2 tâm, nghiên cứu, giải quyết một cách toàn diện, thấu đáo chính là mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu và chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đài Truyền hình; mối quan hệ giữa vai trò,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG THANH TÙNG
HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG THANH TÙNG
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60 32.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG THỊ THU HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH 11
1.1 Chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí 11
1.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về xã hội hóa 11
1.1.2 Hệ thống văn bản quản lý Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí 14
1.2 Khái niệm xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình 18
1.3 Tổng quan về thực tiễn hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình tại Việt Nam 20
1.4 Một số yếu tố nền tảng cho hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 24
1.4.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội, dân số, mức tiêu thụ của người dân thành phố 24
1.4.2 Hệ thống văn bản quản lý hoạt động xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 29
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 33
2.1 Lược sử Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và lịch sử hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài 33
Trang 42.1.1 Giới thiệu 33
2.1.2 Các chương trình xã hội hóa đầu tiên của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh 35
2.1.3 Thành công và bất cập của các chương trình xã hội hóa trong giai đoạn đầu 39
2.2 Khảo sát các chương trình xã hội hóa hiện nay ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.2.1 Số lượng, tỷ lệ các chương trình, tiết mục xã hội hóa và không xã hội hóa trên kênh HTV9 và kênh HTV7 40
2.2.2 Thời gian phát sóng các chương trình có yếu tố xã hội hóa 43
2.2.3 Nội dung của các chương trình có yếu tố xã hội hóa 48
2.2.4 Tuổi thọ của các chương trình có yếu tố xã hội hóa 54
2.3 Các phương thức liên kết sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa 60
2.4 Qui trình sản xuất và quản lý nội dung các chương trình có yếu tố xã hội hóa 63
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 68
3.1 Thành công và một số bất cập của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 68
3.1.1 Thành công của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 68
3.1.2 Một số bất cập của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 73
3.2 Định hướng phát triển hoạt động xã hội hóa của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 80
3.3 Giải pháp và đề xuất phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 81
3.3.1 Thay đổi nhận thức, thái độ về xã hội hóa, về vai trò của công ty truyền thông và khán giả truyền hình 82
Trang 53.3.2 Nâng cao năng lực lãnh đạo và công tác giáo dục chính trị tư tưởng 84 3.3.3 Đổi mới bộ máy, phương thức tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn
nhân lực 86
3.3.4 Hoàn thiện cơ chế, chính sách, chế độ tài chính 88
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHẦN PHỤ LỤC 98
Phụ lục 01: Sơ đồ tổ chức bộ máy hiện nay của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 99
Phụ lục 02: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHU CẦU - THỊ HIẾU KHÁN GIẢ CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HTV) THÁNG 11/2012 100
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Mức chi tiêu đời sống bình quân một người/ 1 tháng 26 Bảng 1.2: Chi tiêu đời sống bình quân một người một tháng khu vực thành thị: 26 Bảng 1.3: Tỷ lệ hộ gia đình có đồ dùng lâu bền chủ yếu (tỷ lệ % của toàn thành phố): 27 Bảng 1.4: Tỷ lệ dân số 15 - 54 tuổi sử dụng/tiếp xúc hàng ngày với các loại phương tiện truyền thông tại 4 thành phố trong năm 2010 - 2011 28 Bảng 2.1: Phân công công việc giữa các bên hợp tác 37 Bảng 2.2: Phân công công việc giữa các bên hợp tác 38 Bảng 2.3: Tỷ lệ chương trình xã hội hóa và không xã hội hóa trên HTV (không bao gồm phim truyền hình) 41 Bảng 2.4: Tỷ lệ thời lượng chương trình xã hội hóa phát sóng trên kênh HTV7 và HTV9 trong năm 2010 42 Bảng 2.5: Tỷ lệ thời lượng chương trình xã hội hóa phát sóng trên kênh HTV7 và HTV9 trong năm 2011 42 Bảng 2.6: Tỷ lệ thời lượng chương trình xã hội hóa phát sóng trên kênh HTV7 và HTV9 trong năm 2012 42 Bảng 2.7: Thống kê tổng thời lượng phát sóng phim truyền hình của Đài Truyền hình TP.Hồ Chí Minh 43 Bảng 2.8: Khảo sát thị hiếu khán giả truyền hình tại thành phố Hồ Chí Minh 44 Bảng 2.9: 10 chương trình có doanh thu cao nhất năm 2011 45 Bảng 2.10: Các chương trình có tỷ lệ người xem cao nhất 2011 tại TP Hồ Chí Minh 45 Bảng 2.11: Khảo sát các chương trình nối bật nhất đến tháng 8/2012 46 Bảng 2.12: So sánh mặt tích cực, hạn chế cơ bản liên quan đến nội dung, hình thức của các chương trình giải trí có yếu tố xã hội hóa và không xã hội hóa như một số
chương trình Trò chơi truyền hình, Truyền hình thức tế, giải trí âm nhạc: 53
Bảng 2.13: Khảo sát các chương trình có doanh thu cao 7- 8/2012 (nguồn TNS) 57 Bảng 3.1: Doanh thu hàng năm của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh 70
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Tỷ lệ hộ gia đình sở hữu Tivi và các phương tiện khác tại 4 thành phố 28 Hình 1.2: Xu hướng sử dụng các phương tiện truyền thông tại các tỉnh, thành phố lớn 29 Hình 2.1: Tỷ lệ thời gian xem các thể loại chương trình tại các thành phố lớn 47 Hình 2.2: Khảo sát tỷ lệ người xem và thị hiếu khán giả trong từng khung giờ trong ngày vào 2 tháng 7 và tháng 8 /2012: 47
Trang 81
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, báo chí nước ta đã phục vụ hữu ích nhu cầu hưởng thụ thông tin, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, góp phần tích cực vào thành tựu chung của đất nước Từ năm 2005 đến nay, các chủ trương, đường lối chính sách phát triển báo chí của Đảng và Nhà nước, trong đó
có chủ trương khuyến khích xã hội hóa được cụ thể hóa bằng các văn bản qui phạm pháp luật đã định hướng và tạo điều kiện cho báo chí nói chung và ngành truyền hình nói riêng phát triển theo hướng nâng cao chất lượng tư tưởng, tính hấp dẫn, hiện đại về mô hình tổ chức hoạt động, về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ
Từ thực tế triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa của ngành truyền hình cho thấy, mục tiêu thu hút nguồn lực xã hội theo hình thức xã hội hóa để phát triển
sự nghiệp là chủ trương đúng, phù hợp với công cuộc đổi mới và hội nhập, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao và đa dạng của khán giả truyền hình Đứng trước yêu cầu tự đổi mới để phát triển hệ thống truyền hình theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và nâng cao chất lượng chương trình, lãnh đạo các đài truyền hình đã chủ động thay đổi nhận thức, tư duy bao cấp, vận dụng chính sách mới về xã hội hóa vào quá trình sản xuất theo hướng tự tìm tòi, mạnh dạn thực hiện những mô hình hoạt động liên kết mới mang lại hiệu quả cao hơn
Trong gần chục năm trở lại đây, sự ra đời của nhiều công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực truyền thông - quảng cáo cũng là một trong những điều kiện tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình Theo đánh giá chung, hệ thống truyền hình phát triển nhanh về số lượng kênh, cơ sở vật chất
kỹ thuật, tài chính được tăng cường, xu hướng xã hội hóa, liên kết sản xuất kênh, chương trình vẫn đang tiếp tục phát triển nhanh trên chiều rộng, đa dạng về hình thức trong toàn hệ thống truyền hình
Tuy nhiên, song song với những hiệu quả tích cực nêu trên, quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa, liên kết sản xuất kênh, chương trình truyền hình đã bắt đầu bộc lộ rõ nét hơn một số vấn đề bất cập Những vấn đề nảy sinh cần được quan
Trang 92
tâm, nghiên cứu, giải quyết một cách toàn diện, thấu đáo chính là mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu và chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đài Truyền hình; mối quan hệ giữa vai trò, trách nhiệm của Đài Truyền hình và các công ty truyền thông tư nhân trong quá trình liên kết, hợp tác sản xuất; mối quan hệ tác động giữa Đài Truyền hình, công ty truyền thông tư nhân và công chúng liên quan đến công tác quản lý và định hướng nội dung… Đây là những vấn đề
