1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn

100 742 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn trả lời được câu hỏi trên cùng với sự quan tâm về mảng đề tài HIV/AIDS tác giả tiến hành đề tài nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Quyết

Hà Nội - 2013

Trang 3

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20

Trang 4

1.3 Những khái niệm công cụ 29

1.3.4 Thao tác hóa khái niệm vai trò của các CBO 32 1.3.5 Khái niệm người sống chung với HIV/AIDS/người có H 33 1.3.6 Khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS/trẻ OVC 33 1.3.7 Khái niệm người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao 33 1.4 Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự và

1.5 Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội và dịch

Trang 5

2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và vai trò của các

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT Từ viết tắt Nội dung các từ viết tắt

1 HIV Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

2 AIDS Các bệnh do vi rút HIV gây ra

3 NCH Người nhiễm HIV và đã xét nghiệm có kết quả dương

tính/người sống chung với HIV/AIDS

Trẻ có hoàn cảnh khó khăn và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV gồm trẻ em được sinh ra từ bố mẹ nhiễm HIV nhưng xét nghiệm âm tính hoặc trẻ em sống trong gia đình có người nhiễm HIV

5 PSP Bạn tình âm tính của người có H và người tiêm chích ma túy

6 VCT Cơ sở/Trung tâm xét nghiệm HIV tự nguyện

7 STDs Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

8 STIs Các bệnh nhiễm trùng đường sinh sản

9 ARV Thuốc kháng vi rút HIV

10 CBO Tổ chức dựa vào cộng đồng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số NCH được tiếp cận và tham gia vào các CBO NCH đến hết tháng

12 năm 2012 Bảng 2.2 Số PSP được tiếp cận, tham gia vào các CBO PSP năm 2012

Bảng 2.3 Số buổi truyền thông, nói chuyện chuyên đề và sinh hoạt nhóm nhỏ

do các CBO thực năm 2012 Bảng 2.4 Số hộ gia đình nhận được vốn vay phát triển kinh tế hộ gia đình từ

các CBO tại tỉnh Bắc Kạn từ năm 2010 – 2012 Bảng 2.5 Số NCH, trẻ OVC và PSP được chuyển gửi đến các cơ sở dịch vụ

sẵn có tại cộng đồng trong năm 2012 Bảng 2.6 Tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS mới giữa năm 2011 và 2012

Bảng 2.7 Số NCH và trẻ OVC được cung cấp các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ tại

nhà do CBO cung cấp năm 2012 Bảng 2.8 Số NCH, trẻ OVC và PSP được tiếp cận với các dịch vụ sẵn có tại

cộng đồng năm 2012

Trang 8

DANH MỤC BIỂU

Biểu 2.1 Số NCH và PSP tham gia vào các CBO năm 2012

Biểu 2.2 Số NCH và trẻ OVC nhận được các dịch chăm sóc, hỗ trợ tại nhà do

các CBO NCH thực hiện năm 2012 Biểu 2.3 Số PSP nhận được dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV do các CBO

PSP thực hiện năm 2012 Biểu 2.4 Số người dân cộng đồng nâng cao nhận thức về phòng chống

HIV/AIDS thông qua các các buổi truyền thông tại cộng đồng do CBO tổ chức năm 2012

Biểu 2.5 Số thành viên được nâng cao nhận thức về phòng chống HIV/AIDS

thông qua các các buổi nói chuyện chuyên đề do CBO tổ chức năm

2012 Biểu 2.6 Số thành viên được nâng cao nhận thức về phòng chống HIV/AIDS

thông qua các các buổi sinh hoạt nhóm nhỏ do CBO tổ chức năm

2012

MỞ ĐẦU

Trang 9

1 Lý do chọn đề tài

HIV/AIDS hiện nay đang là một vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu HIV/AIDS không chỉ là một vấn đề mang tính bệnh lý mà đó còn là một vấn đề mang tính xã hội sâu sắc HIV/AIDS đã và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lý học, công tác xã hội, xã hội học, y học xã hội Ngày 20/11/2012, chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS đã công bố

“Báo cáo toàn cầu về HIV/AIDS năm 2011”, trong đó nêu rõ tình hình dịch và đáp ứng với HIV/AIDS trên phạm vi toàn cầu đến hết năm 2011 Theo báo cáo này, trong năm 2011, năm thứ 31 của cuộc chiến chống HIV/AIDS nhân loại vẫn phải

“nhận” thêm 2,5 triệu người mới nhiễm HIV (dao động từ 2,2 triệu – 2,8 triệu) và 1,7 triệu người (dao động từ 1,5 triệu – 1,9 triệu) tử vong do các bệnh liên quan đến AIDS Số người nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống trên hành tinh này là 34 triệu (dao động từ 31,4 triệu – 35,9 triệu) Trong 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống có khoảng ½ (17 triệu người) không biết về tình trạng nhiễm vi rút này của mình Điều này hạn chế khả năng của họ tiếp cận được các dịch vụ dự phòng và chăm sóc, và do đó làm tăng khả năng lây truyền HIV từ họ ra cộng đồng Tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIIDS trên thế giới đến cuối năm 2011 vào khoảng 0,8% số người lớn (từ 15-49 tuổi) Khu vực cận Sahara của châu Phi vẫn là nơi bị HIV/AIDS tấn công nặng nề nhất, gần như cứ trong 20 người lớn (độ tuổi từ 15-49) trong khu vực này lại có 01 người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống (4,9%) Hiện khu vực này chiếm 69% tổng số người nhiễm HIV/AIDS còn sống của thế giới Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS ở khu vực cận Sahara châu Phi cao gấp 25 lần so với tỷ lệ này ở châu Á, nhưng tổng số người nhiễm HIV đang sống ở châu Á (bao gồm Nam

Á, Đông Nam Á và Đông Á) lên tới con số 5 triệu Sau Cận Sahara của châu Phi (nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất) là vùng Caribê, Đông Âu và Trung Á - những khu vực đang có khoảng 1,0% số người lớn đang mang trong mình HIV [33] Theo nhận định của Liên hiệp quốc trong Tuyên bố Chính trị về HIV/AIDS – tháng 6 năm 2011, HIV/AIDS vẫn đang tiếp tục lây lan, tạo ra tình trạng khẩn cấp trên

Trang 10

triển và ổn định xã hội trên toàn thế giới Đại dịch HIV/AIDS hiện vẫn đang là một thảm họa chưa từng có của loài người HIV không chỉ gây ra nỗi thống khổ to lớn cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển đến phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội của mỗi quốc gia trên khắp hành tinh với hơn 7.000 người nhiễm mới mỗi ngày, hơn 30 triệu người đã chết do AIDS, hơn 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống và hơn 16 triệu trẻ em dưới 15 tuổi mồ côi do AIDS [21, tr.2] Do vậy phòng, chống HIV/AIDS đã, đang

và tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng, thướng xuyên, đồng thời là lương tâm trách nhiệm của mỗi con người đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại

Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam năm 1990 đến nay,

số lượng người nhiễm HIV được báo cáo lại đã tăng nhanh chóng Theo số liệu báo cáo của Bộ Y tế đến tháng 6 năm 2012 tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống là 204.019 người Trong đó, tổng số bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống

là 58,569 người, tổng số người nhiễm HIV đã tử vong từ trước đến nay là 61.856 người [5, tr1]

Trước năm 2000 dịch chủ yếu tập trung ở các khu vực thành thị, nhưng hiện nay dịch đã xẩy ra tại hầu hết cả nước, kể cả các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng dân tộc thiểu số Tuy nhiên dịch HIV/AIDS vẫn chủ yếu tập trung trong nhóm nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm và nhóm người tình dục đồng giới nam Trong tổng số người được xét nghiệm phát hiện HIV dương tính, người nghiện chích ma túy chiếm khoảng 70%, phụ nữ bán dâm chiếm khoảng 5%, còn lại là đối tượng khác Đường lây truyền HIV/AIDS ở Việt Nam chủ yếu lây truyền qua tiêm chích chung ma túy, hình thái nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS ở mỗi vùng khu vực cũng có sự khác biệt nhau, trong khi phần lớn các khu vực trong cả nước dịch chủ yếu lây truyền do tiêm chích chung ma túy, các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long sự lây truyền HIV chủ yếu do truyền qua đường tình dục, đặc biệt là các tỉnh khu vực biên giới tỷ lệ người nhiễm HIV qua đường tình dục là cao nhất Tuy nhiên, xu hướng do lây truyền qua đường tình dục có nguy cơ gia tăng trong những năm gần đây, tỷ lệ người nhiễm HIV trong tổng số người nhiễm HIV phát hiện hàng

