Bảng Bảng 2.1: Cơ cấu tuổi của người được hỏi Bảng 2.2: Cơ cấu trình độ học vấn của người được hỏi Bảng 2.3: Cơ cấu nghề nghiệp của người được hỏi Bảng 2.4: Cơ cấu giới tính của người đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MAI THỊ LAN ANH
BẢN TIN CHÚNG TA VÀ CÔNG CHÚNG TẠI FPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội, 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MAI THỊ LAN ANH
BẢN TIN CHÚNG TA VÀ CÔNG CHÚNG TẠI FPT
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Mai Quỳnh Nam
Hà Nội, 2010
Trang 31
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 15
7 Kết cấu luận văn 16
CHƯƠNG 1: 17
CƠ SỞ LÝ LUẬN, MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢN TIN 17
VÀ CÔNG CHÚNG TẠI FPT 17
1.1 Khái niệm 17
1.1.1 Truyền thông nội bộ 17
1.1.2 Truyền thông đại chúng 17
1.1.3 Bản tin 19
1.1.4 Công chúng truyền thông 21
1.1.5 Doanh nghiệp và truyền thông trong doanh nghiệp 23
1.2 Một vài vấn đề lý luận về bản tin 24
1.3.1 Vị trí, vai trò 24
1.3.2 Mục đích, chức năng bản tin 24
1.4 Vài nét về FPT 26
1.5 Bản tin Chúng ta của FPT 26
1.5.1 Về sự ra đời bản tin Chúng ta 26
1.5.1 Tổ chức tòa soạn Chúng ta 27
1.5.2 Nội dung bản tin Chúng ta 28
Trang 42
1.5.3 Hình thức bản tin Chúng ta 28
1.5.4 Phong cách riêng của bản tin Chúng ta 30
1.5.5 Phát hành 30
1.6 Công chúng tại FPT 31
CHƯƠNG 2: 32
MỨC ĐỘ, CÁCH THỨC TIẾP NHẬN THÔNG TIN CỦA 32
CÔNG CHÚNG; HIỆU QUẢ CỦA BẢN TIN CHÚNG TA 32
2.1 Về cơ cấu của mẫu điều tra 32
2.2 Mức độ và cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng FPT 36
2.2.1 Mức độ tiếp nhận thông tin 36
2.2.2 Cách thức tiếp nhận thông tin 39
2.2.3 Mục đích tiếp nhận thông tin 45
2.2.4 Những nội dung được tiếp nhận trên bản tin Chúng ta 46
2.2.5 Mức độ chia sẻ thông tin trên bản tin Chúng ta 51
2.2.6 Tương quan việc đọc bản tin Chúng ta so với các phương tiện truyền thông khác 54
2.3 Hiệu quả của bản tin Chúng ta 58
2.3.1 Tính thời sự, kịp thời 59
2.3.2 Mức độ tiếp nhận các thông tin liên quan 60
2.3.3 Trao đổi của công chúng với tòa soạn 61
2.4 Sự thỏa mãn của công chúng 63
CHƯƠNG 3: 67
MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ 67
VỚI BẢN TIN CHÚNG TA VÀ CÔNG CHÚNG FPT 67
3.1 Đánh giá, kiến nghị của công chúng FPT về một số yếu tố của bản tin67 3.1.1 Đánh giá, kiến nghị của công chúng về hình thức 68
3.1.2 Đánh giá, kiến nghị của công chúng về nội dung 72
3.1.3 Đánh giá, kiến nghị của công chúng về công tác phát hành 75
Trang 53
3.2 Một số kiến nghị với bản tin Chúng ta và công chúng FPT 76
3.2.1 Kiến nghị với bản tin 76
3.2.1.2 Về hình thức 77
3.2.2 Kiến nghị với công chúng FPT 80
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 64
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng
Bảng 2.1: Cơ cấu tuổi của người được hỏi
Bảng 2.2: Cơ cấu trình độ học vấn của người được hỏi
Bảng 2.3: Cơ cấu nghề nghiệp của người được hỏi
Bảng 2.4: Cơ cấu giới tính của người được hỏi
Bảng 2.5: Thời điểm công chúng FPT đọc bản tin Chúng ta (%)
Bảng 2.6: Thời gian đọc bản tin Chúng ta của công chúng FPT (%)
Bảng 2.7: Cách đọc của công chúng FPT theo độ tuổi (%)
Bảng 2.8: Các thể loại báo ưa thích của công chúng FPT
Bảng 2.9: Thực trạng chia sẻ bản tin Chúng ta của công chúng FPT xét theo giới tính Bảng 2.10: Nội dung các trao đổi của công chúng FPT với tòa soạn (%)
Bảng 3.1: Kiến nghị của công chúng FPT về việc thay đổi bản tin Chúng ta
Bảng 3.2: Những chuyên trang, chuyên mục được công chúng FPT đề xuất tăng diện tích (%)
Bảng 3.3: Những chuyên trang, chuyên mục bị đề xuất giảm diện tích (%)
Bảng 3.4: Các chuyên mục được công chúng FPT đề xuất bổ sung trên bản tin Chúng ta (%)
Bảng 3.5: Đánh giá của công chúng FPT về công tác phát hành của bản tin Chúng ta (%)
2 Hình
Trang 75
Hình 2.1: Tập quán đọc bản tin Chúng ta của công chúng FPT (%)
Hình 2.2: Tần suất đọc bản tin Chúng ta xét theo thâm niên công tác của công chúng FPT (%)
Hình 2.3: Tần suất đọc bản tin Chúng ta của công chúng FPT xét theo nghề nghiệp (%)
Hình 2.4: Thời điểm đọc bản tin Chúng ta của công chúng FPT xét theo giới tính Hình 2.5: Cách đọc của công chúng FPT xét theo thâm niên công tác
Hình 2.6: Các nội dung được quan tâm trên bản tin Chúng ta (%)
Hình 2.7: Đối tượng được công chúng FPT chia sẻ bản tin Chúng ta
Hình 2.8: Tương quan theo dõi bản tin Chúng ta với các kênh truyền thông đại chúng khác (đơn vị: lượt người)
Hình 2.9: Tương quan thời gian theo dõi bản tin Chúng ta và các phương tiện truyền thông đại chúng khác của công chúng FPT (%)
Hình 2.10: Đánh giá của công chúng về kênh truyền thông cung cấp thông tin nhanh nhất trong FPT (đơn vị: người)
Hình 2.11: Đánh giá của công chúng FPT về mức độ gặp thông tin có liên quan đến công việc và cuộc sống của họ trên bản tin (%)
Hình 2.12: Mức độ thỏa mãn của công chúng FPT với bản tin Chúng ta (%)
Trang 86
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ý thức được vai trò quan trọng của hoạt động truyền thông cũng như sự cần thiết của việc xây dựng các phương tiện truyền thông đại chúng, hầu hết các tổ chức
và cá nhân ngày nay dành sự quan tâm, đầu tư đáng kể vào hoạt động này; nhằm xây dựng, củng cố, duy trì hình ảnh và vị trí của mình trong lòng công chúng
Trong các phương tiện truyền thông đại chúng, bản tin là một kênh truyền thông hiệu quả, hướng đến một đối tượng công chúng chuyên biệt và hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý của lãnh đạo các tổ chức, doanh nghiệp Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày càng có nhiều doanh nghiệp bỏ chi phí để thực hiện bản tin Đối tượng tác động của kênh truyền thông này tuy hẹp hơn đối tượng công chúng của các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung, song cũng bao gồm số lượng độc giả không nhỏ, bao gồm lãnh đạo, cán bộ công nhân viên của tổ chức, doanh nghiệp sở hữu bản tin đó Ngoài ra, công chúng của bản tin còn là gia đình của cán bộ nhân viên; đối tác; khách hàng và cổ đông của công ty; là các nhà báo, là những người quan tâm đến thông tin về tổ chức, doanh nghiệp đó… Trong quá trình nghiên cứu, người viết nhận thấy các bản tin dạng ấn phẩm có một số đặc điểm giống với báo in
Không những thế, bản tin của các tổ chức, doanh nghiệp là một “đầu ra” thích hợp cho các cơ sở đào tạo báo chí, bên cạnh các cơ quan truyền thông như đài phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí…
Mặc dù là một bộ phận của truyền thông đại chúng và có vị trí đáng kể như đã phân tích ở trên, do bản tin hướng đến đối tượng công chúng chuyên biệt, phạm vi phát hành hạn chế nên công tác nghiên cứu bản tin chưa được đầu tư đúng mức Người thực hiện luận văn chưa tìm thấy công trình nghiên cứu chuyên sâu nào của Việt Nam về đề tài này
Trang 97
Luật Báo chí hiện nay cũng không có điểm, mục nào đề cập đến bản tin Các quy định của Quy chế xuất bản bản tin không được cụ thể Điều này có thể làm xuất hiện “lỗ hổng” trong hoạt động quản lý báo chí
FPT là tập đoàn công nghệ thông tin viễn thông (CNTT – VT) hàng đầu Việt Nam, 3 năm liên tiếp được VNR500 bình chọn là Doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam, mỗi năm đóng góp cho ngân sách nhà nước bằng một tỉnh vừa của Việt Nam Đến tháng 9/2010, số cán bộ nhân viên chính thức của Tập đoàn FPT khoảng hơn 10.000 người, nếu tính cả sinh viên, học viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo thuộc FPT và đội ngũ cộng tác viên, học việc thì lên đến gần 15.000 người
Cũng tính đến hết tháng 9/2010, FPT và các công ty chi nhánh có hơn 10 bản tin dạng ấn phẩm và khoảng 100 bản tin, trang tin điện tử
Trong đó, bản tin Chúng ta là bản tin chính thức và lâu đời nhất của FPT, xuất bản số đầu tiên năm 1996 Bản tin Chúng ta hướng đến công chúng đặc thù của FPT, qua đó thấy được tác động của nó đến công chúng Bản tin Chúng ta hiện được xuất bản hàng tuần, phát hành toàn quốc cho cán bộ nhân viên Tập đoàn với số lượng 5.500 bản/tuần, 20-24 trang/số