khó, liên quan đến lý luận và thực tiễn, liên quan đến định hướng, mô hình phát triển, phương thức hoạt động cụ thể được qui định cho từng chủ thể tham gia xã hội hóa Ngoài ra, công tác quản lý nói chung cũng như việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật vẫn chưa theo kịp hoặc chậm so với sự phát triển nhanh của xu thế
xã hội hóa Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự lúng túng trong công tác chỉ đạo, quản lý, khả năng chệch hướng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị và lợi ích kinh tế
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đơn vị truyền hình đi đầu cả nước thực hiện chủ trương xã hội hóa Quá trình thực hiện xã hội hóa, liên kết sản xuất kênh truyền hình, chương trình truyền hình đã giúp Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tận dụng nguồn nhân lực xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, đa dạng hóa các chương trình, tiết mục với chất lượng cao hơn Thực tế cho thấy, hiệu quả kinh tế mang lại chỉ là một khía cạnh của vấn đề và
còn rất nhiều câu hỏi đang đặt ra, và cần được nghiên cứu, xem xét như: Mô hình, phương thức hợp tác nào phù hợp trong giai đoạn phát triển sắp tới? Những lĩnh vực, chương trình nào của truyền hình có thể thực hiện xã hội hóa hay không thể thực hiện xã hội hóa? Các công đoạn nào có thể xã hội hóa trong qui trình hợp tác sản xuất? Làm thế nào vừa đảm bảo tăng doanh thu, vừa đảm bảo định hướng nhiệm vụ chính trị? Những mâu thuẫn nào cần giải quyết trong thực tế hợp tác? Có lẽ câu trả lời chỉ có thể xuất phát từ việc phân tích sâu
sắc thực tiễn hoạt động, qui trình hợp tác sản xuất chương trình cụ thể Nói cách khác, nếu được phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện nhìn từ góc độ quản lý, điều hành mới có thể lý giải, làm sáng tỏ hơn nhiều vấn đề mới đang đặt ra
Trang 103
Trước yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới theo tinh thần nội dung của Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 10 về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí, việc tổng kết, đánh giá thực tiễn,
đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động xã hội hóa, tránh khuynh hướng tư nhân hóa, thương mại hóa sẽ thật sự cần thiết không chỉ đối với Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh mà còn là cơ sở tham khảo để hoàn thiện các chính sách, văn bản qui phạm pháp luật Tính từ năm 2009, thời điểm Bộ Thông tin và Truyền thông lần đầu tiên ban hành thông tư 09/2009 qui định về việc liên kết sản xuất chương trình phát thanh - truyền hình, đến nay vẫn còn rất ít các nghiên cứu, đánh giá đầy đủ thực trạng hoạt động trong lĩnh vực này Chính vì vậy, để hệ thống truyền hình phát triển, thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, nhất thiết cần đánh giá hoạt động thực tiễn và tiếp tục nghiên cứu đề xuất những mô hình, phương thức xã hội hóa phù hợp, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước cũng như hoạt động
xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình mặc dù đã hình thành và phát triển từ thập niên 90 nhưng nếu xét trên bình diện tổng thể, hoạt động này cũng chỉ nằm trong một giai đoạn ngắn trong chiều dài lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam Tuy nhiên, trong vòng 5 năm trở lại đây đã xuất hiện nhiều ý kiến, bài viết và công trình nghiên cứu khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình nói riêng Sự quan tâm ngày càng nhiều đến hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình không chỉ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của truyền hình trong đời sống xã hội mà bên cạnh đó còn cho thấy mức độ, giá trị tác động, tầm ảnh hưởng của các chương trình truyền hình trong xu thế hội nhập và phát triển nhanh Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình và sự gia tăng số lượng phát sóng các chương trình truyền hình, trong đó có nhiều chương trình xã hội hóa chẳng những không tách rời mà có phần gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của khán giả truyền hình nên hiển nhiên nó trở thành một trong những tâm điểm chú ý của dư luận xã hội
Trang 114
Hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình ở nước ta xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong từng giai đoạn và dựa theo kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn ở một số lĩnh vực khác Có lẽ vì vậy mà đa số các ý kiến trên các phương tiện truyền thông về xã hội hóa chỉ tập trung dừng lại ở việc đánh giá, nhận xét vào từng chương trình cụ thể được phát trên sóng truyền hình hơn là phân tích sâu thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình cũng như đề xuất các giải pháp khả thi Các đề tài nghiên cứu còn ít, các giáo trình giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học gần như cũng chưa đề cập nhiều đến hoạt động xã hội hóa trong mối quan hệ tổng thể với các thành phần kinh tế tham gia sản xuất chương trình Ngay bản thân các đài truyền hình cũng chưa có đánh giá, tổng kết hoạt động xã hội hóa một cách bài bản, khoa học và có hệ thống Hiện nay, cơ sở lý luận về hoạt động xã hội hóa truyền hình và xã hội hóa sản xuất chương trình trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường vẫn còn chưa được nghiên cứu sâu, đầy đủ hay nói cách khác mới chỉ dừng ở góc độ chung nhất về chủ trương, quan điểm chỉ đạo chung về xã hội hóa…Cơ sở lý luận cơ bản cho đến hiện nay vẫn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, đó là: xã hội hóa nhằm mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tạo điều kiện phát triển một số lĩnh vực Như vậy, cho đến nay, hoạt động xã hội hóa truyền hình và sản xuất chương trình truyền hình chủ yếu dựa theo nội dung Thông tư về liên kết sản xuất các chương trình truyền hình do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành vào năm 2009 Trong điều kiện này, việc còn nhiều ý kiến, cách tiếp cận và đánh giá khác nhau ở từng giai đoạn khác nhau về hoạt động xã hội hóa truyền hình và những sản phẩm của nó là điều hoàn toàn có thể hiểu được
Trước yêu cầu thực tiễn cần phải làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình, một số đơn vị, cá nhân đã quan tâm hơn thông qua việc nghiên cứu sâu hoạt động xã hội hóa, đặc biệt là xã hội hóa sản xuất
chương trình theo nhiều góc độ tiếp cận Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu vấn đề
Trang 125
xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam” do tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung thực hiện
vào năm 2007 được xem là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực xã hội hóa truyền hình Tuy nhiên, khóa luận này chỉ nghiên cứu ở phạm vi hẹp một chương trình truyền hình, tính khái quát không cao Nghiên cứu tiếp theo của cùng
tác giả về “Hiệu quả kinh tế và xã hội của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Đài Truyền hình Việt Nam” là công trình khoa học được nghiên
cứu công phu qua khảo sát 3 chương trình truyền hình cụ thể Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã phân tích thực trạng sản xuất của từng chương trình, qua đó khẳng định rõ hơn hiệu quả của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình vào thời điểm nghiên cứu luận văn Chúng tôi rất đồng tình với nhận xét của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung về hoạt động xã hội hóa: “Trong quá trình thực hiện, tính chất mới
mẻ, đa dạng, phức tạp và phong phú của các hoạt động này không chỉ tạo ra những khó khăn cho những đơn vị và cá nhân tham gia, nó còn gây ra những luồng quan điểm, dư luận ý kiến trái chiều nhau về hiệu quả và tính trách nhiệm xã hội của các chương trình được sản xuất” Một số công trình nghiên cứu khác từ các năm 2007 đến 2010 cũng đã có sự khái quát cao về cơ sở lý luận xã hội hóa, trình bày các quan niệm, quan điểm về xã hội hóa nói chung và truyền hình nói riêng Đặc biệt,
có một số công trình nghiên cứu về hoạt động xã hội hóa ở một số đài truyền hình
địa phương có giá trị thực tiễn cao như “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình” của tác giả Nguyễn Thanh Hà Những công trình nghiên cứu này đều
tiếp cận đến nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội hóa, phân tích sâu thực trạng, khó khăn, thuận lợi ở từng đơn vị truyền hình cụ thể