Trang 11

năm cho biết lây truyền qua đường tình dục tăng từ 12% năm 2004 lên 29% năm

2010 Nhiều bằng chứng cho thấy tỷ lệ phụ nữ bán dâm nghiện chích ma túy và tỷ lệ nam quan hệ tình dục đồng giới nghiện chích ma túy gia tăng làm tăng nguy cơ lây truyền qua đường tình dục từ nhóm này sang các bạn tình của họ, do đó số người nhiễm HIV do lây truyền qua đường tình dục ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn so với các năm trước đây [35, tr7] Kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn năm 2010 và tầm nhìn 2020 có một số mục tiêu, chỉ tiêu vẫn chưa thực hiện được như: (i) Vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm tăng tình hình dịch HIV/AIDS; (ii) Tỷ lệ bao phủ của các chương trình can thiệp cả về địa bàn và

số lượng được can thiệp vẫn còn hạn chế, mức độ hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ cao vẫn diễn ra ở các mức độ cho phép khả năng tạo ra lây nhiễm HIV vẫn còn đáng quan ngại; (iii) Tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về dự phòng lây nhiễm HIV của đại bộ phận người dân chưa cao, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng

xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; (iv) Tỷ lệ tiếp cận điều trị bằng thuốc đặc hiệu kháng vi rút HIV, dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con mới chỉ đạt 40-50% nhu cầu [35, tr5]

Xuất phát từ nhận định, đánh giá về tình hình, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác phòng, chống HIV/AIDS đồng thời xác định được những nguy cơ và hậu quả của đại dịch HIV/AIDS là mối đe dọa đối với tính mạng, sức khỏe con người và tương lai nòi giống của quốc gia, dân tộc, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh

tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước

Ngày 5/6/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định Về việc thành lập Ủy ban

Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm Ủy ban

Quốc gia phòng, chốngAIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm là tổ chức liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo, phối hợp công tác phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm bao gồm 15 các bộ, ngành cụ thể là: 1 Bộ Công an; 2 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; 3

Bộ Y tế; 4 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 5 Bộ Văn hóa - Thông tin; 6 Bộ Giáo dục

Trang 12

núi; 9 Tổng cục Hải quan; 10 Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; 11 Bộ Tài chính;

12 Bộ Kế hoạch và Đầu tư; 13 Bộ Tư pháp; 14 Văn phòng Chính phủ; 15 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Tất cả các bộ ngành Trung ương đến các tỉnh, huyện/thị xã và các cấp xã đều phải thành lập Ủy ban phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm nhằm đối phó với những nguy cơ và hậu quả của đại dịch HIV/AIDS gây ra

Mặc dù dịch HIV có xu hướng chững lại, không tăng nhanh như những năm trước đây, số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện đã giảm liên tục 3 năm gần đây, phần lớn người nhiễm HIV mới phát hiện chủ yếu tập trung trong nhóm nguy

cơ cao nhưng về cơ bản Việt Nam vẫn chưa khống chế được dịch HIV Số lượng các năm cụ thể như sau: Năm 1990 số người nhiễm HIV là 1 người, năm 2000 số người nhiễm HIV là 8824 người, năm 2001 số người nhiễm HIV là 10.958 người, năm 2002 số người nhiễm HIV là 15.573 người, năm 2003 số người nhiễm HIV là 21.285 người, năm 2004 số người nhiễm HIV là 22.669 người, năm 2005 số người nhiễm HIV là 24.563 người, năm 2006 số người nhiễm HIV là 30387 người, năm

2007 số người nhiễm HIV là 30.846, năm 2008 số người nhiễm HIV là 20.240, năm

2009 số người nhiễm HIV là 16.086, năm 2010 số người nhiễm là 14.267, năm

2011 số người nhiễm là 17.780 [5, tr3] Đây là kết quả của những nỗ lực không mệt mỏi trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của không chỉ ngành y tế mà còn của rất nhiều các ban ngành, tổ chức xã hội trong đó có các CBO

Vậy thực trạng của các CBO ra sao? Các CBO đã có những có vai trò và đóng góp như thế nào trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS? Với mong muốn trả lời được câu hỏi trên cùng với sự quan tâm về mảng đề tài HIV/AIDS tác giả

tiến hành đề tài nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn”

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 13

Các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS không chỉ là vấn đề của ngành dịch tễ học, công tác xã hội, y tế công cộng mà nó là mối quan tâm chung của rất nhiều ngành khoa học, trong đó có xã hội học Việc vận dụng các kiến thức xã hội vào nghiên cứu, phân tích chủ đề trên sẽ góp phần làm phong phú thêm lý thuyết của khoa học xã hội, đặc biệt là khoa học xã hội học

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Hàng năm, ngân sách của mỗi quốc gia và các tổ chức nhân đạo đã phải chi một khoản kinh phí khổng lồ với mục đích dự phòng sự lây lan của HIV đồng thời chăm sóc hỗ trợ cho những người không may mắc phải HIV/AIDS Việc tham gia vào hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS ra cộng đồng và chăm sóc hỗ trợ cho người nhiễm HIV không phải chỉ là trách nhiệm của ngành Y tế mà còn là trách nhiệm của tất cả các ban ngành đoàn thể và người dân trong cộng đồng

Nghiên cứu về “Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động

phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn” góp phần đưa ra một bức tranh về thực trạng

của các CBO cũng như những đóng góp của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn Từ đó, nghiên cứu đưa ra một

số kết luận và khuyến nghị nhằm giúp các nhà quản lý có thể quản lý và hỗ trợ phát huy những mặt tích cực của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại địa phương góp phần

vào sự phát triển của xã hội

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu tìm hiểu sự hình thành, mục đích hoạt động, hình thức, cơ cấu tổ chức, hoạt động, vai trò và việc thực hiện vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn cũng như những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Tìm hiểu các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn

Không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Bắc Kạn

Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2012

Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu:

Vấn đề HIV/AIDS bao hàm rất nhiều khía cạnh như dịch tễ học; dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS; chăm sóc sức khỏe cho người có HIV/AIDS; kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS; vấn để về quyền của người có HIV/AIDS; tác động của dịch HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và con người Trong luận văn này,

tác giả chọn nghiên cứu và phân tích một khía cạnh đó là vai trò của các tổ chức

dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, phống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn

4.4 Mẫu nghiên cứu

Trang 15

Đề tài lựa chọn 10 tổ chức dựa vào cộng đồng thuộc 05 địa bàn của tỉnh Bắc Kạn gồm Thị xã Bắc Kạn, huyện Chợ Mới, huyện Bạch Thông, huyện Chợ Đồn, huyện Ba Bể Tiêu chí lựa chọn 10 tổ chức dựa vào cộng đồng là những tổ chức hiện đang hoạt động tích cực trong phòng, chống HIV/AIDS tại 05 huyện, thị xã nơi

có số người đang sống chung với HIV/AIDS cao nhất tỉnh Bắc Kạn

Về cơ bản, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân cụm địa lý - kinh tế - hành chính kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích tại địa bàn thực hiện nghiên cứu

Trong số 10 tổ chức dựa vào cộng đồng được lựa chọn nghiên cứu thì 6 tổ chức dựa vào cộng đồng có thành phần tham gia sinh hoạt là người sống chung với HIV, 4 tổ chức dựa cộng đồng thành phần tham gia sinh hoạt là người bạn tình âm tính của người sống chung với HIV và người tiêm chích ma túy 10 tổ chức dựa vào cộng đồng được lựa chọn tại Bắc Kạn được thành lập từ giai đoạn tháng 7/2007 đến tháng 3/2012 Cụ thể như sau:

1 Nhóm tự lực Hy Vọng thị xã Bắc Kạn được thành lập tháng từ tháng 7 năm

2007 – Nhóm tự lực của những người sống chung với HIV gồm 45 thành viên sống tại địa bàn Thị xã Bắc Kạn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

2 Nhóm tự lực Ban Mai Xanh thị xã Bắc Kạn được thành lập từ tháng 3/2011

là nhóm tự lực của những người bạn tình âm tính của NCH và người tiêm chích ma túy gồm 35 thành viên sống tại địa bàn thị xã Bắc Kạn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

3 Nhóm tự lực Niềm Tin được thành lập tháng từ tháng 3 năm 2011 dưới sự

bảo trợ của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Thị Minh Khai là nhóm tự lực của những người sống chung với HIV gồm 30 thành viên sống tại địa bàn thuộc phường Nguyễn Thị Minh Khai - Thị xã Bắc Kạn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

Trang 16

4 Nhóm tự lực Hoa Hướng Dương được thành lập tháng 11/2011 dưới sự bảo

trợ của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Thị Minh Khai là nhóm tự lực của những người bạn tình âm tính của NCH và người tiêm chích ma túy gồm 30 thành viên sống tại địa bàn phường Nguyễn Thị Minh Khai - Thị xã Bắc Kạn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

5 Nhóm tự lực Hy Vọng huyện Chợ Mới được thành lập tháng 8 năm 2010 –

Nhóm tự lực của những người sống chung với HIV gồm 30 thành viên sống tại địa bàn huyện Chợ Mới thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

6 Nhóm tự lực Ban Mai Xanh huyện Chợ Mới được thành lập từ tháng 11 năm

2011 – Nhóm tự lực của những người bạn tình âm tính của NCH và người tiêm chích ma túy gồm 35 thành viên sống tại địa bàn thị xã Bắc Kạn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

7 Nhóm tự lực Hy Vọng huyện Bạch Thông được thành lập tháng từ 12 năm

2010 là nhóm tự lực của những NCH gồm 25 thành viên sống tại địa bàn huyện Bạch Thông thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

8 Nhóm tự lực Ban Mai Xanh huyện Bạch Thông được thành lập từ tháng 12

năm 2011 là nhóm tự lực của những người bạn tình âm tính của NCH và người tiêm chích ma túy gồm 25 thành viên sống tại địa bàn huyện Bạch Thông thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

