy văn Trung ương cũng đưa ra cảnh báo “Trong các tháng tiếp theo của mùa mưa, bão, lũ năm 2010 có khả năng chuyển sang trạng thái La Nina nên tình hình thời tiết, thủy văn trên phạm vi cả nước sẽ có diễn biến rất phức tạp” mà cụ thể, trái ngược với EL Nino, La Nina sẽ gây mưa nhiều hơn, tình trạng ngập lụt dữ dội hơn và thời tiết trở nên lạnh hơn Ông Hải cũng nhấn mạnh thời tiết luôn diễn biến phức tạp và bất thường., vì thế không được chủ quan Đành rằng La Nina không có nhiều “cơ hội” xuất hiện trong năm 2010 Nhưng chúng tôi vẫn phải đưa ra cảnh báo

Tiến sĩ Nguyễn Lan Châu, nguyên Phó giám đốc Trung tâm Dự báo Khí

tượng Thủy văn Trung ương trả lời trên báo Đất Việt Online cho hay “ Theo chu

kỳ, sau khi El Nino kết thúc vào tháng 5/ 2010 thì những biểu hiện đầu tiên của La Nina sẽ chớm xuất hiện Tuy nhiên, không phải vùng nào cũng "nhạy" với hiện tượng La Nina Miền Trung là khu vực nhạy cảm với La Nina nhất” Bão và áp

thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến nước ta có khả năng tập trung vào nửa cuối mùa, nên ảnh hưởng nhiều và dồn dập, đặc biệt ở khu vực Trung và Nam Trung Bộ

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Lượng mưa các tháng năm 2009  ( Số liệu của Tổng cục thống kê) - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
Bảng 2.1 Lượng mưa các tháng năm 2009 ( Số liệu của Tổng cục thống kê) (Trang 33)
Hình ảnh lũ lụt ở miền Trung - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
nh ảnh lũ lụt ở miền Trung (Trang 35)
Hình ảnh Người dân phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng  đóng kè chắn sóng. - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
nh ảnh Người dân phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng đóng kè chắn sóng (Trang 37)
Bảng 2.2: Tỷ lệ công chúng 3 tỉnh Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận theo  dừi bản tin DBTT trờn cỏc loại hỡnh truyền thụng - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
Bảng 2.2 Tỷ lệ công chúng 3 tỉnh Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận theo dừi bản tin DBTT trờn cỏc loại hỡnh truyền thụng (Trang 46)
Bảng 2.3: Thống kê các loại bản tin DBTT và tần suất phát sóng của 3 đài thực  hiện trong 6 tháng cuối năm 2010 - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
Bảng 2.3 Thống kê các loại bản tin DBTT và tần suất phát sóng của 3 đài thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2010 (Trang 51)
Hình bản tin DBTT hàng ngày của Đài PTTH Bình Định - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
Hình b ản tin DBTT hàng ngày của Đài PTTH Bình Định (Trang 53)
Hình bản tin DBTT hàng ngày của Đài PTTH Bình Thuận - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
Hình b ản tin DBTT hàng ngày của Đài PTTH Bình Thuận (Trang 54)
Bảng 2.4: Tỷ lệ công chúng 3 tỉnh đánh giá về  của các bản tin DBTT trên Đài địa  phương - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
Bảng 2.4 Tỷ lệ công chúng 3 tỉnh đánh giá về của các bản tin DBTT trên Đài địa phương (Trang 61)
Bảng 2.5: Tỷ lệ công chúng 3 tỉnh đánh giá về hình thức của các bản tin DBTT trên  d9ài địa phương - bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ
Bảng 2.5 Tỷ lệ công chúng 3 tỉnh đánh giá về hình thức của các bản tin DBTT trên d9ài địa phương (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w