Ngoài ra, còn một số đề tài khóa luận và luận văn thạc sĩ cũng khai thác hướng nghiên cứu về hoạt động xã hội hóa như luận văn của Vũ Thị Thu Hà về “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của đài PT-TH Hà Tây trong 2 năm 2004- 2006”, hay luận văn của Lê Thu Hà về “Đào tạo báo hình trong bối cảnh xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình”, luận văn của Nguyễn Triều Văn với đề tài “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại đài PT-TH Hà Nội” năm 2010, luận văn của Lê Thị Thu Hòa với đề tài “Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền
Trang 136
hình của Đài truyền hình Việt Nam” (khảo sát kênh VTV1-VTV3 từ tháng 1.2007 đến tháng 6.2008),…Tuy nhiên, các khóa luận, luận văn nêu trên đều nghiên cứu thực trạng và ưu, nhược điểm của qui trình sản xuất hoặc sản phẩm xã hội hóa của một chương trình truyền hình cụ thể trong một giai đoạn từ 6 tháng đến 1 năm, như
chương trình Làm giàu không khó trên kênh VTV1 (Đài Truyền hình Việt Nam) từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2007, các chương trình: Đuổi hình bắt chữ, Hộp đen, Cơ hội 999 từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2009, qui trình sản xuất chương trình truyền
hình xã hội hóa tại đài PT-TH Hà Nội năm 2010…
Gần đây, công trình luận án tiến sĩ báo chí: “Nghiên cứu xu hướng phát triển của truyền hình từ góc độ kinh tế học truyền thông” của tác giả Bùi Chí Trung đã gợi mở nhiều lý giải thú vị về xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam trong mối quan hệ mật thiết với vai trò của kinh tế truyền thông Luận văn đề cập sâu đến các nguyên lý hoạt động của thị trường truyền thông, từ đó hoàn thiện cơ sở lý luận
về kinh tế học truyền hình trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam Những công trình nghiên cứu vừa đề cập là những tư liệu quí, những tài liệu tham khảo hữu ích, làm cơ sở để tiếp tục cho việc phát triển, nghiên cứu lý luận về xã hội hóa nói chung
và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình nói riêng Lĩnh vực truyền hình là lĩnh vực rộng, đa dạng về thể loại, có thực tiễn phong phú và vì vậy các nghiên cứu
về xã hội hóa truyền hình, nhất là về sản xuất chương trình truyền hình nhìn từ góc
độ quản lý vẫn còn nhiều vấn đề có thể tiếp tục làm rõ Hơn nữa, thực tiễn của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình vốn phong phú, đa dạng, còn trong giai đoạn mới bắt đầu phát triển và thay đổi liên tục nên chắc chắn sẽ còn có thể tiếp cận từ nhiều góc độ
Luận án vừa được bảo vệ thành công vào cuối năm 2012 của nghiên cứu sinh Đinh Thị Xuân Hòa về vấn đề “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” đã khảo sát, thống kê, phân tích thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của 12 đài truyền hình trong cả nước Tuy nhiên, do mức độ nghiên cứu dàn trải, nên chưa chỉ ra được mức độ thành công, hạn chế của
Trang 14Các công trình nghiên cứu nêu trên vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho những người tiếp nối có cùng mối quan tâm, nghiên cứu về xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Mặc dù đã có nhiều bài viết phân tích, công trình nghiên cứu, nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi hiện vẫn chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào nhìn từ góc độ kinh nghiệm thực tiễn quản lý trong xu thế phát triển hợp tác với các công ty truyền thông tư nhân Vì vậy, xuất phát từ hoạt động thực tiễn của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, đề tài này sẽ nghiên cứu và đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện các mô hình quản lý hoạt động xã hội hóa mang tính khả thi cao không chỉ đối với Đài Truyền hình thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng và các đài truyền hình ở Việt Nam nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong mối quan hệ với các công ty truyền thông tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các mô hình liên kết sản xuất phù hợp với định hướng phát triển báo chí theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước
Để đạt được mục đích này, người nghiên cứu sẽ phải tổng hợp các văn bản của các cơ quan quản lý báo chí để có cái nhìn tổng quan về chủ trương xã hội hóa, về yêu cầu quản lý và phát triển báo chí trong tình hình mới Trong quá trình nghiên cứu và thu thập thông tin, luận văn sẽ tập trung phân tích những điểm tích cực và hạn chế trong qui trình ký kết, qui trình sản xuất và triển khai thực hiện xã hội hóa
Trang 158
sản xuất chương trình truyền hình trong mối quan hệ giữa Đài Truyền hình - đơn vị hợp tác và công chúng; phân tích và làm rõ thực trạng, yêu cầu và nhu cầu cần thực hiện xã hội hóa đối với một số lĩnh vực, chương trình cụ thể Để làm sáng tỏ hơn luận điểm, luận văn sẽ kết hợp so sánh hiệu quả giữa chương trình được xã hội hóa
và chương trình không có yếu tố xã hội hóa; phân tích và làm rõ vai trò, trách nhiệm, mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể, khách thể tác động vào quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình; đánh giá hiệu quả của công tác quản lý, định hướng nội dung, đồng thời đề xuất mô hình, giải pháp thực hiện quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xã hội hóa nói chung
và xã hội hóa truyền hình nói riêng
2 Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất chương trình truyền hình có yếu tố
xã hội hóa của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
3 Xác định giải pháp và định hướng phát triển xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận văn là thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình trong mối quan hệ với các công ty liên kết sản xuất và các công ty truyền thông của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là quá trình thực hiện xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh trong các năm 2010 - 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ được thực hiện theo các phương pháp như sau:
1 Phương pháp nghiên cứu văn bản thứ cấp:
Phương pháp này phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình, tạo cơ sở nền tảng để phục vụ nghiên cứu nhiệm vụ thứ 2 và nhiệm vụ thứ 3
2 Phương pháp phỏng vấn ý kiến chuyên gia:
Trang 169
Phỏng vấn bằng phiếu hỏi với các chuyên gia là đại diện các công ty truyền thông, các biên tập và đạo diễn, các nhà quản lý để khai thác thông tin phục vụ cho
đề tài
3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp:
Điều tra khảo sát các qui trình, chương trình hợp tác, sản xuất của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh để thu được các số liệu cụ thể phản ánh thực trạng hoạt động của cơ quan báo chí này trong hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình Thực hiện xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra trong nhiều năm, với phạm vi rộng, nhiều chương trình Vì vậy, luận văn này chỉ nghiên cứu dẫn chứng một số chương trình thực hiện trong năm 2010 và 2011
4 Phương pháp nghiên cứu, so sánh:
Nghiên cứu so sánh tương đối toàn diện giữa chương trình truyền hình có yếu
tố xã hội hóa với chương trình truyền hình không có yếu tố xã hội hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từ năm
2011 đến năm 2020 nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế đã tiếp tục đề cập đến yêu cầu đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn phát triển báo chí
Luận văn không chỉ phân tích, đánh giá thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh mà còn góp phần làm rõ những vấn đề mới phát sinh, đề xuất giải pháp, mô hình, những vấn đề cần giải quyết nhằm giúp các nhà quản lý có thêm dữ liệu, cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp luật, tăng cường trách nhiệm quản lý nội dung chương trình và định hướng mô hình xã hội hóa thích hợp Những đúc kết từ thực tiễn nghiên cứu và
đề xuất giải pháp của luận văn còn có ý nghĩa nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm và chức năng của báo chí theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác báo chí
Trang 1710
Riêng đối với Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù đã thực hiện
xã hội hóa sản xuất chương trình trong nhiều năm nhưng đến thời điểm này vẫn chưa có qui chế chính thức về hợp tác sản xuất chương trình, qui chuẩn, tiêu chí liên kết sản xuất ở từng lĩnh vực, thể loại Vì vậy, thông qua phân tích, đánh giá thực trạng và hướng đề xuất giải pháp sẽ có ý nghĩa thiết thực nhằm từng bước chuẩn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình với các đối tác