9 Nhóm tự lực Hy Vọng huyện Chợ Đồn được thành lập tháng từ tháng 12

năm 2009 là nhóm tự lực của những NCH gồm 30 thành viên sống tại địa bàn huyện Chợ Đồn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

10 Nhóm tự lực Hy Vọng huyện Ba Bể được thành lập tháng từ tháng 3 năm

2012 là nhóm tự lực của những NCH gồm 16 thành viên sống tại địa bàn huyện Chợ Đồn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm

10 tổ chức dựa vào cộng đồng được lựa chọn tại tỉnh Bắc Kạn trong thời điểm nghiên cứu đang được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật bởi Trung Tâm Nghiên cứu

Trang 17

Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (Trung tâm COHED) thuộc Dự án Quỹ toàn cầu

vòng 9 – Hợp phần dự án Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam (VUSTA)

5 Phương pháp thu thập thông tin

Nghiên cứu này kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu, các phương pháp điều tra xã hội học, nhằm tìm hiểu vai trò và việc thực hiện vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

5.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Mục đích của phương pháp phân tích tài liệu là: Xác định được tổng quan

của vấn đề nghiên cứu và là căn cứ khoa học bổ sung cho vấn đề nghiên cứu của đề tài “Vài trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn” Trongluận văn này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để có một cơ sở vững chắc nhằm tiếp cận và tìm hiểu về tổ chức dựa vào cộng đồng và vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng dưới góc độ nghiên cứu của khoa học xã hội học Các tài liệu bao gồm:

 Số liệu thống kê của Bộ y tế về tình hình HIV/AIDS trong cả nước và địa bàn tỉnh Bắc Kạn

 Báo cáo của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS (TTPC HIV/AIDS) tỉnh Bắc Kạn năm 2011 và năm 2012 về tình hình dịch HIV/AIDS và các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương

 Kế hoạch công tác phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn năm 2011 và 2012 của TTPC HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn

 Báo cáo hoạt động của 10 tổ chức dựa vào cộng đồng là nhóm Hy Vọng thị

xã Bắc Kạn, Hy Vọng Chợ Mới, Hy Vọng Bạch Thông, Hy Vọng Chợ Đồn, Hy Vọng Ba Bể, Niềm Tin phường Nguyễn Thị Minh Khai thị xã Bắc Kạn, Ban Mai

Trang 18

Xanh thị xã Bắc Kạn, Ban Mai Xanh Chợ Mới, Ban Mai Xanh Bạch Thông, Hoa Hướng Dương phường Nguyễn Thị Minh Khai thị xã Bắc Kạn năm 2011 và 2012

 Các báo cáo nghiên cứu lên quan đến các CBO như : Báo cáo nghiên cứu về

“Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong việc hỗ trợ khả năng chi trả phí dịch vụ về chăm sóc, điều trị cho người có H (NCH) tại thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai” do Mạng lưới NCH các tỉnh phía Nam thực hiện tháng 8 năm 2012

Báo cáo “Khảo sát nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội dân sự - phát triển tổ

chức và huy động sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng chính sách ở Việt Nam” do quỹ Châu Á thực hiện tháng 11 năm 2008

Tài liệu và báo cáo từ dự án: “Tiểu dự án thành phần Trung tâm Nghiên cứu

Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (COHED) trực thuộc Hợp phần dự án Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) – Dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS –” Dự án được triển khai tại 5 tỉnh gồm tỉnh Bắc Kạn, Nghệ An, Bình

Dương, thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ tháng 10/2011 đến tháng 12/2012

 Các cuốn sách liên quan đến xã hội dân sự và tổ chức dựa vào cộng đồng đã

được xuất bản như: Các nguyên tắc cơ bản để hình thành và quản trị các tổ chức xã

hội dân sự tại Việt Nam do tiến sỹ Nguyễn Mạnh Cường, viện nghiên cứu phát triển

xã hội xuất bản năm 2008 Huy động cộng đồng tham gia vận động chính sách (tài

liệu hướng dành cho các tổ chức xã hội và tổ chức cộng đồng) do quỹ Châu Á thực

hiện năm 2008 Xã hội Dân sự - Một số vấn đề chọn lọc do NXB Tri thức - Hà Nội

xuất bản năm 2008

Các tài liệu tại các hội nghị, hội thảo như: Hội nghị “Huy động các nguồn

lực phát triển bền vững của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, sự đóng góp của các tổ chức phi chính phủ cho phát triển kinh tế xã hội đất nước”, chủ đề: Tổ chức phi chính phủ và hiệu quả viện trợ, Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam (VUSTA), Hà Nội 3/2009 Hội thảo về “Vai trò của cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS” do UNDP và SIDA đồng tài trợ, Ban tuyên giáo

Trang 19

trung ương, Quảng Ninh 29-30/07/2008 và Hội thảo “Huy động sự tham gia của

các tổ chức xã hội trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS” do Liên hiệp các hội

khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Hà Nội 5/2012

 Các văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước được ban hành liên quan đến

các tổ chức xã hội dân sự và lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS như Luật phòng,

chống HIV/AIDS (Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ ngày

1/1/2007) Quyết định số 36/2004/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia Phòng,

chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Quyết định số

608/2004/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt

Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Nghị quyết của chính phủ số 20 – CP ngày

5/5/1993 về việc Đẩy mạnh công tác phòng, chống nhiễm HIV/SIDA Chỉ thị số: 53 – CT/TƯ, ngày 11/3/1995 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác

phòng, chống HIV/AIDS Chỉ thị số: 54 – CT/TƯ, từ ngày 30/11/2005 của Ban Bí

thư TƯ Đảng về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống

AIDS trong tình hình mới Pháp lệnh phòng, chống HIV/AIDS của Uỷ ban

Thườngvụ Quốc hội (ngày 31/5/1995)

5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích của phương pháp phỏng vấn sâu chủ yếu nhằm tìm hiểu vai trò và

việc thực hiện vai trò của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

Đối tượng phỏng vấn sâu: Gồm 17 người đại diện cho các CBO, đại diện cơ

quan quản lý chuyên môn về phòng, chống HIV/AIDS, cơ quan chính quyền địa phương, người được hưởng lợi từ các CBO bao gồm người người nhiễm và bị ảnh hưởng bơi HIV/AIDS Cơ cấu mẫu phỏng vấn như sau:

 4 đại diện của các tổ chức dựa vào cộng đồng (3 tổ chức của người sống chung với HIV, 1 tổ chức của người bị ảnh hưởng bởi HIV)

 01 đại diện cán bộ TTPC HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn – Cơ quan quản lý và thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn

Trang 20

 01 đại diện cho lãnh đạo UBND phường, xã – Cơ quan quản lý và cho phép các

tổ chức dựa vào cộng đồng hoạt động tại địa bàn

 01 cán bộ y tế cơ sở (Trạm y tế xã, phường) thường xuyên phối hợp thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS với các tổ chức dựa vào cộng đồng

 05 người sống chung với HIV được hưởng lợi từ các tổ chức dựa vào cộng đồng

 05 người bị ảnh hưởng bởi HIV được hưởng lợi từ các tổ chức dựa vào cộng đồng (vợ, chồng, bố, mẹ, con cái, anh chị em trong gia đình hoặc hàng xóm của người sống chung với HIV/AIDS)

5.3 Phương pháp phát phiếu khảo sát thông tin về tổ chức

10 phiếu khảo sát thông tin về tổ chức đã được gửi cho lãnh đạo của 10 CBO tại 5 huyện của tỉnh Bắc Kạn nhằm tìm hiểu về vai trò của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương nói riêng cũng như của tỉnh Bắc Kạn nói chung

Phiếu khảo sát thông tin về tổ chức bao gồm các thông tin cần thu thập như thời gian bắt đầu hình thành tổ chức, đối tượng tham gia vào tổ chức, cơ cấu tổ chức, hoạt động và những đóng góp của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn

5.4 Phương pháp quan sát

Quan sát các hoạt động, cơ cấu, tổ chức của các tổ chức dựa vào cộng đồng

và những tác động của các hoạt động của tổ chức dựa vào cộng đồng đối với người

hưởng lợi từ các tổ chức dựa vào cộng đồng

5.5 Phương pháp tiếp cận cùng tham gia

Tác giả của đề tài nghiên cứu đã tham gia trong các hoạt động liên quan của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn Sự tham gia của tác giả đề tài tùy thuộc vào các cấp độ khác nhau như hỗ trợ thành lập hoặc hoàn thiện cơ cấu ban điều hành của tổ chức Hỗ trợ kỹ thuật thực hiện các hoạt động tiếp cận mở rộng thành viên tham gia sinh hoạt trong tổ

Trang 21

chức đồng thời hỗ trợ kỹ thuật trong việc thực hiện cung cấp các dịch vụ về dự phòng HIV và cung cấp các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ cho người có HIV và trẻ OVC

Sự tham gia của tác giả đề tài nghiên cứu còn ở góc độ khách quan bên ngoài của tổ chức dựa vào cộng đồng để tiếp cận trực tiếp với các thành viên tham gia sinh hoạt trong các tổ chức dựa vào cộng đồng để đánh giá mức độ tiếp cận với các dịch vụ được cung cấp từ các tổ chức dựa vào cộng đồng và mức độ phù hợp của các dịch vụ được cung cấp bởi các CBO đối với người hưởng lợi khi tham tham gia trong các nhóm tự lực dựa vào cộng đồng

6 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Hoạt động chính của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động

phòng, chống HIV/AIDS là gì? Các tổ chức dựa vào cộng đồng tại Bắc Kạn đã có những đóng góp như thế nào vào hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn?

