-Cách thức thông tin còn thụ động, thiếu nhạy bén và vẫn là cách làm truyền thống; -Chưa có sự nghiên cứu rõ về nhu cầu của đối tượng truyền thông, từ đó hoạt động truyền thông chưa theo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG ANH VINH
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG ANH VINH
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60 32 01 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐINH VĂN HUỜNG
Hà Nội - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình lao động khoa học nghiêm túc của bản thân
và chưa từng công bố trên bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4Nhân đây, tôi xin gửi lời cám ơn đến Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia
Hà Nội), các thầy, cô phụ trách công tác giáo vụ đã giúp đỡ, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành khóa học đúng tiến độ và chất lượng
Xin cảm ơn các anh, chị, em học viên lớp Cao học Báo chí K15
đã động viên, cổ vũ, giúp đỡ nhau trong quá trình học tập
Hà Nội, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 10
7 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HẢI QUAN VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG NGÀNH HẢI QUAN 12
1.1 Khái lược về Hải quan Việt Nam 12
1.2 Khái lược về truyền thông ngành Hải quan 21
1.3 Đặc trưng cơ bản của truyền thông ngành Hải quan 30
1.4 Khái quát hoạt động truyền thông của Hải quan một số nước 36
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG NGÀNH HẢI QUAN HIỆN NAY 42
2.1 Kết quả hoạt động truyền thông ngành Hải quan 42
2.2 Khó khăn, hạn chế của hoạt động truyền thông ngành Hải quan 75
2.3 Nguyên nhân khách quan và chủ quan của hạn chế, khó khăn trong hoạt động này 83
2.4 Một số bài học kinh nghiệm 87
Tiểu kết chương 2 90
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG NGÀNH HẢI QUAN THỜI GIAN TỚI 92
3.1 Một số vấn đề đặt ra cho ngành và truyền thông ngành Hải quan 92
3.2 Một số kiến nghị, giải pháp 99
Tiểu kết chương 3 120
KẾT LUẬN 121
Tài liệu tham khảo 123 Phụ lục
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Ngày 20-11-2012, Báo điện tử Vietnamplus (Vietnam+) đã phát bản tin
thu hút được sự quan tâm của dư luận xã hội: “4 ngành và lĩnh vực tham
nhũng phổ biến nhất là Cảnh sát giao thông, Quản lý đất đai, Hải quan và Xây dựng Bên cạnh đó, 4 ngành ít tham nhũng nhất là Bưu điện, Báo chí, Kho bạc và Cảnh sát khu vực Thông tin trên được đưa ra tại họp báo công
bố Báo cáo kết quả khảo sát xã hội học „Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức‟ do Thanh tra Chính phủ cùng Ngân hàng Thế giới thực hiện”
Ngày 30-11-2012, Báo Hải quan điện tử (Hải quan online) đưa tin:
“Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, dự kiến tháng 11-2012 số thu ngân sách Nhà nước trong toàn ngành đạt 19.000 tỷ đồng, nâng tổng số thu nộp ngân sách trong 11 tháng lên khoảng 178.612 tỷ đồng, bằng 79,8% so với dự toán (223.900 tỷ đồng), giảm 9,4% so với cùng kỳ năm 2011 Theo Cục Thuế Xuất nhập khẩu- Tổng cục Hải quan, nguyên nhân giảm thu so với số dự toán
và cùng kỳ là do một số mặt hàng có kim ngạch lớn, thuế suất cao giảm so với cùng kỳ năm 2011”
Hai bản tin trên đơn thuần là cung cấp thông tin tới công chúng, song dưới góc độ của nghiệp vụ báo chí có thể thấy:
Nội dung được đề cập đều liên quan tới ngành Hải quan
Ở thông tin đầu, thông điệp là những ngành có tham nhũng phổ biến nhất, trong đó ngành Hải quan đứng thứ ba Từ thông tin này có thể nhận định Hải quan vẫn là một môi trường làm việc nhạy cảm, phức tạp, nhiều rủi ro, cám dỗ và dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực
Ở thông tin tiếp theo phản ánh kết quả thu ngân sách Nhà nước của
Trang 7ngành Hải quan trong 11 tháng năm 2012 với kết quả đạt thấp so với dự toán
và nguyên nhân giảm thu Trong bối cảnh khó khăn chung, kết quả thu ngân sách Nhà nước của ngành Hải quan như bản tin đề cập đã phản ánh phần nào bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2012
Đến đây, có thể đặt câu hỏi: Ngành Hải quan đã có sự chủ động cung cấp thông tin để làm rõ các vấn đề liên quan tới ngành đang được dư luận quan tâm?
Trước vấn đề được đề cập trong bản tin thứ nhất, ngành Hải quan đã
chọn giải pháp im lặng và né tránh truyền thông đại chúng và dư luận xã hội
Thực tế là từ lãnh đạo Tổng cục Hải quan cho tới các phương tiện truyền thông của ngành Hải quan đã không đưa ra bất cứ thông tin nào liên quan tới
vấn đề trên Trong khi đó, ở tin thứ hai, ngành Hải quan đã có sự chủ động
tuyên truyền về kết quả thu ngân sách không đạt dự toán
Gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển Hải quan Việt Nam, công tác truyền thông đã được ngành Hải quan từng bước coi trọng, được khởi đầu
từ khi hình thành Tổng cục Hải quan (năm 1984) cho đến những năm đất nước bước vào hội nhập (những năm 90 của thế kỷ 20) và đặc biệt được đẩy mạnh trong thời kỳ cải cách, hiện đại hóa hiện nay Đến nay, ngành Hải quan
đã có một số công cụ thực hiện nhiệm vụ truyền thông, đồng thời có sự phối hợp tích cực và thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan thông tấn báo chí, góp phần quan trọng cung cấp thông tin về Hải quan tới cộng đồng xã hội
Mặc dù vậy, công tác truyền thông ngành Hải quan có một số tồn tại: -Các công cụ truyền thông ngành Hải quan độc lập dẫn tới thiếu sự gắn kết và thống nhất trong thực hiện công tác truyền thông;
-Sự tác động của truyền thông ngành Hải quan tới dư luận xã hội và hình thành dư luận xã hội còn hạn chế;
Trang 8-Cách thức thông tin còn thụ động, thiếu nhạy bén và vẫn là cách làm truyền thống;
-Chưa có sự nghiên cứu rõ về nhu cầu của đối tượng truyền thông, từ
đó hoạt động truyền thông chưa theo sát với nhu cầu của các nhóm đối tượng truyền thông ngành Hải quan;
-Ngoại trừ Báo Hải quan, đội ngũ thực hiện công tác tuyên truyền của
cơ quan Tổng cục Hải quan và các đơn vị Hải quan địa phương chưa hoạt động chuyên trách, chưa được đào tạo chuyên ngành báo chí, truyền thông
Trong khi đó, gắn với mục tiêu xây dựng đất nước “Đến năm 2020 cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, ngành Hải quan
đã và đang trong giai đoạn quyết liệt thực hiện cải cách, hiện đại hóa với mục
tiêu đến năm 2020 “Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại” Để đạt được
mục tiêu đó, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn ngành, trong đó truyền thông ngành Hải quan cũng cần được nâng cao hiệu quả hơn nữa
Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Hoạt động truyền
thông của ngành Hải quan trong tiến trình hiện đại hóa Hải quan Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ nhằm đánh giá tổng quan về thực trạng hoạt động
truyền thông và hiệu quả công tác truyền thông ngành Hải quan; kiến nghị,
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông ngành Hải quan thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát cho thấy, Hải quan là một đối tượng nghiên cứu khoa học
đã giành được sự quan tâm, song thuộc các chuyên ngành kinh tế và thường được lựa chọn góc độ tiếp cận nghiên cứu các mảng công tác nghiệp vụ hải quan như: Hiện đại hóa hải quan, Cải cách hành chính trong lĩnh vực hải quan, Điều tra chống buôn lậu, Công tác thu thuế xuất nhập khẩu, Quy trình
thủ tục hải quan, Bảo vệ sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan,…
Trong chuyên ngành Báo chí học, rải rác có một số khóa luận, luận văn
Trang 9lựa chọn Hải quan làm đối tượng nghiên cứu nhưng giới hạn ở phạm vi hẹp
Khóa luận “Báo in với cuộc đấu tranh chống buôn lậu và gian lận
thương mại trên biên giới” (khảo sát Báo Tuổi trẻ và Báo Hải quan,
2008-2009), tác giả Đinh Thị Bích Liên Phạm vi nghiên cứu của khóa luận này tập trung vào công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại trên biên giới được