Một số công ty trong lĩnh vực CNTT và hàng tiêu dùng của Việt Nam đánh giá cao Bản tin Chúng ta của FPT và đã mời ban biên tập bản tin đến chia sẻ kinh nghiệm về cách thức xây dựng và quy trình thực hiện một bản tin Điển hình là: Tinh Vân Group (sau đó xây dựng tờ Tuổi xanh Tinh Vân, nay là tờ “My TinhVân”), Unilever Việt Nam…
Vì vậy, học viên đã đề xuất và được Khoa Báo chí – Truyền thông chấp thuận
đề tài nghiên cứu: “Bản tin Chúng ta và công chúng tại FPT” Đây là một đề tài mới
và cần thiết, góp phần làm dày dặn thêm các công trình nghiên cứu truyền thông
2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 108
Nếu như càng ngày, người ta càng ý thức được tầm quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng và đầu tư vào đó, thì song song, con người cũng dành sự quan tâm cho nghiên cứu công chúng, coi đây là một thước đo hiệu quả của việc đầu
tư cho hoạt động truyền thông Nghiên cứu công chúng thực sự đã trở thành một chuyên ngành của nghiên cứu truyền thông
Thông tin liên lạc đã tồn tại từ thuở ban đầu cùng sự ra đời của con người, nhưng chỉ đến thế kỷ 20, truyền thông mới bắt đầu được nghiên cứu thực sự Khi công nghệ thông tin phát triển, các hoạt động nghiên cứu truyền thông cũng đồng thời nở rộ Khi Thế chiến I kết thúc, sự quan tâm nghiên cứu truyền thông được tăng cường Hoạt động nghiên cứu thuộc khoa học xã hội này được hoàn toàn công nhận
là hợp pháp sau Thế chiến II
Theo David Barrat [36, tr.44], lịch sử nghiên cứu truyền thông đại chúng trên thế giới được phân ra 4 giai đoạn
Giai đoạn 1 (đầu thế kỷ XX – hết những năm 1930) đánh dấu quan điểm nghiên cứu cho rằng các phương tiện truyền thông có tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ và ứng xử của công chúng Điển hình là nhóm Trường phái Frankurt của Đức với khuynh hướng phê phán, họ cho rằng truyền thông đại chúng ở Đức đã giúp Hitler lên nắm quyền ở Đức vào năm 1933 Khuynh hướng này được gọi là “mũi kim tiêm” (ngụ ý rằng truyền thông có tác động nhanh và trực tiếp đối với công chúng), tuy có đóng góp nhất định vào lịch sử nghiên cứu truyền thông nhưng còn phiến diện
Trong giai đoạn 2 (năm 1940 đến đầu thập kỷ 60), một số nhà nghiên cứu đã chỉ
ra rằng truyền thông không có tác động trực tiếp và không ảnh hưởng quá mạnh mẽ đến thái độ, ứng xử của công chúng Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, truyền thông tác động gián tiếp đến công chúng thông qua 1 số khâu trung gian Công
Trang 11Trên thế giới, có thể kể đến một số tác giả và các công trình nghiên cứu mới về tác động của truyền thông đại chúng, liên quan trực tiếp đến nghiên cứu công chúng như Denis McQuail (Mass Communication Theory, 2005, London), Claudia Mast (Truyền thông đại chúng - những kiến thức cơ bản, Trần Hậu Thái dịch, Nxb Thông tấn, 2003)… Trong đó, Denis McQuail nhấn mạnh tầm quan trọng của phương tiện truyền thông đại chúng và làm thế nào để nó ảnh hưởng đến công chúng hơn là tập trung vào các định nghĩa, mô hình chung Còn Herbert Blumer (1939) được xem là người đầu tiên đưa ra quan điểm phân chia đại chúng theo các cấp độ: nhóm, đám đông và công chúng [52, tr 58] Claudia Mast thì đề cập đến vấn đề hết sức cơ bản đối với những người làm công tác truyền thông đại chúng như Lý thuyết và thực tiễn truyền thông, lĩnh vực nghề nghiệp báo chí; truyền thông và kinh tế và một số cách thức điều tra nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực truyền thông… Tất cả những vấn đề được nêu trong cuốn sách là những kiến thức bổ ích và cần thiết cho những đối tượng hoạt động trong lĩnh vực truyền thông Về cách tiếp cận vấn đề, dù khác nhau
ở mức độ và góc độ tiếp cận nhưng giới nghiên cứu đều coi nghiên cứu công chúng
Trang 1210
là một thành tố không thể thiếu khi nghiên cứu quá trình truyền thông đại chúng và đều đề cao vai trò tích cực, chủ động, tác động trở lại các phương tiện truyền thông của công chúng
Ở Việt Nam, lĩnh vực này còn khá mới mẻ, nhưng cũng đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu báo chí, truyền thông, bởi tính thiết thực của vấn đề
Xét từ góc độ báo chí học, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của các cơ
sở đào tạo như ĐH KHXH và NV, Học viện Báo chí Tuyên truyền: Truyền thông đại
chúng (Tạ Ngọc Tấn,Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia 2001), Cơ sở
lý luận báo chí truyền thông (Đinh Văn Hường, Dương Xuân Sơn, Trần Quang, Nxb
ĐH Quốc gia Hà Nội 2004), Thể loại báo chí chính luận (Trần Quang, Nxb ĐH
Quốc gia Hà Nội 2005), Thể loại báo chí thông tấn (Đinh Văn Hường, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội 2006), Phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật trên báo chí (Nguyễn
Thị Minh Thái, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội 2005), Nguyễn Văn Dững (Về hệ thống khái niệm truyền thông đại chúng) và một số tác giả khác Những công trình nghiên
cứu này đã cung cấp kiến thức cơ bản và nâng cao về truyền thông đại chúng, từ khái niệm đến mô hình, quá trình truyền thông cho đến thực tế hoạt động truyền thông và nghiên cứu truyền thông trong nước và trên thế giới Đây chính là kho kiến thức và
là nguồn tư liệu quý giá cho các sinh viên, giảng viên trẻ, đội ngũ nghiên cứu truyền thông cũng như các tổ chức, cá nhân quan tâm đến hoạt động truyền thông tại Việt
Nam nói riêng và trên thế giới nói chung
Ở góc độ xã hội học, nghiên cứu truyền thông đại chúng gần đây thường tập trung vào hướng nghiên cứu công chúng Người ta nhất trí rằng, các nhà xã hội học
đã có những đóng góp đáng kể trong hoạt động nghiên cứu truyền thông đại chúng ở nước ta, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện Xã hội học Cụ thể, nghiên
cứu lý thuyết về xã hội học công chúng có PGS TS Mai Quỳnh Nam (Dư luận xã hội –
Mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu, Tạp chí Xã hội học, số 1/1995, tr.3-8; Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, Tạp chí Xã hội học, số 1/1996, tr.3-7; Về vấn
Trang 1311
đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng, Tạp chí Xã hội học, số 4/2001,
tr.21-25)…, PGS Trần Hữu Quang (Xã hội học báo chí, Nxb Trẻ 2006), Nguyễn Quý Thanh (Xã hội học về dư luận xã hội, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, 2008) Trong đó, PGS TS
Mai Quỳnh Nam đã chỉ ra mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội chịu tác động trực tiếp của mối quan hệ giữa truyền thông và công chúng truyền thông Ông đưa ra quan điểm bao quát được sự cần thiết của hoạt động truyền thông: “Trong thời đại ngày nay, không có chiều cạnh nào của phát triển tách rời hoạt động truyền thông”, “hoạt động cung cấp thông tin rộng rãi về các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu đồng thời cũng là phương tiện của sự phát triển” [33, tr.11] PGS TS Mai Quỳnh Nam cũng nhận định: “hoạt động truyền thông chỉ có ý nghĩa khi nó kích thích được lợi ích của đối tượng tiếp nhận, thuyết phục họ về mặt nhận thức, tạo cho họ hành động chung.” PGS Trần Hữu Quang khẳng định, nghiên cứu về công chúng là một trong 4 lĩnh vực nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng Đây cũng là một trong những công trình nghiên cứu báo chí truyền thông đại chúng từ hướng tiếp cận xã hội học tiêu biểu của Việt Nam [38, tr.35]
Hướng nghiên cứu khảo cứu thực nghiệm, xuất hiện nhiều hơn với các bài viết,
công trình nghiên cứu có ý nghĩa Đó là PGS TS Mai Quỳnh Nam với hàng loạt bài viết đăng trên tạp chí Xã hội học từ năm 1995 – 2005 như “Báo thiếu nhi dân tộc và công
chúng thiếu nhi dân tộc” (Tạp chí Xã hội học, số 4/2002, tr.46-58), “Truyền thông và phát triển nông thôn (Tạp chí Xã hội học, số 3 (83), tr.9-14), Sinh viên Hà Nội với giao tiếp đại chúng (Tạp chí Tâm lý học, số 12/2003, tr.19-26)… Đây là các công trình
nghiên cứu hữu ích về mối quan hệ qua lại giữa công chúng và cơ quan/nhà truyền thông; cụ thể là nghiên cứu cách thức tiếp nhận của công chúng, nội dung truyền thông; hiệu quả truyền thông và kiến nghị của công chúng đối với phương tiện truyền thông