Câu hỏi 2: Những khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng thường gặp phải là

gì? Nguyên nhân của những khó khăn đó và phương hướng để giải quyết những khó khăn đó như thế nào?

Trang 22

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Vận dụng quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, xã hội học Maxist là lý luận cơ sở của đề tài

Báo cáo này sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng cho toàn bộ quá trình nghiên cứu về vấn đề:

“Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS”

Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử “Là thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng giải thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối quan hệ qua lại, trong sự vận động và biến đổi không ngừng Chủ nghĩa duy vật lịch sử là sự mở rộng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu cuộc sống của xã hội, sự áp dụng những nguyên lý ấy vào việc nghiên cứu xã hội, cũng như nghiên cứu các hình thức sinh hoạt xã hội ”[40]

Chính vì vậy, khi xem xét và đánh giá vấn đề “Vai trò của các tổ chức dựa

vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn” tác giả

xét nó trong mối quan hệ với các nhân tố chủ quan và khách quan khác như: Đặc điểm của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn, các chính sách của tỉnh Bắc Kạn đối với hoạt động của các tổ chức dựa vào cộng đồng, tình hình dịch HIV/AIDS trong cả nước cũng như tại tỉnh Bắc Kạn

Vận dụng quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, xã hội học Macxit là cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu các sự vật hiện tượng không chỉ dừng lại ở việc xem xét các biểu hiện hình thức bên ngoài mà cần đi sâu vào tìm hiểu bản chất bên trong cũng như các quy luật vận động khách quan của các sự vật hiện tượng

Trang 23

Quá trình nghiên cứu không chỉ xem xét các sự vật một cách riêng lẻ mà phải đặt chúng trong các mối quan hệ tác động lẫn nhau trong từng sự vật hiện tượng

1.1.2 Vận dụng cơ sở lý luận của các chuyên ngành xã hội học

Báo cáo này cũng sử dụng cơ sở lý luận của các chuyên ngành xã hội học như xã hội học sức khỏe, xã hội học giới và xã hội học cộng đồng, công tác xã hội giúp cho việc tiếp cận các vấn đề nghiên cứu một cách khách quan, sâu sắc và đa chiều

1.2 Các lý thuyết xã hội học áp dụng trong đề tài

1.2.1 Lý thuyết vai trò xã hội

Thuật ngữ “vai trò” được nhắc đến từ đầu thế kỷ XX với những công trình nghiên cứu của Horton Coolay, Geogre Herbbert Mead… Thuật ngữ này được các nhà xã hội học vay mượn từ kịch bản sân khấu để miêu tả ảnh hưởng như thế nào trong đời sống xã hội Nếu coi xã hội là một sân khấu rộng lớn thì nó cho thấy hàng ngày tất cả chúng ta đang đóng vai trò những vai trò khác nhau trong cuộc sống, đó chính là những “vai trò xã hội” Gắn với mỗi vai trò là một “kịch bản” mà qua đó nó cho chúng ta biết chúng ta sẽ ứng xử như thế nào với người khác và người khác sẽ tương tác trở lại với chúng ta ra sao

Đến nay, trong xã hội học thuật ngữ “vai trò xã hội” được sử dụng ngày một rộng rãi với tư cách là một thuật ngữ khoa học quan trọng Vai trò xã hội được sử dụng để lý giải các quan hệ xã hội giữa các cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và tập thể, giữa cá nhân và xã hội cũng như để tìm hiểu sự phát sinh và phát triển nhân cách

Từ điển xã hội học đã định nghĩa “vai trò xã hội là tập hợp những hành vi,

thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế nhất định

và sự thực hiện của cá nhân đối với vị thế đó’’ [18, tr 1360]

Định nghĩa này cho thấy, khi nói đến vai trò xã hội của cá nhân người ta

Trang 24

Vai trò và địa vị không tách rời nhau, không thể có vai trò mà không có địa vị và ngược lại Địa vị xã hội của một cá nhân được hiểu đơn thuần chính là sự khác biệt

về vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội Sự khác biệt đó được so sánh dựa trên một

số đặc điểm hoặc phẩm chất được cho là có ý nghĩa trong xã hội đó Mặt khác, một địa vị xã hội luôn được gắn với quan hệ với người khác Sự xếp đặt địa vị bắt nguồn

từ những quan điểm của người khác Quan điểm này được dựa trên một hệ thống giá trị của cộng đồng

Khi nói đến vai trò xã hội của một cá nhân là nói đến những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các địa vị xã hội cá nhân đó đang nắm giữ Mỗi cá nhân có một loạt các vai trò tương ứng với những “hình mẫu xã hội ” khác nhau mà họ tham gia, tạo thành một tập hợp vai trò Để cá nhân có thể thực hiện tốt vai trò của mình thì chuẩn mực do xã hội đề ra phải rõ ràng Mặt khác, cá nhân đó phải học hỏi về các vai trò trong quá trình xã hội hóa, tức là phải học hỏi về các yêu cầu, đòi hỏi mà họ cần phải thực hiện khi họ tiếp nhận một vị thế xã hội và việc thực hiện vai trò của cá nhân cũng phải phù hợp với nhau Sự chênh lệch đó chính là nguyên nhân tiềm ẩn của những xung đột về vai trò

Khi một cá nhân mang nhiều vị thế xã hội thì sẽ phải thực hiện nhiều vai trò Tuy vậy, cá nhân hay tổ chức không thể nhầm lẫn trong việc thực hiện vai trò tương quan với vị thế xã hội của mình từng thời điểm Khi cá nhân tham gia nhiều nhóm

xã hội khác nhau họ phải đáp ứng những mong đợi của nhóm đó

Các nhà lý thuyết vai trò cho rằng vai trò xã hội (role sociale) của con người càng lúc càng trở nên đa dạng hơn Lý do là trong xã hội hiện đại, mối quan hệ của con người tăng lên tỉ lệ thuận theo tốc độ phát triển của văn minh xã hội

Trong thực tế xã hội, mỗi người có một vị trí và vai trò xã hội nhất định Ví

dụ vai trò xã hội của một giáo viên là giảng dạy, vai trò một bác sĩ là chữa bệnh

Do đó, có thể nói vai trò xã hội của một cá nhân là khái niệm xã hội học xác định những gì cá nhân ấy phải làm ở một không gian và thời gian nhất định theo những qui tắc chuẩn mực mà xã hội đã đặt ra

Trang 25

Vai trò xã hội và việc đóng vai trò xã hội có những tính chất đặc thù sau: Tính chất 1: Ðối với con người, đóng vai trò xã hội và thay đổi vai trò là công việc hàng ngày diễn ra liên tục, kế tiếp nhau và không trùng lắp về thời gian

Ở mỗi hoàn cảnh không gian và thời gian khác nhau con người sẽ có những vai trò

- Nhu cầu bổ khuyết những mặt hạn chế của bản thân

- Nhu cầu giao dịch vì lợi ích

Tính chất 4: Vai trò xã hội được thể hiện ở nhiều mặt:

- Vai trò thật là vai trò diễn ra trong đời sống hàng ngày, ngược lại là các vai trò giả thường xuất hiện trong các mối quan hệ ngoại giao

- Vai trò định chế là vai trò của một cá nhân do một tổ chức qui định Ngoài

ra là các vai trò do cá nhân tự chọn [36]

Vai trò của các CBO cũng tương tự như vai trò cá nhân trong hệ thống xã hội Vai trò của các CBO tại tỉnh Bắc Kạn được thể hiện thông qua các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Vai trò của các CBO tại tỉnh Bắc Kạn phụ thuộc vào nhu cầu của những NCH, những người bị ảnh hưởng bởi HIV, đồng thời phụ thuộc vào điều kiện môi trường kinh tế chính trị xã hội nơi tổ chức đó được sinh ra mà ở đây

Trang 26

là sự tác động của đại dịch HIV/AIDS lên mỗi cá nhân, cộng đồng và những chính sách của nhà nước đối với những hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

Vai trò của các CBO cũng có những tính chất giống như vai trò của cá nhân trong hệ thống xã hội có những tính chất sau:

Tính chất 1: Các CBO đóng vai trò xã hội và thay đổi vai trò diễn ra liên tục,

kế tiếp nhau và không trùng lắp về thời gian Ở mỗi hoàn cảnh không gian và thời gian khác nhau CBO có những vai trò xã hội khác nhau

Tính chất 2: Không thể liệt kê số lượng vai trò của CBO, bởi lẽ mỗi CBO có đặc thù riêng và có những những điều kiện khác nhau

Tính chất 3: Vai trò của các CBO phát sinh theo nhu cầu của các thành viên trong CBO đó cũng như mong đợi của xã hội đối với CBO đó

Tính chất 4: Vai trò của CBO được thể hiện ở nhiều hoạt động phòng chống HIV/AIDS