phản ánh trên loại hình báo in, có khảo sát Báo Hải quan Trên thực tế công
tác chống buôn lậu và gian lận thương mại là nhiệm vụ của nhiều lực lượng chức năng, trong đó có ngành Hải quan Đối với Báo Hải quan-phương tiện truyền thông quan trọng của ngành Hải quan, đề tài đấu tranh chống buôn lậu
và gian lận thương mại cũng chỉ là một trong nhiều nội dung mà tờ báo này
đề cập tới
Luận văn “Nâng cao chất lượng Website Hải quan Việt Nam”, tác giả
Cao Phượng Diễm Nội dung luận văn này tập trung nghiên cứu Cổng Thông
tin điện tử của Tổng cục Hải quan, là địa chỉ cung cấp thông tin về hoạt động của ngành và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng cá nhân và doanh nghiệp
Luận văn bám sát mục đích làm rõ về chất lượng thông tin và tác động của thông tin trên Website Hải quan Việt Nam đến công chúng, từ đó hướng nghiên cứu tập trung vào: Công chúng của Website Hải quan Việt Nam; Đánh giá thực trạng về đáp ứng nhu cầu công chúng của Website Hải quan Việt Nam; Đề xuất giải pháp toàn diện và đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên Website Hải quan Việt Nam, đồng thời khuyến nghị phát triển Website Hải quan Việt Nam theo mô hình web portal hiện đại Luận văn đã tập trung nghiên cứu Website Hải quan Việt Nam, là một trong những phương tiện truyền thông hiện có của ngành Hải quan, do đó chưa khái quát hoạt động truyền thông của ngành Hải quan
Tác giả đã tiến hành khảo sát tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, kết quả là các đề tài luận văn thuộc chuyên ngành Báo chí học chưa đề cập tới đối
Trang 10tượng nghiên cứu là truyền thông ngành Hải quan
Tác giả cũng đã tiến hành khảo sát các đề tài nghiên cứu của các tác giả, nhóm tác giả ngoài nước về truyền thông của ngành Hải quan, song cho đến thời điểm khảo sát chưa thấy có đề tài nào đề cập đến vấn đề này
Trong một nghiên cứu của Dự án USAID/STAR về năng lực công bố thông tin trên Internet của Hải quan Việt Nam (Dự án Hỗ trợ Thi hành Pháp
luật về Hội nhập Kinh tế-USAID STAR Plus: Báo cáo về Minh bạch hóa Hải quan và Năng lực Công bố Thông tin Điện tử, Chuẩn đối sánh và Phân tích khoảng cách), được thực hiện trong năm 2013, đã nghiên cứu Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan và khuyến nghị Hải quan Việt Nam có khả năng thực hiện những cải tiến quan trọng về công bố thông tin trên công
cụ này
Như vậy, đối tượng nghiên cứu là truyền thông ngành Hải quan chưa được đề cập tới và nghiên cứu một cách chuyên sâu theo chuyên ngành Báo
chí học Vì vậy, đề tài “Hoạt động truyền thông của ngành Hải quan trong
tiến trình hiện đại hóa Hải quan Việt Nam” sẽ là một trong những công
trình đầu tiên đề cập một cách tập trung, toàn diện và hệ thống về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn bước đầu làm rõ thực trạng (những ưu, hạn chế) về truyền thông ngành Hải quan hiện tại, từ đó đề xuất mô hình truyền thông ngành Hải quan mới, kiến nghị các giải pháp có thể ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn công tác truyền thông ngành Hải quan
Từ mục đích trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của luận văn là:
-Làm rõ đặc thù ngành Hải quan và hoạt động truyền thông ngành Hải quan hiện nay;
-Đánh giá bước đầu thực trạng (ưu, nhược điểm) của hoạt động truyền
Trang 11thông ngành Hải quan, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm về lĩnh vực này;
-Trình bày những vấn đề đặt ra cho ngành và hoạt động truyền thông của ngành; đồng thời đề xuất, kiến nghị giải pháp để hoạt động truyền thông ngành Hải quan ngày càng hiệu quả, chất lượng hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động truyền thông của ngành Hải quan trong tiến trình hiện đại hóa Hải quan Việt Nam
-Phạm vi nghiên cứu là: Báo Hải quan (giấy và điện tử), Bộ phận Tuyên truyền-Văn phòng Tổng cục Hải quan, Bản tin Nghiên cứu Hải quan thuộc Viện Nghiên cứu Hải quan, Cổng Thông tin điện tử Tổng cục Hải quan, Trang Thông tin điện tử một số đơn vị Hải quan địa phương trong thời gian 2 năm 2011 và 2012 Ngoài ra có tham chiếu một số cơ quan báo chí khác để so sánh, đối chiếu
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài luận văn này được thực hiện trên cơ sở hệ thống lý luận báo chí truyền thông; chủ trương, chính sách của Đảng, quy định pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực báo chí-xuất bản; hệ thống văn bản pháp luật, điều hành của Chính phủ, Bộ Tài chính về Hải quan và công tác truyền thông ngành Hải quan
5.2 Phương pháp cụ thể
-Nghiên cứu, khảo cứu tài liệu
-Thống kê, phân tích tài liệu
-So sánh, đối chiếu
-Điều tra nhu cầu của đối tượng truyền thông và hoạt động của cán bộ công chức hải quan thực hiện công tác truyền thông (các nhà truyền thông)
Trang 12-Trao đổi với các đồng nghiệp, các nhà quản lý trong hệ thống truyền
thông ngành Hải quan
-Phân tích, tổng hợp, nhận xét, đánh giá và khái quát vấn đề
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần bổ sung, bồi đắp và làm phong phú thêm lý luận báo chí truyền thông hiện đại (vai trò, chức năng, kinh tế báo chí, kinh tế truyền thông…); cung cấp thêm cơ sở lý luận và khoa học cho truyền thông ngành Hải quan nói riêng
Trên cơ sở các luận cứ khoa học và thực tiễn, tác giả bước đầu đề xuất thành lập mô hình truyền thông ngành Hải quan mới để đáp ứng yêu cầu và tính chuyên nghiệp trong giai đoạn mới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của luận văn sẽ là tư liệu, tài liệu tham khảo thiết thực, hữu ích cho các cán bộ, chuyên viên, nhân viên, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, lãnh đạo ngành Hải quan, đặc biệt là những nhà báo trực tiếp theo dõi hoạt động Hải quan, và những ai quan tâm tới lĩnh vực Hải quan và truyền thông ngành Hải quan
Ngoài ra, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài gắn với chuyên ngành được đào tạo là Báo chí học, gắn với ngành Hải quan-cơ quan chủ quản của Báo Hải quan, nơi tác giả luận văn có quá trình công tác 15 năm qua, chắc chắn sẽ rút ra nhiều kiến thức và kinh nghiệm bổ ích, đóng góp vào quá trình công tác của học viên trong những năm tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn còn
có 3 chương sau:
Trang 13Chương 1: Khái quát về Hải quan và hoạt động truyền thông ngành Hải quan Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông ngành Hải quan hiện nay Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông
ngành Hải quan thời gian tới
Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo các chương nói trên
Trang 14CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HẢI QUAN VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG NGÀNH HẢI QUAN
1.1 Khái lược về Hải quan Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, thuật ngữ về hải quan
Một số khái niệm, thuật ngữ về hải quan hoặc có liên quan được tác giả trích từ Từ điển, các văn bản quy phạm pháp luật và giải thích của các chuyên gia kinh tế:
-“Hải quan” (Customs): Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý
(Chủ biên), Nxb Văn hóa Thông tin, 1999, Hải quan là (1) Công tác kiểm
soát, đánh thuế hàng hóa xuất nhập cảng: công tác hải quan; (2) Cơ quan làm công tác kiểm soát, đánh thuế hàng hóa xuất nhập cảng: trình báo đầy đủ giấy
tờ cho hải quan
Theo Từ điển Anh-Việt, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Khoa học xã hội, 2003, “Customs” là (1) Thuế
phải trả cho Chính phủ đánh vào hàng nhập từ các nước khác; (2) Thuế nhập khẩu; (3) Hải quan
Theo WCO-Glossary of international customs terms1,“Hải quan” là Cơ
quan Chính phủ chịu trách nhiệm thi hành Luật Hải quan và chịu trách nhiệm thu thuế và lệ phí xuất nhập khẩu, đồng thời cũng chịu trách nhiệm thi hành các luật lệ khác liên quan tới việc nhập khẩu, quá cảnh và xuất khẩu hàng hóa