là công ty truyền thông tư nhân
Về phương diện lý luận, luận văn đã góp phần bổ sung thêm vào hệ thống lý luận về báo chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng trong bối cảnh hiện nay, và đã cung cấp tư liệu cho một số chuyên đề trong đề tài cấp Đại học Quốc gia
về “Hiệu ứng kinh tế - xã hội của hoạt động xã hội hóa sản xuất trong lĩnh vực truyền hình và những vấn đề đặt ra về quản lý Nhà nước đối với hoạt động này”
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, nội dung chính của luận văn sẽ bao gồm các chương như sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XÃ
HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG
TRÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÃ
HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 1811
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN
HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH
1.1 Chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí
1.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về xã hội hóa
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI cho đến nay, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực Nổi bật nhất là sự đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân Đường lối đổi mới, nhất là đổi mới tư duy kinh tế vừa thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vừa tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường, qua đó thu hút ngày càng nhiều các thành phần kinh tế, tiềm lực xã hội đóng góp vào sự phát triển chung Công cuộc đổi mới từ việc thực hiện Nghị quyết đại hội VI của Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đã từng bước thúc đẩy, đổi mới các lĩnh vực khác, nhất là các chính sách về giáo dục, văn hóa, xã hội, thể thao Từ kinh nghiệm thực tiễn trong 5 năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1991), thông qua quá trình tích lũy tiềm lực kinh tế, tích lũy kinh nghiệm, đổi mới tư duy trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành đã tạo nền tảng cơ bản để từng bước hình thành cơ chế quản lý, chủ trương, chính sách mới cho từng lĩnh vực
Sau hơn 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, chủ trương thu hút sự tham gia của nhiều nguồn lực xã hội thông qua hoạt động xã hội hóa ngày càng hiệu quả, phù hợp với điều kiện phát triển của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Việc tham gia ngày càng nhiều của các thành phần kinh tế, các nguồn lực xã hội đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục khẳng định đường lối đúng đắn của sự nghiệp đổi mới Xã hội hóa không chỉ được tiến hành thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao mà từng bước được thực hiện trong lĩnh vực truyền thông, truyền hình và được cụ thể hóa bằng các văn bản qui phạm
Trang 1912
pháp luật Việc đánh giá kết quả thực hiện ở từng lĩnh vực cho thấy chủ trương xã hội hóa được triển khai thận trọng, theo lộ trình thích hợp, phù hợp với từng điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Qua nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng cho thấy, cụm từ “Xã hội hóa” được
đề cập từ Đại hội VI của Đảng Theo quan điểm chung của văn kiện này, xã hội hóa
là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân
ở từng lĩnh vực Trong văn kiện Đại hội đã chỉ rõ phương hướng đổi mới ở một số lĩnh vực trên tinh thần cốt lõi là thực hiện xã hội hóa, đa dạng hóa tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả Cũng từ kết quả bước đầu sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có
đến năm 2000 Nhiều điểm mới trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao đã được thể hiện trong nội dung của Chiến lược:
- Cụ thể hoá và thể chế hoá chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về
xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đào tạo, trước hết là về đầu tư phát triển và bảo đảm
kinh phí hoạt động Ngoài việc ngân sách dành một tỉ lệ thích đáng cho sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo, cần thu hút thêm các nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các thành phần kinh tế, các giới kinh doanh trong và ngoài nước…Từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tư thục
- Bảo vệ sức khoẻ, nâng cao thể lực của nhân dân phải trở thành hoạt động tự
giác của mỗi người, với sự quan tâm của Nhà nước và của toàn xã hội Phát triển các hoạt động y tế bằng khả năng của Nhà nước và của nhân dân… Khuyến khích, hướng dẫn và kiểm soát hoạt động của các cơ sở dịch vụ y tế tập thể và tư
nhân
- Công tác thể dục, thể thao cần coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục thể
chất trong các trường học; tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân tham
Trang 20- Có chính sách tăng cường và hiện đại hóa công tác thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng nội dung phù hợp với các loại đối tượng…phủ sóng phát thanh, truyền hình trên cả nước
Những nội dung nêu trên được đề cập trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cho thấy, Đảng và Nhà nước tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, từng bước xóa bỏ tư duy bao cấp, vận dụng tư duy đổi mới không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà từng bước theo hướng tận dụng các nguồn lực xã hội tham gia phát triển các lĩnh vực xã hội khác Mục tiêu trên hết vẫn là phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ thông tin và văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân Thực hiện chủ trương xã hội hóa theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VII và thứ VIII của Đảng, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết, Thông tư nhằm cụ thể hóa chủ trương, vận dụng các chủ trương, quyết sách mới vào thực tiễn
Trong quá trình triển khai thực hiện, các chủ trương, chính sách về xã hội hóa vẫn tiếp tục được khẳng định, có bổ sung, đổi mới về nhận thức và quan điểm và được thể hiện xuyên suốt trong nội dung của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X và lần thứ XI Từ đánh giá và tổng kết thực tiễn, trong nội dung
Trang 2114
của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 được trình bày tại Đại hội toàn
quốc lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục định hướng: Tiếp tục đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin, hình thành thị trường văn hóa lành mạnh Đây là quan điểm, định hướng chỉ đạo
mới nhất của Đảng liên quan đến xã hội hóa lĩnh vực văn hóa, thông tin
1.1.2 Hệ thống văn bản quản lý Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí
- Ngày 28/7/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 90/CP về chủ trương và phương hướng xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa
- Ngày19/8/1999, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ - CP
về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao
Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết 90/CP và 5 năm thực hiện Nghị định 73/1999/NĐ-CP, hoạt động xã hội hóa thu được kết quả tích cực Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, tốc độ xã hội hóa chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và chỉ tiêu, định hướng của Nghị quyết
Ngày 18/5/2005, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao,
trong đó riêng lĩnh vực văn hóa nhấn mạnh việc thu hút mọi nguồn lực, thành phần
kinh tế, các tầng lớp nhân dân tham gia các hoạt động và sáng tạo văn hóa nhằm cung cấp, phổ biến và tạo ra nhiều sản phẩm, tác phẩm, công trình văn hóa có chất lượng, dân tộc và hiện đại để không ngừng nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân Mặc dù, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP nhưng trên thực tế, công tác xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, trong đó có lĩnh vực truyền hình phát triển chậm do thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể Trong lĩnh vực này chủ yếu được triển khai mạnh ở khâu phát hành các sản phẩm văn hóa Dù vậy, quá trình triển khai thực hiện xã hội hóa ở các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao cũng có tác động gián tiếp đến hoạt động của truyền hình Một trong những lý
do căn bản là các hoạt động xã hội về văn hóa, thể thao không thể tách rời nhu cầu