đó
Bên cạnh đó, phải nhắc đến Chân dung công chúng truyền thông của PGS Trần Hữu Quang (2001), được “nâng cấp” từ luận án tiến sĩ xã hội học Truyền thông đại
Trang 1412
chúng và công chúng – trường hợp TP HCM, 1998; là công trình nghiên cứu có tính hệ
thống, đại diện về công chúng truyền thông TP HCM, rất nên tham khảo
Ngoài ra, chúng tôi đã tiếp cận một số khóa luận, luận văn, luận án thuộc 2 khoa
Báo chí Truyền thông và Xã hội học của trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, như: Công
chúng Hà Nội với việc đọc báo in và báo điện tử (Luận văn thạc sỹ báo chí của
Nguyễn Thu Giang); Báo Hà Nội Mới và công chúng thủ đô (Luận văn thạc sỹ báo chí của Phạm Thị Thu Hà), Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà
Nội (Luận án tiến sỹ báo chí của Trần Bá Dung)… Đóng góp chung của các công
trình này là làm dày dặn thêm hệ thống các công trình nghiên cứu truyền thông đại chúng của Việt Nam Trong đó, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thu Giang tìm hiểu cách thức tiếp nhận 2 loại hình báo chí là báo in và báo điện tử của công chúng thủ đô; công trình này được ghi nhận ở chỗ: chỉ ra được đặc điểm của mỗi nhóm công chúng có tác động khác nhau đến ứng xử của họ với truyền thông Luận văn còn có công hệ thống lịch sử nghiên cứu truyền thông đại chúng từ bình diện lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Thu Hà xem xét mối quan hệ giữa công chúng đối với tờ báo của Đảng bộ tại đô thị Hà Nội, mang tính điển hình cao về mối quan
hệ tương tác giữa công chúng truyền thông và phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam Đây là tài liệu tham khảo cho những ai nghiên cứu hiệu quả thông tin tuyên truyền của báo Đảng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động thông tin của báo Đảng
Luận án tiến sỹ của Trần Bá Dung lại xem xét nhu cầu của công chúng Hà Nội như một nguyên nhân cơ bản chi phối quá trình truyền thông; là công trình nghiên cứu đầu tiên và tương đối công phu về công chúng Hà Nội trong mối quan hệ tiếp nhận thông tin trên cả 4 loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử
Trang 1513
Khi nghiên cứu công chúng, giới nghiên cứu đều coi công chúng không chỉ là đối tượng tác động, mà còn là lực lượng xã hội quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí – truyền thông Sức mạnh của tờ báo, trước hết thể hiện ở “sức mạnh của công chúng, của dư luận xã hội mà nó tạo ra”
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu lý luận và thực tiễn của bản tin tại Việt Nam, ngoài các công trình nghiên cứu như đã dẫn chứng trên đây, chúng tôi chưa tìm thấy đề tài nghiên cứu chuyên sâu nào của Việt Nam về bản tin của các tổ chức, doanh nghiệp cũng như công chúng của bản tin Do vậy, trên cơ sở lý thuyết và khảo sát thực tế, chúng tôi mạnh dạn thực hiện nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu cơ sở lý luận về bản tin và công chúng; trên cơ sở lý luận cũng như kết quả khảo sát công chúng của bản tin Chúng ta tại FPT, luận văn sẽ phân tích và đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm giúp bản tin này trở thành kênh truyền thông hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu bản tin Chúng ta và công chúng của bản tin tại FPT Hà Nội và TP HCM Cán bộ nhân viên của FPT tại Đà Nẵng chiếm một tỷ lệ nhỏ so với nhân sự toàn quốc (715 trong tổng số 10.000 người), do đó, luận văn không thực hiện khảo sát tại đây vì mẫu không đủ đại diện Bên cạnh đó, FPT có chi nhánh, văn phòng tại 9 quốc gia trên thế giới nhưng bản tin Chúng ta chưa được phát hành ra nước ngoài
Trong đó, luận văn tập trung vào nghiên cứu công chúng của bản tin Chúng ta trong mối quan hệ tiếp nhận bản tin này
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu
Trang 1614
Cơ sở lý thuyết của luận văn là những lý thuyết truyền thông đại chúng và xã
hội học truyền thông đại chúng Trong đó chú trọng lý luận về hướng nghiên cứu công chúng - hướng nghiên cứu cơ bản của Xã hội học truyền thông đại chúng Hướng nghiên cứu này đòi hỏi xem xét mối tương tác giữa bản tin với công chúng thông qua hoạt động tiếp nhận bản tin Chúng ta
Bên cạnh đó, người thực hiện luận văn cũng sử dụng luận điểm của M.Weber
về mặt phương pháp luận về sự cần thiết của môn xã hội học báo chí; trong đó chỉ rõ tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với công chúng Năm 1910, M.Weber đã luận chứng về mặt phương pháp luận cho sự cần thiết của môn xã hội học báo chí và chỉ ra phạm vi các vấn đề nghiên cứu Lập luận của M.Weber chỉ rõ tác dụng của báo chí trong việc hình thành ý thức quần chúng, đồng thời vạch ra mối liên hệ giữa những nhân tố này với hành động xã hội của các cá nhân và tầng lớp xã hội Đề xuất của M.Weber cho thấy, hướng nghiên cứu công chúng giữ vị trí hàng đầu trong xã hội học và truyền thông đại chúng [27, tr.4]
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu xã hội học thực nghiệm, thực hiện với dung lượng mẫu 300 – chọn từ quần thể nghiên cứu hơn 10.000 cán bộ nhân viên FPT Mẫu được chọn sẽ phù hợp với các đặc trưng về lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ… của công chúng FPT
- Phương pháp phỏng vấn sâu, đối tượng phỏng vấn là 5 người liên quan mật thiết đến bản tin này, gồm: Ông Nguyễn Thành N, Tổng Giám đốc FPT; bà Vũ Thanh H, Tổng biên tập bản tin Chúng ta; chị Đào Thị Bích H, Thư ký tòa soạn bản tin Chúng ta; chị Nguyễn Hoài A, Trưởng phòng PR – marketing Đại học FPT (trực thuộc Tập đoàn FPT) và chị Vũ Thu C, nhân viên PR của FPT Online (công ty thành viên của FPT)
Trang 1715
- Phương pháp phân tích nội dung: được sử dụng với các loại sản phẩm như: bản tin Chúng ta; kết quả khảo sát công chúng FPT…
Quá trình nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3-9/2010
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Thông qua luận văn này, chúng tôi hy vọng góp phần vào việc nghiên cứu công chúng truyền thông nói chung và công chúng của bản tin nói riêng Từ đó chỉ ra vai trò, ý nghĩa của bản tin đối với các doanh nghiệp; giúp cho các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn công tác quản lý của mình thông qua việc sử dụng hiệu quả bản tin
- một trong các phương tiện truyền thông đại chúng
Bên cạnh đó, người viết mong muốn làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận
về loại hình bản tin trong hệ thống lý thuyết truyền thông Có thể nói, cho đến nay, trong hệ thống lý thuyết truyền thông, vai trò của bản tin rất mờ nhạt, thậm chí là hiếm khi được đề cập đến Chúng tôi mong rằng, luận văn này sẽ góp phần định vị vai trò, vị trí của bản tin trong hệ thống truyền thông ngày nay cũng như sự cần thiết của công tác nghiên cứu về bản tin và công chúng của nó
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua kết quả điều tra xã hội học, luận văn tổng hợp, phân tích nhu cầu, đánh giá của công chúng, đưa ra đề xuất để bản tin Chúng ta cũng như các bản tin khác của FPT đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng trong tương lai
Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp tích cực, góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả của bản tin Chúng ta của tập đoàn FPT
Chúng tôi cũng mong muốn rằng, đây có thể là một trong các tài liệu tham khảo cho những đơn vị, tổ chức dự định xây dựng bản tin; cho các giảng viên, sinh viên ngành truyền thông đại chúng và xã hội học
Trang 1816
Chúng tôi cũng hy vọng, qua đây, sinh viên, học viên của các cơ sở đào tạo báo chí sẽ cân nhắc việc đầu quân vào các bản tin của tổ chức, doanh nghiệp Điều này sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của hệ thống các bản tin
7 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận; một số vấn đề về bản tin và công chúng tại FPT Chương 2: Mức độ, cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng; hiệu quả của bản tin Chúng ta
Chương 3: Một số đánh giá và kiến nghị với bản tin Chúng ta và công chúng FPT