-“Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh” bao gồm tất cả động sản
có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan
-“Thủ tục hải quan” là các công việc mà người khai hải quan và công
Trang 15
chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật Hải quan2 đối với hàng hoá, phương tiện vận tải
-“Thủ tục hải quan điện tử” là thủ tục hải quan trong đó việc khai báo,
tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, ra quyết định được thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan (hệ thống do Tổng cục Hải quan quản lý tập trung, thống nhất, sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử)
-“Kiểm tra hải quan” là việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ liên
quan và kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải do cơ quan Hải quan thực hiện
-“Giám sát hải quan” là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan Hải quan áp
dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hoá, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan
-“Kiểm soát hải quan” là các biện pháp tuần tra, điều tra hoặc biện
pháp nghiệp vụ khác do cơ quan Hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan
-“Thông quan” là việc cơ quan Hải quan quyết định hàng hoá được
xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh
1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển Hải quan Việt Nam
Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai
sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, ngày 10-9-1945,
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở Thuế quan và thuế gián thu - tiền thân của Hải quan Việt Nam ngày nay Sự kiện này đã đánh dấu sự ra đời của Hải quan
2 Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29-6-2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan
số 42/2005/QH11 ngày 14-6-2005 Ngành Hải quan hiện đang xây dựng Luật Hải quan (sửa đổi), trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6 (tháng 10-2013) và xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII
Trang 16Việt Nam, khẳng định vai trò quan trọng, không thể thiếu của lực lượng Hải quan đối với sự tồn tại và phát triển của chính quyền Nhà nước, khẳng định chủ quyền quốc gia về kinh tế đối ngoại của nước ta
Kể từ ngày thành lập cho đến nay, quá trình xây dựng, hoạt động của Hải quan Việt Nam luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc, gắn liền với sự lớn mạnh, phát triển của Nhà nước dân chủ nhân dân, phục vụ đắc lực cho công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Lịch sử 68 năm của Hải quan Việt Nam gắn với những mốc lớn sau:
Ngày 10-9-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt
Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở Thuế quan và thuế
gián thu Đến ngày 3-10-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Sắc
lệnh “Để Sở Thuế quan và thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính”
Ngày 29-5-1946, theo Sắc lệnh số 75/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
tổ chức của Bộ Tài chính, Sở Thuế quan và thuế gián thu được đổi thành Nha
Thuế quan và thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính
Ngày 4-7-1951, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến ký Nghị định 54/NĐ quy định lại tổ chức của Bộ Tài chính Nha Thuế quan và thuế gián
thu được đổi thành Cơ quan Thuế xuất nhập khẩu
Tháng 10-1954, Hội đồng Chính phủ đã quyết định chuyển ngành Thuế Xuất nhập khẩu sang Bộ Công thương để thành lập ngành Hải quan Trên cơ
sở đó, ngày 14-12-1954, Bộ trưởng Bộ Công thương Phan Anh ký Nghị định
số 136/BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan thuộc Bộ Công thương, thay thế
Cơ quan Thuế xuất nhập khẩu
Ngày 17-6-1962, Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Lý Ban ký Quyết định
490/BNT/QĐ-TCCB đổi tên Sở Hải quan thành Cục Hải quan Trung ương
thuộc Bộ Ngoại Thương
Ngày 12-8-1976, sau khi nước nhà thống nhất, Hội nghị Hải quan toàn
Trang 17quốc lần thứ nhất diễn ra tại TP HCM đã thống nhất Hải quan hai miền
Ngày 30-8-1984, Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết số 547/NQ-HĐNN
phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Hải quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) Ngày 20-10-1984, Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức Tổng cục Hải quan, quy
định: "Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, là công cụ
chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhà nước…”
Ngày 4-9-2002, theo Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính
Hải quan Việt Nam từng thời kỳ tên gọi, vị trí có khác nhau, song một đặc điểm nổi bật và là định hướng công tác xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển, đó là phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của công tác hải quan luôn bám sát và tuyệt đối trung thành với đường lối, chiến lược, sách lược đấu tranh cách mạng và kiến thiết xây dựng đất nước của Đảng ta, thực thi nghiêm túc hệ thống pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực có liên quan đến công tác hải quan Các thế hệ cán bộ công chức hải quan đã nối tiếp nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ “gác cửa” nền kinh tế, bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia
Hải quan Việt Nam đã vinh dự 2 lần được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1995 và 2005) và nhiều phần thưởng cao quý khác
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hải quan Việt Nam
Luật Hải quan và Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg ngày 15-1-2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định:
Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về hải quan
và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan Tổng cục Hải quan có tư cách pháp
Trang 18nhân, con dấu hình Quốc huy, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất Tổng cục truởng Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên
Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có: Cơ quan Tổng cục Hải quan ở Trung ương với 20 đơn vị Vụ, Cục và tương đương; 34 Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
1.1.4 Tiến trình hiện đại hóa Hải quan Việt Nam
Trong những năm đầu thế kỷ 21, Hải quan phải đối mặt với những thách thức từ xu thế toàn cầu hóa thương mại Một mặt Hải quan phải làm tốt nhiệm vụ đảm bảo an ninh và kiểm soát hiệu quả dây chuyền cung ứng quốc
tế, mặt khác phải tạo thuận lợi hơn nữa cho thương mại hợp pháp nhằm đáp ứng những thay đổi và thách thức đang diễn ra nhanh chóng
Trong gần 30 năm đất nước thực hiện công cuộc Đổi mới và mở cửa
hội nhập với thế giới, ngành Hải quan đã thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước
về hải quan, có nhiều nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu tạo thông thoáng, thuận
Trang 19lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút vốn đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Bên cạnh đó, ngành Hải quan vẫn phải đảm bảo quản lý chặt chẽ, đúng chính sách pháp luật, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người dân và cộng đồng doanh nghiệp
Thực hiện các cam kết quốc tế, ngành Hải quan đã tích cực cải cách, hiện đại hóa thông qua việc cải tiến quy trình, cơ chế quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin và các phương pháp quản lý phù hợp với thông lệ quốc tế và của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)
Cải cách, hiện đại hóa hải quan là một đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập của đất nước, đồng thời xuất phát từ thực trạng, năng lực quản lý của Hải quan Việt Nam Ngành Hải quan đã tham mưu, đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, thể chế, tạo khuôn khổ cho việc đổi mới phương thức quản lý, làm việc của Hải quan trong tình hình mới; thiết kế lại các quy trình nghiệp vụ; đầu tư, mua sắm trang thiết bị, phương tiện quản lý phù hợp, đào tạo nâng cao trình độ cán bộ công chức
Trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa hướng đến một tổ chức Hải quan hiện đại, kể từ năm 2004 đến nay, các phương thức quản lý hải quan hiện đại
đã được áp dụng nhằm đáp ứng, phục vụ tình hình phát triển kinh tế đối ngoại của đất nước Chuyển biến rõ nét đó là sự thay đổi từ thủ tục hải quan thủ công truyền thống sang thủ tục hải quan điện tử, thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, áp dụng các biện pháp kiểm tra hiện đại Nếu như năm 2005, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa là 59,8% thì đến 31-12-
2012 chỉ còn 11,46% Qua đó, đáp ứng tốt hơn yêu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm tăng nhanh
Tiến trình cải cách, hiện đại hóa Hải quan Việt Nam đã gắn liền với các
Kế hoạch phát triển của ngành Ngày 16-3-2004, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã
Trang 20ban hành Quyết định số 810/QĐ-BTC về “Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2004-2006” Tiếp đó, ngày 14-3-2008, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 456/QĐ-BTC về “Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2008-2010” Năm
2005 ngành Hải quan đã “khởi động” Hải quan điện tử với việc triển khai thí
điểm thủ tục hải quan điện tử tại 2 chi cục thuộc Cục Hải quan Hải Phòng, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh và đến năm 2009 đã chính thức triển khai mở rộng thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại 13/33 Cục Hải quan địa phương Kết quả của 2 giai đoạn trên là nền tảng quan trọng để ngành Hải quan tiếp tục tiến trình cải cách, hiện đại hóa trong giai đoạn mới Ngày 22-3-2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 448/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020”, với mục tiêu tổng quát:
“Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu, có trang thiết bị, kĩ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả…”
Trên cơ sở Chiến lược trên, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định 1514/QĐ-BTC ngày 22-6-2011 ban hành “Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2010-2015”
Kết thúc năm 2012, toàn ngành Hải quan đã chuyển sang giai
đoạn“tăng tốc” Hải quan điện tử với kết quả 21/34 Cục Hải quan địa phương
triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử Với những kết quả tích cực, đúc
Trang 21rút kinh nghiệm qua tổng kết giai đoạn thực hiện thí điểm, Chính phủ đã ban hành Nghị định 87/NĐ-CP ngày 23-10-2012 cho phép kết thúc giai đoạn thí điểm và chính thức triển khai thủ tục hải quan điện tử trên phạm vi cả nước từ 1-1-2013 Có thể nói, đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tiến trình cải
cách, hiện đại hóa hải quan, là chặng “nước rút” để ngành Hải quan hoàn thiện Hải quan điện tử và “về đích” với việc triển khai Dự án
tế, đòi hỏi phải cải cách, sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ, liên tục Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hải quan hoạt động trong môi trường làm việc thường xuyên tiếp xúc với tiền, hàng…, là môi trường dễ nảy sinh tiêu cực hay gây phiền hà, sách nhiễu trong một bộ phận cán bộ công chức thực thi công vụ Do đó, ngành Hải quan xác định cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan vừa có tính cấp thiết vừa lâu dài Ngành Hải quan tập trung cải cách hành chính 4 lĩnh vực: Thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh; thủ tục kiểm tra sau thông quan; thủ tục hải quan điện tử
Các thủ tục hành chính về hải quan đã được quy định rõ ràng, minh bạch, đơn giản, thông thoáng, tạo điều kiện để hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh được thông quan với thời gian và chi phí giảm đáng kể, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
3 Viết tắt của Vietnam Automated Cargo and Port Consolidated System và Vietnam Customs Information
System, là Hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam, do Chính phủ Nhật Bản viện trợ không
Trang 22Nhiều khâu trung gian không cần thiết đã được loại bỏ; thời gian tiến hành thủ tục hải quan được rút ngắn…
Thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30 của Chính phủ), Tổng cục Hải quan đã thống kê các thủ tục hành chính, qua đó trình Bộ Tài chính ban hành Bộ thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hải quan gồm 239 thủ tục hành chính.4 Đồng thời tính toán chi phí tuân thủ thủ tục hành chính đối với 138 thủ tục, trong đó chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của cả 2 giai đoạn tiết kiệm được cho cá nhân, tổ chức khoảng 705 tỷ đồng/năm; riêng 41 thủ tục hành chính trong đợt rà soát ưu tiên, dự kiến cắt giảm là 523 tỷ đồng/năm Từ
239 thủ tục hành chính (năm 2009), đến nay Bộ thủ tục hành chính của ngành Hải quan chỉ còn 178 thủ tục (cấp Tổng cục là 22 thủ tục, cấp Cục là 25 thủ tục, cấp Chi cục là 131 thủ tục) Thực hiện rà soát thủ tục hành chính, ngành Hải quan đã tập trung vào 15 nhóm thủ tục hành chính liên quan đến tạm nhập tái xuất; hàng hóa trung chuyển; doanh nghiệp ưu tiên, thủ tục hải quan điện
tử Kết quả rà soát trọng tâm, năm 2012 ngành Hải quan đã kiến nghị đơn giản hóa 10 thủ tục hành chính trong số 28 thủ tục được rà soát, tiết kiệm 31% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.5
Hiện ngành Hải quan là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo quốc gia
về Cơ chế một cửa ASEAN (ASW) và Cơ chế hải quan một cửa quốc gia
(NSW).6 Theo cam kết, năm 2015 Việt Nam sẽ triển khai thực hiện NSW, áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh theo quy định của Luật Hải quan NSW là một bước tiến quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động xuất
4 Quyết định số 1904/2009/QĐ-BTC ngày 10-8-2009 của Bộ Tài chính
5 Báo cáo số 3149/BC-TCHQ ngày 7-6-2013 của Tổng cục Hải quan
6 Quyết định 48/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thí điểm Cơ chế hải quan một cửa
Trang 23nhập khẩu; thông qua việc giúp người dân, doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, hạn chế các sai sót ngoài ý muốn trong quá trình làm thủ tục; nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế… Với cơ quan quản lí nhà nước, NSW giúp cải thiện chất lượng dịch vụ công cung cấp cho hoạt động thương mại, vận tải quốc tế do các quy định rõ ràng, minh bạch và dễ tuân thủ
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả song mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan mới chỉ
đạt 6,51 điểm trên thang 10 điểm, đạt Trung bình khá.7 Điều này đòi hỏi ngành Hải quan phải tiếp tục quyết liệt triển khai cải cách, hiện đại hóa
1.2 Khái lược về truyền thông ngành Hải quan
1.2.1 Quá trình hình thành truyền thông ngành Hải quan
Trong quá trình phát triển của ngành Hải quan, công tác báo chí tuyên truyền được xác định là một trong những phương thức nhằm xây dựng lực lượng, góp phần quan trọng trong việc giáo dục chính trị tư tưởng, kịp thời biểu dương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong nội bộ ngành, đồng thời
là công cụ phổ biến chính sách pháp luật về hải quan cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp
Giai đoạn từ khi ra đời ngành Hải quan năm 1945 đến 1984, vì nhiều lý
do mà công tác báo chí tuyên truyền chưa được ngành Hải quan coi trọng Năm 1984, Tổng cục Hải quan được thành lập, trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Từ đây, công tác báo chí tuyên truyền đã được lãnh đạo Tổng cục Hải quan quan tâm đúng mức Cùng với việc duy trì hình thức giải đáp pháp luật trên các báo đài, lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo thành lập bộ phận