Trang 2215
quảng bá, giới thiệu sự kiện và vì vậy vô hình trung cũng trở thành những sản phẩm của lĩnh vực truyền hình Chính mối quan hệ, nhu cầu tác động qua lại giữa các hoạt động này mà từ đó bắt đầu mở ra một số hoạt động xã hội hóa của truyền hình gắn với các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và thể thao
Xuất phát từ yêu cầu, nhu cầu thực tiễn phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình, cho đến năm 2009, Bộ Thông tin - Truyền thông mới chính thức ban hành Thông tư liên quan đến xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình Cụ thể là Thông
tư số 19/2009/ TT-BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình Thông tư quy định cụ thể, chi tiết những quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng; các hình thức, nguyên tắc hoạt động liên kết; các chương trình không được tham gia liên kết; điều kiện liên kết; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết Thông tư 19/2009/TT-BTTTT là văn bản pháp lý đầu tiên cho phép các đài phát thanh, truyền hình thực hiện hoạt động xã hội hóa với các nội dung qui định khá cụ thể Một số khái niệm, hướng dẫn cơ bản của Thông tư đối với các đài phát thanh, đài truyền hình như sau:
Về phạm vi điều chỉnh và khái niệm liên kết:
Thông tư điều chỉnh hoạt động liên kết để thực hiện việc sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình mà trong đó quyền lợi của đối tác liên kết được trả bằng quyền lợi từ hoạt động quảng cáo, tài trợ hoặc từ nguồn thu phí phát thanh, truyền hình theo một phương thức nhất định khi phát sóng chính sản phẩm liên kết của đài phát thanh, truyền hình
Hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình là hình thức hợp tác giữa một bên là đài phát thanh, truyền hình với một bên là đối tác liên kết để tạo ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết
Về hình thức hoạt động liên kết:
Trao đổi bản quyền chương trình hoàn chỉnh
Trao đổi bản quyền định dạng chương trình;
Tổ chức sản xuất chương trình hoặc một phần chương trình
Trang 2316
Tổ chức sản xuất toàn bộ kênh chương trình
Các đài phát thanh, truyền hình, đối tác liên kết có thể lựa chọn một hoặc nhiều hình thức hoạt động liên kết
Về các chương trình phát thanh, truyền hình không thực hiện hoạt động liên kết:
*Không thực hiện hoạt động liên kết đối với các chương trình phát thanh, truyền hình thời sự, chính trị
*Đối với các đài phát thanh, truyền hình có từ 02 (hai) kênh chương trình quảng bá trở lên, phải xác định 01(một) kênh thời sự - chính trị tổng hợp
Các chương trình thực hiện hoạt động liên kết trong kênh thời sự - chính trị tổng hợp không được vượt quá 30% (ba mươi phần trăm) tổng thời lượng chương trình phát sóng lần 1 (một) của kênh này
Về đăng ký chương trình liên kết:
Đài phát thanh, truyền hình trước khi thực hiện hoạt động liên kết đối với các sản phẩm liên kết là kênh chương trình, chương trình định kỳ phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông
Hồ sơ đăng ký bao gồm các thông tin về tên, nội dung, định dạng chương trình, thời điểm, thời lượng, kênh phát sóng của sản phẩm liên kết; tên, địa chỉ và năng lực của đối tác liên kết, hình thức liên kết, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết
Bên cạnh đó, môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp cũng ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào hoạt động xã hội hóa trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực báo chí truyền thông
Năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài ra đời Đây là văn bản luật đầu tiên góp phần tạo khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt Nam Năm 1991, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã khẳng định đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường và khu vực đầu tư nước ngoài
Trang 2417
Tiếp theo đó là hàng loạt các luật quan trọng như Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Phá sản, Luật Môi trường, Luật Lao động và hàng trăm các văn bản Pháp lệnh, Nghị định của Chính phủ được ban hành nhằm cụ thể hóa phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội
Năm 2000, Quốc hội tiến hành sửa đổi Luật Doanh nghiệp Các doanh nghiệp
tư nhân có điều kiện thuận lợi để phát triển Luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm,
dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Tính trong giai đoạn 2000 - 2004, đã có 73.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999 Từ năm 1991 đến năm
2003, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong GDP đã tăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tế ngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên 4,5% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 6,4% lên 14% (Tổng cục Thống kê)
Luật Doanh nghiệp có hiệu lực vào năm 2005 áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài với tinh thần cốt lõi là tạo sự bình đẳng để giúp các doanh nghiệp có cơ hội phát triển nhanh Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, đặc biệt từ khi có Luật Doanh nghiệp, từ chỗ chỉ có 4.086 doanh nghiệp tư nhân đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp tư nhân (năm 1992), đến tháng 7/2011 tổng số doanh nghiệp tư nhân đăng ký ở nước ta đã lên tới con số hơn 500.000 doanh nghiệp Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân thành lập mới trong giai đoạn 2000 - 2010 tăng trung bình khoảng 22%/năm và tập trung hoạt động chủ yếu ở các trung tâm kinh tế( Tổng cục Thống kê) Năm 2011, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp khoảng 48% GDP, tạo ra khoảng hơn 50% việc làm cho xã hội Với sự phát triển nhanh cả về lượng và chất, thành phần kinh tế tư nhân đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Những yếu tố nêu trên là cơ sở pháp lý, tiền đề rất quan trọng, mở ra cơ hội cho các thành phần kinh tế tham gia, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, trong đó có xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình Cũng trong khoảng thời gian
Trang 2518
này, thị trường truyền thông phát triển sôi động với sự ra đời của hàng loạt các công
ty truyền thông tư nhân tham gia vào lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình
1.2 Khái niệm xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
Như đã trình bày ở phần trên, cụm từ “Xã hội hóa” đã được đề cập trong nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 1991- 2000 Theo quan điểm của Nghị quyết, xã hội hội hóa có thể được hiểu là một hoạt động nhằm mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tạo điều kiện phát triển một số lĩnh vực Tuy nhiên cũng cần nhận thức đầy đủ rằng, thực hiện xã hội hóa không phải là giải pháp tạm thời, tình thế mà cần thực hiện lâu dài nhằm thu hút tiềm năng to lớn từ xã hội Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung, dù ở lĩnh vực nào thì những khái niệm này vẫn không ngoài mục đích thu hút nguồn lực xã hội để đóng góp vào sự phát triển cho một lĩnh vực cụ thể Như riêng trong hoạt động xã hội hóa văn hóa, thông tin cũng là để huy động mọi nguồn lực xã hội đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân Hoạt động xã hội hóa ở lĩnh vực giáo dục, y tế, thể thao hay văn hóa thông tin cũng đều cần có những cơ chế, tiêu chí, qui định cụ thể nhằm phát huy tốt nhất vai trò của xã hội hóa Xã hội hóa nhưng vẫn trong khuôn khổ chính sách, định hướng chung của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Có như vậy, xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông tin hay xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình nói chung, sản xuất chương trình truyền hình nói riêng mới không tách khỏi mục đích, tiêu chí chung, đảm bảo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước
Với cách hiểu theo những khái niệm nêu trên, xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực truyền hình hay trong sản xuất chương trình truyền hình cũng chính là để thu hút nguồn lực xã hội bên ngoài ngành truyền hình tham gia vào các hoạt động của lĩnh vực này Trong thời kỳ đầu, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình chủ yếu chỉ là xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình theo hình thức liên kết, hợp tác giữa đài truyền hình với các đối tác Tuy nhiên, trong thời gian gần đây,
Trang 2619