Trang 191.1.1 Truyền thông nội bộ
Truyền thông nội bộ được hiểu là truyền thông giữa các thành viên hoặc cán bộ nhân viên trong cùng một tổ chức Truyền thông nội bộ rất đa dạng, nó có thể là các cuộc trò chuyện, cuộc họp, mạng nội bộ hay các bản tin trong tổ chức, doanh nghiệp đó[49]
Có thể cắt nghĩa, truyền thông nội bộ là quá trình truyền thông nhằm trao đổi thông tin có liên quan giữa chủ thể truyền thông hướng đến các thành viên trong nội
bộ tổ chức, doanh nghiệp; thông qua việc sử dụng các phương tiện như hội thảo, họp mặt, giao lưu, bản tin…; qua đó xây dựng và duy trì quan hệ hiểu biết và có lợi giữa chủ thể truyền thông và đối tượng công chúng nội bộ
4 yếu tố làm nên thành công của hoạt động truyền thông nội bộ của một doanh nghiệp đó là: Tập trung vào khai thác các chiến lược kinh doanh đặc thù với lĩnh vực của tổ chức, doanh nghiệp; sử dụng ngôn ngữ phù hợp với công chúng nội bộ; có thể
đo lường được hiệu quả; đảm bảo cách thức và thời gian phát hành cho công chúng
dễ dàng tiếp nhận
1.1.2 Truyền thông đại chúng
Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của nhóm tác giả trường
ĐHKHXH&NV Hà Nội chỉ ra: “Truyền thông đại chúng là một quá trình trao đổi thông tin mang tính chính trị xã hội, bày tỏ tư tưởng, quan điểm của chủ thể truyền thông tới đối tượng công chúng đông đảo và đa dạng, thông qua việc sử dụng các phương tiện được thiết lập cho mục đích truyền thông” [7]
Trang 2018
Theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững, nhìn từ phương tiện chuyển tải thông điệp, truyền thông đại chúng là “hệ thống các kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội để thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm…, nhằm lôi kéo và thuyết phục, tập hợp và tổ chức đông đảo dân cư tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra Như vậy, truyền thông đại chúng bao gồm báo chí và các kênh truyền thông khác, như sách, điện ảnh, các phương tiện nghe nhìn, pa-nô, áp phích…” [8]
Theo PGS Trần Hữu Quang, truyền thông đại chúng (mass communication) là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) như báo chí, phát thanh, truyền hình Cũng theo PGS Trần Hữu Quang, truyền thông trong nội bộ một cơ quan, một công ty, một tổ chức đoàn thể, hay một nhóm xã hội nào đó thì được gọi là truyền thông tập thể, chứ không phải truyền thông đại chúng [37, tr.16]
Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1980, giới nghiên cứu truyền thông thế giới thường
sử dụng khái niệm "phi đại chúng hoá" thông tin đại chúng Đây có thể coi là một
cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về công chúng Người ta đã đưa ra dự báo về "sự chia nhỏ truyền thông", "thông tin đại chúng bị phi đại chúng hoá" Thành tựu mới
của giai đoạn này là những phân tích sâu sắc về “giải truyền thông đại chúng” mà bản chất là quá trình chia nhỏ công chúng giữa các phương tiện truyền thông, là
“truyền thông mới, chia nhỏ người xem” và chúng ta đang ở vào “thời đại của truyền thông nhóm nhỏ” Điều này được hiểu là: nếu trước đây người ta truyền thông đồng loạt những thông tin cùng một chương trình đến với đông đảo công chúng thì nay xuất hiện nhu cầu đa dạng hoá thông tin đến từng nhóm nhỏ và những khả năng đáp
ứng nhu cầu đó "Ngày nay thay thế tình trạng mọi quần chúng đều nhận cùng những
thông tin như nhau, các nhóm bị chia nhỏ hơn đang nhận và phát đi cho nhau những
lượng lớn hệ hình ảnh của họ"
Tình trạng này cũng đúng với nhận định của hai nhà nghiên cứu truyền thông
nổi tiếng người Pháp là Philippe Breton và Serge Proulx trong Bùng nổ truyền thông
- Sự ra đời một ý thức hệ mới Công trình này được coi là “một cách nhìn mới đối
Trang 2119
với truyền thông”, phân tích sâu sắc "ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông", trong đó có vấn đề "khảo sát khâu tiếp nhận” Thành tựu mới của các tác giả là phân
tích vai trò tích cực (chủ động) của công chúng "Tác động xã hội của các thông điệp
không thể bị thu hẹp xuống chỉ còn là một cơ chế dẫn dắt công luận một cách thuần tuý, cũng không thể thu hẹp xuống chỉ còn là một hiệu quả tức thời làm thay đổi ý kiến và thái độ các cá nhân" "Cơ chế dẫn dắt công luận một cách thuần tuý" mà hai
ông đề cập là cơ chế thông tin được truyền đi một chiều một cách rộng rãi tới mọi đối tượng [6] Nghĩa là ngày nay truyền thông phải mềm dẻo, linh hoạt, không phải
"một chiều" mà "đa chiều", phải tính đến từng nhóm nhỏ công chúng - đối tượng
Bản tin Chúng ta của FPT hướng đến đối tượng công chúng nội bộ trong Tập đoàn FPT Tuy nhiên, độc giả của bản tin này còn là người thân, bạn bè của họ; là hàng trăm đối tác, hàng trăm nhà báo quan tâm đến thông tin về FPT, là hàng ngàn sinh viên – học viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo của Đại học FPT, là hàng vạn khách hàng và cổ đông… của FPT Do đó, bản tin Chúng ta còn là phương tiện truyền thông cho các nhóm công chúng bên ngoài
1.1.3 Bản tin
Bản tin được Đại Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa – thông tin, 1999 định nghĩa là: “tập san lưu hành nội bộ trong một chính thể, tổ chức, nội dung thông tin về tình hình hoạt động của tổ chức đó” [9]
Từ điển Vdict.com định nghĩa Bản tin có nghĩa tương đương trong tiếng Anh là
newsletter (tức là thư kèm tin tức) [44]
Theo nghiên cứu của Pamela Blackmon về lịch sử của bản tin, bản tin đầu tiên
trên thế giới là The Boston News, được xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 1704, với nội
dung đơn giản là thuật lại những tin tức được in trong các tạp chí của London về tình hình chính trị ở Anh và châu Âu Bản tin này cũng ghi chép lượt tàu, người qua đời, các cuộc hẹn chính trị, tai nạn, hoả hoạn Sau khi người sáng lập ra tờ The Boston News qua đời thì con trai ông, John Draper tăng số lượng trang của bản tin lên đến 4 trang và mở rộng phạm vi của nó vượt ra ngoài Boston, cung cấp tin tức từ khắp các
Trang 2220
thuộc địa The Boston News cuối cùng trở thành một tờ báo, giống như rất nhiều các bản tin sau đó – đây là một xu hướng phát triển của các bản tin trên thế giới trong những năm 1800 [46]
Những năm đầu thế kỷ 20, hệ thống các bản tin có sự phát triển mới khi những
ấn phẩm như Babson’s Report xuất hiện năm 1904, The Whaley-Eaton American Letter năm 1918 – mang lại hàng triệu đô lợi nhuận cho các thành viên sáng lập Đến thập kỷ 30 của thế kỷ 20, các bản tin kinh doanh của các hãng, tập đoàn trở nên nổi bật, điển hình như các bản tin Báo cáo Viễn thông năm 1934; hay các bản tin về một
số chủ đề chuyên sâu khác
Khi máy tính cá nhân đạt được sự phát triển rộng khắp kể từ sau 1980, việc xuất bản bản tin trở nên dễ dàng hơn Sự đổi mới này đã mang đến quyền xuất bản cho bất cứ ai chỉ với một máy tính và một máy in, tạo ra vô số các ấn phẩm bản tin khác nhau về chất lượng [46]
Khái niệm bản tin chỉ một ấn phẩm được xuất bản định kỳ bởi các câu lạc bộ, tổ chức xã hội, hiệp hội hay doanh nghiệp, có một chủ đề nhất định; nội dung của bản tin chủ yếu bao gồm các thông tin về cá nhân, tổ chức, đơn vị, đối tượng phát hành là các thành viên của họ, khách hàng hoặc nhân viên… Một số bản tin được xuất bản nhằm mục đích tăng doanh thu cho đơn vị sản xuất ra nó, bằng cách bán trực tiếp cho cán bộ nhân viên, khách hàng, đối tác, người đăng ký mua bản tin…; trong khi một số bản tin được phát hành miễn phí Một trong các chiến lược tiếp thị phổ biến ngày nay của các doanh nghiệp trên thế giới đó là xuất bản bản tin, gửi chúng cho khách hàng và khách hàng tiềm năng
Theo quyết định số 53/2003/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin ngày 04/9/2003 v/v ban hành quy chế xuất bản bản tin, bản tin: “là ấn phẩm thông tin; xuất bản định kỳ, tuân theo các quy định cụ thể về khuôn khổ, số trang, hình thức trình bày, nội dung và phương thức thể hiện nhằm thông tin về hoạt động nội bộ, hướng dẫn nghiệp vụ, thông tin kết quả nghiên cứu, ứng dụng, kết quả các cuộc hội thảo, hội nghị của các cơ quan, tổ chức, pháp nhân Việt Nam.”