Bản tin nội bộ của ngành vào tháng 8-1986 Tháng 11-1986, số đầu tiên của
Bản tin Hải quan Việt Nam ra mắt bạn đọc trong điều kiện có nhiều khó khăn
7 Kết quả khảo sát Đánh giá hoạt động của Hải quan Việt Nam, do Ban Cải cách hiện đại hóa Hải quan phối
hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID)
Trang 24về phương tiện, kinh phí, đội ngũ phóng viên Bản tin được in roneo ngay tại Văn phòng Tổng cục và phát hành trong nội bộ, mỗi tháng 1 kỳ
Cuối thập kỷ 80 và những năm 90 của thế kỷ trước, trước xu thế đổi mới và từng bước hội nhập của đất nước, đặt ra yêu cầu công tác báo chí tuyên truyền của ngành Hải quan không thể bó hẹp trong phạm vi nội bộ mà cần được lưu hành rộng rãi hơn để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác Hải quan Do đó,
Tổng cục Hải quan đã quyết định nâng cấp Bản tin nội bộ thành Tạp chí Hải
quan từ tháng 5-1990, được xuất bản hàng tháng và tồn tại cho đến tháng
12-1998 Từ tháng 11-1998, Tổng cục Hải quan đã có quyết định chuyển Tạp chí
Hải quan thành Báo Hải quan, số báo đầu tiên phát hành ngày 4-1-1999 Từ
chỗ phát hành 1 kỳ/tuần rồi tăng lên 2 kỳ/tuần, đến tháng 1-2005, Báo Hải quan tăng kỳ phát hành lên 3 kỳ/tuần với số Cuối tuần ra mắt bạn đọc, góp phần đa đạng nội dung và xã hội hóa tờ báo Ngày 6-9-2011, Báo Hải quan chính thức ra mắt phiên bản Hải quan điện tử, đánh dấu một mốc mới trong
sự phát triển của cơ quan ngôn luận của Tổng cục Hải quan nói riêng và hoạt động truyền thông của ngành Hải quan nói chung
Nhằm đa dạng hình thức truyền thông, ngành Hải quan cũng đã hình thành Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan; duy trì bộ phận Tuyên truyền thuộc Văn phòng Tổng cục Hải quan; có thời gian phối hợp sản xuất, phát sóng các chương trình truyền hình hải quan (chuyên mục “Trên mặt trận chống buôn lậu” trên sóng VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam); ra mắt Bản tin Nghiên cứu Hải quan thuộc Viện Nghiên cứu Hải quan
Cùng với việc xây dựng, củng cố các phương tiện truyền thông của ngành Hải quan, lãnh đạo Tổng cục Hải quan còn chỉ đạo các đơn vị tăng cường công tác truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ở cả Trung ương và địa phương Một số Vụ, Cục nghiệp vụ của Tổng cục Hải
Trang 25quan cũng đã tổ chức biên dịch và lưu hành bản tin nội bộ định kỳ (như Bản tin Tình báo Hải quan khu vực châu Á-Thái Bình Dương…) Một số Cục Hải quan địa phương xuất bản Bản tin nội bộ (về sau phát triển Trang thông tin điện tử Hải quan địa phương, các đơn vị đã dừng phát hành Bản tin nội bộ)
Nhìn chung công tác truyền thông của ngành Hải quan đã đi sát và phản ánh kịp thời những hoạt động của ngành Hải quan; phổ biến, tuyên truyền những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về Hải quan; kịp thời biểu dương người tốt việc tốt trong ngành Hải quan; góp phần để các cơ quan quản lý, cộng đồng xã hội hiểu, chia sẻ về ngành Hải quan và thực thi các quy định quản lý nhà nước về hải quan
1.2.2 Mục đích của truyền thông ngành Hải quan
Thông qua các phương tiện truyền thông cả trong và ngoài ngành, quá trình truyền thông ngành Hải quan là nhằm chuyển tải, cung cấp cho các cấp lãnh đạo, cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp trong, ngoài nước và người dân một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan về các hoạt động của ngành Hải quan; giúp cho công tác nghiên cứu, dự báo, hoạch định chính sách và quản lý của các cấp hiệu quả hơn; giúp cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân hiểu và chấp hành đúng chính sách pháp luật hải quan và pháp luật khác có liên quan
Thông qua công tác truyền thông để chuyển tải các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, pháp luật hải quan và các pháp luật có liên quan, giải thích có cơ sở khoa học và thực tiễn, có phương pháp và cách thức thực hiện nhằm giúp cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân hiểu rõ và tự giác thực hiện
Thông qua công tác truyền thông để phản ánh, phân tích tình hình thực
tế công việc ở một địa phương, khu vực hoặc một khâu, một mắt xích nào đó của một quá trình phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước để giúp cho các
Trang 26cấp, các ngành, các nhà lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu chuyên môn có một bức tranh toàn diện, đầy đủ về tình hình thực tế thực hiện các chủ trương, chính sách về lĩnh vực hải quan Là những dữ kiện giúp cho việc nghiên cứu, điều chỉnh hoặc đưa ra những quyết sách mới cho phù hợp với thực tế và đi vào cuộc sống
Thông qua công tác truyền thông để giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, pháp luật hải quan và các pháp luật khác có liên quan Thông tin truyền thông có vai trò quan trọng giúp cho các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng kịp thời nghiên cứu, sửa đổi,
bổ sung chính sách quản lý và có các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
Thông qua công tác truyền thông để hình thành và định hướng dư luận
xã hội Truyền thông không chỉ có nhiệm vụ phổ biến, hướng dẫn, giải thích
mà còn phải định hướng dư luận xã hội Trong điều kiện thông tin đa chiều,
sự phát triển của truyền thông xã hội và trình độ dân trí ngày càng cao, do đó cần thiết phải phân tích, đánh giá và có giải pháp truyền thông phù hợp để định hướng dư luận xã hội
Tựu trung lại, truyền thông ngành Hải quan là chiếc cầu nối quan trọng,
là công cụ, phương tiện để truyền tải những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nói chung, các hoạt động hải quan, pháp luật hải quan
và các pháp luật khác có liên quan nói riêng tới các cấp quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người dân Yêu cầu đặt ra cho công tác thông tin truyền thông phải năng động, bám sát cuộc sống, nhạy bén với thời cuộc Đồng thời phải góp phần phân tích, đánh giá toàn diện và khách quan các chủ trương, chính sách, sự kiện vấn đề, cũng như đưa ra được những kiến nghị, yêu cầu cụ thể
Việc định hướng dư luận kịp thời sẽ góp phần làm cho xã hội nhìn nhận, đánh giá một vấn đề sẽ tập trung, khách quan, chính xác Không chỉ vậy, định hướng dư luận xã hội còn có tác dụng động viên, khuyến khích mọi người đồng
Trang 27tình ủng hộ, tích cực hưởng ứng thực hiện Kịp thời phát hiện, phản ánh đúng đắn, khách quan những khó khăn vướng mắc, giúp cho các cấp, các ngành, các
cơ quan chức năng nghiên cứu, điều chỉnh bổ sung sửa đổi cho phù hợp, đề ra các giải pháp khắc phục những mặt còn khiếm khuyết, yếu kém đảm bảo cho việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật hải quan và các pháp luật khác có liên quan đi vào cuộc sống và phát huy được hiệu quả
1.2.3 Đối tượng của truyền thông ngành Hải quan
Ở đâu có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh thì ở đó cần đến thông tin về hải quan và thông tin liên quan đến hải quan Ở đâu có sự hiện diện của lực lượng Hải quan Việt Nam thì ở đó cần có thông tin về hải quan Đối với các cơ quan quản lý, tiếp nhận thông tin về Hải quan là để hoạt động quản lý nhà nước được nhịp nhàng, thông suốt Đối với doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, thông tin về Hải quan có tầm quan trọng đặc biệt, phục vụ hoạt động của chính doanh nghiệp Đối với người dân, tiếp nhận thông tin về Hải quan, trong đó có thông tin pháp luật hải quan, là để thực hiện đúng, đồng thời đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm công dân
Đối tượng của truyền thông ngành Hải quan khá đa dạng, gồm: Cơ quan quản lý, tổ chức Đảng, đoàn thể (Đảng, Nhà nước, Chính phủ, bộ ngành có liên quan, chính quyền các địa phương); Hệ thống ngành dọc Tài chính và các ngành trực thuộc Bộ Tài chính; Lãnh đạo, cán bộ công chức Hải quan; hệ thống tổ chức Hải quan từ trung ương đến địa phương; Cộng đồng doanh nghiệp (tập trung DN trong nước và FDI có hoạt động XNK hàng hóa); Các tổ chức kinh tế, hiệp hội; Người dân…
Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân muốn nắm bắt thông tin để phục vụ công tác; hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh đòi hỏi được tiếp cận các nguồn thông tin về Hải quan qua nhiều kênh truyền thông khác nhau Ngược lại, các cơ quan Nhà nước muốn thực hiện những quy định
Trang 28nói chung và quy định về Hải quan nói riêng cũng phải cung cấp, chuyển tải thông tin tới đối tượng thực hiện một cách nhanh nhất, rõ ràng, minh bạch và chính xác
Tổng cục Hải quan thực hiện chức năng “tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ
Tài chính quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan” Như vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của truyền thông ngành Hải quan
là tuyên truyền, phổ biến pháp luật hải quan đến người dân và các đối tượng liên quan thông qua các công cụ truyền thông trong ngành và các cơ quan thông tấn, báo chí
Công tác truyền thông cần được chú trọng để các cấp quản lý Nhà nước nắm bắt, kịp thời chỉ đạo, định hướng hoạt động của ngành Hải quan; đồng thời, một số kết quả công tác hải quan cũng rất cần thiết trong điều hành kinh
tế vĩ mô, dự báo tình hình và ra quyết định có tác động tới kinh tế, xã hội
Đối với đối tượng truyền thông là lãnh đạo, cán bộ, công chức, người lao động của ngành Hải quan, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ truyền thông đối với nhóm đối tượng này cần xem xét tới các tiêu chí về giới, trình
độ, phân bố, độ tuổi để làm cơ sở nắm bắt, đáp ứng nhu cầu thông tin và tổ chức, triển khai các giải pháp truyền thông hiệu quả
Tính đến tháng 4-2013, ngành Hải quan có tổng số biên chế 10.283 công chức, viên chức (10.098 công chức và 185 viên chức).8 Trong đó:
Về giới: Nam là 6.777 người (chiếm 66%); nữ là 3.506 người (34%)
Về trình độ: Tiến sỹ là 14 người (chiếm tỉ lệ 0,13%); Thạc sỹ là 516 người (5,01%); Đại học là 8.126 người (79%); Cao đẳng là 810 người (7,87%); Trung cấp là 432 người (4,2%); Sơ cấp là 379 người (3,68%); trình
độ khác là 6 người (0,05%)
Về phân bố: Chỉ riêng Hải quan 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
Trang 29ương là Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ có số lượng cán bộ, công chức gần bằng với số cán bộ công chức của tất cả các cục Hải quan tỉnh, thành phố khác cộng lại, cụ thể là 4.232/10.283 cán bộ toàn ngành, chiếm 41,1% Trong khi đó, số lượng cán bộ của 29 cục Hải quan tỉnh, thành phố còn lại có tổng số công chức là 4.800 người, chiếm tỉ lệ 46,6% và số lượng cán bộ tại cơ quan Tổng cục Hải quan (tại Hà Nội) là 1.251 người, chiếm 12,1% Con số 12,1% tỉ lệ cán bộ tại cơ quan Tổng cục Hải quan lại có tỉ lệ trình độ chuyên môn cao hơn so với các địa phương
Về độ tuổi: Từ 30 trở xuống là 2.499 người (chiếm tỉ lệ 24,3%); từ 31 đến 40 là 3.284 người (31,9%); từ 41 đến 50 là 2.752 người (26,7%); từ 51 đến 60 là 1.748 người (16,9%), trong độ tuổi này nữ từ 51 đến 55 là 340 người, nam từ 56 đến 60 là 504 người
Phân tích những số liệu trên cho thấy đối tượng cán bộ công chức trong ngành có trình độ, khá trẻ, tập trung hơn 50% tại các đô thị lớn Số cán bộ công chức còn lại phân bố trên phạm vi cả nước (biên giới, vùng sâu, vùng
xa, hải đảo) Đặc điểm này cần được các nhà truyền thông ngành Hải quan xem xét trong quá trình thực hiện truyền thông
Một đối tượng truyền thông quan trọng của ngành Hải quan là cộng đồng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Đến hết tháng 6-2013 có 42.500 doanh nghiệp trên toàn quốc có làm thủ tục hải quan, trong đó có khoảng 39.000 doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan điện
tử Bên cạnh đó là người dân liên tục xuất, nhập cảnh tại các cửa khẩu, sân bay, cảng biển; người dân có làm thủ tục hải quan (đối với loại hàng hóa phi mậu dịch, hàng quà biếu, quà tặng…) Đối tượng này thường xuyên tiếp xúc với cán bộ công chức hải quan Do đó, công tác truyền thông ngành Hải quan rất cần nghiên cứu các nhóm đối tượng này để nội dung, thông điệp phù hợp với nhu cầu của họ, đồng thời dễ tiếp nhận, thực thi
Trang 30Đối với giới truyền thông, thực tế đây là “cầu nối” để thông tin nhanh chóng đến với công chúng
Với những đối tượng khác nhau, khi truyền thông trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa Hải quan đặt ra yêu cầu đối với những người làm truyền thông của ngành phải làm sao để cung cấp thông tin mới cho các đối tượng nắm bắt, hiểu rõ và thực thi, đặc biệt là nhóm đối tượng doanh nghiệp, người dân Đồng thời, với nhận thức và trình độ khác nhau của các nhóm công chúng đòi hỏi người làm truyền thông phải tìm hiểu các phương pháp truyền thông cho phù hợp, đồng thời phải hài hòa và đạt được hiệu quả cao nhất
Hàm lượng thông tin liên quan về Hải quan được cung cấp tới các đối tượng càng nhiều thì chính sách pháp luật hải quan và chính sách pháp luật liên quan tới Hải quan càng có khả năng thực thi cao; các đối tượng tiếp nhận thông tin và lực lượng Hải quan sẽ có nhiều thuận lợi khi triển khai thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ Công tác cung cấp thông tin hải quan được làm tốt sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh giao thương, tăng sức hấp dẫn môi trường đầu tư trong nước và ngoài nước, góp phần để đất nước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế
Trong thực tế, chủ thể quản lý luôn mong muốn và cố gắng đạt tới mức cao nhất để không phải điều chỉnh tác động, nghĩa là luôn luôn đạt được hiệu qủa cao nhất trong mọi tác động lên khách thể quản lý Để đạt được điều đó, thông tin giữ vai trò quyết định Thông tin vừa là nguyên liệu vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý hành chính, và một trong những dạng thể hiện quan trọng của nó là các chính sách kinh tế xã hội, các quyết định quản lý hành chính
Có thể khẳng định rằng thông tin hải quan và thông tin liên quan về lĩnh vực hải quan được chuyển tải một cách nhanh nhạy, kịp thời, chính xác là rất quan trọng Thông tin hải quan không chỉ dừng lại ở việc đưa tin về tình
Trang 31hình một cách đơn thuần mà còn đòi hỏi một khối lượng thông tin có tính pháp lý
1.2.4 Mô hình truyền thông ngành Hải quan hiện nay
Theo mô hình hiện nay, Báo Hải quan giữ vai trò trung tâm, chủ đạo trong hoạt động truyền thông của ngành Hải quan, có vị trí tương đương cấp
Vụ, Cục thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan Trong khối các Vụ, Cục thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan ở Trung ương còn có một số đơn vị truyền thông, gồm: Bộ phận Tuyên truyền thuộc Văn phòng Tổng cục Hải quan; Cổng thông tin điện tử Tổng cục Hải quan thuộc Cục Công nghệ thông tin và Thống
kê Hải quan; Bản tin Nghiên cứu Hải quan thuộc Viện Nghiên cứu Hải quan
Tại các Cục Hải quan địa phương, 1 lãnh đạo Cục (Cục trưởng hoặc Phó cục trưởng) kiêm nhiệm phụ trách công tác truyền thông Bộ phận giúp việc thường là 1 lãnh đạo Văn phòng (Chánh Văn phòng hoặc Phó chánh văn
Trang 32phòng) và 1-2 chuyên viên kiêm nhiệm công tác truyền thông báo chí Trang thông tin điện tử là phương tiện truyền thông chủ đạo hiện nay của các Cục
Hải quan địa phương
1.3 Đặc trưng cơ bản của truyền thông ngành Hải quan
Một cách chung nhất, thông tin hải quan là tập hợp toàn bộ thông tin phản ánh về mọi mặt hoạt động của Hải quan Việt Nam ở trong và ngoài nước Thông tin hải quan có thể tạm phân loại như sau:
Thông tin phục vụ công tác quản lý Nhà nước (gồm thông tin về cải cách thể chế, thủ tục hải quan; thống kê hàng hoá xuất nhập khẩu; lượng khách, phương tiện xuất nhập cảnh; số thu ngân sách…);