1.2.2 Lý thuyết phát triển cộng đồng

Lý thuyết phát triển cộng đồng dựa trên nguyên lý cho rằng mục tiêu cuối cùng của phát triển cộng đồng là tạo ra sự chuyển biến xã hội trong đó tăng cường năng lực tổ chức, khả năng đoàn kết xã hội, hướng tới khả năng nâng cao tính cộng đồng Trọng tâm của phát triển cộng đồng là con người (thành viên của cộng đông)

và phát triển con người vì con người Điều này cũng có nghĩa rằng, tăng trưởng kinh

tế cũng chỉ là một khía cạnh của phát triển Những tiến bộ về vật chất không kèm theo sự phát triển khả năng của con người và định chế xã hội thì chỉ là thành công

có tính thời hạn và không bền vững Vì vậy, mục tiêu bao trùm của phát triển cộng

đồng là góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hành động có tính chất

hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản của cộng đồng [16, tr50]

Xây dựng năng lực và tạo quyền được coi là 2 trọng tâm của phát triển cộng

đồng: “Phát triển cộng đồng là một quá trình mà luôn luôn tiếp diễn để đạt tới mục

Trang 27

đích cuối cùng là giúp cho cộng đồng đi từ một tình trạng kém phát triển, không tự mình giải quyết được những vấn đề của riêng mình tiến tới tự lực” [16, tr 50]

Quá trình phát triển cộng đồng diễn ra theo các bước từ thấp đến cao Từ bước thức tỉnh nhận diện vấn đề của mình, sau đó tăng năng lực (chuẩn bị nguồn lực – tập luyện) đến tự lực (tự giải quyết những vấn đề đó) Trong đó, thức tỉnh là giai đoạn mà cộng đồng biết rõ tình trạng phát triển của mình thông qua nhận diện, chuẩn đoán những vấn đề khó khăn, tiềm năng và thuận lợi của mình, từ đó xác định những vấn đề và giải pháp ưu tiên Sau đó cộng đồng sẽ được tăng năng lực bằng cách tận dụng và tìm kiếm nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp với những khả năng của bản thân và thông qua quá trình huấn luyện để khắc phục những hạn chế

và tăng cường kiến thức và kỹ năng để hành động Tăng cường các hoạt động liên kết, khả năng tổ chức, lãnh đạo và quản lý để hành động tập thể có hiệu quả hơn Cuối cùng, cộng đồng sẽ trở lên tự lực Mục đích cuối cùng không phải là mọi khó khăn, khủng hoảng không còn nữa mà mỗi lần gặp khó khăn, cộng đồng có thể tự huy động nguồn lực bên trong và bên ngoài để giải quyết

Vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng trong nghiên cứu này để khẳng định mục đích cuối cùng của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn là: Tạo ra những chuyển biến về mặt nhận thức của những người đã nhiễm HIV/AIDS và những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV/AIDS từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều về HIV/AIDS, biết cách chăm sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS cũng như dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS ra cộng đồng Đồng thời tăng cường năng lực điều hành tổ chức của các CBO và tạo ra sự đoàn kết trong xã hội

1.2.3 Áp dụng các văn bản pháp luật liên quan đến vai trò của các tổ chức xã hội

Trong giai đoạn trước năm 2007 (thời điểm có hiệu lực của luật phòng,

chống HIV/AIDS – 01/01/2007)

Trang 28

Nghị quyết của chính phủ số 20 – CP ngày 5/5/1993 về việc đẩy mạnh công tác phòng, chống nhiễm HIV/SIDA “Nhiễm HIV/SIDA đang trở thành vấn đề xã

hội nghiêm trọng ở nước ta…thực tiễn này đòi hỏi phải huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia phòng, chống với các biện pháp đồng bộ và hiệu quả Chính phủ yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội từ Trung ương đến địa phương nghiêm chỉnh thực hiện các biện pháp phòng, chống SIDA”

Chỉ thị số: 53 – CT/TƯ, ngày 11/3/1995 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS Chỉ thị nêu rõ: “Rất chú trọng đề

cao vai trò và khả năng to lớn của gia đình, gắn với việc phòng, chống AIDS với việc xây dựng văn hóa Việt Nam” chỉ thị yêu cầu các cấp ủy Đảng “huy động rộng rãi và phối hợp chặt chẽ hoạt động của các cơ quan, đoàn thể theo một chương trình chung do đồng chí Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND trực tiếp phụ trách.”

Pháp lệnh phòng, chống HIV/AIDS của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày

31/5/1995 pháp lệnh có 4 chương, 30 điều, trong đó có tới 11 quy định liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của cộng đồng và của các tổ chức xã hội trong phòng, chống HIV/AIDS

Ngay tại điều 01: pháp lệnh đã quy định “Phòng, chống nhiễm HIV/AIDS là

trách nhiệm của mỗi người, của mỗi gia đình và của toàn xã hội.”

Tại điều 3: “Các cơ quan nhà nước, mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành

viên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân Việt Nam cũng như mọi tổ chức và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam đều phải thực hiện việc phòng, chống nhiễm HIV/AIDS theo quy định của pháp luật.”

Tại điều 5: “Các cơ quan nhà nước, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội tuyên truyền, vận động, giáo dục nhân dân phòng, chống nhiễm HIV/AIDS.”

Tại điều 9, điểm 2: “Chính quyền các cấp, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

thành viên, tổ chức kinh tế xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng, chống nhiễm HIV/AIDS tại cộng đông.”

Trang 29

Tại điều 10: “Mọi người có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng,

chống việc lây truyền HIV/AIDS để bảo vệ cho mình, cho gia đình và xã hội; tham gia các hoạt động phòng, chống nhiễm HIV.AIDS tại gia đình và cộng đồng”

Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020: Chiến lược xác định các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng, như là

một trong các nhóm giải pháp xã hội chủ yếu:

Xây dựng chương trình phòng, chống HIV/AIDS thành chương trình phối hợp liên ngành …huy động mọi tổ chức, cá nhân tham gia

Khuyến khích các tổ chức xã hội , tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện, tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp, các nhóm cộng đồng, người nhiễm cùng gia đình…

Tăng cường vận động toàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS; Lồng ghép các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào trong các phong trào vận động quần chúng

Phát huy vai trò của những người tiêu biểu, các già làng, trưởng bản, trưởng thôn, trưởng dân phố, trưởng dòng họ, trưởng tộc, các chức sắc tôn giáo, người cao tuổi làm nòng cốt…

Giai đoạn sau năm 2007 đến nay:

Chỉ thị số : 54 – CT/TƯ, từ ngày 30/11/2005 của Ban Bí thư TƯ Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống AIDS trong tình hình mới

Nhiệm vụ 6: Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng, chống HIV/AIDS

Khuyến khích các đoàn thể chính trị - xã hội các tổ chức phi chính phủ, các

cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia phòng, chống HIV/AIDS

Tiến tới thành lập tổ chức xã hội phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam

Trang 30

Luật phòng, chống HIV/AIDS (Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực

từ ngày 1/1/2007)

Tại điều 3: Luật xác định 01 trong 4 nguyên tắc phòng, chống HIV/AIDS là:

Thực hiện việc phối hợp liên ngành và huy động xã hội trong phòng, chống HIV/AIDS; lồng ghép các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội

Tại điều 6, về “Chính sách của nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS” có

quy định:

Khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước giúp

đỡ dưới mọi hình thức…

Huy động sự tham gia của toàn xã hội, sự đóng góp về tài chính, kỹ thuật của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước…

Điều 19: Tổ chức xã hội tham gia phòng, chống HIV/AIDS:

Nhà nước tạo điều kiện cho tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức xã hội khác

Thành lập các cơ sở nhân đạo, từ thiện để chăm sóc, nuôi dưỡng người nhiễm HIV/AIDS; và

Thực hiện các hoạt động khác trong phòng, chống HIV/AIDS

Điều 20: Người nhiễm HIV/AIDS tham gia phòng, chống HIV/AIDS:

Người nhiễm HIV có quyền tham gia phòng, chống HIV/AIDS

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho người nhiễm HIV tham gia các hoạt động sau đây

Nhóm giáo dục đồng đẳng, câu lạc bộ và các hình thức tổ chức sinh hoạt khác của người nhiễm HIV theo quy định của pháp luật

Trang 31

Tuyên truyền và thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

Hỗ trợ, chăm sóc người nhiễm HIV

Tham gia ý kiến trong suốt quá trình xây dựng chương trình, chính sách, pháp luật liên quan đến HIV/AIDS

Các hoạt động khác về phòng, chống HIV/AIDS:

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập tổ chức tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS (Khoản 3 điều 22: Tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS)

Tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác được thành lập

cơ sở chăm sóc người nhiễm HIV (Khoản 3, điều 41: Chăm sóc người nhiễm HIV)

Khuyến khích các tổ chức, cá nhân Việt Nam hợp tác với các tổ chức quốc

tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS (Khoản 2, điều 48: Hợp tác quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS)

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ, giúp đỡ về tài chính, kỹ thuật cho phòng, chống HIV/AIDS (Khoản 2, điều 43: Nguồn nhân lực cho phòng, chống HIV/AIDS)