Trang 2321
Như vậy, bản tin của một tổ chức có thể được hiểu là một công cụ, kênh truyền thông của tổ chức, cung cấp và cập nhật thông tin về hoạt động của tổ chức và những thông tin có ảnh hưởng đến tổ chức đó Đối tượng của bản tin là cán bộ, nhân viên; khách hàng, đối tác, cổ đông… của tổ chức Mục đích xuất bản bản tin của tổ chức, doanh nghiệp là giúp cho công chúng hiểu biết toàn diện và chính xác thông tin về
tổ chức mình; qua đó xây dựng hình ảnh tốt của tổ chức trong mắt công chúng Bản tin có nhiều dạng như: ấn phẩm, bản tin điện tử Bản tin dạng ấn phẩm có nhiều đặc điểm giống với báo in về hình thức và nội dung; phương thức truyển tải thông điệp; chức năng…
1.1.4 Công chúng truyền thông
Công chúng truyền thông đại chúng là khái niệm dùng để chỉ đối tượng tác động của truyền thông đại chúng Họ có thể là khán – thính giả, độc giả của các phương tiện truyền thông đại chúng Không chỉ tiếp nhận thông điệp truyền thông, họ còn có tác động ngược trở lại chủ thể của quá trình truyền thông
Theo CERP (Tổ chức bảo trợ cho các hiệp hội PR chuyên nghiệp trên toàn Châu Âu), công chúng nội bộ của một doanh nghiệp chính là: chìa khóa thành công của doanh nghiệp đó, là nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất cũng như ma-két-tinh và bán sản phẩm dịch vụ; là công chúng được xác định… Công chúng nội bộ thường quan tâm đến một số giá trị nhất định như: lương bổng (thu nhập), nghề nghiệp, sự phát triển các kỹ năng và thông tin Như vậy có thể thấy, thông tin là một trong các giá trị quan trọng, có tác động đến công chúng nội bộ của doanh nghiệp [47]
Xã hội học truyền thông đại chúng quan niệm công chúng có các đặc điểm cơ bản như: tính chất quảng đại (đông đảo), không đồng nhất (bao gồm rất nhiều giới và tầng lớp khác nhau) và nặc danh (không ai biết ai) Nghĩa là, xã hội học chỉ ra công chúng không phải là một khối người thuần nhất, giống nhau; ngược lại nó rất phức tạp, gồm nhiều nhóm, nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, với những đặc trưng đa dạng, những quyền lợi dị biệt và nhiều khi mâu thuẫn nhau Nói đến công chúng là nói đến những cá nhân nặc danh, vì hướng tới bộ phận công chúng đông
Trang 2422
đảo nên nhà truyền thông không biết ai là ai, hoạt động truyền thông của họ có thể đến với bất kỳ ai chứ không phải chỉ một cá nhân nào đó Các thành viên công chúng thường cô lập nhau về mặt không gian, không có mối tương tác hay quan hệ gì với nhau Công chúng không phải là một tập thể hay cộng đồng, không có cơ cấu tổ chức
mà cũng không có người chỉ huy, không có tập quán hay truyền thống, không có những quy tắc riêng của mình và các thành viên của nó không có ý thức là mình cùng thuộc về một tổ chức hay cá nhân nào đó Nếu có tổ chức thì cũng rất lỏng lẻo, khó tạo nên hành động xã hội chung từ truyền thông đại chúng, điều này khiến cho công chúng của truyền thông đại chúng khác với công chúng xã hội khác
Tương tự như vậy, Judith Lazar khái quát đặc trưng chính của khái niệm công chúng là “phân tán”, không có tương tác, không có tổ chức hoặc rất lỏng lẻo, mức độ
ý thức chung thấp [38, tr.26]
Tuy nhiên, Trần Hữu Quang [38, tr.27] đã chỉ ra, khi nói rằng công chúng của các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm những cá nhân phân tán, điều này chỉ có một ý nghĩa tương đối về mặt không gian mà thôi, xét về mặt quan hệ xã hội, điều này không có nghĩa là công chúng của các phương tiện truyền thông cô lập nhau, rời rạc nhau Silbermann cũng cho rằng, nếu quan niệm công chúng bao gồm những cá nhân rời rạc, phân tán nhau thì có thể đi đến một quan niệm sai lầm về sự tách biệt và đối lập giữa xá cá nhân với xã hội Do đó, có thể khẳng định, công chúng của bản tin Chúng ta tại FPT là một công chúng đặc thù, chuyên biệt Họ chính là đối tượng tiếp nhận thông tin của các bản tin FPT, bao gồm lãnh đạo, cán bộ nhân viên của Tập đoàn; là sinh viên, học viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo thuộc FPT… Đặc điểm của công chúng FPT giống với công chúng của xã hội học truyền thông đại chúng ở tính chất quảng đại Tuy nhiên, công chúng FPT lại tương đối đồng nhất và không nặc danh Nói họ tương đối đồng nhất là vì, họ đều là giới tri thức có cùng môi trường làm việc là Tập đoàn FPT, lĩnh vực kinh doanh chủ đạo là công nghệ thông tin và viễn thông; có chung lịch sử, văn hóa doanh nghiệp; cùng hưởng các chế
độ chính sách của FPT… Họ không mang đặc tính nặc danh vì họ có thể gặp nhau hàng ngày tại công sở, họ giao lưu với nhau trong các buổi sinh hoạt chung, các hội
Trang 2523
diễn văn nghệ, thể thao; ngoài ra, họ có thể tra cứu thông tin cơ bản về nhau trong hồ
sơ nhân sự của tập đoàn…
Brian Montopoli cho rằng, nghiên cứu công chúng được hiểu là: nghiên cứu đối tượng tiếp nhận thông tin là ai và các mối quan tâm của họ như nội dung, hình thức thông tin… như thế nào? [54]
PGS TS Mai Quỳnh Nam khẳng định thêm, khi nghiên cứu về công chúng của một phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta không thể tách họ ra khỏi môi trường sống của họ mà phải đặt họ trong bối cảnh xã hội, trong các điều kiện sống và các mối quan hệ xã hội [30, tr23-24]
1.1.5 Doanh nghiệp và truyền thông trong doanh nghiệp
Theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005, doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [24]
Ngày nay, phần lớn các doanh nghiệp đều đầu tư vào hoạt động truyền thông, tuy nhiên, có những doanh nghiệp chỉ chú trọng vào truyền thông ra công chúng bên ngoài mà quên rằng, mỗi cán bộ nhân viên của mình đều có thể là “đại sứ truyền thông”
FPT là một trong những doanh nghiệp sớm chú trọng vào việc xây dựng kênh truyền thông riêng: 7 năm sau ngày thành lập, FPT đã tổ chức thực hiện bản tin Chúng ta Mục đích ban đầu của bản tin này là truyền thông nội bộ trong tập đoàn FPT nhưng cùng với sự tăng trưởng không ngừng và vươn ra toàn cầu của tập đoàn CNTT - VT này, bản tin Chúng ta đã xây dựng được một công chúng rộng rãi, như
đã phân tích ở trên
Trang 26Bản tin là một trong các phương tiện biểu đạt và duy trì văn hóa doanh nghiệp Như đã phân tích ở 1.2.2, bản tin còn là một trong các phương tiện để tổ chức/doanh nghiệp xây dựng và duy trì quan hệ với công chúng bên ngoài
Trong hệ thống truyền thông, bản tin là một thành tố không thể thiếu, làm phong phú thêm bộ mặt truyền thông
1.3.2 Mục đích, chức năng bản tin