Thông tin liên quan tới các đối tượng phục vụ của ngành Hải quan, bao gồm cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, người dân (gồm thông tin liên quan về pháp luật hải quan; chính sách mới liên quan tới các mặt hàng xuất nhập khẩu, con người và phương tiện xuất nhập cảnh; các mặt hoạt động hải quan được doanh nghiệp và xã hội quan tâm…);
Thông tin hoàn toàn mang tính chuyên ngành phục vụ nội bộ công tác quản lý hải quan (như thông tin tình báo hải quan, quản lý rủi ro, quản lý thuế; phạm vi nghiên cứu của luận văn không đề cập đến)
Trong hoạt động truyền thông ngành Hải quan, thông tin về Hải quan được chuyển tải qua các phương tiện truyền thông đại chúng ở cả trong và ngoài ngành để thông tin đến được với công chúng, cộng đồng xã hội và các
tổ chức, cá nhân ngoài nước có quan tâm tới Hải quan Việt Nam
Muốn đạt được hiệu quả trong quá trình truyền thông, thông tin trong các tác phẩm báo chí nói chung và thông tin về hải quan nói riêng cần có giá trị thực tiễn, ảnh hưởng tích cực đến công chúng Do đó, thông tin về hải quan
không tách rời những điều kiện đặt ra, đó là: Tính độc đáo (cái mới), Tính đại
chúng (dễ hiểu), Tính hợp thời (đúng lúc) Quá trình truyền thông Hải quan
Trang 33phải gắn liền với mục đích và đối tượng truyền thông
1.3.1 Hải quan-chủ thể và khách thể của truyền thông đại chúng
Để hoàn thành nhiệm vụ “gác cửa” nền kinh tế, bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia, ngành Hải quan đã xác định công tác truyền thông có một vai trò quan trọng, với mục đích cung cấp thông tin về hoạt động hải quan và thông tin có liên quan tới các cơ quan quản lý, người dân và doanh nghiệp Yêu cầu đặt ra trong hoạt động truyền thông là:
Tạo lập, truyền đạt, định hướng và hướng dẫn cho các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong nước và ngoài nước nắm bắt kịp thời, đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, pháp luật hải quan và pháp luật có liên quan;
Thông tin chính thống, chính xác, kịp thời về hải quan sẽ góp phần để ngành Hải quan hoàn thành các nhiệm vụ được giao Vì lẽ đó, các phương tiện truyền thông ngành Hải quan có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp những thông tin chuyên ngành, nhất là các quy trình thủ tục hải quan, chế độ chính sách đối với hàng hóa, hệ thống văn bản pháp quy, các chương trình mục tiêu gắn với tiến trình cải cách, hiện đại hóa hải quan
Hoạt động truyền thông ngành Hải quan gắn liền với mục tiêu tạo lập môi trường thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, thúc đẩy kinh tế phát triển Bên cạnh công tác cung cấp thông tin thuần túy, hoạt động truyền thông Hải quan còn gắn với quá trình xây dựng lực lượng Hải quan, thông qua việc phản ánh được những gương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, những sáng kiến cải tiến quy trình nghiệp vụ, những chương trình hành động cụ thể có điểm nhấn về nghiệp vụ và hoạt động xã hội Ngoài ra, việc phản ánh đúng bản chất những sự việc, sự vụ có liên quan tới Hải quan đang được dư luận quan tâm sẽ giúp cho công đồng xã hội nhìn nhận, đánh giá
Trang 34đúng đắn về vai trò và trách nhiệm của cán bộ công chức ngành Hải quan trong thực thi công vụ
Nhìn lại cả một chặng đường đã qua, có thể khẳng định rằng công tác truyền thông Hải quan là một hoạt động không thể tách rời công tác Hải quan
Đối với truyền thông đại chúng, Hải quan được xác định là một đối tượng quan tâm của công chúng truyền thông Các cơ quan báo chí ở Trung ương đều thiết lập đầu mối phóng viên theo dõi, đưa tin về Hải quan; đối với các cơ quan báo chí địa phương cũng phối hợp khá chặt chẽ với các Cục Hải quan địa phương để khai thác thông tin tuyên truyền Thông tin về hải quan được chuyển tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng góp phần làm đa dạng hóa thông tin, phục vụ các nhóm bạn đọc chuyên biệt quan tâm tới lĩnh vực hải quan Ở một khía cạnh khác, thông tin về hải quan trở thành tin “nóng” khi gắn với một chính sách mới ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp; với các vụ việc tiêu cực, sách nhiễu của nội bộ ngành Hải quan liên quan tới tổ chức, cá nhân bị phát hiện; với các vụ buôn lậu, gian lận thương mại được lực lượng kiểm soát Hải quan phá án thành công;…
Như vậy, thông tin hải quan vừa gắn liền với nhu cầu của ngành Hải quan, vừa là đề tài, nội dung được truyền thông đại chúng quan tâm
1.3.2 Thông tin kinh tế chuyên ngành
Thông tin hải quan là thông tin kinh tế chuyên ngành trước hết vì thông tin được đề cập, chuyển tải phản ánh việc Hải quan thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước về một lĩnh vực kinh tế chuyên biệt, liên quan trực tiếp tới chính sách pháp luật quản lý hàng hóa, phương tiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Thông tin về hải quan có sự tác động tới “dòng chảy” hàng hóa, hoạt động giao thương trong nước và quốc tế
Trong các nhiệm vụ được giao, một nhiệm vụ quan trọng do ngành Hải quan thực hiện là thu thuế qua hàng hóa xuất nhập khẩu Hàng năm, số thu
Trang 35ngân sách do Hải quan thực hiện chiếm tới 1/3 GDP (bên cạnh số thu thuế nội địa, thu từ xuất khẩu dầu khí và một số nguồn thu khác)
Gắn với công tác thu ngân sách và hàng hóa xuất nhập khẩu, do đó thông tin hải quan được một số đối tượng đặc biệt quan tâm, như các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp Nắm bắt thông tin hải quan là để phục vụ điều hành, hoạch định chính sách, dự báo, thực thi
Bên cạnh những thông tin có tính phổ quát, thông tin về hải quan còn là thông tin chuyên ngành, bởi đây là một lĩnh vực quản lý nhà nước có tính đặc thù Đó là:
Thông tin pháp luật hải quan và pháp luật có liên quan Hiện Hải quan không được phép ban hành mà chỉ là cơ quan thực thi và có nhiệm vụ tham mưu Bộ Tài chính và Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Thông tin về đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại Đây là mảng thông tin hải quan được dư luận quan tâm và có sự tác động khá lớn tới công chúng Gắn liền với mảng thông tin đặc thù này là công tác tổ chức kiểm soát hải quan; các hành vi, hiện tượng buôn lậu và gian lận thương mại, các mặt hàng buôn lậu, về phạm pháp ma túy, về vi phạm sở hữu trí tuệ…
Thông tin về cải cách, hiện đại hóa là một mảng nội dung được cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm Đối với cơ quan quản lý thông tin về nội dung này giúp nắm bắt tiến trình, hiệu quả của cải cách hiện đại hóa của một ngành, một lĩnh vực quan trọng của kinh tế đất nước Đối với doanh nghiệp, thông tin này giúp doanh nghiệp nắm bắt về chế độ, chính sách, quy trình nghiệp vụ có liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất, kinh doanh
Ngoài ra, còn một số mảng thông tin chuyên ngành khác như: Kiểm tra sau thông quan; Quản lý rủi ro; Thuế xuất nhập khẩu; Giám sát quản lý; Thống kê hải quan…; Xây dựng lực lượng Hải quan (Liêm chính Hải quan)
Đối với thông tin có tính chuyên ngành, trong quá trình truyền thông
Trang 36đòi hỏi có giai đoạn “giải mã” thông tin Đó là bắt buộc phải làm rõ các thuật ngữ, khái niệm chuyên ngành để công chúng có thể hiểu, nắm bắt thông tin và
từ đó thông tin chuyên ngành dần trở thành thông tin đại chúng
1.3.3 Thông tin đối ngoại
Đường lối ngoại giao nói chung và công tác thông tin đối ngoại của nước ta là một chủ trương, chính sách lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước
từ những năm bắt đầu Đổi mới đến nay Đó là tuyên bố tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VII:
“Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, tích cực góp phần cùng các nước Đông Nam Á và trên thế giới vào sự nghiệp chung vì hòa bình ổn định độc lập và phát triển” [4, tr 123]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (tháng 1-2011) đặt ra yêu cầu:
“Đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới Mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin đối ngoại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, báo chí, xuất bản Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài” [5, tr 123]
Trang 37Những thông điệp trên không chỉ thể hiện thái độ tích cực của Việt Nam trong việc hội nhập với bên ngoài mà cũng chính là đường lối thể hiện
sự chuyển hướng trong hoạt động đối ngoại Đó là chuyển hướng từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị, kinh tế, mở rộng hợp tác kinh tế nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước Thực hiện chính sách mở cửa với những bước đi thích hợp, trong đó đa dạng hóa, hợp tác không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc cùng tôn trọng độc lập chủ quyền và đôi bên cùng có lợi… là những quan điểm thể hiện sự chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Công tác thông tin đối ngoại của nước ta trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả tích cực, góp phần quảng bá, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường thế giới, tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với Việt Nam Mặt khác, phản bác các thông tin sai, xuyên tạc, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Có 2 nhóm lực lượng thông tin đối ngoại là: (1) Nhóm các cơ quan chỉ đạo (bao gồm: Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch,
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Liên hiệp các hội hữu nghị…, (2) Nhóm các tổ chức, đơn vị, địa phương thực hiện thông tin đối ngoại là các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương, gồm: Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Tổng cục Du lịch, Tổng cục Hải quan…9
Việc ngành Hải quan được xác định là một trong số các đơn vị có nhiệm vụ thực hiện thông tin đối ngoại xuất phát từ chính đặc thù của công
9 Phạm Minh Sơn, Những vấn đề cơ bản về thông tin đối ngoại, nội dung bài giảng về Báo chí đối ngoại và báo chí quốc tế, 2013
Trang 38tác Hải quan, liên quan tới việc thúc đẩy và tạo điều kiện cho thương mại toàn cầu Từ năm 1993, Hải quan Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), thiết lập quan hệ hợp tác với tổ chức Hải quan các nước; tích cực tham gia vào các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, APEC, ASEM, WCO…, đồng thời là cơ quan có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập
Truyền thông của ngành Hải quan trong những năm qua đã cơ bản nắm bắt và bám sát việc thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại của ngành Hải quan Thông tin được ngành Hải quan tổ chức và thực hiện đã góp phần quan trọng giúp cho các tổ chức quốc tế nắm bắt và hiểu hơn về đường lối kinh tế đối ngoại của Việt Nam Quan trọng hơn, thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thông qua kênh Hải quan đã góp phần quảng bá về đất nước Việt Nam, đẩy mạnh giao thương, thu hút dòng vốn đầu tư, khách du lịch đến Việt Nam
1.4 Khái quát hoạt động truyền thông của Hải quan một số nước 1.4.1 Công tác truyền thông của Hải quan Hàn Quốc
Từ tháng 4-2006, nhằm đưa ra một hệ thống hợp nhất các tiêu chí do Chính
phủ đề ra về quan hệ công chúng là minh bạch, đảm bảo công chúng tiếp nhận
một cách tốt nhất các thông tin mà cơ quan quản lý đưa ra, Hải quan Hàn Quốc đã
triển khai xây dựng Hệ thống Quản lý hợp nhất về quan hệ công chúng Đến
tháng 1-2007, Hệ thống này hoàn thiện và được đưa vào vận hành cho đến nay
Khác với Hải quan nhiều nước, hoạt động truyền thông của Hải quan
Hàn Quốc được nhìn nhận rõ là hoạt động quan hệ công chúng (gắn với chức
năng nhiệm vụ của Hải quan Hàn Quốc được quy định rõ là dịch vụ quản lý) Hoạt động này được với sự tham gia có trách nhiệm của tất cả đơn vị vụ, cục nghiệp vụ thuộc cơ quan Tổng cục và các Hải quan vùng, Hải quan địa
phương Đầu mối chủ trì hoạt động này là Văn phòng Thông tin và Quan hệ
Trang 39công chúng, được đặt tại trụ sở cơ quan Tổng cục Hải quan Tại mỗi đơn vị
Hải quan vùng và Hải quan địa phương đều có một bộ phận đảm trách công tác thông tin và quan hệ công chúng, có sự liên kết chặt chẽ với Văn phòng Thông tin và Quan hệ công chúng tại Tổng cục
Hệ thống Quản lý hợp nhất về quan hệ công chúng gồm 4 bộ phận:
Nhà điều hành: Có trách nhiệm đăng ký, điều hành hệ thống hoạt động
và kiểm soát các thông tin cơ bản; Nhà quản lý: Có trách nhiệm quản lý tất cả
những đơn vị liên quan đến quan hệ công chúng, từ cơ quan Tổng cục đến các đơn vị Hải quan vùng và Hải quan địa phương; thẩm định, lựa chọn và công
bố thông tin ra bên ngoài; lựa chọn và quyết định các hình thức công bố thông tin ra bên ngoài như: Họp báo, hội thảo, thực hiện các phóng sự, các bài viết
để đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng; Người chịu trách nhiệm:
Thực hiện điều hành, rà soát, có trách nhiệm về những thông tin do nhà quản
lý quan hệ công chúng cung cấp lên; Đối tượng sử dụng: Là những người tiếp
nhận những thông tin đã được công bố (trừ người làm công tác quản lý và quan hệ công chúng)
Trung bình 1 ngày có khoảng 4 bài và nhiều tin tức liên quan đến lĩnh
vực hải quan được chuyển tải tới công chúng
Các nội dung truyền thông của Hải quan Hàn Quốc rất đa dạng, đó là: Tuyên truyền về chế độ chính sách pháp luật; tuyên truyền về hoạt động hải quan thông thường; tuyên truyền về những hoạt động, mặt hàng xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh đem lại lợi ích cho cộng đồng hoặc có tác động tiêu cực tới cộng đồng; tuyên truyền về các doanh nghiệp thực hiện tốt, phê phán những doanh nghiệp vi phạm pháp luật hải quan; tuyên truyền về gương người tốt, việc tốt, cảnh báo, phê phán những mặt tiêu cực, tồn tại trong ngành Hải quan Việc truyền thông về lĩnh vực hải quan không chỉ do các phóng viên, các bộ phận trong ngành thực hiện mà còn có sự tham gia tích
Trang 40cực của hệ thống báo chí cả nước
Từ việc xây dựng và triển khai Hệ thống Quản lý hợp nhất về quan hệ
công chúng cho thấy công tác truyền thông của Hải quan Hàn Quốc minh
bạch và khoa học Trong đó, đặc biệt là việc các đơn vị nghiệp vụ, các đơn vị hải quan địa phương chịu trách nhiệm và chủ động trong lập kế hoạch nội dung tuyên truyền đảm bảo thông tin được chính xác và kịp thời nhất Từ đó
có thể chuyển tải hiệu quả nhất những vấn đề cần truyền thông tới công chúng Đồng thời, trong các cuộc họp báo, đại diện các đơn vị hải quan cũng
có trách nhiệm tham gia việc chuyển tải thông tin đảm bảo dễ hiểu, ngắn gọn
và chính xác nhất Như vậy, với sự tham gia trực tiếp và có quy định cụ thể trách nhiệm của các vụ, cục nghiệp vụ, các hải quan địa phương thì công tác thông tin, tuyên truyền mới thật sự sâu sát và mang lại hiệu quả Điều này tránh được tình trạng thiếu trách nhiệm hoặc cát cứ thông tin của mỗi bộ phận nghiệp vụ hay mỗi đơn vị Hải quan riêng biệt
Hải quan Hàn Quốc xây dựng được mối quan hệ rất tốt với báo chí ngoài ngành, bởi vậy, thông thường các báo chí đó chủ động có sự liên hệ mật thiết với hải quan để tiếp nhận và truyền tải thông tin Hải quan Hàn Quốc không phải trả tiền cho các báo để truyền tải thông tin ra bên ngoài
Hải quan Hàn Quốc cũng tạo điều kiện để phóng viên của các cơ quan báo chí ngoài ngành đi thực tế tại cửa khẩu để họ nắm bắt thực tế công việc hàng ngày của Hải quan
1.4.2 Công tác truyền thông của Hải quan Pháp
Trong cơ cấu tổ chức của Hải quan Pháp có một bộ phân chuyên trách
(tương đương với cấp Vụ, Cục) về thông tin truyền thông là Phòng Thông tin
và Truyền thông Đây là một trong bốn bộ phận giúp việc trực tiếp cho Tổng
cục trưởng Tổng cục Hải quan, phụ trách toàn bộ quan hệ báo chí và hoạt động thông tin truyền thông của Hải quan Pháp, giữ vai trò là đầu mối thông