1.3 Những khái niệm công cụ

1.3.1 Khái niệm tổ chức xã hội

Xã hội dân sự là nơi mà mọi người cùng hành động theo đuổi mục tiêu chung, không vì động cơ lợi nhuận hay quyền lực chính trị Hình thức tồn tại của nó bao gồm các tổ chức hội, hiệp hội, liên hiệp hội, đoàn thể, mạng lưới, các tổ chức xã hội, các phong trào… có các đặc điểm cơ bản như sau:

Tự nguyện, các thành viên có thể tham gia và không tham gia tự nguyện vào

tổ chức, phong trào, trong quá trình đó không có sự ép buộc hay cưỡng bức hành chính như các qui định luật pháp của nhà nước Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa các tổ chức xã hội dân sự và nhà nước Nó mang tính phi chính phủ: Tồn

Trang 32

tại độc lập với nhà nước và trên cơ sở tự nguyện của người dân, trong khi nhà nước

sử dụng các biện pháp hành chính và cưỡng chế

Tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Trong quá trình hoạt động của mình, các tổ chức xã hội dân sự hoạt động độc lập với nhà nước, trong khuôn khổ pháp luật, không chịu sự chi phối và can thiệp của các tổ chức khác kể cả nhà nước, cho dù tổ chức này có nhận tiền tài trợ của nhà nước hay không

Không vì mục tiêu lợi nhuận: Các tổ chức này thường có thể thu lợi nhuận nhưng không chia cho các cá nhân mà đem phần lợi nhuận đó để phục vụ các mục tiêu xã hội Phi lợi nhuận khi nó không tham gia vào các hoạt động kinh doanh lợi nhuận, còn không vì mục tiêu lợi nhuận khi nó có thể tham gia vào kinh doanh để

có lợi nhuận, nhưng lợi nhuận tìm kiếm được không phải để phục vụ cá nhân, mà phục vụ xã hội Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt giữa tổ chức xã hội dân sự và các doanh nghiệp, vì mục tiêu của các doanh nghiệp là lợi nhuận cho các cá nhân

Nguồn tài chính đa dạng từ hỗ trợ của nhà nước, hội phí, hoạt động kinh doanh, đóng góp cá nhân Điều này cho thấy, không nhất thiết các tổ chức xã hội là không nhận sự hỗ trợ tài chính của nhà nước Ở nhiều nước, nhà nước đóng góp từ 40% đến 100% ngân sách cho các tổ chức CSO này, nhưng vẫn duy trì và tôn trọng các nguyên tắc của các tổ chức CSO [2]

Tổ chức xã hội mà tôi dùng ở đây để nói đến những tổ chức không phải là nhà nước, tự nguyện và không định hướng vào lợi nhuận (tổ chức Phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức dựa vào cộng đồng…)

1.3.2 Khái niệm cộng đồng

Khái niệm cộng đồng là một khái niệm cơ bản, then chốt của khoa học xã hội nói chung và cho đến nay, có nhiều quan niệm về cộng đồng được các tổ chức và các học giả đưa ra Theo từ điển Xã hội học (của G Endrweit và G.Trommsdorff) thì cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặt biệt mật thiết (gia đình, tình bạn, cộng đồng, yêu đương) được chính họ

Trang 33

tìm kiếm và vì thế con người cảm thấy có tính cuội nguồn Bản chất của cộng đồng hoàn chính, J.Fichter cho rằng, cộng đồng bao gồm 4 yếu tố: Thứ nhất: Có sự tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; Thứ hai, có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong nhiệm vụ và công tác xã hội tập thể; Thứ ba, có sự hiến dâng tinh thần đối với những giá trị được tập thể coi là sự cao cả và có ý nghĩa; Và cuối cùng, một ý thức đoàn kết đối với những người trong tập thể Ngày nay chỉ có những cộng đồng truyền thống (như làng truyền thống) mới có đủ bốn đặc tính trên.Như vậy, với những cách tiếp cận khác nhau có các quan niệm khác nhau về cộng đồng, tuy nhiên phần lớn mọi người đều chia sẻ một số đặc trưng cơ bản như:

Nó là một thực thể, có chung một số chuẩn mực cơ bản về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội…[34] Putnam (2000) đề cập một khái niệm rất quan trọng đối với CTXH cộng đồng, đó là “vốn xã hội”/social capital Vốn xã hội là tinh thần tin cậy, tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau của mọi người trong một cộng đồng Cộng đồng có vốn xã hội cao là những cộng đồng lành mạnh, con người sống an toàn, ít tệ nạn xã hội, trẻ em phát triển thuận lợi Trái lại, cộng đồng nghèo vốn xã hội thường có tỷ lệ tội phạm cao, cuộc sống căng thẳng, và trẻ em phát triển không thuận lợi [34]

Mặc dù khái niệm “cộng đồng” được rất nhiều tác giả trong nước và trên thế

giới đưa ra, nhưng trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm theo cách định

nghĩa của Tô Duy Hợp và cộng sự là khái niệm công cụ: “Cộng đồng là một thực

thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên Các đặc điểm đó có thể là:Đặc điểm về kinh tế, xã hội; Huyết thống; Mối quan tâm và quan điểm; Môi trường, nhân văn Dựa vào đặc trưng cộng đồng có thể phân biệt cộng đồng nông thôn và cộng đồng thành thị, trong đó, cộng đồng nông thôn có các đặc điểm như:

Sự thân thiện và quan hệ trao đổi thân thuộc hàng ngày; Quan hệ ruột thịt mạnh

mẽ theo hình thức phả hệ gia đình; Sự tự phát, cùng giúp đỡ lẫn nhau, cùng chia sẻ

Trang 34

niềm vui và nỗi buồn; Sự thống nhất cao theo các luật tục, ý tưởng và mong đợi của nhóm; Sự thống nhất dựa trên cơ sở sự giống nhau về đặc điểm” [46]

Địa bàn mà tác giả tiến hành nghiên cứu là tỉnh Bắc Kạn gồm thị xã Bắc Kạn

và 4 huyện là Chợ Mới, Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn, nơi có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất và có các CBO có người tham gia là người nhiễm HIV và người bị ảnh hưởng bởi HIV đang hoạt động tích cực trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS

1.3.3 Khái niệm tổ chức dựa vào cộng đồng

Theo định nghĩa của tổ chức Liên Hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt

Nam “Tổ chức dựa vào cộng đồng (viết tắt là CBO) là tập hợp các thành viên tự

nguyện không vì mục đích lợi nhuận, xuất phát từ một cộng đồng đặc thù hoạt động

vì mục đích của các thành viên của cộng đồng đó do cộng đó làm chủ và quản lý”

[23, tr 1]

Các CBO trong đề tài nghiên cứu này là các nhóm tự lực dựa vào cộng đồng của những có HIV, người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, những người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao mà cụ thể là nhóm những người bạn tình âm tính của người sống chung với HIV và người tiêm chích ma túy tại cộng đồng

Những người bạn tình của NCH và người tiêm chích ma túy vừa là người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vừa là người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao do họ thường sống chung với người người nhiễm HIV, chăm sóc hỗ trợ cho người nhiễm HIV và có hành vi quan hệ tình dục với người sống chung với HIV do

đó nguy cơ lây nhiễm HIV từ bạn tình có HIV là rất cao

1.3.4 Thao tác hóa khái niệm vai trò của các CBO

Dựa trên quan điểm xã hội học chúng ta có thể hiểu vai trò của các CBO là việc thực hiện các hoạt động nhằm chăm sóc hỗ trợ cho những người sống chung và

bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng như thực hiện các hoạt động nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV ra cộng đồng cho các nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ lây nhiễm

Trang 35

HIV cao trong cộng đồng Những hoạt động của CBO nhằm đáp ứng các nhu cầu chia sẻ, cung cấp thông tin và hỗ trợ cho các thành viên tham gia sinh hoạt trong tổ chức cũng như đáp ứng các mong đợi của các cơ quan có thẩm quyền quản lý về lĩnh vực HIV/AIDS Đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển của chính bản thân các CBO

Vai trò của các CBO tại tỉnh Bắc Kạn bị ảnh hưởng bởi các chính sách trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn, ảnh hưởng bởi mục đích, chiến lược thành lập của mỗi CBO, ảnh hưởng bởi khả năng quản lý, điều hành của các thành viên trong ban điều hành của tổ chức, ảnh hưởng bởi đặc điểm như phong tục tập quán, trình độ nhận thức, văn hóa của các thành viên tham gia trong CBO

1.3.5 Khái niệm NCH hoặc người sống chung với H: Là những người đã bị

nhiễm HIV và đã được xét nghiệm có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút HIV

Xét nghiệm HIV là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định tình trạng nhiễm HIV trong mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người HIV dương tính là kết quả xét nghiệm mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người đã được xác định nhiễm HIV [37, tr 2]

1.3.6 Khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV: Là những người thường xuyên

tiếp xúc và sống chung với người nhiễm HIV trong một gia đình hoặc cộng đồng Trong giới hạn của đề tài luận văn, khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV là những người thân bố, mẹ, anh, chị em, họ hàng những người sống cùng với người nhiễm HIV trong một mái nhà Cụ thể là trẻ em được sinh ra từ bố mẹ nhiễm HIV nhưng xét nghiệm âm tính hoặc trẻ em sống trong gia đình có người nhiễm HIV và những người chăm sóc cho người nhiễm HIV