Bản tin có nhiều đặc điểm giống loại hình báo in, vì vậy, tuy có sự khác biệt về phạm vi thông tin, quy mô, công chúng…; bản tin mang các chức năng cơ bản của báo in như:
1.3.2.1 Chức năng thông tin
Trước hết, bản tin được xuất bản với mục đích là cập nhật thông tin về các hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp cho công chúng của mình Đây cũng là một trong các kênh giao tiếp đa chiều giữa chủ doanh nghiệp và cán bộ nhân viên, bên cạnh các kênh truyền thông khác như: hội họp, thảo luận, thư điện tử, bảng thông báo, hộp thư…; cung cấp thông tin về hoạt động doanh nghiệp cho đông đảo cổ đông, đối tác, khách hàng…
Trang 2725
1.3.2.2 Chức năng giáo dục, nâng cao dân trí
Bên cạnh việc cung cấp thông tin xung quanh mọi hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp, bản tin còn thực hiện chức năng giáo dục và nâng cao dân trí Thông qua các bài viết, phóng sự… đề cao chân – thiện – mỹ, các bản tin hướng công chúng của mình đến những giá trị cao đẹp của cuộc sống
1.3.2.3 Chức năng kinh doanh
Chức năng này ở các bản tin rất khác biệt so với báo in thông thường Nguyên nhân, phần lớn bản tin được phát hành miễn phí cho độc giả; các bản tin không có nguồn thu từ bán báo như các tờ báo in thông thường Phần lớn các bản tin cũng không có hoạt động kinh doanh quảng cáo như các tờ báo thông thường; quảng cáo trên bản tin thường miễn phí
Tuy nhiên, là bộ mặt của doanh nghiệp, bản tin góp phần tăng cường hiểu biết của công chúng về doanh nghiệp và qua đó, tác động đến tình cảm của công chúng đối với hình ảnh doanh nghiệp cũng như sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Như vậy, bản tin có thể được xem là công cụ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, chưa có thước đo chính xác ảnh hưởng của bản tin đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.2.4 Chức năng giải trí
Bản tin là một phần văn hóa doanh nghiệp, nơi duy trì và phát triển văn hóa công ty Thông qua các bản tin, không những nhu cầu thông tin được đáp ứng mà nhu cầu cuộc sống tinh thần của cán bộ nhân viên cũng được thỏa mãn, là động lực
Trang 2826
Bản tin của tổ chức, doanh nghiệp còn có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhân sự của doanh nghiệp đó Cụ thể, bản tin là công cụ góp phần gắn kết cán bộ nhân viên, củng cố lòng trung thành và sự gắn bó của họ với công ty Sự phát triển của tổ chức, doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực, vì vậy, đây
là một chức năng khác biệt của bản tin so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác
1.4 Vài nét về FPT
Công ty Cổ phần FPT thành lập ngày 13/09/1988, đã liên tục phát triển và trở thành tập đoàn công nghệ thông tin và viễn thông hàng đầu Việt Nam Về cơ cấu tổ chức, FPT hiện có: 11 công ty thành viên và 3 công ty liên kết FPT đang có mặt tại
9 quốc gia trên thế giới cùng nhiều chi nhánh, văn phòng trong cả nước
Các lĩnh vực hoạt động của FPT gồm có: Nhóm ngành Công nghệ thông tin và viễn thông và Nhóm Đầu tư
Trong 22 năm qua, FPT đã giành được nhiều giải thưởng cao nhất của Hội Tin học Việt Nam, Hội Tin học TP Hồ Chí Minh và Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam Với những đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành tin học và viễn thông nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung, FPT đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2003 [12]
1.5 Bản tin Chúng ta của FPT
1.5.1 Về sự ra đời bản tin Chúng ta
“22h tối ngày 31/12/1995, trong khi người FPT đang quây quần quanh bữa tiệc liên hoan cuối năm, Tổng biên tập bản tin Chúng ta cùng một số cộng tác viên ào vào như một cơn lốc, ôm trên tay những tờ báo đầu tiên của bản tin Chúng ta Ngay lập tức, người FPT tranh nhau mua báo Chưa đầy nửa giờ, 40 tờ bản tin đầu tiên của Chúng ta đã được bán hết với giá từ 50.000đ đến 25USD/tờ Có lẽ, bản tin Chúng ta
đã lập kỷ lục là một trong những tờ bản tin miễn phí nhưng lại được bán với đắt nhất thế giới ngay trong lần phát hành đầu tiên.” [15, tr.86]
Trang 2927
Về sự ra đời của tờ Chúng ta, Chủ tịch Hội đồng quản trị FPT Trương Gia Bình
giải thích: vào thời điểm đó, “FPT đã được hơn 7 tuổi, đã khẳng định được vị trí của
mình trong “làng công nghệ” và đang mong muốn để lại một dấu ấn riêng, độc đáo FPT đã biết yêu và muốn thể hiện tình yêu của mình một cách công khai, rộng rãi, lãng mạn FPT muốn được viết và được nhận những lá thư tình ” [15, tr.86] Như
vậy, mục tiêu ban đầu khi Công ty FPT xuất bản bản tin là có một nơi để cán bộ nhân viên công ty giãi bày tâm sự, để có nơi trổ tài văn chương thi phú; nhằm làm phong phú hơn tâm hồn người FPT
Tên gọi của bản tin xuất phát từ ý tưởng của ông Thang Đức Thắng, hiện là Tổng biên tập VnExpress - tờ báo điện tử hàng đầu Việt Nam trực thuộc một công
ty thành viên của FPT
Nội dung bản tin Chúng ta trong những số đầu tiên thường có thư chúc mừng của Tổng Giám đốc, các bài viết của người FPT về đồng nghiệp; phóng sự; nhật ký triển khai dự án; thơ; bình luận thể thao; có cả mục tin Vịt (tin đồn thổi trong công ty) Mặc dù những bài viết nói trên đầy cảm xúc, bản tin Chúng ta vẫn đảm bảo hầu hết các chức năng của báo chí và ghi chép đầy đủ hoạt động của Công ty
Tháng 2/2000, tờ Chúng ta gặp sự cố khi đăng tải 1 vài bài viết “nhạy cảm”, bị các báo Lao động, Nhà báo và công luận, Đầu tư liên tục chỉ trích Hậu quả là Chúng
ta bị Sở Văn hóa thông tin đình bản 3 tháng
Sau đó, Chúng ta được cấp phép trở lại, tái xuất bản dưới dạng bản tin, được lãnh đạo Tập đoàn kiểm duyệt nội dung chặt chẽ hơn để tránh sự cố đáng tiếc
Từ đó đến nay, bản tin Chúng ta liên tục phát hành hàng tuần, trừ những tuần nghỉ lễ theo quy định công ty, hoặc những tuần ra số đặc biệt Cho đến ngày 9/9/2010, bản tin này đã phát hành được 580 số trong chưa đầy 15 năm
1.5.1 Tổ chức tòa soạn Chúng ta
Thời kỳ đầu Chúng ta chỉ có 1 phóng viên, kiêm biên tập, kiêm lên trang Năm
1999, tòa soạn báo Chúng ta được bổ sung thêm 1 phóng viên Lúc cao điểm, tòa soạn Chúng ta có 10 phóng viên thường trực
Trang 3028
Hiện tại, Chúng ta đang có 1 tổng biên tập, 1 cố vấn cao cấp, 2 thiết kế, 5 phóng viên cùng khoảng 50 cộng tác viên thân thiết trong toàn tập đoàn Cộng tác viên viết bài cho bản tin Chúng ta thuộc nhiều nhóm đối tượng, từ lãnh đạo công ty, cán bộ
quản lý, nhân viên trong toàn tập đoàn, thậm chí người nhà nhân viên…
Bản tin Chúng ta có khoảng 7.000 bài viết trong 15 năm qua, nếu tính tổng số tin, bài đã đăng trên bản tin thì con số khoảng gần 20.000 tin bài