xã hội hóa ở lĩnh vực truyền hình không chỉ dừng lại ở hoạt động thu hút nguồn lực
để sản xuất chương trình truyền hình đơn thuần mà còn có các mô hình hợp tác, liên kết ở lĩnh vực khác của truyền hình
Sự phát triển của khoa học công nghệ, trong đó có công nghệ truyền dẫn cũng
đã có tác động quan trọng vào nhận thức và hướng đi của người làm truyền hình trong việc triển khai các hoạt động xã hội hóa Trong điều kiện cần sớm hòa nhập với xu thế phát triển công nghệ thế giới, đồng thời đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của khán giả bằng nhiều phương thức đa dạng, thuận tiện và chất lượng cao, các đơn vị truyền hình bắt buộc phải ứng dụng các công nghệ truyền dẫn, phát sóng mới theo lộ trình số hóa của thế giới Vì vậy, vào năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 Theo đó, đến năm 2020, về cơ bản sẽ ngừng phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ tương tự (analog) để chuyển sang phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ số (digital) khi 95% số hộ gia đình có máy thu hình có khả năng thu được các kênh chương trình truyền hình quảng bá bằng những phương thức truyền dẫn, phát sóng
số khác nhau; ngừng việc sử dụng công nghệ truyền hình cáp tương tự trước năm
2020 để chuyển hoàn toàn sang công nghệ số với 100% các mạng cáp dọc các tuyến đường, phố chính tại trung tâm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngay sau khi có chủ trương mới, Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu (AVG) là một trong những đơn vị đầu tiên có vốn đầu tư bên ngoài ngành truyền hình tham gia vào việc xây dựng hạ tầng truyền dẫn truyền hình kỹ thuật số vệ tinh
ở Việt Nam Cụ thể là đầu tư vào thị trường truyền hình trả tiền Đơn cử về hiệu quả truyền dẫn và tiết kiệm tài nguyên tần số được thể hiện rõ nhất qua việc AVG có thể phủ sóng tòan quốc chỉ cần thông qua 3 tần số 57, 58, 59
Việc xã hội hóa công đoạn truyền dẫn, phát sóng trong lộ trình số hóa truyền hình dưới sự kiểm soát của Nhà nước sẽ góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong việc phát triển, đầu tư nâng cấp hạ tầng truyền dẫn truyền hình, từ
đó có thể tập trung sử dụng nguồn vốn cho việc phát triển nội dung chương trình
Trang 271.3 Tổng quan về thực tiễn hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình tại Việt Nam
Ngành truyền hình Việt Nam ra đời và phát sóng thử nghiệm đầu tiên từ năm
1970 Từ năm 1970 đến nay, ngành truyền hình Việt Nam nói chung đã có bước phát triển rất nhanh về mọi mặt Qui mô tổ chức ngày càng mở rộng, phương tiện
kỹ thuật hiện đại, số lượng và chất lượng các nội dung chương trình nâng cao Sự phát triển chung của đất nước trong hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới đã làm thay đổi vị thế, diện mạo của nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực truyền hình Trước năm 1975, từ một đơn vị truyền hình duy nhất là Vô tuyến truyền hình Việt Nam (Đài Truyền hình Việt Nam) chỉ có 1 kênh phát sóng khoảng vài tiếng đồng hồ/ngày, đến nay, cả nước đã có 67 đài truyền hình Trung ương và địa phương với hàng trăm kênh phát sóng liên tục 24/24 Riêng Đài Truyền hình Việt Nam hiện đã
có 9 kênh truyền hình quảng bá và 18 kênh truyền hình tự sản xuất trên hệ thống cáp
Các đài phát thanh - truyền hình các tỉnh, thành phố cũng tăng đáng kể số lượng kênh phát sóng Ngoài ra, trong những năm gần đây đã thành lập thêm Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC, Kênh truyền hình Thông tấn xã, Kênh phát thanh có hình Đài Tiếng nói Việt Nam và kênh truyền hình An ninh được phát sóng dưới các
Trang 2821
hình thức truyền dẫn khác nhau Sự phát triển nhanh về qui mô, số lượng kênh, số lượng chương trình truyền hình ở từng giai đoạn là hoàn tòan phù hợp với đường lối đổi mới, phù hợp yêu cầu và nhu cầu phát triển chung Bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi thông qua chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách phát triển lĩnh vực truyền hình của Đảng, Nhà nước, có thể khẳng định, một trong lý do đột phá dẫn đến sự phát triển nhanh của ngành truyền hình là việc mạnh dạn thực hiện từng bước chủ trương xã hội hóa Xã hội hóa sản xuất chương trình là cơ sở để nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm truyền hình, tăng doanh thu quảng cáo để phục
vụ phát triển sự nghiệp truyền hình
Trước khi Bộ Thông tin - Truyền thông ban hành Thông tư số BTTTT vào ngày 28 tháng 5 năm 2009 trở về trước, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình đã phát triển qua nhiều giai đoạn với hình thức, qui mô và tính chất khác nhau
19/2009/TT-* Về hình thức, tính chất xã hội hóa trong cơ chế bao cấp:
Nếu hiểu xã hội hóa theo khái niệm thu hút nguồn lực xã hội cùng tham gia vào một số hoạt động mà trước đó chỉ được một đơn vị, một bộ phận hay một ngành chức năng thực hiện thì có thể nhận thấy hình thức xã hội hóa theo khái niệm này đã tồn tại từ ngay trong thời kỳ còn chế độ bao cấp Ví dụ như ngành Thể dục Thể thao
đã từng huy động nguồn nhân lực để tạo cơ sở vật chất, sân tập thể thao ở các địa phương; vận động các trường học, địa phương dành đất làm sân thể thao, làm bể bơi cho học sinh tập luyện; hoạt động thể dục thể thao không chỉ do ngành thể thao tổ chức mà các lực lượng, tổ chức chính trị - xã hội khác ngoài ngành như lực lượng
vũ trang, giáo dục, thanh niên, phụ nữ cũng tham gia tổ chức các hoạt động thể dục thể thao trong phạm vi của tổ chức mình Các ngành, lĩnh vực khác cũng đã có nhiều hoạt động tương tự nhằm thu hút nguồn lực ngoài ngành chăm lo cho công tác giáo dục, thể thao…Bản chất mục đích của cách làm này đến nay vẫn được tiếp tục thực hiện nhưng có sự thay đổi về tính chất, qui mô, hình thức hợp tác và phương thức thực hiện theo các tiêu chí khác nhau, phù hợp với đặc thù của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Trang 2922
Riêng lĩnh vực truyền hình cũng không nằm ngoại lệ Ngay từ những thời kỳ đầu, bên cạnh các chương trình truyền hình do người làm truyền hình sản xuất thì ngành truyền hình cũng đã phối hợp sản xuất chương trình truyền hình thông qua sự hợp tác, hỗ trợ của các ngành khác Việc phối hợp sản xuất xuất phát từ nhiều yêu cầu khác nhau về nhiệm vụ tuyên truyền, về năng lực sản xuất và chuyên môn đặc thù, về điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật trong quá trình sản xuất chương trình Hình thức hợp tác sản xuất cũng thay đổi theo từng giai đoạn nhưng vẫn theo một nguyên tắc chung là tận dụng, phát huy thế mạnh của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực về chuyên môn, nguồn nhân lực, vật chất để đóng góp vào quá trình sản xuất một chương trình truyền hình cụ thể Đơn cử như các chương trình: Truyền hình Quân đội, Truyền hình Công an, Truyền hình Công đoàn…vv Các chương trình hợp tác sản xuất này vẫn đang được tiếp tục thực hiện cho đến thời điểm hiện nay ở các đài truyền hình trên cả nước Đây được xem là một trong những hoạt động xã hội hóa dưới hình thức liên kết sản xuất chương trình truyền hình giữa đài truyền hình với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị
Một hình thức thu hút nguồn lực khác được thực hiện trong một thời gian dài
ở thời kỳ bao cấp và có thể được xem là hình thức xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình nhằm làm phong phú, đa dạng các chương trình truyền hình, đó là trao đổi chương trình hoặc dùng kinh phí ngân sách mua chương trình của các nước Các mô hình hoạt động, các hình thức xã hội hóa như vừa nêu khá phổ biến bởi các hoạt động đều không thể tách khỏi các điều kiện của cơ chế quản lý bao cấp Tư duy bao cấp, phụ thuộc vào ngân sách nhà nước để phát triển sự nghiệp đã chi phối toàn bộ hoạt động ở nhiều lĩnh vực, trong đó có truyền hình Thậm chí, ngay cả khi Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 90/CP vào năm 1997 về chủ trương và phương hướng
xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, nhưng nhiều ngành vẫn xem xã hội hoá chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp của nhân dân trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp Tư tưởng và thói quen bao cấp vẫn còn khá nặng nề Nhận định này cho thấy, thực hiện chủ trương xã hội hóa đòi hỏi phải có quá trình thay