1.3.7 Khái niệm người có hành vi nguy lây nhiễm HIV cao: Trong điều 2,

chương 1 những quy định chung của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội

chứng gây ra suy giảm nhiễm dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) đã nêu rõ Hành vi

nguy cơ cao là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục không an toàn,

Trang 36

hạn của đề tài luận văn, khái niệm người người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao là bạn tình âm tính của NCH và người tiêm chích ma túy (sau đây viết tắt là PSP)

1.4 Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự và tổ chức dựa vào cộng đồng

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tổ chức xã hội nói chung và CBO luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều các chuyên ngành Vấn đề về tổ chức xã hội đã xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại

trong tác phẩm Politics của Aristot Ở Pháp thuật ngữ tổ chức xã hội đã xuất hiện

trong tác phẩm của Montesquieu và Tocqueville Ở Đức vấn đề tổ chức xã hội cũng

đã được Hêghen nghiên cứu trong tác phẩm Philosophy of Right Tại Anh có cuốn

“The polistical classics” do nhà Đại học Oxford xuất bản năm 1992 Các tác phẩm

này đều nghiên cứu vấn đề tổ chức xã hội dưới góc độ lý luận

Các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế,

xã hội và dân chủ của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Các tổ chức này quản lý hàng tỷ đôla thông qua các quỹ phát triển tự gây dựng được, hoặc được ủy thác bởi các chính phủ, quỹ, nhà hảo tâm, công ty cũng như các tổ chức liên chính phủ Những chiến dịch do các tổ chức dân sự đã thúc đẩy việc ký kết các thỏa thuận quốc

tế cũng như các cam kết quốc gia nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, tham nhũng, nợ nần, diệt chủng, HIV/AIDS, mình sát thương, và những tác động không công bằng của toàn cầu hóa Tổ chức xã hội dân chủ cũng là những người ủng hộ nhiệt thành cho việc tăng cường viện trợ phát triển và hạ thấp các rào cản thương mại đối với hàng xuất khẩu từ các quốc gia đang phát triển sang các quốc gia giàu

có hơn [ 6, tr 6] Tài liệu Tổ chức xã hội dân sự tài liệu cơ bản – Tài liệu hướng dẫn

về quan hệ hợp tác với các tổ chức xã hội dân sự do Ngân hàng phát triển Châu Á

xuất bản năm 2008 tại Philipin cung cấp thông tin khái quát về các tổ chức xã hội dân sự, những ví dụ về quan hệ hợp tác về Ngân hàng phát triển Châu Á và các tổ

Trang 37

chức xã hội dân sự, những chỉ dẫn thực tế và những câu trả lời đối với những câu hỏi thường gặp

Trong cuốn Xã hội dân sự ở Đông Nam Á (Civil Society in Southeast Asia)

do Lee Hock Guan biên tập (2004), Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Institute of Southeast Asian Studies) xuất bản tại Singapore năm 2004 đề cập đến quan điểm và phương pháp nghiên cứu tổ chức dân sự Theo quan điểm của nhà xã hội học P Ramasamy khi nghiên cứu về xã hội dân sự ở Malaysia nêu lên một nhận xét: Các quan điểm của các lý thuyết gia tự do, từ Locke đến Kant, Mill và Adam Smith, xem xã hội dân sự như một không gian riêng và độc lập với nhà nước và là một dấu chỉ của dân chủ dường như chỉ thích hợp với Tây phương Và ông đề nghị với các nước Đông Nam Á, khung lý thuyết về xã hội dân sự của Antonio Gramsci có vẻ hữu ích hơn [1]

1.4.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam các nghiên cứu về các tổ chức xã hội dân sự nói chung và CBO nói riêng là một vấn đề còn khá mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn Các nghiên cứu

về vấn đề này chưa nhiều tuy nhiên đã có một số nghiên cứu về tổ chức xã hội được thực hiện tại Việt Nam cụ thể như:

Đề tài Vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay do tiến sỹ Nguyễn

Minh Phương, Viện khoa học tổ chức, Bộ Nội Vụ đã phân tích vai trò quan trọng của xã hội dân sự Chức năng của xã hội dân sự như tác giả khẳng định bao gồm: Thứ nhất, là cầu nối các cá nhân với nhà nước; Thứ hai, tham gia hoạch định và phối hợp với nhà nước thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước; Thứ ba,

tổ chức phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách và giám sát hoạt động của đội ngũ công chức nhà nước; Thứ tư, góp phần phát huy các nguồn lực nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Đồng thời, tác giả cũng đề xuất và luận giải một số phương hướng và biện pháp cơ bản để thúc đẩy sự phát triển của tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện

Trang 38

Báo cáo Khảo sát sát nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội dân sự do quỹ

Ford châu Á thực hiện tháng 11 năm 2008 tại Việt Nam Kết quả khảo sát gồm 3 nội dung chính một là: Thực trạng và trình độ của các tổ chức phi chính phủ Việt Nam trong việc củng cố và phát triển tổ chức Hai là: Thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và công tác đào tạo năng lực cho các tổ chức phi chính phủ Việt Nam Ba là: Thực trạng năng lực của các tổ chức phi chính phủ Việt nam trong công tác vận động chính sách và huy động cộng đồng tham gia xây dựng chính sách Bốn là nhu cầu đào tạo của các tổ chức phi chính phủ Việt Nam [13, tr 6]

Báo cáo nghiên cứu Đánh giá ban đầu về tổ chức xã hội dân sự của nhóm tác

giả TS Irene Norlund, PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, TS Nguyễn Mạnh Cường, ThS Tăng Thế Cường, ThS Đỗ Bích Diễm, ThS Chu Dũng, ThS Trần Thị Thu Hương, ThS Vũ Chi Mai, CN Đặng Ngọc Quang, TS Bạch Tân Sinh thuộc dự án Civicus

CSI-SAT thực hiện tháng 1 năm 2006 Báo cáo tập trung vào 4 loại hình chính các

tổ chức, đó là: Các Tổ chức quần chúng (MO); các Hiệp hội nghề nghiệp; các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGO); và các Tổ chức tại cộng đồng (CBO) Hoạt động chủ chốt của hầu hết các CSO là nhằm hướng tới mục tiêu giảm nghèo, từ thiện nhân đạo và tự quản, và phát triển nghề nghiệp, nhưng lại ít hướng tới các vấn

đề pháp lý [15, tr 9]

Báo cáo Nghiên cứu vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong việc

hỗ trợ khả năng chi trả phí dịch vụ chăm sóc, điều trị cho người có H tại thành phố

Hồ Chí Minh và Đồng Nai do nhóm tác giả Nguyễn Anh Ngọc, Huỳnh Liên Chiểu

và Hồ Hải Phong thực hiện tháng 8 năm 2012 Các phát hiện và kết quả nghiên cứu cho thấy vấn đề chi trả chi phí chăm sóc điều trị liên quan đến HIV/AIDS nói riêng

và chi phí y tế nói chung của người có H là một gánh nặng do tình trạng sức khỏe yếu, tình trạng học vấn thấp khó tiếp cận với công việc, tình trạng HIV có liên quan mật thiết đến những ảnh hưởng đến kinh tế của người có H và gia đình họ Bảo hiểm y tế được người có H và gia đình họ nói đến rất nhiều khi bàn luận đến vấn đề chi trả phí chăm sóc, điều trị nhưng thực chất họ không hiểu cụ thể về các chính

Trang 39

sách liên quan đến vấn đề bảo hiểm và rất ít người có H hiện tham gia mua bảo hiểm y tế tự nguyện Các CBO không tham gia trực tiếp vào việc điều trị nhưng đóng vai trò rất lớn trong công tác hỗ trợ người có H tại nhà thông qua các hoạt động tư vấn, chăm sóc tại nhà và chuyển gửi đến các cơ sở y tế Đây chính là một vai trò rất lớn trong việc gián tiếp hỗ trợ người có H chi trả phần nào đó chi phí chăm sóc điều trị [7, tr 5]

Ngoài các nghiên cứu mang tính thực tiễn về các CBO nói trên còn có một số các tài liệu, cuốn sách liên quan đến các tổ chức xã hộ dân sự như:

Các nguyên tắc cơ bản để quản trị và hình thành lên tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Cường Viện nghiên cứu xã hội Hà Nội 2008

"Huy động cộng đồng tham gia vận động chính sách Hướng dẫn dành cho

các tổ chức xã hội và các tổ chức cộng đồng do Quỹ Châu Á thực hiện

“Huy động công chúng tham gia xây dựng chính sách và pháp luật dành cho các tổ chức phi chính phủ và tổ chức xã hội” do Qũy Ford Châu Á thực hiện

Nhìn chung các nghiên cứu và tài liệu trên đã đề cập đến vấn đề về cơ sở lý luận và vấn đề thực trạng của tổ chức xã hội dân sự trong đó có tổ chức xã hội dựa vào cộng đồng tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về thực trạng và vai trò của các tổ chức xã hội dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

tại tỉnh Bắc Kạn Với nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong

hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn” tác giả mong muốn đóng góp

thêm những kiến thức về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu về các tổ chức xã hội dân sự nói chung và CBO nói riêng trong hoạt động phòng, chống HIV tại Việt Nam

1.5 Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội và dịch HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn

1.5.1 Điều kiện địa lý

Trang 40

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, vùng cao được tái lập từ 01/1/1997 trên cơ sở tách

từ 04 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Thái và 2 huyện của tỉnh Cao Bằng

Là tỉnh nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc - Bắc Bộ Việt Nam; phía Bắc giáp các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp các huyện Tràng Định, Bình Gia tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hoá tỉnh Thái Nguyên; phía Tây giáp 3 huyện: Nà Hang, Chiêm Hoá và Yên Sơn của tỉnh Tuyên Quang

Tỉnh gồm 8 huyện, thị xã với 122 xã phường, thị trấn, với diện tích 4868,42

km2, dân số 305.759 người, gồm 7 dân tộc anh em Tày, Kinh, Nùng, Dao, Hoa, H’Mông trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80% Cụ thể Tày (chiếm 60%), Kinh (19,3%), Nùng (7,4%), Dao (9,5%), Hoa, H’Mông và Sán chay (chiếm 3,4%)

1.5.2 Tình hình kinh tế, xã hội

Sau khi tái lập tỉnh, được sự quan tâm của Đảng, Quốc Hội, Chính phủ và các

Bộ ngành trung ương, đồng thời với sự cố gắng nỗ lực vượt bậc của tỉnh, từ năm

1997 đến nay Bắc Kạn đã có nhiều cố gắng thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh

tế - xã hội, khắc phục mọi khó khăn và đạt được nhiều thành tựu nổi bật Kinh tế phát triển khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm tăng nhanh, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt từ 9-10% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tăng

tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Thu kinh phí hàng năm của tỉnh đạt trung bình 100-110 tỷ đồng

1.5.3 Tình hình tệ nạn ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội liên quan

Tình hình sử dụng ma túy tại tỉnh: Tính đến 31/5/2011, số người sử dụng ma tuý có hồ sơ quản lý là 1130 Đặc điểm của người SDMT: (Nguồn: Số liệu điều tra RAR - 6/2009) Tỷ lệ chích chiếm 97 %, tỷ lệ hít: 3 %; tỷ lệ hút, nuốt bằng 0 Người

sử dụng ma tuý tại Bắc Kạn chủ yếu là nam giới và sử dụng ma tuý khi còn trẻ dưới

30 tuổi chiếm tỷ lệ 83.5% Đa số người SDMT tại Bắc Kạn đều đã học qua các cấp

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lee Hock Guan, Institute of Southeast Asian Studies , Civil Society in Southeast Asia. Xuất bản tại Singapore, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Civil Society in Southeast Asia
3. Sabino Accquaviva và Enzo Pace, Lê Diên dịch, Xã Hội Học Tôn Giáo (nguyên tác Pháp ngữ: La Sociologie des Religions, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã Hội Học Tôn Giáo
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
6. Ngân hàng phát triển Châu Á, năm 2008, Philipine. Tổ chức xã hội dân sự tài liệu cơ bản – tài liệu hướng dẫn về quan hệ hợp tác với các tổ chức xã hội dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng phát triển Châu Á, năm 2008, Philipine
8. NXB Tri thức - Hà Nội Năm 2008, Xã hội Dân sự - Một số vấn đề chọn lọc 9. NXB Y học 2004, Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạnma túy, mại dâm. Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội Dân sự - Một số vấn đề chọn lọc 9. " NXB Y học 2004, Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm
Nhà XB: NXB Tri thức - Hà Nội Năm 2008
11. Qũy Châu Á, Huy động công chúng tham gia xây dựng chính sách và pháp luật – hướng dẫn dành cho các tổ chức xã hội dân sự và tổ chức phi chính phủ.Tháng 11 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động công chúng tham gia xây dựng chính sách và pháp luật – hướng dẫn dành cho các tổ chức xã hội dân sự và tổ chức phi chính phủ
12. Qũy Châu Á, Huy động cộng đồng tham gia vận động chính sách – hướng dẫn dành cho các tổ chức xã hội dân sự và các tổ chức cộng đồng. Tháng 11 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động cộng đồng tham gia vận động chính sách – hướng dẫn dành cho các tổ chức xã hội dân sự và các tổ chức cộng đồng
13. Quỹ Châu Á, Khảo sát nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội dân sự - phát triển tổ chức và huy động sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng chính sách ở Việt Nam. Tháng 11 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội dân sự - phát triển tổ chức và huy động sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng chính sách ở Việt Nam
14. Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Cường. Các nguyên tắc cơ bản để hình thành và quản trị các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam. Viện nghiên cứu xã hội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản để hình thành và quản trị các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam
15. TS. Irene Norlund, PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh, TS. Nguyễn Mạnh Cường, ThS. Tăng Thế Cường, ThS. Đỗ Bích Diễm, ThS. Chu Dũng, ThS. Trần Thị Thu Hương, ThS. Vũ Chi Mai, Cn. Đặng Ngọc Quang, TS. Bạch Tân Sinh, Đánh giá ban đầu về tổ chức xã hội dân sự. tháng 1 năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ban đầu về tổ chức xã hội dân sự
Tác giả: TS. Irene Norlund, PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh, TS. Nguyễn Mạnh Cường, ThS. Tăng Thế Cường, ThS. Đỗ Bích Diễm, ThS. Chu Dũng, ThS. Trần Thị Thu Hương, ThS. Vũ Chi Mai, Cn. Đặng Ngọc Quang, TS. Bạch Tân Sinh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
16. Tô Duy Hợp – Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng. NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
17. Trung Tâm Nghiên Cứu – Tư Vấn Công Tác Xã Hội và Phát Triển Cộng Đồng: Công cụ PRA phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia. Tháng 12 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cụ PRA phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia
22. Cục phòng chống HIV/AIDS, Tuyên bố Chính trị về phòng chống HIV/AIDS. tháng 6/2011, nguốn UNAIDS dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố Chính trị về phòng chống HIV/AIDS
Tác giả: Cục phòng chống HIV/AIDS
Nhà XB: UNAIDS
Năm: 2011
23. Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, Hướng dẫn hỗ trợ các tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO) trong dự án thành phần VUSTA. Ban hành kèm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn hỗ trợ các tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO) trong dự án thành phần VUSTA
Tác giả: Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam
28. Sở Y tế Bắc Kạn, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn, Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013. Ngày 19 tháng 12 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013
29. Sở Y tế Bắc Kạn, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn, Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012. Ngày 19 tháng 12 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Y tế Bắc Kạn, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn
30. Trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (COHED), Báo cáo hoạt động 6 tháng cuối năm 2012 tại Bắc Kạn tiểu dự án trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (COHED). Tháng 12 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động 6 tháng cuối năm 2012 tại Bắc Kạn tiểu dự án trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (COHED)
31. Trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (COHED), Báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2012 tại Bắc Kạn Tiểu dự án trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (COHED). Tháng 12 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2012 tại Bắc Kạn Tiểu dự án trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (COHED)
34. 21. Trần Đình Tuấn, “Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành”, http://socialwork.vn/2010/06/27/536/, truy cập ngày 31/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
36. Chỉ thị số 54_2005_CT-TW về tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống HIV trong tình hình mới. http://www.vaac.gov.vn/Desktop.aspx/Van-ban-phap-quy/Dang-Quoc-hoi/E97E709EC46649768137D8FCF53B3674. Ngày truy cập 12/3/2013 Link
48. website http://www.isds.org.vn/jvnet - news.asp ngày truy cập 7 tháng 6 năm 2012 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.3. Hình thức, cơ cấu tổ chức   43 - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
2.1.3. Hình thức, cơ cấu tổ chức 43 (Trang 5)
Bảng 2.1  Số NCH được tiếp cận và tham gia vào các CBO NCH đến hết tháng - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Bảng 2.1 Số NCH được tiếp cận và tham gia vào các CBO NCH đến hết tháng (Trang 7)
Bảng 2.1: Số NCH được tiếp cận và tham gia vào các CBO NCH đến hết tháng - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Bảng 2.1 Số NCH được tiếp cận và tham gia vào các CBO NCH đến hết tháng (Trang 49)
Bảng 2.2: Số PSP được tiếp cận, tham gia vào các CBO PSP năm 2012 - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Bảng 2.2 Số PSP được tiếp cận, tham gia vào các CBO PSP năm 2012 (Trang 49)
Bảng 2.4: Số hộ gia đình nhận được vốn vay phát triển kinh tế hộ gia đình - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Bảng 2.4 Số hộ gia đình nhận được vốn vay phát triển kinh tế hộ gia đình (Trang 59)
Bảng 2.5: Số NCH, trẻ OVC và PSP được chuyển gửi đến các cơ sở dịch vụ sẵn - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Bảng 2.5 Số NCH, trẻ OVC và PSP được chuyển gửi đến các cơ sở dịch vụ sẵn (Trang 63)
Bảng 2.6: Tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS mới giữa năm 2011 và 2012 - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Bảng 2.6 Tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS mới giữa năm 2011 và 2012 (Trang 73)
Bảng 2.7: Số NCH và trẻ OVC được cung cấp các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ tại  nhà do CBO cung cấp năm 2012 - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Bảng 2.7 Số NCH và trẻ OVC được cung cấp các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ tại nhà do CBO cung cấp năm 2012 (Trang 75)
Hình thức tồn tại - Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn
Hình th ức tồn tại (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w