1.5.2 Nội dung bản tin Chúng ta
Từ những số đầu tiên, bản tin Chúng ta là ấn phẩm phản ánh đầy đủ, đa dạng thông tin về chiến lược, chính sách của ban lãnh đạo FPT; thông tin về mọi hoạt động quan trọng trong tập đoàn thuộc mọi lĩnh vực: kinh doanh, xã hội, văn hóa, thể thao Bản tin Chúng ta tập trung khai thác những thông tin có sức ảnh hưởng mạnh đến sự tồn tại của Tập đoàn; ảnh hưởng đến lợi ích của số đông công chúng Ngoài
ra, không thể thiếu được trong bản tin Chúng ta là những thông tin nóng có ảnh hưởng đến cán bộ nhân viên cũng như sự phát triển của công ty, ví dụ: thông tin về đại dịch H1N1; thông tin về việc ra mắt một số sản phẩm của đối thủ cạnh tranh với FPT Vì cung cấp đầy đủ thông tin như vậy, bản tin Chúng ta trở thành nguồn dữ liệu quý giá của tập đoàn FPT
Bản tin Chúng ta là diễn đàn chính thức và chủ yếu của hơn 10.000 cán bộ công nhân viên tập đoàn FPT Họ cũng chính là lãnh đạo hoặc đồng nghiệp của những người làm bản tin Chúng ta; là những công chúng trung thành và thường xuyên góp
ý nâng cao chất lượng cho bản tin
1.5.3 Hình thức bản tin Chúng ta
1.5.3.1 Màu sắc
Từ khi ra đời, bản tin Chúng ta sử dụng màu sắc chủ đạo là đen trắng Ngoài
ra, vào các dịp đặc biệt như Sinh nhật công ty (ngày 13/9), Tết Nguyên đán, bản tin Chúng ta được in màu
1.5.3.2 Chất liệu, in ấn
Trang 3129
Từ khi ra đời vào cuối năm 1995 đến cuối năm 1998, bản tin Chúng ta được xuất bản với khổ A4, dưới hình thức bản photocopy Tháng 7/2004: bản tin chuyển hình thức từ photo sang in ấn tại nhà in Hiện nay, bản tin Chúng ta được in trên chất liệu giấy Bãi Bằng thông thường
1.5.3.3 Kết cấu
Trang bìa của bản tin Chúng ta được thiết kế cơ bản gồm có: măng séc, số và ngày xuất bản; tít và minh họa một bài báo được cho là quan trọng nhất trong số đó cùng với 1 số tít tin, bài đáng chú ý
Măng séc của bản tin này được thiết kế với chữ “Chúng ta” in đậm, chồng hình bóng mờ với kích thước lớn ở bên trên; logo FPT ở bên trái, bên dưới là số và ngày phát hành
Mục tin tức chiếm vị trí quan trọng nhất trong bản tin, với dung lượng từ 5 - 7 trang tùy số; gồm Tin vắn FPT, Tin ngắn, Một vòng kinh doanh…Trong tổng số 20.000 tin bài đã đăng tải trên bản tin trong 15 năm qua, tin tức chiếm khoảng 65% Các trang giữa dành cho bài quan trọng, thường về những chủ đề nóng như kinh doanh hoặc hoạt động công nghệ, các vấn đề xã hội khác… tùy thời điểm 4 trang cuối thường dành cho mục Văn hóa xã hội, thể thao và truyện cười Cơ cấu trang bài
có thể thay đổi tùy theo hoạt động của Tập đoàn, ví dụ, vào dịp sinh nhật Tập đoàn, các trang tin bài về hoạt động văn hóa thể thao mừng sinh nhật sẽ được dành nhiều diện tích hơn trong bản tin
Về mặt hình ảnh, bản tin Chúng ta sử dụng trung bình 1 ảnh hoặc hình minh họa/trang Trong các bản tin đặc biệt của Chúng ta thì số lượng ảnh nhiều hơn 1 chiếc/trang, do bản tin sử dụng nhiều phóng sự ảnh
Loại font chữ mà bản tin Chúng ta sử dụng là Times New Roman, phù hợp với phong cách đơn giản, rõ ràng của tờ bản tin
Trang 3230
Về mặt thể loại của bản tin Chúng ta, có thể thấy, nhóm thể loại thông tấn đóng vai trò chủ đạo, với các thể loại mũi nhọn là tin và phỏng vấn – đáp ứng nhu cầu được thông tin nhanh, kịp thời của công chúng FPT
1.5.4 Phong cách riêng của bản tin Chúng ta
Một cộng tác viên của bản tin nhận xét: “Chuyện viết lách ở FPT cũng lạ, nếu
bạn không có đôi dòng tâm sự hoặc vài lời cảm thán trong bài viết thì mọi người không thấy sướng, mặc dù, “cái tôi” trong báo chí “xịn” là không nên Thây kệ, tôi đang ở FPT và tôi thích trải lòng mình trên giấy, dù đó là phóng sự” [16, tr.22]
Điều đó cho thấy phong cách rất riêng của bản tin Chúng ta
Một điểm đặc biệt nữa của bản tin Chúng ta đó là tính dân chủ Các bài viết trên bản tin Chúng ta thường đưa ra nhận xét thẳng thắn Đối tượng bị phê bình trên bản tin có thể là lãnh đạo công ty với một quyết định không phù hợp; có thể là sự lãng phí điện năng ở các cán bộ nhân viên…
Ngoài ra, nghiên cứu 580 số của bản tin, người thực hiện luận văn nhận thấy tính hài hước trong phong cách, ngôn ngữ và hình thức thể hiện Toàn bộ khu vực thang máy tại tầng hầm của tòa nhà trụ sở chính của FPT hiện nay được trang trí bởi các bức tranh biếm họa Nhân vật chính trong các bức tranh là các thành viên ban lãnh đạo và một số nhân viên FPT…Đây chính là những bức hí họa từng đăng trên bản tin Chúng ta Một chuyên mục không thể thiếu của bản tin Chúng ta đó là mục Truyện cười, thường được bố trí trong trang cuối cùng của bản tin, dung lượng từ ½ -
Trang 33Trước hết, công chúng FPT là công chúng trẻ, độ tuổi trung bình là 28 (kỳ báo cáo tháng 6/2010 của Ban Nhân sự FPT) Trong đó, 77,21% dưới 30 tuổi, 22,19% ở
độ tuổi 30-50 và chỉ có 0,6% người FPT ở tuổi ngoài 50 [17, tr.23]
Hơn 92% người FPT công tác trong nhóm ngành công nghệ thông tin và Viễn
thông và có không đến 8% làm việc trong lĩnh vực đầu tư [17, tr.23]
Về trình độ học vấn, 68,2% người FPT có trình độ Ðại học; 3,2% có trình độ trên Đại học và 28,6% người FPT có trình độ dưới Đại học [11]
Xét về cơ cấu nghiệp vụ, công chúng tại FPT phân bổ trong 5 nhóm: 10,7% là cán bộ quản lý, 20,7% là cán bộ kỹ thuật; cán bộ kinh doanh chiếm 19,7%, cán bộ
chức năng (ví dụ: truyền thông, hành chính, tài vụ, nhân sự …) chiếm 25,8% và
họ
Những thông tin này là cơ sở để người thực hiện luận văn tiến hành khảo sát sâu hơn về công chúng của bản tin trong 2 chương tiếp theo
Trang 342.1 Về cơ cấu của mẫu điều tra
Để tìm hiểu công chúng của bản tin Chúng ta tại Tập đoàn FPT, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi với 300 cán bộ nhân viên của Tập đoàn này và phỏng vấn sâu 5 đối tượng
Mẫu được chọn với tỷ lệ 3% cán bộ nhân viên ký hợp đồng chính thức của FPT,
có dung lượng 300 trong tổng số 10.000 người FPT
Dựa vào các đặc điểm cơ bản của công chúng FPT như đã đề cập ở chương 1, chúng tôi lựa chọn mẫu theo 5 đặc tính cơ bản nhất đó là: lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của FPT; độ tuổi trung bình; trình độ học vấn; cơ cấu công chúng theo ngành nghề
và phân bổ vùng miền để chọn mẫu thích hợp
Trang 3533
Trước hết, lĩnh vực kinh doanh chủ đạo và cốt lõi của FPT là công nghệ thông