Trang 30từ lĩnh vực thể thao, văn hóa…Một số đài truyền hình kết hợp với ngành Thể dục Thể thao, Văn hóa cùng phối hợp tổ chức sự kiện, phát sóng sự kiện như một sản phẩm của truyền hình Các sự kiện văn hóa, thể thao được chuyển tải đến công chúng thông qua phương tiện truyền hình đã thu hút sự quan tâm theo dõi ngày càng nhiều của công chúng Chủ động kêu gọi tài trợ từ phía đài truyền hình nhằm bù đắp chi phí sản xuất trở thành một trong những phương thức xã hội hóa khá mới mẻ trong giai đoạn đầu Kinh tế phát triển, việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm, thương hiệu của các doanh nghiệp là nhu cầu không thể thiếu Sự gắn kết giữa các đơn vị kinh tế, đơn vị tổ chức sự kiện và truyền thông bắt đầu hình thành rõ nét
Trong thời gian đầu, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình chỉ dưới hình thức kêu gọi tài trợ hoặc trả quyền lợi bằng thương hiệu của đơn vị kinh tế tài trợ Về sau, hình thức tài trợ có sự thay đổi bằng thương hiệu sản phẩm của chính các đơn vị kinh tế đó Có thể nói, về thực chất, các hình thức xã hội hóa đều do các đài truyền hình tự chủ động “thí điểm” theo cách hiểu, cách nghĩ, cách làm riêng Một trong những nguyên nhân cơ bản tác động, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa cũng như đa dạng hóa hình thức xã hội hóa chính là sự hình thành nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế khác nhau Từ khi có Nghị quyết 05/CP của Chính phủ cho đến trước khi có văn bản hướng dẫn, qui định chính thức về xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình (Thông tư 19/2009/TT-BTTTT), hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình phát triển rất nhanh, đa dạng dưới nhiều hình thức Một số hình thức phổ biến như: đài truyền hình đặt hàng sản xuất chương trình theo yêu cầu; công ty truyền thông sản xuất chương trình rồi bán lại bản quyền phát sóng (lấy tiền hoặc quảng cáo) cho đài truyền hình; và hình thức
Trang 31Bộ Thông tin - Truyền thông sẽ khó có thể kiểm soát tốt hoạt động này nếu nhìn từ góc độ quản lý nhà nước
Từ chủ trương chung về xã hội hóa và nhằm tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, đặc biệt là cơ chế tài chính cho các đơn vị triển khai thực hiện, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2006 qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Nội dung Nghị định nhấn mạnh đến việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động Tinh thần chung của Nghị định là thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách Đây là Nghị định
có ý nghĩa quan trọng về tính pháp lý tài chính bởi quá trình thực hiện chủ trương
xã hội hóa cần thực hiện đồng bộ giữa chủ trương và các cơ chế, chính sách liên quan được áp dụng thực hiện trong thực tiễn, đặc biệt là sự hỗ trợ của cơ chế tài chính
1.4 Một số yếu tố nền tảng cho hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
1.4.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội, dân số, mức tiêu thụ của người dân thành phố
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội lớn của cả nước, là đầu tàu về tính năng động, sáng tạo trong xây dựng và phát triển, nhất là luôn chủ động đổi mới, mạnh dạn vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách mới vào
Trang 3225
thực tiễn, mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội trên nhiều lĩnh vực Thời điểm năm
1986 đến 2010, kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tăng trưởng bình quân 10,2%/ năm và thành phố trở thành một trong các đô thị lớn trong khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế 2 con số trong một thời gian dài Trong kế hoạch 5 năm 1991 -
1995, tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn tăng bình quân 12,6%/năm, tạo điều kiện quan trọng để thành phố Hồ Chí Minh quy hoạch phát triển trong 15 năm tiếp theo (1996 - 2010) với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo tiền
đề vật chất giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển đô thị và văn hóa - xã hội Trong 20 năm (1991 - 2010) thực hiện Chiến lược Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, kinh tế thành phố Hồ Chí Minh tăng trưởng liên tục với tốc độ 10,5%, đưa quy mô kinh tế trên địa bàn tăng gấp 8 lần; GDP/người tăng gần 6 lần Đặc biệt, khu vực dịch vụ, các ngành Tài chính - Tín dụng - Ngân hàng; Khoa học Công nghệ - chuyển giao; Vận tải - kho bãi - Bưu điện … có tốc độ tăng trưởng cao hơn từ 1,5 -
2 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của cả khu vực dịch vụ Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thành phố nâng mức đóng góp vào GDP của cả nước từ 13% năm
1986 lên 21% năm 2010; đóng góp khoảng 30% nguồn thu ngân sách quốc gia; 25% tổng doanh thu dịch vụ và bán lẻ, 28% giá trị sản xuất công nghiệp…vv Bên cạnh những đóng góp vật chất, từ đầu thập niên 80 đến nay, thành phố được xem là một trong những nơi hình thành những nhân tố mới đóng góp vào quá trình hình thành và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế thị trường ( theo số liệu của Cục Thống
kê TP.HCM)
Năm 1982, Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo điều kiện cho thành phố thực hiện những cơ chế và chính sách mang tính thí điểm, đột phá nhằm tạo ra những bài học thực tiễn làm cơ sở hình thành những chính sách và cơ chế quản lý chung của cả nước Các quan hệ thị trường đã sớm hình thành từ một trung tâm kinh tế của cả nước và có tác động lan tỏa đến nhiều lĩnh vực Trong quá trình
từ năm 2000 đến nay, kinh tế thành phố đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân giai đoạn 2001-2005 là 11%, giai đoạn 2006 - 2010 là 11,2%/năm, hơn 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung của cả nước
Trang 3326
+ GDP bình quân đầu người:
Giai đoạn 2001-2005: 1.692 đô la Mỹ
Giai đoạn 2006-2010: 2.843 đô la Mỹ
Giai đoạn 2011-2015: 4.800 đô la Mỹ
Đi lại và bưu
điện
77.860 110.940 140.500 282.680 385.225
Giáo dục 40.530 51.790 72.700 94.260 175.262 Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM Theo đà phát triển kinh tế chung, sức mua của các tầng lớp dân cư liên tục tăng Chính sức mua được kích thích đã thúc đẩy thị trường nội địa hoạt động hiệu quả hơn Sức mua tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ cao hơn mặt bằng
Trang 3427
chung của cả nước Với hàng loạt giải pháp kích cầu được thành phố áp dụng còn thúc đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh, mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y
tế, giáo dục, văn hóa tinh thần; giảm tỷ lệ số hộ đói nghèo từ trên 70% đầu những năm 1980 xuống dưới 7% năm 2005 Năm 2011, tổng số hộ nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh có mức thu nhập bình quân dưới 12 triệu đồng/người/năm là 96.744 hộ (chiếm 5,3% tổng số hộ dân toàn thành) Tỷ lệ giảm nghèo đã thay đổi đáng kể từ khi thành phố tăng mức chuẩn của hộ nghèo từ 6 triệu đồng/ tháng lên 12 triệu
đồng/tháng (theo số liệu của Cục Thống kê TP.HCM)
Bảng 1.3: Tỷ lệ hộ gia đình có đồ dùng lâu bền chủ yếu (tỷ lệ % của toàn thành phố):
Ở một góc độ khác, các kết quả khảo sát trong năm 2011 còn cho biết, đa số
hộ gia đình ở khu vực nội thành của 4 thành phố lớn đã kết nối với các mạng truyền hình cáp Dẫn đầu là thành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ 88% và Hà Nội 86% Ở Đà Nẵng và Cần Thơ, loại hình bắt sóng bằng ăng-ten trời vẫn còn phổ biến và chiếm
tỷ lệ lần lượt là 49.8% và 43.7% Kinh tế xã hội phát triển, đời sống của người dân được cải thiện là những điều kiện quan trọng góp phần gia tăng tỷ lệ sử dụng các phương tiện truyền thông và giải trí Các hộ gia đình có ít nhất 1 máy thu hình (tivi) trở lên hiện khá phổ biến ở các đô thị lớn Thậm chí, có nhiều hộ gia đình sử dụng
Trang 3528
trung bình từ 2 đến 3 máy thu hình (tivi) để có thể theo dõi nhiều chương trình
truyền hình khác nhau trong cùng thời điểm
Hình 1.1: Tỷ lệ hộ gia đình sở hữu Tivi và các phương tiện khác tại 4 thành phố
Bảng 1.4: Tỷ lệ dân số 15 - 54 tuổi sử dụng/tiếp xúc hàng ngày với các loại phương tiện truyền thông tại 4 thành phố trong năm 2010 - 2011
Trang 3629
Hình 1.2: Xu hướng sử dụng các phương tiện truyền thông tại các tỉnh, thành phố lớn
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông cũng phát triển mạnh mẽ tại thành phố Hồ Chí Minh Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng tại thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2011 có khoảng 2.800 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực phát thanh và truyền hình (trong đó hơn 200 doanh nghiệp
có vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, 37 doanh nghiệp có vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng); hơn 1.900 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông (trong đó có 160 doanh nghiệp có vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, 23 doanh nghiệp có vốn đăng ký trên
100 tỷ đồng); 175 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực truyền dẫn (trong
đó có 32 doanh nghiệp có vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, 4 doanh nghiệp có vốn đăng
ký trên 100 tỷ đồng) Ngoài ra, có hơn 1.700 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực sản xuất phim tại thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có 117 doanh nghiệp
có vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, 13 doanh nghiệp có vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng ( theo số liệu của Sở Thông tin - Truyền thông TP.HCM)
1.4.2 Hệ thống văn bản quản lý hoạt động xã hội hóa và xã hội hóa sản
xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Trước năm 2002, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh hoạt động trong cơ chế quản lý như đối với môt đơn vị hành chính, đặc biệt là cơ chế tài chính Với cơ chế như vậy, việc phát triển sự nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách Người
Trang 3730
lao động chỉ hưởng lương theo ngạch, bậc công chức Hoạt động chung của Đài bị
bó hẹp trong khuôn khổ của một đơn vị hành chính dẫn đến bị động và lúng túng trong công tác sử dụng nguồn lực con người, vật chất trong và ngoài xã hội Mặc dù Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện một số hoạt động quảng cáo, mua bán bản quyền và các loại dịch vụ truyền hình để tạo nguồn thu nhưng đa số các hoạt động liên quan đến tài chính - dịch vụ trong thời gian trước năm 2002 đều phải thông qua cơ chế báo cáo, xin - cho theo từng công việc cụ thể Trong khi đó, sản xuất chương trình gắn liền với nhu cầu sử dụng lao động, cơ chế thù lao…và thay đổi liên tục theo nhu cầu phát triển Vì vậy, cách làm này không chỉ mâu thuẫn với thực tiễn đổi mới mà quan trọng hơn là kìm hãm sự phát triển sự nghiệp, hạn chế hoạt động sản xuất chương trình vốn rất sinh động, đa dạng Ngân sách eo hẹp cùng với yêu cầu, nhu cầu phát triển ngày càng cao đòi hỏi cần sớm có một cơ chế quản lý, cơ chế tài chính mới
Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng về tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa nghệ thuật, thông tin đại chúng; từng bước hiện đại hóa ngành phát thanh - truyền hình; đổi mới cơ chế quản lý và chế độ chính sách phù hợp với đặc điểm của mỗi ngành, Đài Truyền hình thành phố
Hồ Chí Minh đã mạnh dạn đề xuất “Đề án khoán thu chi - đổi mới cơ chế tài chính” nhằm tạo động lực phát triển sự nghiệp của Đài Đề án này đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định cho phép thực hiện thí điểm từ tháng 12/2001 Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng, tháo gỡ và mở ra nhiều cơ hội cho
sự phát triển của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh Dưới đây là hệ thống văn bản liên quan đến hoạt động xã hội hóa của Đài kể từ năm 2001:
* Quyết định số 131/2001/QĐ-UB năm 2001 về cho phép thí điểm khoán thu, chi tài chính đối với hoạt động của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
* Quyết định số 252/2005/QĐ-UBND về chế độ tài chính đối với hoạt động sự nghiệp của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3831
* Quyết định số 2428/QĐ-UBND về giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm tòan bộ chi phí hoạt động thường xuyên
* Qui chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định phim truyền hình xã hội hóa của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (Số 1797/QĐ-TH ngày 12/10/2011)
* Công văn số 528/VP- VX ngày 25/1/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh về định hướng hợp tác liên kết với các đối tác đầu tư của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
Hiện nay, hoạt động xã hội hóa của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiện theo nội dung Thông tư số 19 của Bộ Thông tin - Truyền thông và trong tháng 9/2012 Đài cũng đang trình Ủy ban nhân dân thành phố dự thảo “Qui chế hợp tác sản xuất chương trình truyền hình”
Tiểu kết chương 1
Kinh tế phát triển, sức mua tăng dẫn đến nhu cầu ngày càng cao về truyền thông Chính mối quan hệ này là điều kiện gần như bắt buộc các đài truyền hình phải tiếp cận tư duy mới về kinh tế truyền thông trong cơ chế thị trường cũng như
sự phát triển nhanh của thị trường truyền thông Bên cạnh đó, mức sống và trình độ dân trí tăng, nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu truyền thông tăng cũng là những điều kiện thúc đẩy thị trường truyền thông phát triển Trong xu thế này, các đài truyền hình buộc phải tự đổi mới, tự nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh mới có thể đáp ứng những đòi hỏi hợp lý của thị trường quảng cáo và tiêu dùng Tự đổi mới bằng cách nào? Làm thế nào có thể tăng nguồn thu? Làm thế nào có thể nâng chất lượng phục vụ thông qua các sản phẩm truyền hình nhưng vẫn phải đảm bảo tính định hướng? Những câu hỏi được đặt ra trong điều kiện chưa có cơ chế thuận lợi, ngân sách lại hạn hẹp nhưng bắt buộc phải làm là những câu hỏi không hề đơn giản đối với đội ngũ những người làm truyền hình Và cũng xuất phát từ những điều kiện
có thể xem là bắt buộc nên các đài truyền hình đã không còn cách nào khác là phải
Trang 3932
tự tìm tòi, sáng tạo, tự vận dụng cách làm mới trong các hoạt động đặc thù của lĩnh vực truyền hình Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình có thể xem là một trong những bước đi “tự đổi mới” mình của ngành truyền hình Vận dụng xã hội hóa mang lại kết quả khả quan về nhiều mặt, song cũng không thiếu những khó khăn, thách thức và hạn chế…
Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên mà luận văn sẽ tập trung nghiên cứu đối tượng chính là thành phần kinh tế tư nhân tham gia liên kết, hợp tác sản xuất chương trình với đài truyền hình Nếu giải quyết tốt mối quan hệ giữa đài truyền hình với các đối tác công ty truyền thông tư nhân thông qua các hình thức xã hội hóa sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình, đảm
bảo sự phát triển nhanh, bền vững
Trang 4033
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA
SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tính đến năm 2012, hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành được hơn 10 năm Trong giai đoạn gần đây, hoạt động xã hội hóa ngày càng đa dạng về hình thức, qui mô, tính chất cũng như từng hoạt động cụ thể cũng ngày càng phức tạp hơn do có liên quan đến nhiều thành phần kinh tế Việc phân tích, đánh giá mặt tích cực, hạn chế, những vấn đề mới phát sinh ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ là rất cần thiết nhằm làm rõ hơn thực trạng để làm cơ sở định hướng cho hoạt động xã hội hóa trong các năm tiếp theo
2.1 Lược sử Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và lịch sử hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài
2.1.1 Giới thiệu
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân là Đài Truyền hình Giải phóng) phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên vào tối ngày 1/5/1975, chỉ một ngày sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Mặc dù điều kiện tác nghiệp vô cùng khó khăn nhưng đội ngũ những người làm truyền hình cách mạng vẫn nêu cao quyết tâm tổ chức phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên của chính phủ cách mạng Thành công của buổi phát hình lịch sử tối ngày 1/5/1975 khẳng định năng lực và tiềm năng của đội ngũ những người làm truyền hình cách mạng, đồng thời đặt nền móng và niềm tin cho chặng đường phát triển tiếp theo của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh Từ một kênh HTV9 phát 1 tiếng/ngày vào năm 1975 với diện phủ sóng hẹp, đến nay Đài đã có 17 kênh truyền hình do Đài tự sản xuất, liên kết sản xuất Các kênh phát sóng 24/24 bằng nhiều phương thức truyền dẫn khác nhau trên phạm vi toàn quốc và phát sóng qua vệ tinh Sự phát triển nhanh về qui mô, chất lượng đội ngũ, về cơ sở vật chất, kỹ thuật, về nội dung và chất lượng chương trình là nền tảng phát triển cơ bản, là sự kế thừa mang tính