tin và viễn thông (với 93% nhân lực) FPT xác định chiến lược phát triển dài hạn là tập trung vào ngành công nghệ thông tin và viễn thông Do vậy, chúng tôi quyết định chỉ tiến hành khảo sát đối với công chúng trong các công ty thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông trong tập đoàn FPT, gồm có: Công ty Hệ thống thông tin FPT, Công ty Phần mềm FPT, Công ty Viễn thông FPT, Công ty Thương mại FPT, Đại học FPT, FPT Head office Chúng tôi chọn FPT Head office để khảo sát dù đây không phải là công ty thành viên của FPT nhưng lại chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng trong tập đoàn FPT FPT Head Office bao gồm ban lãnh đạo, các phòng ban chức năng “đầu não” của FPT Một số công ty thành viên hoặc có vốn đầu tư của FPT như Công ty Bất động sản, Công ty Quản lý quỹ hay Ngân hàng Tienphongbank… do thuộc lĩnh vực đầu tư nên nằm ngoài phạm vi khảo sát của chúng tôi
Thứ hai, độ tuổi trung bình của FPT hiện tại là 28 Trong đó, tuyệt đại đa số cán
bộ nhân viên có độ tuổi < = 40 Vì thế, chúng tôi đã lựa chọn 300 người ở độ tuổi từ
40 trở xuống, không tiến hành khảo sát đối với nhóm tuổi trên 40
Bảng 2.1: Cơ cấu tuổi của người được hỏi (nguồn: [17] và Kết quả khảo sát tại
Trang 3634
Thứ ba, FPT có hơn 70% cán bộ nhân viên có trình độ học vấn Đại học (ĐH) và
trên ĐH Do vậy, chúng tôi đã lựa chọn một tỷ lệ tương thích là hơn 77% số người được hỏi có trình độ học vấn từ ĐH trở lên
Bảng 2.2: Cơ cấu trình độ học vấn của người được hỏi (nguồn: [17] và Kết
quả khảo sát tại FPT tháng 5-8/2010)
Cơ cấu trình độ học vấn của công
Thứ tư, cơ cấu công chúng theo ngành nghề của FPT phân ra theo 5 nghề cơ bản
là quản lý, kinh doanh, kỹ thuật, chức năng và phần mềm Kết quả, trong hơn 10.000 cán bộ nhân viên FPT, chúng tôi chọn ra 300 người tương đối thỏa mãn cơ cấu công chúng theo ngành nghề kinh doanh đó
Bảng 2.3: Cơ cấu nghề nghiệp của người được hỏi (nguồn: [17] và Kết quả
Trang 37Và cuối cùng, khoảng 70% số cán bộ nhân viên của FPT tập trung tại TP Hà
Nội, 20% ở TP HCM và 10% ở các thành phố khác, do đó, chúng tôi lựa chọn mẫu
có dung lượng 250 ở Hà Nội và 50 ở Sài Gòn, bỏ qua các tỉnh thành khác vì không đảm bảo số mẫu tối thiểu
Chúng tôi không có số liệu thống kê về cơ cấu công chúng FPT theo giới tính, tuy nhiên lựa chọn ngẫu nhiên 300 người được hỏi cho kết quả như sau:
Bảng 2.4: Cơ cấu giới tính của người được hỏi (nguồn: [17] và Kết quả khảo
Trang 3836
thấy tầm quan trọng của cán bộ kinh doanh trong công ty FPT nói riêng và doanh nghiệp nói chung 54% số cán bộ kỹ thuật trả lời khảo sát tiết lộ họ xếp hạng 2, mức thấp gần nhất của tập đoàn (hạng 1 dành cho các đối tượng ký hợp đồng thời vụ, kỹ năng đơn giản như tạp vụ, bảo vệ…) Có thể những người này làm công việc kỹ thuật đơn giản như lắp cáp, bảo hành máy tính… và mới làm việc tại FPT chưa lâu 76,67% số công chúng làm việc trong ngành phần mềm cho biết họ thuộc hạng
2 Theo công bố của FPT, phần mềm là một trong các hướng kinh doanh cốt lõi của tập đoàn và có mức tăng trưởng nhân sự nhanh nhất của tập đoàn Năm 2009, Công
ty Phần mềm FPT Software đã có hơn 2.000 cán bộ nhân viên, chiếm hơn 20% nhân
sự toàn tập đoàn Tuy nhiên, đóng góp từ doanh thu và lợi nhuận của hoạt động xuất khẩu phần mềm trong tổng doanh thu và lợi nhuận của toàn Tập đoàn là không cao,
có thể đây là nguyên nhân của việc xếp hạng nói trên
2.2 Mức độ và cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng FPT
2.2.1 Mức độ tiếp nhận thông tin
Mục này tìm hiểu mức độ tiếp nhận bản tin Chúng ta của công chúng FPT, thông qua tần suất theo dõi tin tức Tần suất theo dõi bản tin của công chúng trước hết cho thấy mức độ quan tâm và yêu thích của công chúng đối với bản tin đó Tần suất đọc của công chúng cũng là một chỉ báo cho biết mức độ gắn bó của họ với bản tin; cho thấy hiệu quả của bản tin Bởi vì, “việc cốt lõi cần ghi nhớ trong hoạt động truyền thông của doanh nghiệp đó là: lặp đi lặp lại và lặp lại.” [46, tr 41 và tr.140] Bản tin Chúng ta ra hàng tuần, hình thức tương đối đơn giản và phát hành miễn phí Trong khi đó, người FPT hàng ngày hàng giờ tiếp xúc với internet, họ có nhiều
cơ hội để truy cập các báo điện tử (trong đó có bản tin điện tử www.chungta.vn của FPT), tham gia các mạng xã hội khác… Có nghĩa là, về cơ bản, thông tin của bản tin Chúng ta đến với người FPT chậm hơn các phương tiện truyền thông khác Nếu người FPT có mức độ tiếp nhận bản tin Chúng ta cao thì bản tin này có ý nghĩa đặc biệt hơn nhiều
Hình 2.1: Tập quán đọc bản tin Chúng ta của công chúng FPT (đơn vị %)
Trang 39Ít khi đọc Chưa từng đọc
Như vậy có đến hơn 70% công chúng được hỏi cho biết họ là công chúng trung thành của bản tin Chúng ta, thể hiện qua việc luôn luôn hoặc thường xuyên đọc bản
tin Đặc biệt, nhóm công chúng số nào cũng đọc chiếm tỷ lệ lớn nhất với 43,67%
Đây là một tỷ lệ rất cao đối với một tờ bản tin được phát hành miễn phí hoàn toàn như bản tin Chúng ta, về hình thức lại không thật bắt mắt Gần 30% độc giả thường xuyên đọc bản tin này, đây cũng là một tỷ lệ đáng kể Chỉ có 1,66% công chúng ít khi đọc bản tin này Không có ai trong số 300 người FPT được hỏi lại chưa từng đọc bản tin Chúng ta
Trong nhóm công chúng số nào cũng đọc của bản tin Chúng ta, tỷ lệ nữ giới
nhiều hơn với 61,83% trong khi nam giới chiếm 38,17% Thêm vào đó, 78,6% là
người có trình độ học vấn ĐH và trên ĐH 68,7% công chúng thường xuyên đọc bản
tin Chúng ta là độc giả trẻ, độ tuổi dưới 30 nhưng đã có thâm niên công tác tại FPT trên 3 năm
Trang 4038
Hình 2.2: Tần suất đọc bản tin Chúng ta xét theo thâm niên công tác của công chúng FPT (đơn vị %)
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Số nào cũng đọc
Thường xuyên đọc
Thỉnh thoảng đọc
Ít khi đọc Chưa
từng đọc
Trên 3 năm
1 - 3 năm Dưới 1 năm
Có thể thấy, công chúng có thâm niên công tác trên 3 năm tại FPT đứng đầu ở
tỷ lệ số nào cũng đọc với 68,7% Nhóm công chúng này đồng thời chiếm đến hơn 58,4% ở lựa chọn thường xuyên đọc Không có ai trong nhóm công chúng làm việc hơn 1 năm tại FPT mà ít khi đọc hoặc chưa từng đọc bản tin này Trong khi đó nhóm công chúng mới làm việc tại FPT chưa đầy 1 năm chiếm tuyệt đối ở tỷ lệ ít khi đọc
bản tin Chúng ta
Tổng hợp từ những phân tích trên đây, chúng tôi thấy rằng những người có thâm niên công tác càng lâu tại FPT thì mức độ theo dõi bản tin Chúng ta là thường xuyên, liên tục hơn Điều đó cho thấy, công chúng đọc bản tin Chúng ta phần nào phản ánh mức độ trung thành và gắn bó của cán bộ nhân viên công ty Ngoài ra,
công chúng thường xuyên đọc bản tin Chúng ta hơn cả là công chúng trẻ, dưới 30
tuổi, có trình độ học vấn ĐH và trên ĐH và nữ nhiều hơn nam